1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện tiêu chí xác định nhiệm vụ khoa học của các tổ chức khoa học và công nghệ trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm

108 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ KHOA HỌC CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ĐIỀU

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI

HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ KHOA HỌC CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ĐIỀU KIỆN

TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2014

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI

HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ KHOA HỌC CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ĐIỀU KIỆN

TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60 34 72

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Kim

Hà Nội, 2014

Trang 3

1

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là kết quả sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu của cá nhân tôi Trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình từ nhiều phía:

Trước hết, cho tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Văn Kim đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện luận văn, cảm ơn những ý kiến định hướng và góp ý quý báu của PGS.TS Vũ Cao Đàm, TS Đào Thanh Trường góp phần cho thành công của luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Lãnh đạo Phòng Quản

lý Nghiên cứu khoa học, các giảng viên, chuyên gia và đồng nghiệp những người đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Khoa học Quản lý – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiên luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo, các bạn học viên và những người quan tâm để luận văn có được kết quả cao nhất

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Thị Tuyết Mai

Trang 4

2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do nghiên cứu 6

2 Lịch sử nghiên cứu 8

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 11

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 13

3.1 Mục tiêu nghiên cứu: 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13

4 Phạm vi nghiên cứu 14

5 Mẫu khảo sát 14

6 Câu hỏi nghiên cứu 14

7 Giả thuyết nghiên cứu 14

8 Phương pháp nghiên cứu 15

8.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu 15

8.2.Phương pháp phỏng vấn 15

8.3 Phương pháp quan sát 15

8.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia 16

9 Kết cấu của luận văn 16

CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ KHOA HỌC CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM 17

1.1 Một số khái niệm cơ bản 17

1.1.1 Nhiệm vụ khoa học (NVKH) và phân loại NVKH 17

1.1.2 Tổ chức khoa học và công nghệ 20

1.1.3 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm 23

1.2 Khái niệm và yêu cầu của tiêu chí xác định NVKH 26

1.2.1 Tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học 26

1.2.2 Yêu cầu của tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học 28

Trang 5

3

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ KHOA CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM 32

2.1 Khái quát về Trường ĐHKHXH&NV 32

2.2 Hiện trạng công tác tổ chức và quản lý nghiên cứu khoa học của Trường ĐHKHXH&NV 34

2.2.1 Tình hình các nguồn lực đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học 34

2.2.2 Tình hình triển khai NVKH của trường ĐHKHXH&NV 43

2.3.Thực trạng xác định NVKH của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2012 50

2.3.1 Quy trình đánh giá lựa chọn NVKH 52

2.3.2.Tiêu chí xác định NVKH của trường ĐKHXH&NV 55

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NVKH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM 61

3.1 Căn cứ xây dựng tiêu chí xác định NVKH 61

3.1.1 Các văn bản quy định về quản lý khoa học và công nghệ 61

3.1.2 Căn cứ đặc thù của khoa học trong lĩnh vực KHXH và nhân văn 64

3.2 Hệ tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Trường ĐHKHXH&NV trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm 67

3.2.1 Nhóm tiêu chí bắt buộc thuộc bản chất của hoạt động NCKH 67

3.2.2 Nhóm tiêu chí ưu tiên 71

3.3 Đánh giá của chuyên gia về hệ thống tiêu chí và khuyến nghị 72

3.3.1 Ý kiến đánh giá của chuyên gia về hệ thống tiêu chí 72

3.3.2 Một số khuyến nghị 76

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 87

Trang 6

4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các mô hình tổ chức trong hoạt động KH&CN 21

Bảng 2.1 Các đơn vị chức năng của Trường ĐHKHXH&NV 35 Bảng 2.2 Các ngành, chuyên ngành đào tạo của Trường ĐHKHXH&NV 35

Bảng 2.3 Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Trường ĐHKHXH&NV 36 Bảng 2.4 Kinh phí đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học 37 Bảng 2.5 Tổng hợp nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học của các tổ chức nước ngoài 38

Bảng 2.6 Thống kê số lượng sách báo, tạp chí,…từ năm 2008 đến

Bảng 2.7 Thống kê số liệu sách, báo, tạp chí trên đầu giảng viên, sinh viên và môn học 42 Bảng 2.8 Tỷ lệ bài báo đăng trên tạp chí KH cấp quốc gia và quốc tế 43 Bảng 2.9 Số lượng đề tài ký mới hàng năm từ 2008-2012 44

Bảng 2.11 Tỷ lệ đề tài nghiệm thu đúng hạn (tính các đề tài được

Bảng 2.12 Chất lượng đề tài đã nghiệm thu (tính các đề tài được thực

Bảng 2.13 Thành tích Giải thưởng KHCN của Cán bộ và sinh viên 48

Trang 7

5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐHKHXH&NV : Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn NVKH : Nhiệm vụ khoa học

KH&CN : Khoa học và Công nghệ

NCKH : Nghiên cứu khoa học

R&D : Research & Devolopment

Trang 8

đó, tự chủ, tự chịu trách nhiệm là một trong những cơ chế quan trọng, mang tính phổ biến của các tổ chức khoa học và công nghệ trên thế giới

Theo xu hướng tất yếu này, Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu, ban hành những văn bản pháp quy nhằm tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ: Ngày 05 tháng 9 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 115/2005/NĐ- CP quy định cơ chế

tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Ngày 5 tháng 6 năm 2006, Bộ KH&CN, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ ban hành Thông

tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV hướng dẫn thực hiện Nghị định này Ngày 19 tháng 5 năm 2007, Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ ban hành và được hướng dẫn bởi Thông tu liên tịch số 06 /2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 18 tháng 6 năm 2008 Sau

đó, do thực tiễn thực hiện chính sách, Chính phủ Việt Nam đã tiếp tục điều chỉnh, bộ sung các văn bản này: Nghị định 96/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Nghị định số 80/2007/NĐ-

CP và Thông tư số 36/2011/TTLT-BKHCN-BTC-BNV sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT-BKHCN-BTC-BNV Như vậy, có thể nói, Việt Nam đã có hành lang pháp lý phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức và doanh nghiệp khoa học và công nghệ nhằm thúc đẩy tính sáng tạo trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội

Trang 9

7

Cũng trong thời gian qua, Việt Nam đã xác định các trường đại học cũng là một tổ chức khoa học và công nghệ, coi nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường đại học Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ cũng như số giờ chuẩn nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ giảng viên Đặc biệt, một số trường đại học đang có chiến lược xây dựng và phát triển thành đại học nghiên cứu đã xác định nghiên cứu khoa học như một nhiệm vụ cơ bản và quan trọng của mình Như vậy, cùng với quy định và trao quyền tự chủ cho các trường đại học, các trường đại học ở Việt Nam hiện nay cũng là một tổ chức khoa học và công nghệ

Là thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, ngoài đặc thù của một tổ chức đại học hai cấp, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng là một trường đại học được tự chủ trong hoạt động của mình trong đó có hoạt động nghiên cứu khoa học – hoạt động quan trọng trong chiến lược phát triển của Trường Tự chủ, tự chịu trách nhiệm là một cơ chế nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức nói chung và các tổ chức khoa học và công nghệ nói riêng Tuy nhiên, tính hiệu quả này còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề khác nhau của tổ chức khoa học và công nghệ như chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học, năng lực đánh giá, thẩm định các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, năng lực tổ chức triển khai các nhiệm vụ khoa và công nghệ Trong đó, việc thẩm định để xác định các nhiệm vụ khoa học rất quan trọng, là điều kiện tiên quyết

để đảm bảo tính mới, tính sáng tạo trong hoạt động của các tổ chức khoa học

và công nghệ Đây là một vấn đề phức tạp trong thực tiễn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay Khoa học và công nghệ Việt Nam nói chung chưa có những đóng góp xứng tầm vóc “động lực” thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Nhiều sản phẩm khoa học và công nghệ sau nghiên cứu không thực sự phát huy tác động trong thực tiễn do

Trang 10

8

nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó, theo chúng tôi, việc chưa có hệ tiêu chí xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ một cách khoa học là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới những nghiên cứu trùng lặp, những nghiên cứu không xuất phát từ yêu cầu phát triển khoa học cũng như yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội

Với lí do đó cùng với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc thúc đẩy

sự phát triển của hoa học và công nghệ, làm cho nó thực sự trở thành “đòn bẩy” của sự phát triển, nhất là trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức, chúng

tôi chọn đề tài Hoàn thiện tiêu chí xác định NVKH của tổ chức khoa học và

công nghệ trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG HN) cho luận văn

thạc sĩ này

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Chúng ta biết, ở các nước tiên tiến, các viện nghiên cứu,các tổ chức khoa học và công nghệ,các doanh nghiệp khoa học và công nghệ không tồn tại độc lập mà nằm trong các đại học Do đó, khi nói đến tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đại học cũng là nói đến tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các

tổ chức khoa học và công nghệ (viện, trung tâm nghiên cứu) với tính cách là một thành tố của nó

Trên bình diện lý luận, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn có thể được chia thành 2 nhóm:

Nhóm các công trình đề cập đến tính tự chủ đại học như: University Autonomy, the State and Social Changes in China của tác giả Su- Yan Pan; University Autonomy in Europe Exploratory Study của tác giả Thomas

Estermann Khi nói đến vấn đề tự chủ đại học trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu, bài viết về những vấn đề đã và đang làm được đồng thời còn có

Trang 11

9

những tồn tại khi nói đến một đại học tự chủ Chính vì vậy, có rất nhiều quan

điểm trong cuộc tranh luận “ tự chủ đại học là gì ?” và đây thực sự là một nghiên cứu mà các nước trên thế giới cũng đưa ra nhiều cách nhìn khác nhau điều này bắt nguồn chính từ khái niệm về tự chủ trong trường Đại học? Và nhiều nghiên cứu khẳng định rằng tự chủ là biểu hiện mối quan hệ giữa nhà nước và các trường đại học Định nghĩa cổ điển về tự chủ đại học là “quyền lực của nhà trường được tự điều khiển việc vận hành của mình mà không bị kiểm soát từ bên ngoài”1

Theo quan điểm này, tự chủ đại học là bản chất nội tại của trường đại học và là điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện một cách hữu hiệu chức năng và trách nhiệm của nó đối với xã hội2

Tại hội thảo tháng 4/2010 tại Đại học Cyprus, Nicosia tác giả Thomas Estermann - Trưởng Ban Quản trị, Quyền tự chủ và tài trợ Hiệp hội Đại học ở châu Âu đã có một nghiên cứu về tự chủ trong các trường Đại học tại châu Âu (University Autonomy in Europe Exploratory Study) Ông đã đưa ra bốn vấn đề tự chủ trong trường Đại học ở châu Âu đó là:

1 Berdahl, Graham và Piper, 1971

2 Thorens, 1993

Trang 12

10

Trong cuốn sách của tác giả Su – Yan Pan “University Autonomy, the

State and Social Changes in China” được in tại Hồng Kông vào tháng 8 năm

2009, cũng đã nói rất nhiều đến vấn đề tự chủ đại học của các trường Đại học

ở Trung Quốc và tác giả lấy ngay ví dụ cụ thể là Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh Từ khởi điểm là một đại học truyền thống sau đó phát triển và thực

sự trưởng thành khi trở thành là một trường đại học tự chủ Khởi nguồn chính

trong bài viết này đó là nói đến khái niệm “thế nào là một trường Đại học?”

và “những quan niệm đa chiều về tự chủ đại học” của các tác giả trên thế

giới, tác giả đưa ra những ví dụ cụ thể của các nước phương Tây và đã khẳng định rằng có ba mô hình về quản trị đại học trên thế giới đó là:

- Mô hình tự chủ tuyệt đối

- Mô hình nhà nước giám sát

- Mô hình nhà nước kiểm soát

Với mô hình đó, tác giả có phân tích đến mối quan hệ giữa Nhà nước và trường Đại học, đó là nhà trường hoàn toàn tự do không bị nhà nước kiểm soát, nhà nước kiểm soát có mức độ và mô hình thứ ba này là nhà nước kiểm soát hoàn toàn, tác giả đã đưa ra mối quan hệ giữa nhà nước và trường đại học ở Trung Quốc và cụ thể là Đại học Thanh hoa trong vấn đề phát triển từ một đại học truyền thống thành đại học tự chủ và những thăng trầm của Đại học Thanh Hoa gặp phải trong quá trình chuyển đổi đó Hiện tại, Đại học Thanh Hoa đã thực sự đạt được nhiều thành công trong vấn đề tự chủ đại học của mình Tóm lại, ý nghĩa của tự chủ đại học được định hình bằng cuộc đấu tranh của Đại học Thanh Hoa nhằm thực hiện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế mà chính phủ Trung Quốc giao với những nỗ lực của nó nhằm đạt được quyền tự quản lý điều hành mà không bị can thiệp từ bên ngoài Những nỗ lực của Thanh Hoa về tự chủ đại học đã chịu ảnh hưởng qua gần một thế kỷ của cả tư tưởng phương Tây và truyền thống của người Trung Quốc về giáo dục đại học, được mở rộng từ Trung Hoa đế quốc đến thế giới toàn cầu hóa hiện tại

Trang 13

11

Nhóm các công trình bàn về tiêu chí xác định, đánh giá nhiệm vụ khoa học

và công nghệ gồm: Use of exclusion criteria in selecting research subjects and its effect on the generalzability of alcohol treatment outcome studies của

Humphreys K Weisner C; Choosing the Right Projects: Designing Selection

Processes for North-South Research Partnership Programmes của Priska

Sieber, v.v Chúng ta thấy, trên bình diện lý luận ít có công trình nghiên cứu chuyên về tiêu chí xác định hay lựa chọn nhiệm vụ khoa học và công nghệ nói chung mà chỉ có những công trình, sách hướng dẫn về tiêu chí xác định các đề tài, dự án nghiên cứu trong một lĩnh vực cụ thể Tuy nhiên, các công trình này

cũng đã đề cập đến một số tiêu chí chung như tính mới, tính thực tiễn, v.v

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Vấn đề “tự chủ Đại học” cũng là một chủ đề đặt ra nhiều tranh luận ở Việt Nam, có rất nhiều hội thảo, tọa đàm đã trao đổi về vấn đề này, gần đây nhất trong hội thảo khoa học: “Các vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam” được tổ chức vào ngày 23/10/2009 tại Thành phố Hồ Chi Minh đại diện là Trường Đại học Sư phạm

Tp Hồ Chí Minh, thay mặt Ban Liên lạc các trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam (VUN) tổ chức Hội thảo khoa học Đã có 35 bài viết đại diện cho

35 trường Đại học bàn về tự chủ đại học mỗi bài viết đều nói lên thực trạng của chính trường Đại học của mình và đưa ra những giải pháp riêng cho đặc thù của từng trường, từng ngành nổi bật là các bài viết: Xu hướng tự chủ -

tự chịu trách nhiệm ở các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam: Lý luận và thực tiễn [20, tr21] Tự chủ Đại học = Tự chủ học thuật + Tự chủ + Trách nhiệm [20, tr33] Tự chủ - Một hình thức “khoán 10” cho giáo dục Đại học tại Việt Nam hiện nay [20,tr 68] Thực thi cơ chế “tự chủ” cho các trường đại học công lập: Cơ sở để phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập [20, tr 92] Quản lý đội ngũ giảng viên trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực ở Việt Nam theo quan điểm tự chủ và trách nhiệm xã hội [20, tr151] Vấn đề tự chủ - tự

Trang 14

12

chịu trách nhiệm ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội [20,tr 212] Một số giải pháp về công tác tổ chức, quản lý bộ máy, cán bộ tại trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau trong tiến trình thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm [20,tr189] Tăng cường tự chủ, trách nhiệm xã hội của giáo dục đại học – Yêu cầu từ thực tế [20,tr 257]

Tất cả những tham luận đó cùng đề cập đến những kinh nghiệm, những thuận lợi, những điểm bất cập và khó khăn gặp phải thực hiện quyền tự chủ ở các trường và vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam thời gian qua trong các lĩnh vực:

- Tổ chức quản lý bộ máy, cán bộ, sinh viên

- Các chương trình, nội dung đào tạo

- Các chuẩn mực khoa học, nghiên cứu khoa học và công bố

- Hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học

- Quản trị, tài chính và hành chính trong quản lý v.v

Và đồng thời đề xuất những giải pháp thuộc tất cả các lĩnh vực (mức độ

tổ chức, quản lý, kế hoạch thực hiện, chương trình, nội dung giảng dạy, tài

chính, chính sách v.v…) và lộ trình thực hiện quyền tự chủ của các trường

Tháng 10/2011, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức hội thảo “Các xu thế quản trị đại học kinh nghiệm Thế Giới và Việt Nam” tại Viện Đảm bảo Chất lượng Giáo dục, trong đó có thuyết trình của Giám đốc Đại học Quốc gia về kinh nghiệm, định hướng phát triển của Đại học Quốc gia và giáo sư John McDonal, một giáo sư người Mỹ nói về những kinh nghiệm trong quản trị Đại học tại Mỹ và những gợi ý tưởng tượng về một trường đại học Mỹ tại Việt Nam [12] Gần đây nhất là toạ đàm về “Sự trưởng thành và phát triển của các trường Đại học” được tổ chức tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội vào ngày 14 đến 16 tháng 11 năm 2012

do Trung tâm Phân tích Chính sách của Trường nay là Viện Chính sách và Quản lý, (đại diện là TS Đào Thanh Trường chủ trì) với sự tham gia của 10

Trang 15

13

nước trên Thế giới Tọa đàm là một diễn đàn trao đổi giữa các nước về những bài học thực tiễn trong quản trị đại học trên Thế giới và gợi ý những giải pháp cho phát triển giáo dục và công nghệ trong các Trường Đại học

Cùng sự phát triển chung về quản trị đại học trên thế giới và trong nước thì những kinh nghiệm và thực tiễn đã trải qua trong vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm còn nhiều vấn đề tranh luận sôi nổi song tại trường Đại học Khoa học xã hội Nhân văn chưa có một đề tài, luận văn nào nghiên cứu về vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xác định NVKH của Trường

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Trên cơ sở khái quát và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và khảo sát thực trạng xác định nhiệm

vụ nghiên cứu khoa học và các tiêu chí xác định các nhiệm vụ này của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, luận văn đề xuất một số cơ sở, giải pháp hoàn thiện hệ thống các tiêu chí xác định NVKH của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài (thao tác hóa một số khái niệm liên quan đến đề tài như khái niệm tiêu chí, NVKH, tổ chức KH&CN,….làm rõ đặc điểm hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội, yêu cầu về tiêu chí xác định NVKH)

- Đánh giá thực trạng việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học (NVKH) của Trường ĐHKHXH&NV

- Đề xuất cơ sở, giải pháp hoàn thiện hệ thống tiêu chí xác định NVKH

của Trường ĐHKHXH&NV

Trang 16

14

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Trường ĐHKHXH&NV – Đại

học Quốc gia Hà Nội

- Phạm vi về thời gian khảo sát số liệu: 5 năm trở lại đây (từ năm 2009 đến 2013)

5 Mẫu khảo sát

- Các công trình nghiên cứu khoa học xã hội;

- Các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ

- Cán bộ, giảng viên trực tiếp thực hiện đề tài

- Các chuyên gia

- Cán bộ lãnh đạo các Khoa, Phòng, Trung tâm , chuyên viên chuyên trách quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học

6 Câu hỏi nghiên cứu

Việc xác định tiêu chí lựa chọn NVKH của Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm hiện nay là như thế nào?

Những cơ sở và giải pháp nào để có thể hoàn thiện tiêu chí trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Ngoài một số tiêu chí mang tính quan điểm chỉ đạo như ưu tiên các nhiệm vụ khoa học cơ bản, ưu tiên cán bộ giảng dạy hiện đang là học viên sau đại học, việc xác định NVKH của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn còn dựa nhiều vào kinh nghiệm chuyên môn của các chuyên gia, các nhà quản lý

- Ngoài một số tiêu chí chung xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cần có văn bản hướng dẫn nhằm xây dựng tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu phù hợp với những đặc thù của lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Trang 17

15

8 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, quản điểm lý thuyết của Vũ Cao Đàm trong cuốn “Đánh giá nghiên cứu khoa học” – NXB KH&KT, năm 2007, cuốn “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” – NXB Giáo dục, năm 2007 cũng như các tiêu chí, quan điểm về nhiệm

vụ nghiên cứu khoa học của trường ĐHKHXH&NV trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về tự chủ đại học

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau

8.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu

Tài liệu, kết quả nghiên cứu của các công trình đã được công bố có liên quan đến đề tài nghiên cứu cùng các sơ sở dữ liệu thu được trong quá trình điều tra, khảo sát tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn sẽ được phân tích, khái quát, tổng hợp nhằm xây dựng luận chứng, luận cứ chứng minh giả thuyết của luận văn

8.2 Phương pháp phỏng vấn

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 10 người được cơ cấu thành 5 nhóm như sau:

- Nhóm 1: Các giảng viên thực hiện đề tài cấp cơ sở: 04

- Nhóm 2: Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp khoa (bao gồm cả thành viên của Hội đồng Khoa học – Đào tạo): 03

- Nhóm 3: Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phòng đồng thời là thành viên của Hội đồng Khoa học – Đào tạo cấp trường: 02

- Nhóm 4: Cán bộ lãnh đạo cấp trường đồng thời là chủ tịch hoặc phó chủ tịch Hội đồng Khoa học – Đào tạo cấp trường: 01

8.3 Phương pháp quan sát

Chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát để quan sát quy trình nghiệm thu một đề tài nghiên cứu khoa học; quan sát cách thức quản lý vấn đề khoa

Trang 18

16

học của Trường; quan sát quy trình làm việc của hội đồng nghiệm thu để có được cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu

8.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia

Sau khi đề xuất hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá, tuyển chọn nhiệm vụ

khoa học cấp cơ sở của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến của chuyên gia về những tiêu chí được xây dựng cũng như tính khả thi của hệ thống tiêu chí mới này Từ

đó, làm căn cứ cho việc đưa ra những khuyến nghị đối với Trường ĐHKHXH&NV để áp dụng hệ thống tiêu chí này vào thực tiễn công tác đánh giá tuyển chọn NVKH cấp cơ sở góp phần khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong công tác đánh giá, tuyển chọn NVKH khoa học xã hội hiện nay

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về tiêu chí xác định NVKH của các tổ chức khoa học và công nghệ trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm Chương 2 Thực trạng việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Chương 3 Xây dựng tiêu chí xác định NVKH của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Trang 19

17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ KHOA HỌC

CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Nhiệm vụ khoa học (NVKH) và phân loại NVKH

Khoa học là khái niệm đang được tiếp cận trên 4 phương diện cơ bản

như: Khoa học là một hệ thống tri thức, Khoa học là một hoạt động sản xuất

tri thức, Khoa học là một hình thái ý thức xã hội, Khoa học là một thiết chế xã hội Luận văn tiếp cận khoa học như là hoạt động sản xuất tri thức, hay hoạt

động sáng tạo và được gọi là hoạt động nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động có tính quy trình từ việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu, đến việc triển khai nghiên cứu, đánh giá kết quả nghiên cứu và công bố hoặc ứng dụng (nếu có) Để hoạt động nghiên cứu khoa học có hiệu quả, các quy trình của nó cần phải được đánh giá khách quan, khoa học trong đó khâu đầu tiên là xác định nhiệm vụ khoa học

Một cách thông thường, nhiệm vụ khoa học là những công việc mà người nghiên cứu (hoặc nhóm nghiên cứu) lựa chọn thực hiện Theo Vũ Cao Đàm, NVKH có 4 loại cơ bản:

- Thứ nhất: NVKH chính là chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của

quốc gia được ghi trong các văn kiện chính thức của các cơ quan có thẩm quyền Chẳng hạn: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Chính sách cải cách hệ thống hành chính của Chính phủ, v.v Mỗi chiến lược và chính sách này đều cần được nghiên cứu để tìm biện pháp thực hiện Chính đó

là cơ sở để tìm kiếm cơ hội nghiên cứu

- Thứ hai: NVKH là nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá

nhân hoặc tổ chức nghiên cứu Cấp trên của cơ quan nghiên cứu có thể là Tổng giám đốc của hãng, Bộ trưởng một bộ Họ là những người nắm được chiến lược phát triển của đơn vị do mình phụ trách

Trang 20

18

- Thứ ba: NVKH là nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với đối tác Đối

tác là người đặt hàng thực hiện một yêu cầu nghiên cứu theo hợp đồng Đối tác có thể là doanh nghiệp, hoặc tổ chức xã hội, hoặc cơ quan chính phủ

- Thứ tư: NVKH là nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình

xuất phát từ ý tưởng khoa học của bản thân người nghiên cứu

Tuy nhiên, để lựa chọn được một nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nó cần phải được trải qua một quá trình đánh giá nghiêm túc dựa trên những căn

cứ sau:

Nhiệm vụ có ý nghĩa khoa học hay không?

Nhiệm vụ có mang một ý nghĩa thực tiễn nào không?

Nhiệm vụ có phải cấp thiết phải nghiên cứu hay không?

Nhiệm vụ có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành không?Nhiệm

vụ có phù hợp với sở thích hay không?

Tuy nhiên, đánh giá lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu cần phải có những tiêu chí cụ thể, phù hợp với mỗi loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học Do đó, trước khi đề cập đến tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chúng

ta cần xác định loại cho từng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học Như vậy, về mặt

lý thuyết, chúng ta cần phân loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học

Để nhận diện và phân loại nói chung và phân loại NVKH, chúng ta cần phải dựa trên những căn cứ logic nhất định Mỗi căn cứ logic cho phép chúng

ta có thể phân chia nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thành những loại nhất định

Dựa trên tính chất, mục đích nghiên cứu, chúng ta có 3 loại nhiệm vụ

nghiên cứu khoa học:

+ Nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản: Là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể

là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới

Trang 21

19

+ Nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng: Là những nghiên cứu nhằm vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp

+ Nhiệm vụ nghiên cứu triển khai: Là những nghiên cứu nhằm vận dụng các lý thuyết để đưa ra các vật mẫu (prototype) và công nghệ sản suất vật mẫu

với những tham số khả thi về kỹ thuật

Tuy nhiên, mỗi loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trên đều có thể được phân loại nhỏ hơn như sau:

(Nguồn: Vũ Cao Đàm, Tuyển tập các công trình đã công bố tập1[6,tr95]

Dựa vào đối tượng khoa học, chúng ta có thể phân loại nhiệm vụ

nghiên cứu khoa học theo lĩnh vực như nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tự nhiên, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn …

Dựa trên cấp quản lý, chúng ta có thể phân loại nhiệm vụ nghiên cứu

khoa học theo từng cấp quản lý hành chính Ở Việt Nam, chúng ta thấy có những nhiệm vụ nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Đại học Quốc gia, cấp cơ sở Tương ứng với mỗi loại nhiệm vụ nghiên cứu này là số kinh phí được cấp để triển khai nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ bản

Nghiên cứu ứng dụng

Triển khai

Nghiên cứu cơ bản thuần tuý

Triển khai trong labô

Triển khai bán đại trà

Nghiên cứu nền tảng

Làm Pilot

Sản xuất Serie O

Nghiên cứu cơ bản

chuyên đề Tạo Prototype

Trang 22

20

Dựa trên thời gian nghiên cứu, chúng ta có thể phân chia nhiệm vụ

nghiên cứu khoa học thành nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn, nhiệm vụ nghiên

cứu khoa học trung hạn và nhiệm vụ nghiên cứu ngắn hạn

Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học dài hạn được đặt mục đích theo sứ mệnh, theo những chương trình hành động của tổ chức Những nhiệm vụ, những chương trình này thường được chia nhỏ ra từng thời gian và những nhiệm vụ đó là những nhiệm vụ ngắn hạn hoặc trung hạn Mỗi loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đều cần có hệ thống tiêu chí đánh giá lựa chọn cụ thể Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tập trung vào xây dựng tiêu chí đánh giá lựa chọn nhiệm vụ khoa học xã hội và nhân văn Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cũng có thể là nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, cũng có thể là nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ứng dụng Tuy

nhiên, không phổ biến nhưng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo phân cấp

quản lý được đề cập trong luận văn này bởi đây là những nhiệm vụ nghiên

cứu khoa học phản ánh rõ nhất tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ, trong đó có Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn như trường hợp nghiên cứu của luận văn

1.1.2 Tổ chức khoa học và công nghệ

Tổ chức khoa học và công nghệ là một tập hợp các hoạt động được thành lập dưới các tổ chức nhằm liên kết các yếu tố của nguồn lực khoa học bao gồm phân công nhân lực, phân bổ tài chính, đảm bảo vật tư, thiết kế các kênh thông tin v.v Tổ chức khoa học là một thực thể không gian (tổ chức) trong

đó nhân lực được sắp xếp theo một cấu trúc xác định, được phân chia chức năng và được liên kết theo một trật tự xác định do trình tự của hoạt động khoa học chi phối Trên thế giới, các tổ chức hoạt động KH&CN được tổ chức theo nhiều mô hình khác nhau và được Vũ Cao Đàm tóm tắt thành bốn loại cơ bản như sau:

Trang 23

21

Mô hình I: Là mô hình cổ điển nhất, trong đó, các tổ chức R&D thực

hiện trọn vẹn các giai đoạn của quá trình nghiên cứu và triển khai, còn các doanh nghiệp chỉ làm nhiệm vụ sản suất và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất Giữa tổ chức R&D và doanh nghiệp tồn tại các công ty tư vấn đóng vai trò cầu nối từ R&D tới sản xuất

Mô hình II: Là một nỗ lực của doanh nghiệp hướng tới làm chủ công

nghệ mới bằng cách tự mình làm triển khai, từ khâu chế tạo vật mẫu sản phẩm mới (prototype), làm pilot để xây dựng công nghệ và sản luất loạt “series 0” đưa vào sản xuất công nghiệp và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất

Mô hình III: Tổ chức R&D tạo ra các doanh nghiệp KH&CN

(xí nghiệp spin-off), chuyển toàn bộ khâu “triển khai” vào doanh nghiệp này, đồng thời để doanh nghiệp này kiêm luôn cả chức năng của một công

cơ bản

Nghiên cứu ứng dụng

Triển khai

Chuyển giao tri thức

Phát triên công nghệ

vấn

Doanh nghiệp

Mô hình III Tổ chức R&D Doanh nghiệp KH&CN Doanh

(Nguồn: Vũ Cao Đàm, Tuyển tập các công trình đã công bố [7,tr292])

Nghiên cứu về NVKH của các tổ chức KH&CN cụ thể là nghiên cứu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, để làm rõ các hoạt động và hiểu được tổ chức KH&CN, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu của luận văn, hai khái niệm cần được làm rõ bao gồm: tổ chức nghiên cứu và triển khai và

Trang 24

22

doanh nghiệp KH&CN Nhưng trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi

chỉ quan tâm tới tổ chức nghiên cứu và triển khai với lý do muốn làm rõ

khái niệm tổ chức R&D bởi Trường Đại học nói chung chính là một tổ chức khoa học và công nghệ

- Tổ chức nghiên cứu và triển khai được tổ chức dưới các hình thức: Viện nghiên cứu và triển khai, trung tâm nghiên cứu và triển khai, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và các cơ sở nghiên cứu và triển khai khác

- Các loại hình tổ chức nghiên cứu - triển khai:

 Viện Hàn lâm khoa học: là một tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó bao gồm một tập hợp các viện nghiên cứu khoa học với nhiều hướng chuyên môn khác nhau Mỗi hướng chuyên môn được tổ chức thành ban, mỗi ban gồm một số viện nghiên cứu chuyên ngành

 Khu công nghệ cao: là nơi tổ chức các hoạt động phục vụ cho phát trỉên công nghệ cao và công nghiệp công nghệ bao gồm: Các tổ chức nghiên cứu

và triển khai, các cơ sở đào tạo – huấn luyện, các doanh nghiệp công nghiệp

và dịch vụ trong lĩnh vực công nghệ cao nhằm tiếp thu, đồng hóa cải tiến các công nghệ được chuyển giao, sáng tạo công nghệ cao mới và sản xuất các sản phẩm công nghệ cao

 Các tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp quốc gia: Mô hình tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp quốc gia phổ biến ở các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa, còn những nước theo nền kinh tế thị trường thì hầu như không có

mô hình này Ở Việt Nam có hai cơ quan thuộc loại hình này là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

 Tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp bộ và trực thuộc các viện quốc gia gồm có: Viện nghiên cứu cơ bản; Viện nghiên cứu chính sách; Viện nghiên cứu công nghệ

Trang 25

23

 Tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp cơ sở : Đây là những tổ chức nghiên cứu và triển khai của các doanh nghiệp lập ra để nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật – công nghệ làm cơ sở cho đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển

Trên đây là các mô hình của các tổ chức KH&CN, chúng tôi muốn đưa

ra khái niệm, các loại hình tổ chức, để có cái nhìn tổng quan về các tổ chức

này và theo chúng tôi trường đại học cũng là một tổ chức KH&CN và là một

tổ chức nghiên cứu và triển khai thuộc khối hàn lâm

1.1.3 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Theo từ điển tiếng Việt: “tự chủ là tự điều hành, quản lý một công việc

của mình, không bị ai chi phối; Theo các từ điển tiếng Anh: Tự chủ (autonomy) cũng có nghĩa là tự quản hoặc tự trị (self-government), khái niệm này có thể

được áp dụng cho cá nhân hay tập thể hoặc một tổ chức Theo Bách khoa thư:

về quản lý tự chủ là mức độ độc quyền và độc lập mà một công việc cho phép người làm xác định xem sẽ thực hiện công việc đó như thế

Theo từ điển tiếng Việt thì trách nhiệm là “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu hậu quả” (Viện ngôn ngữ học 1987) Khái niệm “trách nhiệm” phản ánh sự ràng buộc của hành vi hay lời nói của một đối tượng đối với kết quả của các hành vi, lời nói đó Từ đây, chúng ta có thể thấy, tự chịu trách nhiệm là cá nhân, tổ chức phải chịu trách nhiệm trước xã hội, cộng đồng về những quyết định và hành vi của mình.Tự chủ gắn liền với tự chịu trách nhiệm hay nói cách khác chúng là

những khái niệm không tách rời và đồng nghĩa với “autonomy” trong tổ chức

KH&CN ở các nước có nền khoa học phát triển Nghĩa là, tổ chức KH&CN được toàn quyền quyết định các hoạt động của mình (chọn đề tài nghiên cứu, chính sách nhân lực, chính sách tài chính) Theo Phạm Thị Ly trong bài viết

“Tự chịu trách nhiệm và Trách nhiệm giải trình” (http://lypham.net/) tác giả cho rằng tự chủ có nghĩa là đi đôi với tự chịu trách nhiệm “tự chủ” không thể

Trang 26

24

đứng một mình “Tự chủ” đứng một mình rất dễ biến thành “tự tung tự tác” hay là tùy tiện vô nguyên tắc Nhất là trong một xã hội mà hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết bất cập, tự chủ càng không thể đứng một mình Tự

chủ phải gắn với trách nhiệm giải trình Trách nhiệm giải trình (accountability) là một khái niệm trong đạo đức học và khoa học về quản trị, với nhiều ý nghĩa Thuật ngữ này thường được dùng với cùng ý nghĩa như

những thuật ngữ trách nhiệm (responsibility), khả năng biện minh (answerability), nghĩa vụ pháp lý (liability), là những thuật ngữ liên quan tới

những mong đợi về khả năng chịu trách nhiệm Trách nhiệm giải trình là sự thừa nhận về trách nhiệm đối với mọi hành động, mọi sản phẩm, mọi quyết định hay chính sách mà chúng ta đưa ra trong việc lãnh đạo, quản lý, và thực hiện công việc; gắn với nghĩa vụ báo cáo, giải thích, biện minh cho mọi hậu

quả của những việc chúng ta làm Khả năng giải trình trách nhiệm được hiểu

như năng lực thực hiện nghĩa vụ thông tin đầy đủ, năng lực biện minh cho hành động của mình trong quá khứ hoặc tương lai, và chịu đựng sự trừng

phạt nếu như hành động ấy vi phạm các quy tắc đạo đức và pháp lý

Trong khuôn khổ luân văn này, chúng tôi sử dụng quan điểm về bản

chất “autonomy” của tác giả Vũ Cao Đàm, theo tác giả quyền “autonomy”

của các tổ chức KH&CN được thể hiện bằng các tiêu chí sau:

Thứ nhất, các tổ chức KH&CN có quyền tự trị trong xác định phương hướng phát triển khoa học Tự trị trong xác định phương hướng phát triển

khoa học tức là cộng đồng khoa học trong các tổ chức KH&CN lúc này hoạt động theo nguyên tắc phát huy tính chủ động của từng nhà khoa học từ lãnh đạo tới các nhân viên Từng nhà khoa học từ hoạt động khoa học, hợp tác quốc tế, thực tiễn sản xuất của mình đưa ra phương hướng phát triển Cộng đồng khoa học hoạt động theo hình thức dân chủ, cùng hội thảo để tìm ra phương hướng phát triển chung Nhà nước không đưa ra phương hướng phát triển cho tổ chức KH&CN mà chỉ hỗ trợ và tạo ra thiết chế điều chỉnh hoạt động cho phù hợp pháp luật

Trang 27

25

Thứ hai, các tổ chức KH&CN tự tìm kiếm nguồn tài trợ Các tổ chức

KH&CN sẽ chủ động trong việc tìm nguồn tài trợ nước ngoài, doanh nghiệp, địa phương, bộ, ngành Với ngân sách nhà nước, các tổ chức KH&CN sẽ xin cấp theo phương hướng phát triển khoa học của tổ chức đề ra, không ngồi chờ nhà nước cấp kinh phí như hiện nay

Thứ ba, Nhà nước phải xoá bỏ ràng buộc hành chính với các tổ chức KH&CN Hiện nay, mặc dù nhiều công việc đã được phân cấp xuống cho các

đơn vị nhưng thủ tục hành chính của nước ta vẫn còn phức tạp, chồng chéo

Để tiến hành tái cấu trúc, các tổ chức KH&CN phải được xoá bỏ ràng buộc hành chính, các thủ tục giấy tờ được thực hiện đơn giản, nhanh chóng Các tổ chức KH&CN phải được tự trị trong quản lý khoa học, quản lý các đề tài, trong công tác cán bộ, trong chuyển ngạch cán bộ, bầu cử…

Thứ tư, các tổ chức KH&CN thực hiện tự trị trong chuyển đổi tổ chức

Khi các tổ chức nghiên cứu và triển khai thực hiện thêm chức năng đào tạo và tái cấu trúc lại thì tổ chức trong tổ chức cũng phải thay đổi Lúc này tổ chức KH&CN không phải là tổ chức cơ học như trước mà phải chuyển sang tổ chức hữu cơ mềm dẻo, linh hoạt thay đổi liên tục do cùng lúc phải đảm đương thực hiện cả hai chức năng nghiên cứu và đào tạo, bản thân các cán bộ cũng vừa là cán bộ nghiên cứu, vừa là giáo viên giảng dạy Việc tự trị trong chuyển đổi tổ chức là cần thiết để đáp ứng với chức năng mới của tổ chức KH&CN

Thứ năm, các tổ chức KH&CN thực hiện tự trị trong xác định các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động khoa học Khi tự tìm phương

hướng phát triển khoa học cho mình, hơn ai hết, các tổ chức KH&CN là người xác định tốt nhất các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động khoa học của mình Các tổ chức KH&CN có thể thuê các cơ sở đánh giá, để

từ đánh giá khách quan đó tự xem xét và điều chỉnh lại phương hướng hoạt động khoa học của mình sao cho đạt được kết quả tốt nhất, mang lại hiệu quả

xã hội

Trang 28

26

Việc thống nhất khái niệm “autonomy” của các tổ chức KH&CN này sẽ giúp cho chúng ta hiểu rõ bản chất tự chủ trong khoa học, để khoa học được thực sự “sống” và “phát triển” theo đúng bản chất của nó

1.2 Khái niệm và yêu cầu của tiêu chí xác định NVKH

1.2.1 Tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học

Theo từ điển Wikipedia, tiêu chí (indicator) là các tiêu chuẩn dùng để kiểm định hay đánh giá một đối tượng, mà bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng, tuân thủ các quy tắc, quy định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó

Tiêu chí còn được hiểu là: Tính chất, dấu hiệu để làm căn cứ nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm Mỗi một tiêu chí phải phản ánh được một yêu cầu của nội dung cần đánh giá, một chỉ báo cụ thể, một tính chất của sự vật, hiện tượng hoặc một dấu hiệu nhận biết sự vật, hiện tượng đó

Trên cơ sở những quan điểm này, chúng tôi cho rằng tiêu chí là những dấu

hiệu dùng làm căn cứ để đánh giá, lựa chọn

Tiêu chí và lựa chọn (thẩm định) luôn có mối quan hệ với nhau: Lựa chọn (đánh giá trước – đánh giá đầu vào) bao giờ cũng phải thông qua công

cụ thẩm định đó là các tiêu chí, nếu thiếu tiêu chí sẽ không thực hiện được việc lựa chọn Như vậy, tiêu chí không chỉ là công cụ, phương tiện để lựa chọn mà nó còn mang ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của việc lựa chọn Tiêu chí xác định nhiệm vụ khoa học là tiêu chí dùng để thẩm định, đánh giá để lựa chọn hay xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học Vũ Cao Đàm đưa ra hai cách tiếp cận tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học như sau:

*Tiếp cận phân tích Nhiệm vụ khoa học được tiếp cận đánh giá lựa chọn

trên cơ sở chia nhỏ công trình nghiên cứu theo cấu trúc logic gồm 5 bộ phận cấu thành sau:

Trang 29

27

(1) Sự kiện khoa học: là cơ sở cho việc lựa chọn một chủ đề nghiên cứu

Sự kiện có thực sự mang tính khoa học không, có mang một giá trị khoa học không Có tồn tại khách quan, không áp đặt chủ quan? Đây được xem là yếu

tố quan trọng, quyết định đến chất lượng nghiên cứu

(2) Vấn đề khoa học: là câu hỏi đặt ra liên quan đến sự kiện khoa học, là câu hỏi mà người nghiên cứu phải trả lời trong quá trình nghiên cứu của mình Đây là yếu tố quyết định ý nghĩa của toàn bộ công trình nghiên cứu, là cơ sở để đặt ra các giả thuyết nghiên cứu

(3) Luận điểm khoa học: là kết quả chứng minh giả thuyết khoa học của tác giả, là câu trả lời của tác giả vào vấn đề khoa học được đặt ra ở trên Đây

là yếu tố cốt lõi nhất đặc trưng cho giá trị tri thức của một công trình nghiên cứu, là phần đóng góp trí tuệ quyết định nhất của tác giả để đặt tác giả vào một vị trí riêng biệt trong khoa học

(4) Luận cứ khoa học: là kết quả nghiên cứu của tác giả, là bằng cứ được

sử dụng để chứng minh luận điểm khoa học

(5) Phương pháp: là cách thức mà tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu, là cơ sở đảm bảo độ tin cậy của các luận cứ

Trên đây là 5 yếu tố của cấu trúc logic của một đề tài nghiên cứu khoa học được đưa ra theo phương pháp tiếp cận phân tích Mỗi yếu tố có những thuộc tính riêng, chúng độc lập với nhau nhưng lại mang tính logic rất chặt chẽ cùng hướng vào một mục tiêu nghiên cứu của đề tài, yếu tố này làm tiền đề, làm sáng tỏ cho yếu tố kia đảm bảo tính nhất quán cao của đề tài Nếu không đề tài sẽ rất dễ mắc lỗi logic, ảnh hưởng đến toàn bộ kết quả nghiên cứu

Từ các yếu tố của cấu trúc logic trên, Vũ Cao Đàm đưa ra 5 chỉ báo đánh giá để xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học như sau:

- Sự kiện: Có dựa trên quan sát khách quan hay không?

- Vấn đề: Có thực sự cấp thiết hay không?

Trang 30

28

- Giả thuyết: Có dẫn đến một luận điểm khoa học mới hay không? Có

ăn cắp của đồng nghiệp hay không?

- Luận cứ: Có thực sự khách quan và đủ minh chứng giả thuyết hay không? Có ăn cắp của đồng nghiệp không? Có bịa đặt hoặc nhào nặn số liệu để làm luận cứ hay không?

- Phương pháp: Các phương pháp được sử dụng có đủ đảm bảo cho luận cứ đáng tin cậy hay không?

*Tiếp cận tổng hợp: được sử dụng để lựa chọn một đề tài nghiên cứu

khoa học trong cả hai trường hợp thành công hoặc thất bại

- Một nhiệm vụ khoa học được lựa chọn phải thể hiện ở các yếu tố sau: + Tính mới: phải được thể hiện trong sự kiện khoa học, vấn đề khoa học và luận điểm khoa học

+ Tính tin cậy: được kiểm tra qua lai chỉ tiêu là: Luận cứ đã được chứng minh là đủ tin cậy hay không? và phương pháp có đảm bảo rằng những luận cứ đưa ra là đúng đắn về mặt khoa học hay không?

+ Tính khách quan: được kiểm tra bởi luận cứ có được tạo lập một cách đáng tin cậy hay không? và các phương pháp tác giả đưa ra có đủ đảm bảo cho tính khách quan của các luận cứ hay không?

+ Tính trung thực: kiểm tra thông qua tính đúng đắn trong trích dẫn các luận cứ, trong sử dụng các luận cứ thực tiễn, trong phép suy luận của người nghiên cứu

1.2.2 Yêu cầu của tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học

Trên cơ sở những phân tích trên và xuất phát từ bản chất của hoạt động nghiên cứu khoa học là tính mới, tính khoa học, phản ánh và phục vụ yêu cầu thực tiễn phát triển chúng tôi cho rằng các tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải xuất phát và cụ thể hóa bản chất của hoạt động nghiên cứu khoa học Đó là những yêu cầu chung cho việc xây dựng các tiêu chí xác định

Trang 31

29

nhiệm vụ nghiên cứu khoa học Như vậy, tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải đảm bảo được những yêu cầu cơ bản sau:

- Tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải phản ánh được

ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nhiệm vụ nghiên cứu khoa học

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học luôn ra đời và phát triển trên cơ sở phản ánh hiện thực khách quan và phục vụ yêu cầu của hoạt động thực tiễn, thậm chí khoa học còn phản ánh vượt trước thực tiễn (dự báo) và là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn Ở phương diện này, các nhiệm

vụ khoa học phải mang tính khách quan, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội

Ngoài ra, khoa học và công nghệ như một thực thể có quá trình phát triển riêng của nó Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cũng có thể phục vụ sự phát triển này Do đó, các tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cũng phải phản ánh được ý nghĩa của nhiệm vụ đối với sự phát triển của khoa học và công nghệ

- Tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải phản ánh được tính mới của nhiệm vụ nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá thế giới của những sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Tính mới là đặc điểm quan trọng nhất trong nghiên cứu khoa học vì trong nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện Như vậy, có thể thấy hoạt động nghiên cứu khoa học là một loại lao động trí óc mang tính sáng tạo, nó cho thấy năng lực và sự sáng tạo của người nghiên cứu, và đây cũng là điểm

cơ bản nhất phân biệt nó với lao động sản xuất bình thường Từ bản chất này, tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải có thể giúp các

Trang 32

và công nghệ, khả năng tài chính, v.v

- Tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải phản ánh được tính đặc thù của từng loại nhiệm vụ khoa học Tính đặc thù của nhiệm vụ

nghiên cứu khoa học trước hết thể hiện ở tính đặc thù của lĩnh vực như khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội, v.v Mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau có đặc thù khác nhau về tính chính xác, tính định lượng, độ trễ của việc ứng dụng trong thực tiễn, v.v Điều này đòi hỏi, mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau cần phải có những tiêu chí cụ thể, đặc thù phù hợp Tính đặc thù của nhiệm vụ nghiên cứu khoa học còn thể hiện ở tính đặc thù của nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng Tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản thường hướng tới tính sáng tạo: khả năng tạo ra những phát minh, sáng chế hoặc phát hiện mới Trong khi đó, tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng thường hướng tới ý nghĩa thực tiễn, giải pháp mới mà nhiệm vụ có thể đề xuất được Ngoài ra, tính đặc thù của nhiệm vụ nghiên cứu còn thể hiện ở tính dài hạn và ngắn hạn của nhiệm vụ nghiên cứu theo chuỗi logic: chương trình nghiên cứu, đề án nghiên cứu và đề tài nghiên cứu cụ thể Trong chuỗi nhiệm

vụ nghiên cứu này, tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu của các nghiên cứu ngắn hạn, cụ thể (đề tài nghiên cứu) thường hướng vào thực hiện mục tiêu của các nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn (chương trình nghiên cứu)

Trang 33

31

Như vậy, về nguyên tắc, các tổ chức khoa học và công nghệ phải căn

cứ vào lĩnh vực khoa học và công nghệ thế mạnh của mình, sứ mệnh, chiến lược của mình để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá nhằm thẩm định, xác định những nhiệm vụ nghiên cứu riêng của mình

Tiểu kểt chương 1

Kết thúc chương 1, chúng tôi đã đi làm rõ phần cơ sở lý luận của luận văn

Có thể tóm tắt các nội dung nghiên cứu sau đây:

1 Thống nhất cách hiểu về khái niệm nhiệm vụ khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, tự chủ tự chịu trách nhiệm, tiêu chí xác định nhiệm vụ

khoa học được sử dụng trong luận văn

2 Khoa học xã hội có những đặc thù riêng, khác với các khoa học chính xác Cần phải có một hệ tiêu chí lựa chọn NVKH Tiêu chí lựa chọn đó phải thể hiện được tính khách quan, logic, phù hợp với định hướng các nội dung nghiên cứu

3 Nghiên cứu khoa học trong các trường đại học, cao đẳng là để giải quyết những nhiệm vụ cấp thiết về công tác giáo dục và đào tạo, từ đó để nâng cao chất lượng đào tạo, tạo đồng thời tạo uy tín cho các trường đại học, cao đẳng

Các tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải cụ thể, giúp các nhà tuyển chọn nhiệm vụ khoa học đo lường được tính khách quan, tính mới, tính thực tiễn, tính khả thi của nhiệm vụ nghiên cứu khoa học Các tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải được thiết lập phù hợp với tính đặc thù về mặt loại hình của nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 34

32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN,

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 2.1 Khái quát về Trường ĐHKHXH&NV

Đại học Quốc gia Hà Nội là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao Tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội là Trường Đại học Đông Dương được thành lập vào ngày 16 tháng 5 năm 1906 Sau cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành lập Trường Đại học Quốc gia Việt Nam, khai giảng khóa đầu tiên ngày 15 tháng 11 năm 1945 Đây là trường học có cơ cấu tổ chức và chương trình đào tạo theo mô hình của một đại học đa ngành, đa lĩnh vực, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa xây dựng trên nền tảng của giáo dục cách mạng Việt Nam Sau hòa bình lập lại, năm 1956 trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội được thành lập

Ngày 10/12/1193, Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập theo Nghị định số 97/CP của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở sắp xếp và tổ chức lại 3 trường đại học là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ

Ngày 12/02/2001, Đại học Quốc gia Hà Nội được tổ chức lại theo Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Hiện nay, Đại học Quốc gia Hà Nội gồm các trường đại học thành viên và các khoa trực thuộc: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên; Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Trường Đại học Ngoại ngữ; Trường Đại học Công nghệ; Khoa Kinh tế, Khoa Luật, Khoa Sư phạm (nay là Đại học Giáo dục); Khoa Quản trị Kinh doanh; Khoa Sau đại học; Khoa Quốc tế Việt Nga

Trang 35

33

Trong hệ thống các trường đại học của Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội được tổ chức và hoạt động theo một quy chế riêng do Thủ tướng Chính phủ ban hành (Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg ngày 12/02/2001) Theo quy chế này, Đại học Quốc gia Hà Nội là trung tâm đào tạo nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Đại học Quốc gia Hà Nội có tư cách pháp nhân, có con dấu mang hình quốc huy, có tài khoản riêng, có quyền chủ động cao trong các hoạt động và tổ chức bộ máy Đại học Quốc gia Hà Nội được Nhà nước ưu tiên đầu tư về cán bộ, tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học – công nghệ để từng bước phát triển Đại học Quốc gia ngang tầm với các đại học có uy tín trong khu vực và quốc tế Đại học Quốc gia Hà Nội có một đội ngũ đông đảo cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học đầu ngành thuộc loại lớn trong các cơ sở đào tạo đại học Việt Nam, nhiều người là các nhà khoa học có danh tiếng và

uy tín cao trong nước cũng như quốc tế Số lượng cán bộ hiện có 3.426, viên chức của ĐHQGHN có 1.858 giảng viên trong đó có 41 Giáo sư; 254 Phó giáo sư; 687 tiến sĩ khoa học và tiến sĩ, 899 thạc sỹ

Sau khi có quyết định thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở sát nhập Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm Hà Nội Cấu trúc của Đại học Tổng hợp cũng thay đổi trở thành hai trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội: Đại học Khoa học tự nhiên và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Với tư cách là các đơn vị thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là đơn vị giữ những nhiệm vụ

và có vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt trong việc phát triển những hướng nghiên cứu cơ bản mang đặc thù chung của ngành khoa học xã hội và nhân văn Hiện tại, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có 15 khoa, 1 bộ môn trực thuộc, 11 trung tâm

Trang 36

34

nghiên cứu,1 viện nghiên cứu, 9 phòng ban chức năng, Trung tâm Nghiệp vụ Báo chí và Truyền thông, Trung tâm Đảm bảo chất lượng đào tạo và Bảo tàng Nhân học Tổng số cán bộ, viên chức là 520 trong đó, số cán bộ giảng dạy là

366 người (có 6 giáo sư và 82 PGS, chiếm 24,04%); số giảng viên có trình độ sau đại học là 347 (94,80 %), trong đó có 169 TS (46,17 %) và 178 thạc sĩ

(48,63%); có163 giảng viên đang học NCS và 19 giảng viên học cao học Độ tuổi trung bình của cán bộ giảng dạy là 40 tuổi Có 173 giảng viên từ 40 tuổi

trở xuống (chiếm 50 % tổng số giảng viên toàn trường), trong đó có 112

giảng viên nữ (chiếm 64,7%), với nhiệm vụ đào tạo 16 ngành cử nhân và 28

chuyên ngành sau đại học, 31 chương trình đào tạo Tiến sĩ

2.2 Hiện trạng công tác tổ chức và quản lý nghiên cứu khoa học của Trường ĐHKHXH&NV

2.2.1 Tình hình các nguồn lực đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học

Nguồn lực đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học: được hiểu là những yếu tố đầu vào đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học như: nhân lực, tài lực (tài chính); tin lực (thông tin); vật lực (cơ cở vật chất), Với đặc thù là một trong những trường đại học có bề dày lịch sử thì các nguồn lực phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học đạt được những thành tựu nhất định Điều đó được chúng tôi trình bày qua các nguồn lực cụ thể dưới đây:

+Về nhân lực khoa học

Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Nhà trường tính từ năm 2009 đến năm

2013 đã được kiện toàn và có sự phát triển mạnh, với 38 đầu mối hoạt động

và phục vụ hoạt động KHCN gồm 15 khoa, 1 bộ môn, 9 phòng ban chức năng, 11 trung tâm nghiên cứu, 1 viện nghiên cứu và Bảo tàng Nhân học Số

lượng các ngành đào tạo, chuyên ngành đào tạo được mở rộng (bảng 2.2)

cũng tạo nên sự phát triển mạnh về quy mô đào tạo và nghiên cứu

Trang 37

35

Bảng 2.1 Các đơn vị chức năng của nhà trường

TT Diễn giải 2009 2010 2011 2012 2013

1 Tổng số khoa trực thuộc trường 14 14 15 15 15

2 Tổng số Bộ môn trực thuộc trường 3 3 1 1 1

4 Tổng số Viện, trung tâm trực thuộc trường 11 11 11 11 12

(Nguồn: Phòng Tổ chức – Cán bộ, Trường ĐHKHXH&NV năm 2013)

Bảng 2.2 Các ngành, chuyên ngành đào tạo của Trường

TT Diễn giải 2009 2010 2011 2012 2013

1 Ngành đào tạo đại học (hệ chuẩn) 15 18 18 18 18

3 Ngành đào tại đại học nhiệm vụ chiến lược 1 1 1 1

4 Ngành đào tạo đại học liên kết quốc tế 1 3 3 3

5 Chuyên ngành đào tạo thạc sĩ 26 26 28 28 28

6 Chuyên ngành ĐT thạc sĩ nhiệm vụ chiến lược 1 1 1 1 1

7 Ngành đào tạo thạc sĩ liên kết quốc tế 3

8 Chuyên ngành đào tạo tiến sĩ 28 29 31 31 31

(Nguồn: Phòng Đào tạo, phòng ĐTSĐH, Trường ĐHKHXH&NV 2013)

Đội ngũ cán bộ của trường đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng Mặc dù số giáo sư và tiến sĩ khoa học đã giảm đi quá nửa tạo nên sự thiếu hụt về đội ngũ những nhà khoa học đầu ngành, đầu đàn, nhưng bù lại số thạc sĩ, tiến sĩ và phó giáo sư đã tăng lên một cách nhanh chóng, trong khi đó

số giảng viên có học vị đại học năm 2013 đã giảm xuống còn 9,01%% so với năm 2009 là 16,43% (bảng 2.3)

Trang 38

(Nguồn: Phòng Tổ chức – Cán bộ, Trường ĐHKHXH&NV năm 2013)

Tính đến năm 2013, số cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học có học hàm giáo sư và phó giáo sư chiếm 25,35%, có học vị tiến sĩ/ tiến sĩ khoa học chiếm 47,60%, có học vị thạc sĩ chiếm 43,66% và đại học chiếm 9,01% Tính đến năm 2013, đại đa số những cán bộ giảng dạy của trường có học vị đại học, thạc sĩ đang tham gia học cao học, hiện tại có 120 cán bộ đang làm nghiên cứu sinh ở trong nước hoặc nước ngoài

Những số liệu trên đây cho thấy trình độ khoa học (chức danh, học vị)

của đội ngũ cán bộ nhà trường đã mạnh hơn cả về số lượng và chất lượng Đây thực sự là một tập thể các nhà khoa học mạnh so với các trường, viện và trung tâm nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn của cả nước Đội ngũ này hoàn toàn có đủ khả năng đảm nhận những nhiệm vụ đào tạo, khoa học

và những yêu cầu đặt ra của xã hội Sự phát triển mạnh về số lượng, trình độ khoa học của đội ngũ cán bộ, cùng với sự mở rộng về quy mô đào tạo các ngành, chuyên ngành của trường là cơ sở, điều kiện và động lực có ý nghĩa quyết định tính bền vững cho sự phát triển khoa học, đào tạo của Nhà trường trong xu thế hội nhập với khu vực và thế giới

Trang 39

37

+ Về nguồn kinh phí hoạt động khoa học

Từ năm 2009 đến năm 2013, kinh phí đầu tư từ nguồn ngân sách nhà

nước cho hoạt động khoa học của Trường đã được tăng lên đáng kể

(Nguồn: Báo cáo Phòng Kế hoạch – Tài vụ)

Tuy nhiên kinh phí hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường

ĐHKHXH&NV không chỉ dựa vào nguồn ngân sách nhà nước cấp mà còn

được bổ sung từ các nguồn tài trợ của các tổ chức trong và ngoài nước

(Bảng 6) thông qua các chương trình, dự án (“Dự án nghiên cứu chính sách

giáo dục” của Quỹ Roza Luxemburg; “Dự án nghiên cứu về Hành chính

công” do Quỹ Australia – Hàn Quốc tài trợ; các hội thảo khoa học “Công

nghệ đào tạo và hệ thống việc làm”, “Điện Biên Phủ - 50 năm nhìn lại” với

Pháp, “Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO” với viện KAS của Cộng

hoà Liên bang Đức, Ngôn ngữ học Liên Á, “Một số nguồn tài nguyên du lịch

vùng Hà Nam Ninh – thực trạng và giải pháp định hướng”, Quản lý du lịch,

100 năm phong trào Đông du, Tiến tới cộng đồng Đông Á…) Đây chính là

nỗ lực to lớn của nhà trường trong việc đa dạng hóa nguồn kinh phí cho hoạt

động khoa học

Trang 40

38

Bảng 2.5 Tổng hợp nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học của các tổ chức

nước ngoài (đơn vị tính: triệu đồng)

(Nguồn: Phòng Kế hoạch – TC và Phòng QLNCKH Trường ĐHKHXH&NV)

(Biểu đồ so sánh giữa ba nguồn kinh phí)

Ngày đăng: 22/09/2020, 16:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w