1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát lỗi sử dụng từ hán việt của sinh viên trung quốc học tiếng việt (cứ liệu các bài viết của sinh viên trung quốc ở việt nam)

87 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HOC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NGÔN NGỮ HỌC --- BÙI THU LOAN KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT CỨ LI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HOC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC

-

BÙI THU LOAN

KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT CỦA

SINH VIÊN TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT

(CỨ LIỆU CÁC BÀI VIẾT CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HOC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI THU LOAN

KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT (CỨ LIỆU CÁC BÀI VIẾTCỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM)

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60 22 02 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TRẦN TRÍ DÕI

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và

Chưa từng được công bố ở bất cứ tài liệu nào

Tác giả luận văn

Bùi Thu Loan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, khoa Việt Nam học, trường Đại học

Hà Nội cùng bạn bè, đồng nghiệp và các sinh viên

Nhân đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Ngôn ngữ Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của GS Trần Trí Dõi trong suốt quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các sinh viên Trung Quốc, các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu để hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015

Bùi Thu Loan

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3

4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 3

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

6 Ý NGHĨA LUẬN VĂN 5

7 BỐ CỤC LUẬN VĂN 5

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN PHỤC VỤ LUẬN VĂN 6

1.1 Lỗi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Lý thuyết phân tích lỗi 7

1.2 Tiếp xúc và giao thoa văn hóa - ngôn ngữ Việt - Hán 12

1.2.1 Tiếp xúc ngôn ngữ và hiện tượng giao thoa 12

1.2.2 Biểu hiện của tiếp xúc và giao thoa văn hóa - ngôn ngữ Việt - Hán 13

1.3 Khái niệm từ Hán Việt 15

1.3.1 Từ vay mượn và từ vay mượn gốc Hán 15

1.3.2 Nội dung của từ Hán Việt 17

1.4 Tiểu kết 19

Chương 2 MÔ TẢ TÌNH HÌNH LỖI TỪ HÁN VIỆT 22

2.1 Dẫn nhập 22

2.2 Thế nào là lỗi từ Hán Việt? 23

2.3 Kết quả khảo sát 24

2.4 Phân loại lỗi sử dụng từ Hán Việt 26

2.5 Tình hình lỗi sử dụng từ Hán Việt 32

2.5.1 Lỗi chính tả từ Hán Việt 32

Trang 6

2.5.2 Lỗi chuyển di tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt 38

2.5.3 Lỗi chuyển di trật tự ngữ pháp cụm danh từ Hán Việt 42

2.5.4 Lỗi chuyển di từ Hán Việt có sắc thái không phù hợp ngữ cảnh 44

2.5.5 Lỗi sử dụng sai từ loại 46

2.5.6 Lỗi nhầm lẫn các từ gần âm, gần nghĩa 47

2.5.7 Lỗi kết hợp từ Hán Việt với các từ ngữ khác 49

2.5.8 Lỗi tự tạo từ Hán Việt mới 51

2.5.9 Nhận xét chung 52

2.6 Tiểu kết 55

Chương 3 GIẢI THÍCH VỀ HIỆN TƯỢNG LỖI VÀ THỬ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 57

3.1 Giải thích 57

3.1.1 Về phía người học 58

3.1.2 Về phía người dạy 58

3.2 Biện pháp khắc phục 59

3.2.1 Biện pháp chung 59

3.2.2 Suy nghĩ về cách giảng dạy và học tập từ Hán Việt 61

3.2.3 Đề xuất một số dạng bài luyện sử dụng từ Hán Việt 65

3.3 Tiểu kết 67

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 8

3 Bảng 3: So sánh phiên âm tiếng Hán và cách phát âm trong tiếng Việt

4 Bảng 4: So sánh danh từ tiếng Hán và danh từ tiếng Việt

5 Bảng 5: So sánh từ Hán Việt Việt tạo và từ Hán hiện đại

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 1: Tỉ lệ lỗi sử dụng từ Hán Việt theo trình độ

2 Biểu đồ 2: Tình hình lỗi sử dụng từ Hán Việt theo trình độ trong tương quan với số lượng bài khảo sát

3 Biểu đồ 3: Tỉ lệ lỗi sử dụng từ Hán Việt theo các dạng lỗi

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong vài năm trở lại đây, lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ngày càng phát triển mạnh mẽ và gặt hái nhiều thành công Đặc biệt không thể không kể đến công tác giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên

Trung Quốc Có thể nói, Việt Nam - Trung Quốc là hai quốc gia núi liền núi,

sông liền sông, có nhiều mối tương quan về lịch sử, văn hóa cũng như chính

trị, mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc dù đã và đang trải qua những thời kỳ khó khăn nhưng trên hết vẫn tồn tại lâu bền đó là tình hữu nghị không thể chia tách, mối quan hệ hợp tác song phương sâu rộng trong tất cả mọi lĩnh vực Chính vì vậy mà hàng năm số lượng sinh viên Trung Quốc đến các trường đại học ở Hà Nội nói riêng và các trường đại học trên toàn quốc nói chung để nhập học các chương trình tiếng Việt và văn hóa, kinh tế xã hội Việt Nam rất đông đảo Khu vực Hà Nội, đa phần sinh viên Trung Quốc tập trung ở các trường như trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Ngoại ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Hà Nội

Tại Trung Quốc, vài năm gần đây cả nước này có đến hơn 30 trường có đào tạo chuyên ngành tiếng Việt với số lượng sinh viên mỗi năm là 2000 người trong các năm từ 2004 đến 2010 [9;27] Thực tế cho thấy, hiện nay có nhiều thanh niên Trung Quốc lựa chọn tiếng Việt là ngoại ngữ làm hành trang cho mình để thực hiện những mục tiêu sự nghiệp trong tương lai

Với nhu cầu học tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc rất lớn và lâu dài như vậy, nhưng hiện nay lượng sách giáo trình và bài tập tiếng Việt dành riêng cho đối tượng này vẫn còn ít và chưa được phổ biến trong các trường đại học Hơn nữa, hai ngôn ngữ Việt và Trung lại có nhiều điểm tương đồng

và dị biệt rất đáng quan tâm có thể đưa vào các giáo trình dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc cũng như các giáo trình dạy tiếng Trung cho người Việt nhưng hiện vẫn còn chưa được nghiên cứu ở mức cần thiết

Trang 11

Trong quá trình dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc, chúng tôi nhận thấy từ Hán Việt là một lớp từ thuộc hệ thống từ vựng tiếng Việt mang nhiều nét tương đồng với tiếng Hán Đặc điểm này đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tiếng Việt Song bên cạnh đó cũng có hàng loạt các từ Hán Việt hoạt động trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có sự phát triển, thay đổi về nghĩa và cách dùng so với từ tương đương trong tiếng Hán Điều này dẫn đến lỗi trong quá trình sử dụng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc Do

vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khảo sát lỗi sử dụng từ Hán Việt của sinh

viên Trung Quốc học tiếng Việt” để có cái nhìn cụ thể và hệ thống hơn về

vấn đề này

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Trước nay, các công trình nghiên cứu đề cập đến hiện tượng lỗi trong

sử dụng ngoại ngữ cũng không ít Có thể kể đến như luận án của tác giả

Nguyễn Thiện Nam với đề tài “Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người

nước ngoài và những vấn đề có liên quan” Luận án này đã đi sâu phân tích

lỗi ngữ pháp trong sử dụng tiếng Việt của người nói tiếng Anh, người Campuchia và người Nhật Về sau có tác giả Phạm Đăng Bình với công trình

“Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hóa trong diễn ngôn của người

Việt học tiếng Anh” Tác giả này chọn hướng nghiên cứu lỗi của người Việt

học tiếng Anh từ góc độ giao thoa văn hóa, ngôn ngữ Đây cũng là một hướng tiếp cận rất thú vị Các công trình này đều ứng dụng lý thuyết phân tích lỗi do nhà ngôn ngữ học ứng dụng S.Pit Corder đề xuất

Đặc biệt, các luận văn Thạc sỹ về lỗi của đối tượng sinh viên Trung

Quốc sử dụng tiếng Việt cũng không ít Có thể kể đến như Lỗi của người

Trung Quốc học tiếng Việt nhìn từ góc độ xuyên văn hóa của tác giả Trung

Quốc Lê Xảo Bình Ngoài ra, tác giả Đào Thị Thanh Huyền có công trình

Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt và cách khắc phục

Trang 12

Mỗi tác giả đều khai thác các góc cạnh khác nhau về lỗi sử dụng tiếng việt của đối tượng người học là người Trung Quốc

Về lỗi sử dụng từ Hán Việt, bài nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Duyên

Hà cũng phác họa phần nào tình hình lỗi sử dụng từ Hán Việt của sinh viên nước ngoài học tập tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh Trong luận văn này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về từ Hán Việt và các cách dùng sai của sinh viên Trung Quốc đang học tập tại một số trường Đại học ở Hà Nội Đây là một kiểu lỗi xảy ra ở một lớp từ vựng khá phong phú và nhạy cảm, mang nhiều nét tương đồng trong kho tàng từ vựng của ngôn ngữ hai dân tộc Luận văn được tiến hành trên cơ sở kế thừa, tiếp thu lý luận và phương pháp liên quan của các công trình đi trước Đồng thời bước đầu đóng góp tư liệu nhằm xác lập danh mục từ Hán Việt có tần số sử dụng từ thấp đến cao trong văn viết của sinh viên Trung Quốc Tiếp đó chỉ ra những trường hợp mắc lỗi cụ thể Cuối cùng là tìm nguyên nhân và cách khắc phục mang tính hệ thống

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Thống kê, phân tích, giải thích tình trạng cũng như nguyên nhân gây

ra lỗi sử dụng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc

- Qua đó, nêu ý kiến về khả năng khắc phục lỗi

4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

Lỗi trong sử dụng ngoại ngữ bao gồm ba dạng lỗi cơ bản (tương ứng với ba bộ phận cấu thành trong một ngôn ngữ) Đó là lỗi ngữ âm, lỗi từ vựng

và lỗi ngữ pháp Ở đây, chúng tôi đi sâu khảo sát lỗi dùng từ Hán Việt thuộc loại lỗi giao thoa từ vựng của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt ở cả ba bình diện trên Thế nào là lỗi giao thoa từ vựng và quá trình phân tích lỗi này

có liên quan gì với các loại lỗi ngữ âm, ngữ pháp Vấn đề sẽ được làm rõ ở các phần sau

Trang 13

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Các phương pháp được sử dụng trong luận văn

- Phương pháp miêu tả phân tích

- Thủ pháp khảo sát, thống kê và so sánh đối chiếu

Những phương pháp và thủ pháp đó nhằm chỉ ra sự giống và khác nhau, sự biến đổi của các từ Hán Việt về ý nghĩa, cách dùng so với từ ngữ tương đương trong tiếng Hán

- Thủ pháp phân tích lỗi

Thuận lợi của luận văn là được kế thừa và học hỏi các thao tác phân tích lỗi của các nhà nghiên cứu đi trước dưới ánh sáng của lý thuyết phân tích lỗi của Pit Corder

5.2 Phương pháp thu thập tư liệu

Tư liệu thu thập từ các bài luyện, bài kiểm tra viết tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc ở một số trường đại học ở Hà Nội Dựa vào đó, chúng tôi tập hợp

lại các lỗi dùng từ Hán Việt của sinh viên kèm theo các câu biểu hiện lỗi

Cụ thể, nguồn tư liệu được thu thập bài thi viết của các sinh viên ở

những cơ sở đào tạo sau đây:

- Khoa Việt Nam học, trường Đại học Hà Nội là 280 bài Trong đó, trình độ A 100 bài, trình độ B 100 bài, trình độ C 80 bài

- Khoa Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội là 479 bài Trong đó, trình độ A 138 bài, trình độ B là 140 bài, trình độ C là 201 bài

Tổng cộng số lượng bài khảo sát là 759 bài Trong đó, trình độ A là 238 bài, trình độ B là 240 bài; trình độ C là 281 bài Đây là những bài tập kiểm tra viết và bài thi viết của sinh viên các trường các năm học từ 2013 đến 2015 Trong đó, chúng tôi có khảo sát một số phần bài dịch Trung - Việt trong bài thi của sinh viên để có sự so sánh văn bản dịch với văn bản đoạn văn của sinh viên Trung Quốc

Trang 14

Trong luận văn này, chúng tôi chưa có điều kiện về thời gian để có thể

áp dụng phương pháp điều tra khảo sát lỗi của sinh viên theo thời gian dài (longitudinal) mà chỉ mới dừng lại ở phương pháp điều tra theo diện rộng (cross-sectional) khoảng thời gian ngắn trong vòng 3 năm học (2013-2015)

6 Ý NGHĨA LUẬN VĂN

- Luận văn có thể giúp người dạy tiếng Việt khái quát các trường hợp

sinh viên mắc lỗi sử dụng từ Hán Việt để từ đó chủ động soạn bài chữa lỗi và

giải thích lỗi cho sinh viên một cách rõ ràng, khoa học nhất

- Luận văn hy vọng cũng là một tài liệu tham khảo giúp cho sinh viên

Trung Quốc nắm được ý nghĩa các từ Hán - Việt, sự khác biệt trong các sử dụng so với các từ tương đương trong tiếng Hán Trên cơ sở đó tránh được việc sử dụng sai từ

- Luận văn cũng đóng góp một phần vào nội dung lý thuyết dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc Từ đó, việc biên soạn giáo trình, bài luyện tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc cũng có ý nghĩa thiết thực hơn, trọng tâm và

Chương 3: Giải thích các nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất các biện pháp

khắc phục lỗi trong giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc

Trang 15

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN PHỤC VỤ LUẬN VĂN

1.1 Lỗi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai

1.1.1 Khái niệm

Lỗi theo từ điển Ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng:

“Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng…) bằng cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ” [33;7]

Ở đây, chúng ta cần có sự phân biệt rõ ràng giữa lỗi và sai sót Lỗi có tính hệ thống, có sự lặp đi lặp lại nhiều lần còn sai sót chỉ có tính ngẫu nhiên Lỗi xuất hiện do năng lực sử dụng ngôn ngữ đích còn hạn chế Trong khi sai sót xuất hiện do một vài yếu tố tâm sinh lý như nói nhịu hay mệt mỏi, quên,…Chính vì vậy mà sai sót thì người học có thể tự mình sửa chữa lại được nhưng lỗi thì người học không thể tự sửa lại được cho đúng Công việc này cần có sự giúp đỡ của người dạy

Trên thực tế nghiên cứu, để phân biệt lỗi và sai sót đôi khi không hề đơn giản Song, chúng ta có thể dựa vào tính hệ thống của lỗi Nghĩa là “tính xuất hiện thường xuyên” theo như nhà Ngôn ngữ học W.T Little Wood cho rằng: “Tiêu chí đánh giá tin cậy nhất là tính xuất hiện thường xuyên - chứng

cứ tốt nhất mà một lỗi phản ánh hệ thống chiều sâu của người học là khi nó xuất hiện đều đặn trong lời nói của người học” [32;8]

Tác giả Hà Lê Kim Anh cũng nhấn mạnh rằng người học ngôn ngữ sẽ trải qua quá trình: không hiểu - xuất hiện lỗi - sử dụng đúng [3;11] Có thể nói, lỗi có vai trò quan trọng trong tất cả các quá trình nghiên cứu, dạy và học ngoại ngữ Nó có ý nghĩa với cả người dạy, người học và người nghiên cứu

Lỗi là một hiện tượng đương nhiên xảy ra trong quá trình thụ đắc một ngôn ngữ Đối với người học, lỗi như là một “phương cách” để thể nghiệm những gì đã học được Như tác giả Nguyễn Thiện Nam đã phát biểu về lỗi, đó

Trang 16

là “cách mà người học thử nghiệm những sáng tạo, những phiêu lưu, những giả thuyết của mình về ngôn ngữ mà mình học”[34;124]

Việc xuất hiện lỗi và phân tích lỗi giúp cho người dạy có thể đánh giá trình độ của người học, biết được điểm yếu của người học để đưa gia những giải pháp, bài luyện khắc phục lỗi cho học viên

Đồng thời, nhìn vào lỗi mà người nghiên cứu biết được từng bước đường thụ đắc ngôn ngữ của người học như thế nào? Người học từ trình độ thấp đến cao sẽ mắc những lỗi như thế nào, ở mức độ ra sao

1.1.2 Lý thuyết phân tích lỗi

Phân tích lỗi là việc nghiên cứu phân tích các lỗi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ Những lỗi này nằm trong hệ thống ngôn ngữ người học tạo ra

được các nhà nghiên cứu gọi là ngôn ngữ trung gian hay còn gọi là ngôn ngữ

quá độ Nó mang ảnh hưởng của cả ngôn ngữ gốc lẫn ngôn ngữ đích của

người học Việc phân tích lỗi chính là khảo sát trên nguồn ngữ liệu ngôn ngữ trung gian để tìm ra các dạng lỗi cần nghiên cứu Trước khi quan điểm mới về lỗi và phân tích lỗi ra đời thì đã tồn tại một quan niệm khá nghiêm khắc và thiếu tính tích cực khi nhìn nhận hiện tượng lỗi

Theo quan điểm của các nhà Hành vi luận, học tập ngôn ngữ là việc tạo thói quen ngôn từ tốt Việc mắc lỗi trong sử dụng ngôn ngữ do người học chưa tạo được thói quen hành vi ngôn từ tốt Vì vậy mà lỗi của là người học cần phải xóa bỏ triệt để Lỗi được nhìn nhận như là chứng cứ cho sự thất bại của người học ngôn ngữ Việc xuất hiện lỗi là do người học thiếu chú ý, thể hiện thái độ không tích cực Đến thập kỷ 60 của thế kỷ 20, lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai của N Chomsky ra đời Ông cho rằng: việc thụ đắc ngôn ngữ không phải là sự hình thành thói quen mà chính là sản phẩm của việc hình thành quy tắc Tức là nhấn mạnh đến yếu tố tri nhận bằng tư duy Theo đó, việc học một ngôn ngữ là quá trình phát triển tư duy, khái quát các quy tắc ngôn ngữ chứ không chỉ đơn thuần là việc luyện tập những thói quen ngôn ngữ

Trang 17

Theo Pit Corder [2;9] phân tích lỗi một cách khoa học cần tuân theo một quy trình bao gồm năm bước:

(1) Thu thập mẫu ngôn ngữ của người học;

áp dụng đó là thu thập tại một thời điểm theo diện rộng (cross - sectional) và thu thập mẫu theo thời gian (longitudinal) Ưu điểm của phương pháp thứ nhất là đơn giản, tiết kiệm thời gian hơn, còn ưu điểm của phương pháp thứ hai là có thể thấy rõ sự thay đổi và phát triển ngôn ngữ của người học Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát kết hợp cả hai cách thu thập Song

ở cách thu thập mẫu theo thời gian, chúng tôi lấy mẫu theo thời điểm nhưng không trùng đối tượng người học Thêm nữa, thời gian thu thập mẫu của chúng tôi khá ngắn trong vòng ba năm học từ 2013 đến 2015 nên nhìn chung chưa thấy rõ được sự khác biệt

1.1.2.2 Nhận biết lỗi

Đây là khâu quan trọng đòi hỏi sự tỉ mỉ và nhận biết chính xác Vì thực

tế việc phân biệt lỗi và sai sót không hề dễ dàng Lỗi có sự lặp đi lặp lại và nguyên nhân do hạn chế về năng lực ngoại ngữ, người học chưa nắm vững quy tắc ngôn ngữ Người học không thể phát hiện ra rằng mình đã mắc lỗi và nếu được cho biết thì người đó cũng không thể tự sửa đúng Trong khi nhầm lẫn là do người học quá căng thẳng, thiếu chú ý, mệt mỏi, lơ đãng mà nói

Trang 18

hay viết sai Thực ra họ đã nắm được quy tắc ngôn ngữ và có thể tự sửa chữa nhầm lẫn của mình Chẳng hạn như trường hợp viết sai từ, nói nhịu…

Đến lượt lỗi, nó còn có thể phân ra làm hai loại là lỗi lộ rõ và lỗi tiềm tàng Lỗi tiềm tàng liên quan đến các yếu tố như ngữ cảnh hay tri thức nền Lỗi lộ rõ thuộc về lỗi hình thức ta có thể dễ dàng xác định được trên câu chữ

1.1.2.3 Miêu tả lỗi

Sau khi đã tập hợp được một danh sách các lỗi thì cần phải tiến hành miêu tả các đặc trưng của lỗi từ đó sắp xếp các lỗi theo nhóm Nói cách khác, đây chính là khâu phân loại lỗi Có nhiều cách phân loại lỗi dựa trên các bộ tiêu chí khác nhau Thông thường, ta có thể phân loại lỗi theo các cấp độ của ngôn ngữ như lỗi ngữ âm, lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp, lỗi ngữ dụng

Tác giả Đào Thị Thanh Huyền trong công trình nghiên cứu về lỗi ngữ

âm đã nêu ra đề xuất phân chia lỗi của người Trung Quốc học tiếng Việt ra bốn loại chính: 1- lỗi ngữ âm; 2- lỗi từ vựng; 3- lỗi ngữ pháp; 4- lỗi xuyên văn hóa Còn tác giả Phạm Đăng Bình đã đưa ra cách phân loại mới, rõ ràng hơn và bao quát mọi góc độ, kể cả về mặt dụng học giao thoa văn hóa Tác giả cho rằng: “trong khi phân loại lỗi cần phải quan tâm đến các đối tượng mắc lỗi, thời điểm mắc lỗi, các nét đặc thù về văn hóa và cả loại hình ngôn ngữ cứ không nên chỉ nhìn vào từng loại lỗi cụ thể” [3;68] Nghĩa là trước khi phân tích lỗi phải xem xét tất cả các khía cạnh Chẳng hạn, ta cần xét xem người học là người nước nào? nền văn hóa của họ ra sao? ngôn ngữ mẹ đẻ của

họ có đặc điểm gì? mức độ ảnh hưởng như thế nào đến quá trình tiếp nhận

ngôn ngữ đích?… Theo đó, tác giả này đã phân lỗi thành hai loại lớn là lỗi

phổ biến và lỗi đặc trưng Lỗi phổ biến là lỗi thường xảy ra trong giai đoạn

đầu của quá trình học Đây là những lỗi chung mà bất kể người học ngoại ngữ nào cũng vấp phải không phân biệt người học mang quốc tịch gì, loại hình ngôn ngữ của họ như thế nào Lỗi phổ biến cũng được chia ra thành lỗi ngữ

âm, lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp Lỗi đặc trưng là kiểu lỗi riêng của từng đối

Trang 19

tượng thuộc các nền văn hóa khác nhau Do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ hay tư duy văn hóa của họ mà gây ra lỗi trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai Chẳng hạn, trong tiếng Hàn, động từ thay đổi dạng thức phụ thuộc vào tuổi tác của người nghe trong đối thoại Đặc điểm này khiến cho người Việt học tiếng Hàn

dễ dùng sai động từ kính ngữ, có nghĩa là đã thể hiện sự bất kính với người già Lỗi đặc trưng bao gồm hai kiểu lỗi là lỗi giao thoa ngôn ngữ và lỗi giao thoa văn hóa Luận văn này nghiên cứu lỗi sử dụng từ Hán Việt của đối tượng người học là sinh viên Trung Quốc thuộc loại lỗi đặc trưng giao thoa từ vựng

Do trong quá trình sử dụng, phần lớn các từ Hán Việt trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có sự biến đổi về nghĩa so với các từ tương đương trong tiếng Hán hiện đại Các từ Hán Việt trong hai ngôn ngữ có phần khác biệt về nghĩa biểu niệm, biểu vật, biểu cảm và biểu trưng nên đã thay đổi về cách dùng Vì vậy dẫn đến những cách dùng sai khi người học Trung Quốc chuyển di các từ ngữ đó vào tiếng Việt

1.1.2.4 Giải thích lỗi

Đây là khâu tương đối khó trong quá trình phân tích lỗi Bởi có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học ngoại ngữ của một người Yêu cầu đặt ra là phải xem xét cặn kẽ các mặt tác động để tìm ra nguyên nhân gây lỗi Các nhà nghiên cứu như Selinker [34;176], Nguyễn Thiện Nam [33;18]

đã chỉ ra nhiều nguyên nhân tạo lỗi Tập hợp lại có thể nêu ra những nguyên nhân cơ bản sau:

(1) Chuyển di ngôn ngữ (language transfer): Trong quá trình tiếp nhận một ngôn ngữ thứ hai, người học luôn chịu ảnh hưởng của tư duy và thói quen

sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình Do chưa nắm rõ quy tắc ngôn ngữ đích

mà người học đã áp dụng cách dùng ngôn ngữ của mình vào ngoại ngữ

Những lỗi như vậy được gọi là lỗi giao thoa (interlingual error) Đó là lỗi do

quá trình chuyển di ngôn ngữ gốc đến ngôn ngữ đích Hầu như người Việt nào học tiếng Anh ban đầu cũng nói câu sai rằng “I very like money” Do

Trang 20

người Việt đã chuyển di cấu trúc trong tiếng Việt vào tiếng Anh mà cấu trúc này trong tiếng Anh không có Còn lỗi xảy ra do chưa nắm vững các quy tắc

ngôn ngữ đích gọi là lỗi tự ngữ đích (intralingual error) Chẳng hạn, người nước ngoài học tiếng Việt có thể nói những câu như: “cháu chào chị!”, “sáng

nay tôi ăn một cái phở bò” Những lỗi này là do sự lẫn lộn về hệ thống từ

xưng hô và loại từ vốn là những phạm trù rất phức tạp trong tiếng Việt

(2) Chuyển di giảng dạy (transfer of training): Lỗi của người học ngoại ngữ nhiều khi lại xuất phát từ phía người dạy Trong quá trình dạy học, người dạy có thể đưa ra những giải thích hoặc cách dùng không đúng, cũng có thể

do người dạy quá cứng nhắc trong việc truyền đạt cấu trúc ngôn ngữ, luôn muốn người học tuân theo những mô hình câu giao tiếp chuẩn mực nhất, xa rời ngôn ngữ tự nhiên Một loại lỗi cần phải kể đến ở đây là lỗi ngữ dụng Do người dạy quên hoặc không chú ý đến việc giảng dạy những yếu tố thuộc về văn hóa hay thói quen giao tiếp trong sử dụng ngôn ngữ đang học dẫn đến hiệu quả giao tiếp thực tế kém hoặc thậm chí là dẫn đến hiện tượng “sốc” văn hóa

(3) Những chiến lược học ngôn ngữ thứ hai (strategies of second language learning): thông thường, người học sẽ áp dụng hai chiến lược học là chuyển di và vượt tuyến

(4) Chiến lược giao tiếp ngôn ngữ thứ hai (strategies of second language communication): với khả năng còn hạn chế của mình người học có thể tìm ra rất nhiều cách để cố gắng đạt được thành công trong giao tiếp ngôn ngữ thứ hai Người học có thể dùng các chiến lược giao tiếp như giải thích, vay mượn từ, tránh nói, yêu cầu trợ giúp hay thậm chí là dùng ngôn ngữ cử chỉ

(5) Sự vượt tuyến ngữ liệu ngôn ngữ đích Sự vượt tuyến ở đây có nghĩa là suy luận ngôn ngữ đích một cách thái quá

Thực chất, năm nguyên nhân trên cũng là năm đặc trưng chính của ngôn

ngữ trung gian hay ngôn ngữ quá độ (interlanguage) mà Selinker đã chỉ ra

Trang 21

1.1.2.5 Đánh giá lỗi

Sau tất cả các bước của quá trình phân tích lỗi ở trên Công việc cuối cùng cần làm đó là xét các mức độ của lỗi Các thang bậc đánh giá lỗi bao gồm: 1- Mức độ có thể lý giải được; 2- Mức độ có thể chấp nhận; 3- Mức độ mạo phạm Thực chất, đây là các mức độ tác động của lỗi đến hiệu quả giao tiếp Để đánh giá lỗi ta phải nhìn vào ý nghĩa biểu đạt Lỗi ảnh hưởng đến ý nghĩa biểu đạt không, mức độ có thể lý giải cao hay thấp Nếu một câu biểu đạt tốt nhưng so với ngôn ngữ đích lại chưa đúng thì ta xét tiếp đến mức độ có thể chấp nhận được hay không Thứ ba là lỗi mạo phạm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả giao tiếp Nó thường liên quan đến các vấn đề về ngữ dụng và các yếu tố văn hóa ngôn ngữ đích Chẳng hạn những lỗi thiếu chủ ngữ trong giao tiếp của người Trung Quốc học tiếng Việt mà người Việt thường cho là nói trống không Còn có các trường hợp người Việt khi gặp người phương Tây thường hỏi những câu liên quan đến thông tin cá nhân như “How old are you?”… Như vậy, có thể thấy giảng dạy ngoại ngữ phải đi đôi với giảng dạy văn hóa Cả người dạy và người học đều phải hiểu biết và tuân theo các thói quen, quan niệm về văn hóa bản ngữ, có như vậy mới thực sự đạt được hiệu quả trong giao tiếp bằng ngoại ngữ

1.2 Tiếp xúc và giao thoa văn hóa - ngôn ngữ Việt - Hán

1.2.1 Tiếp xúc ngôn ngữ và hiện tượng giao thoa

Nhà Ngôn ngữ học người Mĩ Einar Haughen trong tác phẩm “Cái mới trong ngôn ngữ học” (1973) đã từng nói: “Mỗi một nhà ngôn ngữ học sớm muộn gì cũng đều phải đụng chạm đến các vấn đề có liên quan đến tiếp xúc ngôn ngữ” [1;9] Có thể thấy rằng tiếp xúc ngôn ngữ là một hiện tượng phổ biến cho mọi ngôn ngữ trên thế giới và có một vai trò vô cùng quan trọng đối với hệ thống ngôn ngữ nói chung Nó xuất hiện khi có hiện tượng song ngữ hay đa ngữ

do nguyên nhân địa lý, kinh tế, chính trị, quân sự hay văn hoá… Trong môi

Trang 22

trường đa ngữ, các ngôn ngữ ảnh hưởng lẫn nhau Hệ quả của quá trình tiếp xúc này là diễn ra các hiện tượng giao thoa, vay mượn và pha trộn (lai tạp)

Khi các ngôn ngữ tiếp xúc trực tiếp với nhau thì dẫn đến giao thoa Nếu không có sự tiếp xúc trực tiếp, nghĩa là không có môi trường đa ngữ thì không

có hiện tượng giao thoa Giao thoa là thuật ngữ mượn từ vật lí học Trong

ngôn ngữ học, giao thoa là hiện tượng chệch chuẩn của tiếng mẹ đẻ dưới tác động của ngôn ngữ thứ hai hoặc là hiện tượng chệch chuẩn của ngôn ngữ thứ hai dưới tác động của tiếng mẹ đẻ ở những người song ngữ/đa ngữ [27;35]

Việt -Trung là hai dân tộc láng giềng khăng khít có mối bang giao lâu dài nên

dễ dẫn đến hiện tượng giao thoa văn hóa ngôn ngữ

1.2.2 Biểu hiện của tiếp xúc và giao thoa văn hóa - ngôn ngữ Việt - Hán

Tiếng Việt trong quá trình phát triển đã có những cuộc tiếp xúc lớn với nhiều ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp và đặc biệt là tiếng Hán Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán diễn ra vô cùng phức tạp trong một khoảng thời gian dài và vẫn đang tiếp diễn Nó xảy ra do các nguyên nhân về chiến tranh, sự di dân, sự giao lưu buôn bán, học tập Quá trình tiếp xúc ấy đã dẫn đến sự xuất hiện một loạt các từ vay mượn mà từ trước đến giờ chúng ta vẫn thường gọi là các từ Hán Việt

Ngôn ngữ chỉ là một địa hạt nằm trong quá trình giao thoa tiếp biến giữa các nền văn hóa khác nhau Giữa hai nền văn hóa Việt - Hán, quá trình

đó diễn ra suốt chiều dài lịch sử từ cổ đại đến ngày nay

Trên thực tế, văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Quá trình tiếp thu một ngôn ngữ mới phải luôn đi kèm với việc học hỏi nền văn hóa của người nói ngôn ngữ đó Văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng, đều thuộc văn hóa phương Đông Do vậy, quá trình tiếp thụ ngôn ngữ giữa hai dân tộc với nhau có nhiều thuận lợi Nói như vậy không có nghĩa là những điểm khác biệt trong văn hóa hai bên là không đáng kể Do mức độ tiếp xúc giữa hai nước láng giềng rất sâu rộng và

Trang 23

thường xuyên nên những điểm khác biệt càng cần được quan tâm nhiều hơn Một khi hai bên hiểu nhau hơn về văn hóa cũng như ngôn ngữ thì sẽ tránh được tình trạng “sốc văn hóa” trong giao tiếp liên ngôn

Tri thức về văn hóa đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp liên ngôn Một quá trình dạy và học ngoại ngữ không thể gạt ra ngoài yếu tố văn hóa bản ngữ Một người học tiếng Anh không thể không tìm hiểu về văn hóa của nước nói tiếng Anh

Cũng như một người Trung Quốc học tiếng Việt không thể không chú ý đến những thói quen sử dụng ngôn ngữ, thói quen văn hóa của người Việt Nam Chẳng hạn như, một sinh viên Trung Quốc nói tiếng Việt rất dễ quên sử dụng chủ ngữ hay các từ ngữ biểu thị sắc thái lịch sử trong phát ngôn Ví dụ trong lớp học, khi được giáo sư hỏi: “Em là sinh viên Quảng Tây sang có phải không?” Một sinh viên Trung Quốc dõng dạc trả lời: “Đúng rồi!” Cách trả lời của sinh viên đó đã khiến cả lớp học được một tràng cười

Sở dĩ có hiện tượng này là vì theo thói quen nói năng của người Trung Quốc, chủ ngữ thường bị tỉnh lược đi Đồng thời, các yếu tố ngôn ngữ thể hiện tính lịch sự thường rất hạn chế trong hoàn cảnh giao tiếp như thế

Trong một trường hợp khác, sinh viên viết: “Đây là một năm ở đại học

em thấy thú vị nhất Nếu mà ở Trung Quốc, đa số sinh viên ở Trung Quốc

đang cố gắng chuẩn bị thi nghiên cứu sinh hoặc là tìm việc làm” Trong ví dụ này, sinh viên mắc một lỗi dùng từ đáng chú ý, đó là sử dụng sai từ nghiên

cứu sinh Ý người viết muốn nói rằng sau khi tốt nghiệp đại học, các bạn sinh

viên chuẩn bị thi cao học Sinh viên này đã chuyển di từ tương đương trong tiếng Hán 研究生(nghĩa là cao học) dịch sang Hán Việt là nghiên cứu sinh Nhưng trong tiếng Việt, nghiên cứu sinh là chỉ người học tiến sĩ chứ không

phải là học cao học như cách dùng của người Trung Quốc Từ đúng nên thay

thế là từ cao học

Trang 24

Thực tế cho thấy, trong quá trình học tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc cũng như sinh viên Việt Nam học tiếng Hán, mảng từ Hán Việt mang lại nhiều điều lý thú và tiện lợi nhưng cũng tạo ra không ít phiền phức Theo tác giả Trần Trí Dõi, lớp từ này dễ “tạo ra sự ngộ nhận của người nói tiếng Hán hiện đại”[9;29] Cũng như nhận định của tác giả Nguyễn Văn Khang từ

Hán Việt là“con dao hai lưỡi” Tác giả Nguyễn Ngọc Long cũng nói thêm

rằng: “cùng với việc mang đến những lợi thế là những khó khăn do chính chúng gây ra cho mọi hoạt động liên ngôn ngữ Hán - Việt” [30;18]

Từ Hán Việt trong hệ thống từ vựng tiếng Việt đã được sử dụng rộng rãi và rất phong phú Người nước ngoài học tiếng Việt và ngay cả người Việt muốn hiểu và sử dụng cho đúng, cho phù hợp thì cần phải am hiểu cặn kẽ từng từ từng nghĩa trong các từ Hán Việt Bởi trong quá trình vay mượn, từ Hán Việt đã có những biến đổi về ý nghĩa ở nhiều mức độ khác nhau dẫn đến

sự khác nhau về nghĩa giữa từ Hán Việt đang sử dụng trong tiếng Việt với những từ gốc Hán sử dụng trong tiếng Hán hiện đại

Để có cái nhìn rõ hơn về quá trình biến đổi này, cũng như để làm cơ sở phục vụ luận văn, dưới đây chúng tôi xin đề cập đến một vài lý thuyết về từ vay mượn gốc Hán và trả lời câu hỏi “thế nào là từ Hán Việt?”

1.3 Khái niệm từ Hán Việt

1.3.1 Từ vay mượn và từ vay mượn gốc Hán

Từ vay mượn là một thuật ngữ được hiểu là đối lập với từ bản ngữ

Trong hệ thống tiếng Việt, từ vay mượn nằm trong thế đối lập với từ thuần Việt Từ vay mượn nghĩa là các từ có nguồn gốc du nhập từ tiếng nước ngoài vào tiếng Việt Bất cứ ngôn ngữ nào cũng tồn tại các từ vay mượn Tiếng Việt

là một ngôn ngữ đa nguồn do quá trình tiếp xúc lâu dài với các ngoại ngữ như Hán, Nga, Pháp, Anh Trong đó, số lượng từ vay mượn từ tiếng Hán chiếm

khá nhiều vốn từ vựng tiếng Việt Những từ ngữ này được gọi là từ mượn

Hán hay theo chúng tôi cũng có thể gọi với cái tên khác là từ gốc Hán

Trang 25

Trong lớp từ gốc Hán có nhiều cách phân loại khác nhau Tác giả Nguyễn Văn Tu [42] có sự phân chia các từ ngữ Hán vay mượn vào tiếng Việt dựa trên các thời kỳ lịch sử Theo đó tác giả chia làm hai loại: Thứ nhất

là những từ nhập vào tiếng Việt trước đời Đường gọi là từ Hán cổ như xe,

vua, buồm, buồng…; Thứ hai là các từ gốc Hán mượn của đời Đường như án ngữ, chế độ,… Còn tác giả Đỗ Hữu Châu cũng có sự phân chia gần tương tự

đó là các từ Hán mượn trước cuộc đô hộ nhà Đường và các từ ngữ vay mượn sau cuộc đô hộ nhà Đường Bên cạnh đó, tác giả Phan Văn Các lại có sự phân biệt hai khái niệm từ gốc Hán và từ mượn Hán

Tác giả Trần Trí Dõi [13;8] đã có sự phân loại rõ ràng từ gốc Hán thành bốn nhóm chính:

Xuất hiện đầu tiên ở nước ta là nhóm từ Hán Việt cổ được vay mượn

vào tiếng Việt từ trước thời nhà Đường Đó là giai đoạn trước khi vay mượn

từ Hán Việt Do sự du nhập có tính chất bổ sung cho sự thiếu thốn vốn từ tiếng Việt Vì vậy, các từ ngữ này được đồng hóa rất mạnh cả về vỏ ngữ âm

lẫn mặt sử dụng Đó là các từ quen thuộc trong tiếng Việt như chén, chém,

buồng, buồn, mùi,…

Nhóm tiếp theo là từ Hán Việt được vay mượn sau thời nhà Đường

Bấy giờ, người Việt đã học tiếng Hán theo âm chuẩn đời Đường (chính là âm Trường An) và dần chuyển về cách đọc theo hệ thống ngữ âm của tiếng Việt

Đó chính là cách đọc Hán Việt được duy trì đến nay Như vậy, từ Hán Việt là những từ được tạo thành từ những yếu tố có âm đọc Hán Việt Những từ này,

vì thế, chỉ hình thành trong tiếng Việt từ sau thế kỷ thứ XII-XIII, khi cách đọc Hán Việt đã trở thành một cách đọc hoàn chỉnh ở Việt Nam

Ngoài ra, do tác động biến đổi theo thời gian, có những từ Hán Việt sau khi vào tiếng Việt đã có những biến đổi theo ngữ âm thuần Việt Đó là những

từ như gươm, gấp, gương, gác, gan, gang, ghi, góa v.v Nhóm này gọi là

nhóm Hán Việt Việt hóa

Trang 26

Nhóm thứ tư là các từ Hán Việt phỏng âm phương ngữ Hán còn được gọi

là từ gốc Hán phương ngữ Những người nói tiếng Hán chủ yếu ở phương Nam

qua quá trình giao lưu tiếp xúc đã có sự vay mượn khẩu ngữ về sau này Từ đó

hình thành lên nhóm từ này Đó là các từ như xì dầu, vằn thắn, mì chính…

Ở đây, chúng tôi còn sử dụng thuật ngữ từ Hán để chỉ các từ ngữ trong

tiếng Hán hiện đại (tiếng Phổ thông Trung Quốc)

1.3.2 Nội dung của từ Hán Việt

Trước nay, nhận diện từ Hán Việt luôn là công việc không đơn giản với các nhà nghiên cứu Bởi chính từ Hán Việt đã là một khái niệm rất phức tạp Xác định đâu là từ Hán Việt và nêu ra danh sách từ Hán Việt trong hệ thống

từ vựng tiếng Việt là một việc lâu dài đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận trong nghiên cứu, thống kê

Dưới những góc độ khác nhau, các tác giả đã có những lý giải riêng về

từ Hán Việt Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, “chỉ được coi là từ Việt gốc Hán những từ Hán nào thực sự nhập vào hệ thống tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt” [19;242] Đây là điều kiện khá nghiêm ngặt để xác định một từ Hán Việt Để soi xét đầy

đủ điều kiện này là điều không mấy dễ dàng

Tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh thì cho rằng: “từ Hán Việt là những từ gốc Hán phần lớn là từ gồm hai hình vị trở lên được phát âm theo âm Hán Việt mà

từ xưa người Việt Nam ta đã vay mượn qua sách báo tiếng Hán” [38;120] Ở đây, tác giả chú trọng đến cấu tạo và cách phát âm của từ Hán Việt

Còn tác giả Phan Ngọc thì nghiêng về cảm thức ngôn ngữ mà khẳng định: “bất kì âm tiết nào có thể hoạt động làm thành từ đơn tiết đều được xem

là từ thuần Việt (như an, ác, am, ẩm…) Sự phân biệt giữa thuần Việt với Hán

Việt hay ngoại lai chỉ bắt đầu từ từ song tiết trở lên mà thôi” [36;16] Như

vậy, tác giả coi các từ như đầu, não, vạn, an… không phải là từ Hán Việt mà

từ Hán Việt chỉ có thể là từ song tiết hay đa tiết

Trang 27

Theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, “từ Hán Việt là những từ gốc Hán được du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn từ đời Đường trở về sau, mà người Việt đã đọc âm chuẩn (Trường An) theo hệ thống ngữ âm của mình” [6;214] Quan điểm này thiên về xem xét lịch sử của quá trình vay mượn từ Hán vào tiếng Việt

Tác giả Trần Trí Dõi nêu rõ rằng, “từ Hán Việt là những từ gốc Hán mà những yếu tố hình thành nên chúng có cách đọc theo âm Hán Việt” Ngoài ra, tác giả còn đề cập thêm một số nhóm từ thuộc lớp từ Hán Việt như các từ ngữ

Hán mượn từ tiếng Nhật rồi người Việt lại vay mượn lại như các từ trường

hợp, nghĩa vụ, cộng hòa…; các từ xuất thân từ nguồn gốc Phạn (Sanskrit) như Phật, niết bàn, di lặc…; và có cả các từ gốc Âu như câu lạc bộ, Mạc Tư Khoa… Thậm chí là các từ do người Việt sử dụng các yếu tố Hán tự tạo ra

như đặc công, y sĩ… [13;13] Có thể nói, cách nhận diện từ Hán Việt của tác

giả Trần Trí Dõi khá toàn diện và bao trùm toàn bộ các nhóm nhỏ trong lớp từ Hán Việt

Tác giả Nguyễn Văn Khang trong cuốn Từ ngoại lai đã phát biểu quan niệm của mình về từ Hán Việt Theo đó, từ Hán Việt bao gồm:

Tất cả những từ Hán có cách đọc Hán Việt đã có ít nhất một lần được dùng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong văn cảnh giao tiếp thì đều được coi là từ Hán Việt

Chấp nhận là từ Hán Việt ở những biến thể khác nhau khi chúng đảm bảo được các điều kiệm như: biến thể đó tuy có thể “đọc chệch phiên thiết” nhưng còn tồn tại trong một kết hợp Hán Việt hoặc bản thân nó đã có sự phân

bố sử dụng (ngữ nghĩa) với các biến thể khác cùng gốc Ví dụ: chấp nhận là từ

Hán Việt các trường hợp như: để (trong để kháng) và đề (trong đề kháng),

điệu (trong điệu hổ li sơn) và điều (trong điều binh khiển tướng), chính (trong chính phủ) và chánh (trong chánh văn phòng, chánh án) [27;131]

Trang 28

Dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội, tác giả Nguyễn Văn Khang đã đưa ra những quan điểm khá rõ ràng và dễ hiểu mà không mấy khắt khe về từ Hán Việt Ông coi trọng tất cả những yếu tố tiếng Việt xuất xứ từ tiếng Hán, cả các

từ đơn và đa tiết Thậm chí, tác giả quan tâm đến cả những biến thể của các từ này trong quá trình sử dụng Chúng tôi coi đây là một trong những quan niệm khá toàn diện và hợp lý

Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất về nội dung từ Hán Việt theo những điểm sau:

Thứ nhất, có thể thấy, hầu hết các tác giả đều chú trọng đến cách đọc

Hán Việt Một từ Hán Việt trước hết phải có cách đọc Hán Việt, đây là điều

kiện hiển nhiên

Thứ hai, chúng tôi nhất chí với quan điểm tác giả Trần Trí Dõi rằng lớp từ Hán Việt bao gồm bốn nhóm nhỏ: 1- các từ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt; 2- các từ Hán mượn từ tiếng Nhật đọc theo âm Hán Việt; 3 - các từ có nguồn gốc tiếng Phạn đọc theo âm Hán Việt; 4 - các từ Hán Việt do người Việt tự tạo

Thứ ba, chúng tôi đồng tình với quan điểm rằng từ Hán Việt vừa bao gồm toàn bộ các từ đơn tiết (não, vạn, ác…) và bao gồm từ đa tiết (tổ quốc, học tập…) miễn là nó có xuất hiện và được sử dụng trong tiếng Việt sách vở cũng như giao tiếp hàng ngày

Thứ tư, chúng tôi đồng ý với quan điểm tác giả Nguyễn Văn Khang rằng chấp nhận những từ Hán Việt với những biến thể của nó trong sử dụng

Có thể là các trường hợp đọc chệch âm hay biến đổi thanh điệu

1.4 Tiểu kết

Từ vựng vay mượn là lớp từ chứa đựng nhiều điều lí thú trong quá trình học tập ngôn ngữ thứ hai Giữa hai ngôn ngữ Việt - Hán có một quá trình vay mượn đặc biệt sâu và rộng hình thành lên một hệ thống các từ Hán Việt trong kho tàng từ vựng tiếng Việt Qua quá trình phát triển, lớp từ này có sự biến đổi về các mặt biểu vật, biểu niệm, biểu cảm và biểu trưng làm cho các từ

Trang 29

Hán hiện đại so với các từ Hán Việt trong tiếng Việt có khi giữ nguyên nghĩa,

có khi biến đổi đi hoặc thậm chí là mất dần đi nghĩa gốc Điều này làm cho quá trình giao tiếp liên ngôn Việt - Hán có nhiều thuận lợi nhưng cũng gây ra khá nhiều lỗi Việc phân tích các lỗi giao thoa từ vựng này có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với người Trung Quốc học tiếng Việt mà còn có ý nghĩa với cả người Việt học tiếng Hán Dựa vào hệ thống các lỗi mà sinh viên Trung Quốc thường mắc phải khi học tiếng Việt sẽ giúp cho các thế hệ người học về sau này nhìn thấy được tần suất xuất hiện các lỗi và các từ thường xuyên sử dụng sai để từ đó tránh không tái phạm những lỗi đó Trên cơ sở lỗi

đó, giáo viên cùng các nhà nghiên cứu sẽ có thể đưa ra các biện pháp khắc phục lỗi, soạn bài giảng, giáo trình, bài luyện sửa lỗi cho sinh viên

Để xác định và thâu tóm được hệ thống lỗi sai từ Hán Việt thì việc phân tích lỗi sai cần tuân thủ theo trình tự 5 bước hoặc tóm gọn ở 3 bước chính mà nhà Ngôn ngữ học Pit Coder đã đưa ra (1) Nhận diện lỗi; (2) Miêu

tả lỗi; (3) Giải thích lỗi Quá trình khảo sát các lỗi và việc giải thích cũng như tìm ra nguyên nhân gây ra lỗi là công việc vô cùng ý nghĩa Song, công việc này cũng không ít khó khăn đòi hỏi người nghiên cứu phải có cái nhìn khách quan trên tất cả các góc độ tác động bên trong cũng như môi trường khách quan bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình học tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc, những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ tạo những thuận lợi cũng như khó khăn trong quá trình học tập tiếng Việt

Để tiến hành các thao tác khảo sát lỗi, thu thập và phân tích lỗi thì trước tiên cần phải có sự thống nhất về phạm vi và khái niệm từ Hán Việt Ở đây, chúng tôi muốn tìm hiểu tất cả các lỗi liên quan đến từ Hán Việt và cả các yếu

tố Hán Việt nói chung tham gia vào quá trình tạo lập văn bản của người học Trung Quốc mà có xảy ra lỗi sai

Trang 30

Từ Hán Việt là một lớp từ đặc biệt quan trọng trong hệ thống từ vựng tiếng Việt Song việc xác định nội dung của từ Hán Việt và lập danh sách các

từ Hán Việt là việc làm chưa bao giờ có thể kết thúc

Trong luận văn này, chúng tôi tổng hợp theo quan điểm khá bao quát của các nhà nghiên cứu như Nguyễn Tài Cẩn, Trần Trí Dõi, Nguyễn Văn Khang, La Văn Thanh… Theo đó, chúng tôi đưa ra các quan điểm về từ Hán Việt phục vụ luận văn như sau:

- Từ Hán Việt trước hết là các từ có cách đọc Hán - Việt

- Từ Hán Việt bao gồm cả các từ song tiết hay đơn tiết, chỉ cần là đã từng hoạt động trong tiếng Việt

- Từ Hán Việt bao gồm các các từ hoạt động tự do hay không tự do trong tiếng Việt đều được chúng tôi khảo sát và đưa vào danh sách nếu sinh viên sử dụng sai

- Từ Hán Việt bao gồm cả các từ Hán Việt tự tạo vì chúng cũng có cách đọc Hán Việt và cũng là từ ngữ thuộc kho tàng từ vựng của tiếng Việt nên không thể bỏ qua Đặc biệt, lớp từ này do người Việt tạo ra và sử dụng nên chắc chắn có nhiều điểm khác biệt so với tiếng Hán hiện đại Vì vậy, việc nhầm lẫn, mắc lỗi rất dễ xảy ra nên lớp từ Hán Việt tự tạo này chúng tôi chủ trương chú trọng quan tâm trong quá trình khảo sát

Các lỗi có liên quan đến từ Hán Việt đều được luận văn quan tâm khảo sát và áp dụng các thao tác phân tích lỗi hiện đại kế thừa của các nhà nghiên cứu đi trước

Trang 31

Chương 2 MÔ TẢ TÌNH HÌNH LỖI TỪ HÁN VIỆT

2.1 Dẫn nhập

Trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai nói chung và quá trình học tiếng Việt của người nước ngoài nói riêng không thể tránh khỏi mắc lỗi Người học đi dần từ việc mắc lỗi lớn đến giảm dần lỗi và mắc những lỗi nhỏ Việc nói và sử dụng đúng một ngoại ngữ có lẽ rất khó đạt được Hiện tượng lỗi trong khi học ngoại ngữ của người học như một quá trình sáng tạo, thể nghiệm ngôn ngữ thứ hai một cách thú vị Họ đã sáng tạo ra một kiểu ngôn ngữ mà các nhà nghiên cứu gọi là ngôn ngữ trung gian hay ngôn ngữ quá độ Luận văn này tìm hiểu quá trình sử dụng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc chính là đi sâu tìm tòi xem xét sự sáng tạo ngôn ngữ quá độ của người học Trung Quốc trong quá trình thụ đắc tiếng Việt Cụ thể ở đây là xem xét quá trình thụ đắc từ Hán Việt của người học Trung Quốc

Lớp từ Hán Việt có nguồn gốc và quá trình hoạt động rất phức tạp trong tiếng Việt, là lớp từ có tính trừu tượng, súc tích, cũng như tính trang trọng Một mặt nó biển thị đối tượng rất chính xác, song chính sự chính xác cùng với tính súc tích, trừu tượng lại làm cho từ Hán Việt trở nên khó sử dụng một cách chính xác Có lẽ, nhiều chuyên gia nghiên cứu về từ Hán Việt cũng như những bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ cũng không thể chắc chắn rằng họ

đã sử dụng từ Hán Việt đúng 100% Chính vì vậy, một thực tế đang diễn ra hiện nay là bản thân người Việt đôi khi cũng không thể lựa chọn cho mình cách dùng từ Hán Việt thế nào cho đúng Nói cách khác, người Việt đã sử dụng sai từ Hán Việt rất nhiều trên thực tế

Do vậy, một người nước ngoài nói tiếng Việt sử dụng sai từ ngữ nói chung và từ Hán Việt nói riêng là điều đương nhiên xảy ra Đặc biệt là người học đó đến từ các quốc gia có ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Hán hay ảnh hưởng của tiếng Hán như người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản

Tiến hành luận văn này, chúng tôi coi đây như một cuộc khám phá sự thú vị trong ngôn ngữ quá độ đầy sáng tạo của sinh viên Trung Quốc học

Trang 32

tiếng Việt Họ đã vận dụng triệt để khả năng tiếng Việt cũng như sự liên tưởng từ tiếng mẹ đẻ của mình để cố gắng tối đa diễn đạt những gì mà mình muốn gửi gắm vào câu chữ Qua những lỗi sai và được sửa sai, trình độ tiếng Việt của sinh viên không ngừng được nâng cao Điều đó cho thấy ý nghĩa của việc mắc lỗi và sửa lỗi là vô cùng quan trọng trong tiến trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai

2.2 Thế nào là lỗi từ Hán Việt?

Trong quá trình học tập, thụ đắc lớp từ vựng Hán Việt, sinh viên Trung Quốc gặp nhiều thuận lợi do lớp từ Hán Việt có những điểm tương đồng về hình thức ngữ âm và nghĩa có sự tương ứng với tiếng Hán họ đang sử dụng

Chẳng hạn, các từ “học thuật (学术), thủ tục (手术), nghiên cứu (研究)…”, đặc biệt là những thuật ngữ khoa học như “ngôn ngữ học (术言学), địa lý (地

理), triết học (哲学)… hiện nay vẫn bảo lưu được nghĩa của chúng so với

tiếng Hán hiện đại Cho nên, việc chuyển di những từ ngữ như vậy sang tiếng Việt rất dễ nắm bắt, dễ dùng Tuy nhiên, những điểm dị biệt cũng khá lớn Các từ ngữ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt, qua quá trình sử dụng có sự biến đổi ít nhiều thậm chí thay đổi hoàn toàn về nghĩa Điều này đã dẫn đến sinh viên chuyển di các từ ngữ một cách máy móc và mắc lỗi sai Như tác giả Trần Trí Dõi đã nói: “chính sự tương tự hay gần nhau về hình thức ngữ âm nhưng lại khác biệt về nghĩa trong sử dụng hiện nay làm cho sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt, do thói quen của tiếng mẹ đẻ chi phối, nắm bắt không chính

xác nghĩa của từ tiếng Việt”

Tác giả Bùi Thị Duyên Hà đã chỉ ra rằng: “Người học sẽ bị xem là mắc lỗi từ Hán Việt hay lỗi liên quan đến từ Hán Việt khi họ không xác định đúng nghĩa, dùng sai chức năng, xác định sai hình thức ngữ âm - chữ viết, tự tạo ra

Trang 33

từ ngữ Hán Việt không có trong vốn từ tiếng Việt hoặc phối hợp không ăn khớp giữa từ Hán Việt với các từ ngữ khác trong câu” [20;78]

Như vậy, xác định lỗi từ Hán Việt cần quan tâm đến tất cả các mặt hình thức chữ viết từ Hán Việt, ngữ nghĩa từ Hán Việt cũng như kết hợp từ Hán

Việt với các từ ngữ khác trong một ngữ đoạn hay một câu

Dạng lỗi sử dụng từ Hán Việt là loại lỗi giao thoa từ vựng phổ biến ở đối tượng người học Trung Quốc Lỗi này còn thường xuyên xảy ra ở đối tượng học viên mà ngôn ngữ mẹ đẻ của họ có ảnh hưởng từ nguồn gốc tiếng Hán như tiếng Hàn Quốc, tiếng Nhật Bản

Tư liệu chúng tôi thu thập từ bài thi, bài kiểm tra viết của sinh viên Trung Quốc đang theo học tại khoa Việt Nam học, Đại học Hà Nội; khoa Ngôn ngữ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong những tư liệu thu thâp được chúng tôi cũng phân chia ra ba trình

độ A, B và C để có thể thấy được mức độ và tần số xuất hiện lỗi ở từng trình

độ khác nhau có sự khác nhau như thế nào Việc hiểu và nắm rõ trình độ người học cũng như các loại lỗi mà người học ở các trình độ mắc phải sẽ định hướng phần nào cho khâu thiết kế bài luyện, giáo trình giảng dạy phù hợp

Trang 34

Mỗi đối tượng khác nhau sẽ phù hợp với nội dung bài tập và mức độ khó dễ khác nhau

Theo đó, các sinh viên học tiếng Việt trong thời gian một năm sẽ được xếp vào danh sách người học trình độ A Đối tượng học tiếng Việt hai năm thuộc danh sách trình độ B và các đối tượng học tiếng Việt ba hay bốn năm được chúng tôi xếp vào nhóm người học trình độ C

Theo kết quả khảo sát cho thấy tổng số lỗi sử dụng sai từ Hán Việt chiếm đến hơn 60% so với tổng số bài viết được khảo sát Dưới đây là bảng thống kê số lượng và tỉ lệ mắc lỗi:

Trình độ Số lƣợng bài Số lƣợng lỗi Tỉ lệ lỗi

(So với số bài khảo sát)

Trang 35

Biểu đồ 1: Tỉ lệ lỗi theo trình độ

Biểu đồ 2: Tình hình lỗi theo trình độ trong tương quan với số lượng bài khảo sát

2.4 Phân loại lỗi sử dụng từ Hán Việt

Trong quá trình thu thập tư liệu bài viết của sinh viên phục vụ luận văn, chúng tôi đã phát hiện được không ít các trường hợp sử dụng sai từ Hán Việt

Trang 36

của người học Trung Quốc Các lỗi sai thể hiện ở tất cả các cấp độ ngôn ngữ

từ chữ viết, chính tả đến lỗi sử dụng sai chức năng ngữ pháp, từ loại của từ Hán Việt, dùng sai sắc thái cũng như ngữ cảnh… Qua bức tranh về lỗi của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt có thể thấy được óc liên tưởng từ ngôn ngữ thứ nhất đến ngôn ngữ thứ hai của sinh viên rất độc đáo, đôi khi là sự sáng tạo ra từ ngữ mới dựa trên những tri thức về tiếng mẹ đẻ kết hợp với tiếng Việt tạo ra những từ Hán Việt mới song lại không phải là các từ được sử dụng trong tiếng Việt Sự sáng tạo ngôn ngữ này vẫn làm cho người Việt hiểu được người viết muốn thể hiện điều gì mà không làm gián đoạn mạch tư duy trong quá trình tạo văn bản

Thao tác phân loại lỗi sử dụng từ Hán Việt được xem xét trên nhiều căn

cứ Có thể phân loại theo phạm trù ngữ pháp như lỗi về danh từ, lỗi về động

từ, tính từ Có thể phân theo các bình diện ngôn ngữ như lỗi về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ dụng Ở đây, chúng tôi dựa trên sự so sánh khác biệt giữa ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích cũng như mức độ ảnh hưởng của tiếng Hán đến quá trình sử dụng tiếng Việt của người học Trên cơ sở đó, xác định những lỗi

về nghĩa từ, sắc thái của từ, cách dùng từ loại Hán Việt, cách kết hợp các từ Hán Việt với các từ ngữ khác trong câu Thêm nữa, do khảo sát của chúng tôi dựa trên cứ liệu bài viết của người học nên không thể không quan tâm đến những lỗi về mặt chính tả chữ viết Cụ thể, chúng tôi phân chia các kiểu lỗi sai dùng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt:

1- Lỗi chính tả từ Hán Việt

2- Lỗi chuyển di tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt

3- Lỗi chuyển di trật tự cụm danh từ Hán Việt

4- Lỗi chuyển di từ Hán Việt không phù hợp ngữ cảnh

5- Lỗi dùng sai từ loại

6- Lỗi nhầm lẫn các từ gần âm, gần nghĩa

7- Lỗi kết hợp sai từ Hán Việt với các từ ngữ khác

Trang 37

8- Lỗi tự tạo từ Hán Việt mới

Nhìn chung, lỗi sử dụng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc khá phổ biến, dàn trải trên tất cả mọi trình độ Có một số kiểu lỗi mà sinh viên càng học trình độ cao càng dễ vấp phải như lỗi chuyển di từ Hán hiện đại sang tiếng Việt Do càng học trình độ cao, sinh viên càng tiếp xúc với nhiều từ Hán Việt và mức độ khó càng tăng lên Vận dụng vốn âm Hán Việt có được, sinh viên đã chuyển di các từ ngữ từ tiếng Hán sang tiếng Việt mà không hề biết được rằng từ ngữ đó trong tiếng Việt có sự thay đổi về nghĩa cũng như cách dùng và phạm vi sử dụng Về điểm này, nghiên cứu của chúng tôi cũng có sự tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Duyên Hà rằng: “phần lớn lỗi thu thập được đều xuất phát từ lỗi về nghĩa hoặc ít nhiều có liên quan đến nghĩa Người học do không hiểu hoặc hiểu chưa thấu đáo về các từ ngữ Hán Việt” [20;95] Vì thế nên đã cơ động liên tưởng tiếng Hán hiện đại chuyển di sang tiếng Việt thông qua âm Hán Việt để thể hiện thành chữ viết tiếng Việt

Dưới đây là bảng thống kê số lượng và tỉ lệ theo tám loại lỗi sử dụng từ Hán Việt:

1 Lỗi chuyển di từ Hán hiện đại sang

Trang 38

hợp ngữ cảnh

Bảng 2: Số liệu thống kê tình hình lỗi theo các dạng lỗi

Biểu đồ 3: Tỉ lệ lỗi theo các dạng lỗi

Trong những lỗi trên, có thể gộp lại thành hai nhóm lớn

Nhóm lỗi liên quan đến nghĩa của từ bao gồm các lỗi:

- Lỗi chuyển di từ Hán hiện đại sang tiếng Việt

- Lỗi chuyển di từ không hợp ngữ cảnh

- Lỗi nhầm lẫn các từ có cùng yếu tố

- Lỗi dùng sai từ loại từ Hán Việt

Nhóm lỗi liên quan đến kết hợp từ bao gồm:

Trang 39

- Lỗi dùng sai từ loại

- Lỗi tạo từ mới

- Lỗi nhầm lẫn các từ có cùng yếu tố

- Lỗi trật tự cụm danh từ

- Lỗi kết hợp sai từ Hán Việt với các từ ngữ khác

Còn lại lỗi chính tả thuộc lỗi về mặt hình thức chữ viết Trong số các lỗi trên có lỗi nhầm lẫn các từ cùng yếu tố là dạng lỗi có thể thuộc cả hai nhóm lỗi về nghĩa và lỗi về kết hợp Vì lỗi này có hai nguyên nhân chính Thứ nhất, có thể do người học nhầm lẫn về nghĩa của các từ này vì chúng có sự giống nhau cả về hình thức ngữ âm và nét nghĩa Thứ hai, vì dùng sai từ và kết hợp sai yếu tố trong nội bộ từ đó có nghĩa là sai về kết hợp

Tương tự, lỗi dùng sai từ loại từ Hán Việt cũng có thể xếp vào cả hai nhóm lỗi về nghĩa và lỗi về kết hợp vì nguyên nhân do người học không nắm rõ nghĩa từ nên dùng sai về mặt từ loại của từ và dẫn đến kết hợp sai từ trong câu

Một cách khác, chúng ta cũng có thể phân chia lỗi thành hai loại là lỗi

về nghĩa và lỗi về hình thức

Theo đó, lỗi về nghĩa là các lỗi:

- Lỗi chuyển di từ Hán hiện đại sang tiếng Việt

- Lỗi sử dụng từ không hợp ngữ cảnh

- Lỗi nhầm lẫn các từ có cùng yếu tố

- Lỗi dùng sai từ loại từ Hán Việt

Nhóm lỗi về mặt hình thức bao gồm:

- Lỗi dùng sai từ loại từ Hán Việt

- Lỗi tạo từ mới

- Lỗi nhầm lẫn các từ có cùng yếu tố

- Lỗi trật tự cụm danh từ

- Lỗi kết hợp sai từ Hán Việt với các từ ngữ khác

- Lỗi chính tả từ Hán Việt

Trang 40

Đây là những dạng lỗi cơ bản nhất của trong bài viết của sinh viên Trung Quốc mà chúng tôi xác định được Trong quá trình khảo sát, chúng tôi thấy rằng có những lỗi sai có thể xếp vào một hoặc hơn một dạng lỗi Chẳng hạn xem xét câu chứa lỗi:

Có bạn thường xuyên hâm mộ cuộc sống của người khác và luôn nghĩ mình không may

Lỗi sai trong câu trên là sử dụng từ hâm mộ Đây có thể xếp vào lỗi

nhầm lẫn nghĩa các từ cùng yếu tố Do các từ có nét nghĩa giống nhau hoặc do

có cùng yếu tố nên người học nhầm lẫn Cho nên có thể thay từ trên bằng từ

ngưỡng mộ Mặt khác, có thể xếp trường hợp này vào lỗi dùng từ không phù

hợp sắc thái, sai ngữ cảnh So sánh nghĩa hai từ, hâm mộ có sắc thái khác so với ngưỡng mộ Mặc dù đều có chung một nghĩa đó là “yêu mến”

Theo từ điển tiếng Việt (2008) Hoàng Phê chủ biên có định nghĩa:

Hâm mộ (động từ): yêu thích và mến phục

Ví dụ: hâm mộ bóng đá, ca sĩ được nhiều người hâm mộ

Ngưỡng mộ (động từ): kính phục và yêu mến

Ví dụ: ngưỡng mộ tài năng, nhìn bằng ánh mắt ngưỡng mộ

Như vậy, nét nghĩa của hai từ chỉ khác nhau ở chỗ hâm mộ là sự mến phục và ngưỡng mộ là sự kính phục

Về sự khác biệt về sắc thái nghĩa và cách dùng có thể dẫn chứng thêm một số ngữ cảnh như:

Hâm mộ ca sĩ, hâm mộ người nổi tiếng

Ngưỡng mộ tình yêu đẹp của họ, ngưỡng mộ người giỏi, người tốt

Như vậy, hâm mộ thường dùng đối với người nổi tiếng trong ngành nghệ thuật như điện ảnh, ca nhạc, Ngưỡng mộ thường dùng với một hiện tượng, con người tốt, người có tài năng, đáng để người khác học hỏi, làm theo Theo đó, với ngữ cảnh ở câu chứa lỗi của người học ở trên nên dùng từ

ngưỡng mộ thay cho hâm mộ thì câu mới tròn nghĩa

Ngày đăng: 22/09/2020, 16:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w