Thế mạnh của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hợp tác với các cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ trong nước tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
NGUYỄN HIỀN MINH
HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHỤ NỮ BÁN DÂM TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG TRONG DỰ ÁN “HỖ TRỢ NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH VÀ THÍ ĐIỂM MÔ HÌNH HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NỮ LAO ĐỘNG TÌNH DỤC TẠI
HÀ NỘI” DO TỔ CHỨC CSAGA THỰC HIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH
Trang 2Tiến sỹ Mai Thị Kim Thanh – Giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi hoàn thành nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, Cán bộ chương trình của các đơn vị,
tổ chức xã hội như: Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA); Cục phòng chống tệ nạn xã hội; Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội; tổ chức quốc tế Plan vùng Hà Nội; Viện nghiên cứu sức khỏe cộng đồng Ánh Sáng (LIGHT); Trung tâm dạy nghề nhân đạo REACH và các chị em phụ nữ bán dâm là đối tượng hưởng lợi của Dự án nghiên cứu đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thu thập thông tin và hoàn thành nghiên cứu
Qua đây tôi cũng xin cảm ơn các Thầy, cô trong khoa Xã hội học, các thầy
cô giáo bộ môn Công tác xã hội trong quá trình nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và trợ giúp tôi hoàn thành luận văn của mình
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả nghiên cứu
Nguyễn Hiền Minh
Trang 3DANH MỤC CÁC TƢ̀ VIẾT TẮT
Nô ̣i dung đầy đủ
An sinh xã hô ̣i Ban quản lý dự án Công tác xã hô ̣i Lao đô ̣ng – Thương binh và xã hội
Tổ chức phi chính phủ Người bán dâm
Phòng chống tệ nạn xã hội Phòng chống mại dâm Bệnh lây truyền qua đường tình dục
Trang 4DANH MỤC BẢNG VÀ DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.2 Con đường dẫn tới mại dâm 52
Bảng 2.3 Những khó khăn của chị em bán dâm khi làm nghề 53
Bảng 2.4 Đối tượng tìm kiếm sự hỗ trợ của các chị em 55
Bảng 2.5 Các hành vi tự kỳ thị bản thân của chị em 56
Bảng 2.6 Mong muốn bỏ nghề của chị em 57
Bảng 2.7 Khó khăn của chị em khi chuyển nghề khác 57
Bảng 2.8 Mức độ hài lòng với hoạt động truyền thông tại cộng đồng 67
Bảng 2.9 Mức độ hài lòng với độ ngũ đồng đẳng viên Dự án 69
Bảng 2.10 Những khó khăn thường gặp hiện nay của các chị em 70
Bảng 2.11 Đối tượng tìm kiếm sự hỗ trợ của các chị em 72
Bảng 2.12 Các hành vi tự kỳ thị bản thân của chị em 74
Bảng 2.13 Mức độ nắm thông tin về Luật xử lý vi phạm hành chính áp dụng cho NBD 75
Bảng 2.14 Mong muốn bỏ nghề của chị em 78
Bảng 2.15 Khó khăn của chị em khi chuyển nghề khác 78
Bảng 3.1 Mức độ khả thi của một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ tâm lý cho chị em đích của Dự án: 99
2 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Đánh giá những khó khăn của chị em bán dâm trước và sau can thiệp 71
,
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1.Lý do chọn đề tài: 3
2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
3.Ý nghĩa nghiên cứu 11
4.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 12
5.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 13
6.Phạm vi nghiên cứu: 13
7.Câu hỏi nghiên cứu 13
8.Giả thuyết nghiên cứu 14
9.Phương pháp nghiên cứu: 14
10.Kết cấu của luận văn 17
NỘI DUNG CHÍNH: 18
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 18
1.1.Cơ sở lý luận 18
1.1.1.Một số khái niệm liên quan đến đề tài: 18
1.1.2Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu: 20
1.2 Cơ sở thực tiễn: 24
1.2.1 Hoạt động mại dâm trên thế giới, ở Việt Nam và những chính sách pháp luật liên quan đến hỗ trợ người bán dâm hiện nay ở Việt Nam 24
1.2.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 34
Tiểu kết chương 1: 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHỤ NỮ BÁN DÂM TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG DO TỔ CHỨC CSAGA THỰC HIỆN TRONG KHUÔN KHỔ DỰ ÁN 42
2.1 Thực trạng về phụ nữ bán dâm Việt Nam và các mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cộng cho phụ nữ bán dâm ở Việt Nam hiện nay 42
2.1.1 Thực trạng về phụ nữ bán dâm Việt Nam: 42
Trang 62.1.2 Các mô hình hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ
bán dâm đang được triển khai hiện nay: 45
2.2 Thực trạng hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm trong Dự án: 48
2.2.1 Đặc điểm phụ nữ bán dâm trong Dự án: 48
2.2.2 Thực trạng các hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng trong Dự án do tổ chức CSAGA thực hiện: 58
2.2.3 Mức độ đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ bán dâm của CSAGA 65
2.2.3.4 Hỗ trợ lập nghiệp: 77
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến triển khai hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng của CSAGA 79
Tiểu kết chương 2 84
CHƯƠNG III NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO PHỤ NỮ BÁN DÂM VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN XÃ HỘI 85
3.1 Các vấn đề đặt ra: 85
3.1.1 Hoạt động hỗ trợ tâm lý với hoạt động dạy nghề: 85
3.1.2 Hoạt động hỗ trợ tâm lý với vấn đề việc làm sau tốt nghiệp 87
3.1.3 Hoạt động hỗ trợ tâm lý với tỷ lệ duy trì tham gia học nghề: 88
3.1.4 Hoạt động hỗ trợ tâm lý với vai trò của Đồng đẳng viên 89
3.1.5 Truyền thông với các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm 91
3.2 Những hoạt động cần triển khai nhằm nâng cao hiệu quả công tác hộ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ bán dâm và vai trò của nhân viên xã hội 92
3.2.1 Các hoạt động cần triển khai của CSAGA và vai trò của nhân viên xã hội: 92
3.2.2 Đối với toàn Dự án: 106
Tiểu kết chương 3: 110
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Mại dâm là một hoạt động đã xuất hiện, tồn tài từ rất lâu trong xã hội loài người và đến nay vẫn bị coi là phạm pháp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Cùng với sự phát triển của xã hội và sự mở rộng của nền kinh tế hàng hóa, hoạt động mại dâm cũng vì thế mà phát triển mạnh mẽ hơn, rộng rãi hơn với nhiều hình thức khác nhau và trở thành tệ nạn mang tính toàn cầu
Ở Việt Nam, mại dâm đã xuất hiện rất lâu từ thời phong kiến đến Pháp thuộc, và sau đổi mới những năm 80 đến nay khi có sự mở cửa kinh tế và giao lưu văn hóa xã hội thì hoạt động mại dâm càng trở nên phức tạp hơn và trở thành vấn nạn quốc gia Mại dâm luôn bị xã hội lên án và coi là hoạt động ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, tác động xấu đến đời sống văn hóa xã hội và hơn thế nữa còn là nguyên nhân chủ yếu lây truyền các bệnh tình dục, trong đó có đại dịch HIV/AIDS
Cách tiếp cận theo hướng “loại trừ” mại dâm được đưa ra trong các văn bản pháp lý như Pháp lệnh Phòng chống mại dâm số 10/2003/PL-UBTVQH11 và Nghị quyết 05/CP, ban hành ngày 29/1/1993 Theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố số người bán dâm có hồ sơ quản lý là 11.240 người, trong đó tập trung nhiều nhất ở một số khu vực như: Đồng bằng sông Hồng gồm: 3.700 người; vùng Đông Nam Bộ: 3.200 người; Đồng bằng sông Cửu Long: gần 1.200 người… Còn lại các khu vực khác khoảng 1.000 người…[7] Những người làm mại dâm trong đó phần lớn là phụ nữ thường xuyên phải đối mặt với rất nhiều rủi ro và nguy cơ như bị bóc lột tình dục, bị bạo lực thể chất và tinh thần, bị cưỡng ép sử dụng ma túy, không được quyền lựa chọn tình dục an toàn, dẫn tới các hệ quả bị lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bị tổn thương tâm lý và thể chất Bên cạnh đó, do đặc thù lĩnh vực nhạy cảm và đi ngược lại các giá trị xã hội, giá trị văn hóa truyền thống
và các văn bản quy phạm pháp lý, người bán dâm thường phải chịu sự phân biệt đối
xử nặng nề từ gia đình, cộng đồng và xã hội, tự kỳ thị, bị bắt và xử phạt bởi các cơ quan chức năng
Trang 8Trước những tác động tiêu cực mà hoạt động mại dâm đem lại, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong công tác phòng chống mại dâm Hàng loạt các
hệ thống văn bản ra đời quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp lệnh phòng, chống mại dâm đầy đủ và đồng bộ được ban hành, góp phần điều chỉnh tất cả các hoạt động liên quan về công tác phòng chống mại dâm bao gồm: công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng, nhất là nhóm nguy cơ cao, các hoạt động quản lý, giáo dục, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người hoạt động mại dâm…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được tự sự cương quyết của Chính phủ trong công tác phòng, chống mại dâm nhưng vấn đề này vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, tinh vi, kín đáo và lan rộng ra tất cả các khu vực trong
cả nước ngay cả vùng nông thôn và miền núi Vẫn còn những quan điểm trái chiều đối với vấn đề mại dâm trong khi quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã đặt ra những thách thức mới với công tác phòng, chống mại dâm giai đoạn mới Do vậy, Chính phủ đã nỗ lực và phối hợp cùng các tổ chức dân sự xã hội, các tổ chức phi Chính phủ trong nước và quốc tế cùng tham gia giải quyết các và khắc phục những tác động tiêu cực do hoạt động mại dâm đem lại, góp phần vào giải quyết vấn đề chung của xã hội
Thế mạnh của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hợp tác với các cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ trong nước tham gia vào giải quyết các vấn
đề xã hội, trong đó có vấn đề mại dâm là: kinh nghiệm thực hành can thiệp giải quyết các vấn đề xã hội ở cấp cơ sở; là việc thiết lập các mô hình can thiệp trợ giúp các đối tượng xã hội dựa vào cộng đồng; là sự huy động sự tham gia của cộng đồng
và tăng cường tính tự chủ của cộng đồng trong việc tự giải quyết các vấn đề xã hội của bản thân đối tượng; Thử nghiệm cơ chế chính sách can thiệp trợ giúp các đối tượng xã hội… Một trong số những hợp tác điển hình giữa Chỉnh phủ với các tổ chức phi Chính phủ quốc tế và trong nước nhằm giải quyết vấn đề mại dâm là sự hợp tác giữa Bộ LĐTBXH, đại diện là Cục PCTNXH với tổ chức quốc tế PLAN tại Việt Nam cùng một số tổ chức phi chính phủ trong nước trong dự án thí điểm mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ bán dâm tại Hà Nội
Trang 9Xuất phát từ việc nhận thức những tác động của vấn đề mại dâm mang lại, từ mong muốn hỗ trợ những người phụ nữ yếu thế trong xã hội nói chung và sự nhân văn trong chương trình hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng của dự án hợp tác mà Bộ LĐTBXH kết hợp với các NGO thực hiện, tác giả quyết định lựa
chọn đề tài: Hoạt động trợ giúp phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng trong dự
án “Hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng chính sách và thí điểm mô hình hòa nhập cộng đồng cho nữ lao động tình dục tại Hà Nội” do tổ chức CSAGA thực hiện (Sau
đây gọi là Dự án) làm nghiên cứu của mình
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu và bài viết trên thế giới cũng như ở Việt Nam về vấn đề mại dâm và người bán dâm Đề tài xin được đề cập đến một số các nghiên cứu sau:
2.1 Các nghiên cứu về mại dâm trên thế giới
Với quan niệm và bối cảnh trên, các nghiên cứu về mại dâm trên thế giới đã được quan tâm và được thực hiện từ nhiều năm nay Những nghiên cứu về mại dâm trên thế giới đề cập đến rất nhiều các khía cạnh liên quan đến mại dâm như: Lịch sử mại dâm ở mỗi quốc gia; Lịch sử mại dâm thế giới; Những quan điểm chung về mại dâm trên thế giới và cả những tranh cãi trong các quan điểm; Những nguyên nhân dẫn đến mại dâm; Các chính sách và pháp luật liên quan đến mại dâm của mỗi quốc gia; Những ảnh hưởng về kinh tế - xã hội của mại dâm; Thống kê về sự tác động kinh tế của mại dâm; Thu nhập của mại dâm…Trong khuôn khổ bài viết liên quan đến hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng, tôi xin phép chỉ đề cập đến những nghiên cứu gần với đề tài của mình
2.1.1 Nghiên cứu về mô hình thoát khỏi mại dâm đường phố của Lynda M Baker, Rochelle L Dalla và Celia Williamson (được xuất bản bởi SAGE – 2010):
Khi tổng hợp các mô hình thoát khỏi mại dâm đường phố của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới và đưa ra một mô hình tích hợp gồm sáu giai đoạn thoát khỏi mại dâm của phụ nữ đường phố như một nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo
về quá trình phụ nữ bán dâm đường phố rời bỏ nghề Nghiên cứu này xem xét hai
Trang 10mô hình nói chung và hai mô hình thoát khỏi mại dâm cụ thể cùng khả năng ứng dụng của nó vào quá trình thoát khỏi mại dâm Rào cản gặp phải khi phụ nữ cố gắng
để rời khỏi các đường phố được xác định trong nghiên cứu này Nghiên cứu dựa trên bốn mô hình với các rào cản, các kinh nghiệm được chia sẻ trong hoạt động mại dâm của người trong nghề, và kinh nghiệm của các tác giả với phụ nữ mại dâm
để hình thành mô hình tích hợp sáu giai đoạn:
Giai đoạn đầu tiên “ngâm nước” được xem như là điểm khởi đầu trong đó một người phụ nữ là hoàn toàn đắm trong hoạt động mại dâm và không có ý nghĩ rời khỏi hoặc bất kỳ nhận thức ý thức về sự cần thiết phải thay đổi Giai đoạn này
có thể thay đổi đáng kể từ vài tháng đến nhiều năm và một số phụ nữ không bao giờ
có thể tiến xa hơn và không thể thoát khỏi
Giai đoạn thứ hai “nhận thức” Người phụ nữ làm mại dâm ban đầu có thể bỏ qua hoặc từ chối những cảm xúc về hoạt động tình dục mình đang làm, nhưng khi cảm giác đạt điểm mức độ khó chịu và khi đó người phụ nữ ý thức được cảm xúc trong hành động mại dâm của mình và có những suy ngẫm
Giai đoạn tiếp theo “cố ý chuẩn bị” đó là lập kế hoạch từng bước để tìm kiếm giải pháp thay thế và chuẩn bị Ở đây, người phụ nữ bán dâm bắt đầu đánh giá cả những nguồn hỗ trợ chính thức và không chính thức
Giai đoạn thoát ban đầu là khi người phụ nữ bán dâm bắt đầu tích cực sử dụng không chính thức dịch vụ hỗ trợ
Giai đoạn bảo trì, duy trì thói quen tốt và những thay đổi hành vi
Giai đoạn cuối cùng với vô số những rào cản một người phụ nữ bán dâm phải vượt qua để thoát thành công Một người phụ nữ bán dâm trong giai đoạn cuối cùng cũng phải có những thay đổi đáng kể trong cuộc sống
Hạn chế mô hình tích hợp dựa trên kinh nghiệm với nhóm phụ nữ bán dâm ở đường phố, không áp dụng với nhiều nhóm mại dâm khác đang hiện có như mại dâm trong nhà chứa, mại dâm nam, đồng tính… Cần nghiên cứu thêm về tất cả những người hành nghề mại dâm để đạt được một sự hiểu biết tốt hơn về các chiến lược mà họ sử dụng để thoát khỏi hoạt động mại dâm
Trang 11Nghiên cứu cũng chỉ đưa ra mô hình dựa trên tổng hợp các giai đoạn thoát nghề của phụ nữ bán dâm nói chung mà chưa đưa ra vai trò hay sự tác động nào của xã hội và các chương trình dịch vụ hỗ trợ để họ thoát khỏi mại dâm
Tuy nhiên, mô hình này, với sáu giai đoạn của nó, sẽ cung cấp một cơ sở để xây dựng một lý thuyết toàn diện mô tả rõ hơn về cách phụ nữ thoát khỏi hoạt động mại dâm Một mô hình đã được mô tả như một ví dụ được sử dụng để giúp hình dung và hiểu được một cái gì đó mà không thể quan sát trực tiếp được, hoặc khoảng lặng ít được biết đến trong hoạt động mại dâm đường phố Mô hình tích hợp có thể hướng dẫn các nhà nghiên cứu hướng tới một thăm dò sâu hơn vào các quá trình rời khỏi đường phố của phụ nữ bán dâm, điều này cho phép các nhà nghiên cứu khám phá mức độ nhận thức và xác định vai trò của các cảm giác nội tại trong những phụ
nữ bám dâm và căn cứ vào đó giúp họ có được những nhận thức đúng đắn về việc cần thoát khỏi mại dâm Ngoài ra, những nhà can thiệp, cụ thể là các nhà cung cấp dịch vụ của con người (ví dụ, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, nhân viên xã hội, chuyên viên tư vấn lạm dụng hóa chất, các nhà lãnh đạo tôn giáo, và nhân viên tiếp cận) có thể xác định dấu hiệu về nhận thức và hành vi kết hợp với từng giai đoạn trong quá trình này, và được chuẩn bị để cung cấp dịch vụ được coi là hiệu quả nhất trong từng giai đoạn của quá trình thoát [63]
2.1.2 Nghiên cứu về sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại huyện Binga - một trong những vùng xa xôi nhất và nghèo của Zimbabwe của tác giả Michael O'Donnell, Mary Khozombah và Selina Mudenda (27 tháng 2 năm 2002) [64]:
Theo nghiên cứu này, hoạt động mại dâm phải được nhìn từ một góc cuộc sống và các yếu tố cơ bản phải được giải quyết liên quan đến sự sống còn và nhu cầu vật chất tối thiểu Trong khi đó các chương trình hỗ trợ phụ nữ bán dâm ở đây dường như chỉ tập trung nhiều hơn vào việc cung cấp các thông tin, giáo dục và bao cao su để giảm nguy cơ lây truyền HIV qua đường tình dục thương mại, chứ không phải là về các khía cạnh liên quan đến sinh kế Nghiên cứu đó thừa nhận rằng các chương trình sức khỏe sinh sản trước đó đã cố gắng thực hiện các dự án tạo thu nhập cho họ, tuy nhiên những dự án trước đó không được coi là thành công Do vậy, nghiên cứu này đã có những đề xuất như sau:
Trang 12Có hai cách cơ bản mà hỗ trợ sinh kế lập trình có thể ảnh hưởng đến hoạt động mại dâm:
1 Phòng ngừa: can thiệp quy mô lớn như chương trình viện trợ lương thực hiện nay
có khả năng có một vai trò trong việc hỗ trợ sinh kế
2 Hỗ trợ vật chất trực tiếp cho công nhân Sex thương mại: Đối với những người đã tham gia vào hoạt động mại dâm, nhưng muốn tìm một lối ra, nó sẽ là quan trọng đối với các tổ chức xã hội để tái xem xét hỗ trợ cho các dự án tạo thu nhập
3 Bao cao su có sẵn và dễ dàng được cung cấp là một vấn đề đã được nêu ra trong các chương trình sức khỏe sinh sản
Đối với nghiên cứu này, việc nhấn mạnh đến hỗ trợ sinh kế nhằm đảm bảo những nhu cầu tối thiểu của con người, đặc biệt là phụ nữ bán dâm là điều đúng đắn
và cơ bản Tuy nhiên những hoạt động cụ thể mà nghiên cứu đưa ra còn mang tính
vĩ mô và chung chung, chưa cụ thể với những hoạt động thiết thực hỗ trợ phụ nữ bán dâm
Nhìn chung, nghiên cứu về mại dâm trên thế giới khá đa dạng và đề cập tới nhiều khía cạnh về vấn đề mại dâm, có thể là phân tích quá trình thoát nghề của người bán dâm để có những tác động thích hợp trong từng giai đoạn giúp họ được hòa nhập bền vững; có thể là nghiên cứu về nhu cầu của người bán dâm và nhấn mạnh vào việc cần đáp ứng các nhu cầu đó Tuy nhiên tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu nào chỉ ra một quy trình hay một mô hình cụ thể nhằm hỗ trợ người bán dâm thoát nghề cũng như chưa có nghiên cứu nào chỉ rõ vai trò của nhân viên xã hội trong việc đấu tranh phòng, chống mại dâm hay giúp đỡ người bán dâm hòa nhập xã hội
2.2 Các nghiên cứu về mại dâm trong nước:
Điểm lại lịch sử nghiên cứu về mại dâm nói chung và vấn đề hỗ trợ mại dâm hòa nhập cộng đồng nói riêng ở Việt Nam có thể thấy rất ít các tư liệu lịch sử đề cập đến vấn đề này Hiện nay, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực nhạy cảm này ở Việt Nam đã nhiều hơn, nhưng vẫn còn rất khiêm tốn so với những nghiên cứu về
Trang 13các lĩnh vực xã hội khác Điểm lại các nghiên cứu về mại dâm ở Việt Nam có thể kể đến các nghiên cứu sau đây:
2.2.1 Mại dâm và các hệ lụy kinh tế - xã hội Tác giả: Khuất Thu Hồng, Nguyễn
Thị Văn, Lê Thị Phượng, Bùi Thanh Hà – 1998 [36]
Mục đích của nghiên cứu này nhằm làm rõ một số khía cạnh xã hội và hoạt động của gái mại dâm, đồng thời tìm hiểu và phân tích những hệ lụy kinh tế xã hội
do hoạt động mại dâm gây ra
Như mục đích của nghiên cứu, những vấn đề mà nghiên cứu đề cập tập chung chủ yểu làm rõ mại dâm là gì? Họ là ai? Những mối liên hệ giữa mại dâm và các vấn đề kinh tế xã hội…giúp người đọc có cái nhìn cụ thể và rõ ràng hơn về cuộc sống của những phụ nữ bán dâm, điểm lại những quan niệm của cộng đồng về vấn
đề mại dâm và mối liên hệ của mại dâm trong sự phát triển kinh tế nói chung của toàn xã hội
Đây là một nghiên cứu mang tính tổng quát dựa trên sự khảo sát thực trạng
có thật của nhóm nghiên cứu Do vậy, nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn cao Tuy nhiên, cũng vì tính tổng quát cao nên các kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc nêu thực trạng và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo chứ không đề cập đến các hành động cụ thể nhằm giải quyết các thực trạng trên Đặc biệt là không đề cập đến hoạt động trợ giúp phụ nữ bán dâm hòa nhập cộng đồng như thế nào
2.2.2 Mại dâm: Một vấn đề xã hội của xã hội Việt Nam đương đại – Tác giả:
Phạm Bích San [50]
Đây là một vài nhận xét xã hội học của tác giả Phạm Bích San thông qua việc điểm lại lịch sử mại dâm qua từng thời kỳ phát triển của xã hội từ Phong kiến đến Thực dân, Xã hội chủ nghĩa, Xây dựng CNXH theo mô hình kế hoạch hóa tập trung và đến thời Kinh tế thị trường
Qua các thời kỳ phát triển của mại dâm, tác giả đặt ra vấn đề “chúng ta sẽ ứng xử với mại dâm như thế nào?” và đưa ra một số kịch bản
Bài viết này đã đưa ra một vấn đề thực tế của xã hội và đòi hỏi mỗi người, mỗi ngành, mỗi bộ phận xã hội và đặc biệt là những cơ quan đoàn thể đều phải
Trang 14nghiêm túc nhìn nhận về mại dâm và cùng định hướng những chính sách cả về kinh
tế và xã hội để giải quyết vấn nạn này
Bài viết cũng dừng lại ở việc nêu thực trạng và đưa ra vấn đề tranh luận chứ chưa đề cập đến những giải pháp hay hành động cụ thể đề nhằm giải quyết thực trạng về mại dâm
2.2.3 Mại dâm và di biến động nhìn từ góc độ Giới – Nghiên cứu của IOM phối
hợp với Vụ Bình đẳng Giới và Cục Phòng chống tệ nạn xã hội thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện tại 3 tỉnh: Hà Nội, TP.HCM và Hải Phòng [15]
Nghiên cứu này đã làm rõ ba vấn đề cơ bản:
- Vai trò của Giới trong quyết định di cư của người làm mại dâm và những khía cạnh mà di cư và giới có liên quan đến việc tham gia vào hoạt động mại dâm
- Nghiên cứu những lý do và khuôn mẫu di biến động của người hoạt động mại dâm (cả những người di cư và không di cư) cũng như những khả năng dễ bị tổn thương
do di biến động của họ, nhìn từ góc độ về giới
- Đề xuất cụ thể về việc ban hành chính sách và các chương trình can thiệp
Trong đề xuất của nghiên cứu này, các ý kiến được nêu ra khá cụ thể và tổng quát nhấn mạnh vào tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức cho nhóm hoạt động mại dâm và cộng đồng Ngoài ra cũng đề xuất cung cấp một số dịch vụ xã hội cho nhóm hoạt động mại dâm, đặc biệt là các mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễn HIV/AIDS và hỗ trợ sinh kế cho người làm mại dâm Những đề xuất trong nghiên cứu này đã góp phần gợi ý cho nhiều chương trình, dịch vụ xã hội trợ giúp người mại dâm, trong đó có hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng
2.2.4 Báo cáo tóm tắt đánh giá nhu cầu hỗ trợ người bán dâm Cáo cáo thực hiện
bởi Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (với sự hỗ trợ của Plan tại Việt Nam) [18]
Đây là một nghiên cứu khá chi tiết nhằm khảo sát thực trạng mại dâm và đề xuất những chính sách phù hợp Trong đó, báo cáo nêu các yếu tố liên quan đến đặc điểm của nhóm người bán dâm, các nguyên nhân khiến họ chưa bỏ nghề…và đặc biệt, nghiên cứu này đã có sự tìm hiểu rất kỹ về nhu cầu cần hỗ trợ của nhóm người bán dâm như: Nhu cầu hỗ trợ giảm hại về chăm sóc sức khỏe, nhu cầu dạy nghề và
hỗ trợ việc làm, nhu cầu hỗ trợ tâm lý, pháp lý… Đồng thời, nghiên cứu này cũng
Trang 15có những đánh giá về tính phù hợp của các dịch vụ hỗ trợ người bán dâm hiện nay
Những nhận xét, đánh giá cũng như đề xuất của báo cáo trên nhằm tập trung vào việc hỗ trợ cho người bán dâm hòa nhập cộng đồng Do vậy, đây là một nghiên cứu chi tiết và là gợi ý đầy đủ cho đề tài về hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng
Nghiên cứu của các tác giả cũng như các bộ, ngành đã cho chúng ta thấy một bức tranh về thực trạng người bán dâm, những quan điểm, giải pháp đã được thực hiện, kết quả thực hiện chính sách các đề xuất và kiến nghị các giải pháp nhằm ngăn chặn tệ nạn mại dâm cũng như tăng cường hệ thống các chương trình dịch vụ hỗ trợ giảm hại hay hòa nhập cho người bán dâm Tuy nhiên chưa có nghiên cứu, bài viết nào đi sâu vào nghiên cứu vai trò của nhân viên công tác xã hội cũng như đưa ra mô hình hay quy trình các hoạt động thực tiễn nhằm hỗ trợ người bán dâm tái hòa nhập cộng đồng Nghiên cứu về hoạt động trợ giúp phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng trong luận văn này của học viên tập trung vào nghiên cứu các hoạt động trợ giúp phụ nữ bán dâm và làm rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội trên cơ sở mô hình thí điểm của dự án hỗ trợ nữ lao động tình dục ở Hà Nội
3 Ý nghĩa nghiên cứu
- Về lý luận: Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ hơn những lý luận về mại dâm nói
chung và phụ nữ bán dâm nói riêng, hoạt động trợ giúp cho phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng Nghiên cứu này có cơ hội được sử dụng sẽ góp phần lý giải một số
lý thuyết của Công tác xã hội, lý giải một số vấn đề của thực tiễn thông qua việc tìm hiểu và phân tích nhu cầu hỗ trợ tái hòa nhập của phụ nữ bán dâm cũng như các hoạt động trợ giúp hiện tại với đối tượng này Điển hình như: lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết Thân chủ trọng tâm của Carl Roger
- Về thực tiễn: Luận văn đã đánh giá được thực trạng về mại dâm, phụ nữ bán dâm
và hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng của Dự án nói chung
và tổ chức CSAGA nói riêng Qua đó chỉ ra được các tác động tích cực cũng như những tồn tại hạn chế của mô hình thí điểm hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng này
Trang 16Luận văn cũng đã đưa ra được một số hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng với phụ nữ bán dâm phù hợp với điều kiện thực tế của CSAGA trong khuôn khổ Dự án cũng như với các tổ chức xã hội nói chung Kết quả của đề tài sẽ đóng góp cho việc hoàn thiện các mô hình trợ giúp phụ nữ bán dâm hòa nhập cộng đồng sau này Đồng thời thể hiện rõ vai trò của công tác xã hội
mà ở đây là nhân viên CTXH đã mang lại tác dụng tích cực cho việc kết nối và cung cấp các dịch vụ xã hội, phần nào nhu cầu tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ bán dâm
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện nhằm nghiên cứu hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập cộng
đồng cho phụ nữ bán dâm của tổ chức CSAGA trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng chính sách và thí điểm mô hình hòa nhập cộng đồng cho nữ lao động tình dục tại Hà Nội” Đồng thời tìm hiểu mức độ hài lòng của phụ nữ bán
dâm với các hoạt động được trợ giúp đó và những mong muốn khác của họ chưa được đáp ứng Từ đó tìm ra các cách thức nâng cao chất lượng các hoạt động hỗ trợ của tổ chức CSAGA nói riêng và Dự án nói chung cho phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng có sự tham gia tích cực của Nhân viên xã hội
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu, nhận định về thực trạng hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng trong Dự án do CSAGA thực hiện
- Đánh giá về mức độ hài lòng của những phụ nữ bán dâm đang được nhận dịch vụ
hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng của CSAGA thông qua chương trình Dự án
- Tìm hiểu những nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng khác của phụ nữ bán dâm ngoài các hoạt động hỗ trợ mà dự án nói chung và CSAGA nói riêng đang hỗ trợ
- Đề xuất chương trình hỗ trợ nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ bán dâm có sự tham gia của Nhân viên xã hội
Trang 175 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng do tổ chức
CSAGA thực hiện trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng chính sách
và thí điểm mô hình hòa nhập cộng đồng cho nữ lao động tình dục tại Hà Nội”
5.2 Khách thể nghiên cứu
- Phụ nữ bán dâm
- Các nhà quản lý, điều hành các chương trình dự án, dịch vụ xã hội hỗ trợ cho phụ
nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng trong Dự án
- Nhân viên công tác xã hội, cán bộ quản lý đang làm việc tại Dự án nói chung và tại CSAGA nói riêng
6 Phạm vi nghiên cứu:
6.1 Phạm vi không gian: Giới hạn về khách thể khảo sát và địa bàn nghiên cứu:
nhóm phụ nữ bán dâm và những người có liên quan thuộc dự án “Hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng chính sách và thí điểm mô hình hòa nhập cộng đồng cho nữ lao động tình dục tại Hà Nội”
6.2 Phạm vi thời gian:
- Phạm vi thời gian nghiên cứu của vấn đề: từ năm 1996 đến nay
- Phạm vi thời gian tiến hành khảo sát tại địa bàn nghiên cứu: từ tháng 1/2013 đến tháng 11/2015
7 Câu hỏi nghiên cứu
- Phụ nữ bán dâm trong Dự án là ai? Đời sống của họ ra sao?
- Hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm trong Dự án do tổ chức CSAGA thực hiện diễn
ra như thế nào?
- Hiê ̣u quả của các hoạt động hỗ trợ can thiệp do CSAGA thực hiện như thế nào?
Trang 18- Vai trò của nhân viên công tác xã hội nên được thể hiện như thế nào trong hoạt động hỗ trợ và kết nối dịch vụ, chương trình xã hội cho phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Phụ nữ bán dâm trong Dự án vô cùng đa dạng về xuất thân, lứa tuổi, học vấn, trải nghiệm cuộc sống… và đời sống của họ gặp rất nhiều khó khăn cũng như nguy
cơ nên họ rất cần được hỗ trợ để thay đổi công việc và ổn định cuộc sống
Thực trạng của hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm trong Dự án do CSAGA thực hiện còn tồn tại những bất cập và thiếu các điều kiện để thay đổi cũng như cải thiện
do cơ chế cũng như tính chất của một mô hình thí điểm
Các chị em phụ nữ bán dâm đã nhận được những dịch vụ hỗ trợ hiệu quả và mang lại lợi ích cũng như đáp ứng nhu cầu của họ, giúp họ tái hòa nhập cộng đồng bền vững
Nhân viên CTXH đóng vai trò quan tro ̣ng trong quá trình th ực hiện các dịch
vụ hỗ trợ cho phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng
9 Phương pháp nghiên cứu:
9.1 Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu:
Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu một số tài liệu như:
- Các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến vấn đề hỗ trợ người bán dâm
- Tìm hiểu các công trình nghiên cứu đã và đang thực hiện về vấn đề hỗ trợ người bán dâm trong và ngoài nước;
- Báo cáo tổng kết thực trạng mại dâm và công tác phòng chống mại dâm của Cục phòng, chống tệ nạn xã hội và báo cáo của một số Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội các tỉnh
- Tài liệu và các báo cáo thực trạng công tác hỗ người bán dâm tái hòa nhập cộng đồng của các cơ quan ban ngành trong nước, các tổ chức Phi chính phủ; đặc biệt là
Trang 19tài liệu, hồ sơ, các báo cáo của Dự án nói chung và báo cáo của CSAGA nói riêng
… và các tài liệu liên quan khác (xem phần Danh mục tài liệu tham khảo)
9.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng
- Đối tượng: Nhóm chị em bán dâm; Cán bộ, chuyên gia thuộc các tổ chức liên quan thực hiện Dự án
- Số lươ ̣ng phỏng vấn sâu : 26 người
+ 8 Cán bộ chương trình, lãnh đạo cơ quan nhà nước quản lý công tác phòng chống
mại dâm và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng
+ 03 Lãnh đạo tổ chức NGO tham gia Dự án
+ 05 Cán bộ - nhân viên Công tác xã hội đang làm việc với phụ nữ bán dâm
+ 10 phụ nữ bán dâm đang trong quá trình chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng
9.2.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi:
Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn bảng hỏi nhằm thu thập thông tin liên quan đến việc nghiên cứu tính hiệu quả của các hoạt động can thiệp hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng của Dự án nói chung và CSAGA nói riêng đối với phụ nữ bán dâm Việc sử dụng bảng hỏi được tiến hành xuyên suốt quá trình khảo sát từ tháng 1/2014 đến tháng 10/2014 và chia làm nhiều đợt với ba mục tiêu chính: Mục tiêu 1) Đánh giá đầu vào của chị em khi chưa nhận dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng của Dự án và CSAGA Mục tiêu 2) Đánh giá đầu ra của chị em sau quá trình can thiệp của Dự án và CSAGA Mục tiêu 3) Tìm hiểu một số quan điểm của các cán bộ/chuyên gia của Dự án liên quan đến việc nâng cao hiệu quả các hoạt động trợ giúp phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng trong Dự án
Trang 20- Đối tượng: Chị em phụ nữ bán dâm; cán bộ/chuyên gia Dự án
- Số lượng:
+ 80 bảng hỏi cho nhóm chị em phụ nữ bán dâm
+ 16 bảng hỏi cho nhóm cán bộ/chuyên gia
- Cách thức tiến hành:
+ Đánh giá đầu vào: Ở giai đoạn bắt đầu tiến hành khảo sát cho đến cuối khảo sát,
Dự án có 3 đợt tuyển sinh các khóa đào tạo nghề và triển khai các hoạt động hỗ trợ nhóm chị em mại dâm Trong 10 tháng nghiên cứu, tác giả có 3 đợt đánh giá đầu vào với tổng số 50 bảng hỏi cho các chị em tương ứng với 3 đợt tuyển sinh của Dự
án
+ Đánh giá hiệu quả tác động: Để đánh giá hiệu quả tác động sau 3 tháng can thiệp của Dự án trên 3 nhóm chị em của 3 đợt tuyển sinh từ tháng 1/2014 đến tháng 10/2014, tác giả tiếp tục gửi bảng hỏi đến số chị em đã tham gia đánh giá ở giai đoạn đầu Do vậy trong 10 tháng, tác giả có 3 lần đánh giá đầu ra trên chính nhóm chị em đang hưởng dịch vụ hỗ trợ của Dự án Tuy nhiên có một số chị em vì lý do
cá nhân không thể gắn bó theo Dự án đến cuối chặng đường mà bỏ học hoặc không tiếp tục tham gia nữa nên số bảng hỏi thu được chỉ còn lại 30 tương ứng với 30 người tham gia Dự án đến thời điểm đánh giá
+ Nâng cao hiệu quả hỗ trợ: Để có được những ý kiến của chuyên gia trong việc đưa ra những hoạt động nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả hỗ trợ của Dự án, tác giả
có sử dụng 16 bảng hỏi cho các bộ/chuyên gia của Dự án – những người đang trực tiếp quản lý, tham gia và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng trong khuôn khổ Dự án
9.2.3 Phương pháp quan sát:
Đây là một trong những phương pháp thu thập thông tin sơ cấp về đối tượng nghiên cứu bằng cách quan sát, ghi chép lại để phục vụ cho mục đích nghiên cứu Qua việc sử dụng phương pháp này tác giải có thể thu thập được những thông tin chiều sâu, đặc biệt là trong việc khai thác thông tin liên quan đến nhu cầu, mong muốn của chị em phụ nữ bán dâm trong việc hỗ trợ họ tái hòa nhập cộng đồng
Nội dung quan sát bao gồm:
Trang 21- Quan sát hoạt động chuyên môn của các cán bộ, nhân viên trong Dự án nói chung
và CSAGA nói riêng
- Quan sát hành vi, cảm xúc, phản ứng của những phụ nữ bán dâm
- Quan sát tương tác, chia sẻ cảm xúc giữa những phụ nữ bán dâm cùng cảnh ngộ
- Quan sát phản hồi về các hoạt động đang được trợ giúp
- Quan sát tương tác giữa phụ nữ bán dâm với nhân viên thực hiện các hoạt động hỗ trợ
10 Kết cấu của luận văn
Luận văn này ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
Chương 1 nêu các khái niệm, hệ thống lý thuyết ứng dụng trong quá trình nghiên cứu, khái lược về tình hình mại dâm, việc thực hiện chính sách trợ giúp phụ
nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Chương 2 Thực trạng hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng do tổ chức CSAGA thực hiện trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng chính sách và thí điểm mô hình hòa nhập cộng đồng cho nữ lao động tình dục tại Hà Nội”
Nội dung chương 2 tập trung mô tả thực trạng các hoạt động trợ giúp phụ nữ bán dâm trong quá trình tái hòa nhập thông qua điều tra thực tế; Đánh giá về mức độ hài lòng của những phụ nữ bán dâm đang được nhận các hoạt động được trợ giúp của tổ chức CSAGA trong khuôn khổ Dự án Tìm hiểu những nhu cầu, những mong muốn khác của họ ngoài những nhu cầu đã được CSAGA cũng như Dự án đáp ứng
Chương 3 Nâng cao hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng và vai trò của nhân viên xã hội
Chương 3 tập trung nêu các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng cho CSAGA trong Dự án nói riêng và các tổ chức xã hội nói chung Đồng thời chỉ rõ vai trò hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng của Nhân viên xã hội trong mô hình này
Trang 22Theo nghĩa rộng, mại dâm có thể được định nghĩa như việc trao đổi sự thỏa mãn tình dục để lấy tiền hoặc các giá trị vật chất khác Mại dâm là một hình thức kinh doanh nhằm cung cấp sự thỏa mãn tình dục cho cá nhân ngoài phạm vi hôn nhân và tình yêu Thông thường, sự thỏa mãn tình dục chỉ bằng các kích thích thị giác hoặc thính giác không bị coi là mại dâm Mại dâm không đòi hỏi tình cảm, trách nhiệm cũng như sự cố gắng từ phía khách hàng đề làm hài lòng bạn tình của mình [32, tr2] Theo Pháp luật Việt Nam hiện hành: Mại dâm là hành vi giao cấu nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình và phải trả tiền hoặc lợi ích vật chất cho người khác hoặc thỏa mãn nhu cầu tình dục của người khác để được tiền hoặc lợi ích vật chất cho mình Như vậy một hành vi được coi là mại dâm khi có các điều kiện sau: Có hành vi giao cấu (giữa hai người khác giới); Việc giao cấu được đảm bảo bằng việc trả và nhận tiền giữa các đương sự
+ Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu
+ Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc
lợi ích vật chất khác
+ Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa
điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm
+ Tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc mua dâm,
bán dâm
Trang 23+ Môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung gian để các
bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm
+ Bảo kê mại dâm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín hoặc dùng vũ lực,
đe doạ dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mại dâm [2]
1.1.1.2 Phụ nữ bán dâm
Là những phụ nữ phục vụ đàn ông thỏa mãn hành vi tình dục ngoài hôn nhân
để được trả tiền hoặc được hưởng những lợi ích vật chất khác [2]
1.1.1.3 Cộng đồng
“Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy”; “Cộng đồng là một tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và được xem như một khối thông nhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó” [31, tr.17]
1.1.1.4 Tái hòa nhập cộng đồng:
Có quan điểm cho rằng tái hòa nhập cộng đồng là “tái hoàn lương” trở lại Nhiều người lại thống nhất cho rằng tái hòa nhập cộng đồng là sự “quay lại lần thứ hai” hòa nhập với cộng đồng xã hội của những người có quá khứ tội lỗi sau một thời gian bị cách ly khỏi xã hội, cộng đồng dân cư Tái hòa nhập cộng đồng hiểu đơn giản là xóa đi những tội lỗi và mặc cảm, tạo cơ hội bình thường hóa các mối quan hệ xã hội để họ hòa nhập với cộng đồng nơi họ cư trú với tư cách là một công dân, một thành viên xã hội Đây là những biện pháp tác động tích cực giúp đỡ những người lầm lỗi, những người có quá khứ phạm tội xóa bỏ đi những mặc cảm của bản thân đối với cộng đồng và để họ có thể trở về là người công dân lương thiện với đúng nghĩa của nó [16]
Theo qua điểm của Dự án thuộc nghiên cứu này: Tái hòa nhập cộng đồng là việc một cá nhân lầm lỡ từng bị kỳ thị, đối xử thiếu công bằng, bình đẳng trong cộng đồng do không được tạo điều kiện, tạo cơ hội để thay đổi bản thân và hoàn
Trang 24cảnh Nhưng khi nhận được những hỗ trợ cần thiết và được tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các cơ hội phát triển thì họ sẽ được tiếp thêm sức mạnh để tự tin vào bản thân, thay đổi bản thân và được cộng đồng chấp nhận với hình ảnh, con người mới của họ cũng như đối xử công bằng, bình đẳng với họ như những người bình thường khác trong xã hội
1.1.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu:
1.1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Trong sự phát triển của con người, Abraham Maslow cho rằng con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản Các bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow được sắp xếp theo thứ tự [41]:
- Nhu cầu căn bản thuộc “thể lý”: Đó là nhu cầu về ăn, mặc, ở, sinh hoạt, sinh
lý - những nhu cầu tối thiểu về mặt vật chất Đây được coi là những nhu cầu nền
tảng trong bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow Với những phụ nữ bán dâm
những nhu cầu thể lý, nhu cầu vật chất của họ bị đe dọa và xâm hại thường xuyên Phần lớn họ là những người khó khăn về kinh tế, sống trong các khu nhà trọ chật chội, thậm chí phải chạy ăn từng bữa nếu họ đã ở tuổi lỡ thì vắng khách Nhìn chung đa số phụ nữ bán dâm đều bị đe dọa về nhu cầu thể lý – nhu cầu vật chất
- Nhu cầu an toàn: Đó là nhu cầu an toàn đối với chính con người và môi
trường xung quanh Con người cần được chở che, cần có cảm giác an tâm, không
hề lo sợ hay bị đe dọa Tuy nhiên với nhóm phụ nữ bán dâm, họ hầu như không
có cảm giác an toàn bởi hàng ngày phải đối mặt với những nguy hiểm và xâm hại thể chất từ phía bảo kê, khách hàng bạo lực, thậm chí cả những người cùng hành nghề mà không dám kêu ai hay tìm sự giúp đỡ của ai, đặc biệt là cơ quan
công an…
- Nhu cầu giao lưu tình cảm và được trực thuộc: Đó là nhu cầu con người thấy
mình được ở trong một mối quan hệ gần gũi, thân thuộc, ruột thịt Sự gắn bó dựa trên mối quan tâm, sự chia sẻ, đồng cảm và yêu thương Những người phụ nữ bán dâm hầu như phải che giấu, kìm nén cảm xúc muốn được yêu thương che chở từ phía gia đình hay người thân bởi họ thường giấu diếm gia đình công việc
Trang 25của mình và đi làm ăn xa Những người có gia đình ở gần hoặc biết đến công việc của họ thì thường bị gia đình ruồng bỏ, hắt hủi hoặc lạnh nhạt khiến họ không có được cảm giác thuộc về gia đình Do vậy, nhu cầu này với những phụ
nữ bán dâm hầu như không được đáp ứng
- Nhu cầu được quý trọng, kính mến:Trong mối quan hệ gắn bó, con người có
nhu cầu được khẳng định, tôn trọng Sự tôn trọng chính là sự khẳng định về vị trí, vai trò, khả năng của con người trong các mối quan hệ Một trong những điều
mà chúng ta thấy đối với những người phụ nữ bán dâm là không được xã hội tôn trọng, ngược lại họ còn nhận phần lớn thái độ dè bỉu, coi thường kỳ thị và định kiến nặng nề của xã hội, thậm chí họ cũng kỳ thị chính bản thân mình
- Nhu cầu về tự thể hiện bản thân: Đó là nhu cầu được hiểu biết đầy đủ, được
trang bị các kiến thức, kỹ năng để hoàn thiện bản thân và có cơ hội khẳng định mình trên các cương vị đảm nhận hoặc thăng tiến ở những vị trí cao hơn Nhu cầu này chỉ nảy sinh khi đã được đáp ứng đầy đủ những nhu cầu nền tảng ở phía dưới Đối với phụ nữ bán dâm, cũng như bao người phụ nữ khác, họ cũng có nhu cầu được trở nên xinh đẹp, được thành đạt, được hạnh phúc, được làm những điều họ muốn và được sống với những đam mê, thể hiện khả năng của bản thân Nhưng hầu như nhu cầu này họ không được đáp ứng bởi họ không có môi trường
và điều kiện để phát huy hay thể hiện bản thân mình Họ hàng ngày vẫn còn vật lộn để đáp ứng nhu cầu vật chất nên chưa thể và chưa dám nghĩ đến việc thể hiện bản thân theo cách họ muốn
Với vai trò Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ phụ nữ bán dâm tái hòa nhập cộng đồng, việc ứng dụng lý thuyết nhu cầu là rất cần thiết Nhân viên xã hội trong quá trình trợ giúp cho phụ nữ bán dâm cần nghiên cứu và chỉ ra những nhu cầu không được đáp ứng và đánh giá xem họ gặp phải những khó khăn gì và cần được đáp ứng những nhu cầu nào? Trên cơ sở đó có thể có kế hoạch can thiệp, có những kết nối phù hợp để hoạt động hỗ trợ đạt hiệu quả tốt nhất
1.1.2.2 Lý thuyết hệ thống:
Lý thuyết hệ thống được biết đến với hai loại: Thuyết hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái Tập trung vào thuyết hệ thống sinh thái thấy rằng:
Trang 26Sinh thái được hiểu là những liên hệ, tác động, ảnh hưởng giữa các thành tố cùng tồn tại trong một môi trường sống Những mối liên hệ này có tính hai chiều và phụ thuộc vào nhau
Hệ thống sinh thái gồm hai ý tưởng: Môi trường sinh thái của cá nhân khi cá nhân đó đang cố gắng để thích nghi với môi trường xung quanh; hệ thống khi nhìn vào mối tương quan của những bộ phận khác nhau Ta phối hợp hai chữ này thành
hệ thống sinh thái (Ecology systems) Cá nhân gắn chặt với gia đình, gia đình với cộng đồng, có những cá nhân rất mạnh có thể lay chuyển cả hệ thống lớn Hành vi con người rất phức tạp, không có một yếu tố nào duy nhất giải thích về hành vi con người Chúng ta phải cố gắng kết hợp các lý thuyết về cá nhân, gia đình, nhóm, xã hội và lý thuyết về thế giới để hiểu về con người theo hệ thống sinh thái Gia đình
có ranh giới, chúng ta cũng có ranh giới, bất cứ hệ thống nào cũng có ranh giới, chúng ta nghĩ đến sự tương tác trong hệ thống để hiểu con người Để hiểu một ai đó chúng ta phải hiểu thế giới rộng hơn, phải hiểu gia đình người đó, nhóm bạn cùng làm việc, cộng đồng mà bạn đang có tương tác Hệ thống sinh thái của mỗi cá nhân đều độc đáo.[1]
Mọi hệ thống có nhiều bộ phận, gia đình là thành phần của cộng đồng
Có 4 thành tố đối với mọi hệ thống:
1 Hành vi
2 Cấu trúc
3 Văn hóa
4 Diễn biến của hệ thống
Chúng ta luôn luôn quan tâm đến hành vi, cấu trúc, văn hóa, diễn biến của hệ thống Mỗi hệ thống đều có thời gian sống và nghỉ ngơi
*Hành vi: có khi gọi là năng lượng mang tính tâm lý (thức ăn là năng lượng,
sự nâng đỡ về tình cảm là năng lượng ), hành vi là cách sử dụng năng lượng của mình
Mọi hệ thống đều thay đổi nhưng không thay đổi quá nhanh luôn luôn có những lực lượng bên trong một hệ thống, luôn có sự sống và năng lượng, những
Trang 27năng lượng này đẩy và kéo lẫn nhau Khi một xã hội, một gia đình gặp một áp lực quá lớn chúng tôi gọi là STRESS hay STRAW
*Cấu trúc (kết cấu): Bất cứ hệ thống nào cũng có một bộ phận hay hệ thống bộ phận như trong cơ thể con người có nhiều hệ thống cơ cấu cũng có nghĩa là những ranh giới, nếu nghiên cứu về gia đình trước tiên phải biết về thành phần trong gia đình, những thành phần đó không bắt buộc là những gì hiện hữu mà có thể
là những thành phần về tâm lý
*Văn hóa (Culture) Bất cứ hệ thống nào cũng đều mang nét văn hóa riêng của nó Trong hệ thống, hành vi văn hoá được thể hiện như thế nào? Vai trò nam là gì? nữ là gì?
*Diễn biến của hệ thống: Bất cứ một hệ thống nào cũng thay đổi theo thời gian nhưng bất kỳ trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ được trạng thái tương đối ổn định Không có một cơ cấu nào tồn tại như vậy mãi, một ý niê ̣m liên quan đến sự tiến hoá đó là xã hội hoá (socialization) [1]
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải tìm hiểu cả hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó
Lý thuyết hệ thống sinh thái cho rằng, một hệ thống, vừa bao gồm các tiểu hệ thống nhỏ trong nó đồng thời nó cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống rộng lớn hơn Hệ thống càng phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành tố càng đa dạng Giữa các thành tố có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự thay đổi, biến động của mỗi thành tố trong hệ thống đều ảnh hưởng, tác động đến các thành tố khác và ngược lại Bởi những liên hệ đó mà tập hợp các tiểu hệ thống và thành tố tạo thành một sự toàn vẹn, thống nhất
Trong thực hiện chính sách, lý thuyết hệ thống sinh thái cho phép phân tích
sự tương tác giữa phụ nữ bán dâm và hệ thống sinh thái – môi trường xã hội mà họ đang sống Mỗi cá nhân người phụ nữ bán dâm đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh Chẳng hạn sự ảnh hưởng của hệ
Trang 28thống gia đình đến phụ nữ bán dâm, hệ thống cộng đồng, hệ thống bạn bè, đồng nghiệp Trường hợp bản thân phụ nữ bán dâm họ muốn từ bỏ nghề để hòa nhập cộng đồng nhưng hệ thống gia đình, cộng đồng không chấp nhận họ mà có sự phân biệt kỳ thị với họ sẽ khiến họ khó khăn trong việc hòa nhập nên họ không có con đường nào khác họ lại phải tiếp tục bán dâm
Cung trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, tác giả nhận thấy bản thân Dự
án là một hệ thống trong đó bao gồm các tiểu hệ thống: nhân sự (ban lãnh đạo, ban thực hiện, phụ nữ bán dâm), đối tác, chính sách, cơ sở vật chất, tài chính…và CSAGA chính là một tiểu hệ thống trong Dự án đó Măt khác, Dự án cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống hệ thống các chương trình, các mô hình hỗ trợ trong hệ thống chính sách pháp luật phòng, chống mại dâm của Nhà nước
Cùng với quan điểm CSAGA là một tiểu hệ thống trong Dự án nên khi tiến hành đánh giá thực trạng cũng như đề xuất các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp phụ nữ bán dâm, tác giả luôn đặt các hoạt động của CSAGA trong bối cảnh và điều kiện chung của toàn Dự án
1.2 Cơ sở thực tiễn:
1.2.1 Hoạt động mại dâm trên thế giới, ở Việt Nam và những chính sách pháp luật liên quan đến hỗ trợ người bán dâm hiện nay ở Việt Nam
1.2.1.1 Mại dâm trên thế giới:
Mại dâm xuất hiện như thế nào? Cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thống nhất Tham khảo nhiều nguồn tư liệu khác nhau, nhóm nghiên cứu của tác giả Khuất Thu Hồng có phác họa ra quá trình hình thành và phát triển mại dâm bằng cách điểm qua các thời kỳ lịch sử và các trung tâm lớn của nó [32, tr 5-11]
Mại dâm công cộng ở Hy Lạp: Bắt đầu từ thế kỷ thứ 7 trước Công
nguyên và được coi là từ thời Solon Gái mại dâm phải sống trong một khu vực quy định, họ ăn mặc qua loa hoặc ở trần từ thắt lưng trở lên Gái điếm tư nhân thường được phân biệt bởi quần áo với mẫu hoa riêng và tóc mầu sáng Một tầng lớp đặc
Trang 29biệt là heterae (bạn gái) – gái điếm quý phái, chuyên nghiệp và độc lập, thường nổi bật bởi sắc đẹp và trí tuệ sắc sảo
Mại dâm ở La Mã: Trong thời kỳ cổ đại, La Mã cấp môn bài và đánh thuế
gái mại dâm, một ngành kinh doanh nhờ nguồn nô lệ Ngoài các nô lệ, phụ nữ ngoại quốc và đàn bà tự do cũng hành nghề mại dâm Dưới thời Hoàng đế Tiberius hiện tượng này phổ biến đến mức nghị viện phải cấm những phụ nữ mà có ông hoặc cha thuộc tầng lớp kỵ sĩ không được làm điếm
Mại dâm ở châu Âu thời Trung cổ: Ở châu Âu thời Trung Cổ mại dâm
nói chung không bị cấm cho đến thế kỷ 15 Các quận công, các thành phố và các chức sắc nhà thờ sở hữu các nhà chứa mà thường bắt nguồn từ các nhà tắm Gái điếm giang hồ và gái nhà chứa ở trong các điều kiện xã hội và kinh tế hoàn toàn khác nhau Nguồn cung cấp gái điếm lớn nhất cho các nhà chứa ở thành phố là số phụ nữ vô gia cư, những phụ nữ góa bụa bởi các cuộc chiến tranh triền miên hay những phụ nữ bị đẩy tới hoàn cảnh khốn cùng do sự tàn phá nông thôn Tuy nhiên cũng luôn có gái điếm lang thang bán dâm ngoài đường và họ thường xuất thân từ các gia đình “hạ tiện” (đao phủ, đào huyệt, lừa đảo, nhạc công), những người không thể kiếm được một tấm chồng, hoặc là vợ góa hay con gái của những người lính chết trận, tù vượt ngục hay con những kẻ khốn quẫn Gái điếm lang thang như một hiện tượng xã hội kéo dài cho đến đầu thế kỷ 18
Mại dâm ở Châu Âu thời kỳ phục hƣng: Trong thời kỳ này, tình dục
được phô bày một cách rộng khắp và ở các thành phố Italy, gái điếm quý phái, không giống như ở heterae của Hy Lạp, sẵn sàng phục vụ cho các đại thần cũng như các bữa tiệc và các lễ hội Vào thế kỷ 17, sự phân biệt gái mại dâm hình thành giữa gái điếm của người nghèo và gái điếm của người giàu đã dẫn đến việc tách biệt gái giang hồ với các cô giá điếm quý phái, tình nhân và các demi – monde (gái điếm hạng trung) các các salon
Mại dâm ở Nhật Bản cổ đại: Ở Nhật, mại dâm ở đền thờ (miko) phổ biến
trong thời cổ đại, còn mại dâm công cộng phát triển vào thời Kamakura (1192-1333 Công lịch) Toyotomi Hydeyoshi (1536 – 1598) cố gắng ngăn chặn mại dâm tư nhân và đến 1598, các địa điểm được cấp môn bài gọi là Yukaku đã khai trương ở
Trang 30Yanagimachi thuộc Kyoto Như vậy, các nhà chức trách đã hạn chế mãi dâm vào khu vực quy định dưới sự giám sát nghiêm ngặt Cũng như ngày nay, mại dâm thời
kỳ này phát triển dưới nhiều hình thái cũng như nhiều lốt khác nhau Bên cạnh mại dâm có đăng ký còn nhiều loại gái giang hồ và những người phục vụ (yuma) trong các nhà tắm công cộng, các tiệm nhảy cũng thường hành nghề mại dâm
Từ thế kỷ XX trở lại đây:
Tại Nhật Bản: Trước thế chiến thứ nhất, Nhật Bản là nước quân chủ và
mại dâm tồn tại công khai để phục vụ cho giới quý tộc và sĩ quan quân đội Sau thế chiến, Đế quốc Nhật Bản sụp đổ, tầng lớp quý tộc và sĩ quan bị tước các đặc quyền, thay vào đó là quân đồn trú Mỹ
Do những hệ lụy của mại dâm gây ra và việc Chính phủ mới của nước Nhật thực hiện bình đẳng giới nên đến năm 1956 mại dâm đã bị cấm Tuy nhiên với quan niệm khá đặc biệt của người Nhật là: khiêu dâm và mại dâm là hai vấn đề khác biệt nên theo luật thì “không giao hợp là không phạm pháp” đã tạo ra những kẽ hở để ngành công nghiệp tình dục của Nhật Bản phát triển mạnh mẽ đến ngày nay
Những phụ nữ tham gia làm mại dâm ở Nhật Bản rất đa dạng về thành phần, họ có thể là những nữ sinh, những sinh viên, nhân viên công sở, những phụ
nữ nội trợ và những người không có nghề nghiệp Nhu cầu có tiền tiêu là động cơ chủ yếu [18]
Tại Mỹ: Ở tất cả các bang, nhà chứa đều bị coi là bất hợp pháp Tuy nhiên
ở Nevada nhà chứa được hợp pháp hóa vào năm 1972 và phải được đặt cách thành phố 5km với biển hiệu đại loại như: “Nhà khách – chỉ dành cho nam giới” [32, tr.14]
Cũng như ở nhiều nước khác, mại dâm ở Mỹ có thể được chia thành 3 loại chính: mại dâm đường phố, mại dâm nhà thổ và mại dâm hộ tống (đi cùng trong các chuyến công tác, gặp gỡ đối tác, xuất hiện tại các sự kiện)
Hàn quốc: Tại Hàn Quốc mại dâm là một nghề bất hợp pháp tuy nhiên Bộ
Giới tính và Công bằng Gia Đình ước tính nghề mại dâm đóng góp khoảng 4% vào GDP của quốc gia này Theo các tổ chức công dân có khoảng 1, 2 triệu phụ nữ hành nghề mại dâm (20% phụ nữ 18- 29 tuổi) Ước tính chính thức của chính phủ đưa
con số này gần hơn 500.000 người
Trang 31Thụy Điển: Mại dâm tại Thụy Điển nói chung là bị cấm nhưng trái lại với
các quy định thường lệ khác, tại Thụy Điển mãi dâm (mua) phạm luật chứ không
phải là người hành nghề mại dâm (bán)
Các nước thế giới thứ hai và thứ ba: Nhiều nước là mục tiêu của du lịch
tình dục thí dụ như Kenya, Cộng hòa Séc, Philippines, Thái Lan và vùng Caribbean
Trong đó thí dụ như ở Việt Nam mại dâm hoàn toàn bị cấm
Mại dâm trong các nước theo đạo Hồi
Mại dâm thật ra hoàn toàn là bị cấm nhưng có những cách gọi đặc biệt khác tránh việc cấm mại dâm: “ hôn nhân tưởng thức ” (chỉ có người theo đạo Hồi Shia) Một người đàn ông theo đạo Hồi Shia được phép “cưới” một phụ nữ cho một thời gian từ một tiếng đồng hồ đến nhiều năm và sau đó phải trả cho người phụ nữ này một phần đã được định trước Ở người theo đạo hồi Sunni hình thức hôn nhân này
bị cấm bởi nhà tiên tri Muhamad và được xem là mại dâm [30, tr.6-9]
1.2.1.2.Mại dâm ở Việt Nam:
Thời kỳ phong kiến:
Nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc, từ xa xưa Việt Nam đã du nhập những trào lưu tư tưởng lớn của hai tiểu lục địa này, trong đó Phật giáo và Nho giáo giữ một vai trò chủ đạo chi phối sâu sắc đời sống tinh thần của người Việt Nam Trong khuôn khổ hai hệ thống giá trị này, mại dâm được coi là hành vi mạnh và người đàn ông đứng đắn chỉ thỏa mãn nhu cầu tình dục trong khuôn khổ gia đình mình (có thể với hơn một người phụ nữ) Mọi hành vi quan hệ tình dục ngoài hôn nhân đều bị lên
án và cái gọi là tự do yêu đương là điều không được khuyến khích
Ở cấp độ quản lý cụ thể, tuy không tán thành mại dâm về mặt đạo đức, nhưng các nhà cầm quyền đã chấp nhận sự tồn tại của mại dâm như “sự tệ hại cần thiết” và không can thiệp quá sâu vào việc ngăn chặn mại dâm Sự thể hiện ở đây là: Cho phép nó tồn tại những tuyên truyền giáo dục cho mọi người thấy đây là cái xấu Sức mạnh của những tuyên truyền này rất lớn thông qua tính chất thần quyền như trong trường hợp Phật giáo và qua mẫu hình của “người quân tử” cần được noi theo trong trường hợp Khổng giáo
Trang 32Ở cấp độ hành vi cụ thể, rất khó xác định hoạt động tình dục ở Việt Nam trong quá khứ đã diễn ra như thế nào Theo các tư liệu dân gian, truyện kể hoặc tranh khắc gỗ…, thì trong quá khứ xã hội bình dân Việt Nam tương đối cởi mở với quan hệ tình dục Quan hệ nam nữ diễn ra tương đối tự nhiên theo nhu cầu của con người và thầm chí tồn tại cả những nghi thức nhất định cho phép cá nhân có thể thực thi được quan hệ tình dục bên ngoài gia đình Những lễ hội tắt đèn và tự do tình dục ở nhiều làng quê là một ví dụ, phong tục thờ sinh thực khí có thể là một ví
dụ khác Gia đình giáu có lấy được nhiều vợ là thông lệ được chấp nhận Có điều, không có bóng dáng mại dâm ở đây
Thời kỳ thực dân và chủ nghĩa tƣ bản (CNTB):
Trong khoảng từ cuối thế kỷ 19 đến đến giữa thế kỷ 20, cụ thể là đến năm
1975, CNTB đã có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống của người dân Cùng với sự phát triển của hệ thống đô thị, hệ thống mại dâm cũng diễn ra ở bình diện cao hơn và trở thành một cấu thành của đời sống đô thị hiện đại Những thuật ngữ như
“nhà thổ”, phố Khâm Thiên…bắt đầu từ đây mà ra Sự hình thành các hệ thống đô thị với số lượng người gia tăng nhanh chóng cũng như sự giảm sút của kiểm soát cộng đồng là những điều kiện thuận lợi cho phép sự hình thành và phát triển mại dâm ở Việt Nam Buổi giao thời, nó là hình thức sinh hoạt có tính văn hóa nhiều hơn như hát cô đầu, ả đào để cùng với thời gian, nhu cầu thỏa mãn tình dục vứt hẳn cái vỏ sinh hoạt văn hóa thanh cao để chấp nhận quan hệ xác thịt được thanh toán bằng tiền
Dưới chế độ thuộc địa, thực dân Pháp cho phép mại dâm công khai, vừa để kiếm tiền từ thuế vừa để làm thui chột truyền thống văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, vào những năm 1930, vấn đề mại dâm ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề nhức nhối trong xã hội Theo các tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ hải ngoại và Thư viện quốc gia Pháp thì tình trạng mại dâm thời Pháp thuộc ở Việt Nam phát triển tới mức chính quyền Pháp không thể kiểm soát được Điều này thể hiện rõ trong các báo cáo của các nhà chức trách gửi Thống đốc Nam kỳ về tình trạng mại dâm ở Sài Gòn theo yêu cầu của Ban Nhân quyền Sài Gòn, cũng như trong các nghiên cứu về
Trang 33bệnh hoa liễu của Giám đốc sở y tế ở Bắc kỳ và các báo cáo của Hiệp hội Phòng chống bệnh hoa liễu của thành phố Hà Nội
Tại Hà Nội vào năm 1954 (trước khi Pháp rút đi), tài liệu cho thấy có khoảng 12.000 gái điếm làm việc trong 45 nhà chứa và 55 quán rượu, trong đó 6000 đã đăng ký với chính quyền Sau 1954, mại dâm trở thành bất hợp pháp và bị loại trừ trên lý thuyết theo Điều 202 của Bộ luật Hình sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tuy nhiên, hằng năm khoảng 300-400 người vẫn bị phát hiện hành nghề này Tại miền nam Việt Nam, giữa những năm 1959 đến 1962, bà Trần Lệ Xuân đã cho đóng cửa hết tất cả các nhà chứa và phạt tiền các chủ nhà chứa, và do đó mại dâm có tổ chức dường như đã bị dập tắt Tuy nhiên, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các tổ chức mại dâm lại nổi lên, và đến cuối thập niên 1960, đã có khoảng 32 nhà chứa tồn tại ở Sài Gòn [30]
Chiến tranh và sự du nhập văn hóa Mỹ những năm 60 vào Việt Nam đã có thể là một nhân tố rất quan trọng cho việc hình thành và phát triển công nghiệp tình dục ở Việt Nam thời kỳ đó Nhằm phục vụ cho đạo quân viễn chinh hơn nửa triệu người của Mỹ, một hệ thống mại dâm đồ sộ với số lượng đông đảo gái mại dâm đã được hình thành nên ở các tỉnh miền Nam và hệ lụy chủ yếu của nó biến mại dâm trở thành một hoạt động có tính chất công nghiệp và đại chúng Bất kỳ ai, nếu có nhu cầu, với một lượng tiền nhất định đều có thể thỏa mãn được nhu cầu của mình với chất lượng tương ứng Một khi đã hình thành nên, nó rất khó để mất đi mà sẽ được tái tạo lại dưới dạng này hay dạng khác [50]
Thời kỳ xây dựng CNXH theo mô hình kế hoạch hóa tập trung:
Thời kỳ quản lý tập trung 1954 – 1985 có sự nhất quán trong xã hội đối với vấn đề mại dâm Đó là tệ nạn bị lên án và phải được loại bỏ và được mọi người trong xã hội đồng lòng chấp nhận Ở cấp quản lý, pháp luật thực hiện trừng trị nghiêm khắc với những kẻ có hoạt động mại dâm Do vậy, hiện tượng mại dâm nhanh chóng bị biến mất và gần như triệt để một thời gian dài trong đời sống xã hội
Ở khía cạnh kinh tế, thời kỳ này đặc trưng ở tính bình quân trong xã hội rất cao Hầu hết mọi người có thu nhập thấp, những những người có nguồn thu nhập
Trang 34cao hơn cũng không đáng kể và họ thường là người giữ trọng trách trong bộ máy Nhà nước nên thời gian cho nhu cầu tình dục cũng không nhiều Khi mọi thứ đều được phân phối theo định lượng và chặt chẽ như vậy thì quan hệ tình dục dường như cũng phải chặt chẽ theo Sự chặt chẽ đó còn thể hiện mạnh mẽ đến mức mà khả năng ly dị là rất thấp và chỉ được chấp nhận khi có sự chấp thuận của người vợ
Ngoài khía cạnh kinh tế, tính đồng thuận cao của xã hội Việt Nam cũng góp phần làm cho mại dâm thời kỳ đó không thể phát triển Với lý tưởng cao đẹp về một xã hội không có người bóc lột người, có làm thì mới có ăn đã khiến cho mỗi người dân đều không chấp nhận được hiện tượng mại dâm [50]
Thời kỳ Kinh tế thị trường:
Sự chuyển dần sang nền kinh tế thị trường đã đem lại những cục diện mới cho các hoạt động mại dâm ở Việt Nam Mới đầu là những tàn tích sau giải phóng miền Nam, mại dâm đã bùng nổ trở lại cùng với sự tăng trưởng của kinh tế đến mức
nó đã trở thành một trong những tệ nạn xã hội của Việt Nam Lý giải cho điều này
có thể thấy một vài điểm sau:
Sự tăng trưởng và đa dạng hóa nền kinh tế là một nguyên nhân Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đã tạo ra những tầng lớp xã hội với những thu nhập khác nhau, trong đó tầng lớp có thu nhập cao sẽ xuất hiện những nhu cầu mới, trong
đó có cả nhu cầu thỏa mãn tình dục nhanh mà không có cam kết cũng như chịu trách nhiệm hậu quả Do vậy, rất nhanh chóng khi vấn đề mại dâm đã trở thành nhu cầu thực tiễn và chuyển sang một quan hệ kinh tế mua bán thông thường với cách gọi thông dụng là “bóc bánh trả tiền”
Cùng với việc phát sinh những nhu cầu cao hơn, sự tăng trưởng kinh tế mang lại nguồn thu nhập khá lớn cho các tầng lớp cao và người giàu có trong xã hội, thậm chí là thu nhập không liên quan đến lao động, vượt xa những gì sức lao động của họ
bỏ ra khiến hình thành tâm ý coi nhẹ giá trị đồng tiền và tìm đến các dịch vụ hưởng thụ là điều không tránh khỏi Đó cũng là nguyên nhân cho sự ra đời của nền công nghiệp giải trí
Hậu quả của chiến tranh dẫn đến sự mất cân đối về giới tính, số phụ nữ nhiều hơn nam giới cũng góp phần đẩy địa vị người phụ nữ xuống cũng như khiến cho
Trang 35quan hệ tình dục ngoài hôn nhân dễ được chấp nhận hơn Ngoài ra cũng bởi chiến tranh, sự kiềm chế tình dục trong thời kỳ dài cũng là một yếu tố khi con người phải trở lại thế cân bằng là một điều thông thường của đời sống tự nhiên Điều đó lý giải tại sao có những người sẽ lạm dụng quá mức quan hệ tình dục và hiện tượng có một
số đông khách làng chơi là những người lớn tuổi
Sự mở cửa kinh tế đồng nghĩa với giao lưu quốc tế, một bộ phận không nhỏ người Việt Nam ra nước ngoài học tập, công tác cũng như người nước ngoài vào Việt Nam làm ăn, sinh sống Sự giao lưu đó mang theo những giá trị văn hóa đa dạng trong đó có cả những quan điểm, thái độ dễ dãi hơnvới vấn đề mại dâm
Như vậy, dù rất nhiều lý do khác nhau nhưng phải thẳng thắn nhìn nhận mại dâm ở Việt Nam từ chỗ là những hoạt động nhỏ trong những giai đoạn trước của lịch sử đã trở thành một hiện tượng, một vấn nạn xã hội ngày nay, đòi hỏi phải có những cách giải quyết xác đáng [50]
1.2.1.3 Các quy định pháp luật, chính sách của Việt Nam đối với công tác hỗ trợ người bán dâm tái hòa nhập cộng đồng :
Việt Nam có quan điểm nhất quán và chính sách về phòng, chống mại dâm
từ trước tới nay là coi mại dâm là tệ nạn xã hội phải bị xóa bỏ và bị nghiêm cấm dưới mọi hình thức, với liên tục ba chương trình hành động quốc gia về phòng chống mại dâm trong vài thập kỷ qua Riêng với công tác hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho NBD được quy định ở khá nhiều văn bản với các nội dung cơ bản như sau:
- Không áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và không đưa vào
cơ sở chữa bệnh đối với NBD
Căn cứ Nghị quyết số 24/2012/QH13 về việc thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 02 tháng 7 năm 2013, Nghị quyết quy định “Kể từ ngày Luật
Xử lý vi phạ hành chính được công bố, không áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với NBD Người có hành vi bán dâm bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật” (Khoản 1, Điều 2)
Trang 36- Thực hiện lồng ghép các biện pháp trong phòng ngừa mại dâm và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho NBD
Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành năm 2003 đã quy định rõ: “Nhà nước thực hiện đồng bộ các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, kinh tế - xã hội, hành chính, hình sự và các biện pháp khác để phòng, chống mại dâm; kết hợp chặt chẽ các biện pháp phòng, chống mại dâm với phòng, chống ma túy và phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS” (Điều 7) Các biện pháp tuyên truyền giáo dục lồng ghép trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ, kiểm tra, thanh tra, xử lý cac vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm được quy đinh chi tiết tại Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2003 của Chính phủ quy định một số điều của Pháp lệnh phòng chống mại dâm
Nghị định số 178/2004/NĐ-CP của Chính phủ, tại Điều 9 và Điều 10 quy định, đối với NBD, thực hiện biện pháp quản lý, giáo dục tại cộng đồng, ngăn chặn tái phạm, động viên, giúp đỡ NBD xóa bỏ mặc cảm, tạo điều kiện để họ hòa nhập cộng đồng; tổ chức chữa bệnh, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm cho NBD hoàn lương; trợ cấp khó khăn hoặc tạo điều kiện cho họ vay vốn, tư vấn, hướng dẫn phương pháp sản xuất kinh doanh để họ có thu nhập ổn định
Nghị quyết số 679/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011-2015 yêu cầu chú trọng đến các hoạt động trợ giúp NBD là phụ nữ, trẻ em trong tiếp cận với các dịch vụ xã hội (giáo dục, dạy nghề, chăm sóc sức khỏe, thay đổi công việc…) tại cộng đồng; tăng cường các giải pháp hỗ trợ tại gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc sức khỏe, phòng, chống lây nhiễm HIV, tạo cho họ có các cơ hội thay đổi cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng xã hội
- Giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV đối với NBD
Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), tại Khoản 1, Điều 4 và Khoảng 1, Điều 5 quy định rõ, NBD là một trong cá đối tượng áp dụng biện pháp giảm tác hại
Trang 37trong dự phòng lây nhiễm HIV Nghị định cũng quy định về quyền và trách nhiệm của nhân viên tiếp cận cộng đồng trong thực hiện các chương trình, dự án giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV Ngoài ra, các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ hàng quý cho người lao động tại cơ sở của mình heo hướng dẫn tại Thông tư số 11/2006/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ Y tế
- Chỉ đạo thí điểm các mô hình và xây dựng các chính sách hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho NBD
Chỉ thị số 22/CP-TTg ngày 15/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp phòng, chống mại dâm trong tình hình hiện nay” yêu cầu BLĐTBXH và các địa phương cần phải xây dựng các mô hình hỗ trợ tại cộng đồng đối với NBD để có theer cung cấp kịp thời các dịch vụ tư vấn tâm
lý, pháp lý, khám, điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục; kỹ năng sống, trợ giúp xã hội, hỗ trợ học nghề, việc làm, tiếp cận các nguồn vốn nhằm tạo cơ hội cho NBD thay đổi công việc, hòa nhập cộng đồng bền vững…Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho NBD tiếp cận, sử dụng các dịch vụ can thiệp dự phòng, khám và điều trị HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; chương trình điều trị Methadone cho NBD có sử dụng
ma túy; chương trình 100% bao cao su trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ; hỗ trợ NBD giảm các tổn thương do bị lừa gạt, bạo lực, bóc lột tình dục; chỉ đạo thực hiện việc hỗ trợ xã hội đối với NBD sau khi bị xử lý hành chính
Công văn số 2335/BLĐTBXH-PCTNXH, ngày 17/6/2013 của Bộ LĐTBXH gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương cũng yêu cầu các địa phương và các tổ chức xã hội mở rộng thí điểm các mô hình, tổ chức mở rộng các mô hình trợ giúp NBD trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội (giáo dục, dạy nghề, chăm sóc sức khỏe, thay đổi công việc…); đồng thời, phối hợp chặt chẽ với
cơ quan y tế tại địa phương triển khai các chương trình can thiệp giảm tác hại, phòng, chống lây nhiễm HIV trong công tác PCMD
Trang 38- Kinh phí hỗ trợ thí điểm các mô hình phòng ngừa, trợ giúp giảm tác hại và hòa nhập cộng đồng cho NBD
Kinh phí hỗ trợ thí điểm các mô hình phòng ngừa, trợ giúp làm giảm tác hại
và hòa nhập cộng đồng cho NBD được bố trí trong lĩnh vực chi đảm bảo xã hội từ nguồn ngân sách trung ương và địa phương dựa trên hướng dẫn thí điểm mô hình của Bộ LĐTBXH Thông tư liên tịch số 10/2012-DTTLT-BBL-BTC-BLĐTBXH ngày 19/1/2012 của Bộ Tài chính, Bộ LĐTBXH hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình hành động PCMD giai đoạn -2011-2015 [7, tr17-19]
Có thể nói, quan điểm về giảm hại và hỗ trợ NBD tái hòa nhập cộng đồng đã được quy định ở nhiều văn bản Các văn bản mới ban hành trong các năm gần đây thì quan điểm và biện pháp giảm hại trong hoạt động bán dâm càng được quy định
rõ hơn và có tính thống nhất [22, tr.17-20]
1.2.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
1.2.2.1 Tổng quan về trung tâm CSAGA
Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ
và Vị thành niên (CSAGA) là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, được thành lập từ năm 2001 theo giấy phép của Sở Khoa học – Công nghệ thành phố Hà Nội
Sứ mệnh của tổ chức là thúc đẩy việc thực hiện quyền cho phụ nữ và trẻ em chịu ảnh hưởng bởi kỳ thị và bạo lực tại Việt Nam bằng các phương pháp sáng tạo Trong đó: Bà Nguyễn Vân Anh là chủ tịch Hội đồng sáng lập đồng thời là giám đốc điều hành CSAGA Ban lãnh đạo CSAGA đều là nữ, gồm ba thành viên – giám đốc
- bà Nguyễn Vân Anh, phó giám đốc Chương trình - bà Phạm Thanh Giang và phó giám đốc Truyền thông – Gây quỹ - bà Nguyễn Thu Thúy
Tính đến tháng 11 năm 2015, CSAGA có 17 cán bộ toàn thời gian, làm việc tại bốn phòng: phòng Hành chính, phòng Chương trình, phòng Truyền thông – Gây quỹ và phòng Kế toán Cán bộ nhân viên CSAGA đều tốt nghiệp tại các trường đại học uy tín, chuyên ngành Ngôn ngữ, Ngoại ngữ, Văn học, Luật, Công tác Xã hội, Tài chính Kế toán như ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Luật, ĐH Ngoại ngữ,
ĐH Kinh tế.v.v Cán bộ nhân viên CSAGA thường xuyên được cử tham gia các
Trang 39khóa đào tạo, tập huấn trong và ngoài nước để nâng cao chuyên môn trong các lĩnh vực thúc đẩy quyền phụ nữ và trẻ em, phòng chống bạo lực giới, kiểm soát tài chính
Cơ cấu CSAGA
Năm lĩnh vực hoạt động chính của CSAGA là Thúc đẩy Bình đẳng giới, Phòng chống bạo lực với phụ nữ, Bảo vệ trẻ em, Phòng chống buôn bán người và Thúc đẩy quyền của người đồng tính
Phòng Hành chính
Phó GĐ Truyền thông – Gây quỹ Giám
đốc
Phó GĐ Chương trình
Phòng Kế toán
Trang 40Các lĩnh vực hoạt động chính
Mục tiêu hoạt động của CSAGA là giúp bảo vệ và thúc đẩy quyền cho các nhóm phụ nữ và trẻ em bị ảnh hưởng bởi kỳ thị và bạo lực, ví dụ như nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của buôn bán người, những trẻ em bị trừng phạt thân thể tại gia đình và nhà trường, và những người đồng tính bị kỳ thị trong cộng đồng
1.2.2.2 Giới thiệu về dự án “Hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng chính sách và thí điểm
mô hình hòa nhập cộng đồng cho nữ lao động tình dục tại Hà Nội”:
- Tên dự án: “Hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng chính sách và thí điểm mô hình hòa nhập cộng đồng cho nữ lao động tình dục tại Hà Nội”
- Tên nhà tài trợ: Plan Thụy Sỹ thông qua Tổ chức Plan tại Việt Nam
- Cơ quan chủ quản: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
- Chủ dự án: Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội
- Cơ quan/tổ chức tham gia thực hiện dự án:
+ Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội – Bộ LĐTBXH
+ Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội – Sở LĐTBXH thành phố Hà Nội
+ Tổ chức Plan tại Việt Nam- Văn phòng Plan vùng Hà Nội
+ Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA)
+ Viện phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh Sáng (LIGHT)
+ Trung tâm dạy nghề cho thanh niên có hoàn cảnh khó khăn (REACH)