Kể từ khi tái lập tỉnh năm 1997, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành công nghiệp của Bắc Ninh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
DƯƠNG PHÚ THẢO
VẤN ĐỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO BẮC NINH GIAI ĐOẠN 1997 - 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
DƯƠNG PHÚ THẢO
VẤN ĐỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO BẮC NINH GIAI ĐOẠN 1997 - 2013
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Thành Nam
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn tốt nghiệp của riêng cá nhân tôi, là một công trình nghiên cứu và tìm tòi độc lập, không có sự sao chép từ bất kỳ văn bản hoặc công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 23 tháng 1 năm 2016
Học viên
Dương Phú Thảo
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Lời đầu tiên của luận văn, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Bùi Thành Nam, mặc dù rất bận rộn trong công việc nhưng thầy đã cố gắng tận tình giúp đỡ và bỏ tâm huyết hướng dẫn tôi từ bước chọn đề tài đến sửa hoàn chỉnh bản luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới các thầy cô trong Khoa Quốc tế học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu
về các kĩ năng nghiên cứu quốc tế cũng như việc tìm hiểu tài liệu về các vấn đề trong quan hệ quốc tế, điều đó đã góp phần tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Phòng tài liệu khoa quốc tế học, Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Phòng tài liệu Sở Kế hoạch
và Đầu tư, Ban Quản lý KCN, Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh…đã giúp đỡ tôi trong việc tìm hiểu các tài liệu cần thiết cho bản luận văn này
Học viên
Dương Phú Thảo
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU 6
1 Lí do lựa chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Phương pháp nghiên cứu 9
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 9
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10
7 Kết cấu của luận văn 11
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA VIỆC THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO BẮC NINH (1997 - 2013) 12
1.1 Cơ sở lý thuyết 12
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nguồn vốn FDI 12
1.1.2 Các hình thức FDI 13
1.1.3 Vai trò của FDI đối với kinh tế Bắc Ninh 14
1.2 Cơ sở thực tiễn: 17
1.2.1 Tiềm năng của tỉnh Bắc Ninh trong vấn đề thu hút FDI (1997 – 2013) 17
1.2.2 Khung chính sách tác động đến vấn đề thu hút FDI của tỉnh Bắc Ninh (1997 – 2013): 24
1.2.3 Một số kinh nghiệm phù hợp với tỉnh Bắc Ninh trong việc thu hút vốn FDI: 29 Tiểu kết: 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO BẮC NINH GIAI ĐOẠN 1997 ĐẾN 2013 40
2.1 Thực trạng thu hút vốn FDI của Tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997- 2013 40
2.1.1 FDI phân theo giai đoạn 40
2.1.2 FDI theo địa điểm đầu tư 43
2.1.3 FDI theo hình thức đầu tư 44
2.1.4 FDI theo đối tác đầu tư 46
Trang 62.1.5 FDI theo ngành công nghiệp 47
2.2 Đánh giá chung 48
2.2.1 Những kết quả đạt được 48
2.2.2 Một số hạn chế trong quá trình thu hút vốn FDI tại tỉnh Bắc Ninh 56
Tiểu kết: 62
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG THU HÚT VỐN FDI TẠI TỈNH BẮC NINH 63
3.1 Định hướng thu hút FDI của tỉnh giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn 2030 63
3.1.1 Định hướng ngành kinh tế 64
3.1.2 Định hướng vùng đầu tư 66
3.1.3 Định hướng đối tác 67
3.1.4 Định hướng về hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án đầu tư 68
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút FDI 69
3.2.1 Giải pháp của chính phủ 69
3.2.2 Giải pháp của địa phương 71
3.2.3 Giải pháp của doanh nghiệp: 74
3.2.4 Giải pháp của hiệp hội doanh nghiệp 75
3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 76
3.3.1 Về thu hút và xúc tiến đầu tư 76
3.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực 78
Tiểu kết: 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Viết tắt tiếng Việt
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Viết tắt tiếng Anh
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
VCCI Vietnam Chamber of Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Tổng sản phẩm quốc nội
Trang 8Ngân hàng thế giới
Quỹ tiền tệ quốc tế
TNCs Trans National Corporation
Công ty xuyên quốc gia
Hiệp định thương mại tự do
UNCTAD United Nations Conference on Trade and Development
Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển
Tổ chức Thương mại thế giới
BOT,
BTO, BT
Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao - kinh doanh
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả chỉ số PCI từ 2007 – 2013 của tỉnh Bắc Ninh 23 Bảng 2.1: FDI trong ngành công nghiệp Bắc Ninh phân theo địa điểm đầu tư lũy kế đến hết năm 2013 43 Bảng 2.2: FDI trong ngành công nghiệp Bắc Ninh phân theo hình thức đầu tư (2007- 2013) 45 Bảng 2.3: FDI ngành công nghiệp tỉnh Bắc Ninh phân theo đối tác đầu tư năm
2013 46 Bảng 2.4: FDI công nghiệp Bắc Ninh phân theo chuyên ngành công nghiệp giai đoạn 2005 - 2011 47 Bảng 2.5: Số lượng và tỉ trọng lao động trong ngành công nghiệp tỉnh Bắc Ninh phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2005 – 2013 54 Bảng 2.6: FDI của các tỉnh tính đến lũy kế đến hết năm 2013 59
Trang 10DANH MỤC BẢN ĐỒ - BIỂU ĐÒ Danh mục bản đồ
Bản đồ: Bản đồ tỉnh Bắc Ninh 18
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1: FDI trong ngành công nghiệp Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2013 41 Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng xuất khẩu của FDI trong kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh giai đoạn 2001-2013 51 Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng của khu vực FDI trong GTSX công nghiệp toàn tỉnh giai đoạn 2001-2013 52 Biểu đồ 2.4: Tỉ trọng lao động khu vực FDI trong cơ cấu lao động của tỉnh Bắc Ninh qua các năm 55
Trang 11PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Hoạt động đầu tư từ lâu vẫn được coi là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và
là chìa khóa cho sự phát triển của mỗi quốc gia và của nền kinh tế thế giới Mỗi nền kinh tế muốn giữ được tốc độ tăng trưởng nhanh nhất phải được đầu tư thỏa đáng Trên phạm vi kinh tế, đầu tư phát triển vừa đem lại sự giàu có, phồn vinh, vừa nâng cao đời sống nhân dân địa phương, đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước Do đó con đường xây dựng xã hội giàu mạnh theo định hướng XHCN ở nước ta đặt ra yêu cầu cho từng tỉnh, thành phố phải năng động, sáng tạo, khai thác lợi thế so sánh để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, muốn thúc đẩy nền kinh tế đất nước thì mỗi địa phương phải tự mình vươn lên để phát triển nền kinh tế của mình Với một đất nước có xuất phát điểm thấp như Việt Nam, nhu cầu về vốn là một trong những nhu cầu hết sức quan trọng và cấp thiết đối với nền kinh tế, vốn tư nhân còn khó khăn, vốn nhà nước không có nhiều Vì vậy, FDI là một nguồn vốn
mà bất cứ một đất nước đang phát triển nào cũng cần phải hướng đến
Chính vì thế mà những năm trở lại đây, Bắc Ninh luôn là một trong những cái tên được nhắc đến đầu tiên khi nói về việc thu hút FDI, không chỉ bởi tính đúng đắn trong việc đưa ra các chính sách của chính quyền địa phương, mà còn ở mức độ quan tâm đúng mực của chính quyền và người dân địa phương tới vấn đề này
Kể từ khi tái lập tỉnh năm 1997, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành công nghiệp của Bắc Ninh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển công nghiệp cũng như kinh tế xã hội của tỉnh Tuy nhiên, hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong công nghiệp những năm qua vẫn còn bộc lộ những mặt yếu kém, hạn chế
Do vậy, để tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, củng cố niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện để thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phát triển thuận lợi, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển công nghiệp tỉnh, phấn đấu đưa Bắc Ninh đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp và là thành phố trực thuộc trung ương năm 2020
Trang 12Với những lí do trên, cộng với niềm đam mê nghiên cứu về quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt là tình cảm của bản thân dành cho quê hương nơi mình sinh ra, cả khách quan lẫn chủ quan khiến tôi lựa chọn để tài “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2013” để nghiên cứu trong bản luận văn của mình Thông qua đề tài này, tôi muốn cho người đọc hiểu được thực chất nền kinh tế Bắc Ninh trong thời kì mới đã phát triển như thế nào, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, mối quan hệ giữa luồng đầu tư đó với kinh tế địa phương, triển vọng của nó ra sao? Tiếp sau là những nhận xét khách quan và trung thực với việc đưa ra triển vọng tầm nhìn đến năm 2020, từ đó những giải pháp chủ quan được đưa ra để mong muốn góp phần cải thiện và thúc đẩy hơn
số dự án và tổng vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh trong tương lai
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đối với tỉnh Bắc Ninh, những nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách, các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương đều có những bài viết mang tính tổng kết, đánh giá, phân tích, cung cấp thông tin và đưa ra những giải pháp, đề xuất trong những thời kì phát triển tiếp theo
Hầu hết những công trình nghiên cứu, phân tích về tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bắc Ninh đều dưới dạng những báo cáo khoa học hoặc các thống kê của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bắc Ninh, Ban Quản
lý KCN tỉnh Bắc Ninh Nhiều báo cáo được tổng hợp, phát triển, sử dụng thành dẫn chứng của nhiều luận án tiến sĩ, thạc sĩ và công trình nghiên cứu khoa học khác Những báo cáo, công trình có thể kế đến:
Thứ nhất, “Báo cáo đánh giá đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ khi tái lập tỉnh” của Ban quản lý KCN tỉnh Bắc Ninh, trong báo cáo thường niên này, Ban quản lý KCN tỉnh đã khái quát thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài vào Bắc Ninh của từng năm theo thời điểm tương ứng tính từ năm 1997, kèm theo đó là những phân tích, đánh giá về những thành tựu cũng như hạn chế cần khắc phục của trong cách thức quản lý của Ban trong những giai đoạn tiếp theo để có thể cải thiện thực trạng
Trang 13Thứ hai, “Báo cáo tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh qua các năm” của Sở Kế hoạch - đầu tư tỉnh Bắc Ninh, đây cũng là báo cáo thường niên của
Sở Kế hoạch – Đầu tư tỉnh Bắc Ninh với mục đích cung cấp những số liệu thể hiện thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài tại địa phương này, từ đó có những phân tích
và kiến nghị bằng các giải pháp ngắn gọn tới UBND tỉnh về việc tăng cường đẩy mạnh thu hút vốn
Hai văn bản trên chỉ thể hiện những số liệu mang tính chất thống kê, thiếu tính phân tích sâu vào nguyên nhân cũng như kết quả đạt được để đưa ra những phương hướng tiếp theo Nhìn chung, các báo cáo sẽ là những nguồn tài liệu phong phú, đề cập đến tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bắc Ninh theo từng giai đoạn cụ thể, tuy nhiên do FDI là lĩnh vực luôn mang tính thời sự nên với mỗi tác giả đểu có những cách cập nhật khác nhau
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng phép biện chứng duy vật trong chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng cho những nhận định, đánh giá về thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài vào Bắc Ninh (1997 – 2013) Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp phân tích tài liệu nhằm đạt được cái nhìn xuyên suốt, tổng thể của vấn đề, cùng với đó là cố gắng mô
tả có hệ thống, khoa học về nội dung nghiên cứu Đồng thời với đó, bản luận văn còn có kết hợp phương pháp lôgic và phương pháp tổng hợp, so sánh Đặc biệt, tác giả đã dùng phương pháp định lượng và định tính để đưa ra các nhận định, đánh giá
về nội dung nghiên cứu Vì vậy mọi nhận định, đánh giá trong luận văn sẽ được xây dựng trên cơ sở phân tích, khái quát những nguồn tài liệu trước đó và những quan điểm cá nhân kế thừa một cách có chọn lọc các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp tỉnh Bắc Ninh và những chính sách mà tỉnh đưa
ra để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Phạm vi: không gian trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 14Thời gian nghiên cứu là giai đoạn 1997 đến năm 2013, đây là lúc tái lập tỉnh Bắc Ninh, thời gian tỉnh có nhiều lợi thế so sánh hơn sau khi tách từ đơn vị hành chính
cũ (tỉnh Hà Bắc) đến thời điểm viết luận văn - năm 2013, năm đánh dấu chặng đường 17 năm tái lập và phát triển của tỉnh, đồng thời cũng là năm đánh giá giữa nhiệm kỳ thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh thứ 18
5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Về mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng thu hút FDI
vào tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 1997 – 2013 và tác động tích cực của nguồn vốn này đến việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Bắc Ninh, luận văn xuất những định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này trong thời gian tới
Về nhiệm vụ nghiên cứu: Trên cơ sở mục tiêu trên, luận văn có những nhiệm vụ
sau:
Một là, đưa ra những cơ sở về lý thuyết lẫn thực tiễn cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bắc Ninh, bao gồm những lý thuyết lý luận về FDI và những nhân tố tự nhiên – kinh tế - xã hội – luật pháp… tác động tới vấn đề này
Hai là, phân tích số liệu thể hiện thực trạng thu hút FDI vào Bắc Ninh qua các năm trong thời kỳ mà luận văn đề cập Sau đó, luận văn phải có những đánh giá về kết quả đạt được
Ba là, chỉ ra được định hướng phát triển của địa phương trong thời gian tới nhằm đưa ra những giải pháp thu hút FDI phù hợp trong giai đoạn đó
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận: Để nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến 2013, tác giả đã đưa ra những thông tin cập nhật và hệ thống, mang tính thời sự, có thể nói bản luận văn cung cấp các cơ sở lý luận, mở ra một hướng nghiên cứu mới cũng như đóng góp thêm một cách tiếp cận đối với những vấn đề mang tính chất kinh tế với những số liệu thống kê luôn được cập nhật, luận văn cũng được dùng làm dẫn chứng, luận cứ cho những công trình khác sau này
Trang 15Về mặt thực tiễn: Công trình đề cập đến thực trạng thu hút FDI của Bắc Ninh,
đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, trong đó có đề cập đến những nguyên nhân từ cách thức quản lý của các cơ quan chuyên môn, do vậy nghiên cứu này có thể dùng làm dẫn chứng cho những kiến nghị, đề xuất trong cách quản lý của các sở ban ngành địa phương trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các giai đoạn sau này
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung có ba chương:
Chương 1: Cơ sở của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bắc Ninh giai
đoạn 1997 đến 2013 Trong chương này, tác giả đã khái quát cơ bản lý thuyết về FDI, những cơ sở thực tiễn ảnh hưởng đến việc thu hút FDI của Bắc Ninh như: các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thị trường, hệ thống luật pháp, cơ sở hạ tầng, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh….sau đó tác giả còn đưa ra những kinh nghiêm thu hút FDI từ quốc tế cũng như một số địa phương trong nước
Chương 2: Tác giả đã phân tích thực trạng thu hút FDI của Bắc Ninh trong giai
đoạn từ năm 1997 đến nay, thực trạng được phân định rõ ràng theo từng giai đoạn, theo địa điểm đầu tư, hình thức đầu tư, đối tác đầu tư và từng ngành công nghiệp Sau đó, tác giả đã đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân
Chương 3: Tác giả đã đưa ra một số giải pháp, kiến nghị về phía chính phủ, hiệp
hội doanh nghiệp, các doanh nghiệp,…nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn FDI vào tỉnh trong thời gian tới, đúng theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Trang 16PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA VIỆC THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀO BẮC NINH (1997 - 2013) 1.1 Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nguồn vốn FDI
1.1.1.1 Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được hiểu là hình thức đầu tư dài hạn của các
cá nhân hay công ty nước này vào một nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Theo đó, cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản
lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”
Vì vậy, có thể hiểu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ánh lợi ích dài hạn về quyền kiểm soát của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (được gọi là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hoặc chi nhánh nước ngoài)
FDI chỉ ra rằng chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kế đối với việc quản lý doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác Tiếng nói hiệu quả trong quản
lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới được coi là FDI
1.1.1.2 Đặc điểm của vốn FDI
Cũng như các nguồn vốn đầu tư khác, FDI cũng có những đặc điểm riêng biệt
Trang 17điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý
đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này
Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ
FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý
1.1.2 Các hình thức FDI
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song chủ yếu vẫn là dưới 3 hình thức
cơ bản: hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài
Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản kí kết giữa 2 hay nhiều bên (gọi là bên
hợp doanh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên
để tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà không thành lập một pháp nhân
Doanh nghiệp liên doanh: là loại hình doanh nghiệp, trong đó nhà đầu tư nước
ngoài hợp tác với nước tiếp nhận vốn đầu tư để cùng góp vốn kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và cùng san sẻ rủi ro Doanh nghiệp liên doanh được thành lập
Trang 18theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư Đây là hình thức sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới từ trước đến nay Nó là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: đây là doanh nghiệp thuộc sở
hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài), do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh Hình thức này ít phổ biến hơn hình thức liên doanh trong hoạt động đầu tư quốc tế
Hình thức hợp đồng BOT, BT, BTO: là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp
đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá, cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước ; bắt buộc đến thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước
Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp: Đây là hình thức mà
khi thị trường chứng khoán phát triển, nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp ở nước sở tại Khi nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán nước sở tại, họ tạo nên kênh đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) Tuy nhiên, khi tỷ lệ sở hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn nào đó cho phép họ có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp thì họ trở thành nhà đầu tư FDI, Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này được quy định là 30%
1.1.3 Vai trò của FDI đối với kinh tế Bắc Ninh
Không phải tự nhiên các quốc gia đang phát triển đều nỗ lực thay đổi các chính sách, sau khi tái lập tỉnh năm 1997, đi lên từ một địa phương thuần nông, Bắc Ninh luôn chú trọng đưa ra các ưu đãi về nhiều mặt nhằm cạnh tranh thu hút FDI, sở dĩ FDI được coi trọng như vậy cũng bởi những lợi ích, vai trò mà nó đem lại:
Trang 19Bổ sung nguồn vốn:
Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh thì cần phải có nhiều vốn, nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ thu hút vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI
Năm 1997, tách ra từ tỉnh Hà Bắc, khi mới tái lập, Bắc Ninh là một tỉnh thuần nông gặp muôn vàn khó khăn, thách thức như điểm xuất phát thấp, quy mô kinh tế nhỏ, tốc độ phát triển kinh tế chưa cao, cở sở vật chất kĩ thuật còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng vừa yếu vừa thiếu (sản xuất công nghiệp chỉ chiếm 23,8%, nông nghiệp
bộ nền kinh tế rất hạn chế Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư để phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển lại rất lớn FDI với vai trò là một nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, giúp Bắc Ninh giải quyết được bài toán thiếu vốn
Ngoài ý nghĩa bổ sung một lượng vốn đáng kể cho đầu tư phát triển kinh tế, cần nói đến chất lượng của vốn FDI Sự có mặt của nguồn vốn này đã góp phần tạo điều kiện cho nguồn vốn Nhà nước tập trung vào các vấn đề kinh tế - xã hội ưu tiên (cơ
sở hạ tầng, các công trình phúc lợi…) Nguồn vốn này cũng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các nguồn vốn trong nước Các doanh nghiệp nhà nước phải đầu tư
và chú ý đến hiệu quả đầu tư trong điều kiện phải cạnh tranh với các doanh nghiệp
có vốn FDI Các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra sự liên kết với các công ty trong nước nhận đầu tư thông qua các mối quan hệ cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu Qua đó, FDI thúc đẩy đẩy đầu tư trong nước đang phát triển Nhờ vậy, các tiềm năng trong nước được khai thác hiệu quả hơn
Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý:
Thông qua FDI, các công ty nước ngoài sẽ đem lại công nghệ tiên tiến hơn từ công ty mẹ vào sản xuất ở nước sở tại thông qua thành lập các công ty con hay chi nhánh Sự xuất hiện của các công ty nước ngoài xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận trên
cơ sở tận dụng những lợi thế có được từ công ty mẹ để sẵn sang cạnh tranh đối với
2
Sở kế hoạch và đầu tư Bắc Ninh, Bắc Ninh 15 năm xây dựng và phát triển (kì 1)
trien.html
Trang 20http://www.bacninhbusiness.gov.vn/Index.aspx?new=251&item=105&ba=105&bac-ninh-15-nam-xay-dung-va-phat-các doanh nghiệp trong nước Vì vậy, hoạt động của http://www.bacninhbusiness.gov.vn/Index.aspx?new=251&item=105&ba=105&bac-ninh-15-nam-xay-dung-va-phat-các doanh nghiệp FDI sẽ khuyến khích nhưng cũng gây áp lực về đổi mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước
Vốn cho tăng trưởng kinh tế dù thiếu vẫn có thể huy động được bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng”, nhưng các bí quyết công nghệ, công tác quản lý là một trong những lợi ích lớn nhờ FDI Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp đất nước có cơ hội tiếp thu công nghệ, bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này
đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm, bằng những khoản chi phí lớn Mặt khác,
nó còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của địa phương
FDI không chỉ mang lại công nghệ cho các nước đang phát triển thông qua con đường chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào mà còn bằng cách xây dựng cơ sở nghiên cứu và phát triển, đào tạo đội ngũ lao động ở ngay tại nước đầu tư để phục
vụ cho dự án Nhờ đó các kĩ năng lao động, kĩ năng quản lý được truyền bá vào các nước đang phát triền FDI không chỉ mang lại công nghệ cho các địa phương thông qua con đường chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào mà còn bằng cách xây dựng cơ sở nghiên cứu và phát triển, đào tạo đội ngũ lao động ở ngay tại nước đầu
tư để phục vụ cho dự án Nhờ đó các kĩ năng lao động, kĩ năng quản lý cũng được truyền bá vào
Giúp cho kinh tế đất nước nói chung, địa phương nói riêng tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu:
Khi thu hút FDI, không chỉ có các doanh nghiệp có vốn đầu tư của các công ty
đa quốc gia, mà cả các doanh nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp đó cũng sẽ tham gia vào quá trình phân công lao động khu vực Vì thế địa phương nhận đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu Điều này sẽ giúp xuất khẩu hàng hóa được thuận lợi hơn Từ đó cũng làm nâng cao vị thế, năng lực cạnh tranh của tỉnh
Tăng thêm số lượng việc làm và giúp đào tạo đội ngũ nhân công, lao động: để
giúp tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, các doanh nghiệp FDI sẽ tận dụng nguồn lao động sẵn có tại địa phương Vì vậy, làm cho số việc làm tăng lên, thu nhập của một
bộ phận dân địa phương cũng được cải thiện, đóng góp tích cực vào tăng trưởng
Trang 21kinh tế Khối doanh nghiệp FDI tạo việc làm cho hơn 146.000 lao động, sự tham gia vào nền kinh tế Bắc Ninh của các doanh nghiệp này đã làm tăng thu nhập bình quân đầu người tại đây năm 2013 lên 68,2 triệu đồng/người/năm (nếu không tính yếu tố
quốc gia đi đầu tư nước ngoài ngoài lượng vốn dồi dào thì quan trọng, họ có một kĩ năng rất tốt, nhờ đó, trình độ, kĩ năng nghề nghiệp của công nhân lao động của nước
nhận đầu tư cũng được nâng cao rõ rệt
Tạo ra nguồn thu ngân sách lớn: thuế là nguồn thu quan trọng của mỗi địa
phương, đặc biệt là một tỉnh đang đi lên như Bắc Ninh, trong năm 2013, các doanh
của nguồn vốn FDI sẽ tạo một nguồn thu lớn, quan trọng cho địa phương, phục vụ cho những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai
Góp phần củng cố, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới: Hoạt động FDI góp phần làm đa dạng,
phong phú, sâu sắc các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước đang phát triển Nền kinh tế trong nước dần dần tham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới Điều này tạo thuận lợi cho các nước tham gia vào các Hiệp định hợp tác song phương, đa phương
Ngoài ra FDI còn góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận vốn theo hướng ngày càng tích cực: tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần, thay vào
đó là sự tăng lên tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ
Trang 22nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, văn hóa và thương mại của phía Bắc như: Đường Quốc lộ 1A, Quốc lộ 1B mới, Quốc lộ 18: đi sân bay Quốc tế Nội Bài và đi cảng biển nước sâu Cái Lân (Quảng Ninh), Quốc lộ 38, Tuyến đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc
Bản đồ: Bản đồ tỉnh Bắc Ninh
Ngoài ra, Bắc Ninh còn có đường sông rất thuận lợi nối tỉnh với các vùng lân
nằm trên các trục giao thông nội địa quan trọng đã biến Bắc Ninh trở thành cầu nối quan trọng giữa giữa thủ đô Hà Nội với các địa phương trong vùng kinh tế trong
công nghệ, lao động kĩ thuật Là cửa ngõ, vùng phụ trợ rất quan trọng của Hà Nội,
do vậy Bắc Ninh luôn được các nhà đầu tư quan tâm và rót vốn Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm qua đã tạo cho Bắc Ninh những lợi thế mới về vị trí địa lý kinh tế, tỉnh đã trở thành một bộ phận cấu thành của trung tâm phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Đồng thời, sự phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế và quốc gia liên quan đã đưa Bắc Ninh xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố lớn của quốc gia cũng
Trang 23như quốc tế thuộc hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, hành lang đường 18 đi cảng Cái Lân….Vị trí địa lý mang tính kết nối cùng hạ tầng giao thông vận tải đang ngày một phát triển đã giúp địa phương này tạo được điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư dễ dàng, giao lưu kinh tế, xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là thu hút lao động từ các địa phương khác đến làm việc
1.2.1.2 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội:
Đây là nhân tố tiên quyết khi một nhà đầu tư lựa chọn điểm đến đầu tư Một đất nước có nền kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ giảm thiểu những rủi ro về khả năng kiểm soát nguồn vốn FDI của các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời sẽ tạo ra một môi trường đầu tư an toàn, do vậy các nhà đầu tư sẽ cảm thấy an tâm hơn khi
bỏ vốn đầu tư Ngược lại những bất ổn về kinh tế, chính trị và xã hội không chỉ làm cho dòng vốn FDI bị chững lại, thu hẹp mà còn làm cho dòng vốn trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi đầu tư mới an toàn và hấp dẫn hơn
Điều kiện này không chỉ bao gồm các yêu cầu về duy trì sự ổn định phát triển kinh tế và trật tự chính trị, xã hội cần thiết cho sự vận hành bình thường của đất nước mà còn phải duy trì được dư luận và tâm lí xã hội chung thuận lợi và ủng hộ các nhà đầu tư nước ngoài Bất kì sự bất ổn định chính trị nào đối với nguồn vốn FDI đều là những nhân tố nhạy cảm tác động tiêu cực đến tâm lý và hành động thực
tế của các nhà đầu tư nước ngoài
Xã hội: Theo kết quả điều tra, Bắc Ninh không phải là tỉnh có dân số đông,
nhưng do diện tích nhỏ nên mật độ dân số rất cao Theo số liệu thống kê năm 2013, Bắc Ninh có dân số trung bình là 1.108.200 người, mật độ dân số là 1.347 người/km2 trong khi mật độ dân số của cả nước là 271 người/km2 Năm 2013, Bắc Ninh có 642.100 người trong độ tuổi lao động Theo trình độ: lao động phổ thông tốt nghiệp PTTH trở xuống chiếm khoảng 60%, lao động có tay nghề đào tạo chiếm
Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên hàng năm năm trong thời kỳ 2005 – 2013 là
vực đồng bằng sông Hồng trong cùng giai đoạn
Trang 24Theo sự sắp đặt hành chính hiện nay, Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm: thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện là: Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Thuận Thành, Lương Tài và Gia Bình Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước và thế giới, lực lượng lao động Bắc Ninh đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của thời đại
Những mục tiêu chủ yếu của giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 –
2015:
và vững chắc; thực hiện tốt mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
tạo ở các cấp học, bậc học nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực đã qua đào tạo của các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
biệt quan tâm đến giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh; nâng cao số lượng và chất lượng học sinh đoạt giải Quốc gia, Quốc tế
đẩy mạnh kiên cố hóa trường lớp, từng bước đáp ứng đủ kinh phí, cơ sở vật chất cho việc phát triển giáo dục - đào tạo ở mức độ cao
Lực lượng lao động có tay nghề qua đào tạo và có trình độ cao đẳng, đại học của Bắc Ninh chiếm khoảng 30% và con số này không ngừng tăng lên thông qua những
ưu tiên trong lộ trình phát triển giáo dục đào tạo của tỉnh, điều này đã thể hiện sự đầu tư mang tính nền tảng của các cấp chính quyền địa phương nhằm đào tạo lực lượng lao động có trình độ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của các nhà đầu tư, sẵn sàng tiếp thu các tiến bộ khoa học công nghệ trong quá trình chuyển giao Có thể nói, sư chú trọng vào giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ dân số trong độ tuổi lao động góp phần không nhỏ vào sự hấp dẫn của Bắc Ninh đối với các nhà đầu tư
http://baobacninh.com.vn/news_detail/88434/phan-dau-ty-le-tang-dan-so-tu-nhien-o-muc-11-vao-nam-2020.html
Trang 25Kinh tế: Bắc Ninh là một trong những tỉnh có GDP bình quân đầu người khá
đầu người của tỉnh khoảng 3.654 USD/người (giá thực tế), cao hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước
Trong điều kiện sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, song với sự quyết tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn đạt mức tăng trưởng cao Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2011 – 2013 đạt 16,1% Năm 2013, trong cơ cấu GDP, tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 5,1%, công nghiệp và xây dựng chiếm 77,8%, dịch vụ chiếm 17,1% Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm 26,2%, đến năm 2015 tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 4 tỷ USD Thu ngân sách trên địa bàn năm 2013 đạt trên 8.000 tỷ đồng10
Bên cạnh những làng nghề truyền thống chuyên sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, gốm
sứ, dệt may hay vẽ tranh Đông Hồ, Bắc Ninh cũng đang đi lên từng ngày nhờ các tập đoàn kinh tế đa quốc gia chuyên sản xuất các mặt hàng điện, điện tử, cơ khí chính xác Đặc biệt, Bắc Ninh là tỉnh đầu tiên của cả nước triển khai khu công nghiệp phụ trợ (cụm công nghiệp phụ trợ ngành điện tử) trong đó nổi bật là cụm công nghiệp Quế Võ
Đến nay, Bắc Ninh đã có được hệ thống tài chính ngân hàng và bảo hiểm đáp ứng yêu cầu thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc tế, đảm bảo an toàn, hiệu quả Hệ thống thương mại, dịch vụ ngày càng mở rộng, kết cấu hạ tầng thương mại từng bước được củng cố
Hoạt động đầu tư các dự án tiếp tục phát triển, kết cấu hạ tầng được tăng cường đầu tư đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển Riêng năm
2013, GTSX công nghiệp ước đạt gần 603.243 tỷ đồng tăng 65,8% so với năm
2012 Trong đó, riêng GTSX công nghiệp khu vực FDI chiếm 92,9% có mức tăng
về số lượng và quy mô sản xuất
Trang 261.2.1.3 Trình độ đội ngũ lao động, khoa học công nghệ:
Trước đây, nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ là một trong những lợi thế so sánh của các quốc gia tiếp nhận vốn FDI Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các nhà đầu tư nước ngoài không còn chỉ chú trọng đến vấn đề đó nữa mà thêm vào đó là trình độ tay nghề của đội ngũ lao động Năm 2013, Bắc Ninh có 642.100 người trong độ tuổi lao động Theo trình độ: lao động phổ thông tốt nghiệp PTTH trở xuống chiếm khoảng 60%, lao động có tay nghề đào tạo chiếm 30% còn lại là lao động quản lý có trình độ đại học, cao đẳng trở lên Đội ngũ lao động có kỹ thuật cao
là điều kiện hàng đầu để một nước nghèo vượt qua được những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên và trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Việc thiếu các nhân lực kỹ thuật lành nghề, các nhà lãnh đạo, quản lý cao cấp, các nhà doanh nghiệp tài ba và sự lạc hậu về trình độ khoa học công nghệ trong nước sẽ khó lòng đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư để triển khai các dự án của họ, làm chậm
và thu hẹp lại dòng vốn FDI chảy vào trong nước
1.2.1.4 Cơ sở hạ tầng:
Hệ thống cơ sở hạ tầng của quốc gia tiếp nhận đầu tư cũng là một trong các yếu tố khiến các nhà đầu tư băn khoăn trước khi quyết định đầu tư Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải với các sân bay, cầu cảng, đường xá, kho bãi và các phương tiện vận tải đảm bảo và đủ tầm hoạt động quốc tế…Và đó phải là hệ thống kết cấu hạ tầng giúp các nhà đầu tư nước ngoài giảm được các chi phí vận chuyển và cảm thấy thuận tiện trong hoạt động đầu tư nước ngoài Tại Bắc Ninh, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các nhà xưởng, kho bãi, các khu công nghiệp,… đang ngày một hoàn thiện và được chú trọng đầu tư, các đường quốc lộ 1A, 1B, 18, 38 đã thành những trục đường chính cho sự vận chuyển hàng hóa xuất khẩu cũng như tiếp nhận đầu tư từ nước ngoài Ngoài ra, tính đến năm 2014, toàn tỉnh đã xây dựng 15 KCN tập trung có hạ tầng đồng bộ cho phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như KCN Yên Phong, KCN VSIP, KCN Thuận Thành II… Cũng nhờ vậy, các KCN tập trung của tỉnh đã thu hút được nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, Canon, Microsoft… tạo ra sự tăng trưởng đột phá về GTSX
và kim ngạch xuất khẩu của tỉnh
Trang 271.2.1.5 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chỉ số PCI (do Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI phối hợp vối
Dự án sang kiến cạnh tranh Việt Nam của Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ tiến hành nghiên cứu và công bố thường niên từ năm 2003) là một trong những chỉ số quan trọng trong việc đánh giá năng lực cạnh trạnh cấp tỉnh PCI là chỉ số dùng để
đo lường và đánh giá công tác điều hành kinh tế của bộ máy chính quyền địa phương ở tất cả các tỉnh, thành phố Việt Nam dựa trên kết quả điều tra cảm nhận của doanh nghiệp dân doanh trong nước và các nguồn dữ liệu được công bố khác Chỉ số PCI cung cấp thông tin quan trọng về chất lượng lao động, cơ sở hạ tầng, tính minh bạch, tham những và các yếu tố quan trọng khác với nhà đầu tư nước ngoài khi cân nhắc đầu tư vào Việt Nam Dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao luôn chảy tư vào những địa điểm có môi trường đầu tư thuận lợi nhất Theo bảng xếp hạng này thì Bắc Ninh luôn nằm trong tốp có chỉ số năng lực cạnh trạnh khá và tốt của cả nước
Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả chỉ số PCI từ 2007 – 2013 của tỉnh Bắc Ninh
Năm Điểm tổng hợp Kết quả
Trang 28có những chính sách tương đối tốt nhằm tăng môi trường cạnh tranh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn tỉnh Cụ thể, chi phí thời gian để các doanh nghiệp thực hiện các quy định của Nhà nước đã giảm; tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh cũng được các doanh nghiệp đánh giá cao Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng làm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư vào địa phương Một điều quan trọng nữa là năm 2012, các chỉ số như chi phí gia nhập thị trường, khả năng tiếp cận đất đai, tính minh bạch, thiết chế pháp lý của tỉnh vẫn khá là cao so với các tỉnh khác trong cả nước Điều này lý giải
vì sao Bắc Ninh được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là một trong những địa điểm hấp dẫn về đầu tư
1.2.2 Khung chính sách tác động đến vấn đề thu hút FDI của tỉnh Bắc Ninh (1997 – 2013):
1.2.2.1 Hệ thống pháp luật và chính sách thu hút FDI
Hệ thống pháp luật đầu tư là thành phần quan trọng của môi trường đầu tư, bao gồm các văn bản pháp luật, các văn bản quản lý hoạt động đầu tư nhằm tạo nên hành lang pháp lý đồng bộ và thuận lợi nhất cho hoạt động FDI Các quy định trong
hệ thống pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn và cuộc sống cá nhân cho nhà đầu tư khi hoạt động đầu tư của họ không làm tổn hại đến an ninh quốc gia của nước đó
Ngoài hệ thống pháp luật nói chung, các nhà đầu tư nước ngoài còn quan tâm đến những cơ chế, chính sách của nước nhận đầu tư đối với hoạt động FDI, đó là sự bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài hoặc những chính sách đặc biệt nhằm thu hút vốn FDI, đặc biệt là nguồn vốn FDI của các nhà đầu tư lớn trên thế giới Các chính sách có thể kể đến là: chính sách thương mại, chính sách tiền tệ, thuế, tín dụng…
Ở nhiều nước, Chính phủ đã lập ra các Quỹ hỗ trợ FDI để hỗ trợ tín dụng cho các nhà đầu tư, nhất là cho những dự án thuộc diện khuyến khích đầu tư Chính nhờ
sự hỗ trợ này cùng với các dịch vụ tài chính, bảo lãnh của Chính phủ, của các cơ quan tín dụng xuất khẩu và của các tổ chức tài chính đa phương như WB đã, đang
và sẽ đóng vai trò to lớn làm tăng dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển, đặc biệt là vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng
Trang 29Với chủ trương đổi mới, thông thoáng ưu đãi khuyến khích đầu tư, tỉnh Bắc Ninh đã đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ”, Ban quản lý các Khu công nghiệp Bắc Ninh là cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp giải quyết mọi công việc đối với nhà đầu tư, đầu tư vào Khu công nghiệp, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, đảm bảo môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho các nhà đầu tư UBND tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Quy định về thủ tục
hồ sơ, quy chế phối hợp thẩm định dự án, cấp Giấy phép đầu tư vào Khu công nghiệp Bắc Ninh và Quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với các KCN Với những quy định đó sẽ giải quyết tốt nhất các yêu cầu của nhà đầu tư
1.2.2.2 Các chính sách sử dụng vốn FDI của Bắc Ninh:
Đó là các chính sách nhằm định hướng sử dụng FDI phục vụ cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, tùy thuộc vào lĩnh vực ưu tiên của mỗi quốc gia và địa phương mà có chính sách ưu tiên với các nhà đầu tư vào các lĩnh vực phát huy thế mạnh của địa phương, quốc gia đó Nếu chính sách rõ ràng, đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thì nó sẽ góp phần thu hút các nhà đầu tư một cách mạnh mẽ
Tại Bắc Ninh, doanh nghiệp có vốn FDI là nguồn cung cấp tài chính tiềm năng cho đầu tư phát triển kinh tế Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài có quan hệ gắn bó với sự phát triển kinh tế của địa phương Chính vì vậy, Bắc Ninh luôn dành một phần vốn FDI cho việc tập trung xây dựng và hoàn thiện các chính sách về phát triển các KCN, triển khai xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng cơ sở các KCN, gắn kết chặt chẽ với hệ thống hạ tầng xã hội như các khu đô thị, dịch vụ nhằm cung cấp nhà ở, dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ, các dịch vụ vui chơi giải trí qua đó, đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời đảm bảo an ninh trật
tự, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
Thêm vào đó, thu hút FDI trong những năm qua đã góp phần đẩy nhanh tốc
độ đô thị hoá nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh Với việc sử dụng hiệu quả vốn FDI, sau 3 năm triển khai xây dựng nông thôn mới, Bắc Ninh đã có 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới Đặc biêt, 100% số xã đã hoàn thành các tiêu chí về quy hoạch
Trang 30và thực hiện quy hoạch, điện nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, giáo dục, thủy lợi,
Nguồn vốn từ FDI cũng góp phần đưa Bắc Ninh được xác định tập trung vào một số mục tiêu trọng điểm khác: củng cố vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển toàn diện các lĩnh vực y tế, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, văn hoá- xã hội, giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội… Phấn đấu đưa Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015, quy hoạch và xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020
1.2.2.3 Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của Bắc Ninh:
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Bắc Ninh có ảnh hưởng đặc biệt vì
nó giúp các nhà đầu tư biết được các mục tiêu cụ thể mà nơi đó cần đạt được trong giai đoạn cụ thể, như vậy giúp cho các nhà đầu tư xác định được đâu là lĩnh vực cần
ưu tiên phát triển và từ đó họ đề ra phương hướng kinh doanh vừa tận dụng được tiềm năng của họ vừa tận dụng được các chính sách hỗ trợ của địa phương
Kế hoạch phát triển ngành, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành:
- Kế hoạch phát triển ngành là kế hoạch phát triển các lĩnh vực cụ thể như: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Kế hoạch phát triển ngành giúp đưa ra các thông tin về tốc độ tăng trưởng hợp lí từng ngành, tạo điều kiện thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Với mục tiêu cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp năm 2015 và thành phố trực thuộc TW năm 2020, về lĩnh vực công nghiệp, Bắc Ninh đã đưa ra những chính sách chuyển đổi mô hình quản lý đối với các KCN
nhỏ và vừa, làng nghề Về nông nghiệp: Phấn đấu hết 2015 giá trị sản xuất nông
nghiệp đạt 2.800 tỷ đồng, tăng bình quân 2,7%/năm; 30% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới Áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đưa giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất Về dịch vụ: Phấn đấu 2015 tỷ trọng dịch vụ chiếm 24,3%
Trang 31nguồn vốn dồi dào cho tăng trưởng kinh tế cũng như phục vụ các vấn đề an sinh xã hội, Bắc Ninh luôn chủ trương tăng cường xúc tiến đầu tư, thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, đặc biệt là các dự án có số thu nộp ngân sách lớn
- Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: là các kế hoạch nhằm xác định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cụ thể hóa bằng các quan hệ tỉ lệ giữa các ngành nhằm đảm bảo phù hợp với xu thế biến đổi chung; kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng xác định hướng huy động và sử dụng yếu tố đầu vào đặc biệt là cơ cấu vốn đầu tư và cơ cấu lao động nhằm đảm bảo cơ cấu đầu ra theo hướng đã xác định, từ đó hướng các nhà đầu tư vào phân bổ nguồn vốn hợp lý sao cho đáp ứng được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Năm 1997, sau khi tái lập tỉnh, Bắc Ninh chỉ là một địa phương thuần nông với cơ cấu kinh tế nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ tương ứng: 23,8% - 45,0% - 31,2%, nhưng đến nay, tỉnh luôn chủ trương giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế địa phương, cụ thể đến năm 2015, ước tính tỉ trọng từng khu vực trên trong nền kinh tế sẽ tương ứng:
hướng phát triển các lĩnh vực sử dụng công nghệ cao, giải quyết được nhiều lao động, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đóng góp nhiều vốn cho ngân sách địa phương Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu trong giai đoạn 1997 – 2015 đã tác động không nhỏ tới những quyết định, chủ trương trong việc sàng lọc, thu hút các dự án, các nhà đầu tư phù hợp nhất
- Kế hoạch lao động, việc làm: là bộ phần kế hoạch nhằm xác định quy mô, cơ cấu của lực lượng lao động cần huy động cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, cân đối nhu cầu với khả năng về lao động trong thời kì kế hoạch và đề xuất các giải pháp nhằm khai thác, huy động và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động xã hội Như vậy, từ những thông tin mà kế hoạch lao động việc làm cung cấp, các doanh nghiệp FDI có thể hiểu rõ hơn về lực lượng lao động tại địa phương, đồng thời xác định
Trang 32cho mình một kế hoạch sử dụng lao động một cách cân đối và hợp lí với kế hoạch phát triển địa phương đã đề ra Cũng theo như kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2015 đã xác định: sẽ nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm; giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn 3,2% vào năm 2015 Năm 2015, sẽ nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 60% Giải quyết việc làm bình quân hàng năm từ 26 - 27 nghìn lao động, trong đó 50% lao động nữ; chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động xã hội theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp,
chỉ tiêu này đã tác động không nhỏ đến tình hình thu hút FDI của Bắc Ninh trong giai đoạn từ sau khi tái lập tỉnh đến nay Tỉnh sẽ tập trung thu hút nhiều dự án cần nguồn nhân công để giải quyết tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm tại địa phương, tập trung đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng lao động có trình độ từ các doanh nghiệp nước ngoài
1.2.2.4 Các hiệp định thương mại của quốc gia:
Để hội nhập một cách sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam đang lựa chọn con đường kí kết các hiệp định hợp tác song phương, đa phương nhằm cắt giảm hoặc tháo gỡ các rào cản Những điều khoản và quy ước trong các hiệp định song phương cũng như đa phương đó cũng đã tác động tới kinh tế từng tỉnh, mở ra khả năng thâm nhập thị trường của các nước đối tác, thu hút hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài, trong đó cụ thể là vấn đề thu hút trực tiếp nước ngoài vào Bắc Ninh
Một số hiệp định thương mại có ý nghĩa tại Việt Nam: Hiệp định khung thương mại Việt Nam - Hoa Kì (06/2007), Hiệp định về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) (2010), Hiệp định tự do hóa, khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản, Hàn Quốc…
Sau khi kí kết các hiệp định, một số lượng lớn các loại thuế sẽ bị loại bỏ, điều này sẽ tác động mạnh mẽ đến dòng vốn FDI, những cơ hội đầu tư mở ra ở nhiều ngành nghề có tính cạnh tranh cao như cơ sở hạ tầng, logistic, điện tử viễn
15
Sở Kế hoạch và đầu tư Bắc Ninh, Bắc Ninh 15 năm xây dựng và phát triển (kỳ 4)
html
Trang 33http://bacninhbusiness.gov.vn/Index.aspx?new=255&item=19&ba=19&bac-ninh-15-nam-xay-dung-va-phat-trien ky-4-thông…đây cũng là những ngành công nghiệp thế mạnh của Bắc Ninh được hưởng lợi chung từ những hiệp định thương mại quốc gia, dòng vốn ngoại đầu tư vào các lĩnh vực này ở Bắc Ninh cũng sẽ tăng nhanh nhờ việc tận dụng ưu đãi về thuế Ví
dụ như trường hợp Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam – Hàn Quốc (09/2003): thông qua hiệp định này dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) từ Hàn Quốc vào Việt Nam cũng được gia tăng, thúc đẩy tăng trưởng GDP ổn định Trong đó, tỉnh Bắc Ninh cũng được hưởng lợi không nhỏ Không chỉ tạo điều kiện cho hoạt động thương mại của Việt Nam, hiệp định thương mại tự do Việt - Hàn đang giúp cho môi trường đầu tư của Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng minh bạch hơn, thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư Hàn Quốc hơn Trong thực tế những năm gần đây, Hàn Quốc là một trong những quốc gia có vốn đầu tư trực tiếp vào Bắc Ninh rất lớn với các dự án quy mô lớn như Tập đoàn Sam Sung với tổng số vốn đăng ký là 670 triệu USD (chiếm 65,04% tổng vốn FDI Hàn Quốc vào Bắc Ninh), thuê 42 ha đất; Công ty TNHH thực phẩm Orion ViNa với tổng vốn
1.2.3 Một số kinh nghiệm phù hợp với tỉnh Bắc Ninh trong việc thu hút vốn FDI:
1.2.3.1 Kinh nghiệm quốc tế
FDI ngày càng khẳng định tầm quan trọng của mình với vai trò là bổ sung vốn cho các nước đang phát triển để phần nào giải quyết bài toán vốn, công nghệ và thị trường trong chiến lược tăng trưởng Chính vì vậy, các nước đang phát triển trên thế giới đã và đang thực hiện rất nhiều chính sách nhằm thu hút nguồn vốn này
Thống kê hiện tại của UNCTAD ghi nhận nhiều thay đổi trong chính sách thu hút FDI của hơn 100 quốc gia trên thế giới Tùy vào điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể, các biện pháp, chính sách thu hút FDI của từng nước có những đặc điểm riêng Vì vậy, trong thực tế không tồn tại một mô hình kiểu mẫu nào đối với thu hút FDI, không thể áp dụng nguyên mẫu kinh nghiệm của một quốc gia này áp dụng vào một
16
UBND tỉnh Bắc Ninh, Đầu tư của Hàn quốc tại các KCN Bắc ninh- kết quả và xu hướng trong thời gian tới
http://www.bacninh.gov.vn/Trang/Quy%20ho%E1%BA%A1ch.aspx?u=detail&rid=58
Trang 34quốc gia với điều kiện cụ thể khác Theo đó, các kinh nghiệm thu hút FDI trước hết được đưa ra trên cơ sở phân tích những nhóm chính sách, biện pháp chính
- Ưu đãi tài chính có định hướng tạo động lực thu hút FDI:
Ưu đãi tài chính là một biện pháp phổ biến thường được sử dụng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Ưu đãi tài chính có thể có nhiều hình thức: miễn thuế, giảm thuế, hỗ trợ tài chính dưới một số hình thức trợ cấp Với xu hướng chung của tự do hóa thương mại và đầu tư hiện nay, ưu đãi về thuế trở thành công cụ chủ yếu trong
số những biện pháp ưu đãi tài chính mà chính phủ các nước đưa ra Tuy nhiên, ưu đãi tài chính có thể là một chính sách thu hút FDI quan trọng nhưng không có ý
Malaysia, Singapore, Thailand và một số quốc gia ở Đông Nam Á khác là những
ví dụ cụ thể về thành công trong việc sử dụng ưu đãi tài chính có định hướng cụ thể Những quốc gia này đều đưa ra những ưu đãi cho FDI vào những ngành công nghiệp mũi nhọn Singapore ban hành Luật khuyến khích mở rộng kinh tế, cho phép giảm 90% thuế của các khoản lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu, đồng thời hoàn thuế cho các chi phí liên quan đến sản xuất hàng xuất khẩu Năm 1964, Philipines cũng xác định một danh sách hạn chế các ngành công nghiệp ưu tiên và ban hành Luật Khuyến khích Đầu tư với một loạt các biện pháp miễn thuế nhập khẩu, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp Để cạnh tranh với các nước láng giềng, Malaysia ban hàng Luật Khuyến khích Đầu tư năm 1968 với các biện pháp ưu đãi dành cho đầu
tư vào khu vực sử dụng nhiều lao động và sản xuất hàng xuất khẩu Thailand cũng
Mức độ cạnh tranh trong thu hút FDI trong khu vực trở nên khốc liệt hơn do những chính sách ưu đãi tài chính và sự hấp dẫn của Trung Quốc Từ nửa cuối thập niên 1980, Trung Quốc trở thành nước đang phát triển đi đầu trong thu hút dòng FDI từ nước ngoài Từ giữa thập kỷ 90, sự hấp dẫn của Trung Quốc trong con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài dẫn đến sự hình thành chiến lược “Trung Quốc cộng” Với chiến lược này, nhiều nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng coi Trung
Trang 35Quốc là địa bàn đầu tư chiến lược, trong khi vẫn có thể vân nhắc khả năng đầu tư vào các nước ASEAN
Mức độ cạnh tranh trong thu hút FDI ngày càng tăng làm cho những ưu đãi tài chính không thể chỉ dừng lại ở phạm vi các quy định được thể chế hóa bằng luật Ngoài những ưu đãi chung theo quy định, chính quyền (trung ương và địa phương)
ở các nước đang phát triển còn đưa ra những ưu đãi tài chính bổ sung cho từng từng trường hợp cụ thể, đặc biệt là với các dự án đầu tư giá trị lớn Như vậy, dù ưu đãi tài chính chỉ là một trong số các biện pháp khuyến khích đầu tư nhưng sự gia tăng cạnh tranh giữa các nước đang phát triển trong thu hút FDI làm cho những ưu đãi này trờ nên phổ biến và đa dạng về phạm vi, mức độ ưu đãi và tính thể chế hóa của ưu đãi Bên cạnh những quy định ưu đãi đã được thể chế hóa thành luật, cạnh tranh thu hút FDI bằng những ưu đãi tài chính còn được thực hiện bởi các quyết định ưu đãi từ cấp lãnh đạo chính trị tối cao, và là nguyên nhân dẫn đến những sửa đổi pháp lý nhằm tăng sức hút với các nhà đầu tư nước ngoài
- Thu hút sự tham gia của chủ đầu tư tư nhân vào cải thiện điều kiện cơ sở hạ
tầng:
Cơ sở hạ tầng được xem xét trên khía cạnh: mức độ sẵn có, chất lượng hạ tầng
và chi phí sử dụng hạ tầng, đây là yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Những yếu tố này cũng là thành phần quan trọng của môi trường đầu tư, và vì vậy
có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng thu hút FDI
Hạ tầng trong thu hút FDI thường gồm ba nhóm chính: hạ tầng giao thông; hạ tầng thông tin, viễn thông và hạ tầng cung cấp năng lượng Trong điều kiện cụ thể của các nước đang phát triển, cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng đòi hỏi nguồn lực khổng lồ là một thách thức lớn
Liên quan đến đầu tư cơ sở hạ tầng để kích thích sự tăng trưởng kinh tế, thu hút FDI, nhiều tổ chức quốc tế có trọng tâm hỗ trợ cho tăng trường kinh tế của nước đang phát triển gặp nhau ở quân điểm khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào đầu tư, cung cấp cơ sở hạ tầng Cũng cần lưu ý rằng, mặc dù huy động sự tham gia của tư nhân vào cung cấp cơ sở hạ tầng là một giải pháp khá phổ biến và ngày càng trở nên quan trọng trong điều kiện hiện nay, nhưng thống kê chính thức
Trang 36cho thấy các nhà đầu tư tư nhân chủ yếu tập trung vào lĩnh vực viễn thông và cung cấp điện năng còn cơ sở hạ tầng chỉ nhận được khoảng 18% tổng giá trị đầu tư Vì vậy, đầu tư công cộng vẫn là cơ bản và cần thiết, đặc biệt là trong xây dựng công trình giao thông, để cải thiện môi trường đầu tư trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài đang ngày càng gay gắt như hiện nay
- Thu hút FDI thông qua các tổ chức xúc tiến đầu tư:
Từ đầu thập kỷ 90, việc thành lập các cơ quan xúc tiến đầu tư đã trở thành một
bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thu hút FDI của hầu hết các quốc gia Theo thống kê sơ bộ của UNCTAD, đến cuối năm 2012, có ít nhất 179 cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia và khoảng 250 các tổ chức thuộc một số địa phương tham gia tích cực vào xúc tiến đầu tư Để đạt được những mục tiêu này, các tổ chức xúc tiến đầu tư trên thế giới thường lựa chọn thực hiện các hoạt động sau:
đối tác
tìm hiều và thiết kế tiền khả thi
Tùy thuộc vào giai đoạn cụ thể mà một tổ chức xúc tiến đầu tư có thể ưu tiên các nguồn lực cho một trong số bốn mục tiêu kể trên Theo kinh nghiệm của nhiều cơ quan như Cơ quan Xúc tiến Đầu tư Malaysia (MIDA), Ủy ban Điều phối Đầu tư Indonesia (BKPM), Hội đồng Phát triển Kinh tế Singapore (EDB)… thì trong giai đoạn hoạt động ban đầu, những tổ chức này thường tập trung vào marketing hình ảnh quốc gia Còn từ đầu thập niên 90 đến nay, trọng tâm hoạt động của những cơ
19
Theo báo cáo của Wellss và Wint, 2001
Trang 37Về thể chế hoạt động, các cơ quan xúc tiến đầu tư có nhiều hình thức thể chế hoạt động khác nhau nhưng hình thức phổ biến nhất là một cơ quan xúc tiến đầu tư trực thuộc chính phủ ( Anh, Canada, Thailand…) Bên cạnh đó, thể chế hỗn hợp dưới dạng một tổ chức tư nhân điều phối cũng khá phổ biến (Malaysia, Singapore…) Tuy nhiên, dù có được tổ chức dưới hình thức nào đi chăng nữa thì trung bình 70% kinh phí hoạt động của các tổ chức xúc tiến đầu tư là do chính phủ tài trợ
- Tích cực cải thiện môi trường đầu tư địa phương, giảm thiểu thủ tục hành
chính là chính sách thu hút đầu tư chủ đạo:
Cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu thủ tục hành chính là một nỗ lực phổ biến và có lẽ là quan trọng nhất của chính phủ các nước trong thu hút FDI Phản ứng về chính sách của hầu hết các nước trong giai đoạn sụt giảm FDI (2001-2003)
là tiếp tục đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm cải thiện môi trường đầu tư Tính trung bình trong giai đoạn 1991-2004, khoảng 87% những thay đổi về chính sách do các quốc gia thực hiện có chiều hướng thuận lợi hơn FDI
Ở châu Á, hai nền kinh tế thu hút FDI lớn nhất thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ trong thời gian gần đây tiếp tục đưa ra các thay đổi chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư Tại Trung Quốc, “Danh mục Hướng dẫn Đầu tư công nghiệp” được sửa đổi đưa thêm vào các cam kết tự do hóa đầu tư trong khuôn khổ WTO, trong đó một số lượng lớn các ngành công nghiệp mới được đưa vào danh mục các ngành ưu tiên kêu gọi đầu tư, nới lỏng các hạn chế tham gia của nước ngoài vào lĩnh vực dịch
vụ tài chính, phân phối, truyền thông và giáo dục, đặc biệt là các lĩnh vực dịch vụ tài chính
Tại Ấn Độ, “ Ủy ban xúc tiến FDI” ra đời năm 2004, ngoài chức năng định hướng và điều phối đầu tư, Ủy ban này còn có chức năng hoạt động như cơ quan xúc tiền đầu tư quốc gia, thực hiện các hoạt động như đã nói ở trên Ngoài ra, giới hạn về sở hữu nước ngoài trong các ngành dịch vụ hàng không, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, xuất bản, truyền thông, và đặc biệt là dầu khí cũng được nới lỏng hoặc bãi bỏ Một loạt những động thái tương tự nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, nới lỏng các hạn chế đầu tư cũng được đưa ra ở Indonesia và Thailand
Trang 38Cần nhấn mạnh rằng những thay đổi chính sách thường thấy nhất là tự do hóa, nới lỏng các hạn chế về chính sách liên quan trục tiếp và gián tiếp với đầu tư nước ngoài Những biện pháp khuyến khcish, ưu đãi dành cho FDI được thực hiện ở mức
độ hạn chế hơn Điều này cũng một phần xuất phát từ thực tế là rất nhiều chính phủ
đã tích cực “cạnh tranh” trong việc đưa ra các biện pháp ưu đãi tài chính để thu hút FDI Vì vậy, những thay đổi chính sách gần đây thường là theo hướng tự do hóa, nới lỏng các hạn chế không chỉ về chính sách trực tiếp tác động đến FDI mà còn là các hạn chế chính sách thương mại, di chuyển dịch vụ, tiêu chuẩn kĩ thuật và công nghệ
- Tham gia tích cực vào các hiệp định đầu tư song phương và đa phương:
Bên cạnh những thay đổi về chính sách thu hút FDI của từng nước, đàm phán các hiệp định khuyến khích đầu tư song phương và đa phương cũng là một trong những đặc điểm nổi bật trong những thay đổi về thể chế đáng chú ý trong thời gian gần đây Ngoài ta, các thỏa thuận đa phương về tự do hóa, ưu đãi đầu tư cũng không ngừng gia tăng như là một phần của thỏa thuận hợp tác kinh tế vùng, liên vùng, và hợp tác kinh tế toàn cầu
Thông thường những thỏa thuận này đề cập đến cam kết của các quốc gia thành viên đối với tự do hóa thương mại thúc đẩy trao đổi thương mại, cam kết tự do hóa
và hộ đầu tư giữa các quốc gia thành viên So sánh với các hiệp định song phương thì các hiệp định đa phương có đối tượng điều chỉnh và nội dung rộng hơn Nó thường bao gồm một loạt các quy định và ưu tiên liên quan đến giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và di chuyển vốn, cũng như lao động giữa các quốc gia thành viên Xu hướng gia tăng thỏa thuận đầu tư đa phương trong thời gian qua là một hệ quả của toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới
Động thái thay đổi chính sách thu hút FDI trong thời gian gần đây cho thấy mức
độ cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gia tăng giữa các quốc gia Bên cạnh những biện pháp tự do hóa, ưu đãi đầu tư, tham gia tích cực vào các thỏa thuận song phương và đa phương nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại, đầu tư và hợp tác kinh
tế có tác dụng hỗ trợ tích cực cho môi trường đầu tư trong nước
Trang 391.2.3.2 Kinh nghiệm trong nước
Thực tế trong thời gian qua đã chứng minh vài trò FDI ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế nước ta Tính đến hết năm 2013, Việt Nam có 17.434 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 268,7 tỷ USD Vốn thực hiện lũy kế của cá c dự án ĐTNN ước đạt 124,5 tỷ USD, bằng 50% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực Cụ thể trong năm
2013, cả nước có 1.530 dự án ĐTNN mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 22,35 tỷ USD, tăng nhanh so với cùng kỳ năm 2012 (16,4 tỷ USD) Ngoài ra, có
594 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,58 tỷ USD, bằng 62,4% so với cùng kỳ năm 2012 ĐTNN đã có mặt ở 63 tỉnh, thành phố trong
cả nước, trong đó thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI với 33,5 tỷ USD (chiếm 15% tổng vốn đầu tư), tiếp theo là Bà Rịa - Vũng Tàu với 26,7 tỷ USD (chiếm 10,6% tổng vốn đầu tư), Hà Nội với 23,4 tỷ USD (chiếm 9,3% tổng vốn đầu tư), Đồng Nai với 21,5 tỷ USD (chiếm 8,6% tổng
thể, tại các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi thuộc các vùng kinh
tế trọng điểm vẫn là những địa phương dẫn đầu về thu hút FDI, như:
Ta thấy, kết quả thu hút FDI của mỗi địa phương khác nhau, điều này do chính sách cũng như kinh nghiệm của mỗi địa phương đem lại:
- Trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM):
Tính đến cuối năm 2013, Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước về thu hút FDI với 33,5 tỷ USD, chiếm 15% trong tổng số FDI vào Việt Nam trong năm Trong riêng năm 2013, tổng số vốn FDI vào TP HCM đạt 2,08 tỷ USD, tăng 52%
tại TP.HCM vẫn tập trung vào kinh doanh bất động sản, tư vấn, công nghiệp, thương mại, khách sạn, nhà hàng, vận tải, xây dựng Để làm được điều này, thành phố đã phải thực hiện rất nhiều chính sách, có thể đúc kết lại như sau:
Trang 40Trong những năm qua UBND thành phố đã ban hành nhiều biện pháp đến đơn giản hóa và rút ngắn thủ tục cấp giấy phép đầu tư như đối với các dự án đăng ký cấp phép trong thời gian 5 ngày, dự án thẩm định 20 ngày
Thực hiện cấp phép qua mạng từ tháng 4/2004 Theo quy trình này trong thời gian 2 ngày đối với các dự án đăng ký trong ngành công nghệ thông tin, thuê may mặc…
Thành phố cấp thẻ ưu tiên làm thủ tục xuất nhập cảnh tại sân bay Tân Sơn Nhất cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại Thành phố nhằm giảm thiểu thời gian làm các loại thủ tục tại sân bay
Ngoài thành phố đã thành lập tổ liên ngành để giải quyết nhanh những khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư Sở KH – ĐT là đầu mối trả lời những vấn đề liên quan đến đầu tư nước ngoài
Về quy hoạch dự án và xúc tiến đầu tư:
Hàng năm Sở KH – ĐT phối hợp với các ban ngành, Ban Quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất, Ban quản lý khu công nghệ cao, lập danh sách các dự án cần kêu gọi đầu tư nước ngoài cho từng năm và từng thời kỳ
Sở KH – ĐT và Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư đã xây dựng trong web về đầu tư nước ngoài nhằm giới thiệu về môi trường đầu tư của thành phố trong năm 2001 Năm 2003, thành phố khai trương trang web “Đối thoại doanh nghiệp” nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp hỏi trực tuyến với các sở, ban, ngành của thành phố
Từ năm 2002 đến nay, Sở KH – ĐT đã thực hiện phổ biến thông tin xúc tiến đầu
tư thông qua chương trình “Phát báo trên các chuyến bay quốc tế”, “Tờ rơi giới thiệu về tình hình kinh tế và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài” đến các cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài và các tổ chức, tập đoàn lớn của nước ngoài
Tổ chức hoặc phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước tổ nhiều cuộc hội thảo, hội nghị để giới thiệu môi trường đầu tư của thành phố và lắng nghe nguyện vọng của các doanh nghiệp đầu tư của thành phố và lắng nghe nguyện vọng của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài góp ý nhằm cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư của thành phố Chuyển cách kêu gọi đầu tư từ hình thức “nhà đầu tư có nhu cầu thì