1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận diện các yếu tố cản trở việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức rd theo nghị định 115 2005 nđ CP

86 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHAN ANH TÚ NHẬN DIỆN CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ VIỆC THỰC HIỆN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM TRONG CÁC TỔ CHỨC R&D THEO N

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHAN ANH TÚ

NHẬN DIỆN CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ VIỆC THỰC HIỆN TỰ CHỦ, TỰ

CHỊU TRÁCH NHIỆM TRONG CÁC TỔ CHỨC R&D

THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP (Nghiên cứu trường hợp các tổ chức sự nghiệp KH&CN công lập trực

thuộc Sở KH&CN tỉnh Lâm Đồng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Thành phố Hồ Chí Minh, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHAN ANH TÚ

NHẬN DIỆN CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ VIỆC THỰC HIỆN TỰ CHỦ, TỰ

CHỊU TRÁCH NHIỆM TRONG CÁC TỔ CHỨC R&D

THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP (Nghiên cứu trường hợp các tổ chức sự nghiệp KH&CN công lập trực

thuộc Sở KH&CN tỉnh Lâm Đồng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Mã số: 60 34 04 12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Huy Tiến

Thành phố Hồ Chí Minh, 2015

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC CÁC HÌNH 8

DANH MỤC CÁC BẢNG 8

PHẦN MỞ ĐẦU 9

1 Tên đề tài 9

2 Lý do chọn đề tài 9

3 Lịch sử nghiên cứu 9

4 Mục tiêu nghiên cứu 11

5 Phạm vi nghiên cứu 11

6 Mẫu khảo sát 11

7 Câu hỏi nghiên cứu 11

8 Giả thuyết nghiên cứu 11

9 Phương pháp nghiên cứu 11

10 Kết cấu của luận văn 12

Kết luận * Khuyến nghị 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 13

1.1 Hoạt động khoa học và công nghệ 13

1.1.1 Khái niệm hoạt động KH&CN 13

1.1.1.1 Nghiên cứu (research – R) 13

1.1.1.2 Triển khai (Development – D) 15

1.1.1.3 Đổi mới công nghệ 16

1.1.1.4 Dịch vụ KH&CN 17

1.2 Cách tiếp cận phổ biến về hoạt động nghiên cứu và triển khai 18

1.3 Phân biệt khái niệm “triển khai” và “phát triển” trong quản lý 19

1.4 Khái niệm chính sách 19

1.5.Tổ chức Khoa học và Công nghệ 20

1.5.1.Khái niệm tổ chức KH&CN 20

Trang 4

1.5.2.Tổ chức KH&CN hoạt động theo cơ chế Nghị định 115/2005/NĐ-CP 20

1.5.3 Các loại hình của tổ chức KH&CN 21

1.5.3.1.Tổ chức nghiên cứu cơ bản 21

1.5.3.2.Tổ chức nghiên cứu ứng dụng 22

1.5.3.3 Doanh nghiệp KH&CN 22

1.5.3.4 Đặc điểm của các tổ chức KH&CN tại Việt Nam 23

1.6 Khái niệm tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức R&D 24

1.6.1 Tự chủ trong tổ chức KH&CN 26

1.6.1.1 Tự chủ về hoạt động KH&CN 27

1.6.1.2 Tự chủ về tài chính 27

1.6.1.3 Tự chủ về quản lý nhân sự 27

1.6.1.4 Tự chủ về quan hệ hợp tác quốc tế 27

1.6.1.5 Quyền tự chủ 28

1.7 Rào cản trong thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động R&D của tổ chức KH&CN 29

1.7.1 Khái niệm rào cản 29

1.7.2 Rào cản thực hiện tự chủ trong hoạt động đổi mới công nghệ của tổ chức KH&CN 30

1.7.2.1 Rào cản do hạn chế về nhận thức 31

1.7.2.2 Rào cản do cơ chế tài chính chưa phù hợp 31

1.7.2.3 Rào cản do sự không đồng bộ giữa hướng dẫn và thực hiện của cơ quan quản lý 32

1.8 Mối quan hệ giữa tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động R&D của các tổ chức KH&CN 33

Kết luận chương 1 34

CHƯƠNG 2 RÀO CẢN THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TỔ CHỨC R&D TRỰC THUỘC SỞ KH&CN LÂM ĐỒNG HIỆN NAY 35

Trang 5

2.1 Tình hình chung việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ

chức KH&CN công lập tại Việt Nam 35

2.1.1 Kết quả triển khai thực hiện Nghị định 115 35

2.1.1.1 Việc xây dựng và phê duyệt đề án thực hiện tự chủ 36

2.1.1.2 Việc phân loại mô hình tổ chức hoạt động 37

2.1.1.3 Việc thực hiện các nội dung tự chủ 37

2.2 Tình hình thực hiện tự chủ tự chịu trách nhiệm đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở KH&CN Lâm Đồng 40

2.2.1 Tổng quan về trung tâm Ứng dụng KH&CN Lâm Đồng 40

2.2.1.1 Giới thiệu chung 40

2.2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 40

2.2.1.3 Năng lực hoạt động 41

2.2.1.4 Cơ cấu tổ chức 43

2.2.2 Cơ chế tài chính của Trung tâm 45

2.2.3 Tình hình tài chính, tài sản và kinh phí 45

2.2.3.1 Tài chính 45

2.2.3.2 Tài sản 46

2.2.3.3 Diện tích nhà làm việc 47

2.2.4 Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN tại Trung tâm 48

2.2.4.1 Thực hiện các nhiệm vụ sự nghiệp KH&CN của địa phương 48

2.2.4.2 Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ 48 2.2.4.3 Hoạt động tư vấn, dịch vụ 49

2.2.5 Đầu tư thiết bị mới 50

2.2.6 Đầu tư bổ sung công nghệ tương tự, hoặc nâng cấp thiết bị 51

2.2.7 Đầu tư đào tạo nhân sự về vận hành, bố trí lại qui trình 51

2.3 Thực trạng thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động tại Trung tâm 53

2.3.1 Trung tâm chưa được tự chủ hoàn toàn trong sử dụng nguồn kinh phí phát triển sự nghiệp trong đầu tư đổi mới công nghệ 53 2.3.2 Cơ quan quản lý chưa thật sự tạo tự chủ cho hoạt động tại Trung tâm54

Trang 6

2.3.3 Cơ quan quản lý chưa có hướng dẫn cho tổ chức KH&CN thực hiện

huy động nguồn tài chính trong xã hội 55

2.3.4 Thực trạng phân cấp quản lý tài chính tại Trung tâm Ứng dụng KH&CN và những tác động đến thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động 56 2.4 Thực trạng việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lượng Lâm Đồng 59

2.4.1 Giới thiệu chung 59

2.4.2 Một số chức năng nhiệm vụ của Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lượng 60

2.4.2.1 Chức năng 61

2.4.2.2 Nhiệm vụ 61

2.4.2.3 Chính sách chất lượng của Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lượng 62

2.4.3 Rào cản thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lượng 62

2.4.3.1 Nhận thức chưa đúng và đầy đủ về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 62

2.4.3.2 Thiếu sự quyết liệt và nghiêm túc trong chỉ đạo thực hiện Nghị định 115 63

2.4.3.2 Thiếu đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật 63

2.4.3.3 Hạn chế về tiềm lực của tổ chức KH&CN 64

Kết luận Chương 2 65

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC RÀO CẢN VIỆC THỰC HIỆN TỰ CHỦ TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM TRONG CÁC TỔ CHỨC R&D 66 3.1 Nhà nước cần có hướng dẫn tổ chức KH&CN huy động nguồn tài chính trong xã hội 66

3.2 Cơ quan chủ quản cấp trên của tổ chức KH&CN không chi phối sâu trong đầu tư đổi mới công nghệ của đơn vị 68

Trang 7

3.2.1 Cơ quan chủ quản cấp trên của tổ chức KH&CN thực hiện vai trò định

hướng, phê duyệt kế hoạch và giám sát việc đầu tư đổi mới công nghệ 68

3.2.2 Cho phép người đứng đầu tổ chức KH&CN được tự chủ sử dụng kinh phí của quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị trong đầu tư đổi mới công nghệ 70

3.2.3 Tổ chức KH&CN được tự chủ thực hiện việc đầu tư đổi mới công nghệ 72

3.3 Phát huy tính tự chủ và năng động của tổ chức KH&CN 73

3.3.1 Tổ chức dịch vụ KH&CN tự chủ tìm kiếm các nguồn vốn thông qua các kênh đầu tư hoặc hợp tác 73

3.3.2 Xây dựng qui chế đầu tư tài chính nội bộ cho hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ 74

3.3.3 Liên kết tài chính từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của các tổ chức KH&CN với nhau để đầu tư vào các dự án trong điểm 76

Kết luận Chương 3 77

KẾT LUẬN 78

KHUYẾN NGHỊ 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 8

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ của các Thầy Cô, bạn

bè đồng nghiệp và gia đình Tác giả xin chân thành cảm ơn:

Các Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học Quản lý Khoa học và Công nghệ

đã tận tâm truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian của khóa học;

PGS.TS Phạm Huy Tiến, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm để tôi có thể hoàn thành được đề tài;

Ban lãnh đạo Sở KH&CN và các Trung tâm Sự nghiệp công lập trực thuộc Sở đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp tài liệu, số liệu và đóng góp ý kiến cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn;

Các Thầy, Cô đã dành thời gian đọc và cho ý kiến nhận xét, phản biện về nội dung đề tài

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐTM Đánh giá tác động môi trường

GIS Hệ thống thông tin địa lý

SKH&CN Sở Khoa học và Công nghệ

TCKH&CN Tổ chức khoa học và công nghệ

TTUDKH&CN Trung tâm Ứng dụng Khoa học và Công nghệ

TTPT&CNCL Trung tâm Phân tích và Chứng nhận Chất lượng

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp

quốc

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Tổng hợp các loại hình hoạt động KH&CN……… …….18 Hình 2.1 Tình hình chuyển đổi tính đến ngày 31.12.2014……….40 Hình 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trung tâm Ứng dựng KH&CN………43 Hình 2.3 Nhân lực Trung tâm Ứng dụng KH&CN theo trình độ được đào tạo…44 Hình 2.4 Nhân lực Trung Trung tâm Ứng dụng KH&CN theo ngành được đào tạo………44 Hình 2.5 Các hoạt động đổi mới công nghệ tại Trung tâm………50

Hình 2.6 Sơ đồ tổ chức trung tâm……… 60

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình tài chính các năm 2010-2014……… 45 Bảng 2.2 Các hoạt động đổi mới công nghệ tại Trung tâm……….50 Bảng 2.3 Nguồn kinh phí đào tạo của Trung tâm qua các năm……… 52 Bảng 2.4 Cơ cấu vốn trong đầu tư mới trang thiết bị tại Trung tâm………… 58

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tên đề tài

Nhận diện các yếu tố cản trở việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức R&D theo nghị định 115/2005/NĐ-CP (Nghiên cứu trường hợp các tổ chức sự nghiệp KH&CN công lập trực thuộc Sở KH&CN tỉnh Lâm Đồng)

2 Lý do chọn đề tài

Thế giới đã thay đổi nhiều nhờ sự phát triển như vũ bão của KH&CN, của những chính sách đột phá, mạnh bạo, đi tiên phong trong nhiều thập kỷ qua Và chúng ta vẫn là người quan sát, bị động, đi sau trong nhiều lĩnh vực Thực tiễn phát triển kinh tế xã hội và cuộc sống luôn thôi thúc, nhiều nhà khoa học Việt Nam luôn đau đáu về sự thay đổi đột phá trong các chính sách phát triển KH&CN Rõ ràng phải bắt đầu từ việc khắc phục những bất cập trong các chính sách phát triển KH&CN thời gian qua Điều tưởng như đơn giản lại là điều nung nấu, chắt lọc, suy

tư và tổng kết trong nhiều năm qua

Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của chính phủ quy định cơ chế

tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức R&D được ban hành tới nay đã gần 10 năm nhưng phần lớn các tổ chức R&D vẫn không chuyển đổi được theo nghị định trên

mà chỉ chuyển đổi theo nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế

và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Tuy nhiên vấn đề chuyển đổi sang

cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức R&D theo nghị định 115/2005/NĐ-CP qua gần 10 năm vẫn gặp không ít những khó khăn, cần được nhận diện các rào cản để từ đó có được những khuyến nghị bổ sung sửa đổi nghị định khả thi hơn trong việc chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

trong hoạt động KH&CN của các tổ chức R&D

3 Lịch sử nghiên cứu

Các nghiên cứu về nhận diện các yếu tố cản trở tập trung tìm hiểu những khó khăn, trở ngại, bất cập, vướng mắc của hoạt động KH&CN Tiếp cận nghiên cứu trong lĩnh vực Tài chính đầu tư trong hoạt động KH&CN Trung tâm Nghiên cứu

Trang 12

Khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Lập pháp có một báo cáo chuyên đề “Quản lý tài

chính trong hoạt động KH&CN, thực trạng và giải pháp” đã đưa ra các giải pháp

về cơ chế tài chính ở mức độ khái quát về đầu tư nguồn lực, đổi mới cơ chế phân

bổ ngân sách, đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập [10]

Cho đến nay nghiên cứu về nhận diện các yếu tố, tác nhân gây cản trở việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức R&D theo nghị định 115/2005/NĐ-CP hiện c n khá ít ỏi Nghiên cứu về tự chủ hoạt động KH&CN của Việt Nam từ năm 2000 trở lại đây trở thành một chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả Cũng chính vì vậy, tự chủ hoạt động KH&CN ngày càng trở thành một phạm trù khoa học có ý nghĩa then chốt trong các nghiên cứu lý thuyết của bộ môn khoa học về quản lý KH&CN

Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như: “Báo cáo tại Hội nghị sơ kết Nghị định 115 tại TP Hồ Chí Minh do Bộ KH&CN tổ chức tháng 3/2008”; “Đổi mới phương thức cấp kinh phí hoạt động thường xuyên đối với các tổ chức KH&CN công lập, Trần Văn Tùng-Vụ TCCB, Tạp chí hoạt động khoa học tháng 2/2011”; Luận văn thạc sỹ “Nhận diện rào cản đối với hoạt động áp dụng kết quả nghiên cứu trong nông nghiệp ở các huyện trên địa bàn tỉnh Hậu Giang” của Nguyễn Chí Cường công bố năm 2013 đã chỉ ra được các rào cản trong việc áp dụng kết quả nghiên cứu trong nông nghiệp Luận văn thạc sỹ “Nhận diện những yếu tố cản trở việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN theo nghị định 115/2005/NĐ-CP” của Lê Thu Hương công bố năm 2011

đã chỉ ra được các rào cản việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN theo nghị định 115/2005/NĐ-CP

Tuy nhiên, việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại các tổ chức R&D theo nghị định 115/2005/NĐ-CP sau gần 10 năm vẫn không thực hiện được Đã có những nghiên cứu chỉ ra được những rào cản trong việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ hoạt động KH&CN các tổ chức R&D Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu sâu tập trung vào nhận diện các rào cản đó tại tỉnh Lâm Đồng

Trang 13

4 Mục tiêu nghiên cứu

Chỉ ra được các yếu tố, tác nhân gây cản trở việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức R&D theo nghị định 115/2005/NĐ-CP

5 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung: Đề tài tập trung nhận diện các yếu tố cản trở việc chuyển đổi sang

cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo nghị định 115/2005/NĐ-CP tại các đơn

7 Câu hỏi nghiên cứu

Yếu tố nào gây cản trở trong việc chuyển đổi sang thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo nghị định 115/2005/NĐ-CP tại các tổ chức R&D trực thuộc Sở KH&CN Lâm Đồng?

8 Giả thuyết nghiên cứu

Việc chậm thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức R&D theo nghị định 115/2005/NĐ-CP xuất phát từ các yếu tố chưa thực sự được trao quyền

tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thiết chế vĩ mô và phân cấp quản lý tài chính theo nền kinh tế thị trường là yếu tố gây cản trở cao nhất, khó vượt qua nhất

9 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu mong muốn và giải quyết những câu hỏi nghiên cứu

đã đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

+ Nghiên cứu lý thuyết bằng phương pháp thu thập thông tin qua tài liệu + Nghiên cứu thực tế dựa trên phương pháp khảo sát, thống kê, điều tra và

so sánh Khảo sát, thống kê thực trạng hoạt động, nguồn nhân lực, các chính sách

+ Phương pháp tiếp cận trực tiếp, khảo sát số liệu, thống kê, phân tích, so

Trang 14

sánh

10 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm các phần sau:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung, gồm có 3 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận

+ Chương 2: Rào cản thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động khoa học và công nghệ trong các tổ chức R&D trực thuộc Sở KH&CN Lâm Đồng hiện nay

+ Chương 3: Giải pháp khắc phục rào cản việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức R&D theo nghị định 115/2005/NĐ-CP

Kết luận * Khuyến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Hoạt động khoa học và công nghệ

1.1.1 Khái niệm hoạt động KH&CN

Hoạt động KH&CN theo UNESCO là một chuỗi các hoạt động bao gồm

nghiên cứu (Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, trong đó nghiên cứu cơ

bản chia thành nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng; nghiên cứu cơ bản định hướng lại chia thành nghiên cứu cơ bản nền tảng và nghiên

cứu chuyên đề) & triển khai (bao gồm 3 giai đoạn: tạo vật mẫu – prototype, tạo

quy trình – làm pilot để tạo công nghệ và làm thí điểm loạt nhỏ - sản xuất thử loạt

0 hay làm “Sêri 0” và đổi mới công nghệ (bao gồm chuyển giao công nghệ và

phát triển công nghệ) Hoạt động KH&CN còn bao hàm một loại hình hoạt động khác nữa có chức năng phục vụ cho tất cả các loại hình hoạt động KH&CN nói

trên, đó là hoạt động dịch vụ KH&CN

Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học Trong đó, có 3 cách phân loại nghiên cứu khoa học thường dùng là: phân loại theo chức năng nghiên cứu (mô tả, giải thích, giải pháp, dự báo), phân loại theo phương pháp thu thập thông tin phục

vụ nghiên cứu (thư viện, điền dã, labô) và phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai

Trong luận văn này, cách phân loại nghiên cứu khoa học nói riêng và phân loại hoạt động KH&CN nói chung theo các giai đoạn và tính chất đặc trưng sản phẩm của mỗi giai đoạn được sử dụng Việc thống nhất cách hiểu những khái niệm này là rất quan trọng và cần thiết trong công tác quản lý KH&CN Dưới đây xin

được trình bày chi tiết về từng loại hình hoạt động KH&CN nói trên

1.1.1.1 Nghiên cứu (research – R)

* Nghiên cứu cơ bản

Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm tìm ra các thuộc tính, cấu trúc, động thái của các đối tượng nghiên cứu, các sự vật và hiện tượng Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, định

Trang 16

luật, định lý,…Trên cơ sở đó, hình thành nên các phát hiện, phát minh và các hệ thống lý thuyết mới

Nghiên cứu cơ bản được chia thành hai loại: Nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng

- Nghiên cứu cơ bản thuần túy

Nghiên cứu cơ bản thuần túy còn gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hay nghiên cứu cơ bản không định hướng, là những nghiên cứu tìm hiểu về bản chất sự vật và quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, nhằm nâng cao nhận thức, tri thức

mà chưa có hoặc chưa bàn đến bất kỳ một ý nghĩa ứng dụng nào Loại hình nghiên cứu này, nhìn chung mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà nghiên cứu: họ tự suy nghĩ

ra, tự đề xuất đề tài nghiên cứu, quyết định chọn lựa đối tượng nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu với tính tự chủ rất cao

- Nghiên cứu cơ bản định hướng

Nghiên cứu cơ bản định hướng hay đôi khi c n gọi là nghiên cứu thăm d , là những nghiên cứu nghiên cứu cơ bản đã dự kiến trước mục đích ứng dụng Nghiên cứu cơ bản định hướng được chia thành nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên

đề

+ Nghiên cứu nền tảng là những nghiên cứu về quy luật tổng thể của một hệ

thống sự vật, ví dụ như các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên, điều tra cơ bản về các điều kiện tự nhiên như địa chất, khí tượng, thủy văn, điều tra cơ bản về KT-XH

+ Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu có hệ thống về một hiện tượng, sự

vật Nghiên cứu chuyên đề có thể dẫn đến những cơ sở lý thuyết quan trọng và những ứng dụng có ý nghĩa to lớn trong đời sống, KT-XH

* Nghiên cứu ứng dụng

Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng các lý thuyết, quy luật thu được từ trong nghiên cứu cơ bản, tức là dựa trên cơ sở các kết quả, sản phẩm của nghiên cứu cơ bản, để đưa ra những mô tả, giải thích, dự báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp Ở đây giải pháp được hiểu theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này, theo

đó có thể là các giải pháp về công nghệ, vật liệu, sản phẩm, giải pháp về xã hội,

Trang 17

quản lý, tổ chức, v.v…Nghiên cứu ứng dụng cũng có thể là nghiên cứu để áp dụng các kết quả nghiên cứu đã thành công ở một môi trường nhất định, vào trong một môi trường mới của sự vật và hiện tượng

Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là một hệ thống tri thức về nhận dạng trạng thái của sự vật, hiện tượng trong hiện tại và tương lai Cũng có thể là một hệ thống tri thức về giải thích nguyên nhân, nguồn gốc, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả, quy luật chung chi phối sự vật, hiện tượng Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng cũng có thể là một giải pháp mới về công nghệ, vật liệu, sản phẩm, về xã hội, tổ chức và quản lý, v.v…Sáng chế -loại thành tựu trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, là một sản phẩm đặc biệt của nghiên cứu ứng dụng

Một điều cần lưu ý là, mặc dù mang tên gọi như vậy, nhưng kết quả của nghiên cứu ứng dụng vẫn chưa thể ứng dụng được ngay, mà để có thể đưa chúng vào sử dụng thực tế, còn phải trải qua một giai đoạn nghiên cứu nữa, gọi là triển khai

1.1.1.2 Triển khai (Development – D)

Triển khai ở đây là viết tắt của một thuật ngữ đầy đủ là triển khai thực nghiệm kỹ thuật, sau này còn gọi là triển khai thực nghiệm công nghệ là hoạt động vận dụng các quy luật (sản phẩm của nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý, giải pháp (sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng) để tạo ra vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với các tham số kỹ thuật khả thi Triển khai bao gồm ba giai đoạn:

- Tạo ra vật mẫu (làm prototype) là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm mẫu hay c n gọi là vật mẫu chức năng (functional prototype), mà chưa quan tâm đến quy trình sản xuất ra vật mẫu và quy mô áp dụng vật mẫu đó

- Tạo quy trình, công nghệ (làm pilot) là giai đoạn tìm kiếm, thử nghiệm và tạo ra công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới (prototype) vừa thành công ở giai đoạn trước, đôi khi c n gọi đây là giai đoạn tạo vật mẫu kỹ thuật (engineering prototype)

Trang 18

- Sản xuât thử loạt đầu/sản xuất thử loạt nhỏ (sản xuất “Sê ri 0”) là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ hay làm thí điểm, trong thực

tế c n được gọi là sản xuất bán đại trà hay bán công nghiệp

Về mặt lý thuyết, sau giai đoạn triển khai, kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao vào sản xuất, hình thành nên chuyển giao công nghệ theo chiều dọc Tuy nhiên, trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau, có thể do doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp nhận, cũng có thể do tổ chức R&D còn muốn giữ lại know-how, muốn tiếp tục hoàn thiện công nghệ, v.v…tình huống đó thúc đẩy tổ chức R&D lập ra các doanh nghiệp ngoại biên (doanh nghiệp spin-off) để tự mình đưa ra thị trường các công nghệ, sản phẩm mới và độc đáo

1.1.1.3 Đổi mới công nghệ

Đổi mới công nghệ (technological innovation) là hoạt động thay thế một công nghệ lạc hậu hơn bằng một công nghệ tiến bộ hơn nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm

Đổi mới công nghệ được thực hiện thông qua hai loại hình hoạt động là: chuyển giao công nghệ và phát triển công nghệ

* Chuyển giao công nghệ

Trong xã hội luôn luôn tồn tại các luồng di động công nghệ từ nơi có trình

độ, năng lực công nghệ cao đến nơi có trình độ, năng lực công nghệ thấp hơn – luồng di động đó tạo ra quá trình chuyển giao công nghệ, xét về mặt bản chất đó chính là quá trình trao tri thức công nghệ

Chuyển giao công nghệ (transfer of technology) là sự chuyển nhượng quyền

sở hữu hoặc quyền sử dụng một công nghệ giữa hai đối tác Công nghệ được chuyển giao bao gồm: các bí quyết, quy trình, công thức, quyền sở hữu và quyền

sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp Chuyển giao công nghệ có thể đi kèm hoặc không đi kèm hợp đồng licence hoặc hợp đồng patent-licence, có thể đi kèm hoặc không đi kèm đầu tư thiết bị, tiền vốn Chuyển giao công nghệ bao gồm:

chuyển giao công nghệ theo chiều ngang và chuyển giao công nghệ theo chiều dọc

- Chuyển giao công nghệ theo chiều ngang là sự chuyển giao công nghệ giữa

các doanh nghiệp thực chất đây là quá trình nhân rộng công nghệ về mặt số lượng,

Trang 19

không có biến đổi về trình độ, năng lực công nghệ và chất lượng sản phẩm Ưu điểm của hình thức chuyển giao theo chiều ngang là ít rủi ro, nhưng năng lực cạnh tranh thấp

- Chuyển giao công nghệ theo chiều dọc là sự chuyển giao tri thức công

nghệ từ khu vực R&D vào doanh nghiệp, thực chất đây là quá trình áp dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất Mặc dù xác xuất rủi ro của hình thức chuyển giao theo chiều dọc có thể cao, song đổi lại, năng lực cạnh tranh cũng lại có thể rất cao,

do tạo ra được các sản phẩm mới dựa trên công nghệ mới

Đây cũng chính là nơi thể hiện rõ nhất sự giao nhau của hoạt động KH&CN với hoạt động thương mại và trong nhiều trường hợp, nó gần giống thương mại hơn

* Phát triển công nghệ

Phát triển công nghệ (development of technology hay technology development) là sự mở rộng và/hoặc nâng cấp công nghệ, bao gồm hoạt động phát triển công nghệ theo chiều rộng – nhân rộng, mở rộng công nghệ và hoạt động phát triển công nghệ theo chiều sâu – nâng cấp công nghệ

1.1.1.4 Dịch vụ KH&CN

Dịch vụ KH&CN là một loại hình hoạt động KH&CN, có chức năng cung

ứng dịch vụ cho mọi hoạt động KT-XH theo nhu cầu và năng lực Dịch vụ KH&CN bao gồm: các loại hoạt động phục vụ cho nghiên cứu, triển khai, chuyển giao và phát triển công nghệ, như các dịch vụ tính toán, cung cấp thông tin tư liệu, môi giới, trợ giúp kỹ thuật (lắp đặt, cân chỉnh máy móc thiết bị; duy tu, bảo dưỡng

kỹ thuật phần cứng và phần mềm; kiểm định đo lường, thử nghiệm, hiệu chuẩn; phân tích, kiểm định mẫu nguyên liệu, sản phẩm, v.v…) và thực hiện các dịch vụ nghiên cứu, tư vấn, kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh, tổ chức, quản lý và phục vụ các hoạt động KT-XH khác

Tổng hợp về các loại hình hoạt động KH&CN được trình bày một cách trực quan trên hình 1.1 với đường kẻ vuông gốc, nét rời và khối về nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được thêm vào, để phục vụ cho việc phân tích ở chương 2 [9,10,13,15,23]

Trang 20

Hình 1.1 Tổng hợp các loại hình hoạt động KH&CN

(Nguồn: Tổng hợp)

1.2 Cách tiếp cận phổ biến về hoạt động nghiên cứu và triển khai

R&D là một chuỗi bộ phận trong tổng thể các hoạt động KH&CN, theo UNESCO, R&D là “các hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống

để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới” Hoạt động R&D bao gồm các loại hình: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai [16]

Hoạt động KH&CN

Nghiên cứu và triển khai (R&D)

Chuyển giao công nghệ

Phát triển công nghệ

Dịch vụ KH&CN

Nhân rộng công nghệ

Nâng cấp công nghệ

Nghiên cứu ứng dụng (NCUD)

Triển khai (D)

Làm ra vật mẫu (prototype)

Tạo CN SX sản phẩm theo mẫu mới (làm pilot) Sản xuất thử ở loạt đầu (“Sêri 0”)

NCCB

thuần

túy

NCCB định hướng

Nghiên cứu nền tảng (ĐTCB) Nghiên cứu chuyên đề

Trang 21

1.3 Phân biệt khái niệm “triển khai” và “phát triển” trong quản lý

Triển khai – gọi một cách đầy đủ là triển khai thực nghiệm công nghệ bao gồm 3 giai đoạn: làm ra vật mẫu, làm công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới và sản xuất thử để kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ - là khâu cuồi cùng của hoạt động R&D Quản lý hoạt động này thuộc phạm trù quản lý R&D và đ i hỏi sự chú ý đầy đủ tới các đặc điểm về tính mới, tính rủi ro, tính bất định, tính phi kinh tế và tính trễ của nó

Kết thúc khâu triển khai, công nghệ được chuyển giao và vận hành trong sản xuất, lúc đó hoạt động phát triển công nghệ bao gồm nhân rộng công nghệ và nâng cấp công nghệ bắt đầu và kèm theo đó là sự bắt đầu của quá trình quản lý công nghệ với nhiều đặc điểm khá trái ngược với quản lý hoạt động R&D, đó là tính lặp lại theo chu kỳ, tính tin cậy, sản phẩm xác định, tính kinh tế cao,v.v…

Như vậy hoạt động “triển khai” và “phát triển” hoàn toàn khác biệt nhau với

tư cách là đối tượng quản lý và đối tượng phân biệt đối xử trong chính sách [23]

1.4 Khái niệm chính sách

Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”

Theo Alfred chardler: "chính sách kinh doanh là phương cách đường lối

hoặc phương hướng dẫn dắt hành động trong khi phân bổ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp"

Theo Robinson “chính sách là những chỉ dẫn cho việc làm quyết định hoặc đưa ra quyết định và thể hiện những tình huống lặp lại có tính chu kỳ”

Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống

xã hội” [11]

Trang 22

Cũng có một định nghĩa khác, “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân”

Theo tác giả cũng đồng quan điểm với khái niệm của từ điển tiếng việt

“chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”

Như vậy, phân tích khái niệm “chính sách” thì thấy:

- Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;

- Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế;

- Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng

1.5.Tổ chức Khoa học và Công nghệ

1.5.1.Khái niệm tổ chức KH&CN

Theo định nghĩa của luật Khoa học Công nghệ năm 2013, “tổ chức KH&CN

là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ Khoa học và Công nghệ, được thành lập

và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật” [20, điều 3, mục 11]

1.5.2.Tổ chức KH&CN hoạt động theo cơ chế Nghị định 115/2005/NĐ-CP

Là các tổ chức KH&CN, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên theo hướng dẫn của Nghị định 115/2005/NĐ-CP Nghị định 115/2005/NĐ-CP áp dụng cho các tổ chức sau:

 Tổ chức nghiên cứu khoa học

 Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Trang 23

 Được giao tài sản, kể cả giá trị quyền sử dụng đất

 Được chủ động nâng lương cho cán bộ, viên chức đúng hạn, trước thời hạn và vượt bậc trong cùng ngạch, được quyền tuyển dụng và bổ nhiệm ngạch cho viên chức, giải quyết mọi chế độ cho viên chức theo quy định của pháp luật

 Được hỗ trợ đầu tư phát triển khi tăng trưởng tốt, khi chuyển đổi sớm

 Tinh thần của Nghị định 115/2005/NĐ-CP là tạo cho các tổ chức KH&CN quyền tự chủ cao và toàn diện về tổ chức, biên chế, quản lý cán bộ, tài chính … tạo cơ hội để các tổ chức KH&CN phát triển Mục đích thực hiện cơ chế

tự chủ, tự chịu trách nhiệm [4, điều 2]:

 Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức KH&CN và Thủ trưởng tổ chức KH&CN

 Tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN

 Tạo điều kiện tập trung đầu tư có trọng điểm cho các tổ chức KH&CN

 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN, góp phần tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước

1.5.3 Các loại hình của tổ chức KH&CN

1.5.3.1.Tổ chức nghiên cứu cơ bản

Thực hiện các nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực và thực hiện nghiên cứu chính sách phục vụ công tác quản lý nhà nước Sản phẩm đầu ra của các tổ chức

Trang 24

này là sản phẩm khoa học (qui luật, luận cứ khoa học …) phục vụ cho phát triển của KH&CN, hoạch định hoặc phản biện đường lối, chính sách quốc gia

Hoạt động KH&CN trong các tổ chức này là hoạt động nghiên cứu khoa học thuần túy đưa kết luận ra các qui luật, định lý cho nhiều lĩnh vực Kết quả của nghiên cứu này không thương mại hóa được nên không sinh lợi hoặc thu hồi vốn đầu tư, nhưng có vai tr nền tảng quan trọng cho khoa học và hoạch định chính sách

Loại hình tổ chức: các viện hàn lâm, viện chiến lược, viện chính sách, viện nghiên cứu chuyên ngành, tổ chức theo cấp của cơ quan quản lý (cấp quốc gia, cấp

bộ, ngành, địa phương)

1.5.3.2.Tổ chức nghiên cứu ứng dụng

Là tổ chức nghiên cứu tiếp nối các nghiên cứu cơ bản Áp dụng các kết quả nghiên cứu ứng dụng nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội Sản phẩm là các giải pháp công nghệ, sản phẩm nghiên cứu ứng dụng cho ngành, địa phương

Hoạt động KH&CN trong các tổ chức này là hoạt động nghiên cứu ứng dụng

và hoạt động triển khai Hoạt động nghiên cứu ứng dụng vận dụng các quy luật trong nghiên cứu cơ bản (có định hướng) để đưa ra các nguyên lý giải pháp, sáng chế Kết quả của hoạt động KH&CN này có thể được thị trường hóa (nếu là sáng chế)

Loại hình tổ chức: viện hàn lâm, trung tâm, phòng thử nghiệm…được tổ chức theo cấp của cơ quan quản lý (cấp bộ, ngành, địa phương)

1.5.3.3 Doanh nghiệp KH&CN

Doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ KH&CN

Hoạt động KH&CN trong các doanh nghiệp này là hoạt động phát triển công nghệ, nâng cấp công nghệ Thương mại hóa các sản phẩm công nghệ là hoạt động phát triển công nghệ theo chiều rộng và nâng cấp các công nghệ là phát triển công nghệ theo chiều sâu Doanh nghiệp KH&CN đóng vai tr quan trọng trong việc đẩy nhanh và làm cho quá trình chuyển giao công nghệ hiệu quả hơn, đồng thời đó

Trang 25

cũng là phương thức tốt nhất để gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực

và phát triển kinh tế Phần lớn các doanh nghiệp KH&CN ở nước ta mới được thành lập trong những năm gần đây, qui mô c n nhỏ

Loại hình tổ chức: doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ về KH&CN cho quản

lý nhà nước và đáp ứng yêu cầu dịch vụ về KH&CN trên thị trường

1.5.3.4 Đặc điểm của các tổ chức KH&CN tại Việt Nam

Trước năm 2005, các tổ chức KH&CN hoạt động theo cơ chế bao cấp, theo nguyên tắc nhà nước cấp kinh phí duy trì hoạt động, tổ chức KH&CN thực hiện các nhiệm vụ, đề tài nhiệm vụ do nhà nước giao Hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN không như kỳ vọng do động lực phát triển của các tổ chức KH&CN còn yếu Các tổ chức KH&CN đã quen với cơ chế bao cấp, đồng thời nền tảng vốn, thiết bị yếu nên không tự tin vận động trong kinh tế thị trường

Thị trường công nghệ, các dịch vụ về hoạt động KH&CN có qui mô nhỏ và thiếu các cơ chế hỗ trợ như cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, quản lý nhân sự KH&CN chưa phù hợp, nạn vi phạm bản quyền Ngoại trừ một số ít tổ chức cung cấp dịch vụ KH&CN lớn có uy tín, các tổ chức còn lại có qui mô nhỏ, nguồn thu không cao, trang thiết bị cũ và lạc hậu, chưa có kinh nghiệm quảng bá tiếp thị và văn hóa định hướng khách hàng nên dẫn đến khả năng cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế, khó khăn trong phát triển bền vững

Nghị quyết Đại hội Đảng các khóa VIII÷XI, đã khẳng định KH&CN đóng vai trò then chốt, là động lực phát triển đất nước Do đó cần có những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của các tổ chức KH&CN, hướng đến phát triển công nghệ cao, phù hợp với xu thế phát triển của các tổ chức KH&CN trên thế giới Từ năm 2002, Chính phủ ban hành nhiều Nghị định, Thông

tư hướng dẫn để dần chuyển đổi hoạt động của tổ chức KH&CN từ cơ chế xin - cho sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tiên tiến hơn, phù hợp hoạt động tổ chức KH&CN hiện đại Một số văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn nhằm chuẩn bị, chuyển đổi cho các tổ chức KH&CN:

Trang 26

- Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ban hành ngày 25/04/2006, quy định quyền

tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập

- Nghị định 115/2005/NĐ-CP ban hành ngày 05/9/2005, quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập và Nghị định 96/2010/NĐ-

CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định 115/NĐ-CP) và Thông tư BKHCN-BTC-BNV liên tịch giữa Bộ Khoa học và Công nghệ - Tài chính - Nội vụ mới ban hành hướng dẫn thực hiện Nghị định 115//NĐ-CP

36/2011/TTLT Nghị định 80/2007/NĐ36/2011/TTLT CP ban hành ngày 19/05/2007, qui định về doanh nghiệp KH&CN và Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV hướng dẫn thực hiện Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN

- Luật KH&CN số 29/2013/QH13 và Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ban hành ngày 27/01/2014, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ

Nhìn chung, dù có những khó khăn nhưng xu hướng chuyển đổi các tổ chức KH&CN sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm là xu hướng tiến bộ và tất yếu

Do đó các tổ chức KH&CN phải có những thay đổi phù hợp cho quá trình chuyển đổi quan trọng này Trong quá trình thực hiện còn có những điểm chưa thật sự phù hợp, đồng bộ thì cần nghiên cứu thêm để thực hiện tốt theo lộ trình đã đề ra

Trong phạm vi của luận văn này, khái niệm tổ chức KH&CN được hiểu là tổ chức KH&CN công lập hoạt động theo cơ chế Nghị định 115/2005/NĐ-CP

1.6 Khái niệm tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức R&D

Trong từ điển tiếng việt, do tác giả Hoàng Phê chủ biên, Viện Ngôn ngữ học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội, 1992, tr 1055), tự chủ là “Tự điều hành, quản lý mọi công việc của mình, không bị ai chi phối Tự làm chủ tình cảm, hành động của mình, không bị hoàn cảnh chi phối Tự mình điều hành, quản lý, không bị ảnh hưởng của ai (quyền tự chủ trong sản xuất)”

Trong Đại từ điển tiếng Việt, do tác giả Nguyễn Như ý chủ biên, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo (NXB Văn hóa – Thông

Trang 27

tin, Hà Nội, 1999, tr 1762), tự chủ là “Tự mình làm chủ, không để bị phụ thuộc hoặc bị chi phối”

Các khái niệm về tự chủ đưa ra trong các từ điển tiếng Việt nêu trên gần như đồng nhất với nhau và đồng nhất một khái niệm được gọi là tự chủ thể chế - cho phép một tổ chức điều hành hoạt động của mình mà không có sự can thiệp từ bên ngoài

Tất nhiên mọi sự tự chủ của một tổ chức đều phải nằm trong khung khổ của pháp luật, nó là sự tự chủ có điều kiện và các điều kiện này được xác định bởi mối quan hệ giữa Nhà nước, xã hội và tổ chức Từ đó cũng phát sinh những cách phân loại tự chủ chi tiết hơn, như tự chủ thực chất – Tổ chức có quyền xác định các chương trình hoạt động của mình và mục đích của những chương trình này, tự chủ

về thủ tục – tổ chức có quyền xác định các phương tiện cần thiết để hoàn thành các chương trình hoạt động đã xác định và tự chủ về tổ chức – tổ chức có quyền xác định các đơn vị trực thuộc nó [24]

Nghị định 115/2005/NĐ-CP “quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập” Vì thế, chúng ta thử tìm hiểu thêm về khái niệm tự chủ qua khái niệm autonomy

Autonomy (người Hy Lạp cổ đại gọi là autonomos, người Hy Lạp dương đại gọi là autonomia, xuất phát từ auto “self” + nomos, “law”) có nghĩa là một người

có sự tự do của ý chí để làm luật hay quy tắc cư xử cho mình, ngược với heteronomy – dị trị hay tha trị (lệ thuộc vào luật lệ của người khác) Autonomy là một khái niệm được tìm thấy trong triết học về luân lý, đạo đức và chính trị Một trong những lý thuyết triết học về quyền tự chủ được biết đến nhiều nhất là lý thuyết đạo đức của Kant

Trong một phân ngành của Xã hội học có tên gọi là Xã hội học tri thức, sự tranh luận về ranh giới của quyền tự chủ dừng lại ở khái niệm tự chủ tương đối, cho đến khi khái niệm về quyển tự được xuất hiện và phát triển trong nghiên cứu khoa học Theo đó, hình thức hiện đại của quyền tự chủ trong khoa học là tự chủ tự thân, có nghĩa là: các nhà khoa học và các tổ chức khoa học có quyền và khả năng tác động tới việc lựa chọn các chủ đề nghiên cứu, cũng như có quyền và có khả

Trang 28

năng giải thích hoặc phản ánh các chủ đề nghiên cứu khác nhau, tức là tự chủ trong việc lựa chọn các chủ đề nghiên cứu, cũng như tự chủ trong cách thức thực hiện

Theo tác giả Vũ Cao Đàm, bản chất quyền autonomy của các tổ chức KH&CN cần được thể hiện bằng các khía cạnh sau: (1) Tự trị quyết định phương hướng phát triển khoa học, (2) Tự trị tìm kiếm các nguồn tài trợ, (3) Xóa bỏ mọi rang buộc hành chính, (4) Tự trị chuyển đổi tổ chức và (5) Xác định các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả nghiên cứu dựa trên cơ sở các chuẩn mực khoa học [13]

Theo Pfeffer và Salancik định nghĩa tự chủ là khả năng bắt đầu hoặc chấm dứt hành động theo định hướng của chính mình

Theo tác giả, khái niệm tự chủ là tự do hành động, có năng lực hành động để đạt được kết quả

Tự chủ phản ánh mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng để đáp ứng những thay đổi của môi trường, đáp ứng xu hướng phát triển Trong tổ chức KH&CN, tự chủ thể hiện ở ba mặt:

 Tự chủ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công việc chuyên môn

 Tự chủ về quản lý nhân sự

 Tự chủ về quản lý tài chính

Tự chịu trách nhiệm là sự tự đánh giá, tự giám sát việc thực hiện các quyền

và nghĩa vụ, sẵn sàng công khai hóa các hoạt động và chịu trách nhiệm trước pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền về tất cả kết quả của các hoạt động đó

Cơ quan quản lý trao quyền tự chủ cho các chủ thể bị quản lý nhằm tạo sự chủ động cho chủ thể trong triển khai thực hiện mục tiêu đề ra, phát huy năng lực tối đa của tổ chức, cá nhân theo mục tiêu hoạt động

Tổ chức, cá nhân theo mức độ hoạt động của mình sẽ xác định mức độ tự

chủ phù hợp và buộc phải tự chịu trách nhiệm các hoạt động của mình “Tự chủ và

tự chịu trách nhiệm tồn tại song song” [4, điều 3]

1.6.1 Tự chủ trong tổ chức KH&CN

Tự chủ, tự chịu trách nhiệm là nền tảng và xuất hiện trong tất cả các mặt hoạt động của một tổ chức trên thị trường Phát triển của các tổ chức KH&CN

Trang 29

không nằm ngoài qui luật này Trong các tổ chức KH&CN, tự chủ, tự chịu trách nhiệm là quyền được chủ động thực hiện nhiệm vụ, quản lý sử dụng tài chính, tài sản, tổ chức và biên chế và chịu trách nhiệm với các vấn đề trên Tổ chức KH&CN

áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm sẽ tăng cường trách nhiệm, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của tổ chức, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN, sàng lọc và phát triển các đơn vị có năng lực

Nghị định 115/2005/NĐ-CP ban hành ngày 05/9/2005 và các Thông tư hướng dẫn quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN, trong đó, tập trung đẩy mạnh thực hiện tự chủ các mặt sau [1,tr.1]

1.6.1.1 Tự chủ về hoạt động KH&CN

Tổ chức KH&CN được tự chủ thực hiện đấu thầu cạnh tranh và chịu trách nhiệm thực hiện tốt các nhiệm vụ Nhà nước giao Tổ chức KH&CN tự chủ tiến hành các hoạt động KH&CN khác theo quy định của pháp luật như cung cấp dịch

vụ KH&CN, phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ

1.6.1.2 Tự chủ về tài chính

Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao theo phương thức khoán chi quỹ lương, hoạt động bộ máy và kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN Các tổ chức này được tự chủ trong việc sử dụng các nguồn thu khác từ hợp đồng KH&CN với các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài

1.6.1.3 Tự chủ về quản lý nhân sự

Thực hiện phân cấp và trao quyền tự chủ nhân sự cho tổ chức KH&CN trên

cơ sở thực hiện chế độ viên chức và hợp đồng lao động đối với cán bộ KH&CN Thực hiện quản lý nhân lực KH&CN nhằm phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ KH&CN, tạo động lực về vật chất và tinh thần, thực hiện chế độ thù lao, đãi ngộ theo mức độ cống hiến và các chính sách khuyến khích khác đối với cán bộ KH&CN

1.6.1.4 Tự chủ về quan hệ hợp tác quốc tế

Tổ chức KH&CN được chủ động trong việc cử cán bộ ra nước ngoài, thuê chuyên gia nước ngoài thực hiện nghiên cứu, đào tạo, tư vấn KH&CN và đảm

Trang 30

nhiệm chức vụ quản lý trong tổ chức KH&CN thuộc các lĩnh vực do Nhà nước quy định

Tóm lại, Nghị định 115/2005/NĐ-CP đã trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN, tập trung thực hiện các công viêc duy trì hoạt động, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ nhà nước (bao gồm tự chủ trong các hoạt động để đảm bảo thực hiện với nhiệm vụ của Nhà nước giao, kinh phí nhà nước cấp cho tổ chức KH&CN) và thực hiện các hoạt động trên thị trường dịch vụ KH&CN

1.6.1.5 Quyền tự chủ

- Trong những năm đầu thế kỷ, châu Âu cũng từng sôi nổi nhiều với câu chuyện trao quyền tự chủ cho các đại học công lập và các viện nghiên cứu Một tiền đề cho câu chuyện này là chất lượng của các đơn vị này có thể được cải tiến một cách tuyến tính so với mức độ tự chủ được trao (Reicher & Tauch 2005 , Sursock & Smidt 2010 )

Ta nên hiểu về việc trao quyền tự chủ như thế nào? Có phải đó là trao quyền

tự do cho tất cả những cá nhân có trách nhiệm thực hiên công việc được giao Tự chủ có phải là tự do hay không? Và tự do đó là gì? Hay là đó chính là quyền tự trị

và tự quản của một tổ chức? Rồi nhiệm vụ của đơn vị, trách nhiệm đối với cơ quan chủ quản cũng như đối với xã hội có được đảm bảo hay không khi nhiệm vụ và trách nhiệm được chuyển giao cho một cá nhân hay một tập thể chịu trách nhiệm lãnh đạo tiến hành nhiệm vụ đó?

“Quyền tự chủ, khi thực hiện với tinh thần trách nhiệm (responsibility) và trách nhiệm-liên đới (accountability) chắc chắn sẽ dẫn đến sự xuất sắc trong học thuật, quản trị và quản lý tài chính của các tổ chức Nếu nó không dẫn đến điều này, ta có thể kết luận một cách an toàn là quyền tự chủ đó đã bị lạm dụng.” (Triết

lý Giáo dục của Trường Đại học Mumbai) Các dự thảo của Hiệp ước Bologna năm

2003 (P Nyborg 2003 ) cho thấy việc tự quản về tài chính và tự do học thuật của một tổ chức là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển giáo dục và nghiên cứu khoa học tạị Châu âu Họ định nghĩa như sau:

Trang 31

Quyền tự chịu trách nhiệm trong học thuật (academic autonomy) là quyền tự

do quyết định về các vấn đề học thuật như chương trình đào tạo, giáo trình và các công cụ giảng dạy, phương pháp sư phạm, kỹ thuật đánh giá học tập của sinh viên

Quyền tự trị (administrative autonomy) là quyền tự do trong việc quản trị của cơ quan, đơn vị đối với cơ quan chủ quản Đó là quyền tự do được quản lý các công việc theo hướng tác động và khuyến khích các tư duy cầu tiến, sáng tạo (initiatives) trong công việc và phát triển con người đang công tác cho cơ quan, và như vậy phát triển cơ quan theo chiều hướng năng động và sang tạo Việc phát triển nguồn nhân lực là một trong những việc quản trị, và quyền tự do tuyển nhân

sự và quyết định lương của các nhân sự này là một thành phần của quyền tự trị

Sự tự chủ của các tổ chức nghiên cứu được thiết kế gần giống như sự phân quyền (decentralized management), tuy nhiên trách nhiệm liên đới (accountability) chính

là khung văn hoá đảm bảo sự thành công của việc tự quản của một đơn vị.Phải chăng quyền luôn luôn đi với trách nhiệm, mà nếu trách nhiệm không được đảm bảo thì quyền này sẽ đi đến đâu? Có ảnh hưởng gì cho cơ quan, đơn vị được giao quyền?

1.7 Rào cản trong thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động R&D của tổ chức KH&CN

1.7.1 Khái niệm rào cản

Rào cản được hiểu như là bất kỳ điều gì gây cản trở cho con người hoặc sự vật thực hiện một hành động, hoặc một quá trình nhằm mục đích hạn chế hoặc không cho phép hành động hoặc quá trình đó được thực hiện Ngày nay khi giao lưu kinh tế và văn hoá ngày càng phổ biến, người ta nhắc nhiều đến “rào cản ngôn ngữ”, “rào cản văn hoá”, “rào cản thương mại”, “rào cản kỹ thuật”

Một rào cản không thể vĩnh viễn ngăn chặn một hành vi, nó chỉ có tác dụng trong một thời điểm và hoàn cảnh cụ thể Khi hoàn cảnh thay đổi thì các yếu tạo nên rào cản không còn tác dụng hiệu quả ngăn chặn nữa thì cần một rào cản mới để phù hợp hơn Rào cản được phân thành 2 nhóm chính, rào cản chủ quan và rào cản khách quan

Trang 32

Rào cản khách quan là các rào cản phát sinh ngoài bản thân sự vật, gây cản trở cho tiếp cận, hiểu biết hoặc kiểm soát sự vật Ví dụ, năm 1905 thuyết tương đối hẹp của Albert Einstein đã đặt ra tiên đề tốc độ ánh sáng trong chân không (c) đối với mọi hệ quy chiếu quán tính là không đổi và độc lập với chuyển động của nguồn sáng Hạn chế các thiết bị ghi nhận, đo đạc chính xác tại thời điểm 1905 là rào cản cho minh chứng trên thực tế l í thuyết của ông Năm 1975 khi các thiết bị đo được phát triển thì đã minh chứng được vận tốc ánh sáng không đổi, cụ thể là 299.792.458 m/s với sai số 4 phần tỷ

Rào cản chủ quan là các rào cản được chủ động dựng lên nhằm mục đích ngăn cản, hoặc bào vệ lợi ích của đối tượng cần bảo vệ Thông thường loại rào cản này tồn tại do một đối tượng tạo nên dựa trên một số ưu thế (kỹ thuật, công nghệ

…) bắt buộc đối tượng khác phải tuân theo Ví dụ trong thương mại quốc tế, để bảo

vệ nền sản xuất trong nước, các quốc gia nhập khẩu sử dụng lợi thế của công nghệ lập nên các rào cản kỹ thuật đối với các nước xuất khẩu vào thị trường của họ Năm 2002, để bảo hộ người nuôi trồng thủy sản nội địa, cộng đồng Châu Âu (EU) dựng rào cản kỹ thuật đối với các nhà xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam về dư lượng kháng sinh EU yêu cầu dư lượng kháng sinh Chloramphenicol, Nitrofurans trong mẫu tôm xuất khẩu vào EU không quá 0,3 phần tỉ Qui định này khi đó gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, làm thu hẹp thị trường tại EU Để đáp ứng qui định này Việt Nam đã tăng cường quản lý, đầu tư trang bị thiết bị kiểm soát dư lượng kháng sinh để vượt qua rào cản này Tuy nhiên sau đó danh sách dư lượng kháng sinh càng mở rộng, hiện nay danh sách này đã mở rộng với hiều loại kháng sinh khác, thành một rào cản lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thị trường EU

1.7.2 Rào cản thực hiện tự chủ trong hoạt động đổi mới công nghệ của tổ chức KH&CN

Là tập hợp các yếu tố làm cản trở việc tự chủ trong thực hiện các hoạt động đổi mới công nghệ tại các tổ chức KH&CN Những yếu tố xuất phát từ nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan trong nội bộ nhưng có tác động cản trở quá trình thực hiện tự chủ trong đổi mới công nghệ trong tổ chức KH&CN

Trang 33

1.7.2.1 Rào cản do hạn chế về nhận thức

Là nhận thức của người đứng đầu tổ chức không khuyến khích trong việc tự chủ đổi mới công nghệ Họ chưa quen với suy nghĩ phải tự tạo được lợi thế cạnh tranh của tổ chức trên thị trường thông qua đổi mới công nghệ Do xuất phát từ các đơn vị nhà nước được bao cấp đã quen với với cơ chế xin - cho và các mối quan hệ

để duy trì tổ chức, đồng thời bản thân không muốn có sự thay đổi, dấn thân vào môi trường mới với nhiều cạnh tranh hơn Mặc khác, sự không tự tin khi thực hiện

tự chủ trong đổi mới công nghệ còn do tổ chức KH&CN chưa chủ động có nguồn tài chính đầu tư, chưa có kế hoạch khả thi do thiếu kinh nghiệm thị trường và các yếu tố hỗ trợ từ nhà nước Đồng thời sự không chắc chắn khi đề nghị đầu tư cũng gây cản trở lớn vì khi tổ chức KH&CN đề nghị dự án, tổ chức KH&CN không chắc chắn được khả năng đơn vị mình có được cơ quan quản lý phê duyệt để thực hiện, triển khai dự án hay không

1.7.2.2 Rào cản do cơ chế tài chính chưa phù hợp

Cơ chế tự chủ tài chính cho tổ chức KH&CN mặc dù có nhiều hướng dẫn,

rút kinh nghiệm trong thực hiện nhưng nhìn chung c n nhiều hạn chế Cơ chế tự chủ thúc đẩy tổ chức KH&CN hoạt động như doanh nghiệp nhưng các hướng dẫn

về quản lý tài chính chưa cho phép tổ chức KH&CN huy động và sử dụng nguồn lực tài chính do hoạt động của đơn vị mang lại hoặc huy động nguồn tài chính từ

xã hội phục vụ phát triển cho tổ chức dẫn đến cạnh tranh không cân sức

Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường là do uy tín và năng lực của doanh nghiệp tạo nên Đối với tổ chức KH&CN, để chiếm lĩnh thị phần lớn ngoài

sự năng động tiếp cận thị trường c n có năng lực kỹ thuật thông qua đầu tư đổi mới

và làm chủ công nghệ, thu hút người giỏi về tổ chức Thực tế hiện nay, cơ chế tài chính cho phép tổ chức KH&CN chỉ được tự chủ một số hoạt động như tự chủ tổ chức thực hiện các dự án đề tài của nhà nước, chi thường xuyên… các hoạt động như đầu tư đổi mới công nghệ, liên doanh liên kết, vay vốn chưa được tự chủ hoặc chưa có hướng dẫn thực hiện Để các tổ chức KH&CN tồn tại và phát triển trên thị trường thì cần tiến tới tự chủ hoàn toàn các hoạt động hỗ trợ cho sự phát triển của

tổ chức

Trang 34

Công nghệ mới là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên lợi thế cạnh tranh nhưng thường có giá trị đầu tư lớn vượt qua khả năng đầu tư của tổ chức KH&CN

Tổ chức KH&CN chỉ hoàn toàn trông chờ vào vốn do nhà nước cấp nhưng thủ tục xin khó khăn và giải ngân chậm, thậm chí đến khi đầu tư được công nghệ thì công nghệ không còn mới để tạo ưu thế cho tổ chức KH&CN đó nữa

Hiện nay qui định tài chính chưa hướng dẫn cho phép tổ chức KH&CN sử dụng giá trị đất, tài sản, thương hiệu thế chấp vay vốn ngân hàng, đối ứng vốn trong liên kết, thu hút tài chính từ bên ngoài hoặc liên kết góp vốn phát triển giữa các tổ chức KH&CN với nhau để đầu tư phát triển có trọng điểm cho một tổ chức KH&CN Kinh phí đầu tư xin nhà nước cấp đã khó và chậm như vậy, đối với qũy trích lập phục vụ cho đầu tư phát triển đơn vị, mặc dù được trích lập sau khi hoàn thành trách nhiệm tài chính với nhà nước, sử dụng đúng mục đích trích lập quỹ nhưng tổ chức KH&CN lại chưa được phép tự chủ sử dụng nguồn tài chính này trong đầu tư đổi mới công nghệ Muốn sử dụng quỹ, tổ chức KH&CN phải xin phép đơn vị chủ quản và làm nhiều thủ tục dẫn đến mất quá nhiều thời gian làm chậm đi trong tiếp cận cơ hội, mất lợi thế cạnh tranh

Nhìn chung cơ chế tự chủ tài chính hiện nay cho các tổ chức KH&CN chỉ mới dừng lại ở tự chủ tài chính trong chi tiêu nội bộ hoặc thực hiện yêu cầu nhiệm

vụ trong phạm vi hẹp dựa trên cơ sở vật chất hiện có, chưa thật sự tạo điều kiện mạnh mẽ cho tự chủ đầu tư công nghệ tạo lợi thế trên thị trường, đây là điều tự chủ

quan trong nhất, tạo nên tảng cho sự phát triển bền vững

1.7.2.3 Rào cản do sự không đồng bộ giữa hướng dẫn và thực hiện của

cơ quan quản lý

Nghị định 115/NĐ/CP ra đời với tinh thần phát huy tối đa nội lực của tổ chức KH&CN, tạo sự tự chủ cho tổ chức KH&CN theo định hướng của cơ chế kinh tế thị trường Đã có nhiều thông tư hướng dẫn hỗ trợ, có lộ trình thực hiện cụ thể việc chuyển đổi cho tổ chức KH&CN đến năm 2013 Tuy nhiên các hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện tại các cơ quan quản lý c n chưa đồng bộ và thiếu nhất quán dẫn đến một số tổ chức KH&CN đã thực hiện chuyển đổi còn lúng túng không biết thưc hiện như thế nào Cơ quan quản lý cũng lúng túng do đây là trường hợp mới

Trang 35

chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Điển hình là chưa có các hướng dẫn thực hiện

hỗ trợ ưu đãi miễn giảm thuế cho tổ chức KH&CN khi thực hiện chuyển đổi theo Nghị định 115/NĐ-CP do bộ KH&CN chưa thống nhất được với Bộ Tài chính về những khoản chi được miễn, lý do được miễn nên tổ chức KH&CN chưa được hưởng

Theo tinh thần của Bộ KH&CN, để hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về KH&CN thì vai tr cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN tập trung vào nhiệm vụ quản lý nhà nước, tách nhiệm vụ sự nghiệp ra khỏi cơ quan hành chính, đồng thời tăng cường chức năng giám sát, kiểm tra [1] Tuy nhiên, các

cơ quản lý các cấp chưa tuân thủ cao đối với các chính sách KH&CN của Nhà nước, luôn mang tâm lý “ăn cây nào rào cây ấy”, muốn có quyền kiểm soát thay vì vai tr định hướng, từ đó gây khó khăn cho tổ chức KH&CN thực hiện quyền tự chủ Mặc khác, sự không đồng bộ trong xây dựng và ban hành các chính sách cũng chưa khuyến khích được quyền tự chủ của tổ chức KH&CN Như trong trường hợp thực hiện tự chủ về tổ chức, việc thu hút cán bộ kỹ thuật cao và chuyên gia về công tác tại tổ chức KH&CN cũng c n bất cập Do quản lý cán bộ trong các cơ quan nhà nước phải áp dụng theo Luật Viên chức, Luật Công chức nên các qui định việc xếp hay nâng ngạch lương như hiện nay thì khó có thể thu hút chuyên gia đầu ngành, chuyên gia nước ngoài, người giỏi so với các doanh nghiệp bên ngoài Đối với cơ quan chức năng quản lí nhà nước, khi tổ chức KH&CN đề nghị về ưu đãi về thuế, quyền trích lập quỹ, quyền tự chủ đầu tư đổi mới công nghệ, hợp tác liên doanh như qui định trong Nghị định 115/NĐ-CP thì cơ quan chức năng c n lúng túng và gặp rất nhiều vướng mắc vì chưa có các hướng dẫn đồng bộ [19]

1.8 Mối quan hệ giữa tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động R&D của các tổ chức KH&CN

Tự chủ là vấn đề tồn tại một thống tự kiểm soát có tính tin cậy đối với việc được toàn quyền ra quyết định cùng với sự hoàn toàn sẵn l ng với trách nhiệm giải trình Và tự chủ cũng không chỉ là việc phân chia các quyền lực đã được chọn lọc Trách nhiệm giải trình bao gồm trách nhiệm về học thuật, quản trị, và tài chính với các mục tiêu cụ thể cho từng nhân tố xác định bao gồm Lãnh đạo, Quản lý, nhân

Trang 36

viên, và tất cả các thành viên khác có liên quan đến việc cung cấp các sản phẩm R&D có chất lượng vì sự tiến bộ xã hội Công cụ để đo lường sự tự chịu trách nhiệm bao gồm cả bộ phận tự kiểm soát bên trong và cơ quan kiểm tra bên ngoài theo quy định, hệ thống khen thưởng bên trong khuyến khích trách nhiệm giải trình, khuyến khích những người đóng vai tr tiên phong trong sáng kiến và thực thi các giải pháp Các hình thức chịu trách nhiệm giải trình bao gồm trách nhiệm giải trình của cá nhân đối với cấp quản lý trực tiếp, trách nhiệm giải trình trong nội

bộ tổ chức KH&CN, trách nhiệm giải trình của tổ chức R&D với bên ngoài, trách nhiệm giải trình của tổ chức R&D đối với hệ thống quản lý Hành chính

Kết luận chương 1

Trong chương 1, tác giả đã nhắc lại một số khái niệm về hoạt động KH&CN,

tổ chức KH&CN, tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Nghị định 115/NĐ-CP Tác giả cũng đồng thời khẳng định năng lực tự chủ của các tổ chức KH&CN và sơ

bộ các rào cản trong thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm các tổ chức này

Chương 1 cũng đã nêu lên mối liên hệ hữu cơ giữa tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động R&D của tổ chức KH&CN, đồng thời nhấn mạnh vai tr mạnh mẽ của việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động R&D trong tổ chức KH&CN

Chương 1 đã cung cấp cơ sở lý thuyết, nhận định làm cơ sở cho tác giả phân tích các kết quả khảo sát và nhận diện rào cản trong chương 2 và chương 3

Trang 37

CHƯƠNG 2 RÀO CẢN THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TỔ CHỨC R&D TRỰC THUỘC SỞ KH&CN LÂM ĐỒNG HIỆN NAY

2.1 Tình hình chung việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập tại Việt Nam

2.1.1 Kết quả triển khai thực hiện Nghị định 115

Trong những năm qua, cơ chế quản lý KH&CN có những cải tiến, đổi mới bước đầu nhằm tạo điều kiện cho hoạt động KH&CN tốt hơn Cụ thể [2]:

Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về KH&CN, sắp xếp lại

và cải tiến quản lý các đơn vị nghiên cứu KH&CN có những thành công nhất định Quá trình sắp xếp lại các tổ chức cơ quan nghiên cứu KH&CN theo hướng tập trung các viện, trung tâm nhỏ thành những tổ chức KH&CN lớn có cùng lĩnh vực chuyên môn Từ đó, hình thành hệ thống các viện, trung tâm đầu ngành, các viện, trung tâm, phân viện vùng v.v Do đó đã góp phần hoàn thiện tổ chức bộ máy, làm

rõ chức năng, nhiệm vụ, nâng cao năng lực nghiên cứu và khai thác có hiệu quả các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động KH&CN

Tổng lượng kinh phí dành cho hoạt động KH&CN tăng đều qua các năm Cơ chế, chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN đã dần được đổi mới theo hướng thông thoáng, nâng dần định mức chi tiêu của các hoạt động KH&CN

Việc xác định đề tài và tuyển chọn chủ trì, chủ đề tài nghiên cứu đã đổi mới tích cực Nội dung và mục tiêu nghiên cứu dựa trên cơ sở các đề xuất của cơ quan khoa học và từ yêu cầu thực tiễn Cơ chế đấu thầu, thi tuyển chủ nhiệm đề tài ngày càng được áp dụng đúng nguyên tắc khách quan và nghiêm túc Việc xây dựng và

tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN được đổi mới theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, bám sát hơn các nhiệm vụ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp hàng hoá theo

cơ chế thị trường

Trong cơ chế kinh tế thị trường và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế các nhu cầu về KH&CN trong các lĩnh vực ngày càng tăng rõ rệt và KH&CN đã và đang có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước

Trang 38

Cơ chế quản lí cả về hoạt động chuyên môn cũng như tài sản tiền vốn của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu KH&CN cũng đã từng bước đổi mới, gắn kết nghiên cứu KH&CN với sản xuất, kinh doanh và theo hướng xã hội hoá

Những kết quả đổi mới cơ chế quản lý KH&CN vừa qua đã góp phần tạo nên thành công của hoạt động KH&CN Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học đã được ứng dụng vào thực tiễn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, riêng đối với các giống cây lương thực, công nghệ bảo quản sau thu hoạch được công nhận đã làm lợi hàng nghìn tỷ đồng Hệ thống các đề tài nghiên cứu về chính sách và các giải pháp kinh

tế xã hội cũng đã và đang được áp dụng có hiệu quả trong thực tế v.v

Đối tượng thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của Nghị định 115 là tổ chức KH&CN công lập, gồm: tổ chức nghiên cứu khoa học,

tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ KH&CN

Tổ chức KH&CN công lập được quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tự chủ về tài chính và tài sản, tự chủ về quản lý tổ chức và nhân lực, tự chủ về hợp tác quốc

tế

Qua theo dõi và tổng hợp báo cáo từ các bộ, ngành, địa phương cho thấy, kết quả thực hiện Nghị định 115 như sau:

2.1.1.1 Việc xây dựng và phê duyệt đề án thực hiện tự chủ

Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo của các bộ, ngành, địa phương đến 31/12/2014, trong tổng số 642 tổ chức KH&CN công lập (gồm 473 tổ chức thuộc các bộ, ngành và 169 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) gồm có:

- 488 tổ chức đã được phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế tự chủ (đạt 76%), trong đó có 380 tổ chức thuộc các bộ, ngành và 108 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- 154 tổ chức đang xây dựng hoặc đang trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế tự chủ, trong đó có 93 tổ chức thuộc các bộ, ngành và

61 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Như vậy, đến nay còn

154 tổ chức chưa được phê duyệt đề án thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách

Trang 39

nhiệm, mặc dù Nghị định 115 sửa đổi quy định hạn cuối cùng các tổ chức phải được phê duyệt đề án là ngày 31/12/2013

2.1.1.2 Việc phân loại mô hình tổ chức hoạt động

Trong 488 tổ chức đã được phê duyệt Đề án có 295 tổ chức thuộc loại hình

tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên (trong đó, 223 tổ chức thuộc các bộ, ngành và 72 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) và 193 tổ chức thuộc loại hình tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách, nghiên cứu xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành, phục vụ quản lý nhà nước và được ngân sách nhà nước tiếp tục hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán (trong đó, 157

tổ chức thuộc các bộ, ngành và 36 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)

2.1.1.3 Việc thực hiện các nội dung tự chủ

- Tự chủ về thực hiện nhiệm vụ

Hiện nay, 100% tổ chức KH&CN đã được tự chủ trong thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Khi thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, ngoài các nhiệm vụ KH&CN do Nhà nước giao, đặt hàng trực tiếp, tổ chức KH&CN được quyền chủ động trong việc đề xuất nhiệm vụ, đăng ký tham gia tuyển chọn, xét chọn thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo danh mục các nhiệm vụ KH&CN do Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, ngành, địa phương công bố hàng năm

Tổ chức KH&CN được quyền chủ động ký hợp đồng, liên kết, hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện nhiệm vụ KH&CN và dịch

vụ KH&CN; được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và được sử dụng con dấu của đơn vị sự nghiệp công lập cho hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật Thực tế cho thấy, việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các tổ chức KH&CN những năm qua về cơ bản thực hiện tốt, ít có vướng mắc

- Tự chủ về tài chính, tài sản

Các tổ chức KH&CN được giao quyền tự chủ hơn trong việc chi lương, chi hoạt động bộ máy và sử dụng các nguồn thu khác từ hợp đồng KH&CN với các tổ

Trang 40

chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài Nhiều tổ chức KH&CN có doanh thu lớn từ các hợp đồng KH&CN Một số tổ chức KH&CN có toàn bộ doanh thu năm 2014 từ các hợp đồng nghiên cứu triển khai và dịch vụ KH&CN, như: Viện Dầu khí Việt Nam với 601 tỷ đồng, Viện Máy và dụng cụ công nghiệp là 712 tỷ đồng, Viện Nghiên cứu cơ khí là 680 tỷ đồng, Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ là 350 tỷ đồng, Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá là 291 tỷ đồng, Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - VINACOMIN là

205 tỷ đồng… Do có nguồn thu cao nên thu nhập của cán bộ, viên chức tại nhiều tổ chức KH&CN được cải thiện, cao hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định, điển hình như: Viện Dầu khí Việt Nam có thu nhập bình quân 22,7 triệu đồng/người/tháng; Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng có thu nhập bình quân 18 triệu đồng/người/tháng; Viện Nghiên cứu cơ khí có thu nhập bình quân 8 triệu đồng/người/tháng; Viện Nghiên cứu Cao su Việt nam có thu nhập bình quân 10,7 triệu đồng/người/tháng; Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá có thu nhập bình quân 7,8 triệu đồng/người/tháng; Viện Máy và dụng cụ công nghiệp có thu nhập bình quân 7 triệu đồng/người/tháng

Khi thực hiện nhiệm vụ KH&CN, các tổ chức KH&CN được áp dụng phương thức khoán chi đối với những khoản chi đã có định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành trên cơ sở bảo đảm yêu cầu về chất lượng và tiến độ thực hiện Ngoài ra, tổ chức KH&CN c n được Nhà nước xem xét, cấp kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đối ứng của các dự án, kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn tài sản cố định…

Việc thanh toán, quyết toán kinh phí hoạt động thường xuyên và thu nhập tăng thêm của hầu hết các tổ chức KH&CN được thực hiện trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ của tổ chức Việc trích lập và sử dụng các quỹ (bao gồm Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi) được các tổ chức KH&CN chấp hành nghiêm túc để ổn định, nâng cao thu nhập cho cán bộ nghiên cứu và đầu tư phát triển tiềm lực của tổ chức

Ngày đăng: 22/09/2020, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w