1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát lỗi phát âm tiếng việt của học viên nước ngoài học tiếng việt

134 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình tham gia trực tiếp đào tạo tiếng Việt cho học viên quân sự Lào học tiếng Việt tại đây, nhận thấy nghiên cứu hướng đến những vấn đề về lỗi ngôn ngữ của người học là nội du

Trang 1

V ỆT T OÀN 871, TỔN Ụ ÍN TRỊ).

Ô Ữ

– 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Những tư liệu và số liệu trong luận văn là trung thực do tôi thực hiện Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Lê Mai Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đinh Kiều Châu

đã dành thời gian cùng tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn Khoa Ngôn ngữ học Trường Đại học KHXH&NV – ĐHQGHN đã tạo điều kiện để tôi có được môi trường học tập và nghiên cứu thuận lợi nhất

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Đoàn 871 – Tổng cục Chính trị - QĐNDVN đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

và các học viên của tôi đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tác giả luận văn

Lê Mai Trang

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục đích nghiên cứu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cúu 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4.Phương pháp và tư liệu nghiên cứu 3

4.1 Phương pháp 3

4.2 Tư liệu 4

5 Ý nghĩa của luận văn 4

6 Bố cục của luận văn: 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu về lỗi tiếng Việt của người nước ngoài học tiếng Việt 5

1.2 Một số cơ sở lí thuyết 6

1.2.1 Khái quát về ngữ âm, ngữ âm tiếng Việt và ngữ âm tiếng Lào 6

1.2.2 Quan niệm về lỗi ngôn ngữ 16

Chương 2: LỖI PHÁT ÂM CỦA HỌC VIÊN QUÂN SỰ LÀO HỌC TIẾNG VIỆT TẠI ĐOÀN 871 – TCCT 22

2.1 Một số nội dung liên quan đến khảo sát 22

2.1.1 Đối tượng học viên khảo sát và phạm vi khảo sát 22

2.1.2 Nội dung khảo sát 23

2.1.3 Phương thức khảo sát 23

2.2 Kết quả khảo sát 25

2.2.1 Lỗi phát âm thanh điệu 26

Trang 6

2.2.3 Lỗi phát âm phần vần 44

2.3 Tiểu kết chương 2 55

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KHẮC PHỤC LỖI PHÁT ÂM CỦA HỌC VIÊN QUÂN SỰ LÀO KHI PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT TẠI ĐOÀN 871 – TCCT 58

3.1 Một vài bàn luận 58

3.2 Một số đề xuất nâng cao hiệu quả phát âm tiếng Việt của HVQSL 59

3.2.1 Đối với giáo viên 59

3.2.2 Đối với học viên 66

3.3 Phương pháp luyện phát âm tiếng Việt 67

3.3.1 Luyện phát âm âm vị 67

3.3.2 Luyện phát âm âm tiết (những âm tiết thường mắc lỗi phát âm) 81

3.3.3 Luyện phát âm câu, đoạn thơ, đoạn văn 86

3.3.4 Luyện phát âm qua việc nghe tiếng Việt 87

3.3.5 Luyện phát âm qua giao tiếp hàng ngày 88

3.3.6 Luyện phát âm bằng các trò chơi 89

3.4 Vấn đề về bài tập hỗ trợ người học trong dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ: 90

3.4.1 Khái niệm bài tập: 90

3.4.2 Vai trò của bài tập hỗ trợ trong dạy phát âm tiếng Việt 91

3.4.3 Nguyên tắc trong xây dựng hệ thống bài tập phát âm tiếng Việt (của luận văn) 92

3.5 Thiết kế một số dạng bài tập luyện phát âm tiếng Việt 92

3.5.1 Bài tập luyện đọc 93

3.5.2 Bài tập luyện nghe 95

3.5.3 Bài tập luyện viết 98

3.5.4 Bài tập luyện nói 100

3.6 Tiểu kết 102

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Lỗi phát âm thanh điệu 26

Bảng 2.2: So sánh giữa thanh điệu tiếng Việt và thanh điệu tiếng Lào 31

Bảng 2.3 Lỗi phát âm phụ âm đầu 32

Bảng 2.4 Lỗi phát âm âm đệm sau phụ âm đầu 45

Bảng 2.5 Lỗi phát âm âm chính 47

Bảng 2.6 Lỗi phát âm âm cuối 52

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Tỷ lệ sử dụng các biến thể của thanh điệu tiếng Việt 27

Hình 2.2 Tỷ lệ sử dụng các biến thể của phụ âm đầu tiếng Việt 33

Hình 2.3 Tỷ lệ sử dụng biến thể của âm đệm tiếng Việt 45

Hình 2.4 Tỷ lệ sử dụng các biến thể của âm chính tiếng Việt 48

Hình 2.5 Tỷ lệ sử dụng các biến thể của âm cuối tiếng Việt 53

Trang 10

BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam ngày nay đang ngày càng mở rộng, hội nhập giao lưu quốc tế trên mọi mặt kinh tế, văn hóa, chính trị; do vậy, nhiều năm gần đây, nhu cầu học tiếng Việt của người nước ngoài ngày càng tăng nhanh với mục đích đa dạng Việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt từ góc độ một ngoại ngữ cũng

vì thế đang nhận được sự quan tâm của nhiều học giả cũng như giáo viên trong và ngoài nước

Trong các mối giao lưu tiếp xúc văn hóa với nước ngoài đó, không thể không kể đến mối quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Việt Nam - Lào đã sớm được gây dựng, gìn giữ và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của hai dân tộc Việt Nam, Lào là hai nước láng giềng thân thiện gần gũi, có quan hệ đoàn kết, gắn bó đặc biệt, giúp đỡ nhau trên tinh thần đồng chí, anh em trong sáng, thủy chung trong suốt hơn bảy thập kỷ qua, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, trải qua bao biến cố lịch sử, vượt lên mọi chông gai, thử thách, trở thành mối quan hệ mẫu mực, thủy chung hiếm có

Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nguồn nhân lực

là một trong những hướng ưu tiên trong quan hệ Việt – Lào và đã có bề dày lịch sử Từ năm 1955, nước bạn Lào đã gửi 150 cán bộ, chiến sỹ và một số thanh thiếu niên đầu tiên sang Việt Nam học tập cho đến hiện nay số lượng lưu học sinh Lào đến Việt Nam học ngày càng tăng lên Tính đến năm 2013,

có gần 6.500 du học sinh Lào được đào tạo tại Việt Nam và Việt Nam đứng

đầu danh sách các nước tiếp nhận sinh viên Lào [72]

Đến năm 2015 tổng số LHS Lào học tập tại Việt Nam là 9.295 suất trong

đó số LHS trong hiệp định là 3.780 người (nữ 907), LSH kết nghĩa 3.090,

LHS kinh phí quốc tế 20 người.[73]

Trang 12

Trước yêu cầu phát triển của hai nước trong giai đoạn mới, việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Lào đã trở thành nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong hợp tác giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2020, đặc biệt với đối tượng học viên là sỹ quan, hạ sỹ quan Quân đội Nhân dân Lào (QĐNDL) Căn cứ vào Hiệp định

đã ký kết giữa 2 Đảng, Nhà nước và Quân đội Việt Nam – Lào; căn cứ vào tình hình thực tế, QĐNDVN mà trực tiếp là Bộ Quốc Phòng đã chỉ thị cho một số trường quân đội (QĐ) tổ chức đào tạo tiếng Việt, trong đó có Đoàn

871 – Tổng cục Chính trị (TCCT)

Trong quá trình tham gia trực tiếp đào tạo tiếng Việt cho học viên quân

sự Lào học tiếng Việt tại đây, nhận thấy nghiên cứu hướng đến những vấn đề

về lỗi ngôn ngữ của người học là nội dung thiết thực trong công tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói chung và HVQSL học tiếng Việt nói

riêng, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: Khảo sát lỗi phát âm tiếng Việt của học viên nước ngoài học tiếng Việt (trường hợp học viên quân sự Lào học tiếng Việt tại Đoàn 871, Tổng cục Chính trị) làm đề tài nghiên cứu cho luận

văn thạc sĩ của mình với mong muốn góp phần vào quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, đặc biệt là học viên đến từ CHDCND Lào

2 Mục đích nghiên cứu nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu trường hợp lỗi phát âm của HVQSL, luận văn mong muốn làm rõ hơn nữa thực trạng về lỗi phát âm của người nước ngoài khi học tiếng Việt, gắn với nhóm đối tượng đặc thù; từ đó, góp phần đề xuất những phương pháp sửa lỗi, giúp nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ

Trang 13

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài với nội dung chủ yếu về

lỗi trong đó có lỗi ngữ âm của người học ngoại ngữ

- Thống kê, phân loại, miêu tả và phân tích các loại lỗi liên quan đến

phát âm của người học

- Bước đầu tìm hiểu và chỉ ra những nguyên nhân, đề xuất giải pháp khắc phục lỗi phát âm xuất hiện

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lỗi phát âm của người nước ngoài học tiếng Việt như một ngoại ngữ Việc khảo sát chỉ dừng ở mức độ âm tiết

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn đề cập đến lỗi phát âm được giới hạn trong nhóm 50 HVQSL khi học tiếng Việt tại Đoàn 871 –TCCT, đã hoàn thành chương trình học tiếng Việt trình độ B2 (Xin xem thêm thông tin cụ thể tại chương 2)

4.Phương pháp và tư liệu nghiên cứu

từ đó đề ra giải pháp sửa lỗi

- So sánh, nhận xét sự thay đổi của người học với các lỗi phát âm sau quá trình học

Trang 14

4.2 Tư liệu

Tư liệu được thu thập từ qua trình học của các học viên quân sự Lào, độ tuổi từ 18 đến 50 tuổi, với trình độ tiếng Việt ở bậc B2 Tổng số lỗi thu thập được từ các nguồn sau:

- Phiếu điều tra lỗi phát âm của HVQSL

- Việc trò chuyện, giao tiếp hàng ngày giữa học viên và giáo viên

- Những bài đọc HVQSL đọc trên lớp và thu âm nộp cho giáo viên

5 Ý nghĩa của luận văn

Trên đại thể việc khảo sát, nghiên cứu và phân tích lỗi phát âm của HVQSL tại Đoàn 871 sẽ góp phần làm rõ hơn nữa thực trạng vấn đề lỗi, trong

đó có lỗi phát âm của người nước ngoài học tiếng Việt hiện nay.Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích giúp cho việc

dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ được hoàn thiện hơn

Từ góc độ thực tế, luận văn có ý nghĩa đối với việc dạy và học tiếng Việt cho đối tượng là học viên quân sự Lào, đặc biệt kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ đào tạo tiếng Việt cho học viên Lào tại cơ sở Đoàn 871 đạt hiệu quả cao hơn

về chất lượng và thời gian

6 Bố cục của luận văn:

Luận văn gồm có:

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Lỗi phát âm của HVQSL học tiếng Việt

Chương 3: Một số đề xuất khắc phục lỗi phát âm của HVQSL khi phát

âm tiếng Việt

Phần kết luận

Trang 15

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan nghiên cứu về lỗi tiếng Việt của người nước ngoài học tiếng Việt

Vấn đề lỗi ngôn ngữ khi học ngoại ngữ là một vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm đến.Trước hết phải kể đến nhà nghiên cứu Pit Corder với bài viết có tựa đề “The Signficance of Learne” nghiên cứu về vấn đề dùng không chính xác từ loại Tác giả phân tích các nguyên nhân gây

ra lỗi như lỗi do vượt tuyến, lỗi giao thoa ngôn ngữ, lỗi tự ngôn ngữ đích để rồi tìm ra các giải pháp chữa lỗi

Trong những năm gần đây đã có rất nhiều các bài nghiên cứu của các nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề lỗi như: Nguyễn Linh Chi với “Một số nhận xét về lỗi dùng từ đặt câu của người nước ngoài học tiếng Việt” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 8 – 2007), “Lỗi trật tự từ của người bản ngữ tiếng Anh học tiếng Việt” (Tạp chí ngôn ngữ số 7 – 2008), “Lỗi ngôn ngữ của người nước ngoài học tiếng Việt (trên tư liệu từ vựng, ngữ pháp của người Anh, Mĩ )” (Luận án tiến sĩ ngữ ngôn ngữ học).Trong đó, tác giả Nguyễn Linh Chi đã chỉ ra các lỗi cơ bản về từ vựng, ngữ pháp của người Anh, người

Mỹ học tiếng Việt và tác giả tiếp cận các lỗi này từ góc độ chiến lược học, chiến lược giao tiếp và hệ thống ngôn ngữ trung gian Luận án miêu tả, giải thích những lỗi từ vựng, ngữ pháp và chỉ ra nguyên nhân gây nên lỗi theo cơ

sở lý luận phân tích lỗi do S P Corder khởi xướng Nguyễn Văn Phúc với

“Nghiên cứu các dạng lỗi phát âm tiếng Việt của sinh viên nói tiếng Anh” (Luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn) Đỗ Thị Thu với “Xem xét cách diễn đạt câu tiếng Việt của người nước ngoài khi học tiếng Việt” (Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn), Đinh Lê Huyền Trâm “Khảo sát lỗi từ vựng và ngữ pháp của sinh viên Lào và Campuchia học tiếng Việt tại trường Hữu Nghị 80” (Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ),

Trang 16

Tiếp theo phải kể đến luận án của tác giả Nguyễn Thiện Nam nghiên cứu về lỗi ngữ pháp của người nói tiếng Khơme, tiếng Nhật và tiếng Anh khi học tiếng Việt Luận án đã góp phần không nhỏ vào việc học tiếng Việt của người nước ngoài và giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Các bài viết và công trình nghiên cứu được liệt kê trên đây dù ở dạng đúc kết kinh nghiệm hay là những nghiên cứu chuyên sâu thì cũng đều giải quyết được một số yêu cầu cụ thể trong việc phát hiện, xử lý và đưa ra được những giải pháp khắc phục lỗi, đóng góp hữu ích trong công tác dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài nói chung

Tuy nhiên, có thể thấy hầu hết các công trình nghiên cứu về lỗi mới chỉ tập chung nghiên cứu các lỗi ngữ pháp, lỗi từ vựng và ngữ nghĩa Có rất ít các công trình nghiên cứu về lỗi ngữ âm của người nước ngoài khi học tiếng Việt Mới đây nhất, năm 2016, Soudchai Simmalavong có Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài “Bước đầu khảo sát lỗi ngữ âm của người Lào khi học tiếng Việt” Bài luận văn mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát và phân tích những lỗi cơ bản như lỗi phụ âm đầu, vần mà chưa gắn với những đối tượng cụ thể

Do đó đề tài nghiên cứu “Khảo sát lỗi phát âm tiếng Việt của học viên nước ngoài học tiếng Việt (trường hợp học viên quân sự Lào học tiếng Việt tại Đoàn 871-TCCT)” sẽ đưa đến cái nhìn cụ thể hơn về lỗi phát âm của học viên quân sự Lào tại Đoàn 871-TCTT, và đưa đến một cái nhìn tổng quan trong vấn đề phân tích lỗi ngữ âm

1.2 Một số cơ sở lí thuyết

1.2.1 Khái quát về ngữ âm, ngữ âm tiếng Việt và ngữ âm tiếng Lào

1.2.1.1 Khái quát về ngữ âm

Ngôn ngữ là một hệ thống âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp

cơ bản và quan trọng nhất của con người; ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện tư duy, truyền đạt văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Cái

Trang 17

ngôn ngữ dùng để giao tiếp và truyền đạt tư tưởng ấy, ngay từ đầu đã là ngôn ngữ thành tiếng, ngôn ngữ âm thanh Đó là toàn bộ hệ thống các âm của ngôn ngữ mà con người nói ra, là cái “vỏ vật chất” của ngôn ngữ mà con người nói

ra được, tri nhận được [46,97]

Mặt âm thanh làm nên tính chất hiện thực của ngôn ngữ, nhờ có nó ngôn ngữ mới được xác lập, tồn tại và phát triển Mặt âm thanh là một thuộc tính không thể tách rời của tất cả các sinh ngữ hiện đang tồn tại Lí luận của chủ nghĩa Mác khẳng định sự phát sinh của ngôn ngữ phụ thuộc vào sự phát triển của bộ máy phát âm của người nguyên thuỷ; nguồn gốc của ngôn ngữ gắn liền với sự phát triển của khả năng cấu tạo những âm thanh tách bạch ở con người Luận điểm này được chứng tỏ bằng học thuyết về hệ thống tín hiệu thứ hai của I.P.Pavlov: Nếu các cảm giác và hiện tượng của chúng ta về thế giới ở xung quanh đối với ta là hệ thống tín hiệu thứ nhất của hiện thực, những tín hiệu cụ thể, là lời nói, đặc biệt trước hết là những sự kích thích động học từ các khí quan phát âm đi vào vỏ não, là những tín hiệu thứ hai, tín hiệu của những tín hiệu /Pavlov, dẫn theo Zinder, [14] Như vậy, về mặt sinh lí học, những sự kích thích động học đi từ các khí quan phát âm là những sự kích thích phát sinh do những vị trí khác nhau của các khí quan này Chính sự chuyển động của các khí quan phát âm khi cấu tạo các âm thanh là điều kiện thiết yếu để cho ngôn ngữ được xác lập, tồn tại và phát triển Do đó, không thể có một ngôn ngữ nào đó mà không dùng âm thanh, không lấy âm thanh làm hình thức thể hiện Cố nhiên, không phải bất kì âm thanh nào do con người phát ra đều là âm thanh ngôn ngữ Âm thanh ngôn ngữ khác với tiếng

ho, tiếng nấc, v.v Những âm thanh này được phát ra do nhu cầu sinh lí, nghĩa

là không có giá trị biểu đạt, không phải là phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ Hình thức biểu đạt bằng âm thanh của các từ trong ngôn ngữ không chỉ

là âm thanh vật chất đơn thuần Khi ta đọc thầm, nhẩm và suy nghĩ thì hình

Trang 18

thức âm thanh của các từ và câu vẫn xuất hiện nhưng ở dạng ấn tượng âm thanh hay còn gọi là hình ảnh âm thanh Như vậy, khi có người nói, người nghe ta có âm thanh cụ thể, thực tế Còn khi tư duy thì chúng ta tư duy bằng ngôn ngữ Mặt khác, âm thanh ngôn ngữ, đặc biệt là các các âm tố lời nói dường như tách riêng ra khỏi từ, được trừu tượng hoá, bởi lẽ, một âm vị nào

đó không chỉ xuất hiện trong một từ mà có thể xuất hiện trong nhiều từ khác nhau của một ngôn ngữ Nó xuất hiện trong từ này, cũng có thể xuất hiện trong nhiều từ khác Mấy vạn từ làm thành từ vựng của một ngôn ngữ, về mặt

âm thanh vốn là những kết hợp khác nhau của mấy chục âm tố lời nói (âm vị)

mà thôi.Các âm thanh trong một ngôn ngữ có quan hệ đồng nhất và đối lập với nhau về mặt giá trị và lập thành hệ thống Đó là hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ nhất định

Âm thanh ngôn ngữ là hình thức biểu đạt tất yếu của ngôn ngữ, là cái vỏ vật chất tiện lợi nhất của ngôn ngữ Do đó, về một phương diện nào đó, nếu coi ngôn ngữ bao gồm hai mặt: mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện thì cũng

có thể coi ngữ âm là mặt biểu hiện còn từ vựng và ngữ pháp là mặt được biểu hiện của ngôn ngữ Bởi vậy, nghiên cứu ngữ âm là công việc đầu tiên và tất yếu đối với việc nghiên cứu bất cứ ngôn ngữ nào

Cơ sở hình thành ngữ âm: Âm thanh ngôn ngữ được xác lập từ cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội

Cơ sở tự nhiên: Ở mặt âm thanh ngôn ngữ, chúng ta có thể tiến hành

nghiên cứu về bản chất âm học (cảm thụ - vật lí) và những phương thức cấu

âm (nguồn gốc - sinh lí), tức là cơ sở tự nhiên của âm thanh ngôn ngữ

Mặt vật lí (cảm thụ - âm học): Cũng như các âm thanh khác trong tự nhiên, âm thanh ngôn ngữ được tạo thành do sự chấn động của dây thanh và

sự hoạt động của các khí quan khác thuộc bộ máy phát âm của con người Do

Trang 19

đó, người ta có thể miêu tả âm thanh của ngôn ngữ bằng những đặc trưng âm học như độ cao, độ mạnh, độ dài, âm sắc, v.v

Mặt sinh lí (nguồn gốc - cấu âm): Âm thanh ngôn ngữ do bộ máy phát

âm của con người cùng với hoạt động của nó tạo nên Bộ máy phát âm là những bộ phận của cơ thể được dùng với chức năng thứ hai là tạo ra các âm của ngôn ngữ Bộ máy phát âm gồm có cơ quan hô hấp, thanh hầu và các khoang (khoang mũi, khoang miệng, khoang yết hầu)

Hình ảnh bộ máy phát âm

Cơ sở xã hội: Nói đến cơ sở xã hội của ngữ âm là nói đến chức năng xã

hội của nó.Âm thanh, tự bản thân nó không mang ý nghĩa gì cả Nhưng khi một đơn vị âm thanh nào đó được một cộng đồng lựa chọn và xác lập làm hình thức biểu đạt cho những đơn vị mang nghĩa trong một ngôn ngữ và dùng

để giao tiếp thì sẽ trở thành những đơn vị âm thanh ngôn ngữ Mặt xã hội của ngữ âm làm cho mỗi người nói một ngôn ngữ nào đó nhận ra sự khác nhau giữa các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ đó, đồng thời luôn có ý thức và thói quen phân biệt sự khác nhau đó, một sự khác nhau có tính chất chức năng - chức năng giao tiếp

Trang 20

1.2.1.2 Ngữ âm tiếng Việt

Các ngôn ngữ trên thế giới được chia thành 4 loại hình: Loại hình ngôn ngữ hòa kết, loại hình ngôn ngữ chắp dính, loại hình hỗn nhập và loại hình ngôn ngữ đơn lập Trong đó tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Đặc điểm này thể hiện rõ rệt ở mặt ngữ âm

Trên chữ viết, mỗi tiếng được ghi thành một chữ Tiếng có thể trực tiếp

hay gián tiếp gắn liền với một ý nghĩa nhất định và không thể chia ra thành những đơn vị có nghĩa nhỏ hơn nữa Vì vậy có thể hiểu ranh giới

của tiếng trùng với hình vị và từ: ăn, nói, đi, đứng, và, sẽ,… Âm tiết, hình vị

và từ là đơn vị của ngôn ngữ, còn tiếng là đơn vị của lời nói

Cấu trúc của âm tiết tiếng Việt:

Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc 2 bậc: bậc thứ nhất bao gồm những thành

tố trực tiếp của nó được phân định bằng những ranh giới có ý nghĩa hình thái học, bậc thứ hai bao gồm những thành tố của phần vần, chỉ có chức năng khu biệt thuần túy[11,80]

Âm tiết tiếng Việt

I Thanh điệu Âm đầu Phần vần

II Âm đệm Âm chính Âm cuối

Lược đồ âm tiết tiếng Việt:

Thanh điệu

Âm đầu

Vần

Âm tiết tiếng Việt có 5 thành phần, được xếp thành 2 bậc Thành phần thứ nhất do 6 thanh điệu đảm nhiệm là: không dấu, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng

Trang 21

Âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm

Âm đệm do âm vị bán nguyên âm môi [ṷ] đảm nhiệm

Âm chính do các âm vị nguyên âm đảm nhiệm

Trang 22

Âm cuối là các âm vị phụ âm, bán nguyên âm và một âm /zêrô/

Đặc điểm cấu tạo của âm tiết tiếng Việt tạo nên cho tiếng Việt tính nhạc

điệu.Tuy nhiên đây cũng chính là những khó khăn đối với người nước ngoài khi học tiếng Việt, đặc biệt là với hệ thống thanh điệu.Điều này buộc người học cần phải có những phương pháp học phù hợp và hiểu rõ nguyên nhân gây

ra lỗi để có thể khắc phục những lỗi sai khi phát âm âm tiết tiếng Việt

1.2.1.3 Ngữ âm tiếng Lào

Tiếng Lào là một ngôn ngữ thuộc Ngữ chi Thái trong hệ ngôn ngữ Kadai Bảng chữ cái Lào hay Akson Lao (tiếng Lào: ອັກສອນລາວ) là bảng chữ cái chính thức được sử dụng để viết tiếng Lào và các ngôn ngữ thiểu số khác

Tai-ở Lào[68]

Bảng chữ cái có nguồn gốc Ấn Độ, bao gồm 27 phụ âm (ພະຍັນຊະນະ), 7 chữ ghép phụ âm (ພະຍັນຊະນະປະສົມ) , 33 nguyên âm (ສະຫລະ) (một số dựa trên

sự kết hợp của các ký hiệu), và 4 dấu giọng (ວັນນະຍຸ ດ).[Trích theo 42]

Phụ âm tiếng Lào:

Các phụ âm tiếng Lào được phân loại theo các cấp như trong bảng sau

Trang 23

Thấp ຄ ຊ ທ ພ ຟ ຮ ງ ຍ ນ ມ ຣ ລ ວ

Kho Xo Tho Pho Fo Ho Ngo Nho No Mo Ro Lo Vo

Có sự kết hợp với ຫ trong đó từ ຫ là âm câm Khi đánh vần, chúng

ta đọc hai yếu tố của sự kết hợp này riêng biệt, ví dụ ຫງ đọc là ngỏ

Nguyên âm tiếng Lào:

Bảng hệ thống các nguyên âm tiếng Lào (sạlạ): (s chỉ nguyên âm đôi)

Trang 24

Phụ âm cuối tiếng Lào[68]:

Trong tiếng Lào có 8 phụ âm vừa là phụ âm chính vừa là phụ âm cuối vần đó là:

• Phụ âm cuối vần mở (ຕົວສະກົດເປັນ): là những phụ âm cuối vần có thể biến âm theo dấu thanh, gồm có 5 phụ âm sau: ງ, ຍ, ນ, ມ, ວ

Ví dụ: ກ້າງ, ກ້ວຍ, ກ ິ່ນ, ກ້ອມ, ແກ້ວ

• Phụ âm cuối vần tắc (ຕົວສະກົດຕາຍ): là những phụ âm cuối vần không thể biến âm đủ theo dầu, gồm có 3 phụ âm sau: ກ, ດ, ບ

Ví dụ: ກັກ, ກັດ, ກັບ

Thanh điệu tiếng Lào

Tiếng Lào có 5 thanh điệu, trong đó có 4 thanh điệu tương đương với 4 thanh điệu của tiếng Việt, tuy nhiên có 1 thanh điệu được gọi là luyến lên –

luyến xuống [42]

Các thanh điệu của tiếng Lào tương ứng với các thanh điệu tiếng Việt

• thanh cao (tương ứng với thanh sắc) được tạo bởi 'mái tri' và được viết là ‘ ຶ ’ như trong từ ກ າ và được phát âm là 'cá'

Trang 25

• thanh thấp ( tương ứng với thanh huyền) được tạo bởi 'mái ệc' và được viết là ‘ ຶ ’ tức là một dấu nháy như thanh sắc ở phía trên, ví dụ trong từ ກິ່າ được phát âm là 'cà'

•thanh bằng (tương ứng với thanh không hay thanh bằng) nghĩa là không có dấu gì ở trên hoặc dưới như từ ກາ này được phát âm là 'ca'

• thanh luyến lên, luyến xuống hay còn gọi là thanh lửng (tương ứng với thanh hỏi) được tạo bởi 'mái chặt-ta-wa' và được viết là ‘ ຶ ’ tức là một dấu cộng ở phía trên đầu như từ này ກ໋າ và được phát âm là 'cả'

Riêng “thanh luyến xuống” (hay còn gọi là “thanh lên – xuống” )là một thanh đặc biệt mà trong tiếng Việt không có và nó tạo cho tiếng Lào trở thành một thứ tiếng giàu ngữ điệu, lên bổng xuống trầm uyển chuyển, ấn tượng, dễ nghe và lôi cuốn rất biểu cảm phù hợp với từng ngữ cảnh

Có thể xem minh họa về cách phát âm theo hình dưới đây:

Trang 26

1.2.2 Quan niệm về lỗi ngôn ngữ

1.2.2.1 Quan niệm về lỗi ngôn ngữ

Nghiên cứu lỗi ngôn ngữ xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhưng phải đến khi lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ của Chomsky ra đời thì việc nghiên cứu lỗi ngôn ngữ mới có một bước phát triển mới Khái niệm lỗi ngôn ngữ cũng được các nhà ngôn ngữ học đưa ra trong nghiên cứu về dạy ngoại

ngữ S.P.Corder định nghĩa lỗi“là kết quả của sự thể hiện không thành công…Lỗi không phải là một vấn đề phải vượt qua hay là những cái gì sai trái, hay là điều đáng xấu hổ phải xóa bỏ Thực ra, lỗi là một phần của việc học và qua lỗi có thể phát hiện ra những chiến lược mà người học đã sử dụng

để học một ngoại ngữ Lỗi cung cấp cho chúng ta những sự hiểu biết, những cái nhìn giá trị, những kinh nghiệm quý báu về quá rình học một ngoại ngữ”

[24, 20]

Còn Hendrickson cho rằng: Lỗi là một phát ngôn, một hình thức biểu đạt hoặc là một kết cấu mà một giáo viên ngôn ngữ đặc biệt thấy rằng không thể chấp nhận được bởi vì cách sử dụng không hợp lý của chúng hoặc là sự

vắng mặt của chúng trong các diễn ngôn đời thường [Dẫn theo57]

Trong từ điển Ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng của Nhà xuất bản Longman năm 1985 định nghĩa: “Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ ( ví dụ: một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng ) bằng cách mà người bản ngữ hoặc người nói thạo thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho

là chưa đủ” [34, 7] Còn ở Việt Nam, Lê Quang Thiêm nhận định về lỗi như sau: Lỗi học và dùng ngoại ngữ là tài liệu thô rất quý về nhiều mặt mà ta cần thu thập, hệ thống hóa và phân tích, nghiên cứu Thiếu nó, chúng ta không thể

có một cách hiểu đầy đủ về những tiến bộ xảy ra trong cảm thức ngôn ngữ của người học tiếng [Dẫn theo 45] Tiếp thu quan điểm của những nhà ngôn ngữ học đi trước, tác giả Phạm Đăng Bình đã đưa ra một định nghĩa tương đối

Trang 27

đầy đủ về lỗi như sau: Lỗi thể hiện sự khiếm khuyết về năng lực giao tiếp của người học trong cách nhìn nhận, đánh giá của người bản ngữ và những người song ngữ Lỗi là nguyên nhân gây ra các hiện tượng trống nghĩa, mơ hồ về nghĩa và là nguyên nhân trực tiếp gây ra những sự hiểu nhầm hoặc ngưng trệ giao tiếp Sự có mặt của lỗi trong giao tiếp liên ngôn nhiều khi trở thành một những nguyên nhân dẫn đến các xung đột hoặc sốc văn hóa[6]

1.2.2.2 Phân tích lỗi:

Mục đích chính của việc phân tích lỗi là giải thích cơ chế sự thể hiện ngôn ngữ của người học, nghĩa là nghiên cứu những chiến lược học và những giả thuyết mà người học đã sử dụng để tạo ra ngôn ngữ riêng của mình Và người dạy, từ việc phân tích những lỗi sai của người học sẽ tìm ra phương pháp phù hợp để sửa lỗi, giúp người học hoàn thiện hơn về khả năng sử dụng ngôn ngữ đích của mình

Theo tác giả Pit Corder, quá trình phân tích lỗi phải trải qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Nhận diện lỗi

Để nhận diện lỗi, ta phải xem xét hình thức và nội dung của câu hay phát ngôn

-Về hình thức: Câu hay phát ngôn có cấu tạo ngữ pháp đúng với ngôn ngữ đích hay không? Nếu đúng thì xét tiếp về mặt nội dung còn nếu sai sẽ chuyển sang xem xét ở giai đoạn 2

- Về nội dung: Câu hay phát ngôn có nghĩa trong ngữ cảnh hay không khi câu hay phát ngôn đó đúng với ngữ pháp của ngữ đích Nếu có nghĩa thì câu đó là câu đúng và không cần phải xem xét nữa và nó sẽ được chuyển sang xem xét ở giai đoạn 2 nếu nó không có nghĩa khi đặt vào ngữ cảnh

Giai đoạn 2: Miêu tả lỗi

Các câu hay phát ngôn không đúng về mặt hình thức và nội dung ở giai đoạn một sẽ được xử lý ở giai đoạn hai Giai đoạn này ta sẽ có một cặp câu: một câu sai và một câu được sửa đúng với ngữ đích Sau đó nó sẽ được đem

ra so sánh với câu/phát ngôn mắc lỗi ban đầu để thấy được câu/phát ngôn đã

Trang 28

được sửa lại và câu/phát ngôn mắc lỗi khác nhau ở điểm nào.Đây chính là ngữ liệu để miêu tả

Giai đoạn 3: Giải thích lỗi

Nếu như hai giai đoạn trước việc phân tích lỗi chỉ thuần túy ngôn ngữ học thì giai đoạn thứ ba này mang tính chất tâm lý ngôn ngữ học Việc phân tích lỗi lúc này phải dựa vào tiếng mẹ đẻ của người học tiếng thứ 2 Có hai cách giải thích về nguyên nhân của các câu sai (câu trong ngôn ngữ trung gian): Cách thứ nhất cho rằng, người học mang sang ngôn ngữ thứ hai những thói quen trong tiếng mẹ đẻ của họ Cách thứ hai cho rằng, việc học ngoại ngữ

là một hoạt động tri nhận, hình thành các giả thuyết và xử lý ngữ liệu; và lỗi

là bộ phận đương nhiên, không thể thiếu trong quá trình học ngoại ngữ

S.P.Corder chỉ ra rằng: “Chúng ta không thể sử dụng bất cứ nguyên tắc nào trong các câu của ngôn ngữ người học để cải tiến việc giảng dạy trừ phi chúng ta hiểu được vì sao chúng xuất hiện và xuất hiện như thế nào”[54]

Phương pháp xác định lỗi của Pit Corder khá hợp lý và rõ ràng Câu và phát ngôn được xem xét một cách toàn diện về cả hình thức và nội dung và nó được đặt vào ngữ cảnh cụ thể

1.2.2.3 Phân loại lỗi

Các nhà nghiên cứu có những cách đánh giá và nhìn nhận về lỗi rất khác nhau, nên việc phân loại lỗi cũng rất phong phú và đa dạng Richard và đồng tác giả (1971) phân biệt 3 loại lỗi chính: Lỗi giao thoa, lỗi tự ngữ đích

và lỗi phát triển Hendrickson (1980) chia lỗi thành 2 loại: Lỗi cục bộ và lỗi tổng thể Còn Dulay, Burt và Krashen (1982) chia lỗi theo 4 loại lỗi: Lỗi lược

bỏ, lỗi thêm vào, lỗi cấu tạo sai và lỗi dùng sai vị trí Abobot (1980) chia lỗi thành: lỗi ngữ năng và lỗi hành năng (lỗi ngữ dụng) Lỗi ngữ năng gồm các lỗi: chuyển di, tự ngữ đích và lỗi do điều kiện dạy học tạo ra Lỗi ngữ dụng là các lỗi trong khi xử lý và lỗi trong chiến lược giao tiếp [Dẫn theo18] Các

Trang 29

cách phân loại lỗi trên nêu ra được một số lỗi người học thường mắc nhìn từ góc độ ngôn ngữ và tâm lý nhưng chưa thể hiện được một cách rõ ràng diễn tiến của quá trình mắc lỗi và các nguyên nhân gây lỗi ở người học

Dựa vào năng lực ngôn ngữ, quan tâm đến việc hình thành và xuất hiện của lỗi ở các giai đoạn khác nhau của quá trình học, Pit Corder chia lỗi thành ba loại chính: lỗi trước hệ thống (xảy ra khi người học chưa ý thức được sự tồn tại của một quy tắc nào đó trong ngữ đích), lỗi hệ thống (xảy ra khi người học đã nhận ra quy tắc nhưng đó là quy tắc sai), và lỗi sau hệ thống (xảy ra khi người học đã biết chính xác quy tắc của ngữ đích nhưng lại sử dụng chúng không nhất quán) [Dẫn theo 18] Trong nghiên cứu của mình, Phạm Đăng Bình chọn lí thuyết phân tích lỗi mà Corder đề xướng làm cơ sở cho luận án tiến sĩ của mình Nhưng ông không chỉ nêu lên quan điểm cần xem xét lỗi một cách tổng thể từ góc độ dụng học giao thoa văn hóa mà ông còn chỉ ra rằng không phải chỉ có người học mắc lỗi mà còn có cả người dạy (nếu họ không phải là người bản ngữ) Khi phân loại lỗi cần tìm ra được những cái chung của lỗi và đặc điểm riêng của chúng Xuất phát từ những cơ

sở đó, ông chia lỗi ra làm hai loại lớn là: lỗi phổ biến và lỗi đặc trưng Lỗi phổ biến là lỗi mà người học ngôn ngữ thứ hai nào cũng mắc phải và thậm chí mắc lỗi giống nhau một cách ngẫu nhiên, bao gồm lỗi ngữ năng và lỗi hành năng Lỗi đặc trưng là lỗi mang những nét riêng của từng nhóm hoặc cộng đồng người học vì họ có chung tiếng mẹ đẻ và có chung một nền văn hóa hoặc có nhiều điểm giống nhau về văn hóa cục bộ, bao gồm lỗi giao thoa ngôn ngữ và lỗi giao thoa văn hóa [41,66-74] Tác giả Nguyễn Thiện Nam lại đưa ra hai hướng phân loại lỗi khác nhau, một là phân loại dựa vào nguồn gốc, hai là phân loại dựa vào các đơn vị ngữ pháp Dựa vào nguồn gốc, ông chia lỗi ra làm hai loại chính là lỗi giao thoa và lỗi tự ngữ đích Trong đó, lỗi giao thoa là loại lỗi sinh ra do ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ của người học lên

Trang 30

ngữ đích, lỗi tự ngữ đích là lỗi sinh ra do những nguyên nhân trong nội bộ cấu trúc của ngữ đích Dựa vào các đơn vị ngữ pháp có thể chia lỗi ra thành rất nhiều loại như: lỗi về đại từ nhân xưng, 17 lỗi về loại từ, lỗi về hư từ, lỗi về trật tự từ, lỗi về trật tự thành phần câu, [34,18]

Trong luận văn này chúng tôi xin lấy cách phân loại lỗi của tác giả Nguyễn Thiện Nam để xác định và phân loại lỗi Đó là:

+) Lỗi dựa vào nguồn gốc

- Lỗi giao thoa (Interlingual error)

- Lỗi tự ngữ đích (Intralingual error)

Lỗi giao thoa là lỗi sinh ra do người học bị ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ lên ngôn ngữ thứ hai Do khi bắt đầu học ngôn ngữ thứ hai, người học đã có

kĩ năng, kĩ xảo sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, vì thế các thói quen sử dụng tiếng

mẹ đẻ và những hiểu biết về ngôn ngữ mẹ đẻ được người học áp dụng vào quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Và ở đây, người học đã sử dụng chiến lược chuyển di ngôn ngữ, chuyển di tiêu cực là đã áp dụng những mẫu, quy tắc của ngôn ngữ nguồn để tạo nên những câu mới, kết cấu mới trong ngôn ngữ đích nhưng dẫn đến lỗi và không phù hợp Đó được gọi là lỗi giao thoa

Lỗi tự ngữ đích là những lỗi sinh ra do những nguyên nhân trong nội bộ cấu trúc của ngôn ngữ đích Người học vì chưa có đủ tri thức ngôn ngữ cần thiết nên trong quá trình giao tiếp đã cố gắng nói và tạo ra những câu sai ngữ pháp nhưng vẫn phục vụ được mục đích giao tiếp tức thời của mình Người học đã sử dụng chiến lược vượt tuyến nới rộng việc sử dụng những quy tắc ra khỏi phạm vi cho phép Đó được gọi là lỗi tự ngữ đích

Trang 31

Lào cũng không phải là ngoại lệ Căn cứ vào định nghĩa lỗi của người học trong cuốn “Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng”, có thể định nghĩa lỗi ngư âm như sau: Lỗi ngữ âm là hiện tượng người học phát âm hoặc nói sai hay chưa chính xác so với ngừơi bản ngữ một đơn vị ngôn ngữ như từ, ngữ, câu hay chuỗi câu Nói khát quát hơn thì lỗi ngữ âm là hiện tượng người học

sử dụng chưa chính xác hay sai lệch “ hệ thống ngữ âm” của một ngôn ngữ nào

đó dẫn đến việc thông tin không được truyền đạt trọn vẹn [Dẫn theo 4,13] Lỗi ngữ âm rất phức tạp và bao gồm nhiều cấp độ Ở cấp độ âm tiết, người học có thể mắc lỗi về thanh điệu, âm đầu, âm chính, âm cuối, Ở cấp

độ từ và câu, người học có thể mắc lỗi về ngữ điệu, cach phát âm từ, cách ngắt câu Nghiên cứu về lỗi ngữ âm của người nước ngoài khi học tiếng Việt

đó là nghiên cứu về những lỗi phát âm sai khi họ phát âm tiếng Việt

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, luận văn của chúng tôi dựa vào những nghiên cứu

về lỗi sử dụng tiếng Việt nói chung và lỗi ngữ âm nói riêng của người nước ngoài, lý thuyết phân tích lỗi ngôn ngữ để đưa ra những cơ sở lí thuyết cơ bản cho việc tiếp cận và làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu của mình Cụ thể là:

Từ việc chỉ ra những khuynh hướng nghiên cứu lỗi ngôn ngữ, chúng tôi

cố gắng hệ thống hóa các cách nhận định về lỗi ngôn ngữ và khái niệm về lỗi Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định khuynh hướng phân tích lỗi là cơ sở lý thuyết phù hợp để tiến hành các khảo sát, phân tích cũng như xác định nguyên nhân tạo lỗi trong quá trình học và rèn luyện ngôn ngữ của học viên, điều sẽ được làm rõ trong chương tiếp theo

Cũng theo đó, sau khi xác định được nguyên nhân tạo lỗi của học viên, chúng tôi đưa ra những phương pháp, đề xuất khắc phục hiệu quả những lỗi phát âm mà học viên gặp phải

Trang 32

Chương 2: LỖI PHÁT ÂM CỦA HỌC VIÊN QUÂN SỰ LÀO HỌC

TIẾNG VIỆT TẠI ĐOÀN 871 – TCCT 2.1 Một số nội dung liên quan đến khảo sát

2.1.1 Đối tượng học viên khảo sát và phạm vi khảo sát

Do khuôn khổ có giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ chọn đối tượng nghiên cứu là là 50 HVQS Lào đang học tập và huấn luyện quân sự tại Đoàn

871 – TCCT 50 học viên này đều là những cán bộ, sĩ quan QĐNDL nhưng

có sự chênh lệch rất lớn về chức vụ, quân hàm, tuổi đời, tuổi quân do không

có sự sàng lọc (tuổi đời từ 16 đến 41, tuổi quân từ 1 đến 22 năm, ) Điều này gây ra rất nhiều khó khăn trong quá trình học tiếng Việt đối với họ Mặc dù được học tiếng Việt trong môi trường bản ngữ nhưng các HVQSL phải học trong môi trường quân đội, rất ít khi được ra ngoài để tăng cơ hội giao tiếp với người bản địa, phần lớn họ chỉ được học trên lớp với các giáo viên Việt Nam và nói chuyện với các cán bộ trong đoàn Đây cũng là một trong những khó khăn đối với việc học tiếng Việt của họ

Luận văn mà của chúng tôi tiến hành khảo sát trong phạm vi nội dung chương trình đào đạo tiếng Việt cho HVQS Lào và Campuchia tại Đoàn 871 – TCCT, với tổng số tiết học là 1070 tiết được phân bổ trong vòng 10 tháng Trong đó có 980 tiết học trên lớp, 60 tiết học ngoại khóa, và 30 tiết kiểm tra chất lượng Nội dung chương trình đào tạo là đào tạo tiếng Việt cho học viên quân sự quốc tế Giáo trình được lựa chọn giảng dạy đó là:

- Tập bài giảng phát âm (Tài liệu lưu hành nội bộ tại Đoàn 871) Tập bài giảng được phân bổ giảng dạy trong vòng 1 tháng đầu với tổng số 100 tiết học

- Giáo trình Tiếng Việt trình độ A (tập 1 và tập 2), Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triền, Nxb Thế giới 2 tập giáo trình này được phân bố với tổng số tiết là 380 tiết học

Trang 33

- Giáo trình Tiếng Việt trình độ B (quyển 1 và quyển 2), Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triền, Nxb Thế giới 2 tập giáo trình trên phân bố với tổng số tiết là 500 tiết

Yêu cầu đầu ra của chương trình đào tạo tiếng Việt cho HVQSL tại Đoàn 871 là : 100% học viên đạt trình độ tiếng Việt B2 sau khi kết thúc giáo trình Tiếng Việt trình độ B

Cụ thể việc khảo sát sẽ được tiến hành trên trên lớp của học viên, các bài kiểm tra đọc/phát âm, các bài nghe – phát âm, phiếu điều tra và câu hỏi phỏng vấn

2.1.2 Nội dung khảo sát

Luận văn khảo sát lỗi phát âm của HVQSL trên một số nội dung như sau:

- Những lỗi phát âm tiếng Việt mà HVQSL mắc phải trong những trường hợp phát âm cụ thể (ở mức độ âm tiết), được ghi lại: số lượng lỗi, những phương diện mắc lỗi phát âm thực tế

- Nguyên nhân tạo lỗi, thái độ của học viên trước những lỗi phát âm mắc phải, việc khảo sát thái độ sẽ được thực hiện bằng những câu hỏi phỏng vấn sâu

- Từ việc miêu tả và tìm ra nguyên nhân lỗi, luận văn sẽ cố gắng đưa ra những đề xuất giải pháp phù hợp, xây dựng những bài tập phát âm để khắc phục những lỗi phát âm mắc phải và kết quả đạt được sau khi vận dụng những bài tập luyện phát âm

Đây là ba nội dung cơ bản mà luận văn của chúng tôi muốn làm rõ trong việc thực hiện những khảo sát của mình Trong đó, hai nội dung đầu liên quan trực tiếp tới thực trạng lỗi phát âm của HVQSL mà chúng tôi sẽ làm rõ trong chương hai Nội dung thứ ba chúng tôi sẽ nói đến một cách cụ thể hơn trong chương ba

2.1.3 Phương thức khảo sát

Luận văn mang tính chất một công trình nghiên cứu nhỏ về lỗi ngôn ngữ của người nước ngoài học tiếng Việt với tư liệu từ các cuộc khảo sát trên thực địa Do đó luận văn sẽ thực hiện thông qua các phương thức khảo sát sau:

Trang 34

- Khảo sát qua việc giảng dạy trên lớp: Đó là những tổng kết từ quá

trình giảng dạy tiếng Việt cho HVQSL, nhận diện lỗi qua những lần thực hiện bài đọc, bài phát âm, những giao tiếp hàng ngày giữa học viên và giáo viên để

có thể nhận diện xác thực nhất về lỗi phát âm mà HVQSL mắc phải

- Khảo sát qua phiếu điều tra: Chúng tôi xây dựng phiếu điều tra và tiến

hành điều tra trên 50 HVQSL học tiếng Việt tại Đoàn 871 – TCCT thuộc các lứa tuổi, chức vụ, trình độ văn hóa và quê hương khác nhau Mục đích của phương pháp này là để tìm hiểu sâu những lỗi phát âm đặc trưng của HVQSL khi học tiếng Việt Từ đó tập chung vào các lỗi phát âm đó để phân tích, miêu

tả, tìm ra phương pháp khắc phục Phiếu điều tra bao gồm 2 phần:

Phần 1:

Cho học viên đọc và ghi âm bảng từ và đoạn văn Trong bảng từ và đoạn văn có các từ/ cụm từ 2 âm tiết, từ/cụm từ 3 âm tiết Các từ và cụm từ được chọn từ các từ/ cụm từ mà HVQSL đã được học Những từ/ cụm từ này là những từ mà theo kinh nghiệm giảng dạy cho HVQSL tôi nhận thấy HVQSL hay phát âm sai trong quá trình học

Sở dĩ có sự lựa chọn các từ/cụm từ như vậy để có thể tập chung vào các lỗi sai cơ bản của các bạn Trên thực tế cộng tác viên (CTV) có thể đọc văn bản một cách tự nhiên theo thói quen hàng ngày của mình và ghi âm lại, sau

đó chúng tôi sẽ nghe và đánh dấu những lỗi sai vào phiếu điều tra

Phần 2

CTV sẽ trả lời 6 câu hỏi phỏng vấn sâu về sự đánh giá của họ về lỗi phát âm tiếng Việt của HVQSL khi học tiếng Việt tại Đoàn 871 – TCCT Những câu trả lời sẽ đánh giá họ về những lỗi phát âm mà họ hay mắc phải

Từ đó tiến hành phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến lỗi phát âm sai cũng như ảnh hưởng của những lỗi phát âm sai đến việc học tập và cuộc sống của CTV tại Việt Nam

Trang 35

Từ hai phương thức khảo sát trên, luận văn của chúng tôi đã thu được những kết quả thực tế về thực trạng lỗi phát âm của HVQSL một cách cụ thể với nhiều biểu hiện khác nhau Kết quả ấy được chúng tôi tổng hợp và mô tả trong phần tiếp sau đây

2.2 Kết quả khảo sát

Căn cứ vào cơ sở lý thuyết mà luận văn đưa ra ở chương một cùng với những ngữ liệu thực tế thu thập được, luận văn của chúng tôi đã tiến hành phân loại lỗi phát âm của HVQSL thành ba nhóm chính:

- Lỗi phát âm thanh điệu

- Lỗi phát âm âm đầu

- Lỗi phát âm phần vần

Quá trình phân tích và miêu tả các lỗi phát âm sẽ được chúng tôi trình bày theo nguyên tắc lỗi hay gặp nhất được miêu tả trước và theo thứ tự giảm dần Như vậy, theo kết quả khảo sát mà chúng tôi thu được việc miêu tả lỗi phát âm sẽ đi theo từng phần lần lượt như sau:

- Lỗi phát âm thanh điệu

- Lỗi phát âm âm đầu

- Lỗi phát âm phần vần

Để phục vụ cho việc phân tích lỗi đựơc rõ ràng chúng tôi chỉ tập trung vào những lỗi cơ bản và đặc trưng nhất để tiến hành phân loại và sắp xếp Những lỗi đặc trưng được xác định thông qua tỷ lệ sử dụng biến thể đánh dấu của học viên Những biến thể đánh dấu có tỷ lệ hơn 50% sẽ được chúng tôi tập chung giải thích và phân tích Tuy nhiên, việc nhận định như vậy chỉ mang tính chất tương đối Ngoài ra, trong quá trình trình bày kết quả khảo sát của luận văn, chúng tôi có đưa ra những ngữ liệu thực tế có chứa lỗi phát âm Trong những ngữ liệu đó, có những ngữ liệu không chỉ có những lỗi phát âm

mà còn có những lỗi ngôn ngữ khác, Tuy nhiên, để phục vụ cho đề tài này,

Trang 36

chúng tôi xin phép không đề cập đến mà chỉ tập trung vào làm nổi bật những lỗi phát âm

2.2.1 Lỗi phát âm thanh điệu

2.2.1.1 Kết quả khảo sát lỗi phát âm thanh điệu

Kết quả lỗi phát âm thanh điệu được tổng hợp tại bảng sau:

Bảng 2.1 Lỗi phát âm thanh điệu

Trang 37

Chú thích:

0: là biến thể chuẩn của các thanh điệu tiếng Việt

1: là biến thể đánh dấu của các thanh điệu tiếng Việt

Hình 2.1 Tỷ lệ sử dụng các biến thể của thanh điệu tiếng Việt

Kết quả từ bảng 2.2.1 và biểu đồ hình 2.2.1 cho thấy, ở cả 6 thanh điệu, các CTV đều có lỗi khi phát âm Tuy nhiên tỷ lệ phát âm sai các thanh điệu là khác nhau Ở thanh ngang, thanh huyền, thanh nặng và thanh sắc, CTV dùng biến thể chuẩn theo kết quả là khá cao Trong khi đó, ở biến thể thanh hỏi và thanh ngã, các CTV sử dụng biến thể đánh dấu có tỷ lệ rất cao Do đó chúng tôi sẽ tập chung phân tích và miêu tả lỗi phát âm ở hai thanh điệu này để thấy

rõ những đặc trưng phát âm tiếng Việt của HVQSL từ đó đưa ra những phương pháp giảng dạy phù hợp nhất

2.2.1.2 Miêu tả lỗi phát âm thanh điệu

2.2.1.2.1 Lỗi phát âm thanh ngã

Trong 6 thanh điệu tiếng Việt thì HVQSL phát âm sai nhiều nhất là thanh ngã Có đến 86,9% CTV mắc lỗi phát âm thanh ngã , trong đó chỉ có

Thanh huyền

Trang 38

13,1% CVT phát âm đúng biến thể chuẩn của thanh ngã Lỗi phát âm này xảy

ra cả ở những bạn học viên giỏi và xuất sắc

Ví dụ: (trường hợp học viên có học lực giỏi lớp TV7)

Dũng cảm => dúng cảm ([zuŋ3 kam4] => [zuŋ5 kam4]

Xuất hiện rộng rãi => xất hiện lộng lái ([sṷɤ̆t5 hi̮ en6 ʐoŋ6 ʐai̭3] => [sɤ̆t5

hi̮ en6 loŋ6 lai̭5]

Em bé bị ngã => em bé bị ngá ([?εm1bε5 bi6ŋa3] => [?εm1 bε5 bi6ŋa5]) HVQSL mắc lỗi phát âm thanh ngã cả khi đọc đoạn văn, đọc từ và khi giao tiếp với giáo viên hàng ngày

Ví dụ:

Em xin lỗi => Em xin lối ([xin1 loi̭3] => [xin1 loi̭5]

Thanh ngã trong ngữ âm tiếng Việt có đường nét âm điệu không bằng phẳng Đường nét bắt đầu cao hơn thanh huyền một chút, đến giữa âm tiết thì

đi xuống đột ngột, hoặc bị gián đoạn ở giữa (nếu âm chính là một nguyên âm ngắn), sau đó vút lên ngang với cao độ cũ và đi thêm một quãng ba thứ nữa

Trong hệ thống thanh điệu tiếng Lào không có thanh điệu nào tương đương với thanh ngang trong tiếng Việt Do đó việc HVQSL phát âm sai thanh ngã là điều dễ hiểu HVQSL khi phát âm thanh ngã đã lược bỏ hoàn toàn

Trang 39

đường nét lúc bắt đầu của thanh ngã và chỉ phát âm phần nửa sau của đường nét khi nó bắt đầu vút lên giống như thanh sắc trong tiếng Việt và tiếng Lào

Từ kết quả khảo sát cho thấy, nguyên nhân dẫn đến việc HVQSL mắc lỗi phát âm thanh ngã đó là do lỗi tự ngữ đích Do ngữ đích là tiếng Việt có thanh ngã nhưng trong tiếng mẹ đẻ (tiếng Lào) lại không có thanh điệu nào tương tự thanh ngã trong tiếng Việt Do đó các bạn học viên sẽ đơn giản hóa phát âm thanh ngã để dễ dàng phát âm âm tiết tiếng Việt Việc mắc lỗi phát

âm này gây ra nhiều khó khăn khi giao tiếp đối với HVQSL Nó làm cho người nghe không hiểu người nói muốn nói gì hoặc hiểu sai ý của người nói

Ví dụ: Khi các bạn HVQSL muốn nói “ Tôi không làm vỡ cái cốc đó” ([toi̭1 xoŋ1 lam2 vɤ3 kai̭5 kok5 dͻ5]) thì họ sẽ phát âm thành “Tôi khôông làm vớ cái cốôc đó” ([toi̭1 xo:ŋ1 lam2 vɤ5 kai̭5 ko:k5 dͻ5])

Hoặc: “ Vỡ là gì?” ([vɤ3 la2 z2]) => “Vớ là dì?” ([vɤ5 la2 z2]) như vậy

sẽ khiến người nghe cảm thấy khó hiểu hoặc không hiểu người nói muốn nói

gì Điều này ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình giao tiếp, nếu không được khắc phục sẽ ảnh hưởng tới quá trính học tiếng Việt của HVQSL

2.2.1.2.2 Lỗi phát âm thanh hỏi

Với 50 CTV được điều tra thì có đến 82,2% CTV phát âm sai thanh hỏi 82,2% CTV sử dụng biến thể đánh dấu của thanh hỏi giống như đang phát âm thanh sắc

Ví dụ:(phiếu điều tra số 6)

Phở => phớ ( [fɤ4] => [fɤ5] )

Đủ => đú ( [du4 ] => [du5 ]

Gió thổi => Dó thối ([zɔ5 tʻo:i̭4 => zɔ5 tʻo:i̭5 ] )

Ví dụ: (giao tiếp hàng ngày ở học viên lớp TV8)

Cho em mua vở một quyển => Cho em mua vớ một quyến

Trang 40

Theo kết quả khảo sát, HVQSL mắc lỗi phát âm thanh hỏi cả khi đọc văn bản và khi nói chuyện giao tiếp hàng ngày với tần số rất cao

Thanh hỏi trong âm tiết tiếng Việt được phát âm bắt đầu ở mức cao của

độ xuất phát thanh huyền Nó kết thúc ở cao độ thấp Đường nét âm điệu thấp dần từ khi bắt đầu đến một quãng sáu thì chuyển sang một nét đi lên cân đối với nét đi xuống ban đầu và kết thúc bằng với cao độ xuất phát Sự chuyển hướng đi của đường nét này được gọi là đặc trưng “gãy” của âm điệu

Trong khi đó, đường nét của thanh sắc có phần đơn giản hơn Nó bắt đầu ở quãng thanh không dấu sau đó có thể đi ngang một quãng rồi đi lên với những âm cuối không phải âm tắc vô thanh, hoặc đi lên luôn và lên thẳng với những âm tiết có âm cuối là âm tắc, vô thanh

Mặc dù có thể thấy, trong ngữ âm tiếng Lào cũng có thanh hỏi giống như trong tiếng Việt Tuy nhiên thanh hỏi trong tiếng Lào là thanh hỏi nhẹ,

Ngày đăng: 22/09/2020, 16:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w