Trong đó, Tập đoàn xăngdầu của Mỹ cho ra đời tấm thẻ mua xăng đầu tiên vào năm 1924, cho phép người dân sửdụng thẻ này để mua xăng, dầu tại các cửa hàng trên toàn quốc.Tiếp theo những tổ
Trang 1CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING DỊCH VỤ THANH TOÁN
BẰNG THẺ NGÂN HÀNG1.1 Lịch sử hình thành và phát triển thẻ :
Để có được các sản phẩm đa dạng như hiện nay, lĩnh vực thẻ ngân hàng đã trải quanhiều giai đoạn thử nghiệm và phát triển Tuy nhiên, xét về mặt thời gian, kinh doanh thẻ
là ngành kinh doanh tương đối mới mẻ với sự ra đời và phát triển từ những năm đầu thế
kỷ 20 cho tới nay
Thẻ ngân hàng được hình thành tại Mỹ từ thói quen cho khách hàng mua chịu củacác chủ tiệm bán lẻ dựa trên uy tín của khách đối với các tiệm này Thông thường, cácchủ tiệm theo dõi mỗi khách hàng một cách riêng rẽ, ghi rõ các khoản mà khách hàng sẽphải thanh toán và chấp nhận cho khách hàng trả tiền sau vì họ tin tưởng vào khả năngthanh toán của người mua Tuy nhiên, dần dần nhiều người trong số các chủ tiệm bánhàng hóa, dịch vụ này nhận thấy, họ không có đủ khả năng cho khách hàng nợ và trả saunhư vậy Chính yếu tố này đã góp phần giúp các tổ chức tài chính hình thành ý tưởng vềsản phẩm thẻ Bởi vì, chỉ với lượng vốn kinh doanh lớn và khả năng mở rộng, quay vòngvốn cho vay thì các tổ chức này mới có khả năng cung cấp cho khách hàng những khoảnvay miễn lãi trong một thời gian tương đối.[11]
Vào năm 1914, tổ chức chuyển tiền Western Union của Mỹ lần đầu tiên cung cấpcho các khách hàng đặc biệt của mình dịch vụ thanh toán trả chậm Công ty này pháthành những tấm kim loại có chứa các thông tin in nổi thực hiện 2 chức năng:
- Giúp nhận diện và phân biệt khách hàng
- Cung cấp và cập nhật giữ liệu về khách hàng, bao gồm các thông tin về tàikhoản và thông tin về giao dịch thực hiện
Các tổ chức khác dần nhận ra những giá trị của loại hình dịch vụ nói trên củaWestern Union và chỉ trong một vài năm sau đó, rất nhiều đơn vị như nhà ga, khách sạncũng như các cửa hàng trên khắp nước Mỹ đã lựa chọn cung cấp dịch vụ trả chậm cho
Trang 2khách hàng của mình theo phương thức của Western Union Trong đó, Tập đoàn xăngdầu của Mỹ cho ra đời tấm thẻ mua xăng đầu tiên vào năm 1924, cho phép người dân sửdụng thẻ này để mua xăng, dầu tại các cửa hàng trên toàn quốc.
Tiếp theo những tổ chức cung cấp hàng hóa, dịch vụ, các ngân hàng chính thứcbước vào thị trường thẻ với mục tiêu nhanh chóng nhân rộng hình thức thanh toán nàydựa trên mối quan hệ sẵn có giữa các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên cả nước với
hệ thống đại lý rộng khắp của ngân hàng Với tốc độ tăng trưởng rất nhanh và trướcnhững khoản lợi dễ dàng như vậy, chỉ một vài năm sau đó, hơn 100 ngân hàng khác nhautrên nước Mỹ cùng thực hiện ý tưởng phát hành thẻ tahnh toán trả chậm,sau này gọi làthẻ tín dụng Tuy nhiên, bởi việc phát triển sản phẩm quá nhanh, ồ ạt và không đa dạnghóa sản phẩm bằng những tiện ích đầy đủ như thẻ tín dụng hiện giờ nên nhiều ngân hàngcũng như các tổ chức tài chính khác đã gặp những bài học đắt giá và buộc phải xem lạichiến lược kinh doanh của mình
Vào năm 1950, Diners Club phát hành tấm thẻ tín dụng đầu tiên, được làm bằngchất liệu plastic Sau này Frank McNamara, người sáng lập Diners Club, kể lại là ông đãtừng trải qua một trường hợp hết sức lúng túng khi ông ở một cửa hiệu ở New Yorknhưng quên mang theo ví Chính việc cam kết phải thanh toán sau đã gợi lên một ý tưởngkinh doanh thẻ đối với Frank McNamara
Sau Diners Club, vào năm 1958, công ty American Epress cũng tham gia vào thịtrường thẻ ngân hàng và đã thiết lập thành công tên tuổi của mình trong lĩnh vực mới mẻnày Cũng giống như các đối thủ cạnh tranh của mình, American Epress chú trọng pháttriển thẻ trong lĩnh vực giải trí và du lịch (T & E) – một lĩnh vực có tốc độ phát triểnnhanh chóng tại Mỹ và Châu Âu trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới.[22]
Đến trước năm 1970, khái niệm về thẻ tín dụng đã được nhiều người biết đến vànhanh chóng được đón nhận
Năm 1966, ngân hàng Bank of America chính thức trao quyền phát hành thẻBankAmericard của mình cho các ngân hàng khác thông qua việc ký các hợp đồng đại lý,
Trang 3chính thức bắt đầu giai đoạn tăng tốc trong phát triển Người dân đi du lịch nhiều hơntrên đất Mỹ và ra nước ngoài mà ko lo lắng tới việc phải có sẵn tiền để thanh toán Thẻtín dụng lúc này không chỉ mặc định dành cho những đối tượng giàu có và nổi tiếng màdần trở thành những phương tiện thanh toán thông dụng Thương hiệu BankAmericardvới một loạt sản phẩm có màu xanh, trắng, vàng đặc trưng ngày càng trở nên quen thuộcvới người tiêu dùng Bằng việc ký hợp đồng đại lý và cho các ngân hàng khác hưởng phíthanh toán chuyển đổi (interchange fee), Bank of America đã nhanh chóng tăng đượclượng thẻ phát hành cũng như ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các Đơn vị chấp nhậnthẻ trên khắp nước Mỹ và mở rộng ra thế giới.
Tới năm 1977, thẻ của ngân hàng Bank of America thực sự được chấp nhận trêntoàn cầu và thay vì tên BankAmericard, tên thẻ Visa ra đời với màu sắc đặc trưng vẫn làxanh lam, trắng và vàng
Cũng vào năm 1966, 3 nhóm ngân hàng lớn phía đông nước Mỹ quyết định hợptác thành lập tập đoàn kinh doanh tín dụng riêng, có tên là Interbank Card Association(ICA) Sau này, tên ICA được chuyển đổi thành MasterCard ICA ban hành các quy định
về cấp phép giao dịch, thanh toán bù trừ, các biện pháp marketing, bảo mật và các vấn đềliên quan tới luật pháp nhằm vận hành công việc một cách hiệu quả
Năm 1968, ICA bắt đầu chiến lược mở rộng kinh doanh trên phạm vi toàn cầuthông qua việc liên kết với Ngân hàng Banco National của Mexico Sau thời gian đó, ICAtìm kiếm đối tác tại thị trường Châu Âu, cho ra đời thẻ Eurocard Cũng vào năm 1968,ICA kết nạp thêm thành viên là một số ngân hàng tại Nhật, nhằm từng bước thâm nhập
và nắm bắt thị trường Đông Á này
Như vậy, thẻ ngân hàng ra đời từ nhu cầu thanh toán và phát triển dựa trên nền
tảng công nghệ cũng như chiến lược thay thế tiền mặt trong lưu thông Thực tế cho thấy,thẻ ngân hàng là một phát triển tất yếu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đồng thời đã vàđang phản ánh đầy đủ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và văn minh xã hội Tiếp thu
và ứng dụng những thành tựu của thế giới về khoa học kỹ thuật, nhất là về công nghệthông tin, hệ thống thẻ ngày càng hoàn thiện Cùng với mạng lưới thành viên và khách
Trang 4hàng phát triển hàng ngày, các Tổ chức thẻ quốc tế đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch
và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành, thanh toán, cấp phép, tra soát, khiếu kiện vàquản lý rủi ro Với doanh số giao dịch hàng trăm tỷ Đô la Mỹ mỗi năm, thẻ ngân hàngđang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền mặt và séc trong hệ thống thanh toán toàn cầu Đây
là một thành công đáng kể đối với một ngành kinh doanh mới chỉ có vài thập kỷ hìnhthành và phát triển
1.2 Khái niệm và phân loại thẻ
1.2.1, Khái niệm
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phươngthức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tinhọc trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngânhàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụhoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp.Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự độnghay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM.[5]
Dù do bất cứ tổ chức tài chính hoặc phi tài chính phát hành, thẻ ngân hàng đềuđược làm bằng plastic theo kích cỡ chuẩn quốc tế và bao gồm các yếu tố căn bản như:nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của Nhà phát hành, số thẻ, ngày hiệu lực và tênchủ thẻ Ngoài ra, thẻ còn có thể có tên công ty chịu trách nhiệm thanh toán thẻ hoặcthêm một số yếu tố khác theo quy định của Tổ chức hoặc tập đoàn thẻ quốc tế…
Trên thế giới có rất nhiều loại thẻ ngân hàng Các loại thẻ chính được sử dụng phổbiến bao gồm:
- Thẻ tín dụng (Creadit Card)
- Thẻ thanh toán (Charge Card)
Trang 5- Thẻ ATM.
- Thẻ ghi nợ (Debit Card)
- Thẻ đảm bảo (Check Guarantee Card)…
1.2.2, Phân loại thẻ: [5]
1.2.2.1, Thẻ tín dụng (Creadit Card):
Thẻ tín dụng là một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, cho phép người
sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau Khoảng thời gian từ khi thẻ được dùng đểthanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tới lúc chủ thẻ trả tiền cho ngân hàng phụ thuộcvào từng loại thẻ tín dụng của các tổ chức khác nhau Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số
dư nợ vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toànđược miễn lãi đối với số dư nợ cuối kỳ Tuy vậy, nếu hết thời gian này mà toàn bộ số dư
nợ cuối kỳ chưa được thanh toán cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ chịu những khoản phí vàlãi trả chậm Khi toàn bộ số tiền phát sinh được hoàn trả cho ngân hàng, hạn mức tíndụng của chủ thẻ được khôi phục như ban đầu Đây là tính chất “tuần hoàn” (revolving)của thẻ tín dụng
Các tổ chức tài chính như ngân hàng hay các công ty tài chính phát hành thẻ tíndụng cho khách hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng.Khả năng đảm bảo chi trả được xác định dựa trên tổng hợp nhiều thông tin khác nhaunhư: thu nhập, tình hình chi tiêu, mối quan hệ sẵn só đối với các tổ chức tài chính, địa vị
xã hội…của khách hàng Do đó, mỗi khách hàng có những hạn mức tín dụng khác nhau.Cũng từ việc thẩm định và phân loại khách hàng mà các ngân hàng cũng như các tổ chứctài chính đưa ra nhiều sản phẩm thẻ tín dụng đa dạng: ví dụ thẻ tín dụng Visa,MasterCard có thẻ Vàng (Gold) và thẻ Chuẩn (Classic/Standard)…
Khi sử dụng thẻ, thay bằng tiền mặt, chủ thẻ xuất trình thẻ tín dụng của mìnhtại các điểm cung ứng hàng hóa, dịch vụ có chấp nhận thẻ (gọi là đơn vị chấp nhận thẻ)
để thanh toán
1.2.2.2, Thẻ thanh toán (Charge Card):
Trang 6Đề đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, các tổ chức thẻ đưa ra một loại sảnphẩm thẻ tín dụng đặc biệt, phục vụ những khách hàng có thu nhập cao, có khả năng tàichính vững vàng và có mức chi tiêu lớn Đó là thẻ thanh toán (charge card) Nếu như thẻtín dụng thông thường cho phép khách hàng có thể trả một phần số dư nợ cuố kỳ vàongày đến hạn với điều kiện đảm bảo mức thanh toán tối thiểu thì đối với thẻ thanh toán,chủ thẻ sẽ phải thanh toán toàn số tiền phát sinh cho ngân hàng khi vào ngày đến hạn.Tuy nhiên, để đổi lại, khi sử dụng thẻ thanh toán, khách hàng được hưởng một hạn mứctín dụng đặc biệt cao và không bị chi phối bởi hạn mức tín dụng.
1.2.2.3, Thẻ ATM:
Thẻ ATM là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép chủ thẻ tiếpcận trực tiếp tới tài khoản tại ngân hàng từ máy rút tiền tự động Chủ thẻ có thể thực hiệnnhiều giao dịch khác nhau tại máy rút tiền tự động ATM, bao gồm: xem số dư tài khoản,chuyển khoản, rút tiền, in sao kê, xem các thông tin quảng cáo Hệ thống máy ATMhiện đại còn cho phép chủ thẻ gửi tiền vào tài khoản của mình ngay tại các máy ATM và
tự mình thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác
Sự tiện lợi là đặc điểm quan trọng nhất của thẻ ATM Bằng cách nhập mã số cánhân (PIN), chủ thẻ có thể tiếp cận tài khoản cá nhân của mình tại ngân hàng mọi nơi,mọi lúc, 24/24h mỗi ngày và 7 ngày trong tuần Điều này có nghĩa là cùng với thẻ ATM,
hệ thống ATM đã cung cấp cho khách hàng sử dụng thẻ khả năng giao dịch ngoài giờlàm việc, ngoài trụ sở của ngân hàng và khả năng tự phục vụ
Theo thời gian, các tổ chức đã tự động kết nối hệ thống ATM với nhau tạo nênmột mạng ATM khu vực, cho phép khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại nhiều máyATM hơn Hiện nay hai hẹ thống ATM lớn nhất trên thế giới là CIRRUS của MasterCard
và PLUS của Visa, sẵn sàng cho phép thẻ của các ngân hàng và những tổ chức tín dụngkhác kế nối, tạo nên một mạng lưới rộng khắp toàn cầu
1.2.2.4, Thẻ ghi nợ (Debit card):
Trang 7Với đặc tính thuận tiện, thẻ ATM đã nhanh chóng trở thành sản phẩm rất phổbiến, đặc biệt có tốc độ tăng trưởng cao tại các thị trường đang phát triển Tuy nhiên, sửdụng thẻ ATM, chủ thẻ chỉ có thể tiếp cận với tài khoản của mình từ những máy rút tiền
tự động Đây là một hạn chế bởi tài khoản cá nhân chưa được tận dụng triệt để trongthanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ Chính vì lý do này, thẻ ghi nợ
ra đời
Giống như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ cũng là một phương tiện thanh toán khôngdùng tiền mặt Tuy nhiên, nói về mức độ có thể thay thế tiền mặt, thẻ ghi nợ chiếm ưu thếvượt trội hơn thẻ tín dụng Điều này có được bởi tính chất của thẻ ghi nợ Bất cứ kháchhàng nào có tài khoản mở tại ngân hàng đều có thẻ phát hành thẻ ghi nợ hoặc trongtrường hợp chưa có tài khoản, khách hàng muốn phát hành thẻ ghi nợ thì bản thân thẻ ghi
nợ này sẽ gắn liền với một tài khoản của khách hàng Thẻ ghi nợ cho phép khách hàngtiếp cận với số dư trong tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toánhàng hóa, dịch vụ tài các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tớitài khoản tại máy rút tiền tự động ATM Như vậy, mức chi tiêu của chủ thẻ chỉ phụ thuộcvào số dư trong tài khoản Ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ cho chủ thẻ và thu phídịch vụ đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra quá trình chovay, không có việc phân loại khách hàng để được hưởng hạn mức tín dụng nên kháchhàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng đề có thể tiếp cận tới sản phẩm thẻ ghi nợ củangân hàng
1.3 Các bên tham gia trong hoạt động thẻ
Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng có sự tham gia chặt chẽcủa 5 thành phần cơ bản là: Tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàngthanh toán thẻ, chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ Từng chủ thể đóng vai trò quan trọngkhác nhau trong việc phát huy tối đa vai trò làm phương tiện thanh toán hiện đại của thẻngân hàng.[5]
1.3.1, Tổ chức thẻ quốc tế:
Trang 8Tổ chức thẻ quốc tế là đơn vị đầu não, quản lý mọi hoạt động phát hành và thanhtoán thẻ Đây là Hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn, có mạng lưới hoạt độngrộng khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và các loại sản phẩm đa dạng Ví dụ
tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard, công ty thẻ American Epress, công ty thẻ JCB,công ty Diners Club, công ty Mondex… Tổ chức thẻ quốc tế đưa ra nhưng quy định cơbản về việc phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa tổ chức vàcác công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thanh toán giữacác công ty thành viên
1.3.2, Ngân hàng phát hành:
Thẻ ngân hàng ra đời trực tiếp từ mối quan hệ gắn bó giữa người mua hàng, cácđơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ và các tổ chức tài chính - tín dụng Khi ngân hàng vàcác tổ chức tài chính- tín dụng trở thành thành viên chính thức hoặc đại lý cho các tổchức và công ty thẻ thì toàn bộ hệ thống phát hành và thanh toán thẻ trở nên đồng bộ.Ngân hàng phát hành là ngân hàng được sự cho phép của tổ chức thẻ hoặc công ty thẻtrao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của những tổ chức và công ty này Ngânhàng phát hành là ngân hàng có tên in trên thẻ do ngân hàng đó phát hành thể hiện thẻ đó
là sản phẩm của mình Ví dụ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được phép phát hànhthẻ Visa, MasterCard, American Expess, phát hành thẻ tín dụng quốc tế có tênVietcombank Visa, Vietcombank MasterCard và Vietcombank American Expess
Ngân hàng phát hành quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho chủ thẻtuân thủ Ngân hàng phát hành có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba, là mộtngân hàng hay tổ chức tài chính - tín dụng nào khác trong việc thanh toán hoặc phát hànhthẻ tín dụng Trong trường hợp này, ngân hàng tận dụng ưu thế bên thứ ba về kinhnghiệm, khả năng thâm nhập thị trường và ưu việt về vị trí địa lý; tuy nhiên, cũng phảichịu rủi ro về tài chính bởi bên thứ ba lúc này hoạt động với danh nghĩa là ngân hàng đại
lý Bên thứ ba khi ký kết hợp đồng đại lý với ngân hàng phát hành được gọi là ngân hàngđại lý phát hành Nếu tên của ngân hàng đại lý xuất hiện trên tấm thẻ của khách hàng thì
Trang 9nhất thiết ngân hàng đại lý phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ hoặc các công tythẻ.
1.3.3, Chủ thẻ:
Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được ủy quyền (nếu là thẻ do công ty ủyquyền sủ dụng) được ngân hàng phát hành thẻ, có tên in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theonhững điều khoản, điều kiện do ngân hàng phát hành quy định
Theo thông lệ, mỗi chủ thẻ chính có thể phát hành thêm một thẻ phụ Như vậyphát sinh hai khái niệm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ Tuy nhiên, chủ thẻ chính và chủ thẻphụ cùng chi tiêu trên một tài khoản Chủ thẻ phụ cũng có trách nhiệm thanh toán cáckhoản phát sinh trong kỳ, nhưng chủ thẻ chính là người có trách nhiệm thanh toán cuốicùng cho ngân hàng
Chủ thẻ sử dụng thẻ của mình để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các nơi cungứng hàng hóa có chấp nhận thẻ, ứng tiền mặt tại các điểm ứng tiền mặt thuộc hệ thốngngân hàng hoặc sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch tại máy rút tiền tự động ATM Đốivới thẻ tín dụng, sau một khoảng thời gian nhất định tùy theo quy định của từng ngânhàng phát hành, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê (statement) Sao kê là bản thông báo chi tiếttoàn bộ các giao dịch chi tiêu sử dụng thẻ, số dư nợ cuối kỳ, ngày đến hạn thanh toáncũng như số tiền thanh toán tối thiểu bắt buộc, các khoản lãi và phí phát sinh và các thôngbáo liên quan đến việc sử dụng thẻ Căn cứ vào thông tin trên sao kê, chủ thẻ sẽ thực hiệnthanh toán khoản tín dụng thẻ đã sử dụng cho ngân hàng phát hành thẻ
1.3.4, Ngân hàng thanh toán:
Ngân hàng thanh toán là ngân hàng chấp nhận các loại thẻ như một phương tiệnthanh toán thông qua việc ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm cung ứng hànghóa, dịch vụ trên địa bàn Trong hợp đồng chấp nhận thẻ ký kết với các đơn vị cung ứnghàng hóa, dịch vụ, ngân hàng thanh toán thẻ cam kết:
- Chấp nhận các đơn vị này vào hệ thống thanh toán thẻ của ngân hàng
Trang 10- Cung cấp các thiết bị đọc thẻ tự động cho các đơn vị này kèm theo nhữnghướng dẫn sử dụng hoặc chương trình đào tạo nhân viên về cách thức vận hànhcùng với dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng đi kèm trong suốt thời gian hoạt động.
- Quản lý những giao dịch có sử dụng thẻ tại những đơn vị này
Thông thường, ngân hàng thanh toán thu từ các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch
vụ có ký kết hợp động chấp nhận thẻ với họi một mức phí chiết khấu (discount rate) choviệc xử lý các giao dịch có sử dụng thẻ tại đây Mức phí này cao hay thấp phụ thuộc vàitừng ngân hàng và vào mối quan hệ chiến lược đối với các đơn vị khác nhau
Trên thực tế, rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành vừa là ngân hàngthanh toán thẻ Với tư cách là ngân hàng phát hành, khách hàng của họ là chủ thẻ còn với
tư cách là ngân hàng thanh toán, khách hàng là các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ có
ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ
1.3.5, Đơn vị chấp nhận thẻ:
Các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ như mộtphương tiện thanh toán được gọi là đơn vị chấp nhận thẻ Các ngành kinh doanh của cácđơn vị chấp nhận thẻ trải rộng từ những cửa hiệu bán lẻ, những nhà hàng ăn uống, kháchsạn, sân bay… Tại nhiều nước trên thế giới, khi thẻ ngân hàng đã trở thành một phươngtiện thanh toán thông dụng, chúng ta có thể nhìn thấy những biểu trưng của thẻ xuất hiệnthường tại các cửa hàng Ở Việt Nam, các đơn vị chấp nhận thẻ tập trung chủ yếu tạinhững ngành hàng, dịch vụ có thu hút nhiều khách nước ngoài như những cửa hàng bán
đồ thủ công mỹ nghệ, lưu niệm tại các trung tâm thương mại, những nhà hàng, khách sạnlớn, các đại lý bán vé máy bay…
Để trở thành đơn vị chấp nhận thẻ đối với một loại thẻ ngân hàng nào đó, nhấtthiết là đơn vị này phải có tình hình tài chính tốt và có năng lực kinh doanh Cũng nhưviệc ngân hàng phát hành thẩm định khách hàng trước khi phát hành thẻ cho họ, các ngânhàng thanh toán cũng sẽ chỉ quyết định ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với những đơn vịkinh doanh hiệu quả, có khả năng thu hút nhiều giao dịch sử dụng thẻ
Trang 11Mặc dù phải trả cho ngân hàng thanh toán một tỷ lệ phí chiết khấu theo lượng tiềntrong mỗi giao dịch, các đơn vị chấp nhận thẻ vẫn có được lợi thế cạnh tranh bởi việcchấp nhận thanh toan bằng thẻ ngân hàng sẽ giúp các đơn vị này thu hút được một lớpkhách hàng lớn, nâng cao số lượng các giao dịch thực hiện, góp phần tăng ca0 hiệu quảkinh doanh.
1.4 Các hoạt động kinh doanh thẻ [5]
1.4.1, Hoạt động phát hành:
Hoạt động phát hành của ngân hàng bao gồm việc quản lý và triển khai toàn bộquá trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ khách hàng Cả ba quá trình này đều quantrọng và không được coi nhẹ Mỗi một phần đều liên quan rất chặt chẽ đến việc phục vụkhách hàng và quản lý rủi ro cho ngân hàng Các tổ chức tài chính, ngân hàng phát hànhthẻ phải xây dựng các quy định về việc sử dụng thẻ và thu nợ: số tiền thanh toán tối thiểu,ngày sao kê, ngày đến hạn, các loại phí và lãi, hạn mức tín dụng tối đa, tối thiểu, cácchính sách ưu đãi…
Về cơ bản hoạt động phát hành thẻ được thực hiện:
- Tổ chức các hoạt động tiếp thị để đưa sản phẩm vào thị trường
- Thẩm định khách hàng phát hành thẻ
- Cấp hạn mức tín dụng thẻ đối với thẻ tín dụng
- Thiết kế và tổ chức mua thẻ trắng
- In nổi và mã hóa thẻ
- Cung cấp mã số cá nhân (PIN) cho chủ thẻ
- Quản lý thông tin khách hàng
- Quản lý hoạt động sử dụng thẻ của khách hàng
- Quản lý tình hình thu nợ của khách hàng
- Cung cấp dịch vụ khách hàng