Nhân tài là vật báu của quốc gia…” truyền thốngtrọng dụng người hiền tài này được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên thành tưtưởng chiến lược và chính Người đã thể hiện và thực hiện một cách
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa cha ông ta đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm về việctuyển chọn, đào tạo, dùng người, dùng nhân tài Trên tấm bia khoa thi năm
1710 có ghi: “Nhân tài là nguyên khí của nước, nguyên khí bền vững thì nướcmới thịnh vượng” Trên văn bia khoa thi 1715 cũng có ghi: “Cây ở đỉnh núikia tươi tốt vì ở đó có ngọc, dưới dòng suối kia êm đềm vì ở đó có châu, vậnhội nước nhà được thịnh vượng, cơ đồ được vững vàng vì có hiền tài đôngđúc như cây trong rừng Nhân tài là vật báu của quốc gia…” truyền thốngtrọng dụng người hiền tài này được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên thành tưtưởng chiến lược và chính Người đã thể hiện và thực hiện một cách xuyênsuốt rất thành công trong tiến trình của cách mạng dân tộc
Ngay từ những ngày đầu sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, đấtnước ta đang đứng trước nhiều nhiệm vụ cấp bách: kiến thiết và bảo vệ đấtnước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Nhân tài và kiến quốc”, trong
đó Người viết: “Nhân tài nước ta dù chưa nhiều lắm, nhưng nếu chúng takhéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển,càng nhiều thêm” Sau đó, Người lại ra chỉ thị “Tìm người tài đức” nhấnmạnh: “Nhà nước cần phải kiến thiết Kiến thiết cần phải có nhân tài Trong
số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức”
Với tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, tin ở con người, tin ở nhân dân, tin ởlòng yêu nước và khả năng tiềm ẩn ở mỗi con người, và với tình cảm chânthành, trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãcuốn hút và trọng dụng rất nhiều người tài năng, nhất là các vị nhân sĩ, tríthức vào công cuộc kiến thiết và bảo vệ nền độc lập của dân tộc
Tư tưởng về việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ của Chủ tịch HồChí Minh là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên những thắng lợi vĩđại của dân tộc trong chặng đường cách mạng đã qua
Trang 2Hiện nay, đất nước ta đang hội nhập sâu rộng với thế giới, tranh thủnhững vận hội to lớn để phát triển với mục tiêu sớm đưa đất nước trở thànhmột nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trong bối cảnh ấy, để đất nước
có thể vững bước trên chặng đường phía trước, tiến đến mục tiêu, dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vẫn không ai khác ngoài
“cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền vớivận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ”1 Trong khi đó, hiện nay “độingũ cán bộ tuy đông nhưng không đồng bộ, vẫn còn tình trạng “vừa thừa vừathiếu Trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo và quản lý chưa đáp ứng đượcyêu cầu nhiệm vụ mới”, “công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ lúng túng, bấtcập”2 Chính vì thế, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyểnchọn, đào tạo và sử dụng cán bộ với tinh thần “ôn cố tri tân” trong tình hìnhhiện nay là việc làm mang tính cấp thiết, thực sự có ý nghĩa lý luận và thựctiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu tư tưởng HồChí Minh về tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ là đề tài lớn, mang tínhchính trị sâu sắc, mang tính dân tộc cao cả Chính vì thế, đề tài đã nhận được
sự quan tâm đông đảo của các nhà khoa học
Liên quan đến chủ đề này có tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán
bộ và công tác cán bộ” của PGS.TS Bùi Đình Phong, nhà xuất bản Lao động,
2006 Ở tác phẩm này, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống tư tưởng HồChí Minh về cán bộ và công tác cán bộ Tuy nhiên, vấn đề tuyển chọn, đàotạo và sử dụng cán bộ chưa được tác giả tiếp cận một cách chi tiết cụ thể vàsâu sắc
1,2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết hội nghị lần thứ ba ban chấp hành Trung ương khoá VIII về chiến
lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước http: // www, cpv Org vn/van kien/tudhdendh/
nghiquyet3.htm.
Trang 3Ngoài ra, vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo và
sử dụng cán bộ còn được tác giả nghiên cứu ở dạng các bài viết đăng trên báo,tạp chí nhưng còn tản mạn
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành tựu của người đi trước, đề tàinghiên cứu này đưa ra cách tiếp cận cụ thể hơn, chi tiết hơn tư tưởng Hồ ChíMinh về tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ, từ đó, thấy được ý nghĩa to lớn
tư tưởng của Người trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
a Mục đích:
Trình bày nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn, đào tạo, sửdụng cán bộ và ý nghĩa của tư tưởng này đối với việc xây dựng đội ngũ cán
bộ ở nước ta hiện nay
b Nhiệm vụ: để đạt được mục tiêu nói trên, đề tài đã xác định 3 nhiệm
vụ cần phải giải quyết là:
Thứ nhất: trình bày điều kiện kinh tế - xã hội và nguồn gốc hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ
Thứ hai: nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo
và sử dụng cán bộ
Thứ ba: nêu lên ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn, đàotạo và sử dụng cán bộ với việc xây dựng đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay
4 Ý nghĩa của đề tài
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo và
sử dụng cán bộ có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn Về mặt lý luận, đề tài sẽgóp phần làm rõ và sâu sắc thêm hệ thống giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh vềviệc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ Đề tài có thể được sử dụng đểnghiên cứu, vận dụng trong thực tiễn công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở các
cơ quan, đơn vị… ở nước ta hiện nay
Trang 45 Giới hạn của đề tài
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác cán bộ nói chung bao gồmnhiều khía cạnh như: phát hiện - lựa chọn cán bộ, đào tạo - bồi dưỡng cán bộ,đánh giá - sử dụng cán bộ, tổ chức - quản lý cán bộ, kiểm tra công tác cán bộ,luân chuyển cán bộ, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, quy hoạch cán bộ…
Ở đây, đề tài chỉ nghiên cứu đến phần nói về việc tuyển chọn, đào tạo
và sử dụng cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 56 Kết cấu của đề tài
Toàn bộ đề tài được kết cấu 3 phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung
và phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dunggồm 2 chương
Trang 6Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ – XÃ HỘI VÀ NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC TUYỂN CHỌN, ĐÀO TẠO VÀ SỬ
DỤNG CÁN BỘ 1.1 Bối cảnh, tình hình thế giới và trong nước với sự hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
1.1.1 Tình hình thế giới với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Vào thế kỷ XIX các nước đế quốc trên thế giới đang áp đặt sự thống trịtrên khắp các châu lục như: châu Á, châu Phi, châu Mỹ - La Tinh… Giai cấpcông nhân ở các nước đế quốc, đặc biệt là ở Anh và Pháp đang sôi động trongcuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản Để luận chứng cho vai trò, sứ mệnh của
giai cấp vô sản trên toàn thế giới, “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” do C.Mác và
Ph.Ăngghen soạn thảo đã ra đời Bản tuyên ngôn không chỉ là vũ khí lý luậncủa giai cấp công nhân trên toàn thế giới mà còn là ngọn cờ tập hợp giai cấpcông nhân, giai cấp vô sản trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống lạigiai cấp tư sản với khẩu hiệu “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”1 Đây làgiai đoạn “đã đến lúc người cộng sản phải công khai trình bày trước toàn thếgiới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình”2 Được sự dẫn dắt soi đườngbởi vũ khí lý luận của chủ nghĩa Mác, giai cấp công nhân ngày càng phát triển
về số lượng và chất lượng Con đường đấu tranh của giai cấp công nhân đi từ
tự phát đến tự giác, lần đầu tiên giai cấp công nhân được tổ chức và đứng lên
vũ đài lịch sử với tư cách là lực lượng độc lập về chính trị Cối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bước sang một gia đoạn mới, đó là bướcchuyển từ chủ nghĩa tư bản như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh ,Pháp và Mỹ bóc lột Thời đại đó đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa
1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Sự thật,, Hà nội, 1980, t.1, tr.586.
2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Sự thật,, Hà nội, 1980, t.1, tr.539.
Trang 7giai cấp vô sản và tư sản ở chính quốc, mâu thuẫn giữa các dân tộc bị bóc lộtvới bọn thực dân đế quốc, mâu thuẫn giữa đa số người lao động với địa chủphong kiến, đặc biệt là ở phương Đông, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân ởthuộc địa với tư bản ở chính quốc và tư sản bản xứ, mâu thuẫn giữa các nước
đế quốc với nhau Những mâu thuẫn đó ngày một phát triển, tích tụ tạo tiền đềdẫn đến các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX Tính tất yếu
đó được mở đầu bởi cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) và tiến đến là cáchmạng tháng mười Nga (1917) Cách mạng tháng mười Nga thành công doĐảng tiên phong của giai cấp vô sản lãnh đạo đã minh chứng một thời đạimới đã xuất hiện - thời đại ưu thế thuộc về giai cấp công nhân
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh chung ấy, nền kinh tế, văn hoá, xã hội Việt Nam chịu
sự tác động trực tiếp của chính sách xâm lược và thống trị của thực dân Pháp.Pháp vào xâm lược nước ta, từng bước xác lập quyền lực thống trị của thựcdân cũ ở Đông Dương: củng cố bộ máy cai trị về mọi mặt, tăng cường mởrộng khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ “mẫu quốc” Xã hội ViệtNam trước kia vốn tĩnh tại, giờ bị xáo trộn lên bởi sự hoạt động rầm rộ đểkhai thác đồn điền, hầm mỏ của thực dân Pháp Sự phân hoá giai cấp trong xãhội Việt Nam cũng diễn ra ngày càng sâu sắc
Được sự dung dưỡng của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ Việt Namnhanh chóng củng cố địa vị kinh tế, xác lập địa vị chính trị trong hệ thốngchính quyền cơ sở tổng và xã Chính vì thế, tầng lớp địa chủ mới này rất trungthành với chủ nghĩa thực dân Nếu giai cấp địa chủ ngày càng giàu lên thìngược lại, giai cấp nông dân ngày càng bị bần cùng hoá, mất dần ruộng đất, bịPháp cưỡng bức lao động trong các hầm mỏ, đồn điền cây công nghiệp Với
Trang 8sự thống trị của thực dân đế quốc làm cho vị trí, vai trò và uy tín của nhàNguyễn đối với nhân dân ngày một giảm.
Tinh thần trung quân, ái quốc trong ý thức hệ của nhân dân từng bướcđược tách ra Tinh thần ái quốc được đặt lên hàng đầu làm cho nhiều phongtrào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện không còn vì phò vua
trong bài Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc: “Tôn Dật Tiên, người
cha của cách mạng Trung Quốc” Tuy nhiên Hồ Chí Minh đã nhận thấy rõchủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn cơ bản vẫn là tư tưởng dân chủ tư sản,nằm trong hệ tư sản nên vẫn còn nhiều những hạn chế, trên cơ sở đó người đãkhắc phục và bổ sung vào hệ tư tưởng của Người Đồng thời Người đã ảnhhưởng tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp đó l tư tưởng cách mạng dân chủ
tư sản Tiêu biểu cho trào lưu tư tưởng này là Vônte (Voltaire), Môngtexkiơ(Montesquieu), Rútxô (Rousseau)…Trong tư tưởng dân chủ tư sản, nổi bậc là
tư tưởng chống lại quân quyền, thần quyền, địi quyền bình đẳng cho conngười, quản lý x hội phải được thực hiện bằng pháp luật, mọi người thực hiệnquyền bình đẳng dựa trên cơ sở của pháp luật Thể chế chính trị là nền dânchủ cộng hoà, dựa vào cơ sở lý luận của thuyết “tam quyền phn lập.” Trong
bộ my cai trị phải tch thnh 3 mặt của quyền lực chính trị: lập pháp, hành pháp,
tư pháp nhằm đối trọng và kiểm soát lẫn nhau, tránh tư tưởng độc quyền
Trang 9chính trị Chủ quyền của x hội l thuộc về nhn dn, quyền lực của tồn thể nhn
dn tối cao, khơng thể nhn nhượng, không thể chia cắt
Những tư tưởng về độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái này đã tác độngmạnh mẽ vào các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta Phongtrào Đông Du (1906- 1908) của Phan Bội Châu, phong trào Đông Kinh NghĩaThục (1907) của Lương Văn Can, phong trào Duy Tân (1906- 1908) xuất hiện
là quy luật khách quan và xu thế tất yếu của sự phát triển xã hội Sự kìm kẹpcủa thực dân Pháp cộng làm cho nhân dân Việt Nam chống lại chúng, là tiền
đề đi đến sự thiết lập một trật tự xã hội mới Nó đã được chuẩn bị về mặt thựctiễn xã hội chỉ còn là gieo hạt giống tinh thần đến với quần chúng lao động.Việc gieo hạt giống lý luận đòi hỏi phải có phương pháp Phương pháp củaPhan Chu Trinh là “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” và cải cách dânchủ ; phương pháp của Phan Văn Trường là “dụng lý thuyết thâu nhân tâm”,phương pháp của Phan Bội Châu là “cầu cứu nghĩa đồng văn, đồng chủng;chạy đông chạy tây, dĩ ngoại đột nội”1 Có thể nói, phương pháp và cách thứctiến hành cách mạng giải phóng dân tộc của các phong trào rất sôi nổi về nộidung, đa dạng và phong phú về hình thức, song tất cả con đường cứu nước đóchưa vượt ra khỏi phạm vi của các “cuộc cách mạng không đến nơi” Phongtrào Cần Vương chấm dứt khẩu hiệu “phò vua giúp nước” Phong trào Đông
Du, phong trào Duy Tân theo con đường tư sản vừa bùng lên đã bị dập tắt.Phương pháp cách mạng của họ có nhược điểm chủ yếu là không nhận thứcđúng đắn, đầy đủ về yêu cầu và nhiệm vụ cấp bách của xã hội Việt Nam
Họ chưa được trang bị phương pháp luận khoa học để nhận thức về sựvận động và phát triển xã hội Việt Nam một cách toàn diện, giai cấp tư sảncòn non trẻ trên cả lý luận cũng như thực tiễn, cơ sở vật chất còn nhiều hạn
1 Đặng Xuân Kỳ (1977): Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.40.
Trang 10chế Sau giai đoạn phát triển của các phong trào dân tộc dân chủ, các phongtrào yêu nước đó cũng nối tiếp tan rã trước sự đàn áp của thực dân Pháp.
Khi Nguyễn Tất Thành lớn lên, phong trào cứu nước đầu thế kỷ XXđang thời kỳ khó khăn nhất Phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn giànhđược thắng lợi, phải đi theo con đường mới Sứ mệnh lịch sử đặt ra cho cảdân tộc, cho mỗi người dân Việt Nam lúc bấy giờ là tìm ra con đường để cứunước, cứu dân ra khỏi ách thống trị của bọn thực dân Pháp và bọn tay sai.Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện
1.2 Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn,
đào tạo, sử dụng cán bộ
1.2.1 Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Nghệ An, mảnh đất nơi sinh ra và lớn lên của Hồ Chí Minh, từ xa xưađược mệnh danh là vùng “rừng chết”, thiên nhiên rất khắc nghiệt, nhưng cũng
là vùng đất “địa linh nhân kiệt” Chính mảnh đất này đã sản sinh ra nhiềunhân vật lịch sử kiệt xuất trong bốn ngàn năm lịch sử, đặc biệt là huyện NamĐàn, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Quê hương là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử cứu nước, vì thế mànhững con người sinh ra trên mảnh đất Nam Đàn này đã sớm nung nấu lòngyêu nước, căm thù giặc sâu sắc
Dân tộc Việt Nam qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử dựng nước vàgiữ nước, cha ông ta đã hun đúc nên những truyền thống văn hiến lâu đời vớitriết lý nhân sinh hết sức sâu sắc Hồ Chí Minh là người được thừa hưởngnhững giá trị quý báu đó để trở thành người đại diện cho sự kết tinh những giátrị triết lý, văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới Đặcbiệt là những tư tưởng “trời đất với con người hoà hợp”, những con người cóthể “đội đá vá trời, dời núi lấp sông lấn biển”, “nhân định thắng thiên” Đặctrưng truyền thống văn hoá dân tộc là tư tưởng nhân văn và lòng khoan dung
Trang 11sâu sắc, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” Truyềnthống dân tộc Việt Nam trở thành nền tảng, cơ sở, là hạt nhân và là cội nguồntrong tư tưởng Hồ Chí Minh Một trong những đặc điểm nổi bật của truyềnthống văn hoá dân tộc là tinh thần yêu nước Tinh thần yêu nước trở thànhđạo lý sống và là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam Hơn nữa, nó còn đượccoi là nhân tố trung tâm, đứng hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của conngười Việt Nam Hơn ai hết, Hồ Chí Minh biết rõ giá trị và sức mạnh của tinhthần yêu nước Việt Nam, Người viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêunước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bịxâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh
mẽ, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước
và bọn cướp nước”1 Người cũng viết: “lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước,chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đưa tôi đi theo Lênin, tin theo Quốc tế thứba”2 Như vậy, chính chủ nghĩa yêu nước là động lực trực tiếp thôi thúc HồChí Minh làm cách mạng cứu nước, cứu dân
Tinh thần yêu nước của người Việt Nam không tách rời tinh thần độclập dân tộc Các thế lực phong kiến phương Bắc từ rất sớm đã áp đặt âm mưuHán hoá lên đất nước ta để rồi sớm nhận ra rằng: “Việt tộc chỉ chịu sự thuyếtphục vì chính nghĩa, chứ không nhường vì bạo hành Lấy nhân nghĩa đạo đức
mà chinh phục nhân tâm thì người phương Nam rất dễ cảm phục, chứ Việt tộcvốn có tinh thần dân tộc độc lập rất cao”3 Nguyễn Trãi đã lấy văn hiến, bờcõi, phong tục tập quán, truyền thống trọng nhân tài, chiêu hiền đãi sỹ đểchứng minh điều đó:
“Nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
1 Hồ Chí Minh: Toàn Tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.6, tr.171.
2 Hồ Chí Minh: Toàn Tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.6, tr.128.
3 Nguyễn Đăng Thục (1998): Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh, t.2, tr.43.
Trang 12Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc, Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phươngTuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có…”
Hồ Chí Minh kế thừa, tiếp thu tinh hoa văn hoá dân tộc không chỉ là ởcấp độ lý luận, nhận thức mà bằng hoạt động thực tiễn tham gia đấu tranh giảiphóng dân tộc, giải phóng con người
1.2.2 Tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
Tư tưởng Hồ Chí Minh được kế thừa, tiếp thu có phê phán tư tưởng vănhoá phương Đông, đặc biệt là tư tưởng Nho, Lão, Phật
Về tư tưởng Nho giáo, học thuyết Chính danh của Nho giáo nếu bỏ quanhững hạn chế bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp trong quy định danhphận ở chế độ phong kiến thì đó là một trong những tư tưởng có ý nghĩa lịch
sử nhất định Không chỉ kế thừa học thuyết chính danh mà tư tưởng về trung,hiếu của Nho giáo được Hồ Chí Minh nâng lên với một nội hàm và ý nghiãmới, bởi “đạo đức ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ… ngàynay phải trung với nước, hiếu với dân”1 Ngoài những phạm trù nhân, lễ,nghĩa, trí, tín, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, … của Nho Giáo được người đónnhận, nâng nó lên thành triết lý sống và là tiêu chuẩn đạo đức của người cáchmạng
Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều phạm trù đạo đức của Nho giáo để nói
về đạo đức cách mạng của người cán bộ Hãy xem Hồ Chí Minh giảng giảicác phạm trù nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm với tư cách là đạo đức cách mạngcủa người cán bộ:
1 Hồ Chí Minh (2000): Toàn Tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4, tr.149.
Trang 13“a/ Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào.
Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng,đến nhân dân Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnhphúc sau thiên hạ Vì thế mà không thích giàu sang, không e cực khổ, không
sợ oai quyền
Những người đã không ham, không e, không sợ gì, thì việc gì họ cũnglàm được
b/ Nghĩa là ngay thẳng, không có tâm tư, không làm việc gì bậy, không
có việc gì phải giấu Đảng Ngoài lợi ích của Đảng không có lợi ích riêng phải
lo toan Lúc Đảng giao việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận Thấyviệc phải thì làm, thấy việc phải thì nói Không sợ người ta phê bình mình, màphê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn
c/ Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trongsạch, sáng suốt Dễ hiểu lý luận Dễ tìm phương hướng Biết xem người, biếtxem việc Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vìĐảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian
d/ Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm Thấy việc saiphải có gan sữa chữa Cực khổ, khó khăn, có gan chịu đựng Có gan chống lạinhững sự vinh hoa phú quý, không chính đáng Nếu cần thì có gan hy sinh cảtính mạng cho Đảng, cho tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát
đ/ Liêm là không tham địa vị Không tham tiền tài Không tham sungsướng Không ham người tâng bốc mình Vì vậy mà quang minh chính đại,không bao giờ hủ hoá Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ
Đó là đạo đức cách mạng, đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu Nó làđạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợiích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”1
1 Hồ Chí Minh (2000): Toàn Tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5, tr.251- 253.
Trang 14Quan điểm về “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, tu thân, tề gia,trị quốc, bình thiên hạ” của Nho giáo được Hồ Chí Minh đón nhận và vậndụng một cách sinh động tinh tế
Sự kế thừa tư tưởng Lão giáo được thể hiện trong triết lý sống, phongcách sống bình dị, trong sáng thanh cao, ung dung tự tại của Hồ Chí Minh Đó
là triết lý sống mà Người đã chắt lọc được trên cơ sở kế thừa tư tưởng Lãogiáo Với triết lý sống đó, Hồ Chí Minh có đầy đủ ý chí, lòng quyết tâm vànghị lực cần thiết trong những hoàn cảnh nhất định Nhất là những lúc Ngườithư thái ung dung hoà mình vào thiên nhiên, không màng danh lợi, vinh hoaphú quý, Người chỉ cần “một cái nhà nho nhỏ nơi có non xanh nước biếc đểcâu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu,không dính líu gì với vòng danh lợi”2
Tư tưởng của Hồ Chí Minh còn chứa đựng tinh thần triết học Phật giáo
Tư tưởng cơ bản của Phật giáo là giáo dục con người về lòng từ bi, vị tha, cứukhổ, cứu nạn Đây là một trong những tư tưởng nhân văn sâu sắc của Phậtgiáo Tư tưởng đó được Bác tiếp thu có chọn lọc trong việc giáo dục đạo đứcngười cách mạng Hồ Chí Minh cho rằng người đời không phải là thánh thần,
ai cũng có mặt tốt, mặt xấu: “năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài…trong mấy triệu người cũng có người thế này người thế khác, nhưng thế nàyhay thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ…phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ”1 Nếu tư tưởng Phât giáo hướng đến giảithoát con người khỏi nỗi khổ bằng sự tu luyện tinh thần đạo đức, thì Hồ ChíMinh luôn quan tâm đến việc giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân laođộng bằng con đường hoạt động thực tiễn
Bên cạnh tiếp thu văn hoá phương Đông, Hồ Chí Minh còn kế thừa cósáng tạo văn hoá phương Tây Giáo sư Trần Văn Giàu đã rất có lý khi cho
2 Hồ Chí Minh (2000): Toàn Tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4, tr.161.
1 Hồ Chí Minh (2000): Toàn Tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.6, tr.198.
Trang 15rằng: “Nguyễn ra đi không phải chỉ một tấm lòng vì dân, vì nước, vì giống nòi
mà ra đi với cả một hành trang văn hoá Hán học và Quốc học đáng kính đượcgia tăng rất lớn bằng văn hoá Tây phương, nếu thiếu những món đó thìNguyễn không thể nào tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sâu sắc, và sẽkhó bề ứng dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo”2
Như vậy, xuất phát từ thực tế cháy bỏng khát vọng giải phóng dân tộc,
Hồ Chí Minh đã hướng tầm nhìn ra thế giới, nghiên cứu tư tưởng, học thuyết,chắt lọc cái hay, cái tốt trong Nho giáo, Phât giáo, Lão giáo, nghiên cứu chủnghĩa “Tam dân” của Tôn Trung Sơn, tư tưởng cách mạng tư sản, thuyết bấthợp tác, bất bạo động của Găngđi… Hồ Chí Minh đã nhìn nhận và đánh giácác học thuyết khác nhau một cách thật tích cực và nhân văn: “học thuyết củaKhổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, tôn giáo Giêsu
có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó
là phép biện chứng, phương pháp làm việc Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưuđiểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện của nước ta
Khổng Tử, Giêsu, Tôn Dật Tiên, Mác chẳng phải có những ưu điểmchung đó sao?
Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xãhội Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tinrằng, nhất định họ sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạnthân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”1
1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán
bộ là sự kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác cán bộ
2 GS Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, t.3, tr.23.
1 PGS TS Đỗ Quang Hưng (2001): Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh, Nxb Lao động, Hà Nội, tr.242-
243.
Trang 16Từ chủ nghĩa yêu nước, tiếp thu tinh hoa văn hoá phương Đông, phươngTây, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghiã Mác - Lênin như một tất yếu lịch sử.
Sự kiện Hồ Chí Minh đọc bản “Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong quá trình tìm đường cứu nướccủa Người Người viết: “Thế giới bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều,nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủnghĩa Mác - Lênin…”2 từ đó, Hồ Chí Minh tin theo V.I Lênin và Quốc tế thứIII
Người đã dồn hết tâm huyết để nghiên cứu tác phẩm C.Mác và V.I.Lênin Với tinh thần say mê, lòng nhiệt huyết của một chiến sỹ cách mạng,cộng với đức tính cần cù, thông minh, Người đã nghiên cứu một cách sâu sắcquan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác cán bộ và vận dụng một cáchsáng tạo những quan điểm này vào công tác cán bộ của Đảng
Sau Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và phong tràocông nhân quốc tế có bước phát triển mới Những gì mà C.Mác và
Ph.Ăngghen đề cập trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” từ giữa thế kỷ XIX
đang dần hiện hữu trong thực tiễn cách mạng thế giới: giai cấp công nhân đãbước lên vũ đài chính trị; cách mạng xã hội chủ nghĩa đã nổ ra ở nước Nga vàgiành thắng lợi Các đảng cách mạng chân chính, đảng Mác - Lênin, đảngkiểu mới của giai cấp công nhân lần lượt ra đời và đã nắm được ngọn cờ cáchmạng Trước đây, với tư cách là những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hộikhoa học, đem lý luận khoa học kết hợp với phong trào công nhân lập nên tổchức cộng sản đầu tiên trên thế giới, C.Mác và Ph.Ăngghen là những ngườiđặt nền móng cho vấn đề cán bộ của giai cấp vô sản Hai ông không chỉ đềcập sự xuất hiện của những con người vĩ đại trong mỗi thời đại xã hội, mà còncho rằng: “muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực
2 Hồ Chí Minh (2000): Toàn Tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.2, tr.268.
Trang 17lượng thực tiễn”1 Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử lúc đó, C.Mác vàPh.Ăngghen chưa có thực tế để bàn nhiều vấn đề cán bộ và công tác cán bộ.Nhưng hai ông rất quan tâm tới việc xây dựng một đội ngũ những người làmcông tác tuyên truyền, cổ động tư tưởng cộng sản, gây dựng phong trào côngnhân để lập ra những đảng cách mạng chân chính Thực chất, những nhàtuyên truyền, cổ động đó chính là những cán bộ cách mạng chuyên nghiệpcủa đảng trong thời kỳ hoạt động bí mật Họ là vốn quý của đảng để tiếp tụcxây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ hiện nay.
Mác - Lênin, trong quá trình chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩagiành chính quyền về tay công nhân - nông dân, rất quan tâm đến vấn đềthành lập đảng cộng sản và xây dựng đội ngũ cách mạng chuyên nghiệp chophong trào cách mạng vô sản Người tin chắc rằng, nếu xây dựng được tổchức cộng sản thì sẽ “đảo lộn cả nước Nga” Tổ chức đó phải bao gồm
“những nhà chính trị của giai cấp thực sự của mình, những nhà chính trị vôsản và không thua kém những nhà chính trị của giai cấp tư sản”1
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, giai cấp vô sản và chính đảng củamình giành được quyền lãnh đạo, giữ vững được chính quyền thì phải đào tạođược một đội ngũ cán bộ trung thành, đáp ứng được nhiệm vụ cách mạng Họđích thực phải là người cán bộ chuyên nghiệp, là rường cột của đất nước Độingũ cán bộ và vai trò lãnh đạo của Đảng có mối quan hệ biện chứng Đảnglãnh đạo công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ vững mạnh, tạo được uy tín trongquá trình lãnh đạo của Đảng V.I.Lênin còn chỉ ra mối quan hệ giữa các chínhĐảng với những con người cụ thể giữ những trọng trách nhất định, tức là cáclãnh tụ Ông viết: “thông thường thì các chính đảng nằm dưới sự lãnh đạo củanhững nhóm ít nhiều có tính chất ổn định, gồm những người có uy tín nhất, có1
1 Hồ Chí Minh (2000): Toàn Tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.2 tr.181.
1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1977, t.41, tr.80- 81.
Trang 18kinh nghiệm nhất, được bầu giữ những trọng trách trọng yếu nhất và người tagọi đó là lãnh tụ”2.
Sự lãnh đạo của đảng theo V.I.Lênin phải bằng đường lối chính trị, bộmáy tổ chức, bố trí cán bộ Sự lãnh đạo đó phải thông qua những con người
cụ thể Người viết: “sự lãnh đạo chính trị sẽ là gì chứ? Ai lãnh đạo nếu khôngphải là những con người, lãnh đạo cách nào nếu không phải là những conngười, lãnh đạo cách nào nếu không phải phối hợp lực lượng”1
Không có một đội ngũ cán bộ đông đảo về số lượng, đặc biệt đảm bảochất lượng thì không thể nói tới quyền lãnh đạo: “người cộng sản lãnh đạo chỉ
có một cách duy nhất để chứng minh quyền lãnh đạo của mình đó là tìm chomình được nhiều, càng ngày càng nhiều những người phụ tá…, biết giúp đỡ
họ làm việc, biết đề bạt họ, biết giới thiệu và chú ý đến kinh nghiệm của họ”2
Đảng cầm quyền có hai vấn đề hệ trọng: một là đường lối chính trị, hai
là vấn đề cán bộ, trong đó, theo V.I.Lênin: “mấu chốt là vấn đề người, vấn đềlựa chọn người” Bởi vì mọi nghị quyết, đường lối, chủ chương đều do conngười làm ra
Cán bộ giữ vai trò rường cột, nhưng phải là cán bộ đã được lựa chọn,đảm bảo phẩm chất, trình độ về nhiều mặt Nếu không tìm thấy sự nâng cao,vượt trội về phẩm chất, năng lực ở những người cán bộ thì họ không xứngđáng là cán bộ, chưa nói đến những người cộng sản, người lãnh đạo Bởi vìnếu như vậy, họ cũng chỉ như bộ phận còn lại của giai cấp vô sản mà thôi
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết:
“về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong tất
cả các đảng công nhân ở các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào
2 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1977, t.41, tr.30.
1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1977, t.40, tr.306.
2 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1977, t.42, tr.407.
Trang 19tiến lên, về mặt lý luận Họ hơn một bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ
họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vôsản”1
Yêu cầu chung nhất đối với mỗi cán bộ tự rèn luyện là phải đầy đủ cảhai mặt năng lực và thực tiễn và tư duy lý luận Xét cho cùng đấy là mặt trithức, năng lực Chỉ có như vậy thì chưa đủ mà còn phải có đạo đức cáchmạng Có lúc V.I.Lênin khái quát thành điểm chung nhất là “phẩm chất caoquý” của con người cán bộ, trong đó bao hàm cả năng lực và lòng trung thànhvới sự nghiệp, mà “lòng trung thành đối với cách mạng” là điều kiện, là tiêuchuẩn quan trọng đầu tiên đối với mỗi cán bộ, đảng viên
Phẩm chất, năng lực cần được hiểu một nội dung rộng bao gồm cả lòngtrung thực và tính cương quyết, có bản lĩnh và nhiệt tình cách mạng, lòng kiênnghị và tính tự giác… đặc biệt đã là cán bộ thì nhất định không có đặc quyền,đặc lợi, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân Như C Mác, họ là nhữngngười “đầy tớ họ luôn luôn có thể bị bãi miễn…, luôn luôn hành động dưới sựkiểm soát của nhân dân…, không nấp sau chế độ quan liêu giấy tờ, khôngngại thừa nhận những sai lầm của mình bằng cách sửa đổi những sai lầm ấy”2
Điều mà C.Mác và Ph.Ăngghen và V.I.Lênin nhấn mạnh nhiều và saunày Hồ Chí Minh thường xuyên đề cập là “nói là phải đi đôi với làm” Ngườicán bộ, đảng viên không chỉ tuyên bố hay hứa hẹn, không chỉ tuyên truyềntheo tinh thần nghị quyết, mà điều quan trọng là phải làm, phải thông quathực tiễn để chứng minh tính đúng đắn của nghị quyết V.I Lênin nhấn mạnh:
“muốn thực sự trở thành người trung thành với đảng, mà chỉ tự xưng như vậythì chưa đủ, nếu chỉ tuyên truyền “theo tinh thần” cương lĩnh của Đảng công
1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, t.4, tr.641- 615.
2 C Mác và Ph Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, H 1983, t.4, tr.641- 53- 56.
Trang 20nhân dân chủ - xã hội Nga thì chưa đủ, mà còn phải tiến hành toàn bộ côngtác thực tiễn theo đúng nghị quyết, sách lược của Đảng”1.
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ dừng lại ở việc đề
ra một cách toàn diện tiêu chuẩn cán bộ mà trên cơ sở đánh giá vai trò của cán
bộ, các ông còn chỉ ra những yêu cầu, nội dung cụ thể của công tác cán bộ với
ý nghĩa đảng, người làm công tác cán bộ là chủ thể, còn cán bộ là khách thể
Trước hết là vấn đề lựa chọn cán bộ Có nhiều cách lựa chọn cán bộ.Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, việc lựa chọn cán bộphải căn cứ vào yêu cầu chung của nhiệm vụ cách mạng, tiêu chuẩn cán bộ(tiêu chuẩn chung và theo nhiệm vụ cụ thể được giao)
Chúng ta đều biết mỗi thời kỳ, nhiệm vụ cách mạng được đặt ra khácnhau Tiêu chuẩn cán bộ, có tiêu chuẩn chung, nhưng có những tiêu chuẩnriêng cho từng thời kỳ Nếu nói một cách chung nhất là phẩm chất và nănglực thì mỗi thời kỳ - khi chưa có chính quyền, khi đã có chính quyền, thời kỳxây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng có những đòi hỏi cụ thể khác nhau Căn cứvào công việc cụ thể để chọn người là một căn cứ rất quan trọng để làm lợicho cách mạng và để khẳng định người được lựa chọn có xứng đáng vớinhiệm vụ được giao hay không V.I.Lênin viết: “chúng ta cần phải lựa chọncán bộ phụ trách, và ở đây không thể có vấn đề không tín nhiệm đối với mộtngười nào đó là không được bầu, mà chỉ có vấn đề xem xét xem việc đó có lợicho sự nghiệp không và người được lựa chọn có xứng đáng với chức vụ ấy sẽđảm nhiệm không”1
C.Mác và V.I.Lênin đều rất nhấn mạnh đến tính khoa học trong việclựa chọn và sử dụng cán bộ Các ông cho rằng, sử dụng, bố trí cán bộ một
1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1980, t.20, tr.339.
1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1979, t.8, tr.359.
Trang 21cách khoa học, nghĩa là phải đặt người ở đúng vị trí, có tri thức, kinh nghiệm
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sau khi giành được chính quyền, giai cấpnào cũng phải cùng với việc thay đổi quan hệ sở hữu, ban hành hiến pháp mới
để củng cố giữ vững chính quyền - là việc lo toan đội ngũ cán bộ, đặc biệt làviệc lựa chọn, sử dụng cán bộ từ giai cấp mình V.I.Lênin là người đi tiênphong trong công việc sử dụng các khuynh hướng tư sản, nhưng điều đókhông thể thay thế được việc lựa chọn cán bộ xuất thân từ công nông Ôngviết: “chúng ta phải quản lý với sự giúp sức của những người xuất thân tronggiai cấp đã bị chúng ta đánh đổ, những người đã tiêm nhiễm những thiên kiếncủa giai cấp họ và là những con người mà chúng ta có nhiệm vụ cải tạo Đồngthời, chúng ta phải tuyển những cán bộ quản lý của chúng ta ngay từ tronghàng ngũ của chính giai cấp chúng ta”1
Tuyển lựa cán bộ xuất thân từ nhân dân lao động là nhiệm vụ cấp bách,vừa lâu dài của một đảng cách mạng biết vận dụng sáng tạo học thuyết Mác -Lênin Nó vừa thể hiện chiều sâu, vừa phản ánh bề rộng của công tác cán bộ.V.I Lênin rất chú ý đến việc lựa chọn cán bộ từ một người chưa phải cán bộđảng viên Đảng Cộng sản và cán bộ trẻ
1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1979, t.40, tr.294
Trang 22Bàn đến chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp của chủ nghĩa xã hội,V.I.Lênin rất chú trọng đến hai vấn đề sau đây: một là năng suất lao động caohơn năng suất lao động chủ nghĩa tư bản; hai là, phẩm chất của đội ngũ cán
bộ, đảng viên Để giải quyết hai vấn đề đó, Người rất coi trọng đội ngũ cán bộkhoa học - kỹ thuật Vì vậy, tuy lựa chọn cán bộ xuất thân từ công nôngnhưng phải trí thức hoá công nông và coi đó là một trong những điều kiện đilên chủ nghĩa xã hội Không ngăn chặn, đẩy lùi được tình trạng tha hoá, biếtchất của đội ngũ cán bộ, đảng viên bằng giáo dục và pháp luật
Hồ Chí Minh tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và vậndụng một cách sáng tạo vào thực tiễn công tác cán bộ nước ta Khi bàn về vaitrò người cán bộ trong công cuộc cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặt cán bộtrong tổng hòa các mối quan hệ đa chiều Trước hết, Người coi “cán bộ là gốccủa mọi công việc” Theo Người, cây thì phải có gốc, không có gốc thì câykhô héo; sông thì phải có nguồn, không có nguồn thì sông cạn Vì vậy, trongmọi công việc nếu không có cán bộ thì không thể hoàn thành được
Vấn đề cũng không phải chỉ dừng lại ở chỗ có hay không có cán bộ Đómới chỉ là cấp độ thứ nhất, cũng như cây thì phải có gốc Nhưng “gốc” là từ
đó sinh ra, là nguyên nhân làm cho cây mạnh khoẻ tốt tươi hay ngược lại HồChí Minh viết: “muốn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặckém”
Cán bộ còn được hiểu là dây chuyền của bộ máy Nếu trong cỗ máycông nghiệp, dây chuyền liên quan đến nhiều bộ phận Nếu dây chuyền khôngtốt, dù chạy toàn máy cũng tê liệt Trong đời sống kinh tế - xã hội, sự chuyểnđộng xã hội coi như một cái máy khổng lồ Trong cỗ máy đó cán bộ là dâychuyền là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, đây là một dây chuyền đặc biệt.Bởi vì, cán bộ phải đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hànhtrong nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, đồng thời đemtình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đưa ra
Trang 23chính sách cho đúng Như vậy, nếu cán bộ dở thì chính sách sẽ không thựchiện được, mặt khác việc hoạch định chính sách cũng dẫn đến sai lầm haykhông phù hợp với thực tiễn.
1.2.4 Nhân cách và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh
Vốn có tư chất thông minh và được giáo dục trong một gia đình cótruyền thống Nho học, ngay từ nhỏ Hồ Chí Minh đã có đủ tư duy sáng tạo độclập
Bằng một nhân cách hoàn hảo, với lòng nhân ái bao la, tình yêu dân tộc
và nhân loại, hồn nhiên giản dị, liêm khiết và vô cùng khiêm tốn, kiên quyếtlên án mọi biểu hiện sùng bái cá nhân, đấu tranh kịch liệt sự tha hoá quyềnlực… Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về tinh thần,trung với nước, hiếu với dân Người nói: “chúng ta giành được tự do, độc lậprồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập đó cũng chẳng có nghĩa gì.Dân chủ biết giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân tộc ăn no, mặc đủ.Chúng ta phải thực hiện ngay:
1 Làm cho dân có ăn
2 Làm cho dân có mặc
3 Làm cho dân có chỗ ở
4 Làm cho dân có học hành”1.Chính nhờ vậy, Hồ Chí Minh đã xây dựng được một hệ thống quanđiểm toàn diện, sâu sắc và sáng tạo về công tác tuyển chọn, đào tạo, sử dụngcán bộ trong từng thời kỳ để thực hiện những nhiệm vụ thực tiễn cách mạngđặt ra Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ vẫn là kim chỉnam soi đường cho Đảng ta trong tiến trình đất nước ta đang đẩy mạnh xâydựng chủ nghĩa xã hội
1 Hồ Chí Minh(2000): Toàn Tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4, tr.152.
Trang 24Chương 2
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC TUYỂN CHỌN, ĐÀOTẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
CÁN BỘ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ
Trong đời sống xã hội, theo cách hiểu thông thường, “cán bộ” được coi
là tất cả những người làm việc trong cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quânđội, được hưởng lương Lớp người như vậy là niềm tự hào của nhân dân,được nhân dân tin yêu Từ khi cách mạng nước ta có Đảng lãnh đạo, nhân dângửi niềm tin sâu sắc vào đội ngũ lãnh đạo của Đảng, đoàn thể Nhà nước, lựclượng vũ trang, có mặt nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau, đảm đươngnhững nhiệm vụ nặng nề trong suốt thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhândân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong cuộc trường chinh đó, nhiều cán
bộ đã hy sinh tính mạng và của cải mình vì nền độc lập, tự do của dân tộc.Nhiều cán bộ cách mạng đã phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân đến tận cuốiđời Tuy nhiên, cũng có những cán bộ sau một thời gian cùng một chiến hàovới nhân dân chống giặc đã phản bội lại lợi ích của dân tộc Không ít cán bộkhác, mang nặng tư tưởng chủ nghĩa cá nhân đã trở thành sâu mọi của nhândân
Bác Hồ trong suốt cuộc đời cách mạng của mình rất mực quan tâm đếncán bộ và công tác cán bộ Cán bộ mà chúng ta bàn tới ở đây theo quan điểmcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh là những người làm trong các cơ quan, đoàn thể,công sở, lực lượng vũ trang Họ có thể là những đảng viên đảng cộng sảnhoặc chưa phải là đảng viên Họ có thể giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo hoặclàm công tác nghiệp vụ, chuyên môn đơn thuần Tóm lại, là những người hoạtđộng trong thời kỳ cách mạng, kháng chiến, có hưởng lương để phân biệt với