Hệ thống các vấn đề lý luận, thực tiễn về phát triển NT và xây dựng NTM; Xác định những nội dung cơ bản và phân tích ảnh hƣởng của các nhân tố đến phát triển nông thôn và xây dựng NTM ở Việt Nam từ 1986 đến nay; Đề xuất 8 mô hình lý thuyết về xây dựng NTM trong thời gian tới; Đánh giá thực trạng phát triển NT và xây dựng NTM từ năm 1986 đến nay; Đề xuất hoàn thiện về cơ sở lý luận và các chính sách hỗ trợ xây dựng NTM đến năm 2020 và 2030; Thử nghiệm bƣớc đầu 3 mô hình cấp xã tại 3 vùng: Đồng bằng (phía Nam), Miền núi (phía Bắc), và Ven biển (miền Trung). Qua đó, đã có những kiến nghị và đề xuất trong xây dựng và nhân rộng mô hình thời gian tới.
Trang 1TỔNG HỘI NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
(Thuộc: Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2011 – 2015)
Cơ quan chủ trì Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam
Chủ nhiệm đề tài Hồ Xuân Hùng
Thời gian thực hiện 11/2015 đến 03/2017
Hà Nội, tháng 03/2017
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1: CÁC SẢN PHẨM KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1
1 Các sản phẩm chính: 1
2 Các sản phẩm trung gian: 1
3 Sản phẩm xây dựng mô hình thí điểm xây dựng NTM: 2
4 Các sản phẩm XHH: 2
PHẦN 2: BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
1 Mở đầu Giới thiệu đề tài nghiên cứu 3
1.1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài 3
1.2 Tổng quan các tài liệu liên quan đến đề tài 4
1.2.1 Tài liệu nghiên cứu ngoài nước: 4
1.2.2 Tài liệu nghiên cứu trong nước 6
1.3 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu; 11
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 11
1.3.2 ối tượng nghiên cứu 11
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu 11
1.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 11
1.4.1.Cách tiếp cận: 11
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng: 12
1.5 Những nội dung chính của báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài 13
1.6 Những điểm mới của đề tài: 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 17
1 Cơ sở lý luận 17
1.1 Các khái niệm có liên quan 17
1.1.1 Nông thôn và phát triển nông thôn 17
1.1.2 Nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 21
1.2 Vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết xây dựng nông thôn mới trong phát triển nông thôn 22
Trang 31.2.1 Vai trò đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội 23
1.2.2 Nông thôn là nguồn cung cấp lao động cho các ngành kinh tế và xuất khẩu lao động 25
1.2.3 Nông thôn là thị trường rộng lớn trong tiêu thụ hàng hóa nông sản và sản phẩm tiêu dùng do nền kinh tế làm ra 26
1.2.4 Nông thôn là địa bàn quan trọng tạo môi trường sinh thái, thiên nhiên 26
1.2.5 Nông thôn ổn định sẽ là điều kiện cần để gìn giữ an ninh chính trị, xã hội 27
1.2.6 Nông thôn luôn là nơi gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 28
1.3 Cách tiếp cận xây dựng nông thôn mới trong phát triển nông thôn 28
1.4 Những nội dung cơ bản của xây dựng nông thôn mới 33
1.5 Các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá xây dựng NTM theo từng nội dung xây dựng NTM 36
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới xây dựng NTM 39
1.7 ề xuất các mô hình lý thuyết xây dựng NTM cấp cơ sở (xã, thôn) ở Việt Nam và lựa chọn thử nghiệm 3 mô hình theo 3 vùng 40
1.7.1 Quan điểm về đề xuất mô hình xây dựng nông thôn mới 40
1.7.2 ề xuất và phân tích các mô hình lý thuyết về xây dựng nông thôn mới cấp cơ sở 41
2 Cơ sở thực tiễn về phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới 42
2.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới tại một số nước trên thế giới 42
2.1.1 Trung Quốc 42
2.1.2 Nhật Bản 44
2.1.3 ài Loan – mô hình Nông hội làm cầu nối giữa chính phủ và nông dân 45
2.1.4 Thái Lan 52
2.1.5 Các nước ASEAN 54
2.2 Kinh nghiệm xây dựng phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 58
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở nước ta giai đoạn 2000-2010 58
2.2.2 Phát triển nông thôn thông qua xây dựng NTM từ 2009 đến nay (2016) 59
3 Những vấn đề lý luận, thực tiễn cần quan tâm để xây dựng NTM ở Việt Nam những năm tới 66
Trang 43.1 Những vấn đề lý luận 66
3.1.1 Nhận thức về tầm quan trọng và sự cần thiết 66
3.1.2 Về sự chuẩn bị các nguồn lực và xác định các nội dung cần thiết 68
3.1.3 Về thể chế, chính sách và tổ chức phát triển nông thôn 73
3.2 Những vấn đề thực tiễn ở Việt Nam 78
3.2.1 Về sự chỉ đạo của ảng và Nhà nước 78
3.2.2 Về tổ chức triển khai 79
3.2.3 Về đánh giá, rút kinh nghiệm và hoàn thiện CTMTQG xây dựng NTM 79
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN, XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI VIỆT NAM 81
1 Khái quát thực trạng phát triển nông thôn và thực hiện các cơ chế, chính sách phát triển NT từ 1986 đến năm 2010 81
1.1 Thực trạng nông thôn đến năm 2010 81
1.1.1 Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát 81
1.1.2 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu, không đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài 81
1.1.3 Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân còn ở mức thấp: 81
1.1.4 Lao động nông nghiệp đang chiếm 51,9%, nhưng chất lượng thấp và rất khó chuyển dịch: 82
1.1.5 Chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn còn thấp 82
1.1.6 Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong nội bộ nông thôn: 82
1.1.7 Chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế 83
1.2 Khái quát các cơ chế, chính sách về phát triển nông thôn từ 1986 đến năm 2010 83 1.2.1 Giai đoạn 1986 – 1993 84
1.2.2 Giai đoạn 1994 – 2000 86
1.2.3 Giai đoạn 2000-2006 87
1.2.4 Giai đoạn từ 2007 đến nay 90
1.3 Khái quát những thành công, hạn chế trong phát triển nông thôn và thực hiện cơ chế, chính sách phát triển nông thôn giai đoạn 1986-2010 94
1.3.1 Những thành công 94
Trang 51.3.2 Nhưng hạn chế 96
2 Thực trạng xây dựng NTM từ năm 2001 đến nay 99
2.1 Thực trạng xây dựng NTM qua các giai đoạn 99
2.1.1 Giai đoạn 2001-2004 (Xây dựng NTM thí điểm cấp xã) 99
2.1.2 Giai đoạn 2005- 2009 (Xây dựng NTM thí điểm cấp thôn) 101
2.1.3 Giai đoạn 2010- 2016 (Xây dựng NTM trên phạm vi cả nước) 103
2.2 Khái quát các cơ chế, chính sách phục vụ xây dựng NTM giai đoạn từ 2001-2016 113
2.2.1 Chính sách đất nông lâm thủy sản 113
2.2.2 Chính sách khoa học và công nghệ nông nghiệp, nông thôn 118
2.2.3 Chính sách thị trường nông sản và vật tư nông nghiệp 123
2.2.4 Chính sách đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và sản xuất kinh doanh nông nghiệp, nông thôn 127
2.2.6 Chính sách an ninh lương thực và an toàn vệ sinh thực phẩm 138
2.2.7 Chính sách xây dựng cánh đồng lớn 140
2.3 Phân tích các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội nông thôn 141
2.3.1 Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm 141
2.3.2 Chính sách xoá đói, giảm nghèo 143
2.4 Phân tích các chủ trương, chính sách bảo vệ môi trường 145
2.4.1 Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 145
2.4.2 Chính sách môi trường làng nghề 145
2.5 Phân tích các chủ trương, chính sách xây dựng nông thôn mới 146
2.5.1 Nghị quyết Hội nghị TW5 (khoá IX) về đẩy mạnh CNH, H H nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 146
2.5.2 Nghị quyết hội nghị trung ương 7 khóa X về Nông nghIệp, nông dân, nông thôn 150 2.5.3 Quyết định 800/Q - TTg, ngày 04/6/2010, phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 152
2.6 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới vận dụng cơ sở lý luận, thực tiễn vào phát triển NT và xây dựng NTM ở Việt Nam từ 2001 đến nay và rút ra nguyên nhân 156
2.6.1 Nhóm các nhân tố khách quan 156
CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CẤP XÃ TẠI 3 VÙNG 171
Trang 63.1 Mô hình “giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc” ở xã Mỹ Bằng huyện Yên Sơn tỉnh
Tuyên Quang (vùng miền núi trung du phía Bắc) 171
3.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mô hình 171
3.1.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Bằng 172
3.1.3 Lý do lựa chọn mô hình 172
3.1.4 ánh giá việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc tại xã 173
3.1.5 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Cao Lan tại xã Mỹ Bằng: 173
3.1.6 Kết quả triển khai mô hình thử nghiệm 174
3.1.7 Một số kiến nghị và đề xuất 176
3.2 Mô hình “kết hợp phát triển kinh tế kết hợp với du lịch nông thôn” ở xã Tam ại huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam (vùng ven biển miền Trung) 176
3.2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mô hình 176
3.2.2 Tình hình xây dựng NTM tại xã Tam ại 178
3.2.3 Vấn đề môi trường trong phát triển du lịch nông thôn tại xã Tam ại, Quảng Nam 179
3.2.4 Lý do lựa chọn mô hình 181
3.2.5 Tình hình xây dựng NTM tại xã Tam ại 182
3.2.6 Vấn đề môi trường trong phát triển du lịch nông thôn tại xã Tam ại, Quảng Nam 182
3.2.7 Kết quả triển khai mô hình thử nghiệm 183
3.2.8 Bài học kinh nghiệm rút ra từ mô hình 184
3.3 Mô hình "Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ nông sản" tại xã Hòa An, TP Cao Lãnh, tỉnh ồng Tháp (vùng đồng bằng sông Cửu Long) 185 3.3.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mô hình 185
3.3.2 Thực trạng xây dựng NTM tại xã Hòa An 187
3.3.3 Tiêu thụ nông sản qua hợp đồng tại địa bàn xã 190
3.3.4 Lý do lựa chọn mô hình 191
3.3.5 Thực trạng xây dựng NTM tại xã Hòa An 191
3.3.6 Liên kết với doanh nghiệp và tiêu thụ nông sản qua hợp đồng tại địa bàn xã 192
3.3.7 Kết quả thử nghiệm mô hình 192
Trang 7CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP XÂY DUNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2030 194
1 Mục tiêu, nội dung thực hiện của chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 194
1.1 Mục tiêu của chương trình 194
1.1.1 Mục tiêu tổng quát: 194
1.1.2 Mục tiêu cụ thể: 194
1.2 Các nội dung thành phần của chương trình 194
1.2.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới: 194
1.2.2 Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội 195
1.2.3 Phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân 196
1.2.4 Giảm nghèo và an sinh xã hội 197
1.2.5 Phát triển giáo dục ở nông thôn 197
1.2.6 Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn 198
1.2.7 Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân nông thôn 198
1.2.8 Vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục, xử lý ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng nghề 198
1.2.9 Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức ảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng nông thôn mới; cải thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân 199
1.2.10 Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn 200
1.2.11 Nâng cao năng lực xây dựng nông thôn mới và công tác giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình; truyền thông về xây dựng nông thôn mới 200
1.3 Một số điều chỉnh của quyết định số 1600/Q TTg so với Quyết định số 800/Q -TTg 200
2 Nhận định những thuận lợi, khó khăn, thách thức trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 tầm nhìn 2030 202
Trang 83 ề xuất một số giải pháp lớn tăng cường xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2016-2020 tầm nhìn 2030: 203
3.1 Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và cư dân nông thôn, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới 203
3.4 Cần xác định những nhiệm vụ trọng tâm cần ưu tiên trong thực hiện các tiêu chí nông thôn Nhóm các nhiệm vụ ưu tiên (gồm 06 nhiệm vụ): 203
3.5 Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả các tiêu chí nông thôn mới đối với các xã, huyện đã được công nhận đạt chuẩn 204
3.6 Huy động đa dạng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho Chương trình: 205
3.7 Khẩn trương xây dựng, bổ sung hoàn thiện sớm một số cơ chế, chính sách: 207
3.8 Tăng cường hợp tác quốc tế trong xây dựng nông thôn mới để tạo thêm nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới: 208
3.9 ẩy mạnh phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, khen thưởng kịp thời và xứng đáng cho các tập thể làm tốt, các cá nhân, tổ chức có đóng góp tích cực, hiệu quả cho Chương trình 208
3.10 iều hành, quản lý Chương trình: 208
4 ề xuất chính sách cho xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 tầm nhìn 2030 208
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 215
1 Kết luận 215
2 Kiến nghị 217
TÀI LIỆU THAM KHẢO 219
Trang 9PHẦN 1 CÁC SẢN PHẨM KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Các sản phẩm chính:
- Báo cáo tổng kết đề tài
- Báo cáo tóm tắt kết quả đề tài
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định và hoàn thiện mô hình ntm của việt nam, đề ra phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình xây dựng và phát triển
mô hình ntm đến năm 2020 và những năm tiếp theo
2 Các sản phẩm trung gian:
- Báo cáo chuyên đề: 13 báo cáo
+ Chuyên đề 1 Các vấn đề lý luận về vị trí của nông thôn và vận dụng phân tích đối với nông thôn Việt Nam
+ Chuyên đề 2 ặc điểm phát triển nông thôn và những vấn đề cần quan tâm
trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
+ Chuyên đề 3 Các vấn đề lý luận về nội dung xây dựng nông thôn mới và vận
dụng vào Việt Nam
+ Chuyên đề 4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông thôn và
xây dựng nông thôn mới
+ Chuyên đề 5 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới của các nước Hàn Quốc,
ài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
+ Chuyên đề 6 Thực trạng xây dựng nông thôn mới và những vấn đề nảy sinh
trong thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
+ Chuyên đề 7 Chính sách phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới từ
khi đổi mới (1986) đến nay
Trang 10+ Chuyên đề 8 Thực trạng xây dựng nông thôn mới và phân tích các mô hình
nông thôn mới điển hình về xây dựng nông thôn mới ở vùng miền núi phía Bắc
+ Chuyên đề 9 Thực trạng xây dựng nông thôn mới và phân tích các mô hình nông thôn mới điển hình về xây dựng nông thôn mới ở vùng ven biển miền Trung
+ Chuyên đề 10 Thực trạng xây dựng nông thôn mới và phân tích các mô hình
nông thôn mới điển hình về xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng phía Nam
+ Chuyên đề 11 Các giải pháp tăng cường xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2020 và những năm tiếp theo
+ Chuyên đề 12 Hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn mới
+ Chuyên đề 13 ề xuất các mô hình lý thuyết về xây dựng nông thôn mới
- Báo cáo khảo sát thực tế;
+ Báo cáo kết quả điều tra thực trạng phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh phía Bắc
+ Báo cáo kết quả điều tra thực trạng phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh miền Trung
+ Báo cáo kết quả điều tra thực trạng phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh phía Nam
- Biên bản các hội thảo:
+ Hội thảo 1 Những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về xây dựng nông thôn
mới của các nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
+ Hội thảo 2: Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Từ chính sách đến thực
tiễn
+ Hội thảo 3: Các giải pháp/chính sách và xây dựng mô hình lý thuyết về xây
dựng nông thôn mới trong tương lai
3 Sản phẩm xây dựng mô hình thí điểm xây dựng NTM:
- Báo cáo kết quả xây dựng 3 mô hình
Trang 11PHẦN 2 BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Mở đầu Giới thiệu đề tài nghiên cứu
1.1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài
Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định 800/Q -TTg ngày 04/6/2010 ây là một chương trình phát triển nông thôn toàn diện, có tác động đến mọi mặt kinh tế, xã hội, môi trường ở nông thôn, có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Chương trình ra đời nhằm mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội (KTXH) hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của ảng được tăng cường
Sau 5 năm triển khai, chương trình đã đạt được nhiều thành tựu lớn Diện mạo nông thôn biến chuyển tích cực, nhiều hình thức tổ chức sản xuất được hình thành mang lại hiệu quả cao, các giá trị văn hóa truyền thống được phát huy, cải thiện và tạo tiền đề thực hiện thắng lợi mục tiêu của Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ặc biệt, sau những khó khăn ban đầu, cho đến nay nhận thức về xây dựng NTM của đại bộ phận cán bộ NTM các cấp cũng như người dân đã thay đổi đáng kể Xây dựng NTM đã tạo động lực thúc đẩy cộng đồng dân cư nông thôn phấn đấu thi đua để cải thiện và phát triển đời sống KTXH ở khu vực nông thôn
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình triển khai xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2015 cũng đã bộc lộ nhiều điểm tồn tại và hạn chế Hàng loạt các vấn đề như nợ đọng xây dựng cơ bản, chạy đua thành tích, tư duy nhiệm kỳ, tư duy tiêu chí, thiếu cân bằng trong đầu tư, chênh lệch vùng miền, thiếu bền vững trong các tiêu chí đạt được đã và đang nảy sinh trong thực tiễn xây dựng NTM và cần sớm có giải pháp khắc phục để phát huy đúng bản chất của mục tiêu xây dựng NTM trong giai đoạn tới
Các hạn chế, yếu kém hiện nay trong xây dựng NTM ở nước ta bắt nguồn từ những hạn chế về cơ sở lý luận và thực tiễn, nhất là trong bối cảnh phát triển mới của đất nước cũng như những lúng túng, bất cập trong triển khai thực hiện chủ trương, chính sách về xây dựng NTM, thậm chí cả về bộ tiêu chí lẫn mô hình xây dựng NTM phù hợp với điều kiện, sự đa dạng vùng, miền, cư dân nông thôn của đất nước Thêm
Trang 12vào đó, yêu cầu phát triển mới của đất nước trong giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nhìn
2030 với mốc năm 2020 đất nước trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại đòi hỏi diện mạo và chất lượng của nông thôn Việt Nam phải phù hợp và bắt nhịp được với diện mạo và chất lượng phát triển của các lĩnh vực phát triển khác để tạo nên diện mạo và chất lượng phát triển của đất nước, dân tộc Việt Nam
Vì lẽ đó, việc triển khai đề tài: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng nông thôn mới” là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay
1.2 Tổng quan các tài liệu liên quan đến đề tài
1.2.1 Tài liệu nghiên cứu ngoài nước:
Phát triển bền vững và để ổn định tăng trưởng, trong sự phát triển cân đối, hài hòa cũng như đảm bảo giữa các khu vực, lĩnh vực, các quốc gia nhận thấy cần phải quan tâm tới nông thôn, bởi vì, nông thôn là khu vực dễ bị tổn thương nhất trước những biến động trong quá trình toàn cầu và quốc tế hóa Do đó, các nước đã thực hiện các nghiên cứu, đưa ra các mô hình chính sách về nông thôn mới Vai trò và chủ thể của nông dân trong phát triển nông thôn luôn được các nước coi là nhân tố quan trọng V.I Lenin trong nhiều nghiên cứu của mình, đã nhấn mạnh tới vai trò của nông dân trong bối cảnh của một nước Nga lạc hậu so với các nước phát triển trên thế giới, với
vô số những tàn tích của chế độ nông nô Phân tích những đặc điểm nông thôn của nước Nga ngày ấy, V.I Lenin đã lưu ý rằng nhiệm vụ của Chính phủ là phải giải quyết tốt mối quan hệ với nông dân, coi đó là điểm then chốt trong chính sách phát triển nông thôn và ổn định kinh tế Trong mối quan hệ giữa Nhà nước vô sản với giai cấp nông dân trong phát triển kinh tế nông thôn sau hòa bình là nhiệm vụ cấp thiết, trong bối cảnh nước Nga kinh tế yếu ớt cùng các nước thù địch bao vây ể phát triển nông thôn, V.I Lenin cho rằng trong bối cảnh của nền kinh tế và xã hội quá độ của đất nước, đã khích lệ nông dân và Nhà nước tự do “mua bán lương thực”, kích thích tính
tự chủ và tính độc lập của nông dân, góp phần đưa nông thôn có động lực phát triển Toàn bộ nội dung của chính sách kinh tế mới, điểm xuyên suốt trong tư tưởng của V.I Lenin là động lực đối với giai cấp nông dân Quan điểm khi bàn về chế độ hợp tác
xã của V.I.Lenin chính là sự tôn trọng, hướng nông dân tới một sự phát triển kinh tế xã hội mới, vượt lên khỏi tính hạn chế của chính giai cấp đó (V.I Lenin: Toàn tập 1977) Trong nghiên cứu của OECD năm 2004, cũng đã chỉ ra về sự thay đổi ở khu vực nông thôn, cần phải có chính sách về nông thôn mới Theo đó, các nghiên cứu, vấn đề lý luận về nông thôn mới đã luôn được đề cập (Mateo Ambrosio – Albala and Johan Bastiaensen 2010; Wen Tiejun 2007; OECD 2006) Lý luận về mô hình nông thôn mới đã có những đổi mới nhiều trong cách tiếp cận mục tiêu như: Tập trung vào mục tiêu cụ thể lĩnh vực liên quan tới nông nghiệp về bình đẳng; thu nhập trang trại và
Trang 13cạnh tranh nông nghiệp sang phạm vi rộng hơn về cạnh tranh giữa các khu vực nông thôn; tài sản khu vực nông thôn được ổn định; khai thác các nguồn tài nguyên không
sử dụng, công cụ sử dụng: chuyển từ hình thức bao cấp mang tính thụ động sang hình thức đầu tư để chủ động hơn, tới các thành phần tham gia trong công cuộc xây dựng nông thôn mới cũng cần mở rộng Không chỉ có Chính phủ trung ương, nông dân mà còn huy động toàn lực xã hội như bao gồm các cấp chính quyền, tổ chức liên quan Năm 2006, các nước thành viên OECD đã đạt được thỏa thuận về những nguyên tắc về mô hình nông thôn mới (NRP) nhằm chính thức hóa cách thực hành tốt nhất trong phát triển nông thôn thành một tập hợp các nguyên tắc phát triển chính sách quốc gia (OECD.2006) Những nghiên cứu này đã cho thấy rằng: (i) Các chính sách ngành mang lại kết quả tốt hơn trong thực hiện mục tiêu phát triển nông thôn; (ii) Chính sách thay đổi từ trợ cấp chuyển sang đầu tư cho các khu vực nông thôn, trên cơ
sở tăng cường tính trách nhiệm, tính tự chủ cho các cấp chính quyền nông thôn, nâng cao năng lực cạnh tranh địa phương; (iii) Chú trọng tới phát triển và quản lý tài nguyên
và giữ vững nguyên tắc đất đai vẫn là yếu tố quan trọng trong chính sách phát triển và xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, nghiên cứu này để có những cơ sơ lý luận, mà từ thực tiễn làm thế nào đa dạng hóa các nguồn lực cho việc xây dựng và phát triển nông thôn mới bền vững
Qua nghiên cứu một số nước cho thấy nhiều nghiên cứu đã đề cập tới việc hình thành mô hình nông thôn mới, nhưng chưa có nghiên cứu nào tập trung sâu vào vấn đề huy động các nguồn lực trong xã hội về xây dựng mô hình nông thôn mới…mà được đề cập tản mạn, rải rác trong các nghiên cứu cho phát triển nông thôn mới Tổng hợp một số kinh nghiệm thực tiễn trong các nghiên cứu của một số nước trong việc huy động các nguồn lực xã hội và quản lý các nguồn lực để xây dựng nông thôn mới
đã chỉ ra, trong việc huy động nguồn lực khá đa dạng với nhiều hình thức khác nhau như: hỗ trợ đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các chính sách cụ thể; từ nguồn NSNN, từ quỹ đầu tư, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp trên địa bàn và cả người dân….Nguồn vốn này được quản lý, phân bổ và sử dụng như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cơ bản cho nông thôn, hỗ trợ cho sản xuất, tập huấn nhằm nâng cao năng lực quản lý, lãnh đạo cho các bộ cấp xã, thôn…
Tổng kết của UNCTAD về vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong phát triển ở các nước đang phát triển cho thấy như sau (Nguồn: UNCTAD, The Least Developed Countries Report 2008, Growth, Poverty and Terms of Development Partnership, Background paper No 3, “How to promote agricultural growth through productive investment and governance reform in least developed countries?”): Quá độ trong phát triển kinh tế của nhiều nước châu Á và phương Tây đã chỉ ra rằng nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình phát triển, đặc biệt là trong
Trang 14thời kỳ phát triển ban đầu của một quốc gia
Một là, khu vực nông nghiệp chiếm tỷ phần lớn trong thu nhập và lao động
ở nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là ở thời kỳ đầu chuyển đổi kinh tế
Hai là, nông nghiệp là cỗ máy của tăng trưởng và trong đóng góp vào an ninh lương thực và thu nhập của nông dân còn có thể có tác dụng là đòn bẩy to lớn đối với phần còn lại của nền kinh tế Tác động hiệu ứng của nông nghiệp tới tăng trưởng kinh tế thông qua các mối liên kết với phía trước (sản xuất) và phía sau (tiêu dùng) Một phần trăn tăng trưởng trong nông nghiệp thường đem lại một hoặc hai phần trăm tăng trưởng trong nền kinh tế nói chung
Ba là, nghèo đói vẫn tiếp tục là vấn đề chính ở nông thôn tùy thuộc vào nông nghiệp là sinh kế của người nghèo Mặc dù xu thế đô thị hóa thì khoảng 3/4 người nghèo của thế giới thứ ba vẫn còn sống ở khu vực nông thôn và vẫn sẽ còn tiếp tục như vậy trong vài thập kỷ nữa
Ngoài ra, tăng trưởng ở khu vực nông nghiệp còn giải phóng lao động và vốn cho khu vực phi nông nghiệp
1.2.2 Tài liệu nghiên cứu trong nước
Về nghiên cứu lý luận, nông thôn đã là một vấn đề nghiên cứu quan trọng và đã
có nhiều nghiên cứu ở nước ta: Bộ NN&PTNT và Viện Hàn lâm KHXH VN đã triển khai những chương trình, đề tài nghiên cứu cấp bộ và cấp cơ sở, Bộ KH&CN cũng đã triển khai một số chương trình KH&CN cấp nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, trong đó đã có những ấn phẩm được in ấn phát hành rộng rãi, như: Nguyễn
Kế Tuấn (chủ biên), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam - Con đường và bước đi, nxb Chính trị quốc gia, H 2006; Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Kinh nghiệm Việt Nam, Kinh nghiệm Trung Quốc, nxb Chính trị QG, H 2009; Lê Cao oàn, Triết lý phát triển quan hệ công nghiệp - nông nghiệp, thành thị - nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”, nxb Khoa học xã hội, H 2002; ề tài cấp bộ (Viện hàn lâm KHXH VN, đã in sách) “Trung Quốc với việc giải quyết vấn đềnông nghiệp - nông thôn - nông dân (tam nông)”, Chủ nhiệm ề tài: PGS TS ỗ Tiến Sâm, H 2008; ề tài cấp nhà nước, mã số KX.05.02 “Thực trạng đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Chủ nhiệm ề tài: TSKH Phan Hồng Giang; Nhiều công trình nghiên cứu về nông thôn cũng được công bố, như: Phạm Xuân Nam (chủ biên), Phát triển nông thôn, nxb Khoa học xã hội, H 1997; ặng Kim Sơn, Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn Việt Nam: Hôm nay và mai sau, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008; Bùi Quang Dũng, Xã hội học nông thôn, nxb Khoa học xã hội, H 2007;Nguyễn Thị Tố Quyên (Chủ biên),Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng
Trang 15trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012; Nhiều hội thảo khoa học với các tham luận tập trung vào chủ đề nông thôn cũng đã thảo luận nhiều vấn đề phát triển nông thôn với các gợi ý, đề xuất có giá trị tham khảo tốt, như: Tài liệu Hội thảo quốc tế “Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân: Kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam” do Viện KHXH VN tổ chức tại Hà Nội, 30 – 31/10/2007; Cơ sở lý thuyết và thực tiễn phát triển nông thôn bền vững, nxb Nông nghiệp, H 2003; Ngoài ra, còn có những bài nghiên cứu về nông thôn mới được đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, nhất là tạp chí khoa học của Bộ NN&PTNT, Viện Hàn lâm KHXH VN, Tạp chí Cộng sản, (do giới hạn dung lượng trình bày không liệt kê cụ thể ở đây)
Có thể khái quát các nghiên cứu trong nước đã công bố cho đến nay về chủ đề nông thôn chia thành 2 loại: (i) Loại nghiên cứu chuyên biệt về các vấn đề về phát triển nông thôn (kinh tế, xã hội, thể chế, quản lý, môi trường, ); (ii) Loại nghiên cứu chuyên về nông thôn trong mối quan hệ với nông nghiệp, nông dân, công nghiệp, đô thị Nhưng cũng có điều lưu ý là trong cả 2 loại nghiên cứu này thì chủ đề nông thôn mới còn khá khiêm tốn, bởi 2 lý do: một là, nông thôn mới là thuật ngữ để chỉ bối cảnh mới phát triển nông thôn (hiện đại hóa, đô thị hóa, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, ); và hai là, phạm trù “nông thôn mới” ở nước ta xuất hiện cách đây không lâu (kể từ khi có Nghị quyết của Ban CHTƯ ảng lần thứ 7 (khóa X) số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và sau đó là Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 491/Q -TTg ngày 16/4/2009 ban hành Bộ tiêu chí QG về nông thôn mới) Những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn
về nông thôn mới còn là chưa nhiều, chủ yếu tập trung ở nghiên cứu phục vụ cho việc
ra Nghị quyết của Ban CHTƯ ảng lần thứ 7 (khóa X) số 26-NQ/TW và ban hành Bộ tiêu chí QG về nông thôn mới nói trên cũng như phục vụ triển khai thực hiện Trong đó:
- Về nghiên cứu lý luận, ở giai đoạn 2006 – 2010, có lẽ tập trung nhất là nghiên
cứu của đề tài cấp nhà nước, mã số KX.04.10/06-10 “Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại” (Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Nguyễn Danh Sơn) thuộc Chương trình cấp Nhà nước "Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006 - 2010", mã số KX.04/06-10 do Hội ồng lý luận TƯ chủ trì cùng một loạt nghiên cứu của Bộ NN&PTNT phục vụ trực tiếp cho việc ra Nghị quyết của Ban CHTƯ ảng lần thứ 7 (khóa X) số 26-NQ/TW và ban hành Bộ tiêu chí QG về nông thôn mới nói trên cũng như phục vụ triển khai thực hiện Sau nghiên cứu này có một số nghiên cứu tiếp tục thuộc chương trình nghiên cứu KHCN cấp nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 do Hội ồng lý luận TƯ và một số bộ ngành (Bộ NN&PTNT, Viện Hàn lâm KHXH VN, Viện Hàn lâm KHCN VN, Bộ
Trang 16KHCN) chủ trì nhưng hoặc chưa kết thúc nghiên cứu hoặc chúng tôi chưa tiếp cận được sản phẩm đã công bố Theo báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu của ề tài cấp nhà nước, mã số KX.04.10/06-10 “Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt
Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại” nói trên thì về lý luận
chính trị, ề tài đã đi sâu tìm hiểu những vấn đề lý luận phổ biến của bước chuyển hoá
từ một nước lạc hậu, chủ yếu là nông nghiệp thành một nước công nghiệp hiện đại, trong đó làm rõ hơn, chuẩn xác hơn không chỉ vị trí, vai trò, sứ mạng của từng “nông” trong chỉnh thể nông nghiệp, nông dân, nông thôn mà mà còn cả của các lĩnh vực khác ngoài “nông” Các kết luận sau đây của ề tài đã được làm sáng tỏ:
+ Nông nghiệp, nông thôn và nông dân - nhân tố quan trọng, mang tính quyết định đối với không chỉ bản thân sự chuyển hoá và phát triển mà còn cả “tầm cao” và
“tốc độ” của quá trình chuyển hoá và phát triển nền kinh tế và xã hội;
+ Cơ chế thị trường và thể chế thị trường - phương tiện hiệu quả nhất để phá vỡ kết cấu hiện vật của nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, mở đường chuyển hoá
và phát triển nền kinh tế và xã hội theo hướng hiện đại;
+ Sản phẩm thặng dư và tích luỹ cho phát triển - điều kiện cơ bản, chỉ báo
cơ bản của chuyển hoá và phát triển kinh tế hàng hoá nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn, nông dân nói riêng;
+ Chuyển hoá phương thức sản xuất tiểu nông sang phương thức sản xuất công nghiệp là bản chất và mục tiêu của quá trình chuyển hoá xã hội từ xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp Công nghiệp và đô thị có trách nhiệm to lớn đối với quá trình chuyển hoá này;
+ Nông dân là chủ thể với các lợi ích được đảm bảo là động lực quan trọng trong suốt quá trình chuyển hoá và phát triển ất đai với nông dân là quan hệ rất cơ bản và sự gắn bó của nông dân với đất đai, thu lợi, làm giàu từ đất đai mang tính quyết định đối với sự thành công không chỉ chuyển hoá và phát triển của nông nghiệp, nông thôn mà còn cả đối với sự phát triển chung của đất nước
+ Tiến bộ khoa học và công nghệ có vai trò to lớn trong chuyển hoá, phát triển Khoảng cách về trình độ khoa học và công nghệ trong nông nghiệp, nông thôn so với công nghiệp, đô thị là chỉ báo quan trọng về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân được thực hiện như thế nào
Riêng về phát triển nông thôn, ề tài này đã có những kiến nghị sau: (và
đó cũng có thể được coi là những vấn đề cần được nghiên cứu tiếp tục)
+ Nông thôn vẫn còn là một xã hội nông nghiệp, mang đậm tính chất tiểu nông
và khép kín, do vậy ít sự hấp dẫn, thu hút đối với các nguồn lực trong xã hội (trong nước, quốc tế) cho phát triển
Trang 17+ Nông thôn vẫn còn là địa bàn hay khu vực lạc hậu trên hầu hết các mặt của đời sống kinh tế (hạ tầng kinh tế, phương thức sản xuất, ), văn hóa (thiết chế văn hóa, sinh hoạt văn hóa, ), xã hội (hạ tầng xã hội, lối sống xã hội, ), chính trị (thiết chế dân chủ, nhất là sự tham gia của dân cư nông thôn, ) với khoảng cách ngày càng
xa không chỉ so với đô thị mà còn cả so với trình độ phát triển chung, yêu cầu chung
để hội nhập, phát triển
+ Nông thôn vẫn còn chưa được định hướng phát triển một cách rõ rệt với tầm nhìn cả trong trung hạn và dài hạn đối với không chỉ bản thân nông thôn mà còn cả trong mối quan hệ với đô thị
+ Xã hội nông thôn vẫn còn chưa được chuẩn bị tốt cả cho sự kết nối với xã hội công nghiệp mà đất nước đang hướng tới (hay cơ bản là công nghiệp theo hướng văn minh, hiện đại) và cả cho với hội nhập với thế giới bên ngoài
+ Môi trường sinh thái nông thôn đang có nguy cơ suy thoái, suy giảm cả về mặt lượng (không gian, sinh cảnh, diện tích, tài nguyên, ) và cả về mặt chất (chất lượng các thành phần môi trường đất, nước, đa dạng sinh học, ) dưới tác động của
cả công nghiệp hóa, đô thị hóa và của cả biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng, nước biển dâng)
- Về nghiên cứu triển khai thực tiễn, để phát triển nông thôn, thời gian qua Việt
Nam đã thực hiện thí điểm 02 đề án phát triển nông thôn mới cấp xã và cấp thôn, bản
và một chương trình xây dựng thí điểm một số mô hình nông thôn mới cùng nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ từ Nhà nươc để phát triển nông thôn Các nghiên cứu
sơ kết thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới cho đến giữa năm
2013 cho thấy “ hầu như mới chỉ tập trung vào chỉ đạo triển khai chung, chưa chú ý chỉ đạo huyện điểm, xã điểm” Kết quả thực hiện các tiêu chí của Chương trình NTM tại các địa phương còn rất khiêm tốn: 35 xã đạt 19 tiêu chí (chiếm 0,4% tổng số xã tham gia Chương trình); 276 xã đạt 15-18 tiêu chí (chiếm tỷ lệ 3,2%); 1.071 xã đạt 10-
14 tiêu chí (18,2%); 3.982 xã đạt 5-9 tiêu chí (47%) và 2.523 xã đạt dưới 5 tiêu chí (chiếm tỷ lệ 29,6%) với khuyến cáo rằng mục tiêu đến năm 2015 có 20% số xã đạt chuẩn NTM là rất khó đạt được (nếu không tăng nguồn lực và tập trung chỉ đạo và các
xã điểm)
Các nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học và trình bày tại các diễn đàn khoa học (hội thảo, hội nghị, tọa đàm, ) từ nhiều khía cạnh xem xét khác nhau đã cho thấy bên cạnh những kết quả bước đầu đáng khích lệ và ghi nhận còn có nhiều vấn
đề cần chú ý và giải quyết (khó khăn, cản trở, thách thức) trong xây dựng nông thôn mới Nói một cách khái quát hơn, theo diễn đạt của nhiều ý kiến tại hội thảo khoa học gần đây nhất (ngày 27/6/2013 với chủ đề “Bức tranh nông thôn, nông dân VN nhìn từ
Trang 18cuộc điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn phối hợp với Báo Nông thôn ngày nay tổ chức) là “nông thôn bộn bề”, bức tranh nông thôn đã và đang có nhiều “màu xám”, trong đó “Nông dân đông nhất, nghèo nhất, bất lực nhất” Tại Hội thảo “Chân dung người nông dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập” do Viện Hàn lâm KHXH VN tổ chức tháng 12/2013 tại Hà Nội, Chủ tịch hội Nông dân Việt Nam Nguyễn Quốc Cường đã nói rằng ở nông thôn “người nông dân hiện nay phải gắn với
“năm cái nhất”: đông nhất, hy sinh đóng góp nhiều nhất, nghèo nhất, hưởng lợi từ thành quả của đổi mới ít nhất và có nhiều bức xúc nhất”
Tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế nêu trên cho thấy, bên cạnh những điểm mới về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân còn có những điểm sau đây cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn:
a Về lý luận:
- Quan niệm NTM trong bối cảnh phát triển mới (công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa, thị trường hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển bền vững, )
- Vai trò, sứ mệnh của nông thôn mới trong phát triển theo hướng bền vững
- Mối quan hệ phát triển nội bộ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân và với các lĩnh vực phát triển khác (công nghiệp, dịch vụ, KHCN, đô thị, ) trong bối cảnh phát triển mới
- ộng lực/động cơ duy trì, thúc đẩy phát triển nông thôn trong bối cảnh phát triển hiện đại
- Các thách thức, các mâu thuẫn, các cơ hội trong phát triển nông thôn trong bối cảnh phát triển hiện đại
- Vai trò của Nhà nước, Thị trường và các chủ thể, tác nhân khác (nông dân, doanh nghiệp, ngân hàng, KHCN, ) trong quá trình xây dựng, phát triển NTM
- Yêu cầu và tiêu chí NTM gắn với bối cảnh phát triển hiện đại
- Rà soát và đánh giá qua thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam theo bộ tiêu chí NTM và qua thử nghiệm hỗ trợ mô hình NTM
Trang 191.3 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu;
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu chung:
Hoàn thiện được cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới (NTM)
b Mục tiêu cụ thể:
- Hoàn thiện được cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng NTM;
- Phân tích được thực trạng phát triển nông thôn và xây dựng NTM: mô hình NTM, chính sách sách phát triển nông thôn ở Việt Nam thời gian qua;
- ề xuất được các giải pháp xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam đến năm
2020 và tiếp đến đến năm 2030
1.3.2 i tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn trong phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở cấp xã
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: ánh giá thực trạng phát triển NN, NT và xây dựng NTM từ năm
1986 đến nay và đề xuất hoàn thiện đến năm 2020 Trong đó chủ tập trung vào giai đoạn từ 2010 đến nay
- Không gian: cả nước
1.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
1.4.1.Cách tiếp cận:
Hai cách tiếp cận cơ bản trong thực hiện đề tài là từ trên xuống (top-down), là pháp luật, chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước, và từ dưới lên (bottom-up), là dựa vào sự năng động, sáng kiến, tham gia của cộng đồng dân cư (community-based approach) Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cũng như thử nghiệm thí điểm mô hình và đề xuất giải pháp chính sách cũng dựa trên 02 tiếp cận này Ngoài ra, trong hỗ trợ thí điểm xây dựng mô hình NTM còn sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu của một số chuyên ngành khoa học (kinh tế học, xã hội, dân tộc học, môi trường học, văn hóa học, chính trị học, hành chính học, ….) và liên ngành khoa học (phát triển bền vững, chính sách công, đối tác công – tư, …)
ể giải quyết các nội dung và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, hệ thống các giải pháp phù hợp, cách tiếp cận theo hướng cả hai phía bên trong và bên ngoài Tác giả tìm hiểu, nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm trong nước và ngoài nước về các biện pháp chính sách huy động nguồn lực trong xã hội cho xây dựng nông thôn mới; nghiên cứu, đánh giá các chính sách để phục vụ cho xây dựng nông thôn mới trong thời gian qua Trên cơ sở đó, tổng kết, đúc rút các bài học kinh nghiệm về thành công cũng như hạn chế, bất cập trong việc huy động nguồn lực trong xã hội cho xây dựng nông thôn mới
Trang 20trong và ngoài nước Từ đó, xem xét bối cảnh, mục tiêu phát triển Kinh tế - xã hội ở Việt Nam cũng như chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dưng nông thôn mới trong thời gian tới Xây dựng mô hình nông thôn mới, đề xuất chính sách và các giải pháp cơ chế, quản lý cho phục vụ xây dựng nông thôn mới
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
Trong nghiên cứu này, đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính nhằm thu thập số liệu
Nghiên cứu tài liệu: Kỹ thuật này được triển khai ngay từ giai đoạn đầu Nhóm nghiên cứu tiến hành đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu, dữ liệu hiện có liên quan đến chủ đề nghiên cứu Quá trình tổng hợp dữ liệu cho phép nhóm nghiên cứu sẽ tìm ra các khoảng trống nghiên cứu còn chưa được giải quyết, hoặc đã giải quyết nhưng chưa thấu đáo Từ đó, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã tiến hành, giúp đề tài định hướng rõ hơn những nội dung, nhiệm vụ cần thực hiện Việc tiến hành phân tích, xử lý lại các bộ dữ liệu lớn theo hướng đi sâu vào những nội dung cụ thể của đề tài, giúp nhóm nghiên cứu tận dụng những kết quả nghiên cứu đã có vào trình bày vấn đề chuyên biệt
Các phương pháp nghiên cứu khác: Phương pháp tổng hợp, phương pháp thống
kê kinh tế, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, định lượng, phương pháp phân tích chính sách, phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh – S, điểm yếu – W, cơ hội – O, thách thức – T), phương pháp xã hội học, kinh tế học, môi trường học, tổ chức học, phương pháp nghiên cứu bàn giấy (desk study), …., trong đó đặc biệt chú ý:
- Phương pháp thu thập và đánh giá thông tin
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study)
- Phương pháp chuyên gia (Delphi) và Phương pháp phân tích
- Phương pháp khảo sát/đánh giá nhanh nông thôn (rapid rural appraisal)
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn xã hội học (bảng hỏi, phỏng vấn sâu bán cấu trúc)
- Phương pháp nghiên cứu thực địa, trong đó chú trọng:
+ Lựa chọn các tỉnh thuộc các miền ven biển, miền núi, đồng bằng đã và đang làm thí điểm về xây dựng nông thôn mới Dự kiến tại các vùng miền Bắc, miền Trung, miền Nam gồm: (i) vùng Miền núi phía Bắc 02 tỉnh Hòa Bình, Tuyên Quang; (ii) vùng Ven biển miền Trung 02 tỉnh Hà Tĩnh, Bình ịnh; (iii) vùng ồng bằng sông Cửu Long 02 tỉnh Hậu Giang, ồng Tháp Vùng có phong trào xây dựng nông thôn mới tại các miền gồm: tỉnh Vĩnh Phúc, Miền Trung du phía Bắc; tỉnh Thái Bình, ồng bằng miền Bắc; tỉnh ắc Lắc thuộc Tây Nguyên; tỉnh ồng Nai, Miền ông Nam Bộ Vùng kinh tế có đô thị hóa là TP HCM và Lâm ồng Việc lựa chọn các tỉnh và các xã dựa trên sự phát triển kinh tế địa phương, cũng như thể hiện tính đa dạng về vùng, miền và tính đặc thù của địa phương Tại các tỉnh dự kiến đi khảo sát sẽ tiến hành các cuộc tọa
Trang 21đàm (12 cuộc tọa đàm và mời các tỉnh bên cạnh cùng tham gia) và tổ chức 03 hội thảo
để lấy ý kiến góp ý từ các chuyên gia, các nhà quản lý và các nhà khoa học
+ Thành phần đại diện tham gia tại các tỉnh: Sở NN&PTNT, Sở KH& T, Sở Xây dựng, Sở tài chính, các Ngân hàng liên quan, Ban chỉ đạo XD NTM của tỉnh, phòng ban, xã thí điểm của huyện, xã tham gia, đồng thời các đại diện cho các đoàn thể chính trị - xã hội, doanh nghiệp….cán bộ thôn và hộ dân (Tổng số có 3.600 phiếu)
+ ối tượng và quy mô mẫu khảo sát như sau:
1 Cán bộ cấp tỉnh : 20 người/tỉnh x 12 tỉnh = 240 người
2 Cán bộ cấp huyện : 60 người/tỉnh x 12 tỉnh = 720 người
3 Cán bộ cấp thôn, xã: 70 người/tỉnh x 12 tỉnh = 840 người (trong đó có DN, HTX và các tổ chức khác đang hoạt động trên địa bàn)
4 Hộ nông dân: 150 người người/tỉnh x 12 tỉnh = 1800 người
1.5 Những nội dung chính của báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài
Chương 1 Cơ sở lý luận, thực tiễn về phát triển NT và xây dựng NTM trong phát
+ Những nội dung cơ bản của xây dựng nông thôn mới:
+ Các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá xây dựng NTM theo từng nội dung xây dựng NTM;
+ Các nhân tố ảnh hưởng tới xây dựng NTM: Nhóm khách quan, nhóm chủ quan;
+ ề xuất các mô hình lý thuyết xây dựng NTM cấp cơ sở (xã, thôn) ở Việt Nam và lựa chọn thử nghiệm 3 mô hình theo 3 vùng
- Cơ sở thực tiễn về phát triển NT và xây dựng NTM mới
+ Kinh nghiệm phát triển NT và xây dựng ở các nước trên thế giới:
+ Kinh nghiệm xây dựng phát triển NT và xây dựng NTM ở Việt Nam:
- Những vấn đề lý luận, thực tiễn cần quan tâm để xây dựng NTM ở Việt Nam những năm tới
+ Những vấn đề lý luận
+ Những vấn đề thực tiễn ở Việt Nam
Chương 2 Thực trạng phát triển NT, xây dựng NTM ở Việt Nam và vận dụng cơ sở
lý luận, thực tiễn vào phát triển NT và xây dựng NTM ở Việt Nam
Trang 22- Khái quát thực trạng phát triển nông thôn và thực hiện các cơ chế, chính sách phát triển NT từ 1986 đến năm 2000
+ Khái quát thực trạng phát triển nông thôn giai đoạn 1986-2000
+ Khái quát các cơ chế, chính sách về phát triển nông thôn từ 1986 đến năm
2000
+ Khái quát những thành công, hạn chế trong phát triển NT và thực hiện cơ chế, chính sách phát triển NT giai đoạn 1986-2000
- Thực trạng xây dựng NTM từ năm 2001 đến nay
+ Thực trạng xây dựng NTM qua các giai đoạn
+ Thực trạng khai cơ chế, chính sách phục vụ xây dựng NTM giai đoạn từ 2001-2016
- Những thành công, hạn chế trong vận dụng cơ sở lý luận, thực tiễn vào phát triển NT và xây dựng NTM ở Việt Nam từ 2001 đến nay
+ Những thành công trong vận dụng cơ sở lý luận, thực tiễn …
+ Những hạn chế trong vận dụng cơ sở lý luận, thực tiễn …
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới vận dụng cơ sở lý luận, thực tiễn vào phát triển NT và xây dựng NTM ở Việt Nam từ 2001 đến nay và rút ra nguyên nhân
+ Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố khách quan…
+ Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan…
+ Nguyên nhân thành công và hạn chế
Chương 3 Thử nghiệm 3 mô hình xây dựng NTM cấp xã tại 3 vùng
- Mô hình NTM dựa trên "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc" lựa chọn thử nghiệm tại vùng Miền núi phía Bắc
+ Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mô hình
+ Tình hình xây dựng NTM tại mô hình
+ Các hoạt động thử nghiệm xây dựng NTM dựa trên "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc" tại mô hình
+ Kết quả và hạn chế của mô hình thử nghiệm
+ Khả năng phổ biến của mô hình
- Mô hình NTM dựa trên "Kết hợp phát triển kinh tế kết hợp với du lịch nông thôn" lựa chọn thử nghiệm tại vùng Ven biển miền Trung
+ Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mô hình
+ Tình hình xây dựng NTM tại mô hình
+ Các hoạt động thử nghiệm xây dựng NTM dựa trên "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc" tại mô hình
+ Kết quả và hạn chế của mô hình thử nghiệm
Trang 23+ Khả năng phổ biến của mô hình
- Mô hình NTM dựa trên "Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ nông sản" lựa chọn thử nghiệm tại ồng bằng phía Nam
+ Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mô hình
+ Tình hình xây dựng NTM tại mô hình
+ Các hoạt động thử nghiệm xây dựng NTM dựa trên "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc" tại mô hình
+ Kết quả và hạn chế của mô hình thử nghiệm
+ Khả năng phổ biến của mô hình
- ánh giá chung kết quả thử nghiệm 3 mô hình
+ Tính hợp lý trong lựa chọn các mô hình
+ Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của các mô hình
+ Các điều kiện để nhân rộng 3 mô hình
Chương 4 Kiến nghị hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn và giải pháp xây dựng NTM
ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030
- Kiến nghị hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn
+ Những nội dung lý luận cần hoàn thiện
+ Những vấn đề thực tiễn cần hoàn thiện
- Kiến nghị các giải pháp xây dựng NTM ở Việt Nam đến 2020 và tầm nhìn
- Giải pháp phổ biến, nhân rộng 3 mô hình thử nghiệm
+ Giải pháp tuyên truyền
+ Giải pháp tham quan
+ Giải pháp tọa đàm, trao đổi trên các phương tiện thông tin đại chúng…
1.6 Những điểm mới của đề tài:
- ề tài đã hệ thống được các vấn đề lý luận về phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới từ 1986 đến nay, bao gồm các khái niệm, nôi dung, vai trò, ý nghĩa…
- ánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam từ 1986 đến nay
Trang 24- Tổng hợp được kinh nghiệm của các nước trên thế giới (Trung Quốc, ài Loan, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Indonesia,…) và Việt Nam trong quá trình phát triển nông thôn và xây dựng NTM thời gian qua
- ề xuất được các mô hình lý thuyết về xây dựng NTM trong thời gian tới
- ánh giá được thực trạng phát triển NT và xây dựng NTM từ năm 1986 đến nay, qua đó, đã đề xuất được các giải pháp và các chính sách phù hợp trong các giai đoạn tiếp theo
- ã thử nghiệm thành công 3 mô hình cấp xã tại 3 vùng: ồng bằng (phía Nam), Miền núi (phía Bắc), và Ven biển (miền Trung) Qua đó, đã có những kiến nghị
và đề xuất trong xây dựng và nhân rộng mô hình thời gian tới
Trang 25CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
1 Cơ sở lý luận
1.1 Các khái niệm có liên quan
1.1.1 Nông thôn và phát triển nông thôn
a Nông thôn
Nông thôn là vùng không gian thuộc lãnh thổ 1 quốc gia, nằm ngoài các khu vực đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn…) và được quan niệm khác nhau theo điều kiện
cụ thể, đặc thù về kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước
Cho đến nay, chưa có sự thống nhất về khái niệm nông thôn Các học giả và nhà quản lý thường so sánh nông thôn với thành thị theo nhiều chỉ tiêu khác nhau Trong đó cơ bản gồm: (i) chỉ tiêu về dân số (số lượng dân cư) đang sinh sống trên địa bàn; (ii) chỉ tiêu về trình độ phát triển kết cấu hạ tầng; (iii) chỉ tiêu về sản xuất nông nghiệp (là yếu tố riêng và chủ yếu của nông thôn) Tổng hợp các khái niệm khác nhau
đã đưa ra của các Nhà nghiên cứu xã hội học đến nay có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau:
“Nông thôn là vùng lãnh thổ khác với thành thị, ở đó có cộng đồng dân cư chủ yếu là những người làm nghề nông (nông dân), là vùng có mật độ dân cư thưa, kết cấu
hạ tầng, trình độ dân trí, trình độ sản xuất hàng hóa, tiếp cận thị trường thấp kém hơn khu vực đô thị Về văn hóa-xã hội, nông thôn là không gian chứa đựng các giá trị văn
hóa hiện vật và phi hiện vật mang tính truyền th ng sâu sắc”
Khái niệm chung trên đây cần phải đặt trong điều kiện thời gian và không gian
cụ thể của địa bàn, dân cư mỗi nước, mỗi vùng để xem xét các nội hàm của khái niệm
“nông thôn”
Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm nông thôn được thống nhất theo quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Cụ thể là: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị
các thành ph , thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã”
b Phát triển nông thôn
Thuật ngữ “phát triển nông thôn” (rural development) hàm chưa nhiều nội
dung đa dạng về kinh tế, xã hội, chính trị và môi trường trong một tổng thể thống nhất
Trang 26Vì vậy, có nhiều cách nhìn khác nhau về vấn đề “phát triển nông thôn”, có thể khái quát lại như sau:
Theo OECD, khái niệm “phát triển nông thôn” theo nghĩa rộng, bao gồm tất
cả các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị và môi trường thiết yếu liên quan tới đời sống, sản xuất và phát triển của người dân và các cộng đồng cư dân sinh sống ở khu vực nông thôn…Nói cách khác, phát triển nông thôn là phát triển các lĩnh vực như: kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ…); xã hội (giáo dục, y tế, nhà ở, các dịch vụ công và kết cấu hạ tầng, các hoạt động văn hóa tinh thần…); năng lực quản lý
và tự quản lý nếp sống của cộng đồng dân cư nông thôn; môi trường sinh thái và tài
nguyên thiên nhiên được gìn giữ, tái tạo “Phát triển nông thôn” là một quá trình đa
chiều hướng tới hội nhập bền vững trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá – xã hội
và môi trường
Theo Kearney et al., 1994, định nghĩa rằng, “Phát triển nông thôn” là một quá
trình thay đổi ổn định và bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường hướng tới thịnh vượng lâu dài của cả cộng đồng ở nông thôn (Moseley, 1996b: 20)
Những khái niệm trên đây nhấn mạnh mấy vấn đề:
- Quá trình (process) phát triển nông thôn đi dần từ thấp lên cao… phản ánh rằng, phát triển nông thôn diễn ra như một chuỗi hành động liên tục, không ngừng tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân tố con người với tự nhiên nhằm tạo ra những lợi ích vật chất, tinh thần ngày càng cao hơn cho chính con người Về kinh tế, quá trình phát triển nông thôn bắt đầu từ các hoạt động phát triển sản xuất nông nghiệp (từ lạc hậu, giản đơn) tới sản xuất nông nghiệp hiện đại, chuyên môn hóa cao và ứng dụng các thành tựu KH&CN có lợi cho cả người sản xuất và người tiêu dùng); về xã hội, phát triển nông thôn là quá trình thay đổi các quan hệ xã hội từ truyền thống sang văn minh, lành mạnh; Môi trường sinh thái thay đổi theo hướng ngày càng đa dạng theo các vùng
tự nhiên, các nguồn tài nguyên được bảo vệ:
- ảm bảo tính ổn định (sustained)…không gây ra những biến động đột ngột, ảnh hưởng xấu tới kinh tê-xã hội nông thôn, từng bước và lâu dài;
- ảm bảo tính bền vững (sustainable)…tôn trọng và thích ứng với các quy luật phát triển tự nhiên, kinh tế và xã hội;
- ảm bảo tính kinh tế (economic)…phát triển sản xuất, kinh doanh phải có hiệu quả và hài hòa lợi ích cá thể với lợi ích xã hội;
- ảm bảo tính xã hội (social)…các mối quan hệ giữa người và người trong nông thôn ngày càng văn minh, tính cộng đồng, sự chia sẻ, gắn kết tăng lên;
Trang 27- ảm bảo tính văn hoá (cultural)…thay đổi lối sống lạc hậu bằng lối sống có văn hóa, gìn giữ các tập quán truyền thống mang tính nhân văn cao;
- ược thiết kế (designed)…phương thức phát triển do con người tạo ra, không phải là kết quả của phát triển tự nhiên;
- ảm vảo tính thịnh vượng (well-being)…bao gồm sự giàu có về của cải vật chất và phong phú về tinh thần;
- ảm bảo tính toàn bộ (whole)… lợi ích mang lại cho toàn cộng đồng, mọi độ tuổi, giới tính và các nhóm dân cư;
Như vậy, phát triển nông thôn là phát triển toàn diện các lĩnh vực: tổ chức sản xuất-kinh doanh; tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư; hình thành hệ thống môi trường sinh thái mới đảm bảo cho vùng nông thôn vừa tiến lên văn minh, hiện đại, vừa giữ gìn các giá trị văn hóa, xã hội và sinh thái tốt đẹp
c Kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu nông thôn
- Kinh tế nông thôn là một bộ phận của nền kinh tế, được vận hành và tạo ra thu nhập quốc dân trên địa bàn nông thôn Quá trình phát triển kinh tế nông thôn thường từ loại hình kinh tế thuần nông (dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp) lên kinh tế tổng hợp (bao gồm nông nghiệp và các ngành, hoạt động công nghiệp, dịch vụ, thương mại và các hoạt động kinh tế hộ gia đình …)
Nói cách khác, kinh tế nông thôn ở giai đoạn đầu phát triển được cấu thành chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (dựa vào nông nghiệp) và đại bộ phận dân
cư và người lao động đều tham gia sản xuất nông nghiệp, thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp Theo thời gian và dưới tác động của sự phát triển các ngành công nghiệp, dịch
vụ, thương mại ở đô thị thì trong nông thôn cũng phát triển các hoạt động công nghiệp, dịch vụ, thương mại tương ứng và kinh tế nông thôn trở nên đa ngành nghề, tỷ trọng giá trị sản xuất cũng như tỷ lệ lao động làm nông nghiệp giảm dần cho tới khi sản xuất nông nghiệp được thu hẹp tới mức tối đa có thể tùy theo điều kiện tự nhiên và lợi thế từng vùng Ở một số địa bàn, do tác động của đô thị hóa, hầu hết đất nông nghiệp phải chuyển sang xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà ở, các công trình công nghiệp-thương mại-dịch vụ-văn hóa…đưa tới hoạt động sản xuất có thể mất hẳn và nông thôn trở thành đô thị mới, dân cư nông thôn trở thành thị dân
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) là quá trình và kết quả của sự vận động, thay đổi cấu trúc của các yếu tố cấu thành nên một nền (hay hệ thống) kinh tế theo các quy luật khách quan dưới sự tác động của con người vào các nhân tố cấu thành cơ cấu
Trang 28theo định hướng và mục tiêu xác định ó là sự chuyển dịch (hay thay đổi) cơ cấu của một nền kinh tế có định hướng và mục tiêu nhất định
Theo đó, chuyển dịch CCKT nông thôn cũng là quá trình và kết quả của sự vận động, thay đổi cấu trúc các yếu tố cấu thành nên kinh tế khu vực nông thôn
- Chuyển dịch CCKT của nền kinh tế thường được xem xét trên các phương diện: chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, và cơ cấu thành phần kinh tế…theo đó, chuyển dịch CCKT nông thôn là quá trình chuyển dịch các ngành, vùng và thành phần kinh tế trong khu vực nông thôn, trong đó:
+ Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông thôn là sự thay đổi mối quan hệ tương quan về giá trị giữa các ngành, tiểu ngành kinh tế trong tổng giá trị kinh tế của khu vực nông thôn Sự thay đổi này chịu tác động bởi 2 nhóm yếu tố là: *Sự thay đổi (tăng, giảm) về quy mô và giá trị từng ngành, tiểu ngành đang vận hành trong nông thôn trong khoảng thời gian quan từ 5 năm trở lên; *sự xuất hiện các ngành, tiểu ngành kinh
tế mới tại chỗ hoặc di chuyển từ đô thị về nông thôn Chuyển dịch cơ cấu ngành phản ánh xu hướng phát triển kinh tế, nông thôn theo ngành trong một thời gian nhất định
và phản ánh lợi thế so sánh của các ngành kinh tế trong nông thôn;
+ Chuyển dịch CCKT theo vùng trong nông thôn là sự chuyển dịch của các ngành, tiểu ngành kinh tế trên từng vùng, từng địa bàn của không gian nông thôn Về bản chất, chuyển dịch CCKT theo vùng cũng là sự chuyển dịch của các ngành, tiểu ngành kinh tế xét theo từng vùng lãnh thổ trong nông thôn CCKT theo vùng phản ánh lợi thế phát triển kinh tế của từng vùng, tiểu vùng trong nông thôn Mỗi vùng, tiểu vùng trong nông thôn có các nguồn tài nguyên riêng, cấu thành nên thế mạnh của vùng
để con người có thể khai thác vào phát triển kinh tế trên vùng CCKT theo vùng tạo bức tranh so sánh sự phát triển kinh tế giữa các vùng, tiểu vùng trong nông thôn Các yếu tố ảnh hưởng tới CCKT theo vùng bao gồm: đặc điểm và thế mạnh về điều kiện tự nhiên, trình độ nguồn nhân lực, mức độ phát triển kết cấu hạ tầng và quy mô thị trường…
+ Chuyển dịch CCKT theo thành phần kinh tế là quá trình và kết quả thay đổi
về tỷ lệ tham gia vào giá trị kinh tế nông thôn của các thành phần kinh tế hoạt động trong nông thôn Chuyển dịch CCKT nông thôn theo thành phần phản ánh vai trò, vị trí của từng thành phần trong kinh tế nông thôn và xu thế chuyển dịch từ thành thành này sang thành phần kinh tế khác theo thế mạnh nội tại của từng thành phần và phản ánh kết quả tác động của chính sách phát triển các thành phần kinh tế trong nông thôn của Nhà nước Các yếu tố ảnh hưởng tới chuyển dịch CCKT theo thành phần bao gồm: thế mạnh và năng lực phát triển kinh tế của từng thành phần; quan điểm, chính sách
Trang 29phát triển các thành phần kinh tế của Nhà nước; Mối quan hệ (chặt chẽ/lỏng lẻo) giữa các thành phần trong các hoạt động kinh tế nông thôn…
1.1.2 Nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
Theo Vũ Trọng Khải và CS., 2003, Nông thôn mới là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của nông thôn Việt Nam
Nông thôn mới trước hết phải là nông thôn, chứ không phải thị trấn, thị tứ Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị là xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có thuộc tính khác với nông thôn truyền thống, đó là: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất, tinh thần người nông dân ngày càng được nâng cao; giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn, phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ (Hồ Xuân Hùng, 2010)
Nông thôn mới là nông thôn có hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, làng xã văn minh sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất tinh thần người dân ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
Nông thôn mới là khái niệm thuộc phạm trù phát triển nông thôn ịa bàn được gọi là nông thôn mới là địa bàn mà ở đó đời sống vật chất của người dân không ngừng được nâng cao, trở nên văn minh, hiện đại không thua kém khu vực thành thị và đời sống văn hóa tinh thần của người dân vẫn giữ được các giá trị truyền thống tốt đẹp, loại bỏ các hủ tục lạc hậu Người nông dân được đào tạo, có năng lực tiếp thu tiến bộ
kỹ thuật tiên tiến, có thái độ chính trị rõ ràng và là lực lượng chủ chốt xây dựng nông thôn mới
Nông thôn mới là kết quả của một quá trình phát triển nông thôn theo định hướng chiến lược mới, đáp ứng các yêu cầu phát triển về kinh tế, xã hội, môi trường
và thể chế mới ở nông thôn trong các điều kiện cụ thể của từng vùng nông thôn
Chữ "mới" trong "Nông thôn mới" không chỉ được hiểu là các giá trị vật chất, tinh thần, các hoạt động và các lĩnh vực khác nhau trong nông thôn được duy trì, khôi phục, phát huy theo hướng tốt hơn, tiến bộ hơn mô hình cũ mà còn thể hiện cách tiếp cận mới, chiến lược mới trong phát triển nông thôn, có sự đổi mới về tổ chức, vận hành đảm bảo sự tham gia tối đa của người dân vào quá trình phát triển theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý thành quả
và dân hưởng lợi"
Tóm lại nông thôn mới được thể hiện qua những nội dung cơ bản:
Trang 30+ Một nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị
+ Một nông thôn có làng xã khang trang, văn minh với cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ, phát triển theo qui hoạch đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân nông thôn, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch
vụ và đô thị
+ Một nông thôn có cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển toàn diện, các lĩnh vực kinh tế được phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa hiệu quả và bền vững Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
+ Một nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, các hủ tục lạc hậu bị bãi bỏ; cảnh quan môi trường sạch đẹp, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội
Xây dựng nông thôn mới về bản chất không nhằm mục đích thay thế cái cũ,
cái hiện tại, mà là một hoạt động PTNT có tính chiến lược Việc xây dựng mô hình phát triển NTM là một quá trình chuyển đổi căn bản chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ hướng cung sang hướng vào nhu cầu thị trường và xã hội ây là cơ
sở để phát huy nội lực, hướng vào xây dựng tính bền vững cho việc phát triển
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn ảng, toàn dân, của
cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
1.2 Vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết xây dựng nông thôn mới trong phát triển nông thôn
ối với các nước có nền kinh tế dựa vào nông nghiệp và có số lượng dân cư, lao động tham gia sản xuất nông nghiệp đông, chẳng hạn như Việt Nam thì nông nghiệp, nông thôn luôn đóng vai trò quan trọng đối với toàn nền kinh tế ịa bàn nông
Trang 31thôn trở nên đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển chung của đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các giá trị cơ bản nông thôn, nông nghiệp thôn bao gồm:
i) Sản xuất ra những sản phẩm lương thực, thực phẩm thiết yếu cho đời sống con người, mà không một ngành sản xuất nào có thể thay thế được Ngoài ra, nông thôn còn sản xuất ra những nguyên liệu phục vụ phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản để tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù đã giảm sút, nhưng ngành nông, lâm, thủy sản vẫn chiếm trên 18%1 GDP; tạo
ra nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị và tỷ trọng cao như: lúa gạo, cá tra, tôm, cao su, tiêu, cà phê, điều …
ii) Là nguồn cung lao động cho các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là các ngành công nghiệp và dịch vụ Lao động trẻ nông thôn được trang bị kiến thức và năng lực cơ bản sẽ tham gia tích cực vào nhiều ngành kinh tế và từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, thương mại và các ngành khác trong xã hội;
iii) Là thị trường lớn về tiêu thụ nông sản, hàng tiêu dùng thông dụng, mỗi hộ gia đình ở nông thôn là một đơn vị tiêu dùng Nếu thị trường này được quan tâm, mở rộng sẽ có giá trị tăng cầu về các loại hàng hóa tiêu dùng và trở thành động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc dân;
iv) Nông thôn là không gian chứa đựng đa số tại nguyên đất đai, khoáng sản, động, thực vật của nền kinh tế…Có giá trị cao đối với duy trì, tái tạo, phát triển môi trường sinh thái, các nguồn tài nguyên của đất nước;
v) Ở Việt Nam, nông thôn miền núi còn là địa bàn sinh sống của 54 dân tộc khác nhau với nhiều tầng lớp, cộng đồng Sự biến động tiêu cực hay tích cực trong mối quan hệ giữa các dân tộc sẽ tác động mạnh mẽ đến an ninh-chính trị và phát triển kinh
tế đất nước Nói cách khác, sự ổn định về chính trị-kinh tế-xã hội của nông thôn là điều kiện đảm bảo cho đất nước phát triển ổn định và bền vững
Dưới đây sẽ phân tích các vai trò cơ bản của nông nghiệp, nông thôn trong nền kinh tế quốc dân
1.2.1 Vai trò đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội
Nông thôn gắn liền với các hoạt động sản xuất nông, lâm, thủy sản với tính sinh học đa dạng, tạo ra các sản phẩm thiết yếu đối với đời sống của con người ó là nhu cầu mang tính cốt lõi, thiết yếu, bảo đảm đời sống vật chất của con người, là
1
Niên giám thống kê 2014
Trang 32những sản phẩm của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản…
Nhu cầu an ninh lương thực, thực phẩm bao gồm việc đảm bảo sản xuất và cung ứng trong nước các sản phẩm do ngành nông nghiệp làm ra với chất lượng và tính đa dạng ngày càng cao Việc nhập khẩu lương thực, thực phẩm có thể đáp ứng nhu cầu trong nước trong những khoảng thời gian nhất định, nhưng không mang tính lâu dài, vì vậy dựa vào nhập khẩu để đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho một quốc gia là điều không khả thi trong dài hạn Những quốc gia không hoặc ít khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp sẽ bị lệ thuộc vào thị trường nông sản thế giới và phải
có đủ “tài chính” để nhập khẩu các sản phẩm nông, lâm, thủy sản để đàm bảo an ninh lương thực, thực phẩm trong nước Từ đó, vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông thôn với an ninh lương thực, thực phẩm là rất lớn
ặc điểm chung của sản xuất nông, lâm, thủy sản là tính vùng Mỗi vùng nông thôn sẽ có khả năng sản xuất ra các sản phẩm nông sản khác nhau với các hệ sinh thái động thực vật khác nhau, từ đó tạo điều kiện cho các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản đưa ra nhiều loại nông, lâm, thủy sản tươi sống và chế biến để cung cấp cho đời sống con người
Những quốc gia có tiềm năng về nông nghiệp như Thái Lan, Ấn ộ, Việt Nam… sẽ đóng vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực, thực phẩm của khu vực
và thế giới thông qua xuất khẩu các loại nông, lâm, thủy sản ra thị trường Vấn đề an ninh lượng thực, thực phẩm trên tầm vùng và toàn cầu ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết đối với những quốc gia có lợi thế sản xuất nông nghiệp Vì vậy, vai trò của nông nghiệp, nông thôn ở những quốc gia này đối với an ninh lương thực, thực phẩm khu vực và toàn cầu ngày càng quan trọng hơn
Những nước công nghiệp phát triển trên thế giới đến nay như Mỹ, ức, Thụy iển, Trung Quốc, Ấn ộ, Ixrael Hàn Quốc, Nhật Bản vẫn là những quốc gia có ngành nông nghiệp phát triển với năng suất cao, … Như vậy, có thể thấy ngay cả những quốc gia đã có lợi thế với những ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển, nhưng
họ vẫn chú trọng đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp với trình độ tiên tiến và đạt năng suất cao tại các vùng nông thôn
Những quốc gia có lợi thế sản xuất nông nghiệp đều đang phát huy tối đa hiệu quả của ngành sản xuất nông nghiệp nhằm duy trình an ninh lượng thực, thực phẩm trong nước và phát triển theo hướng bền vững
ối với những quốc gia không có lợi thế, hoặc có ít lợi thế sản xuất nông nghiệp thì vấn đề an ninh lương thực, thực phẩm không chỉ đơn thuần là chưa được
Trang 33đảm bảo, mà nó còn là một lĩnh vực chính trị nhạy cảm Lĩnh vực chính trị này có tác động trực tiếp tới đời sống của đại bộ phận người dân (cả thị dân và nông dân) ảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm đối với những quốc gia này luôn là những vấn đề lớn, tác động mạnh tới chiến lược phát triển đất nước gắn liền với cương lĩnh của các đảng phái chính trị đặc biệt là đối với các Chính phủ đang cầm quyền
1.2.2 Nông thôn là nguồn cung cấp lao động cho các ngành kinh tế và xuất khẩu lao động
Xu hướng phát triển chung của các nền kinh tế là, lao động sẽ chuyển dịch dần
từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ, thương mại…) ngay tại nông thôn hoặc di chuyển tới các khu công nghiệp, đô thị Như vậy, vai trò của nông thôn, đặc biệt là đối với những quốc gia có vùng nông thôn rộng lớn (thường là những quốc gia đang phát triển) là cung cấp lao động cho toàn xã hội trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng CNH, TH
Lực lượng lao động nông thôn là nguồn lao động dồi dào, sẽ từ bỏ nông nghiệp để tham gia vào tất cả các ngành nghề phi nông nghiệp trong nền kinh tế nếu
họ được đào tạo nghề và các kỹ năng làm việc theo đúng các ngành nghề được hình thành và phát triển trong quá trình CNH, TH
Lực lượng lao động nông thôn cung cấp cho các nền kinh tế thường là lao động phổ thông Chủ yếu là được đào tạo ở trình độ thấp, chỉ đáp ứng được với những công việc lao động phổ thông Tuy nhiên, lao động nông thôn mang các đặc điểm văn hóa, xã hội theo tính vùng rất cao, vì vậy việc sử dụng những lao động này cần phải kết hợp đào tạo, giáo dục nghề với thay đổi văn hóa, lối sống không phù hợp với yêu cầu của các ngành nghề phi nông nghiệp mà họ tham gia
Lao động trong nông thôn không chỉ tham gia vào lực lượng lao động trong nước ở quốc gia của họ, mà còn tham gia vào thị trường lao động ở các nước công nghiệp thiếu nhân lực ối với các quốc gia xuất khẩu lao động thì đây là một trong các nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và thu nhập cao hơn so với thu nhập trong nước cho bản thân người lao động đi xuất khẩu, vừa giúp những lao động này có thêm kiến thức về kinh tế, văn hóa của đất nước mà họ làm việc Trên thực tế, nhiều quốc gia có lợi thế về lao động giá rẻ không chỉ đẩy mạnh xuất khẩu lao động mà còn thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài dựa trên lợi thế của lực lượng lao động này Cụ thể là chủ động đào tạo nghề và tổ chức cho những lao động này tham gia vào làm việc ở các
DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tạo ra mô hình xuất khẩu lao động tại chỗ mà không xuất khẩu ra nước ngoài, phù hợp với hoàn cảnh gia đình của một bộ phận lao động không thể tham gia xuất khẩu
Trang 34Tóm lại, nông thôn có vai trò to lớn trong cung cấp nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế trong quá trình CNH, TH và tham gia xuất khẩu lao động ra nước ngoài, tăng thu ngoại tệ cho nền kinh tế
1.2.3 Nông thôn là thị trường rộng lớn trong tiêu thụ hàng hóa nông sản và sản phẩm tiêu dùng do nền kinh tế làm ra
Trong nền kinh tế thị trường, mọi ngành sản xuất đều mang tính hàng hóa (sản xuất và bán ra thị trường, giảm tính tự cung tự cấp) Trong đó, khu vực nông thôn rộng
và chiếm số đông dân cư là thị trường tiêu thụ lớn các sản phẩm do nông nghiệp và công nghiệp làm ra Những quốc gia có dân cư đông như: Trung Quốc, Ấn ộ, Nga, Mỹ…có lợi thế là, thị trường trong nước rộng, tiêu thụ khối lượng lớn hàng hóa nông sản và hàng hóa công nghiệp sản xuất ra ở trong nước (phần cầu lớn) nên tạo động lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế cao trong dài hạn
Tuy nhiên, điểm hạn chế của thị trường nông thôn là: * Tính phân khúc và tính chia cắt cao, dẫn đến chi phí lưu thông và tiêu thụ lớn, hạn chế động lực đầu tư phát triển kinh doanh của các nhà phân phối; * Là thị trường hướng mạnh vào tiêu thụ các sản phẩm giá rẻ, vì vậy thúc đẩy sản xuất trong nước những sản phẩm có giá bán rẻ, phù hợp với thu nhập của dân cư có thu nhập thấp Nhưng đây lại là trở ngại đối với các nhà sản xuất, do các sản phẩm này không bù đắp được chi phí và không cho lợi nhuận mong muốn Thực tế cho thấy, dân cư các vùng nông thôn thường tiêu dùng các sản phẩm chất lượng thấp, không đảm bảo vệ sinh thực phẩm và an toàn, thậm chí là các sản phẩm giả, nhái Vì vậy, nông thôn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm ế đọng, sản phẩm chất lượng không đảm bảo và sản phẩm phế thải của các nhà sản xuất và thương mại đặc điểm này là không thúc đẩy các nhà sản xuất, thương mại
1.2.4 Nông thôn là địa bàn quan trọng tạo môi trường sinh thái, thiên nhiên
ối với phần lớn các quốc gia trên thế giới, nông thôn là không gian lưu giữ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học cho toàn nền kinh tế, trong đó chứa đựng 2 yếu
tố cần lưu ý sau:
Thứ nhất Nông thôn có vai trò tái tạo môi trường sống sinh thái tự nhiên Vùng
nông thôn bao gồm diện tích đất sản xuất nông nghiệp, diện tích vùng đồi, núi phát triển lâm nghiệp và diện tích mặt nước (bao gồm các vùng sông, suối nội địa và vùng ven biển) Về bản chất, các vùng sinh thái vốn có vai trò duy trì, tái tạo môi trường sống tự nhiên, tạo ra cân bằng sinh thái trên không gian rộng lớn và đa dạng;
Thứ hai Hoạt động sản xuất chủ yếu ở nông thôn là nông, lâm và thủy sản gắn
với các quá trình biến đổi sinh học, hấp thụ và cải tạo môi trường sống Tuy nhiên, sản xuất nông, lâm, thủy sản là các hoạt động khai thác tài nguyên đất, nước và thải vào
Trang 35không gian một lượng đang kể khí CO2, tạo ra hiệu ứng nhà kính, ảnh hưởng mạnh tới môi trường sinh thái Việc gia tăng sản lượng, nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi đồng nghĩa với việc tiêu hao nhiều hơn các nguồn lực đất, nước và phát
thải vào môi trường nhiều loại chất độc hại
Như vậy, nông thôn luôn đóng vai trò chính trong việc gìn giữ môi trường sống Việc sử dụng đất, nước và áp dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp mới có ảnh hưởng mạnh đến môi trường theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Nếu việc sử dụng đất rừng, đất sản xuất nông nghiệp, các diện tích mặt nước nuôi thả thủy sản không hợp lý và thiếu các biện pháp xử lý ô nhiễm sẽ không đảm bảo vai trò tái tạo môi trường sống mang tính tự nhiên, có lợi sức khỏe con người ồng thời, nếu tăng trưởng nông nghiệp mà không đảm bảo là “tăng trưởng xanh” thì chính nông nghiệp cũng sẽ trực tiếp làm suy giảm chất lượng môi trường sinh thái tự nhiên, làm giảm chức năng cải tạo môi trường của sản xuất nông nghiệp
Mối quan hệ qua lại giữa sản xuất nông nghiệp và sự cân bằng tự nhiên của môi trường sinh thái đã trở thành yêu cầu của phát triển nông nghiệp trong những năm gần đây2 ây cũng là chủ đề quan tâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế với
thông điệp chung là: “Con người phải chú ý tới tính bền vững của môi trường trong
quá trình gia tăng sản xuất nông nghiệp ở mỗi qu c gia, giảm thiểu những hoạt động ảnh hưởng xấu tới môi trường tự nhiên để cân bằng sinh thái”
1.2.5 Nông thôn ổn định sẽ là điều kiện cần để gìn giữ an ninh chính trị, xã hội
Nhìn từ góc độ an ninh chính trị, thì nông thôn luôn chứa đựng các yếu tố bất
ổn định hơn so với vùng thành thị Vùng nông thôn không chỉ là những vùng sinh thái rộng lớn với đa số dân cư sinh sống bằng nghề nông nghiệp, mà còn chứa đựng nhiều cộng đồng dân cư với tính dân tộc và văn hóa khác nhau Dẫn đến:
- Dân cư nông thôn phần lớn có trình độ hiểu biết về kinh tế, xã hội thấp hơn
so với người dân thành thị, dẫn đến phương thức hành động khác biệt, thậm chí là trái ngược với xu thế phát triển chung của xã hội, từ đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề
về an ninh, chính trị, văn hóa, kinh tế ở mỗi vùng và toàn quốc gia
- Nông thôn là địa bàn có nhiều các tổ chức dân sự do người dân tự lập ra để giải quyết các nhu cầu của họ mà thị trường và Chính phủ không làm được Các tổ chức này phần lớn là hoạt động tự phát, mang màu sắc vùng miền hoặc tôn giáo và không chịu sự điều chỉnh trực tiếp của hệ thống pháp lý chính thức Vì vậy, hoạt động của các tổ chức dân sự vừa là nhân tố quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và phát triển nông thôn bền vững, nhưng cũng có thể là nguyên nhân gây bất ổn định về an
2
Gọi là “Nông nghiệp sinh thái”
Trang 36ninh, chính trị Vì vậy, trên thế giới, phát triển nông thôn đều có một chung một điểm
là phải dựa vào cộng động, lấy người dân làm trung tâm và mọi hành động đều xuất phát từ quyết định của chính người dân bản địa
1.2.6 Nông thôn luôn là nơi gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Về cơ bản, mọi bản sắc văn hóa dân tộc đều được bắt nguồn từ trong lịch sử
và phát triển từ các vùng nông thôn Xu thế chung của các quốc gia là phát triển các vùng nông thôn hướng tới các đô thị, nhưng vẫn duy trì và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống đã hình thành từ nhiều năm ở nông thôn Việc duy trì và phát huy văn hóa được ưu tiên và tập trung thực hiện tại các vùng nông thôn nhằm tạo ra bản sắc văn hóa tổng hợp của quốc gia Sự khác biệt về vị trí định lý, điều kiện về sông, núi, địa hình giữa các vùng nông thôn là một mặt, còn mặt kia là sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ của các cộng đồng cư dân nông thôn khác nhau Thực tế cho thấy, yếu tố văn hóa chung đã tạo ra các cộng đồng dân cư nông thôn khác nhau và tạo nên vẻ đẹp đa dạng về văn hóa nông thôn
Ở Việt nam, 54 dân tộc và 06 tôn giáo chính đã tạo ra 08 vùng sinh thái với những đặc tính văn hóa khác nhau Mỗi vùng lại tạo ra những khu vực, thôn, bản làng với những nét văn hóa riêng Văn hóa là yếu tố quan trọng nhất để cố kết và duy trì sự tồn vong của các cộng đồng nông thôn Ngay này, trước sự phát triển mạnh của nền kinh tế thị trường, kéo theo sự du nhập của nhiều nền văn hóa thì các bản sắc văn hóa của các cộng đồng nông thôn Việt Nam cũng được truyền bá đến nhiều quốc gia khác trên thế giới Những nét văn hóa đặc trưng của người Việt Nam đã khẳng định tính riêng của nó so với các nền văn hóa khác trên thế giới Ngành du lịch của Việt Nam đang phát triển không chỉ bởi các khu nghỉ dưỡng và vị trí địa lý mà còn rất phát triển
ở các mô hình du lịch văn hóa và du lịch tâm linh ây chính là sự bảo tồn, phát triển
và mở rộng văn hóa Việt Nam ra thế giới
1.3 Cách tiếp cận xây dựng nông thôn mới trong phát triển nông thôn
Nông nghiệp vẫn được coi là một trong những ngành chủ chốt và hứa hẹn nhất đối với vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nhiều nước trên thế giới (WB, 2008), mặc dù, sự đóng góp của ngành nông nghiệp vào tạo việc làm đang có xu hướng giảm mạnh Ở rất nhiều nước, nông nghiệp vẫn tiếp tục là ngành đem lại sinh kế chính, là nguồn tạo việc làm lớn thứ hai, chỉ sau ngành dịch vụ (với khả năng tạo việc làm cho khoảng 1 tỷ lao động) Thậm chí, trong một số giai đoạn nhất định, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, nông nghiệp được coi là ngành có thể hấp thụ được một số ít lực lượng lao động bị sa thải ở các ngành khác (Csaki et al,2000) Bên cạnh đó, qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn ở một số nước như Ấn ộ, Bangladesh, Kenya, Philippines và
Trang 37Bolivia, các nhà nghiên cứu đã đi tới một kết luận, đó là việc phát triển, tăng trưởng khu vực nông thôn sẽ giúp xóa đói giảm nghèo ở không chỉ riêng khu vực nông thôn,
mà còn giảm nghèo ở cả khu vực thành thị, trong khi đó tăng trưởng ở khu vực thành thị không đủ đảm bảo cho việc xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn (Ashley and Maxwell, 2001) Chính vì vậy, việc làm thế nào để tăng trưởng ngành nông nghiệp vẫn trở thành một bài toán quan trọng
* Mô hình nông trang quy mô nhỏ
Mô hình tăng trưởng ngành nông nghiệp dựa trên sự hoạt động có hiệu quả của các nông trang quy mô nhỏ, theo gợi ý của Ellis và Biggs là mô hình mà đã thống trị hơn nửa thập kỷ qua (ibid) ây là mô hình trong đó việc sản xuất các sản phẩm chủ yếu đóng một vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là các sản phẩm ngũ cốc bán thương mại Mô hình này cũng được ca ngợi trong một báo cáo của IFAD năm 2001 thông qua bằng chứng nghiên cứu tại 4 nước (Colombia, Brazil, Ấn ộ và Malaysia) IFAD
đã kết luận rằng năng suất đất ở các nông trang quy mô nhỏ thì thường tối thiểu gấp hai lần so với các nông trang quy mô lớn Khoảng cách về năng suất đất có rất nhiều nguyên nhân, có thể do chất lượng đất và cường độ lao động cao hơn Thông thường, lợi thế của các nông trang nhỏ là có thể đạt được sản lượng cao nếu áp dụng phương pháp trồng hỗn hợp các loại cây có giá trị cao hơn, trồng xen canh, đa vụ và thời gian
bỏ hoang đất ngắn hơn các nông trang lớn (ibid)
Việc áp dụng mô hình nông trang nhỏ và sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp trong thời gian đầu đã đem lại sự tăng trưởng nông nghiệp liên tục ở nhiều nước Tuy nhiên, mô hình nông trang nhỏ về sau này đã bộc lộ sự hạn chế
do quy mô đất càng nhỏ thì sẽ rất khó ứng dụng các công nghệ mới, cũng như giảm mức độ cơ giới hóa Tình trạng này dường như rất phổ biến ở nhiều nước có nền kinh
tế chuyển đổi (Châu Âu) và các nước ông Á Ngoài ra, theo nghiên cứu của Sơn (2008), hiện nay các nước ông Nam Á cũng đang rơi vào cái bẫy „quy mô sản xuất nhỏ‟ do thực hiện chủ trương, chính sách là đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo „nông dân phải có ruộng cày‟ Vì vậy, một số nước như: Nhật Bản, Hungary, Bulgaria,… đang tích cực thực hiện nhiều biện pháp để mở rộng quy mô đất nông nghiệp
* Mô hình nông thôn mới
Hiện nay, nhiều nhà hoạch định chính sách ở nhiều quốc gia đã và đang dần dần thay đổi cách tiếp cận chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn Nhiều người cho rằng các chính sách phát triển theo ngành truyền thống cần phải được xem xét lại, nâng cấp và thậm chí trong nhiều trường hợp cần phải được dần dần xóa bỏ và thay thế bằng nhiều công cụ hữu ích khác Thực tế cho thấy, nhiều sự hỗ trợ, bao cấp trong nông nghiệp chỉ mang lại một chút tác động tích cực cho phát triển ngành nông nghiệp
Trang 38nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung Ở nhiều nước, đặc biệt các nước có nền công nghiệp phát triển thu nhập của các hộ nông dân lại chủ yếu dựa vào các hoạt động ngoài nông nghiệp, chính vì vậy việc phát triển khu vực nông thôn sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của nhiều công cụ kinh tế mới Ví dụ, một số nước trong khối Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đang hướng sự quan tâm vào cách tiếp cận dựa vào khu vực khi hoạch định các chính sách nông thôn thay thế cho cách tiếp cận lĩnh vực, nghĩa là tăng cường đầu tư hơn là chú trọng bao cấp, làm cho chính sách nông thôn có thể lồng ghép, hòa hợp với các chính sách ngành khác và cải thiện việc chi tiêu công sao cho có hiệu quả và hợp lý ở các khu vực nông thôn Cụ thể hơn, cách tiếp cận dựa vào khu vực – hay „mô hình nông thôn mới‟ – là cách tiếp cận dựa vào đầu tư chiến lược nhằm khuyến khích phát triển các hoạt động đem lại hiệu quả sản xuất cao nhất cho từng khu vực; chú ý tới đặc trưng của từng khu vực như là một yếu tố tạo ra sự khác biệt và lợi thế cạnh tranh mới (chẳng hạn như môi trường, văn hóa và các sản phẩm địa phương); chú ý nhiều hơn tới các hàng hóa được coi là công cộng hoặc các điều kiện khung để hỗ trợ cho các doanh nghiệp một cách gián tiếp; phân cấp quản lý hành chính và thiết kế chính sách cho từng cấp (cấp trung ương, vùng và địa phương)
và tăng cường sử dụng cơ chế hợp tác, phối hợp giữa các khu vực công, tư và tự nguyện cho việc phát triển và thực hiện các chính sách địa phương và khu vực Như vậy, về cơ bản, chính sách này liên quan tới 2 vấn đề, đó là thay đổi cách tiếp cận chính sách và điều chỉnh cơ cấu chính quyền (OECD, 2006)
Cũng giống như một số nước trong khối OECD, các nước thuộc tổ chức Liên minh Châu Âu (EU) trước đây cũng thường cho rằng các khu vực nông thôn thường có đặc điểm rất giống nhau Tuy nhiên, hiện nay EU đã nhận thấy rằng các vùng nông thôn thì rất khác biệt nhau và mức độ khác biệt hóa và đa dạng cao giữa các vùng nông thôn không chỉ xảy ra giữa các quốc gia mà thậm chí ngay trong cùng một nước Hiển nhiên, sự khác biệt đó là do đặc tính tự nhiên, địa hình, bản sắc văn hóa và thái độ của người dân địa phương và chính các yếu tố này đã có ảnh hưởng quyết định tới môi trường xã hội của vùng, tình trạng kinh tế và sự phát triển của vùng Bên cạnh đó, nhiều nhà hoạch định chính sách cho rằng không nên đánh đồng khu vực nông thôn với sự yếu kém, tụt hậu về kinh tế và đánh đồng khu vực này với khu vực nông nghiệp Trên thực tế, ở rất nhiều vùng nông thôn ở các nước EU, cơ cấu kinh tế không chỉ bị giới hạn trong lĩnh vực nông nghiệp mà được thống trị bới các lĩnh vực công nghịêp và dịch vụ, chẳng hạn như du lịch và chế tạo (Mandl et al, 2007) Ngoài việc thay đổi cách tiếp cận trong quá hoạch định chính sách (chuyển từ cách tiếp cận từ trên xuống bằng cách tiếp cận từ dưới lên), việc phân cấp mạnh hơn quyền hạn, trách nhiệm và phạm vi hoạt động cho khu vực hành chính địa phương và tăng cường sự
Trang 39tham gia của các đối tác xã hội địa phương, các tổ chức phi lợi nhuận NGOs và bản thân người dân cũng đã được phát huy
* Mô hình ngoại sinh/bên ngoài
Giữa thế kỷ thứ 20, cách tiếp cận nhằm phát triển khu vực nông thôn ở các nước EU được bắt đầu từ mô hình hiện đại hóa, nghĩa là cố gắng hiện đại hóa tất cả các mặt của cuộc sống vùng nông thôn, từ sản xuất nông nghiệp đến cơ sở hạ tầng văn hóa và tự nhiên (Nemes, 2005; Arnalte và Ortiz, 2003) Việc sản xuất thâm canh, chuyên môn hóa và tăng trưởng kinh tế có một vai trò hết sức quan trọng đối với khu vực nông thôn và để đạt được điều này chủ yếu thông qua cơ chế can thiệp từ bên ngòai (mô hình ngoại sinh) Sở dĩ mô hình này tồn tại suốt nhiều thập kỷ là do các khu vực nông thôn luôn trong tình trạng kém phát triển hơn các trung tâm thành thị do yếu kém về cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận các nguồn lực thấp và duy trì hệ thống văn hóa và kinh tế xã hội theo chủ nghĩa truyền thống (ở thời kỳ bùng nổ hiện đại hóa ở các nền kinh tế Châu Âu, lối sống truyền thống nông dân và văn hóa bị coi là một trong những trở ngại chính cho việc cải thiện cuộc sống vùng nông thôn và quá trình hiện đại hóa) ể cải thiện tình hình này, khu vực nông thôn cần phải được hiện đại hóa và kết nối chặt chẽ với các trung tâm năng động và mở rộng các ngành, lĩnh vực sản xuất, cùng với việc khuyến khích chuyển giao khoa học kỹ thuật, đưa khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất (ibid) Tất cả điều này có thể đạt được thông qua các can thiệp từ bên ngoài (từ trung tâm)
Việc hỗ trợ, bao cấp cho thay đổi công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp đã
có tác động đáng kể tới việc thay đổi cấu cơ cấu kinh tế và việc phát triển nông nghiệp
là kết quả của việc tăng cường vốn trong sản xuất nông nghiệp, việc sản xuất ít phụ thuộc vào tự nhiên và đòi hỏi ít lao động hơn Mô hình hiện đại hóa cũng dẫn tới kết quả là các gia đình nông thôn sản xuất nhiều hơn và sản xuất trên phần diện tích lớn hơn, chính vì vậy, số lượng các nông trang và quy mô lao động nông nghiệp đã giảm xuống mạnh mẽ Chẳng hạn, ở Tây Ban Nha trong vòng 10 năm (từ 1989 đến 1999) áp dụng mô hình hiện đại hóa đã cho kết quả là hơn một triệu số hộ nông trang bị biến mất (tức là chỉ còn có khoảng 22% số hộ nông trang còn tồn tại so với thời gian đầu của thập kỷ trước) và quy mô nông trang trung bình tăng lên 36% (Arnalte và Ortiz, 2003:5)
Sự giảm sút về số hộ nông trang và số lượng lao động làm nông nghiệp trong quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở các nước EU cũng kéo theo tình trạng di dân từ các vùng nông thôn ra các khu vực công nghiệp tăng mạnh Ở các nước Tây Âu, vấn đề di cư ồ ạt từ khu vực nông thôn ra các vùng công nghiệp đã không gây
ra nhiều khó khăn, phiền toái như ở các nước Trung và ông Âu Phần lớn các nước
Trang 40Trung và ông Âu, nhà nước phúc lợi đã chưa đủ mạnh về tiềm lực kinh tế để có thể cung cấp đủ nhà ở và các dịch vụ thiết yếu khác cho số lượng công nhân di cư đến các khu vực công nghiệp Rất nhiều lao động nông thôn bị đẩy ra khỏi thị trường lao động nông thôn, nhưng những người này lại không có khả năng chuyển đến các nước đang phát triển để tìm việc (Szelényi và Konrád, 1971 – trích trong Nemes, 2005) Cách tiếp cận hiện đại hóa (hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp và chế biến thực phẩm) mặc dầu đã bộc lộ các tác động tiêu cực đối với vấn đề lao động, song nó vẫn đang được áp dụng ở nhiều nước, đặc biệt là các nước chuyển đổi khối EU, bởi các nước này cho rằng đó chỉ là tác động tiêu cực tạm thời và trong dài hạn cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ đem lại kết quả tốt do nâng cao được chất lượng, năng suất và độ an toàn sản phẩm, tạo cho sản phẩm có một vị thế tốt trên thị trường tiêu thụ
* Mô hình nội sinh
Sau một quá trình dài triển khai, mô hình hiện đại hóa và can thiệp từ bên ngoài
đã tỏ rõ một số hạn chế nhất định, vì vậy cách tiếp cận nội sinh hướng vào phát triển
đã bắt đầu nổi lên ở một số nước (ibid) Cách tiếp cận này dựa vào một số nguyên tắc
cơ bản, được hình thành dựa trên các nguồn lực địa phương, cơ chế tham gia, phối hợp, „xây dựng các mục tiêu dưới dạng quy trình‟, các giá trị truyền thống,… Cách tiếp cận này cũng đã khắc phục được một số vấn đề phát triển ở giai đọan đầu Cách tiếp cận mới đã được thể hiện trong chính sách phát triển nông thôn ở các nước EU, cụ thể:
(i) Nâng cao khả năng cạnh tranh của các khu vực nông thôn thông qua việc chú trọng hơn tới tính đa dạng của các khu vực này và đồng thời đưa ra các trợ cấp phù hợp với đặc tính của từng khu vực và nhu cầu đa dạng của các vùng nông thôn
(ii) Phân công nhiều hơn nhiệm vụ và trách nhiệm trong khâu lập chính sách và thực thi cho cấp chính quyền địa phương, cũng như gắn kết với các tổ chức NGOs địa phương và người dân trong việc thiết kế và thực hiện chiến lược và các công cụ hỗ trợ đều phải nhằm vào các nhu cầu thiết thực của họ (các tiếp cận từ dưới lên)
(iii) Phối hợp các họat động trong tạo lập chính sách nhằm đảm bảo tính chặt chẽ trong hành động
(iv) Thành lập các doanh nghiệp mới thông qua cổ vũ, thúc đẩy tinh thần kinh doanh của các doanh nhân và đầu tư vào cơ sở hạ tầng công cộng, nguồn nhân lực và vốn xã hội, bằng cách đó sẽ hướng vào đa dạng hóa ngành/lĩnh vực thay vì chỉ tập trung vào nông nghiệp
Nhận thức về khu vực nông thôn ngày nay đã có sự thay đổi trong tư duy của phần lớn người dân các nước EU Họ cho rằng khu vực nông nông cũng có rất nhiều lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên và di sản văn hóa, điều này đã giúp cho nhiều