1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ mẫu đến đời sống văn hóa tinh thần người dân ở hải phòng hiện nay

110 131 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hương tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân Hải Phòng hiện nay ..... Thà

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN HẢI ANH

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI DÂN

Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chủ nghĩa Xã hội Khoa học

Mã số: 60220308

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THỊ KIM OANH

Hà Nội - 2015

Trang 2

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Kim Oanh Các nhận định

nêu ra trong luận văn là kết quả nghiên cứu nghiêm túc, độc lập của bản thân tác giả luận văn trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu khoa học đã được công bố Luận văn đảm bảo tính khách quan, trung thực và khoa học

Học viên

Nguyễn Hải Anh

Trang 3

3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS TS.Trần

Thị Kim Oanh, người đã trực tiếp chỉ bảo tận tình, hướng dẫn và giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, các Cô và tập thể cán bộ

trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, đặc biệt các thầy cô ở Khoa Triết học đã giúp đỡ, dạy bảo, động viên và trao đổi ý

kiến khoa học quý báu trong suốt thời gian học tập để tôi có thể hoàn thành Luận văn này

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ và giúp đỡ để tôi có thể thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Hải Anh

Trang 4

4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

8 Kết cấu luận văn 8

Chương 1: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN HẢI PHÒNG HIỆN NAY 10

1.1 Tín ngưỡng thờ Mẫu 10

1.1.1 Một số khái niệm 10

1.1.2 Đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu 13

1.2 Đời sống văn hóa tinh thần người dân ở Hải Phòng hiện nay 32

1.2.1 Một số khái niệm 32

1.2.2 Địa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đặc điểm đời sống văn hóa tinh thần người dân ở Hải Phòng hiện nay 42

Tiểu kết chương 1 49

Chương 2: ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC TRÊN MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI DÂN Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY 50

2.1 Phương diện tinh thần 52

2.2 Phương diện lối sống 59

2.3 Phương diện thực hành tín ngưỡng 66

2.4 Một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hương tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân Hải Phòng hiện nay 75

Tiểu kết chương 2 84

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tín ngưỡng, tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, một thực thể xã hội và

là sản phẩm lịch sử do con người tạo ra Tầm ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo đến chính trị, văn hóa, xã hội đã được thể hiện rõ nét trong quá khứ và tiếp tục được khẳng định trong xã hội đương đại Ở nước ta tín ngưỡng, tôn giáo có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần của xã hội Tín ngưỡng và tôn giáo gắn bó lâu dài với dân tộc và phục vụ lợi ích dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, mục đích của tín ngưỡng, tôn giáo khá phù hợp với mục đích xây dựng xã hội mới ở nước ta hiện nay

Nhận thức được vị trí, vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ V (khóa VIII),

Đảng ta đã ra Nghị quyết Về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên

tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó xác định một trong mười nhiệm vụ cụ

thể là “chính sách văn hóa đối với tôn giáo” Nghị quyết ghi: “Về tôn giáo, thi hành nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật” [21, tr.126] Như vậy, trong quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước,

ta nhận thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống văn hóa xã hội Tín ngưỡng, tôn giáo với tính cách là một yếu tố cấu trúc của xã hội, đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến con người và xã hội trên

cả hai mặt, tích cực và tiêu cực, góp phần tạo nên sắc thái đặc biệt cho đời sống văn hóa tinh thần của nhân loại Ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần được đánh giá hết sức khác nhau, thâm chí đối lập nhau trong lịch sử Tuy nhiên, có nhiều ý kiến thống nhất với nhau rằng: tôn giáo, tín ngưỡng vừa có khả năng tạo nên những giá trị làm phong phú và

Trang 6

đó, tín ngưỡng thờ Mẫu đã phản ánh rõ nét đặc trưng của văn hoá dân gian, tăng cường ý thức liên kết cộng đồng cũng như việc đề cao vai trò người phụ nữ Trong suốt tiến trình từ hình thành, phát triển và ngày càng hoàn thiện, tín ngưỡng thờ Mẫu đã chịu ảnh hưởng nhiều từ các tôn giáo ngoại nhập như Phật Giáo, Công giáo, Hồi giáo hoặc tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Hòa Hảo và tín ngưỡng dân gian tồn tại quanh nó Tuy vậy tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong những loại hình tín ngưỡng mang tính đặc trưng của người Việt và ngày càng trở thành loại hình tâm linh không thể thiếu trong đời sống của một bộ phận quần chúng nhân dân, đặc biệt là nhân dân vùng châu thổ sông Hồng

Thành phố Hải Phòng là mảnh đất ven biển thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, là một trong những thành phố đa tín ngưỡng, tôn giáo và đa văn hóa; trong đó các loại hình tín ngưỡng và đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu rất phát triển, tùy theo mỗi thời kỳ thăng trầm của đất nước mà tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng có những nét phát triển riêng biệt và đã để lại những dấu ấn đậm nét trong lối sống của người dân đất biển từ xưa đến nay

Tín ngưỡng thờ Mẫu đã có vai trò nhất định trong xã hội của một bộ phận người dân Hải Phòng nói riêng cũng như nhiều địa phương khác nói chung mà vai trò này không phải tôn giáo nào đáp ứng được Bởi vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu tồn tại ở Hải Phòng là điều tất yếu, nên việc đi sâu tìm

Trang 7

3

hiểu những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đến đời sống văn hóa tinh thần người dân Hải Phòng là vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay của xã hội

Vì vậy, việc nhận thức đúng đắn về tín ngưỡng thờ Mẫu đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cần thiết cho

xã hội hiện nay Đồng thời, luận văn chỉ ra được những ảnh hưởng tích cực của tín ngưỡng thờ Mẫu đến đời sống văn hóa tinh thần người dân và đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế những tồn tại mà tín ngưỡng thờ Mẫu đem lại Với lý

do trên, người viết chọn vấn đề Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đến đời

sống văn hóa tinh thần người dân ở Hải Phòng hiện nay làm đề tài luận văn

thạc sĩ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Từ sau Đổi mới đến nay, tín ngưỡng thờ Mẫu và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần ngày càng được rất nhiều người biết đến không chỉ với tư cách một tín ngưỡng có lượng tín đồ ngày càng đông đảo mà còn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả Các học giả đã có những nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần ở các khía cạnh khác nhau nhưng chưa có tác giả nào đề cập đến những ảnh hưởng

cụ thể của loại hình tín ngưỡng này đến các khía cạnh của đời sống văn hóa tinh thần

Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, văn hóa, văn hóa đời sống tinh thần có các công trình tiêu biểu cho các mảng đề tài như sau:

1 Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu

Những ai tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu sẽ thấy những nghiên cứu của tác giả Ngô Đức Thịnh đưa cho chúng ta một cái nhìn hệ thống nhất, tổng quan nhất về tín ngưỡng thờ Mẫu với một số công trình tiêu biểu như Sách

Đạo Mẫu Việt Nam [72], sách Hát văn [74], sách Đạo Mẫu và các hình thức

Trang 8

4

Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á [73], sách Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận [75], sách Tín ngưỡng văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam [76]

Ngoài ra ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ

Mẫu khác như: Tam tòa Thánh Mẫu của Đặng Văn Lung [51], Văn hóa

Thánh Mẫu của Đặng Văn Lung [52], Các nữ thần Việt Nam của Đỗ Thị Hảo

và Mai Thị Ngọc Chúc, sách Nữ thần và thánh Mẫu Việt Nam do Vũ Ngọc Khánh, Mai Thị Ngọc Chúc, Phạm Hồng Hà biên soạn [29], Tục thờ Đức

Mẫu Liễu Hạnh, Đức Thánh Trần của Vũ Ngọc Khánh [46]

Bên cạnh các công trình được xuất bản dưới dạng sách in, còn có nhiều bài viết được công bố trên các tạp chí cũng đã đề cập đến tín ngưỡng thờ Mẫu

như: Đinh Gia Khánh, Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian

Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 5/1992; Văn Ty, Bước đầu tìm hiểu âm nhạc chầu văn trong tín ngưỡng Mẫu Liễu, Tạp chí Văn học, số 5/1992; Nguyễn

Minh San, Đạo Mẫu nước ta – nhìn từ hệ thống đền miếu và thần tích, Tạp chí Dân tộc học, số 1/1992; Hương Nguyên, Quanh tục thờ Thánh Mẫu, Tạp chí Di sản văn hóa, số 7/2004; Trần Lâm Biền, Quanh tín ngưỡng dân giã,

Mẫu Liễu và điện thờ, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 5/1990;

Nguyễn Minh San (1992), Đạo Mẫu ở nước ta – nhìn từ hệ thống đền miếu và

thần tích, Tạp chí Dân tộc học, số 1, tr 42-47; Nguyễn Minh San (1993), Tứ pháp – tín ngưỡng độc đáo của người Việt, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ

thuật, số 5, tr 62-64; Phạm Quỳnh Phương (1994), Khát vọng của người phụ

nữ Việt Nam qua truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Tạp chí Khoa học về

phụ nữ, số 4, tr 4-5; Nguyễn Kim Hiền (2001), Lên đồng một sinh hoạt tâm

linh mang tính trị liệu, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, tr 69-78; Nguyễn

Quốc Tuấn (2004), Chu Xuân Giao, Phan Lan Hương (2008), Truy tìm những

chân thực riêng lẻ: về thời điểm xuất hiện của phủ Tây Hồ từ góc nhìn nhân

Trang 9

5

loại học lịch sử, Tạp chí Văn hóa dân gian, 3, tr 21-44; Nguyễn Ngọc Mai

(2009), Múa đồng trong nghi lễ lên đồng của người Việt và mối quan hệ với

múa bóng (Chăm) một đôi điều suy nghĩ, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3, tr

56-61

Các công trình luận văn, luận án và hội thảo khoa học có đề cập đến tín

ngưỡng thờ Mẫu như: Hội thảo khoa học quốc tế Văn hóa thờ nữ thần (Mẫu)

ở Việt Nam và văn hóa – Bản sắc và giá trị được tổ chức trong hai ngày 29 và

30/9/2012 tại Nam Định Gần đây thì Th.S Vũ Thị Thu An có bảo về đề tài

Thạc sỹ Triết học Tìm hiểu nghi lễ thờ cúng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Kiến

An – Hải Phòng

2 Các công trình nghiên cứu về văn hóa, văn hóa đời sống tinh thần Những đầu sách nghiên cứu về văn hóa, văn hóa tinh thần phải kể đến

Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng [92], cuốn Việt Nam văn hóa

sử cương của Đào Duy Anh [4], cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của

Trần Ngọc Thêm [70], sách Văn hóa và văn hóa học thế kỷ XX của Viện Khoa học Xã hội, sách Văn hóa và đổi mới của Phạm Văn Đồng [24], Giá trị tinh

thần truyền thống của dân tộc Việt Nam của Trần Văn Giàu [26]; Văn hóa phong tục của Hoàng Quốc Hải [28], Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa của Lê Như Hoa [33], Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng văn hóa của Vũ Khiêu [48], Nhận diện mấy vấn đề văn hóa

của Viện Văn hóa và NXB Văn hóa - Thông tin

Bên cạnh đó là các công trình được công bố trên các tạp chí có đề cập

đến văn hóa và đời sống văn hóa tinh thần như: Đỗ Huy với Xây dựng môi

trường văn hóa ở nước ta từ góc nhìn giá trị học, Văn hóa nghệ thuật số 4;

Phùng Đông với bài viết Một số vấn đề về thực trạng và định hướng phát

triển đời sống tinh thần của nước ta; Tô Duy Hợp với bài viết Sự biến đổi của

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn chỉ ra những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu trên một số phương diện của đời sống văn hóa tinh thần người dân Hải Phòng, qua đó thấy được những giá trị tích cực cũng như những mặt hạn chế của tín ngưỡng thờ Mẫu ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần người dân Hải Phòng Đồng thời luận văn cũng đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực còn tồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu đến một số phương diện của đời sống văn hóa tinh thần người dân Hải Phòng hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được đề tài luận văn “Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đến đời sống văn hóa tinh thần người dân ở Hải Phòng hiện nay”, chúng tôi triển khai thực hiện được những nhiệm vụ sau:

- Giới thiệu được tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu của người dân Hải Phòng nói riêng;

Trang 11

- Đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực và giữ gìn những nét tích cực của tín ngưỡng thờ Mẫu đến đời sống văn hóa tinh thần người dân Hải Phòng

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; những quan điểm, đường lối chính sách của

Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp logic lịch sử, phân tích tổng hợp, phương

pháp mô tả, nghiên cứu tài liệu, điền dã…

Trang 12

8

6 Đóng góp của luận văn

Với việc đi sâu khảo sát, nghiên cứu về ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đến một vài phương diện của đời sống văn hóa tinh thần ở Hải Phòng, luận văn góp phần làm rõ ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu tại Hải Phòng Qua đó, luận văn không chỉ ra ảnh hưởng tích cực và những hạn chế còn tồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với đời sống văn hóa của người dân Hải Phòng mà còn đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với một số phương diện của đời

sống văn hóa tinh thần người dân Hải Phòng hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Về mặt lý luận

Từ việc chỉ ra những ảnh hưởng và vai trò tích cực và tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy và hạn chế những ảnh hưởng của loại hình tín ngưỡng này đến đời sống văn hóa tinh thần người dân Hải Phòng hiện nay Bên cạnh đó luận văn góp phần làm sáng tỏ việc phát triển nghiên cứu lý luận trong thực tiễn đối với ngành khoa học xã hội nói chung và nghiên cứu tôn giáo, chủ nghĩa xã hội nói riêng hiện nay

7.2 Về mặt thực tiễn

Luận văn đóng góp vào nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, giảng dạy cũng như nghiên cứu của sinh viên, giảng viên trong các trường đại học, các cơ quan, tổ chức chuyên trách về công tác tín ngưỡng,

tôn giáo

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung luận văn gồm 2 chương chính:

Trang 14

10

Chương 1 TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN

CỦA NGƯỜI DÂN HẢI PHÒNG HIỆN NAY

1.1 Tín ngưỡng thờ Mẫu

1.1.1 Một số khái niệm

Tín ngưỡng là một khái niệm chủ yếu được dùng trong lĩnh vực tôn giáo

Ở một số quốc gia thì không có sự phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo, điều

đó có nghĩa nói đến tín ngưỡng là nói đến tôn giáo và ngược lại Ở Việt Nam

và một số nước ở Đông Nam Á, đôi khi nói đến tín ngưỡng cũng được hiểu như nói đến tôn giáo Ví dụ ở Việt Nam, việc bàn đến quyền tự do tín ngưỡng cũng bao hàm cả quyền tự do về tôn giáo, tuy nhiên về mặt ngữ nghĩa của tiếng Việt và quá trình sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cho thấy những nét khác biệt

Xét dưới góc độ ý thức, giữa tôn giáo và tín ngưỡng khó có thể phân

chia rạch ròi Tín ngưỡng theo góc độ tín ngưỡng tôn giáo là sự tin tưởng, ngưỡng mộ vào một thế lực siêu nhiên Như vậy ta có thể thấy cả tín ngưỡng (thờ thần, thờ cúng tổ tiên ) và tôn giáo (Hồi giáo, Kito giáo ) đều có chung niềm tin này Qua đó cho thấy cả tín ngưỡng và tôn giáo xét về mặt ý thức nó đều là đặt niềm tin vào cái siêu nhiên thần thánh

Xét trên bình diện hoạt động, và góc độ cấu trúc, tín ngưỡng và tôn giáo

có sự khác biệt Tín ngưỡng và tôn giáo có kết cấu tương đối giống nhau tuy nhiên trong nội hàm kết cấu của chúng thể hiện sự khác biệt rõ ràng, cụ thể:

- Kết cấu của tôn giáo bao gồm: ý thức tôn giáo (được chia thành hai phần: tâm lý tôn giáo và hệ tư tưởng tôn giáo (trong đó hạt nhân là thần học: đối với tôn giáo mang tính triết học thần học); sự thờ cúng (nối kết giữa chủ thể thờ cúng và đối tượng thờ cúng bằng hệ thống giáo lý, giáo luật rõ ràng,

Trang 15

Qua đó cho thấy kết cấu giữa tín ngưỡng và tôn giáo: kết cấu trong tín ngưỡng mang tính lỏng lẻo hơn so với kết cấu của tôn giáo; bởi trong bản thân tôn giáo, ngoài tâm lý tôn giáo nó còn bao gồm cả hệ tư tưởng tôn giáo, trong hệ tư tưởng tôn giáo nó có hạt nhân là thần học thể hiện tính triết học trong thần học Còn đối với tín ngưỡng, kết cấu của nó mang tính truyền thuyết, không mang tính triết học rõ ràng

Căn cứ vào đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng trên cơ sở phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo, có thể quan niệm: tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xã hội, là sản phẩm của các quan hệ xã hội được hình thành trong quá trình lịch sử, là niềm tin con người đối với cái thiêng liêng Nó thể hiện tính chất phong phú, song cũng rất đặc thù trong sinh hoạt văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng và của mỗi cá nhân

Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu từ trước đến nay, chúng tôi nhận thấy có những cách hiểu, cách đặt vấn đề khác nhau về tín ngưỡng thờ Mẫu như sau:

Thứ nhất: Tín ngưỡng thờ Mẫu đã và đang trở thành một loại hình tôn

giáo sơ khai của người Việt

Theo như tác giả Hoàng Lương: “Đạo Mẫu trong quá trình nảy sinh, vận động và biến đổi đã và đang chuyển hóa từ tín ngưỡng nguyên thủy để trở

Trang 16

Thứ hai: Tín ngưỡng thờ Mẫu chỉ dừng lại ở loại hình một tín ngưỡng

dân gian Bởi lẽ: “Về mặt tâm linh, cũng như quy mô tín đồ nó đầy đủ yếu tố một tôn giáo, nhưng nó lại thiếu hẳn một triết thuyết để đủ sức trở thành một tôn giáo hoàn chỉnh” [28, tr.276] Theo tác giả Nguyễn Hữu Thông: “hình tượng Mẫu hoàn toàn là sản phẩm của loại hình tín ngưỡng dân gian chứ không phải là một tôn giáo chính thống Xu thế biến Mẫu thành tôn giáo chính thống hiện nay của một số cá nhân là việc làm trái quy luật, không đúng với tiến trình phát triển” [78, tr.53-54] Còn tác giả Đinh Gia Khánh cho rằng:

“thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc dân gian, một tín ngưỡng bản địa, khác với các tôn giáo phổ quát”

Thứ ba: Xem thờ Mẫu là một tập tục, một tín ngưỡng truyền thống của

người Việt Theo tác giả Trương Sĩ Hùng: “trường hợp tục thờ Mẫu ở Việt Nam biểu hiện rất rõ, phát triển đến mức gần như một tôn giáo của người Kinh” [39, tr.8] Cùng với quan điểm đó, tác giả Mai Thanh Hải cũng đưa ra nhận định: “Tục thờ Mẫu có sức lan truyền mạnh tới mức nhiều nơi đã lan tỏa mạnh mẽ…” [27, tr.151]

Thứ tư: Quan niệm cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu là một Đạo Đại biểu

của cách nhìn nhận này là tác giả Ngô Đức Thịnh Theo ông: “chúng tôi sử

Trang 17

13

dụng thuật ngữ đạo như Đạo Mẫu, Đạo tổ tiên… Khái niệm “Đạo” ở đây theo

ý nghĩa là con đường, cách thức đưa con người đạt tới niềm tin vào cái thiêng liêng, siêu nhiên” [76, tr.17]

Qua đó cho thấy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tín ngưỡng thờ Mẫu, tuy nhiên cách hiểu đúng nhất về tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian có khởi thủy là tín ngưỡng sùng bái nữ thần, tôn xưng người phụ nữ, khoác lên mình họ những sức mạnh siêu nhiêu thần thánh Trải qua quá trình phát triển và biến đổi, loại hình tín ngưỡng này vẫn còn tồn tại đến ngày nay Mặc dù đã có sự thay đổi về diện mạo, nhưng trên thực tế xét trên phương diện cấu trúc và tiêu chí về một tôn giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn chỉ dừng lại là tín ngưỡng dân gian chứ chưa thể được công nhận là một tôn giáo vì bản thân nó chưa có kết cấu hoàn chỉnh và

trên thực tế chưa được Nhà nước ta công nhận là tôn giáo

1.1.2 Đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu

a) Đặc trưng về sự ra đời

Sự ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu cho thấy tín ngưỡng thờ Nữ thần xuất hiện từ rất sớm trong đời sống xã hội Ngay từ thời kỳ của xã hội công sản nguyên thủy ở giai đoạn Mẫu hệ người ta đã thấy dấu hiệu của tục thờ Nữ thần, trong giai đoạn này người phụ nữ đóng vai trò là người tổ chức, quản lý

xã hội và là người lãnh đạo xã hội Cũng trong thời kỳ này trồng trọt và hái lượm là phương thức tạo nguồn thức ăn cho cả thị tộc, những hoạt động kể trên gắn chặt con người với tự nhiên mà người trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc chính là người phụ nữ (đàn ông hoạt động trong lĩnh vực săn bắn và không mang lại nguồn thức ăn thường xuyên, ổn định) Với tính đặc trưng ấy

đã tạo ra cho họ một niềm tin, một khát vọng cho một cuộc sống sinh sôi, nảy

nở của sản vật tự nhiên phục vụ con người, sự sinh sôi ấy đương nhiên thuộc

về giống cái Về mặt logic, đây chính là hình thức tín ngưỡng của tất cả cộng

Trang 18

14

đồng, tộc người ở một giai đoạn lịch sử trong tiến trình phát triển Sự phát triển của tín ngưỡng từ sơ khai đến hiện đại đều cho thấy có những hình thức tín ngưỡng tôn giáo được thay bởi hình thức tín ngưỡng khác để phù hợp với những đòi hỏi của đời sống trần tục và tâm linh Những phần bị mất đi, bị thay thế không phải là sự phủ định sạch trơn và không để lại những dấu vết trong đời sống của con người mà nó được những tín ngưỡng sau đó chọn lọc, tiếp thu và kế thừa

Việt Nam là một quốc gia có sự hình thành và phát triển rất sớm, những tài liệu khảo cổ học gần đây chứng minh rằng không chỉ tộc Việt ở khu vực phía Bắc, mà cả các tộc ở khu vực Tây Nguyên, khu vực Nam bộ đã được hình thành từ rất sớm và đạt trình độ phát triển kinh tế – xã hội – văn hóa khá cao Thông qua sự phát triển này chúng ta có thể khẳng định phần nào tín ngưỡng của Việt Nam xuất hiện từ rất xa xưa trong lịch sử và hình thành các tộc người Trong các tín ngưỡng đa thần thời kỳ ấy, tín ngưỡng thờ Mẫu là một hình thức xuất hiện từ khá sớm, với một số những khảo vật còn tồn tại đến ngày nay giúp chúng ta xác định được việc này Ví dụ như hình tượng quan hệ nam nữ trên thạp trống đồng ở đền Hùng, hình tượng đánh trống bằng chày ở đền Hùng, lễ hội Nõ – Nường ở Lâm Thao, Phú Thọ, lễ hội Tắt đèn –

Hà Tây vừa là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực vừa là biểu hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu và cũng là những dấu hiệu để xác định tín ngưỡng thờ Mẫu

Việc tín ngưỡng thờ Mẫu tồn tại từ xa xưa cho đến nay được lý giải thông qua đặc điểm của cư dân Việt Cư dân Việt là cư dân trồng lúa nước, do vậy họ coi trọng chủ thể của cái sinh sôi nảy nở, mà cái chủ thế ấy là giống cái và cho đến nay nông nghiệp - nông thôn - nông dân chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập, địa bàn lớn và tỷ lệ dân cư Trong khi Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm, tuy nhiên trong làng xã nông nghiệp những yếu tố truyền thống (trong đó có đề cao vai trò của người phụ nữ) đã

Trang 19

15

được duy trì, củng cố, bảo lưu nên vai trò của Nho giáo ở đây bị hạn chế Mặc

dù Nho giáo đề cao vai trò của người đàn ông, của con trưởng, nhưng trong mỗi gia đình làng xã Việt Nam, vai trò của người phụ nữ vẫn không hề bị xem nhẹ, họ vẫn là “tay hòm chìa khóa” và được quyền quyết định những việc quan trọng, ví dụ như câu “lệnh ông không bằng cồng bà” cho đến hiện nay vẫn tồn tại và mang tính quyết định

Nền sản xuất nông nghiệp lúa nước đã sớm hình thành nên lối tư duy trọng thủy, trọng âm, trọng nữ Trong tâm thức của người xưa, những đặc tính

“nữ - cái” hay tính chất “nảy nở - con” luôn gắn cho nhiều đối tượng như đường cái, trống cái, cột cái… Sự gán ghép ấy không phải là ngẫu nhiên, vì đằng sau đó là mong muốn cây lúa ngoài đồng sinh ra nhiều nhánh đem lại mùa màng bội thu và còn cả khát vọng lớn lao được “con đàn, cháu đống” trong nếp nghĩ của người nông dân Trải qua hàng nghìn năm của xã hội thị tộc Mẫu hệ, vai trò của người mẹ được đề cao hoàn toàn Hình ảnh người mẹ là tất

cả trong mỗi thành viên và của cộng đồng từng đơn vị cư trú Cho đến khi hình thái gia đình một vợ một chồng phát triển thay thế cho hình thái gia đình thị tộc mẫu hệ thì vai trò của người mẹ vẫn giữ vị trí chủ yếu trong gia đình

Đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu là thờ sinh sản mà sinh sản ở đây có cội nguồn từ tự nhiên, nơi con người và sinh vật sinh ra và phát triển Quan niệm trời là cha, đất là mẹ cũng xuất phát từ đó Ngửa mặt lên là bầu trời bao la với biết bao bí ẩn của thời tiết, khí hậu; dưới chân là mặt đất với muôn vàn động thực vật giúp kiếm tìm sự sống, đất cũng chính là mẹ Con người khi sinh

ra, trưởng thành rồi chết đi trở về với đất, đó vừa là nhận thức vừa là cách ứng

xử của con người với tự nhiên

Cùng với tiến trình của nhân loại, ý thức mẹ đã thường trực trong từng

cá thể và ngày nay nó càng được củng cố Mẹ là tất cả, là chỗ dựa cả về vật chất lẫn tinh thần Từ thời nguyên sơ con người đã tôn sùng thiên nhiên như

Trang 20

16

là Mẹ: Mẹ Trời, Mẹ Núi, Mẹ Sông, Mẹ Biển Về mặt ngữ nghĩa Mẫu chính là

Mẹ, Mẫu Thiên tức Mẹ Trời, Mẫu Thượng Ngàn là Mẹ Núi rừng, Mẫu Thoải

là Mẹ Nước Rồi tôn các Mẫu là Thánh đế để từ đó hình thành lên khái niệm Tam tòa Thánh Mẫu

Theo Nguyễn Đăng Duy, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt (Kinh) hay ở Việt Nam khởi đầu gắn với chế độ xã hội nguyên thủy mẫu hệ và nền kinh tế nông nghiệp lúa nước từ đầu gắn với con người cư trú trên các miền rừng núi Có nghĩa là tín ngưỡng thờ Mẫu khởi nguyên từ vùng rừng núi, thờ

Mẹ Cây (sau này gọi là Mẫu Thượng Ngàn hay Mẫu Sơn Lâm) rồi theo dòng lịch sử đi dần xuống trung du, đồng bằng bổ sung thêm những Mẫu khác Khi con người xuống trung du, đồng bằng sống bằng nghề nông nhiệp lúa nước, cây lúa hạt gạo là yếu tố quan trọng hàng đầu nuôi sống con người rồi các hoa màu, cây ăn quả Mẹ cây vẫn gắn chặt chẽ với đời sống con người Và con người làm nông nghiệp lúa nước thì đất và nước là hai đối tượng quan trọng tiếp theo được tôn thờ Đất và Nước được tôn vinh thành Mẹ Đất, Mẹ Nước (Mẫu Địa, Mẫu Thủy) Thế nhưng quyết định có nước lại do mưa trên trời rơi xuống, con người chưa hiểu được quy luật của mưa là nước bốc hơi tạo thành mây và mưa, mà cho đó là do trời quyết định, Mẹ Trời được tôn vinh, Mẫu Thiên ra nhập vào hàng ngũ Mẫu Tín ngưỡng là từ thực tế cuộc sống kinh tế,

xã hội, con người đặt ra những lực lượng tôn vinh, tôn thờ phù hợp với cuộc sống của mình là thế và dần hình thành lên hệ thống Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ

Qua tín ngưỡng thờ Mẫu chúng ta hiểu cách con người xưa sùng bái hóa

tự nhiên chính là để bảo vệ tự nhiên Và đến lúc nào đó sự sùng bái ấy chuyển sang sùng bái Nữ thần mà suy cho cùng đó cũng là cách nhân thần hóa tự nhiên, bởi lẽ giữa tự nhiên và tính nữ đều có chung những đặc tính đó là sự sản sinh, bảo trợ và che chở Ở cả ba cõi trời – non – nước từ thiên nhiên trở thành các đấng siêu nhiên Và sau này đến thế kỷ XVI đã hình thành thêm một Mẫu

Trang 21

17

nữa là Địa Cung Thánh Mẫu hay thường gọi là Thánh Mẫu Liễu Hạnh Ở bà tựu chung nét đẹp của một người mẹ, người chủ, một vị tướng và vị thánh Sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh vừa là nhu cầu phát triển nội tại của tín ngưỡng thờ Mẫu đã có từ trước, vừa phản ánh khát vọng của quần chúng nhân dân dưới thời Lê Vốn là một tín ngưỡng mang đậm màu sắc tự nhiên, nay nó được đời thường hóa, đáp ứng những khát vọng của con người về: tài lộc, chữa bệnh, ban phúc, phán truyền Từ đây, tín ngưỡng thờ Mẫu mang trên mình diện mạo mới vừa truyền thống lại rất hiện đại Chính điều đó làm cho loại hình này nhanh chóng phát triển, lan tỏa khắp mọi miền đất nước Và cùng với sự xuất hiện của vị thần chủ này thì hệ thống điện thần, quan niệm nhân sinh và vũ trụ, đặc biệt là các nghi lễ - lễ hội càng thể hiện tính hệ thống hơn

Như vậy, trong tâm thức người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung luôn hướng trọn về Mẫu – người Mẹ lớn linh thiêng của vũ trụ và muôn loài, của giống nòi và xứ sở Tâm thức ấy tồn tại xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành yếu tố bản chật trong tâm linh dân tộc cho đến tận ngày nay với nhiều thăng trầm và biến cố lịch sử cùng với chiều dài lịch sử của dân tộc Tín ngưỡng thờ Mẫu cùng với nhiều tín ngưỡng bản địa khác đã chống chọi và khẳng định sức sống lâu bền của mình qua sự tác động không nhỏ của các tôn giáo ngoại nhập, ngoại lai với các hình thức xâm nhập phong phú và hệ thống giáo lý hoàn chỉnh Tuy nhiên tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn có những sức sống riêng nhờ những nét đặc sắc, những phương diện mà chỉ ở tín ngưỡng thờ Mẫu mới đáp ứng đủ về mặt tâm linh cho quần chúng nhân dân

Việc Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ XVI vừa xuất phát từ nhu cầu phát triển nội tại của tín ngưỡng thờ Mẫu đã có từ trước nhưng cũng vừa phản ánh khát vọng của quần chúng nhân dân thời Lê mạt, một xã hội buôn bán, nhất là buôn bán chợ quê phát triển, gắn với vai trò người phụ nữ; xã hội rối loạn, nhân tâm ly tán mà một trong những biểu hiện

Trang 22

18

rõ ràng nhất là khởi nghĩa diễn ra triền miên Với vị thần chủ này, tín ngưỡng thờ Mẫu vốn là một tín ngưỡng gắn với thiên nhiên, trời đất, nay được “đời thường hóa”, gắn liền với khát vọng của con người, thân phận của con người trong đời sống hằng ngày và những tài lộc, ban phúc, chữa bệnh, giáng họa chính từ đây Tín ngưỡng thờ Mẫu vừa mang tính dân tộc, truyền thống tuy nhiên lại cập nhật rất kịp thời nhu cầu của quần chúng nhân dân, làm cho nó nhanh chóng phát triển, lan tỏa khắp mọi miền đất nước

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng nằm trong dòng chảy chung của tín ngưỡng thờ Mẫu, bên cạnh những nét tương đồng chung thì nó có những đặc trưng riêng mang tính cơ bản trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng Điều này được thể hiện qua đối tượng thờ cúng, chủ thể thờ cúng, địa điểm thờ cúng và thông qua những ảnh hưởng của nó đến với các khía cạnh cụ thể của đời sống văn hóa tinh thần người dân Hải Phòng Tín ngưỡng thờ Mẫu Hải Phòng đặc biệt phát triển bởi nét dân gian, đời thường như: phản ánh về những nét đẹp của người phụ nữ như Bà Đế với tấm lòng son sắt hay Chúa Bà Năm Phương với những lần hiển linh để dạy dỗ người đời, những kẻ ngang tàng ngạo ngược Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng có sự tiếp nối và phát triển dựa trên đặc trưng của vùng miền và nhu cầu về đời sống của nhân dân tại Hải Phòng Chính điều này phản ánh rõ nét về sức sống mạnh mẽ của tín ngưỡng trong mọi hoàn cảnh và trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng nhiều làn sóng tín ngưỡng khác Tuy nhiên bản sắc, đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn được giữ gìn và không ngừng phát huy ảnh hưởng của mình trước xu thế của thời đại

b) Đặc trưng về niềm tin

Chính từ đặc trưng về nguồn gốc ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu và cụ thể là tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng đã cho thấy được sức sống mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ Mẫu qua nhiều thế kỷ và tồn tại cho đến ngày nay, đồng

Trang 23

19

thời tín ngưỡng thờ Mẫu đã phản ảnh chân thực niềm tin của người dân vào các thế lực siêu nhiên mà ở đây chính là Mẫu và hội đồng các thánh Tuy rằng, niềm tin của mỗi cá nhân cũng như ở các địa phương là khác nhau nhưng nhìn chung chúng ta có thể thấy được đặc trưng về niềm tin của tín ngưỡng thờ Mẫu được thể hiện như sau:

Thứ nhất: Tín ngưỡng thờ Mẫu đã khẳng định niềm tin và sức mạnh tối cao của Mẫu đến đời sống văn hóa tinh thần người dân

Từ thời nguyên thủy, con người bắt đầu có ý thức sâu sắc về sự sinh sôi nảy nở, ý thức ấy thường biện lý từ cái cụ thể Cái cụ thể về giá trị sinh sôi nảy nở, không gì khác ngoài người mẹ mang nặng đẻ đau, sinh thành dưỡng dục những đứa con Sinh sản và chở che chính là thiên chức của người Mẹ Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, hình tượng Mẹ được coi là trọng với triết lý tất cả

mọi vật sinh ra từ mẹ, được Mẹ nuôi dưỡng mà trưởng thành

Thờ Mẫu lấy việc tôn thờ Mẫu (mẹ) làm đấng sáng tạo và bảo trì cho

vũ trụ - con người, là nơi con người ký thác những mong ước, khát vọng về đời sống trần thế của mình, đạt tới sức khỏe, tài lộc Một hệ thống thần điện tuy là đa thần (có khoảng trên dưới 60 vị thần thánh), nhưng đứng đầu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh Mặc dù sự xuất hiện của Bà khá muộn (từ thế kỷ XVI) nhưng lại chiếm vị trí thần chủ trong điện thần đạo Mẫu Sự tuyệt đối hóa vị trí cũng như quyền năng của Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong tín ngưỡng thờ Mẫu khiến chúng ta liên tưởng tới quan niệm về “tam vị nhất thể” trong giáo lý Ki-Tô giáo Nếu Đức Chúa Jê-su vừa là con của Thiên chúa trên Thiên đàng vừa là con người thực được Đức Mẹ Maria mang nặng đẻ đau, và Ngài còn có các phép Thánh thần thì Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở đây cũng là biểu tượng của sự kết hợp giữa thần và người đó

Xuất thân vốn là tiên nữ

Trên thượng giới vừa ngày khánh hạ

Trang 24

20

Điện Linh Tiêu thánh giá thung dung

Ngọc Hoàng chính ngự đàn cung

Bách quan chầu chực sân rồng bệ giai

Chốn thiên đài vừa khi tơ trúc

Sáu cung đều xướng khúc ca tâu

Sảy thấy tiên nữ vào chầu

Khoan thai chân bước đền chầu bên ngai

(Liễu Hạnh công chúa diễn âm)

Khi Bà trót tay đánh vỡ chén ngọc, bị Ngọc Hoàng đày xuống trần gian đầu thai vào nhà họ Trần:

Tay nâng chén ngọc đã rơi

Thượng đế linh bài quan pháp vô thân

Cho làm con họ nhà Trần

Ở đất Thiên Bản là dân Phủ Dầy

(Liễu Hạnh công chúa diễn âm)

Với phép thần thông biến hóa khôn lường, Bà đã ra tay trừng trị kẻ ác đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân Đặc biệt, Thánh Mẫu còn cầm quân xung trận phò vua dẹp giặc Chiêm Thành Với công trạng đó, người đã được triều đình phong kiến phong thần:

Sắc phong “Chế Thắng” đường hoàng,

Lại gia Hòa Diệu Đại Vương, chữ đề

Huyền Tông Cảnh Trị đời Lê

Ngõa Từ có sắc dụ về Sòng Sơn

Chính Hòa đến hiệu Hy Hoàng

Sái phu mười suất chỉ ban quê nhà

Trang 25

21

Liệt triều trải mấy đế vương

Ân phong thượng đẳng, thần thường trứ linh

(Liễu Hạnh công chúa diễn âm)

Có thể nói, hình tượng Mẫu Liễu Hạnh là kết quả của cả một quá trình phát triển hệ tư tưởng của người Việt Bởi lẽ, chính trong sức mạnh nhân thần trong con người Bà đã chứa đựng tất cả quyền năng của nhiên thần trước đó

Và Bà xuất hiện với tư cách đại diện cho Tam tòa Thánh Mẫu (Thiên – Ngàn – Thoải), điều này chúng ta dễ dàng nhận ra ở một số nơi thờ Mẫu người ta chỉ thờ Mẫu Liễu cùng hai thị nữ của Bà là Quỳnh và Quế

Trong đời sống gia đình Việt, người phụ nữ chiếm vị thế rất quan trọng, không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi cột Cái trong nhà, hay đường Cái, trống Cái… Bởi lẽ, phụ nữ chính là người giữ kinh tế “tay hòm chìa khóa”, quản lý kinh tế “chồng như cái giỏ, vợ như cái hom”; là người có trách nhiệm dạy dỗ con cái, dân gian thường có câu: “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” Ngoài xã hội, trong quan hệ họ hàng, anh em bè bạn thì phụ nữ cũng là người thay mặt gia đình đối nhân xử thế Dù đàn ông là người “đứng mũi chịu sào”,

có thể có vị trí trong xã hội, nhưng trong nhà thì: “lệnh ông không bằng cồng bà”… Xuất phát từ chính thực tế đó, đặc trưng về niềm tin của tín ngưỡng thờ Mẫu với việc dạy dỗ con cái học hành, lao động sản xuất, biết cung cách ứng

xử, biết sống thuận hòa, hướng thiện được thể hiện rõ

Là một tín ngưỡng gắn liền với sinh hoạt của nhân dân, được nhân dân bảo tồn và phát triển qua nhiều thế hệ, tín ngưỡng thờ Mẫu Hải Phòng đã xây dựng cho mình một hệ thống thờ phụng mang tính gần gũi với đời sống thường nhật của nhân dân Chính bởi lẽ đó mà tín ngưỡng thờ Mẫu đã ăn sâu dần vào suy nghĩ, vào tiềm thức của mỗi người dân về niềm tin, sức mạnh tối cao của thánh Mẫu, của những vị thánh trong tín ngưỡng Bởi họ đã dùng

Trang 26

22

năng lực siêu nhiên của mình để đem đến cho các con nhang đệ tử và cho cả người dân có một cuộc sống tốt đẹp, đồng thời họ dùng tài đức của mình để cảm hóa con người, dạy dỗ con người từ những việc nhỏ để sinh sống cho đến những phép tắc để làm người, làm quan Tất cả những gì gần gũi với cuộc sống thường nhật đã được tín ngưỡng thờ Mẫu hướng đến, qua đó cho thấy được tính phổ dụng và niềm tin tối cao vào đức thánh Mẫu cũng như hội đồng các thánh được thờ trong tín ngưỡng đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân

Khi tìm đến với tín ngưỡng thờ Mẫu, người dân, con nhang mong muốn được Mẫu chở che, “chỉ đường soi lối” bằng quyền năng tối cao của Mẫu trước những khó khăn trong đời sống mà họ gặp phải để hướng đến một cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn… Có rất nhiều lý do để con người tìm đến với Mẫu: khi khó khăn trong cuộc sống, khi tìm sự ổn định trong cuộc sống

và ngay cả khi họ đã có được một cuộc sống tốt họ vẫn hướng đến với cửa Mẫu để duy trì sự ổn định trong cuộc sống của họ Điều này cho thấy niềm tin tuyệt đối mà người dân, các con nhang cái bán hướng đến cửa Mẫu là rất lớn

mà không phải tín ngưỡng nào cũng có đủ khả năng thay thế cũng như xây dựng niềm tin ở nhân dân lớn như vậy

Thứ hai: tín ngưỡng thờ Mẫu đặt vấn đề giải thoát cho con người ngay tại cuộc sống trần gian

Tín ngưỡng có nhiều chức năng, nhưng nói đến chức năng mang tính tiên quyết cho sự tồn tại thì phải kể đến chức năng đền bù hư ảo hay còn có thể gọi là chức năng giải thoát Ngay từ khi ra đời mỗi một tín ngưỡng, tôn giáo lại xây dựng cho mình con đường, thế giới tốt đẹp riêng Ví dụ, Phật giáo đưa con người hướng tới Niết Bàn, ở đó không còn phải vướng bận trong vòng tham – sân – si, sẽ không còn đau khổ Hay giáo lý Ki Tô lại dạy tín đồ sống tuân theo nhưng điều răn của Chúa để sau này hạnh phúc trên Thiên đường Ngay cả

Trang 27

23

trong quan niệm của người Việt, từ rất sớm người ta đã ý thức được việc phải sống thiện để sau khi chết linh hồn sớm được đầu thai Nhưng tín ngưỡng thờ Mẫu lại khác, những gì mà tín ngưỡng thờ Mẫu hướng đến không phải là những thứ xa xôi ở hậu kiếp mà ngay tại cuộc sống trần gian Chính vì thế người ta không bàn nhiều đến sự sống – cái chết, không bàn đến cõi Diêm La địa ngục mà bàn ngay tại cuộc sống này Cho nên, Tam tòa chỉ có ba Bà Thiên – Ngàn – Thoải hay Mẫu Liễu dù có gây ra trọng tội nhưng cuối cùng lại được quy y ăn mày cửa Phật, và các thần linh trong công đồng Tứ phủ vẫn hiển linh qua xác phàm của các thanh đồng

Một thực tế cho thấy, trong xã hội hiện đại ngày nay có một bộ phận rất lớn tìm đến với tín ngưỡng thờ Mẫu chứ không phải là các loại hình tín ngưỡng nào khác Họ đại diện cho đủ các thành phần trong xã hội, không phân biệt lứa tuổi, giới tính Điều mà người ta quan tâm nhất ở tín ngưỡng này không hẳn là những giá trị tâm linh hay đạo đức mà vấn đề giải thoát lại mang tính chất cốt lõi Nếu như các tín ngưỡng, tôn giáo khác hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp ở tương lai sau khi chết thì tín ngưỡng thờ Mẫu lại mang tới cho con người tất cả những gì họ đang thiếu hụt như sức khỏe, tài lộc, công danh, con cái ở ngay cuộc sống hiện tại Đó là một nhân sinh quan mang tính tích cực phù hợp với quan niệm hiện sinh của con người trong thế giới hiện đại

Tìm đến với tôn giáo, con người ta tìm đến với những điều còn khuyết, còn thiếu trong cuộc sống trần thế họ không hoặc chưa có được với mong muốn chức năng đền bù hư ảo mà tôn giáo mang đến cho họ những thứ họ mong muốn có được tại cuộc sống trần thế Cũng không phải bỗng dưng mà tín ngưỡng thờ Mẫu có đông đảo con nhang đệ tử và người dân tin và theo nhiều như vậy, không chỉ bởi tính gần gũi trong quá trình hình thành và phát triển mà còn bởi chức năng đền bù hư ảo của tín ngưỡng thờ Mẫu đem đến

Trang 28

Ở Hải Phòng, đặc trưng về niềm tin của tín ngưỡng thờ Mẫu được biểu hiện rõ thông qua cách thức biểu hiện về những mong muốn hay ước vọng của quần chúng nhân dân đối với Mẫu Điều đó được minh chứng rõ nét khi ta phân tích về đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của người dân nơi đây, cái mà

sẽ quy định, thể hiện bản sắc vùng miền như: nền kinh tế thị trường với sự phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệch về đẳng cấp thông qua so sánh về kinh tế

đã dẫn tới xã hội mất cân bằng, sự ổn định và từ đó nảy sinh những nhu cầu của quần chúng nhân dân về một xã hội công bằng hơn, không có phan biệt, không có sự chênh lệch về đẳng cấp cũng như nhu cầu cuộc sống Hoặc khi nền kinh tế thị trường dẫn tới việc nền kinh tế chạy đua theo thế giới kéo theo hàng loạt hệ lụy như những bệnh công nghiệp (street, thần kinh, trầm cảm) hay mất cân bằng cuộc sống của rất nhiều người dân Chính vì lẽ đó đã tạo nên những nhu cầu, mong muốn từ đại bộ phận quần chúng nhân dân đến với tín ngưỡng thờ Mẫu, đến với Mẫu để thỏa lấp đi những hiện thực mà họ đang phải đương đầu

Chúng ta có thể thấy được vai trò đáp ứng niềm tin của tín ngưỡng thờ Mẫu xuất phát từ chính nhu cầu của quần chúng nhân dân, được nhân dân đề xuất và mong muốn sự đáp ứng từ Mẫu với quyền năng tối thượng của mình

Trang 29

c) Đặc trưng về thực hành nghi lễ

Từ nguồn gốc ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu Hải Phòng mang những nét đặc trưng riêng khác với các tín ngưỡng khác cho đến đặc trưng về niềm tin cũng được biểu hiện một cách riêng, không mang tính trùng lặp với niềm tin của bất kỳ một tín ngưỡng nào khác Chính vì vậy, biểu hiện niềm tin của tín ngưỡng thờ Mẫu Hải Phòng cũng được thể hiện rất riêng thông qua việc thực hành nghi lễ ở nơi đây

Khi tiếp xúc với tín ngưỡng thờ Mẫu chúng ta dễ nhận thấy vốn là một loại hình tín ngưỡng dân gian cho nên nó chưa được phát triển hoàn thiện như kết cấu tôn giáo hiện đại Đó là niềm tin, sự ngưỡng vọng trong đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân, ở đó chưa có tính tổ chức chặt chẽ, chưa hoàn thiện về giáo lý và quan trọng nghi lễ còn mang bản chất địa phương Trên lãnh thổ nước ta, tín ngưỡng thờ Mẫu có mặt ở cả Bắc – Trung và Nam bộ; nhưng mỗi vùng lại có cách biểu đạt riêng và ngay trong nội bộ từng vùng cũng có sự khác biệt

Là một loại hình tín ngưỡng dân gian nên bản thân các nghi lễ của tín ngưỡng thờ Mẫu chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo tín ngưỡng như Phật giáo, Thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng làng… Qua quá trình khảo sát thực

tế, chúng tôi đã tìm hiểu được một số nghi lễ cơ bản và đặc trưng về thực hành nghi lễ của tín ngưỡng thờ Mẫu Ngoài những nghi lễ thờ cúng thường

Trang 30

26

nhật thì bản thân nó mang trong mình nhiều nghi lễ đặc biệt Mỗi một dịp đặc biệt đều có những ý nghĩa khác nhau, đem đến những ước mong, khát vọng của các tín đồ thờ Mẫu Chúng ta có thể kể đến các nghi lễ cơ bản được biểu hiện thông qua các lễ hội như lễ hội đền Đồng Bằng, lễ hội Phủ Dầy, lễ hội đền Công đồng Bắc Lệ… mang tính quốc gia hay các nghi lễ: hầu xông đền,

lễ thượng nguyên, lễ đội bát nhang, lễ trình đồng, lễ tiến căn, lễ mở phủ, lễ trả

nợ Tào Quan, lễ phả độ gia tiên…

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Hải Phòng, nghi lễ là một phần mang lại những nét đặc sắc riêng, bản thân nghi lễ của tín ngưỡng thờ Mẫu ở các địa phương khác dù có những đặc điểm chung về không gian, thời gian, chủ thể, khách thể, cách thức nhưng ở mỗi nơi lại có những sắc thái rất riêng biệt Sau khi so sánh và chắt lọc, chúng tôi xin nêu ra một số biểu hiện mang tính đặc trưng của nghi lễ thờ Mẫu nói chung và ở Hải Phòng nói riêng, cụ thể qua một vài nghi lễ và việc thực hành nghi lễ điển hình như sau:

- Nghi lễ Hầu đồng là một nghi lễ đặc biệt và không thể thiếu trong tín

ngưỡng thờ Mẫu Qua nhiều công trình nghiên cứu, người ta thường đồng nhất một số thuật ngữ Lên đồng, Hầu đồng, Hầu bóng là một Nhưng trong Luận văn, chúng tôi xin dùng chữ Hầu đồng Đó là một nghi thức những ông đồng, bà đồng tình nguyện để các vị thần linh trong công đồng Tứ Phủ và các

vị thần bản địa được nhân dân thờ cúng nhập vào thân xác và thực hiện các động tác diễn xướng làm tái hiện hình ảnh các vị thần linh đó để các tín đồ, con nhang đệ tử có thể giao tiếp tôn giáo với các sức mạnh siêu nhiên

Ở Hải Phòng, việc thực hành nghi lễ hầu đồng được các thanh đồng, con nhang đệ tử rất chú trọng Ngoài các buổi hầu, vấn hầu vào các ngày lễ tiết và vào các ngày tiệc của các vị thánh bản địa, đặc biệt là Chúa Bà Năm Phương và Đức Ông Đệ Tam nhà Trần, Bà Lê Chân, Bà Đế thì các đền, điện, phủ ở Hải Phòng không thể thiếu các vấn hầu của các thanh đồng, có những

Trang 31

27

đền được các thanh đồng đặt lịch hầu từ sáng đến đêm Và đặc biệt, với các thanh đồng ở Hải Phòng, bao giờ họ cũng có một bộ khăn áo riêng của Chúa Năm Phương Bản Cảnh, Bà Lê Chân, Bà Đế là những vị thần mang đặc điểm riêng của vùng đất này Trang phục hầu đồng của các thanh đồng ở Hải Phòng rất đẹp và cầu kỳ, có khi rất đắt tiền vì họ rất để ý đến trang phục ăn mặc khi

ra bắc ghế hầu thánh Đi cùng với đó là các bản chầu văn dành riêng cho các

vị thánh bản địa được các cung văn trình bày cụ thể thông qua từng vấn hầu, điều này thể hiện sự chuẩn bị chu đáo, tươm tất cũng như đặc trưng riêng của từng địa phương mà cụ thể ở đây là Hải Phòng

- Nghi lễ Đội bát nhang là lễ bốc và đặt bát nhang thờ những vị thần

thánh là quân gia thị thần của Mẫu cho những người ốm đau vì có căn cao số

nặng, nhằm cầu cúng cho khỏe bệnh và khỏe mạnh Lễ được tiến hành ở

những nơi thờ Mẫu Sau khi bốc, bát nhang được đặt tại đó, và vào những ngày sóc vọng hàng tháng, người này phải đến thắp nhang và cúng lễ Theo quan niệm của những tín đồ tín ngưỡng thờ Mẫu, mỗi người đang sống trên cõi trần đều do một số chư vị thần thánh của Mẫu quản cai (hay người nắm giữ bản mệnh cho mình) Khi người ta đau ốm tức là người đó bị vị thần quản cai “hành” (làm cho ốm đau, gặp nhiều phiền toái) Đã bị chấm đồng làm lính hầu thì họ không thể từ chối Càng chối bỏ thì họ lại càng bị gặp nhiều tai vạ (thường thì người ta hay tôn một bát nhang bản mệnh, nhưng cũng có trường hợp, một người có nhiều người độ mệnh thì phải tôn đủ số bát hương tương ứng) Họ tin rằng, sau khi tôn thờ vị thần thánh nắm giữ bản mệnh cho mình,

họ sẽ không bị các vị ấy “hành” nữa, như thế, bệnh tật sẽ khỏi

Việc đội bát nhang thờ thần bản mệnh ở Hải Phòng còn mang một ý gắn liền với phong tục cũng như đặc trưng của nơi đây Khi mà trước kia đa phần nhân dân ở Hải Phòng thường làm nghề đánh bắt thủy hải sản nên việc thờ các vị thần sông nước, những vị thần có công đánh giặc giúp nước hay

Trang 32

28

khai dân lập ấp, giúp dân làm ăn, phát triển gia tộc được nhân dân nơi đây thờ phụng rất chu đáo và trang nghiêm Việc tôn nhang cũng là cách thức đặt niềm tin tôn giáo vào các vị thần nơi đây với mong muốn được che chở cho

họ có được công việc hanh thông, thuận buồm xuôi gió, cho cuộc sống ấm êm bình an, an hưởng thái bình Ngày nay việc tôn nhang đã mang những ý nghĩa rộng hơn, họ tin rằng với việc bản mệnh của mình được các thánh phù hộ như vậy thì làm việc gì cũng thuận lợi vì đã được che chở, được nâng đỡ, từ việc làm ăn buôn bán cho đến học hành công danh thành đạt, cuộc sống ấm êm, hạnh phúc

- Nghi lễ trình giầu là một trong cách thức khác để giao tiếp với thế

giới siêu thực – công đồng Tứ Phủ đối với những tín đồ ngoài những hoạt

động thờ cúng thường nhất, thường niên Khi một người nào đó thấy trong

cuộc sống luôn bị những tai ương bệnh tật, chạy chữa không khỏi Sau khi xem bói, hay bị chấm đồng… thì phải ra trình giầu Trình giầu tức là ra diện kiến trước Tam Tòa Thánh Mẫu, nhận mình là con Cha con Mẹ Ngoài ra nghi lễ này cũng thức hiện đối với người đã ra đồng Mỗi năm, họ thường đi trình giầu một cho đến vài lần tùy vào các vấn hầu của đồng thầy của họ Người Việt có câu, “miếng trầu là đầu câu chuyện”, thì trong tín ngưỡng Thờ Mẫu nghi lễ này còn thể hiện cung cách ứng xử của con cái (những ông Đồng,

bà Đồng) với Cha Mẹ bề trên, để tưởng nhớ công lao đã giúp mình thoát khỏi những tai ương, được ra làm việc Thánh Việc trình giầu được diễn ra hết sức nhanh gọn, và trang trọng thể hiện việc cung kính của những người con trước vua Cha, Mẫu mẹ

Ở Hải Phòng, việc trình giầu thường được diễn ra khi các thanh đồng tiến hành các vấn hầu, có thể là các ngày lễ, ngày tiệc hay đơn giản chỉ là hầu đồng để giao tiếp tôn giáo với thế giới thần linh với mục đích giải tỏa tâm linh

và có sự việc cần xin ý kiến của các vị thánh để giải quyết vấn đề ở trần gian

Trang 33

- Nghi lễ Trình đồng tiến căn diễn ra trong trường hợp sau khi tôn

nhang mà mọi việc vẫn chưa có gì thay đổi hoặc có khi còn trầm trọng hơn trước thì các tín đồ tín ngưỡng thờ Mẫu cho rằng như vậy là căn nặng, hay sát căn, buộc phải ra đàn Tứ Phủ sơn trang để chính thức trở thành ghế đệm cho ngài thì mới khỏi được Nghi lễ này mang ý nghĩa, từ đây bản thân họ đã chính thức ra đồng, trình diện với chư vị Thánh Mẫu, Vua Cha, với các ông Hoàng bà Chúa, vì vậy gọi là trình đồng, và gia nhập công đồng Tứ Phủ để hầu Tứ Phủ, làm đẹp lòng Cha lòng Mẹ thông qua việc thực hiện các nghi thức lễ Hầu đồng để thay Mẫu ban phát tài lộc, sức khỏe chăm sóc cho con nhang đệ tử Đó là tiến căn Trong văn khấn của ông Đồng, bà Đồng khi làm

lễ này có câu: “Tam Phủ trình đồng, Tứ Phủ tiến căn, nay cho con được thay tâm đổi tính…” Tức là lúc này, họ không thể cưỡng lại việc mình sẽ chấp nhận cho nhận cách thứ hai kia tồn tại, chấp nhận trở thành một ông Đồng,

bà Đồng thực thụ Mở đàn ra trình diện với Tứ Phủ, sau lễ ấy thì mới chính thức làm ghế đệm để các ngài về phán bảo và làm việc quan Việc trình đồng tiến căn cũng được thực hiện cùng các nghi lễ khác trong vấn hầu của các ông đồng, bà đồng Khi thực hiện nghi thức trình đồng tiến căn thì các ông đồng, bà đồng thường sử dụng rất nhiều khi thức cũng như các lễ vật dâng

Trang 34

30

lên hội đồng Tam, Tứ phủ để thực hiện những thủ tục cho con nhang của mình chính thức trở thành ghế đệm cho các nhà Ngài, đi theo hầu hạ các Ngài và làm những công việc của con nhà thánh ở trần gian

- Nghi lễ Mở phủ diễn ra khi đã trở thành ông đồng, bà đồng bước tiếp

theo là phải mở phủ Nếu như trong triều đình phong kiến, khi được vua phong

là ông quan, ông tướng với những danh tước, chức vị, họ sẽ được vua ban cho dinh phủ riêng, để thay vua chăn dân Và ở đây cũng vậy, khi đã trở thành ông Đồng, bà Đồng, được cấp sắc (mảnh lụa màu vàng, trên đó có viết chữ do một

vị đồng cựu làm cho) từ nay họ mang trong mình một sứ mạng mới, thay mặt Thánh Mẫu để thực thi phép màu Phủ được lập lên, được đặt tại khu đất có địa thế đẹp theo quan niệm phong thủy, đó là khu đất tụ thủy, tụ phúc, có những thế rồng chầu… Trước là để thờ cúng Tam tòa Thánh Mẫu và Tứ Phủ công đồng, sau là nơi thay Mẫu làm việc Thánh, chăm lo cho con Cha, con Mẹ Ở Hải Phòng, việc mở phủ diễn ra rất trang trọng và cầu kỳ, việc mở phủ cũng chính là bước ngoặt quan trọng của các thanh đồng từ khi ra trình cửa Cha, cửa

Mẹ, là họ đã chính thức có một nơi để thờ phụng mà họ đứng ra làm thủ nhang đồng đền chăm lo dầu đèn, đăng hoa trà quả Ngoài các nghi thức đặc trưng kể trên thì tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng còn có một số nghi lễ khác như: lễ phả độ gia tiên, lễ trả nợ tào quan, lễ di cung hoán số…

Như vậy, cũng như ở các hình thái tôn giáo khác việc thực hành nghi lễ

là những hình thức giao tiếp với thần linh giữa chủ thể thờ cúng và chúng đệ

tử với đối tượng thờ cúng là các vị thần linh oai nghi siêu phàm Trong nội dung tín ngưỡng Mẫu ở Hải Phòng, các việc thực hành nghi lễ còn là một dấu hiệu đặc trưng của loại hình tín ngưỡng dân gian đặc trưng này của người Việt Sự khác biệt về tính vùng miền địa phương được thể hiện trong tất cả các nghi lễ và cùng với đó là việc hướng lòng tin, cung kính tới Mẫu, tới các

Trang 35

31

vị thần mang tính vùng miền ở nơi đây Ở các nơi khác thì Thánh Mẫu là đối tượng thờ cúng chung của mọi vùng, mọi miền, trước Mẫu không còn sự khác biệt về vùng miền, tộc người mà chỉ còn lại là những đứa con đang nhất tâm hướng về cửa Mẫu Tuy nhiên, đối tượng thờ cúng ở Hải Phòng đã khẳng định thêm tính vùng miền khi những vị Thánh bản địa có vị trí, quyền năng nhất định và được các con nhang đệ tử hết mực thành kính hướng theo với tất

cả niềm tin như hướng tới Mẫu

Những đặc trưng về nghi lễ của tín ngưỡng thờ Mẫu Hải Phòng cho thấy được những đặc điểm chung độc đáo trong việc thực hành nghi lễ của tín ngưỡng thờ Mẫu chính là hệ thống nghi lễ được tiến hành rất bài bản và theo các cấp độ khác nhau Tuy mỗi vùng có một cách thức thực hiện riêng biệt nhưng đều cho thấy được sự tôn kính và lề lối trong việc thực hành các nghi

lễ thờ cúng với chủ thể chung là Mẫu và hội đồng các thánh trong công đồng

tứ phủ Tuy nhiên, chính những đặc trưng của vùng miền mà ở đây cụ thể là đối tượng thờ cúng có sự khác biệt dẫn tới những văn hóa đặc trưng của từng vùng miền đã được ứng dụng vào nghi lễ riêng của tín ngưỡng thờ Mẫu theo từng địa phương Sự khác biệt được thể hiện rõ nét nhất thông qua chủ thể thờ cúng của các vùng miền khác nhau đã xây dựng nên hệ thống nghi lễ thờ cúng đặc trưng riêng mang bản sắc vùng miền tuy nhiên vẫn bám sát nội dung và hình thức của tín ngưỡng thờ Mẫu

Chính những nét đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng đã tạo nên cho tín ngưỡng thờ Mẫu những nét riêng, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa tinh thần người dân ở Hải Phòng Đời sống văn hóa tinh thần của người dân không ngừng được phát triển và nâng cao cũng do những ảnh hưởng tích cực của tín ngưỡng và những ảnh hưởng tích cực đó đã và đang hoàn thiện và ngày càng phát triển hơn

Trang 36

32

1.2 Đời sống văn hóa tinh thần người dân ở Hải Phòng hiện nay

1.2.1 Một số khái niệm

a) Khái niệm văn hóa

Khái niệm văn hóa, theo nhà ngôn ngữ học người Đức W Vun-đơ (W.Wundt) bắt nguồn từ một động từ tiếng La Tinh "Colere" và sau chuyển thành "Cultura" với nghĩa là cày cấy, vun trồng Trong sự vận động của ngôn ngữ, "Cultura" chuyển nghĩa từ trồng trọt cây cối sang hàm nghĩa trồng trọt tinh thần, trí tuệ; gắn bó với con người dưới dạng thức mới, được biểu hiện trong mô thức phức tạp hơn song lại hàm chứa nội dung sâu sắc hơn so với nghĩa ban đầu của nó

Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người trong hoạt động thực tiễn của lịch sử xã hội Văn hóa là một khái niệm phức tạp và có rất nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo hướng tiếp cận nghiên cứu của mỗi ngành khoa học,

mà khái niệm văn hóa được sử dụng có những nội dung khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung cho tiếp cận nghiên cứu văn hóa từ bất cứ hướng nào đi chăng nữa, từ góc độ sử học, triết học, xã hội học hay thậm chí là tôn giáo học, thì các học giả đều có chung một quan điểm về sự tồn tại của văn hóa là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể

Văn hóa là một đề tài rộng như con người và sự sống "Văn hóa" có ngoại diên rộng lớn là sự sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Sự sáng tạo của con người và loài người là không ngừng và vô tận Do đó, khái niệm "văn hóa" đã và sẽ không ngừng nhận được những sắc thái ý nghĩa mới Văn hóa là một hiện tượng xã hội xuyên thấm trong mọi mặt của đời sống, hoạt động và quan hệ con người Sự năng động và linh hoạt của đời sống xã hội tất yếu kéo theo sự năng động và linh hoạt của khái niệm văn hóa Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa về

Trang 37

và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng" [67, tr.5-6]

Năm 1986, tại lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [41, tr.32]

Qua hai định nghĩa vừa nêu trên, nhận thấy yếu tố cốt lõi của văn hóa là

hệ thống các giái trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá

trình con người làm nên lịch sử của mình, là cái mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình

Ở Việt Nam, thuật ngữ văn hóa đã được nhiều nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và định nghĩa Ở đây, chúng tôi chỉ nêu một số định nghĩa mà chúng tôi thấy cần cho hướng tiếp cận của luận án này Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc và phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn

Trang 38

do con người sáng tạo ra đáp ứng được đòi hỏi của sự sinh tồn và mục đích của cuộc sống con người - những giá trị vật chất và tinh thần - hợp thành nội dung của khái niệm văn hóa

Bên cạnh các định nghĩa trên, trong tác phẩm Văn hóa và đổi mới, cố

vấn Phạm Văn Đồng viết: "Theo nghĩa rộng, nói một cách giản đơn văn hóa

là tất cả những gì do con người, ở trong người và liên quan trực tiếp đến con người" [24, tr 9] Với định nghĩa này, văn hóa được khẳng định như là cái đặc hữu, cái riêng có ở con người, do con người, thể hiện ở con người, là lĩnh

vực tồn tại chân chính của con người Còn trong cuốn Góp phần nghiên cứu

cách mạng tư tưởng văn hóa, tác giả Vũ Khiêu đã đề xuất một quan niệm:

"Văn hóa thể hiện trình độ được vun trồng của con người, của xã hội văn hóa là trạng thái con người ngày càng tách rời khỏi giới động vật để khẳng định những đặc tính của con người" [48, tr.8]

Qua những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu rằng văn hóa được hình thành và phát triển trong quan hệ thích nghi giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người Trải qua hàng ngàn năm thích nghi và cải tạo thế giới, những kinh nghiệm mà con người tích lũy được đã trở thành nền tảng cơ bản cho sự phát triển của văn hóa Văn hóa không chỉ bó hẹp trong quan hệ cá nhân gia đình và cộng đồng mà còn mở rộng trong mối quan

hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới Văn hóa hình thành trong quá trình tiếp xúc, giao lưu, sàng lọc, cải biến giữa văn hóa bản địa với những nền văn

Trang 39

35

hóa khác Do đó, văn hóa bao giờ cũng thể hiện sự đa dạng, phong phú nhưng luôn mang những nét độc đáo của dân tộc, đồng thời bao hàm tiềm ẩn những giá trị chung của nhân loại

b) Khái niệm văn hóa tinh thần

Từ điển triết học của Liên Xô (cũ) định nghĩa văn hóa tinh thần là văn hóa

hiểu theo nghĩa hẹp, là "toàn bộ những hình thức của đời sống tinh thần của xã

hội" [87, tr 973] Trong Từ điển chủ nghĩa xã hội khoa học của Liên Xô (cũ), tại

mục từ "Văn hóa cộng sản chủ nghĩa" có giải thích văn hóa tinh thần bao hàm lĩnh vực sản xuất tinh thần (nhận thức, đạo đức, giáo dục và khai hóa)

Trong sách giáo khoa phương pháp dùng cho học viên trường Đảng cao cấp ở Liên Xô (cũ), văn hóa tinh thần được định nghĩa là “Tổng thể các giá trị văn hóa, quá trình hình thành những giá trị đó, là bản thân những nhu cầu tinh thần, những lợi ích, những thị hiếu của con người, những phương thức thỏa mãn những nhu cầu đó Văn hóa tinh thần gắn với những thể chế xã hội như

hệ thống giáo dục nhân dân, các cơ quan văn hóa nghệ thuật, các phương tiện thông tin đại chúng, các hội sáng tạo ” [10, tr 355-356] Định nghĩa này có ưu điểm là đã xác định được phẩm chất, tính giá trị của sự vật và hiện tượng mà khái niệm văn hóa phản ánh nhưng lại chưa phân định được loại hình văn hóa vật chất và loại hình văn hóa tinh thần trong hệ thống chỉnh thể của văn hóa

Để đi tới khái niệm văn hóa tinh thần, theo chúng tôi, phải xuất phát từ nghĩa rộng của khái niệm văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, từ đó phân loại văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Thực ra trong sinh hoạt học thuật ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây người

ta đã từng phân loại văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần theo nhiều cách khác nhau Có người lấy dạng tồn tại của sản phẩm sáng tạo để phân loại thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Nhưng có ngành khoa học xác định "văn hóa

Trang 40

36

vật chất" liên quan đến sản xuất của cải vật chất và đời sống vật chất của con người và xã hội Còn "văn hóa tinh thần" thì liên quan đến sản xuất của cải tinh thần và đời sống tinh thần của con người, của xã hội Theo các các phân loại truyền thống đó, khái niệm "văn hóa vật chất" và "văn hóa tinh thần" có nội hàm khác nhau tùy theo ngành khoa học, thậm chí tùy từng tác giả sử dụng chúng Tuy nhiên, chúng cũng có ý nghĩa cơ bản mà hầu hết mọi quan điểm đều bảo lưu đó là tính "vật chất" và tính "tinh thần" của sự vật hiện tượng

Sự phân biệt giá trị vật chất và giá trị tinh thần tất nhiên chỉ có tính chất tương đối Không thể phân biệt một cách rạch ròi, tuyệt đối giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần Bởi lẽ không có giá trị vật chất nào lại không bao hàm những giá trị tinh thần trong đó, ngược lại không có giá trị tinh thần nào lại có thể tồn tại ngoài những hình thức vật chất của nó Nhưng chính ngay sự tồn tại của các khái niệm "văn hóa vật chất" và "văn hóa tinh thần" trong sinh hoạt khoa học của các nước thuộc hệ thống XHCN trước đây; "văn minh vật chất" và "văn minh tinh thần" trong các tài liệu khoa học ở Trung Quốc cũng nói lên rằng hai giá trị đó không phải là một Mặt khác, bản thân cuộc sống cũng cho thấy, cái mà con người cần có, đòi hỏi và mong muốn có để duy trì

sự tồn tại và phát triển của mình thì không phải chỉ là cái vật chất mà cả cái tinh thần Sống ở trên đời này, con người đâu phải chỉ cần cơm ăn áo mặc, mà còn cần, rất cần tình thương, lòng vị tha, độ lượng Do đó, sự phân biệt giá trị vật chất - văn hóa vật chất và giá trị tinh thần - văn hóa tinh thần ở một mức độ và phạm vị nhất định là điều có thể và cần thiết để nhận thức và đưa

ra được những kiến giải nhằm nâng cao hiện thực đời sống xã hôi nói chung, đời sống tinh thần nói riêng

Chính C.Mác và F.Ănghen trong khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người đã khái quát toàn bộ các hính thức hoạt động của xã hội thành hai lĩnh vực hoạt động cơ bản: "sản xuất vật chất" và "sản

Ngày đăng: 22/09/2020, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w