1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng lãnh đạo đấu tranh chống Fulro trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm 1988 : Luận án TS. Nhân văn khác: 622203

227 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 3,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng như về quá tình đấu tranh gian khổ của các LLVT và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, về nghệ thuật lãnh đạo xây dựng chính quyền cách mạng, về nhận thức và giải quyết căn bản vấn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGÔ MINH HIỆP

ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH CHỐNG FULRO TRÊN ĐỊA BÀN

TÂY NGUYÊN TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1988

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGÔ MINH HIỆP

ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH CHỐNG FULRO TRÊN ĐỊA BÀN

TÂY NGUYÊN TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1988

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số : 62 22 0315

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ VĂN THỊNH

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Văn Thịnh

Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận án đều trung

Trang 4

Cuối cùng tôi xin cảm ơn vợ, gia đình và rất nhiều những người bạn đã luôn ở bên tôi

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Ngô Minh Hiệp

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CAND : Công an nhân dân CNTP : Cao nguyên Trung phần CNXH : Chủ nghĩa xã hội

CQSG : Chính quyền Sài Gòn CTQG : Chính trị quốc gia DBHB : Diễn biến hòa bình DQTV : Dân quân tự vệ DTTS : Dân tộc thiểu số

ĐỆ I CH : Đệ nhất Cộng hòa KHCNMT : Khoa học công nghệ môi trường KHXH : Khoa học xã hô ̣i

LLVT : Lực lươ ̣ng vũ trang NXB : Nhà xuất bản PTTg : Phủ Thủ tướng QĐND : Quân đội nhân dân QĐSG : Quân đội Sài Gòn TLLT : Tài liệu lưu trữ TTLTQG : Trung tâm lưu trữ Quốc gia

UBND : Ủy ban nhân dân VNCH : Việt Nam Cộng hòa VNDCCH :Việt Nam dân chủ cô ̣ng hòa

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do, tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cư ́ u 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu 5

5 Đóng góp của luận án 6

6 Bố cục 7

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 8

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về tổ chức FULRO 8

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về đấu tranh chống FULRO 15

1.1.3 Những công trình nghiên cứu về Đảng lãnh đạo đấu tranh chống FULRO và nghiên cứu khoa học về Tây Nguyên góp phần giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên 18

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cho luận án tiếp tục nghiên cứu 25

1.2.1 Các kết quả nghiên cứu luận án kế thừa 25

1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu 27

Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ ĐẤU TRANH CHỐNG FULRO Ở TÂY NGUYÊN TỪ THÁNG 3 NĂM 1975 ĐẾN TRƯỚC THÁNG 2 NĂM 1977 28

2.1 Những yếu tố tác động đến Đảng lãnh đạo đấu tranh chống FULRO ở Tây Nguyên từ tháng 3 năm 1975 đến trước tháng 2 năm 1977 28

2.1 1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội ở Tây Nguyên 28

Trang 7

2.1.2 Đấu tranh chống FULRO của chính quyền cách mạng trước năm

1975 và âm mưu thủ đoạn của FULRO từ năm 1975 đến trước tháng 2

năm 1977 33

2.2 Đảng lãnh đạo đấu tranh chống FULRO từ tháng 3 năm 1975 đến trước tháng 2 năm 1977 52

2.2.1 Chủ trương của Đảng về đấu tranh chống FULRO tại Tây Nguyên 52

2.2.2 Đảng chỉ đạo đấu tranh chống FULRO từ tháng 3 năm 1975 đến trước tháng 2 năm 1977 54

Chương 3: ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH CHỐNG FULRO Ở TÂY NGUYÊN TỪ SAU THÁNG 2 NĂM 1977 ĐẾN NĂM 1988 70

3.1 Âm mưu, thủ đoạn của FULRO và chủ trương của Đảng về đấu tranh chống FULRO tại Tây Nguyên từ sau tháng 2 năm 1977 đến năm 1988 70

3.1.1 Âm mưu, thủ đoạn của FULRO 70

3.1.2 Chủ trương của Đảng về đẩy mạnh đấu tranh chống FULRO tại Tây Nguyên 78

3.2 Sự chỉ đạo của Đảng về đấu tranh chống FULRO 82

3.2.1 Chỉ đạo lực lượng vũ trang đấu tranh chống FULRO 82

3.2.2 Chỉ đạo hệ thống chính trị phát triển toàn diện Tây Nguyên góp phần đấu tranh chống FULRO 96

Chương 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 111

4.1 Nhận xét 111

4.1.1 Về ưu điểm 111

4.1.2 Về hạn chế 127

4.2 Một số kinh nghiệm la ̃nh đa ̣o của Đảng 136

4.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên 136

4.2.2 Nắm vững tình hình Tây Nguyên và các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch để xa ́c đi ̣nh chủ trương và giải pháp đấu tranh phù hợp 138

Trang 8

4.2.3 Dư ̣a vào dân , phát huy vai trò của già làng, trí thức người có uy tín, xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán người dân tộc có năng lực 139 4.2.4 Kết hợp củng cố hê ̣ thống chính tri ̣ vững ma ̣nh đi đôi v ới việc xây dựng các đội chuyên trách trong cuộc đấu tranh chống FULRO 141 4.2.5 Thư ̣c hiê ̣n chính sách dân tô ̣c và tôn giáo một cách mềm dẻo, khéo léo, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa dân tộc tôn giáo 143 4.2.6 Chú trọng và tăng cươ ̀ ng hợp tác quốc tế trong cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO 145

KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐỂN LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do, tính cấp thiết của đề tài

FULRO là tên viết tắt của cụm từ tiếng Pháp (Front Unifié de Lutte des Races Opprimées - có nghĩa là: Mặt trận thống nhất đấu tranh dân tộc bị áp bức), là sản phẩm của chủ nghĩa ly khai dân tộc cực đoan kết hợp với âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam nhằm chia tách lãnh thổ, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc thành lập nhà nước riêng của FULRO

Tây Nguyên là mô ̣t phần không tách rời của Việt Nam Nơi đây có đông đồng bào các DTTS sinh sống , tài nguyên đa dạng phong phú Mảnh đất mới , màu mỡ, mô ̣t vi ̣ tri ̣ chiến lược về quốc phòng an ninh , kinh tế , xã hội , văn hóa , đối ngoại Thấy đươ ̣c tầm quan tro ̣ng này cả Pháp , Mỹ và các thế lực thù địch đều dày công hòng “nuốt go ̣n” “ mái nhà ” Đông Dương , ngay cả lúc còn đứng chân cho đến kế hoạch hậu chiến Chúng lập ra và nuôi dưỡng, điều khiển tổ chức FULRO ,

mô ̣t công cu ̣ mà chúng lèo lái theo mu ̣c đích riêng nhằm phá hoại chính sách dân tộc, đoàn kết của Đảng, Nhà nước

Vấn đề dân tộc, tôn giáo lại là mô ̣t vấn đề nha ̣y cảm, do vậy: “Đại đoàn kết toàn

dân tộc là dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và

nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Đảng, Nhà nước, nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn quán triê ̣t các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tô ̣c Đồng thời, căn cứ vào tình hình thực tiễn

để giải quyết các vấn đề liên quan đến vấn đề dân tộc Thực tiễn cho thấy, ở Việt Nam đa dân tộc, đa tôn giáo, song không hề xảy ra xung đột dân tộc, tôn giáo Đây đươ ̣c xem là thành công lớn của Đảng, của nhân dân cần được tổng kết và nghiên cứu vận dụng làm bài học cho các thế hệ mai sau cũng như làm kinh nghiệm cho các chính đảng cầm quyền khác trên thế giới Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII năm 2016, vấn đề đoàn kết dân tộc tiếp tục được khẳng định:

“Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Tiếp tục hoàn thiện các thể chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,

Trang 10

Tây duyên hải miền Trung… Chống kỳ thị dân tộc, nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” [132, tr 164-165]

Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô, Đông Âu đã làm cho các thế lực thù địch cho rằng thời cơ đã đến, chúng đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá nước ta, nhất là lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền Ngọn cờ ly khai dân tộc tự trị lại được khuấy lên để tập hợp những người có liên hệ với FULRO

và lừa phỉnh những người thiếu hiểu biết bằng ngọn cờ chính trị nhà nước “Đề Ga”, quốc đạo là “Tin Lành Đề Ga” đe do ̣a cuô ̣c sống bình yên nơi đây Do đó , nghiên cứu đấu tranh chống FULRO ta ̣i Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng vừa va ̣ch trần bô ̣ mă ̣t phản đô ̣ng xấu xa , xuyên tạc của các thế lực thù đi ̣ch , vừa giáo dục nhận thức cho đồng bào Mă ̣t khác làm cơ sở khoa ho ̣c để đấu tranh chống la ̣i những luâ ̣n điểm xuyên tạc sai trái của mô ̣t số ho ̣c giả và cá nhân ở nước ngoài

Tại các tỉnh Tây Nguyên, vấn đề FULRO về cơ bản đã được giải quyết xong, Đắk Lắk năm 1986, Lâm Đồng năm 1987, Gia Lai- Kon Tum năm 1988 Sự kiện năm 1992 số tàn quân cuối cùng của FULRO trú ẩn tại Campuchia tuyên bố tự giải tán chấm dứt hoạt động, đi tỵ nạn tại Hoa Kỳ Đây là điểm đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn về hệ thống tổ chức khung chỉ huy của FULRO từ TW tới cơ sở

Thời gian gần đây , trên địa bàn Tây Nguyên nói chung tình hình trở nên phức ta ̣p và tiềm ẩn mất an ninh trật tự Các cựu thành viên FULRO và các thế lực thù địch đã và đang ráo riết tái hoa ̣t đô ̣ng nhằm phu ̣c hồi cho cái go ̣i là “nhà nước Đề

Ga” Trước đó, ở Mỹ, chúng tiếp tục tụ tập trong các tổ chức, nhóm hội khác nhau như:

Hội những người Thượng DEGA (MDA) lập năm 1988 Hội những người miền núi MFI, lập năm 1992 Hội bảo vệ nhân quyền Thượng DEGA (MHRO) lập năm 1999 Quỹ người thượng do Kok Ksor cầm đầu lập ra “nhà nước ĐêGa tự trị” Hạ viện Mỹ đã ra đạo luật HR2431 “Đạo luật tự do quốc tế” (10- 1998), HR2368 về nhân quyền, Nghị viện châu Âu cũng thông qua “Nghị quyết về tình hình tôn giáo Việt Nam” (11-2003)… với nội dung xuyên tạc, vu khống tình hình dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam Bên cạnh đó, hàng loạt tổ chức lưu vong được thành lập nhằm phô trương thanh thế Bằng những luận điệu sai trái xuyên tạc và những hỗ trợ từ bên ngoài đã làm cho tình hình ở các tỉnh Tây Nguyên đầu năm 2001, 2004, 2008 trở nên rất phức tạp với nhiều cuộc biểu tình ba ̣o loa ̣n cục bộ ta ̣i nhiều nơi Do đó, chúng ta cần chủ động nghiên cứu

về Tây Nguyên, về sự lãnh đạo của Đảng trên mọi mặt tại khu vực này để có những quyết sách phù hợp với tình hình Tây Nguyên

Trang 11

Các thế lực thù địch đã tung tiền , phương tiện cũng như thanh viê ̣n cho FULRO Đồng thời, ra sứ c du ̣ dỗ, lừa ga ̣t, lôi kéo mô ̣t số đồng bào DTTS nhe ̣ da ̣ cả tin theo chúng, để tạo dựng nên “ nhà nước Đề Ga ” độc lâ ̣p , mưu toan phu ̣c hồi tổ chức FULRO, lôi kéo đồng bào vươ ̣t biên sang ti ̣ na ̣n chính tri ̣ ta ̣i Campuchia… để đấu tranh cho cái go ̣i là quyền “tự tri ̣” dân tộc cho người bản địa, âm mưu chia cắt đất nước phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chống lại chủ trương đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại khu vực

Nghiên cứu Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống FULRO tại Tây Nguyên giúp hiểu đúng về tổ chức FULRO, về chính sách dân tộc Cũng như về quá tình đấu tranh gian khổ của các LLVT và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, về nghệ thuật lãnh đạo xây dựng chính quyền cách mạng, về nhận thức và giải quyết căn bản vấn đề FULRO của Đảng tại các tỉnh Tây Nguyên Kết quả này, sẽ bổ sung một phần tư liệu về lịch sử Tây Nguyên, lịch sử dân tộc Qua đó, hiểu được bản lĩnh tài tình sáng tạo của Đảng trong giải quyết vấn đề dân tộc, đồng thời, rút ra những bài học kinh nghiệm trong giải quyết vấn đề quan hệ dân tộc Từ đó, làm thất bại các âm mưu của các thế lực thù địch, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách đối với đồng bào DTTS hiện nay, ngoài ra còn làm tư liệu giảng dạy và học tập lịch sử địa phương hiện đại Mặt khác, những trang

sử vẻ vang của quê hương sẽ góp phần bồi đắp thêm tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên hôm nay và mai sau Những bài học kinh nghiệm được đúc rút từ quá trình tiến hành đấu tranh chống FULRO có thể vận dụng vào việc xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay

Cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm 1988 dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã để lại cả thành công và hạn chế Do đó, việc nghiên cứu Đảng lãnh đạo đấu tranh chống FULRO ở Tây Nguyên là một yêu cầu khách quan, là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn quan trọng góp phần làm sáng tỏ một trang vàng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng, vừa có ý nghĩa thiết thực đúc kết những kinh nghiệm có thể vận dụng vào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên hiện nay

Trong nhiều năm qua, nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào DTTS Tây

Trang 12

Nguyên đã được đề cập từng phần hoặc theo từng nhóm góc độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có

hệ thống về vấn đề Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống FULRO tại Tây Nguyên Bản thân tôi là người đang sinh sống và công tác tại Tây Nguyên nên tôi ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này “nhẹ thì âm ỉ, nặng thì lại đổ máu” Vì vậy, tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu, hiểu rõ vấn đề này

Xuất phát từ những lý do cơ bản trên , tôi đã cho ̣n đề tài : “Đảng lãnh đạo đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm 1988” làm đề tài Luận án chuyên ngành lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cƣ ́ u

2.1 Mục đích

Nghiên cứu “ Đảng lãnh đạo đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên

từ năm 1975 đến năm 1988” tác giả nhằm làm sáng tỏ những chủ trương , giải pháp, quá trình chỉ đạo thực hiện những chủ trương, giải pháp đó của Đảng trong cuộc đấu tranh chống FULRO tại các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 1975-1988 Từ đó, rút

ra những bài học kinh nghiệm trong công tác giải quyết những vấn đề lịch sử và quan hệ dân tộc, cung cấp thêm một số luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương chính sách dân tộc và giải quyết các vấn đề liên quan đến dân tộc hiện nay nhất là tại Tây Nguyên

2.2 Nhiệm vụ

Trình bày có hệ thống tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nêu lên những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên

Tái hiện, chủ trương và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên của Đảng

Dựng la ̣i bức tranh về quá trình đấu tranh dai dẳng, gian khổ của nhân dân

và các LLVT ở Tây Nguyên để giải quyết vấn đề FULRO

Nêu ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế trong việc lãnh đạo đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên của Đảng, chỉ rõ những nguyên nhân của những

ưu, khuyết điểm đó

Đồng thời , đúc rút một số kinh nghiê ̣m Đảng lãnh đạo đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn (1975- 1988)

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm 1988

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luâ ̣n án có pha ̣m vi nghiên cứu trên đi ̣a bàn các tỉnh Tây Nguyên: Gia Lai- Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng (ngày nay bao gồm các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng) và một số vùng phụ cận nơi có FULRO hoạt động

Về thời gian: Chủ yếu nghiên cứu từ năm 1975 đến năm 1988 Năm 1975,

sau giải phóng Tây Nguyên, chính quyền cách mạng được thiết lập trên toàn bộ vùng đất Tây Nguyên, cuộc đấu tranh giải quyết FULRO bắt đầu với một giai đoạn mới, tính chất mới Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu các địa phương chống FULRO vẫn chưa có một sự chỉ đạo thống nhất từ TW tới cơ sở và cách giải quyết vấn đề vẫn chưa hiệu quả phù hợp, nặng về vũ trang Phải đến Chỉ thị 04 (ngày 2- 2- 1977) của Ban bí thư TW Đảng “Về việc tiếp tục phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị, truy quét FULRO, bảo vệ an ninh chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên và nam khu V cũ” thì cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO mới thực sự có hiệu quả với phương châm xác định đây là vấn đề “chính trị” Đến năm 1988 tỉnh Gia Lai- Kon Tum là tỉnh cuối cùng (trong ba tỉnh Tây Nguyên) giải quyết cơ bản xong vấn đề FULRO ở nội địa- cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO cơ bản đã hoành thành thắng lợi Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, nghiên cứu sinh có sử dụng một số tài liệu và tư liệu có liên quan trong khoảng thời gian trước năm 1975 và sau năm 1988

Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ những chủ trương, chính

sách, biện pháp của Đảng trên các mặt chính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế… nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn (1975-1988)

4 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu

4.1 Cơ sở lí luận

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về chính sách dân tộc

Trang 14

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc, đồng thời sử dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…

4.3 Nguồn tài liệu

Các tác phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng nhà nước , quân đội như: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh,

Các Văn kiện Đảng toàn tập (tập 13, từ tập 21 đến tập 26, từ tập 38 đến tập 44), các Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, V, VI, XII…

Các chỉ thị, báo cáo, nghị quyết của Khu uỷ khu V, VI, Ban Dân tộc TW và Đảng bộ các cấp lưu trữ tại Văn phòng Trung ương Đảng, Quân khu V, Cục an ninh Tây Nguyên, Ban chỉ đạo Tây Nguyên, Ban Dân tộc, Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Tây Nguyên

Các cuốn lịch sử Đảng bộ, các sách lịch sử địa phươn g, lịch sử các đoàn thể

cơ quan… tại các tỉnh Tây Nguyên

Các công trình nghiên cứu của các nhà s ử học, dân tộc học, các nhà hoạt

đô ̣ng chính tri ̣, quân sự qua các th ời kỳ, trong và ngoài nước Các bài báo , tạp chí, các luận văn, các đề tài khoa học… có liên quan đến luận án

Tài liệu qua khảo sát thực địa ở những địa bàn , di tích mà trước đây là nơi diễn ra đấu tranh chống FULRO quyết liê ̣t , một số bảo tàng, nhà trưng bày ở Pleiku, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt

5 Đóng góp của luận án

Thực hiện đề tài này, Luận án có các đóng góp như sau:

5.1.Về tư liệu

Sưu tầm, nghiên cứu, thẩm định, tâ ̣p hợp các khối tư liệu, tài liệu, nhất là những

tư liệu gốc thuộc lĩnh vực đấu tranh chống FULRO trong đó có những sử liệu mới

Tập hợp, hệ thống tư liệu góp phần nghiên cứu chủ trương chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc

Đây còn là tài liê ̣u tham khảo cho viê ̣c nghiên cứu li ̣ch sử đi ̣a phương , cho cuộc đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch Góp phần nâng cao nhận thức về dân tộc, cho cán bộ và nhân dân, làm thất bại chiến lược Diễn biến hòa bình hiện nay

Trang 15

Rút ra đặc điểm , ý nghĩa, bài học kinh nghiệm trong vấn đề Đảng lãnh đạo đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 1975- 1988

Công trình này, còn là tài liệu tham khảo trong giảng dạy , nghiên cứu lịch sử địa phương, góp phần giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ

6 Bố cục

Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án chia làm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về đấu tranh chống FULRO ở Tây Nguyên từ tháng 3 năm 1975 đến trước tháng 2 năm 1977

Chương 3: Đảng lãnh đạo đẩy mạnh đấu tranh chống FULRO ở Tây Nguyên từ sau tháng 2 năm 1977 đến năm 1988

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm về Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên (1975- 1988)

Trang 16

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

FULRO là mô ̣t vấn đề phức ta ̣p , lại là vấn đề chính trị nhạy cảm , hơn nữa nguồn tài liê ̣u khan hiếm, “mảnh đất” này hầu như vẫn chưa có ai khai phá că ̣n kẽ , nhất là chuyên nghiên cứu dưới góc độ khoa học lịch sử Đảng Tuy nhiên, FULRO nói chung là một đề tài hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước khi muốn tìm hiểu về Tây Nguyên, về chính sách dân tộc của chế độ VNCH trước đây và chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay cũng như cuộc đấu tranh dai dẳng này của nhân dân Việt Nam chống lại các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề FULRO ở Tây Nguyên

Mă ̣c dù vâ ̣y, liên quan đến nội dung chủ đề luận án, chúng tôi vẫn có thể tìm hiểu và khai thác vấn đề này thông qua mô ̣t số nhóm tài liê ̣u sau :

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về tổ chức FULRO

Trước hết phải kể đến những người thuộc về chính quyền miền Nam trước đây đã từng trực tiếp “làm việc” với FULRO Như tướng Vĩnh Lộc, Tư lệnh vùng II chiến

thuật thời VNCH viết: “Cái gọi là phong trào đòi tự trị FULRO” (do Phòng Nghiên

cứu chính trị phát hành, Pleiku- Ban Mê Thuột 9/1965) Đây là tài liệu sớm nhất viết

về phong trào FULRO Ở chương 1, tác giả liệt kê nguồn gốc nhân chủng các tộc người Tây nguyên Chương 2, tác giả trình bày “Phong trào tự trị của sắc dân RahDé” với nội dung đề cập các tác nhân tác động lên phong trào trong đó nổi bật là nhân tố Cao Miên, Pháp Chương 3, tác giả bàn luận sự kiện ngày 20- 9- 1964 tại Buôn Sarpa

và chính sách của chính quyền VNCH Tuy nhiên, chương này Vĩnh Lộc lại có quan điểm khi cho rằng FULRO nhận viện trợ súng đạn của “Việt Cộng” để chống lại VNCH Đến chương 4, tác giả trình bày sự kiện quân sự Buôn Briêng sau đó quy trách nhiệm cho các nhân tố Cao Miên, Pháp, Việt Cộng làm thổi bùng cuộc bạo loạn tại đây Ở chương 5, tác giả quy trách nhiệm cho các nhân tố trong đó có nhân tố

“Việt cộng” làm bùng phát FULRO, đồng thời ca ngợi chính sách nâng đỡ dân tộc của nền Đệ nhị cộng hòa Mặt tích cực của tác phẩm là những sự kiện “nóng” được phản ánh, lại là người trong cuộc trực tiếp giải quyết vấn đề FULRO Tuy nhiên, tác giả có quan điểm sai lầm cho rằng “Cộng sản” đã dùng mọi thủ đoạn để yểm trợ cho FULRO, kích động người Thượng nổi dậy chống chính quyền Sài Gòn, đòi độc lập

Trang 17

ở khu vực Cao Nguyên, đồng thời chứng minh cho những chính sách “tốt đẹp” của chính quyền Sài Gòn đối với DTTS, thanh minh cho cá nhân về những thất bại trên chiến trường vùng II thời gian đó

Nguyễn Trắc Dĩ (1969) ra mắt tại Sài Gòn tác phẩm mang tựa đề “Tìm hiểu Phong- Trào Tranh- Ðấu F.U.L.R.O (1958- 1969)” (Bộ phát triển sắc tộc ấn hành) Phần đầu, tác giả liệt kê miêu tả các sự kiện từ phong trào BAJARAKA đến phong trào FULRO Trong đó, miêu tả những sai lầm của chế độ Sài Gòn dưới thời Ngô Ðình Diệm và tướng Nguyễn Khánh đã đưa các dân tộc Cao Nguyên phát động phong trào BAJARAKA (1958) và cuộc vùng dậy của mặt trận FULRO năm 1964 Phần thứ hai, tác giả trình bày “Những thỏa hiệp đầu tiên đưa đến cuộc trở về đợt 1 của anh em FULRO” Trong phần này, Nguyễn Trắc Dĩ đã miêu tả khá chi tiết các

sự kiện quá trình đàm phán giữa chính quyền VNCH với tổ chức FULRO cũng như các yêu sách được trình bày tại Đại hội sắc tộc thiểu số thiểu số Cao nguyên Phần thứ ba của tác phẩm, Nguyễn Trắc Dĩ trình bày diễn biến chính kể từ sau khi FULRO trở về hợp tác với chính quyền cùng những thỏa thuận giữa hai bên Phần cuối - “Ý nghĩa cuộc trở về hợp tác của anh em FULRO”, Nguyễn Trắc Dĩ đứng ra

ca tụng những thành quả tốt đẹp của chính sách dân tộc mà chính phủ Thiệu - Kỳ đã dành cho các dân tộc Cao Nguyên, để từ đó kết luận “ngày nay tình đoàn kết Kinh Thượng được bền chặt, không khí cao nguyên trong lành và cởi mở”

Ngoài ra, Nguyễn Trắc Dĩ cũng viết nhiều tài liệu có liên quan tới FULRO như:

“Hội đồng các sắc tộc – Một tân định chế của dân chủ của nền đệ II Cộng hòa Việt Nam”, Bộ phát triển sắc tộc xuất bản tại Sài Gòn năm 1970 “Nhật ký của các phong trào tranh đấu của đồng bào Thượng (1959- 1969)” xuất bản năm 1969 Trong tác phẩm “Nhật ký của các phong trào tranh đấu của đồng bào Thượng (1959- 1969)”, Nguyễn Trắc Dĩ đã lần lượt giới thiệu về nguyên nhân ra đời, hoạt động và những cuộc đối thoại giữa chính quyền VNCH với phong trào FULRO để cuối cùng kết thúc 10 năm tranh đấu của tổ chức này FULRO trở về hợp tác với chính quyền trong “tinh thần dân tộc hòa đồng”.… Nhìn chung, các tài liệu này chỉ

bổ sung tư liệu hoạt động của FULRO trước giải phóng mà thôi, xong đây là những nguồn tư liệu quý về chính sách của chính quyền miền Nam trước đây đối với đồng bào DTTS Tây Nguyên nói chung và FULRO nói riêng

Năm 1967, Phủ đặc ủy Thượng vụ (Sài Gòn) cho “ấn hành” tài liệu “Đại hội các sắc tộc thiểu số Việt Nam” Đây là tài liệu tuyên truyền của chính quyền VNCH

Trang 18

thời đó về chính sách đối với đồng bào DTTS Tây Nguyên lúc bấy giờ Tài liệu với

70 trang, đã tập trung diễn tả lý do có Đại hội; các chính sách nâng đỡ đồng bào Thượng; Tổng kết hai năm thành tích Thượng vụ của Nội các chiến tranh; Quan điểm của các nhà cầm quyền VNCH từ Tướng Vĩnh Lộc, Nguyễn Cao Kỳ… về vấn

đề Thượng; Bản thỉnh nguyện của Đồng bào DTTS Cao nguyên… Nhìn chung, đây

là tài liệu quý để tìm hiểu về chính sách của chính quyền VNCH đối với đồng bào Tây Nguyên nói chung và tổ chức FULRO nói riêng

Paul Nur (năm 1966) - Tổng trưởng Phát triển sắc tộc của chính quyền VNCH-

cũng cho ra mắt tác phẩm “Sơ lược về chính sách Thượng vụ trong lịch sử Việt Nam”,

Phủ Đặc ủy Thượng vụ, Sài Gòn phát hành Với cương vị là người đứng đầu chính quyền phụ trách vấn đề dân tộc thiểu số Paul Nur đã diễn tả chính sách của các chính quyền từ phong kiến qua thời thuộc địa cho đến tại thời điểm tác giả viết đối với khu vực DTTS Đặc biệt, trong tác phẩm của mình, Paul Nur đã dựng lại các chính sách của các chính quyền liên quan đến khu vực Tây Nguyên Trong đó, chỉ ra những chính sách của Pháp, sai lầm của chính quyền Ngô Đình Diệm và xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng Lao động Việt Nam tại các khu tự trị ở miền Bắc và Tây Nguyên Theo đó, Paul Nur gọi là Chính sách dân tộc tự trị và âm mưu “xích hóa” vùng Thượng, nhằm

“vận động đồng bào Thượng tham gia vào cuộc chiến tranh” và “mục đích xa nhằm san bằng biên giới sắc tộc và tiến tới Cộng sản hóa dân tộc miền núi” Song đây cũng là tài liệu quý về các tư liệu liên quan đến chính sách dân tộc của VNCH đối với DTTS Tây Nguyên trước năm 1975 để tác giả tham khảo

Năm 1980, bằng chính sách khoan hồng của nhà nước, các cán bộ trại cải tạo đã vận động được 8 người theo FULRO, bằng thực tiễn đã tham gia và hiểu biết của mình đã tự viết lên tài liệu “Quá trình phát sinh phát triển của tổ chức phản động FULRO” – Tài liệu lưu tại Thư viện Quân đội Tài liệu gồm ba phần: Nguồn gốc của tổ chức FULRO; Âm mưu của đế quốc và hoạt động của tổ chức phản động FULRO qua từng thời kỳ; Đối phó với đế quốc bên ngoài và tổ chức phản động FULRO Nhìn chung, đây là một tài liệu quý, bởi tài liệu được viết ra chính bởi những người từng tham gia hoạt động FULRO với những cương vị khác nhau, sau một thời gian nhận thức, cải tạo để trở về với cộng đồng buôn làng Qua tài liệu, đã cung cấp cho người đọc rất nhiều sự kiện, nhân vật, cơ cấu tổ chức, phân cấp, phân vùng của tổ chức FULRO cũng như nguyện vọng của số FULRO

và đồng bào đối với chính quyền các tỉnh Tây Nguyên

Trang 19

Năm 1983, Phòng khoa học Quân sự Quân khu V biên soạn tài liệu tham khảo “Sơ lược về nguồn gốc tổ chức của bọn phản động FULRO trên địa bàn Tây Nguyên” Đây là tài liệu đánh máy hơn 22 trang, biên soạn dựa theo tài liệu tham khảo của Cục nghiên cứu, tài liệu của Bộ nội vụ, Thông báo của phòng 2 – Quân khu V và tài liệu lấy được của FULRO Qua đó, cung cấp nhiều tư liệu quý về tổ chức FULRO khi mới hình thành đến năm 1985 về: Cơ cấu tổ chức của FULRO, thành phần lãnh đạo, sự mâu thuẫn nội bộ và thay đổi nhân sự của tổ chức cũng như các hoạt động chống phá cách mạng của FULRO sau giải phóng đến năm 1985 Phần thứ nhất tài liệu làm rõ “nguồn gốc hình thành phong trào BAJARAKA đến tổ chức FULRO, hoạt động của nó từ năm 1958 đến tháng 3 năm 1975 khi ta giải phóng Tây Nguyên” Phần thứ hai tài liệu làm rõ “Hoạt động của FULRO từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay” Ngoài ra, tài liệu còn phần kết luận với 4 vấn đề, đó là: Một là quá trình ra đời và hình thành của FULRO gắn liền với chính sách chia để trị của Pháp và Mỹ cũng như các thế lực khác; Hai là: mặt phức tạp của vấn đề là chiêu bài dân tộc tự trị để lừa gạt mê hoặc quần chúng; Ba là nhiệm vụ đấu tranh chống FULRO vừa là nhiệm vụ cấp bách vừa lâu dài; Bốn là đấu tranh giải quyết FULRO là sự kết hợp của ba nước Đông Dương khi giải quyết các lực lượng phản động ở mỗi nước Nhìn chung, đây là tài liệu quý, với nhiều sự kiện được nêu ra phục vụ “để giúp cho công tác các địa phương và các đơn vị làm nhiệm vụ phát động quần chúng đấu tranh”

Năm 1989, Trần Ngọc Quế đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng

03/1989 bài viết “Tìm hiểu hoạt động của FULRO từ sau xuân 1975 đến nay” Đây là bài viết công phu với nhiều tư liệu được cập nhật tại thời điểm lúc bấy giờ, đồng thời tác giả đưa ra một số nhận định của mình để giải quyết vấn đề FULRO Nội dung bài viết, tác giả làm rõ ba giai đoạn hoạt động của tổ chức FULRO: Phần thứ nhất là giai đoạn 1975- 1976, FULRO bung ra hoạt động theo kế hoạch hậu chiến của Mỹ; Phần thứ hai tác giả làm rõ hoạt động của FULRO giai đoạn 1977, 1978 khi FULRO lợi dụng cuộc chiến tranh biên giới; Phần thứ ba, tác giả đưa ra nhận định “sau thất bại nặng nề của Đông Xuân năm 1984- 1985, FULRO không tránh khỏi suy sụp tan rã”; Cuối cùng, tác giả đưa ra 3 kết luận đó là: FULRO là quân bài phục vụ cho ý đồ của các thế lực thù địch; Phương thức hoạt động của FULRO là lấy hoạt động chính trị là chính, do vậy đấu tranh chống FULRO là vấn đề chính trị kết hợp quân sự; Đấu tranh chống FULRO gắn liền với chấp hành chính sách dân tộc của Đảng

Trang 20

Năm 2001, trong công trình khoa học nhà nước (KHXH.04-05) nghiên cứu:

“Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay”, sau đó xuất bản thành sách do Giáo sư Phan Hữu Dật (chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia Tác phẩm do các nhà khoa học đầu ngành dân tộc học thực hiện Đây là công trình khoa học công phu, với sự tham gia của nhiều nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau Trong đó công trình này, các tác giả đã làm rõ khái niệm về dân tộc theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tiếp đó, các tác giả làm rõ vấn đề xung đột dân tộc hiện nay dưới góc độ lý luận và thực tiễn Ở chương III, các tác giả đã làm rõ những chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam và quan hệ dân tộc ở nước ta Trong chương cuối cùng, công trình trên đã điểm qua mối

“quan hệ” dân tộc ở các vùng DTTS như vùng dân tộc Chăm, vùng dân tộc Khơme, đặc biệt là vùng Tây Nguyên Trong chương này, các tác giả đã dựng lại sự ra đời và hoạt động của tổ chức FULRO trên ba vùng DTTS là Tây Nguyên, Chăm và Khơme cũng như các yếu tố quốc tế tác động lên tổ chức FULRO Đối với khu vực Tây Nguyên, các tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữ dân tộc Kinh với các DTTS Tây Nguyên, trong đó đưa ra ba vấn đề dưới góc độ quan hệ dân tộc (tàn phá môi trường; thái độ đối với phong tục tập quán của cư dân Tây Nguyên; sự di dân và tranh chấp nguồn lợi) Đây được xem là tài liệu lý luận, qua đó đưa những khuyến nghị Đảng nhà nước, định hướng cho công tác dân tộc hiện nay

Tháng 2 năm 2001 khi tình hình Tây Nguyên phức tạp, Tổng cục chính trị, Thư viện quân đội biên soạn “Tài liệu nghiên cứu phục vụ lãnh đạo về Nhà nước ĐêGa và tổ chức FULRO” Ở tài liệu này đã cung cấp cho người đọc những thông tin cơ bản về nhà nước Đê Ga và tổ chức FULRO như: tên gọi, quốc kỳ, quốc ca, lịch sử, mục đích hoạt động… Đây được xem là tài liệu tình thế giải đáp những thắc mắc cho lãnh đạo và độc giả khi muốn tìm hiểu về Tây Nguyên nhất là sau các cuộc bạo loạn Tuy nhiên, tài liệu này người biên soạn mới chỉ dừng lại mức khái quát quá trình hình thành và tồn tại của FULRO theo thời gian từ khi nó hình thành cho đến cuộc bạo loạn ở Tây Nguyên

Ở nước ngoài, mô ̣t số ho ̣c giả cũng để tâm đ ến vấn đề này như : Gerald C Hickey với cuốn “The Highland people of South Vietnam: Social and economic development” năm 1967; Đến năm 1982 tiếp tục ra mắt cuốn “Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands, 1954-1976”; Norman Charles Labrie (1971) cho ra mắt cuốn “FULRO: The History of Political Tension in the South Vietnamese

Trang 21

Highlands” Podharman với tác phẩm “Du FLM au Fulro, Une lutte des minori tés

du sud indochinois 1955-1975”…

Năm 1967, Gerald C Hickey cho xuất bản cuốn “The Highland people of South Vietnam: Social and economic development”- (Người Thượng ở Nam Việt Nam: Phát triển kinh tế xã hội) Đây là kết quả quá trình công tác, nghiên cứu về Tây Nguyên của tác giả, qua kết quả nghiên cứu của Hickey, có thể thấy tình hình kinh tế xã hội Tây Nguyên, quá trình đấu tranh và hoạt động của tổ chức FULRO đã tác động, làm thay đổi như thế nào đến chính sách của Mỹ và chính quyền VNCH đối với Tây Nguyên

Norman Charles Labrie với “Fulro: Tình hình chính trị căng thẳng ở Tây Nguyên Việt Nam” (1971), xuất bản tại Đại học Massachusetts ở Hoa Kỳ Đây là kết quả nghiên cứu trong thời gian Ông ta có mặt tại Việt Nam - Tác giả là một tùy viên chính trị của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn những năm 1968, 1969 Nội dung tác phẩm có thể thấy rõ qua hai vấn đề, đó là: Chính sách của Thực dân Pháp để kiểm soát đối với Tây Nguyên và sự vùng dậy của phong trào FULRO cho đến năm 1970 Ở chương 1, tác giả khái quát lịch sử, văn hóa, kinh tế các dân tộc Tây Nguyên và chính sách của Thực dân Pháp đối với khu vực này Chương 2, tác giả làm nổi bật các nguyên nhân dẫn đến

sự ra đời của FULRO, trong đó có nội dung sự liên hệ giữa FULRO với Quân đội Mỹ Chương cuối cùng, Norman Charles Labrie gợi mở một viễn cảnh tương lai tốt đẹp của người dân Tây Nguyên dưới CQSG

Ngoài mặt tích cực khi tìm nguyên nhân bùng nổ phong trào - ông ta cho rằng chính sách không tôn trọng dân tộc Tây Nguyên của chính quyền Sài Gòn và sự khác biệt về quyền công dân giữa người Kinh ở miền đồng bằng và DTTS ở Tây Nguyên, vấn

đề căn nguyên đất đai… là lý do chính đáng của sự ra lời phong trào FULRO Song tác giả quy kết FULRO có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Một điểm tích cực của tác phẩm là các quan điểm của FULRO được trình bày dựa trên chính các thành viên FULRO mà tác giả tiếp cận Tuy nhiên, tác giả chỉ sử dụng tư liệu đã xuất bản hay tin tức do chính quyền đương đại miền Nam cung cấp, vì thế nội dung của nó chỉ là vấn đề FULRO nhìn qua quan điểm của Mỹ và Sài Gòn mà thôi

Gerald Cannon Hickey cũng rất quan tâm đến vùng Tây Nguyên khi cho ra đời tác phẩm sử học - dân tộc học “Free In The Forest- Ethnohistory of the Vietnamese Central Hkhlands, 1954-1976”- (Tự do trong Rừng- Lịch sử tộc người ở vùng đất Tây

Nguyên, 1954-1976) Đây là tác phẩm của người trực tiếp, tiếp cận với các hoạt động

Trang 22

của FULRO trên vùng đất Tây Nguyên, các sự kiện từ nhỏ nhất đến nóng nhất đều được tác giả ghi lại trong tác phẩm của mình ở giai đoạn trước năm 1976

Tác phẩm bao gồm 8 chương, miêu tả cụ thể tỷ mỷ từng sự kiện và nhân vật có ảnh hưởng đến tổ chức FULRO ở Tây Nguyên Tại chương 1- “Chiến tranh”, tác giả phân tích tình hình chính trị miền Nam sau hiệp định Giơnevơ, nhất là các chính sách đồng hóa của chính quyền Ngô Đình Diệm Ở chương 2 có tên là “Ý thức hệ dân tộc và vùng dậy đấu tranh” Trong chương này, tác giả phân tích các yếu tố, nguyên nhân đẫn đến vùng dậy đấu tranh của đồng bào Tây Nguyên Trong chương 3 với nhan đề là

“Mặt trận FULRO”, tác giả chỉ ra những yếu tố tác động dẫn đến sự ra đời của tổ chức FULRO và vai trò chính trị của nó trên bàn cờ chính trị Đông Dương Ở chương 4, tác giả nói đến cuộc chiến tranh giữa FULRO và CQSG cũng như cuộc thương lượng giai giẳng của hai bên Đến chương 5- “Tết Mậu Thân và biến đổi chính trị”- tác giả đã phân tích vai trò, vị trí của ba lực lượng trên địa bàn Tây Nguyên, đó là CQSG, FULRO và Phong trào Tây Nguyên tự trị Trong chương 6 với tiêu đề “ảnh hưởng của chiến tranh”, tác giả phân tích vai trò của chiến tranh trong chính sách đối với DTTS Tây Nguyên của CQSG Qua đó, kết luận FULRO không còn là kẻ thù của CQSG nữa

mà đã trở thành bạn đồng minh chống lại Cộng sản trên toàn Đông Dương Ở chương

7, tác giả đã miêu tả sự tàn phá của chiến tranh, đưa ra quan điểm đổ lỗi cho Việt Cộng

là nguyên nhân của sự tàn phá đó, đồng thời gợi mở tương lai tốt đẹp hoàn toàn là do CQSG quyết định Cuối cùng, chương 8 với nhan đề - “Giữa số 0 và số cộng vô cực”- tác giả đã đưa ra những luận điệu sai trái khi cho rằng FULRO đã “cùng hội cùng thuyền” với Quân giải phóng trong việc giải phóng Tây Nguyên năm 1975

Tóm lại, tác phẩm “Free In The Forest- Ethnohistory of the Vietnamese Central Hkhlands, 1954-1976”- của Gerald Cannon Hickey đứng về mặt sử liệu học là một công trình tỷ mỷ, nhưng do nguồn tư liệu chủ yếu khai thác từ phía quân đội Mỹ và CQSG nên đã đánh giá, nhìn nhận nhiều sự việc mang tính một chiều, thiếu khách quan, nhìn nhận phong trào FULRO dưới lăng kính của một phía mà thôi

Vào lúc 14g, chiều ngày thứ 7 (19/ 4/ 2008), tại Hội trường Nhật báo viễn Đông (Westminster, Los Angeles, USA), tổ chức IOC- Chapa đã tổ chức ra mắt tác phẩm “Từ mă ̣t trâ ̣n giải phóng dân tô ̣c thượng đến phong trào FULRO : cuộc đấu tranh của dân tô ̣c thiểu số miền nam Đông Dương (1955-1975)”, NXB Les Indes Savanvtes thuộc Viễn Đông học viện Pháp ấn hành (2006) của Phó giáo sư , Tiến sĩ Podharman người Pháp (gốc Chăm , cựu thành viên FULRO ) Đây vốn là bản

Trang 23

chuyển ngữ từ tiếng Pháp tác phẩm “Du FLM au Fulro, Une lutte des minori tés du sud indochinois 1955-1975” sang bản tiếng Việt và phổ biến tại hải ngoại

Cuốn sách với nhiều tư liệu gốc được khai thác từ chính các thành viên FULRO

ở nước ngoài và đối chứng với các tư liệu khác đã phát hành nên sâu chuỗi được sự ra đời, hoạt động của các DTTS Đông Dương dưới thời VNCH từ năm 1955 đến năm

1975, cũng như chính sách của các nhà cầm quyền lúc đó đối với FULRO Mặc dù, như lời giới thiệu của tập sách “không nhầm gây hận thù dân tộc, khơi dậy lòng ái quốc, khuyến khích ý đồ ly khai đòi tự trị hay độc lập, mà là làm sáng tỏ nguồn gốc đấu tranh của các sắc tộc ở miền Trung Việt Nam mà thôi” Nhưng ẩn trong tác phẩm là nhiều quan điểm cá nhân, ca ngợi những thủ lĩnh FULRO gốc Chăm, yếu tố cá nhân mang đậm nét hơn là quy luật lịch sử, sự xung đột của FULRO với “Việt cộng” được tác giả khoét sâu, là âm mưu chia cắt đất nước, chia rẽ dân tô ̣c đòi quy chế dân tô ̣c bản đi ̣a cho người Chăm và Tây Nguyên, minh chứng FULRO không phải là biến cố chính trị nhất thời mà là truyền thống đấu tranh của dân tộc Chăm, từ đó khơi gợi chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phục hồi nhà nước Chăm Pa bao gồm cả vùng đất Tây Nguyên trước vốn thuộc ảnh hưởng của Vương quốc Chăm Pa

Nhìn chung, các công trình trên của các cá nhân học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về nguồn gốc quá trình ra đời, cũng như hoạt động của tổ chức FULRO

kể từ khi nó ra đời cho tới khi nó tan rã, các tư liệu sự kiện mang tính thông sử Do vậy, đây là nguồn tư liệu quan trọng để tác giả tìm hiểu về nguyên nhân ra đời và hoạt động cũng như thái độ chính trị của các lực lượng đối với tổ chức FULRO

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về đấu tranh chống FULRO

Nghiên cứu về đấu tranh chống FULRO ở Tây Nguyên trong thời gian qua, phải kể đến LLVT chuyên nghiên cứu nhằm phu ̣c vu ̣ công tác đấu tranh chính tri ̣, quân sự, nghiệp vụ chống FULRO Đã có những tài liê ̣u đánh máy , viết tay hay lưu hành nội bộ, đó là các da ̣ng báo cáo điều tra về mô ̣t số cá nhân , chuyên án hay mô ̣t mảng của tổ chức FULRO Nhìn chung, những tài liê ̣u này không được phổ biến vì đó là “tài liệu mật” và mang tính nghiệp vụ

Năm 1982, Ty văn hóa và Thông tin tỉnh Đồng Tháp xuất bản cuốn “Võ Đại Tôn, FULRO và đồng lõa sa lưới” Tập sách là tập hợp các bài viết trên Báo Nhân Dân số ngày 26/9/1982, bài ghi chép của Nguyễn Trần Thiết, Thành Tín viết về những chiến công của lực lượng an ninh trong cuộc đấu tranh xóa bỏ các

tổ chức phản động chống phá nhà nước và nhân dân trên địa bàn Tây Nguyên Năm 1983, tác giả Thành Tín viết tác phẩm “Ðập nát công cụ hậu chiến CIA:

Trang 24

FULRO”, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Công trình này là tập hợp các bài viết ngắn ngọn về cuộc đấu tranh chống FULRO của các LLVT cũng như âm mưu, can

dự của các thế lực thù địch quốc tế đối với tổ chức này Nội dung chủ yếu xoay quanh cuộc đấu tranh chống FULRO ở Nam Tây Nguyên, việc bắt Phó thủ tướng FULRO - Ya Đuk, K’Ty- chỉ huy Quân khu IV FULRO… Cũng như cuộc đấu trí tuyệt vời và hy sinh của lực lượng công an các tỉnh Tây Nguyên

Đối với công tác nghiệp vụ, cũng có thể tìm hiểu một số tài liệu chuyên môn như: Cục trinh sát Bộ tư lệnh bộ đội biên phòng- Bộ quốc phòng (1982),

“Một số vấn đề, phương thức thủ đoạn hoạt động của bọn phản động và công tác đấu tranh của ta” Viễn Chi (1983), “Mấy vấn đề đấu tranh chống phản cách

mạng sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng”, NXB CAND Các tài liệu này

cũng trình bày chung khái quát về lý luận, nghiệp vụ của nghành chống lại các lực lượng phản động nói chung và FULRO nói riêng Tuy nhiên, nó mang tính nghiệp vụ hơn là khoa học

Với “FULRO- Tập đoàn tội phạm” Tác giả Ngôn Vĩnh, NXB CAND (1983) đã làm tái hiện lịch sử và hoạt động đầy tội ác, âm mưu và can dự của quốc tế đối với tổ chức này Với dung lượng gần 300 trang, tài liệu viết nhiều về lực lượng FULRO Chăm ở Thuận Hải (cũ) Nguồn tư liệu phong phú, được khai thác từ nhiều

cơ quan đơn vị như: Cục bảo vệ chính trị II- Bộ nội vụ; Đoàn chống FULRO- Bộ nội vụ; Công an các tỉnh Tây Nguyên, Thuận Hải; Các cán bộ làm nhiệm vụ quốc tế

ở địa bàn K; Các cựu thành viên FULRO…

Cùng mảng đề tài, Nguyễn Chu Hoàng (1986) viết “Những Cơn lốc cao nguyên”, NXB CAND Nguyễn Trần Thiết cũng tập hợp các tư liệu chủ yếu là các báo cáo của Quân khu V để viết tác phẩm “Nữ tướng FULRO”, NXB QĐND năm

1988 Đây là hai tài liệu của LLVT viết về các chuyên án đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Lâm Đồng và Đăk Lăk nhưng viết dưới dạng kể chuyện Qua hai tài liệu này, những khó khăn thiệt hại do FULRO gây ra được tác giả đi vào chi tiết càng làm nổi bật cuộc chiến đấu tranh gay go quyết liệt

Trong các công trình thuộc lịch sử của LLVT các tỉnh Tây Nguyên như: Công

an tỉnh Gia Lai (2000) “Lịch sử công an tỉnh Gia Lai ” (tập III) Công an tỉnh Lâm Đồng (2003) “Lịch sử Công an nhân dân Lâm Đồng (1975 – 1996)” Thành ủy Buôn

Ma Thuột (2004) “Lịch sử lực lượng vũ trang thành phố Buôn Mê Thuột (1961- 2000) Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đắk Lắk (2003), “Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đăk Lăk (1965-2000)” Bộ chỉ huy quân sự Gia Lai (2011), “Lịch sử lực lượng vũ trang Gia Lai

Trang 25

1945- 2005”, NXB QĐND… đều đưa vấn đề chống FULRO vào nội dung tài liệu Đây

là tài liệu lịch sử nghành của các LLVT, đơn vị trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên mà trong đó nội dung cũng đề cập nhiều đến cuộc đấu tranh chống FULRO tại các đơn vị mình Đây còn là tài liệu quan trọng với dung lượng tương đối lớn, nguồn tư liệu gốc, số liệu phong phú được lấy từ các Báo cáo của các Cơ quan quân sự, công an các tỉnh, huyện thị … Qua đó, đã tập trung làm rõ tiến trình đấu tranh gian khổ giải quyết vấn đề FULRO trên địa bàn các tỉnh và biên giới các tỉnh Tây Nguyên với tỉnh Moondônkiri (Campuchia) kể từ sau giải phóng đến năm 1992

Trong cuốn “Lịch sử Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đắk Lắk (1965-2000)” Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đắk Lắk xuất bản năm (2003), đã trình bày diễn biến chính các cuộc truy quét FULRO từ năm 1975 cho đến năm 1992 trên địa bàn tỉnh Đăk Lắk với nhiều tư liệu, số liệu cụ thể của tỉnh Do đó, đây là nguồn tài liệu quý báu cho tác giả khi muốn tìm hiểu về đấu tranh chống FULRO trên mặt quân sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Năm 2008, Thường vụ Đảng ủy Bộ tư lệnh Quân khu V cho xuất bản cuốn sách

“Biên niên sự kiện lực lượng vũ trang Quân khu V (1975-2000)”, NXB QĐND Với lối viết biên niên, tài liệu đã khái quát được các hoạt động của các LLVT Quân khu V trong vòng 25 năm kể từ sau ngày giải phóng Trong đó, có nhiều sự kiện liên quan đến hoạt động đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên

Gần đây, có hai công trình khoa học của hai cơ quan thuộc LLVT từng trực tiếp đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO đó là: Đề tài khoa học “Tổng kết lịch sử cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO”, NXB CAND, Hà Nội năm 2000 Đây là đề tài do Tiến sĩ Nông Văn Lưu, Phó cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị IV Bộ Công an làm chủ nhiệm Tài liệu xuất bản gần 200 trang, trong đó với 140 trang nội dung, chia làm hai phần đề cập đến khái quát lịch sử FULRO và cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO Phần thứ hai, các tác giả rút ra năm bài học kinh nghiệm Ở tài liệu này, nhiều

tư liệu gốc về các chuyên án FULRO của bên an ninh được các tác giả khai thác triệt

để, các báo cáo của các Ty công an địa phương, các nhân chứng trực tiếp tham gia đánh án… cũng được phán ánh qua từng trang viết Hệ thống các sơ đồ khung chính quyền, tổ chức quân sự của FULRO được tái hiện đầy đủ… Tuy nhiên, ở nội dung tài liệu này ta thấy, việc phân tích các bài học kinh nghiệm thiên về khoa học an ninh hơn

là khoa học lịch sử, giai đoạn FULRO sau năm 1975 chỉ được đưa ra khái quát, sự chỉ đạo của Đảng về đấu tranh chống FULRO mới được liệt kê Song đây là tài liệu quý để cho tác giả tham khảo khi thực hiện đề tài luận án

Trang 26

Năm 2012, Quân khu V cũng hoàn thành đề tài “Tổng kết hoạt động truy quét,

triệt phá tổ chức phản động FULRO trên địa bàn Quân khu 5 (1975 – 1992)” do Đại tá

Trương Cường- Phòng khoa học công nghệ và môi trường Quân khu V (Chủ nhiệm) Toàn bộ công trình với dung lượng hơn 200 trang A4, trong đó nội dung 150 trang còn lại là phụ lục, sơ- biểu đồ, tranh ảnh, tư liệu đánh máy… Đây là công trình công phu với nguồn tư liệu phong phú hầu hết là tư liệu gốc báo cáo của các cơ quan đơn vị LLVT thuộc địa bàn Quân khu V Phần thứ nhất của công trình, đề tài làm rõ “Những yếu tố tác động chính đến cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO trên địa bàn Quân khu V”; Phần thứ hai, đề tài tiếp tục làm rõ “Diễn biến quá trình đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO (1975-1992)”; Phần cuối cùng, đề tài làm rõ những ưu khuyết điểm và rút ra 5 bài bài học kinh nghiệm Đây là tài liệu quan trọng cho luận án khi nó kế thừa thành quả nghiên cứu của khoa học lịch sử quân sự Tuy nhiên, đề tài chỉ tập chung nội dung là

“tổng kết” trên phương diện quân sự “truy quét, triệt phá” vấn đề FULRO mà chưa đi sâu vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đấu tranh chống FULRO trên các lĩnh vực chính trị- kinh tế- xã hội…

1.1.3 Những công trình nghiên cứu về Đảng lãnh đạo đấu tranh chống FULRO và nghiên cứu khoa học về Tây Nguyên góp phần giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên

Trước hết phải kể đến một số công trình chuyên khảo về dân tộc học ở Tây Nguyên như: Cửu Long Giang - Toan Ánh (1974), “Miền Thượng Cao nguyên Việt Nam”, Sài Gòn; Đặng Nghiêm Vạn (1981), “Các dân tộc tỉnh Gia Lai- KonTum”, NXB KHXH, Hà Nội Bế Viết Đẳng, Chu Thái Sơn, Vũ thị Hồng, Vũ Đình Lợi (1982), “Đại cương về các dân tộc Ê Đê, Mnông ở Dak Lak”, NXB KHXH, Hà Nội Mạc Đường (1983), “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng”, Sở Văn hóa-Thông tin Lâm Đồng Bùi Minh Đạo (2003), (chủ biên), “Dân tộc Cơ ho ở Việt Nam”, NXB KHXH, Hà Nội… Đây là các công trình của tập thể và cá nhân các cán bộ làm khoa học ở miền Nam trước đây và Viện KHXH thuộc Ủy ban KHXH Việt Nam thực hiện sau giải phóng Trong các tài liệu này, các nhà khoa học đã đề cập nhiều vấn đề từ lịch sử, kinh tế, quan hệ dân tộc, văn hóa, chính sách dân tộc, chuyển biến kinh tế xã hội… của cộng đồng các DTTS Tây nguyên, đặc biệt là những đổi thay trong đời sống đồng bào DTTS kể từ sau giải phóng

Công trình “Miền Thượng Cao Nguyên Việt Nam” của Cửu Long Giang - Toan Ánh (Sài Gòn, 1974) đã khái quát các khía cạnh từ nguồn gốc đồng bào Thượng đến địa

lý và lược sử vùng đất Tây Nguyên, từ nếp sống, sinh hoạt chung đến từng thành phần dân tộc bản địa nơi đây Tác giả đã đi sâu phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa

Trang 27

của các dân tộc bản địa Tây Nguyên Đây là công trình nghiên cứu công phu về vùng đất

và đồng bào các DTTS Tây Nguyên dưới thời VNCH

Năm 1986, NXB QĐND xuất bản sách “Báo cáo tổng kết cuô ̣c kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên chiến trường khu VI cực Nam Trung bộ và Nam Tây

Nguyên” và năm 1992, Viện Lịch sử Đảng và Hội đồng biên soạn lịch sử “Nam

Trung Bộ kháng chiến (1954-1975)” Đây là hai công trình quan trọng viết về lịch

sử chiến tranh của khu V- nơi mà không gian bao chùm lên toàn bộ khu vực Tây Nguyên Qua hai tài liệu này, nhiều chi tiết nhìn nhận đánh giá về FULRO được trình bày khách quan như: Nguyên nhân ra đời của phong trào, thái độ của cách mạng với FULRO… Đây là những tư liệu để tác giả viết về đấu tranh chống FULRO trước năm 1975

Bên cạnh đó phải kể đến những tác phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng, nhà nước, bài viết, công trình luận văn, luận án của các nhà khoa học viết về sự thay đổi trên các mặt của Tây Nguyên… Qua đó, hiểu rõ hơn về công cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO tại nơi đây

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1978) viết “Xây dựng Lâm Đồng thành một tỉnh giàu, mạnh, đẹp”, do Ty văn hóa và Thông tin Lâm Đồng xuất bản Tổng bí thư Lê Duẩn (1979), “Tây Nguyên đoàn kết tiến lên”, NXB Sự Thật, Hà Nội Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh (1983), “Báo cáo và đề nghị về vấn đề đưa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tiến lên chủ nghĩa xã hội (Ngày 24 tháng 5 năm 1983)”, in

trong “Trường Chinh tuyển tập (1976-1986), Tập III”, xuất bản năm 2009, NXB

CTQG (Truy cập tại địa chỉ: dang/sach-chinh-tri/books-010220154344256/index-41022015424075628.html)

http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-Đây là tập hợp các bài phát biểu, báo cáo khảo sát của Đại tướng, Phó thủ tướng Hội đồng bộ trưởng Võ Nguyên Giáp, Tổng bí thư Lê Duẩn, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh trong chuyến công tác vào thăm các tỉnh Tây Nguyên Các bài viết này, đã phân tích những đặc thù về dân tộc, dân cư, vị trí, vai trò của các tỉnh Tây Nguyên đồng thời chỉ đạo các Đảng bộ các tỉnh Tây Nguyên nghiên cứu vận dụng để đề ra chủ trương phù hợp, trong đó tập chung vào việc phát triển kinh tế, tăng cường đoàn kết dân tộc, củng cố toàn diện Tây Nguyên, giải quyết tốt vấn đề an ninh… góp phần đấu tranh xóa bỏ tổ chức FULRO, đưa các tỉnh Tây Nguyên phát triển Đặc biệt, trên cơ sở báo cáo của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh, Đảng, nhà nước đã triển khai chương trình khoa học cấp nhà nước nghiên cứu về Tây Nguyên (còn gọi là chương trình Tây Nguyên I, II)

Trang 28

Trên lĩnh vực kinh tế xã hội Tây Nguyên, đáng chú ý là chương trình khoa học cấp nhà nước của Ủy ban KHXH nay là Viện KHXH Việt Nam thực hiện từ những năm 1980 (còn gọi là Chương trình Tây Nguyên I, II) Kết quả của chương trình này đã được tập hợp xuất bản thành bộ 3 cuốn sách: “Một số vấn đề kinh tế- xã hội Tây Nguyên” năm 1986; “Một số vấn đề kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số ở Đắc Lắc” năm 1990; “Tây Nguyên trên đường phát triển” năm 1990 Các công trình này đã tập chung nghiên cứu kinh tế- xã hội của đồng bào các DTTS Tây Nguyên, đưa ra các luận cứ khoa học để đưa đồng bào DTTS tiến lên Chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, luận

cứ này đưa ra trước khi có Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6-1991), do vậy mà nhiều nội dung cũng chưa phù hợp Song đây là tài liệu cung cấp nhiều tư liệu về kinh tế- xã hội Tây Nguyên gắn liền với không gian, thời gian nghiên cứu của luận án

Giới khoa học gần đây cũng tập chung nghiên cứu toàn diện Tây Nguyên qua các công trình khoa học, luận văn, luận án, bài báo khoa học… Tuy không trực tiếp đề cập đến vấn đề đấu tranh chống FULRO nhưng ở góc độ triết học, lịch sử, dân tộc học, kinh tế chính trị, quân sự, an ninh thì đã lấy đối tượng là Tây Nguyên sau giải phóng làm đề tài nghiên cứu Do đó, qua những công trình này cũng thể hiện phần nào chủ trương chính sách của Đảng về Tây Nguyên, về đồng bào DTTS Qua đó, sẽ là nguồn tham khảo quan trọng cho tác giả khi thực hiện đề tài của mình

Báo cáo đề tài của nhóm tác giả thuộc Viện dân tộc học thực hiện năm 2000 (Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng “Sở hữu và sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên”, NXB KHXH, Hà Nội Nội dung công trình gồm 4 chương và kết luận khuyến nghị Nội dung thứ hai trong Chương II của cuốn sách tập trung làm rõ sự biến đổi của sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên dưới thời kỳ thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và CQSG Đây cũng chính là nguyên nhân bùng nổ phong trào đấu tranh của đồng bào khi mà vấn đề sở hữu đất đai bị xâm phạm Tại chương 3 các tác giả đã làm rõ những biến động về đất đai Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm

1989 Các tác giả đã đưa ra nhiều khảo sát thống kê về sở hữu đất đai, dân số, định canh định cư… Trong đó có vấn đề “mâu thuẫn Kinh –Thượng xung quanh vấn đề sở hữu và sử dụng đất rừng” Phần cuối cùng, các tác giả đã đưa ra kết luận “Sự vi phạm quyền làm chủ đất… đã làm xâm hại dần niềm tin của các dân tộc Tây Nguyên với Đảng và nhà nước và làm cho mối quan hệ Kinh – Thượng vốn tốt đẹp trước đây nay sức mẻ dần đi và căng thẳng dần lên” Các tác giả cũng đưa ra 8 kiến nghị để khắc phục những khuyết điểm trong quá trình khai thác và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên

Trang 29

Luận án của Nguyễn Bình Ban (2003), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự

nghiệp bảo vệ an ninh chính trị trong những năm đổi mới (1986-1996)”, Học viện

CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội Đây là luận án của tác giả bên ngành Công an, nguồn tư liệu phong phú hầu hết là các Báo cáo của Công an Do vậy, đây là nguồn tư liệu tham khảo quý giá để tác giả thực hiện đề tài của mình

Ngoài ra, còn có các luận văn, luận án trực tiếp nghiên cứu về FULRO như: Trần Văn Hoan (2008), “Nghệ thuật xây dựng cán bộ mật trong tổ chức FULRO của điệp báo chiến lược bất hợp pháp”, (Luận án tiến sĩ Quân sự), Hà Nội, lưu tại thư viện Quốc gia Với dung lượng 135 trang và phụ lục, tác giả luận án luận giải những vấn đề cơ bản về nghệ thuật xây dựng cán bộ mật trong tổ chức FULRO và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong xây dựng cán bộ mật trong tổ chức FULRO, nhất là giai đoạn hiện nay

Tác giả Lê Thị Hải, “Quá trình đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO ở Lâm Đồng từ 1975 – 1987”, Luận văn thạc sĩ lịch sử, Đại học Đà Lạt năm 2009 Đây là luận văn nghiên cứu về cuộc đấu tranh chống FULRO ở Lâm Đồng, với dung lượng gần

100 trang Nội dung luận văn bao gồm hai chương Chương một: Khái quát về tổ chức FULRO: Ở chương này, tác giả làm rõ điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh Lâm Đồng và hoàn cảnh chủ yếu dẫn đến sự ra đời của phong trào FULRO cũng như hoạt động của FULRO tại Lâm Đồng trước năm 1975 Chương 2: Quá trình giải quyết vấn đề FULRO ở Lâm Đồng từ năm 1975 đến năm 1987; Trong chương này, tác giả đã trình bày quá trình giải quyết vấn đề FULRO qua nhiều giai đoạn theo mốc thời gian Tài liệu luận văn được khai thác từ nhiều báo cáo của các cơ quan ban nghành địa phương Nhìn chung, đây là tài liệu tham khảo và làm tư liệu cho luận án khi tìm hiểu về đấu tranh chống FULRO ở Nam Tây Nguyên

Trong các luận án gần đây như : Trần Xuân Dung (2002), “Hoạt đô ̣ng lơ ̣i dụng tôn giáo của các thế lực thù địch ở Tây Nguyên hiện nay – thực tra ̣ng và giải pháp phòng ngừa đấu tranh” , Luâ ̣n án tiến sĩ triết ho ̣c , Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội; Tác giả Nghiêm Đình Nhập (2007), “Lực lượng vũ trang địa phương tham gia phòng chống bạo loạn ở địa bàn Tây Nguyên”, (Luận án tiến sĩ Quân sự),

Hà Nội, lưu thư viện tỉnh Gia Lai Trần Tro ̣ng Tâm (2013), “Tổ chức sử du ̣ng lực lươ ̣ng quân báo trinh sát trong tác chiến phòng thủ tỉnh biên giới Tây Nguyên” , Luâ ̣n án tiến sĩ Quân sự , Đà La ̣t, lưu thư viện tỉnh Gia Lai; Đỗ Văn Dũng (2011),

“Cuộc đấu tranh của công an nhân dân chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam

từ năm 1975 đến năm 1985”, (Luâ ̣n án tiến sĩ Lịch sử ), Viện lịch sử Quân sự, Hà

Trang 30

Nội.… đã lấy mảng đề tài an ninh, quân sự, dân tộc, tôn giáo… ở Tây Nguyên làm đối tượng nghiên cứu, qua đó ít nhiều đề cập đến cuộc đấu tranh chống FULRO ở đây giai đoạn trước làm tiền đề, qua đó làm tư tham khảo cho tác giả

Năm 2011, Đỗ Văn Dũng hoàn thành luận án “Cuộc đấu tranh của công an nhân

dân chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985”, tại

Viện lịch sử Quân sự, Hà Nội Nội dung luận án bao gồm ba chương: Chương 1: Công

an nhân dân đấu tranh góp phần ổn định tình hình miền Nam sau giải phóng và bảo vệ chủ quyền, an ninh tổ quốc (5-1975 đến 1979) Trong chương này, tác giả đã làm rõ những khái niệm về phản cách mạng và quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin , của Đảng

về đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng, việc tổ chức giáo dục cải tạo, trấn áp các thế lực phản cách mạng cũng như bảo vệ chủ quyền và an ninh biên giới Sang đến chương 2: “Công an nhân dân đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động của các thế lực phản cách mạng (1980-1985)” Ở chương 3, tác giả đưa ra 3 đặc điểm và 3 bài học kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh của Công an nhân dân chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985 Nhìn chung, đây là một tài liệu quan trọng cho tác giả khi mà giới hạn thời gian của hai luận án tương đối gần nhau, nguồn tư liệu của luận án “Cuộc đấu tranh của công an nhân dân chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985” hầu hết là các bài viết được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu khoa học công an, Tập san Tòa án nhân dân, Tổng cục an ninh…

Một số luận án khác đã chọn mảng đề tài kinh tế - xã hội Tây Nguyên làm đối tượng nghiên cứu như: Nguyễn Văn Diệu (1992), “Những biến đổi kinh tế xã hội ở các dân tộc Êđê, M'nông tỉnh ĐắcLắc (1945-1990)”, (Luận án phó tiến sĩ Khoa học Lịch sử), Thành Phố Hồ Chí Minh; Ngô Xuân Trường (2000), “Đảng bộ Lâm Đồng góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số (1975- 1995)”, (Luâ ̣n án tiến sĩ Lịch sử), Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Thị Kim Vân (2008),

“Chuyển biến kinh tế - xã hội Bắc Tây Nguyên (1945-1995)”, NXB Đà Nẵng - (nguyên

là luận án tiến sĩ Lịch sử); Nguyễn Duy Thuỵ (2011), “Chuyển biến kinh tế - xã hội Dăk

Lăk từ năm 1975 đến năm 2003”, (Luâ ̣n án tiến sĩ Lịch sử), Hà Nội.…

Trong luận án “Đảng bộ Lâm Đồng góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số (1975- 1995)” của Ngô Xuân Trường, nội dung bao gồm 3 chương: Chương 1: “Đảng bộ Lâm Đồng khắc phục hậu quả chiến tranh từng bước ổn định và phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số (1975-1985)” Chương này, luận án trình bày: Những điều kiện tự nhiên và đời sống kinh tế, xã hội các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng trước giải phóng; Tình hình kinh tế, xã hội các dân

Trang 31

tộc thiểu số sau giải phóng và chủ trương, giải pháp; Cuối cùng tác giả trình bày những kết quả đạt được sau 10 năm thực hiện chính sách chủ trương đó Chương 2: “Đảng bộ Lâm Đồng khắc phục hậu quả chiến tranh từng bước ổn định và phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số (1986-1995)” Chương này tác giả tiếp tục trình bày những đường lối chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới, những thành tựu phát triển kinh tế xã hội sau 10 năm đổi mới Ở chương cuối, tác giả tập chung đánh giá về quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số, rút ra năm bài học kinh nghiệm và đề ra năm kiến nghị, bảy giải pháp để góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế- xã hội vùng DTTS

Năm 2008, tác giả Nguyễn Thị Kim Vân cho xuất bản cuấn sách “Chuyển biến kinh tế - xã hội Bắc Tây Nguyên (1945-1995)”, NXB Đà Nẵng Đây vốn là công trình khoa học luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Nguyễn Thị Kim Vân Nội dung tài liệu bao gồm 4 chương: Chương 1, tác giả làm rõ những điều kiện kinh tế- xã hội Bắc Tây Nguyên; Ba chương còn lại tác giả phân chia giai đoạn kinh tế xã hội Bắc Tây Nguyên qua các thời kỳ (Chương 2 từ 1945 đến 1975; Chương 3 từ 1975 đến 1985; Chương 4 từ

1986 đến 1995) Ở tài liệu này, chương 3 và 4 có sự trùng nhau, về thời gian và không gian, nguồn tư liệu phong phú được khai thác triệt để trừ các báo cáo gốc của các ban ngành tỉnh Gia Lai- Kon Tum Do vậy, đây là tài liệu quan trọng cho tác giả tham khảo

Cũng mảng đề tài chuyển biến kinh tế - xã hội, Nguyễn Duy Thuỵ năm 2011, bảo vệ thành công luận án “Chuyển biến kinh tế - xã hội Dăk Lăk từ năm 1975 đến

năm 2003”, (Luâ ̣n án tiến sĩ Lịch sử), Hà Nội Nội dung luận án gồm 3 chương và kết

luận Chương 1: Khái quát chung về Đăk Lăk và thực trạng kinh tế- xã hội Đăk Lăk trước 1975 Chương 2, tác giả làm rõ “Kinh tế - xã hội Đăk Lăk từ sau giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975 đến năm 1985 Chương 3, tác giả trình bày rõ sự chuyển biến kinh tế- xã hội Đăk Lăk từ năm 1986 đến năm 2003 trên các mặt kinh tế như: (nông lâm nghiệp, công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu, tài chính ngân hang, giao thông vận tải và thông tin liên lạc, xây dựng cơ bản…), xã hội như: (Giải quyết việc làm, tăng thu nhập đời sống cho nhân dân và xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách định canh định cư, giáo dục, văn hóa thông tin, y tế, môi trường thể thao, chính sách xã hội, dân số kế hoạch hóa gia đình… Đây là tài liệu với

sự bao trùm về thời gian và không gian, qua đó cung cấp nhiều tư liệu cho tác giả khi tìm hiểu về đời sống kinh tế xã hội Tây Nguyên

Nhìn chung, qua các công trình luận án này, các tác giả đã tập trung làm rõ quá trình thay đổi sâu sắc bộ mặt kinh tế- xã hội Tây Nguyên nói chung và đồng bào các

Trang 32

DTTS nói riêng Đó cũng là kết quả của tổng hợp các chính sách của Đảng và nhà nước đối với vùng đất Tây Nguyên

Bên cạnh các công trình luận văn, luận án thì trên các tạp chí khoa học chuyên ngành cũng có rất nhiều bài viết của các tác giả nghiên cứu về Tây Nguyên mà nội dung ít nhiều cung cấp tư liệu cho đề tài như: Lữ Ngọc Cư (2004), “Công an tỉnh Đăk Lăk với công tác đấu tranh chống phản động lợi dụng dân tộc và tôn giáo trên địa bàn tỉnh”, Tạp chí CAND, (số 2), tr 75-77; Uông Thái Biểu (2011), “Fulro- Lịch sử tham vọng và tội ác”, Báo Thời nay (số 129) ngày 4/4, tr 11… Các bài viết này, tập trung làm rõ những hoạt động của tổ chức FULRO trước cho đến nay và quá trình đấu tranh của các lực lượng làm thất bại những âm mưu thủ đoạn của FULRO và các thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên

Vấn đề FULRO trước đây , vì nhiều lý do mà chưa được đưa vào các công trình lịch sử địa phương Chỉ đến sau năm 2000 thì hầu hết các công trình xuất bản

về lịch sử địa phương đã đưa vấn đề FULRO vào tài liê ̣u , đã trình bày khái quát những sự kiện và tiến trình lịch sử chủ yếu của địa phương , song chỉ điểm qua mô ̣t vài trang với những số liệu khó khăn , thiệt hại mà chính quyền và nhân dân địa phương gặp phải do FULRO gây ra sau ngày giải phóng như Gia Lai , Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng Đồng thời làm rõ được thành tích, hạn chế của địa phương trong việc cụ thể hóa chủ trương chính sách của Đảng về giải quyết vấn đề FULRO, hơn nữa nó rất sơ sài và mang tính “địa phương” mà chưa có sự xâu chuỗi bao quát toàn khu vực Tây Nguyên Tuy nhiên, những công trình kể trên là nguồn tài liệu phong phú, cơ bản và có giá trị gợi mở để chúng tôi hoàn thành luận án này

Các công trình nghiên cứu về Lịch sử Đảng bộ, đoàn thể địa phương như: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai (2009), “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945- 2005)”, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Kon Tum (2002), “Lịch sử đảng bộ tỉnh Kon Tum (1975-2000)” Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (2009), “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1975 – 2000)”, Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Đăk Nông, “Lịch sử đảng bộ tỉnh Đăk Nông (1975- 2000)”; Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk

(2010), “Lịch sử đảng bộ tỉnh Đắk Lắk 1975- 2005” và Lịch sử các huyện thị, thành

phố thuộc các tỉnh Tây Nguyên… Cùng với những công trình lịch sử của các ban ngành, đoàn thể như: Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai (2006), “Lịch sử Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai (1930- 2005)”, NXB CTQG; Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng (2010), “Kỷ yếu Lịch sử Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng 80 năm hình thành và phát triển”, Lâm Đồng; Ban Thường vụ Tỉnh

Trang 33

Đoàn Gia Lai (2000), “Lịch sử Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên tỉnh Gia Lai”, NXB Thanh Niên; Ban Chấp hành tỉnh Đoàn Kon Tum (2002), “Lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào Thanh niên tỉnh Kon Tum”, Liên đoàn Lao động tỉnh Đắk Lắk (1997), “Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn tỉnh Đắk Lắk”, NXB Lao Động, Hà Nội Trong các cuốn viết về địa phương chí như: “Gia Lai Đất nước con người”, “Địa chí Gia Lai”, “Địa chí Lâm Đồng”, “Kon Tum 100 năm hình thành và phát triển” … Các công trình này đã phản ánh toàn diện 2 cuộc kháng chiến của nhân dân Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó đáng chú ý có các nội dung sau: Chính sách thống trị và các biện pháp đàn áp phong trào cách mạng của Pháp, Mỹ và CQSG; Chủ trương, biện pháp đấu tranh của Đảng bộ địa phương và một số nét về tập hợp lực lượng chính trị, kết quả xây dựng kinh tế- xã hội… ở các tỉnh Trong giai đoạn sau năm 1975, các công trình này đã tái hiện bức tranh toàn cảnh địa phương với những thuận lợi khó khăn và các chủ trương chính sách để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững chính trị, an ninh quốc phòng tại địa phương…

Trong cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945- 2005)”, NXB CTQG (năm 2009), với dung lượng gần 900 trang, các tác giả đã giành 1 tiểu mục để trình bày diễn biến chính của cuộc đấu tranh chống FULRO từ trang 680 đến trang 686 Tại công trình “Lịch sử đảng bộ tỉnh Đắk Lắk 1975- 2005”, các nhà viết sử Đảng bộ tỉnh tuy không giành mục riêng cho đấu tranh chống FULRO, song đã làm rõ tiến trình đấu tranh chống FULRO tại địa phương từ năm 1975 đến năm 1992 theo tiến trình lịch sử

Nhìn chung, đây là những nguồn tư liệu hết sức phong phú, tin cậy cho tác giả tham khảo khi thực hiện đề tài

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn

đề đặt ra cho luận án tiếp tục nghiên cứu

1.2.1 Các kết quả nghiên cứu luận án kế thừa

Các công trình nghiên cứu về FULRO cũng tương đối nhiều, phong phú, thu hút nhiều nhà khoa học, chính trị, quân sự… chứng tỏ đây là một vấn đề hay có tính thời sự trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau

Đứng dưới góc độ nghiên cứu của khoa học lịch sử Đảng thì chưa có công trình nào đầy đủ, bao quát của cả Tây Nguyên, chưa làm sáng tỏ bối cảnh đất nước sau ngày thống nhất khi mà tổ chức FULRO được phục hồi cũng như âm mưu thủ đoạn mới của chúng chống phá cách mạng Việt Nam

Trang 34

Các công trình trên cũng mới bước đầu làm sáng tỏ chủ trương đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình giải quyết vấn đề FULRO trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 1975 đến 1992

Nhìn chung, các công trình, đề tài nghiên cứu thuộc về (hoặc liên quan) đến Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên (1975-1988) đã được công bố khá nhiều Tựu trung, các công trình khảo cứu ở trên đã giải quyết được những nội dung cơ bản sau:

Tên gọi FULRO và các tổ chức tiền thân của nó

Khái quát một số chính sách của Mỹ, chính quyền Sài Gòn cũng như Pháp, Campuchia đối với Tây Nguyên

Các tác giả đều thống nhất chỉ ra những hạn chế trong các chính sách của chính quyền VNCH, đặc biệt là dưới thời Ngô Đình Diệm đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên như: Không tôn trọng phong tục, tập quán, ngôn ngữ; phủ nhận quyền sở hữu đất đai cộng đồng truyền thống; chủ trương tiêu diệt giai cấp lãnh đạo Thượng Đó cũng là nguyên nhân góp phần ra đời và quốc tế hóa tổ chức FULRO cũng như các âm mưu toan tính của các thế lực lợi dụng phong trào này để cho nó tồn tại dai dẳng

Bước đầu tìm hiểu về chủ trương chính sách của Đảng ta đối với các dân tộc thiểu số Tây Nguyên sau ngày giải phóng cả mặt tích cực lẫn hạn chế

Khái quát được phần nào về cuộc đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên theo địa phương đơn vị ngành mình Song các công trình trên chưa làm sáng tỏ những bài học kinh nghiệm, chưa đúc kết lý giải nguyên nhân thắng lợi và những khuyết điểm hạn chế của Đảng trong việc giải quyết vấn đề FULRO trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 1975 đến 1988

Như vậy: Đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO là một vấn đề phức tạp vừa cấp bách vừa lâu dài Do sự chi phối bởi các đặc điểm địa – chính trị, địa – kinh tế, địa – văn hóa nên đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên có những đặc điểm riêng đã và đang thu hút đông đảo sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Qua việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án có thể thấy rằng, hơn 60 năm qua, cuộc đấu tranh chống FULRO của chính quyền VNCH

và sau năm 1975 là chính quyền cách mạng tr ên địa bàn Tây Nguyên luôn thu hút

sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước Những công trình trong và ngoài nước liên quan tới FULRO đã được xuất bản là tương đối đa dạng, những sự kiện, hiện tượng lịch sử được đánh giá, nhận xét từ nhiều góc độ tiếp cận

Trang 35

khác nhau Trong đó, đáng chú ý có những công trình nghiên cứu của những tác giả

là những người bước ra từ trong cuộc chiến Song, do sự chi phối bởi đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý thức chính trị… mà các công trình, tài liệu đó mang ý thức khác nhau, quan điểm giai cấp khác nhau

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu nói trên chỉ đề cập đến những nội dung

có liên quan đến đề tài luận án ở một số mặt hoặc lĩnh vực riêng biệt Chưa có một công

trình nào trình bày một cách toàn diện, có hệ thống và đầy đủ về : “Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm 1988)”

dưới góc độ Lịch sử Đảng Tuy nhiên, những công trình kể trên là nguồn tài liệu phong phú, cơ bản và có giá trị gợi mở để chúng tôi hoàn thành luận án này

Do vậy, trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước đó và dựa trên những tài liệu mới được công bố, tác giả sẽ tiếp tục giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra

1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu

Trên cơ sở cập nhật và khảo cứu nguồn tài liệu từ nhiều phía, luận giải một cách khách quan khoa học, luận án sẽ tập trung nghiên cứu làm rõ những nội dung sau:

Hoạt động của FULRO ở Tây Nguyên sau năm 1975 Từ tình hình đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giải quyết dứt điểm vấn đề FULRO

Làm rõ những chủ trương của Đảng đấu tranh chống FULRO trên địa bàn Tây Nguyên nhằm thực hiện nhiệm vụ giải quyết vấn đề FULRO

Làm rõ quá trình Đảng chỉ đạo đấu tranh chống FULRO trên các mặt kinh

tế, chính trị, quốc phòng an ninh, phát triển văn hóa - xã hội trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 1975 -1988

Đúc rút một số nhận xét về ưu điểm và hạn chế cũng như một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo và tổ chức đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên

Trang 36

Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ ĐẤU TRANH CHỐNG FULRO Ở TÂY NGUYÊN TỪ THÁNG 3 NĂM 1975

Tây Nguyên là địa bàn rộng lớn, gồm nhiều cao nguyên xếp tầng hợp thành, nằm

ở giữa vĩ tuyến 110

13’ đến 15015’ vĩ Bắc và 107002’ đến 109005’ kinh Đông Tây Nguyên hiện nay được giới hạn hành chính gồm năm tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý

từ Bắc xuống Nam: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Tây Nguyên có diện tích trên 54.294,7 km 2

, nằm trải dài theo phía Nam của dãy Trường Sơn, phía Đông giáp các tỉnh đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ (Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa); phía Tây giáp với Bình Phước và hai nước Lào, Campuchia; phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Nam; phía Nam giáp với các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai Tây Nguyên cùng với cao nguyên Hạ Lào hợp thành vùng cao nguyên rộng lớn nằm ở trung tâm bán đảo Đông Dương Đặc biệt, Tây Nguyên có biên giới với Lào, Campuchia dài trên 550 km, do vậy khu vực này càng có

ý nghĩa to lớn về an ninh - quốc phòng

Địa hình Tây Nguyên là đa dạng, có độ cao từ 250m đến gần 2.600m so với mực nước biển Bao gồm nhiều cao nguyên xếp tầng, địa hình núi cao xen kẽ với sông suối, địa hình thung lũng Cũng do đặc điểm địa hình này, đã dẫn đến sự phân bố dân cư thưa thớt điều kiện cho FULRO hoạt động ẩn náu, nhất là vùng Lâm Đồng FULRO ẩn náu trong các hang sâu, rừng rậm, điều này gây khó khăn cho việc phát hiện truy quét

Về giao thông, từ Tây Nguyên có thể tỏa đi các hướng ra Bắc vào Nam, xuống đồng bằng ven biển và sang hai nước Lào, Campuchia, với nhiều quốc lộ, đường tỉnh lộ nối các huyện với nhau đan xen như ô bàn cờ Từ cực Đông sang cực Tây Tây Nguyên có nơi đến gần 200 km đường, do đó công tác di chuyển bao vây chia cắt FULRO không phải lúc nào cũng được khép chặt

Khí hậu Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Tây Nam với hai mùa khô và mùa mưa rõ rệt và kéo dài Hệ thống sông ngòi chằng chịt, dốc, nhiều thác Do đó, ít có giá trị giao thông song lại rất cơ động trong việc di

Trang 37

chuyển, ẩn náu Thực vật ở Tây Nguyên rất phong phú về chủng loại, giàu có về khối lượng, độ che phủ của rừng còn rất lớn Bao gồm rừng nguyên sinh, rừng thưa, thảm cỏ, rừng cây công nghiệp Với khí hậu này, mùa mưa kéo dài làm cho việc di chuyển gặp nhiều khí khăn, FULRO với sự cơ động của mình nên rất dễ di chuyển Mùa khô xuất hiện nhiều sương mù dày đặc cũng là cách để cho FULRO lợi dụng qua mặc lực lượng trinh sát của ta

Đặc điểm tự nhiên Tây Nguyên vừa có khu vực đồi núi cao, hiểm trở, vừa có

đồng bằng nhỏ và có vị trí quan trọng bởi sự kết nối với cao nguyên biên giới ở phía Tây, án ngữ trên trục đường giao thông chính từ Bắc vào Nam Do đó, Tây Nguyên là khu vực có ý nghĩa chiến lược quan trọng không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với

cả Đông Dương: “Ai nắm được Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương và làm chủ được Tây Nguyên sẽ làm chủ được chiến trường (miền Nam cũ)”, “Cao Nguyên ở vào vị trí chiến lược cơ động hết sức quan trọng trên toàn Đông Dương, là một bàn đạp nằm lọt giữa các miền Trung Nguyên, Nam Phần và liên kết dính liền về địa thế chiến trường với vùng Đông Miên, Hạ Lào và thông ra Bắc” [71]

Nhìn chung, những yếu tố của đặc điểm tự nhiên như: Địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, khí hậu hai mùa khác biệt cũng là điểm thuận lợi cho hoạt động ẩn náu, di chuyển, bám sâu trong quần chúng của lực lượng FULRO

Do đó, cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề này có phần kéo dài hơn dự kiến

2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội

Với vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi, nên Tây Nguyên sớm là địa bàn cư trú của con người Những phát hiện khảo cổ học ở Biển Hồ (năm 1993) và Trà Dôm (1994),

Sa Bình, Lung Leng… Đặc biệt là khai quật khảo cổ học ở An Khê (Thượng du sông Ba) đã chứng minh từ thời đồ đá cũ đã có mặt con người sinh sống ở đây Xa xưa, Tây Nguyên chỉ có các nhóm tộc người thiểu số cư trú (còn gọi là Thượng, DTTS) Các dân tộc ở Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ khác nhau: Môn – Khơ-me (hay Nam Á) và Malayo

- Polynésien (Mã Lai – Đa Đảo, hay Nam Đảo).Ban đầu gồm có 13 dân tộc bản địa (đến nay đã có 46 DTTS) sinh sống

Cho đến đầu thế kỷ XIX, dân số trên địa bàn Tây Nguyên có khoảng 24 vạn người, dân số phát triển chậm, tăng trưởng tự nhiên là chính Tài liệu của Viện Quốc gia thống kê CQSG cho biết dân số Tây Nguyên năm 1956 có 530.000 người, năm

1960 tăng lên 604.000 người và năm 1966 là 770.000 người [137] Theo số liệu của chính quyền Ngô Đình Diệm khi mới lên cầm quyền thì “trên một vùng rộng lớn như

Trang 38

thế, thì hiện thời chỉ có 5, 6 trăm ngàn người ở” và “chừng 80% dân số Cao Nguyên là người Thượng” [98] Theo số liệu của tác giả Cửu Long Giang và Toan Ánh thì năm

1969 dân số người Xê Đăng là 41.000 người, người Ba Na là trên 100.000 người, người Jarai là hơn 150.000 người, người S’tiêng là 40.000 người, người Ka Ho là gần 100.000 người, người Mơ Mông 40.000 người, người Ê Đê là gần 80.000 người Năm

1975, dân số Tây Nguyên khoảng hơn một triệu, năm 1990 có gần 2,5 triệu người Đến tháng 12 năm 2009 Tây Nguyên có 5.107.437 người, tăng gấp năm lần so với sau giải phóng; Đây cũng là vùng tăng dân số nhiều và nhanh nhất cả nước

Trước đây, lãnh thổ từng tộc người khá rõ rệt: (Bắc Kon Tum là nơi quần tụ của dân tộc Xơ Đăng, Hrê, Gié Triêng; Khu vực Kon Tum - Pleiku là nơi cư trú của người Ba

Na, Gia Rai; Đắk Lắk là quê hương của người Ê Đê, M’Nông và Lâm Đồng có những điểm khá quần tự của dân tộc Kơ Ho, Mạ, Chu Ru) Song hiện nay, xu hướng cư trú đan xen giữa các DTTS với nhau và giữa DTTS với dân tộc Kinh chiếm ngày càng tăng

Trình độ phát triển về kinh tế - xã hội của các DTTS Tây Nguyên nói chung còn rất thấp và không đều Kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, kết hợp với thu nhặt lâm thổ sản Bên cạnh truyền thống lúa khô (rẫy) Sau giải phóng, đồng bào đã chuyển dần từ sản xuất phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên mang tính chất tự cung sang sản xuất chủ động theo mùa vụ (lúa nước, cây công nghiệp )

Trong xã hội cổ truyền của đồng bào, sự phân hóa giai cấp chưa có, nhưng phân biệt giàu nghèo bằng tài sản thì đã có như chiêng, ché, trâu bò… Đại bộ phận là nhân dân lao động, hình thức bóc lột mới là manh nha như thuê mướn nhân công, cho vay,

nuôi mua bán nô lệ tôi tớ…[253, tr 43-44] Khi Pháp và Mỹ lên Tây Nguyên, xây

dựng chính quyền và cướp đất lập đồn điền, dinh điền, kèm theo đó là di dân và xúc dân tạo lực lượng công viên chức thừa hành và lực lượng lao động Những yếu tố của sản xuất hàng hóa thì chủ yếu tập trung ở các thị xã, thị trấn Do ảnh hưởng nặng nề của chính sách chia để trị và chính sách ngu dân mà nền giáo dục cả Tây Nguyên nói chung rất thấp đó là nền giáo dục mất cân đối về nhiều mặt, vừa phản động về

nội dung Tỷ lệ người đi học so với dân số chỉ khoảng 8 đến 10 % [183, tr 48]

Về hôn nhân, gia đình, ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ vẫn còn phổ biến ở nhiều dân tộc Ở đó, người phụ nữ có vai trò, vị trí quan trọng trong gia đình cũng như xã hội Quan hệ láng giềng, gia đình gắn bó khá sâu sắc Đặc biệt, mọi cá nhân đều gắn chặt với buôn, làng cả về đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần Trong tổ chức làng truyền thống có những người đứng đầu như chủ đất, chủ bến nước, thủ

Trang 39

lĩnh quân sự, người xét xử theo toà án phong tục Đó là những người được dân làng tín nhiệm cử ra, do họ có kinh nghiệm trong sản xuất, chiến đấu, am hiểu phong tục tập quán dân tộc Họ hầu như không có đặc quyền, đặc lợi gì, nhưng có thể chi phối đến đời sống sinh hoạt của cộng đồng

Về mặt văn hoá, tâm lý dân tộc, lịch sử đã để lại cho đồng bào DTTS ở Tây Nguyên một nền văn hoá lâu đời và ý thức cấu kết cộng đồng dân tộc- ý thức“cộng

đồng buôn làng”- rất sâu sắc Đây cũng vừa là rào chắn ngăn chặn FULRO xâm nhập

hiệu quả nhưng cũng là hàng rào bảo vệ vững chắc cho FULRO ăn sâu bám rễ trong dân khi mà đồng bào tin theo FULRO Trướ c khi thực dân Pháp xâm lươ ̣c, ý thức của đồng bào Tây Nguyên còn mang tính tự tri ̣, kinh tế - xã hội lạc hậu mang tính tự cung, tự cấp, kép kín trong khu vực nhất định Do đó, ý thức chủ quyền quốc gia dân tộc thống nhất chưa cao

Về tín ngưỡng cổ truyền của đồng bào DTTS Tây Nguyên nói chung phản ánh thế giới quan sơ khai, vạn vật hữu linh, giai đoạn đầu của tôn giáo và phản ánh quan niệm tư duy của cư dân nông nghiệp nương rẫy Về tôn giáo: Trong thế kỷ XIX, do những biến động về mặt xã hội đã làm cho Tây Nguyên có thêm nhiều tôn giáo mới (Đạo Công giáo, Đạo Tin Lành, Phật giáo và đạo Cao Đài ) Về lịch sử

đó là sự tiến bộ chuyển từ đa thần sang nhất thần, nhưng đây không phải do nội sinh

mà là sự áp đặt từ bên ngoài vào

Tây Nguyên có vị trí chiến lược về nhiều mặt, suốt quá trình lịch sử nơi đây phải đương đầu không phải chỉ với thiên nhiên khắc nghiệt, với rừng thiêng hung dữ…mà còn là chiến trường máu lửa vô cùng quyết liệt trong cuộc đọ sức với các thế lực thù địch Trong suốt hai cuộc kháng chiến Tây Nguyên vừa là hậu phương, vừa là chiến trường ác liệt giữa ta và địch Ngày 19- 4- 1946 tại Pleiku Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam, đoàn kết đánh Pháp khai mạc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư động viên tinh thần kháng chiến, đây là nguồn cổ vũ lớn lao đối với nhân dân các dân tộc trên cả Tây Nguyên, thôi thúc họ tiến lên, đoàn kết, quyết tâm chống Pháp Ba mươi năm chiến tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên nhiều tên đất tên người Tây Nguyên bất khuất lưu danh sử sách như các anh hùng Núp, Wừu, Kpă Klơng, Kpă Ó, Rơ Châm Ớt, A Sanh, làng Stơr, Xã Gào, Ia Đrăng…những chiến thắng Đăk Pơ, Plei Me, Đường 7, Đức Cơ…

Bên cạnh đó, địa hình phức tạp, rộng lớn, chia cắt, mật độ dân cư thưa thớt, phân tán; sống theo lối tự cung tự cấp, cuộc sống còn thiếu thốn nên ý thức xã hội, ý

Trang 40

niệm về quốc gia độc lập, thống nhất và trình độ nhận thức của họ chưa cao Trong khi

đó, đế quốc Mỹ và CQSG có tiềm lực kinh tế dồi dào, liên tục tiến hành các biện pháp mị dân, chiến tranh tâm lý nhằm che đậy âm mưu xâm lược, thôn tính của chúng bằng các hoạt động viện trợ lương thực, thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt, hỗ trợ sản xuất đối với một bộ phận trong đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có thái độ lưng chừng hoặc bị lôi kéo để chống cách mạng

Do đặc điểm khép kín của xã hội cổ truyền dẫn đến ý thức chung về mô ̣t cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam bị hạn chế Sự xung đột giữa dân tộc này với dân tộc khác cùng với tệ trả đầu, nợ máu… đã làm cho khu vực này trước đây không ổn định Ngoài ra, đây còn là chiến trường vô cùng quyết liệt trong cuộc đọ sức tranh giành ảnh hưởng của các thế lực phong kiến trong khu vực như : Xiêm La, Chăm Pa, Ai Lao, Chân La ̣p…

Thời Gia Long đã cho đắp lũy Sơn Phòng- Tĩnh Man Trường Lũy, cử Nguyễn Công Toản vào bình định vùng này, thực hiện phát triển kinh tế trao đổi với chính sách Kimi, chính sách “Nhu Viễn” Qua đó, gắn kết và thể hiện ảnh hưởng của nhà nước phong kiến Đại Việt đối với vùng đất Tây Nguyên

Từ những năm đầu của thập niên 40 thế kỷ XIX, qua con đường trạm Gò (xã Cửu An, An Khê) các giáo sĩ đã xâm nhập vào địa bàn cư trú của người Ba Na ở Kon Mơhar (nay là vùng đất thuộc huyện Chư Păh và Đak Đoa) Đến cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Thực dân Pháp đã từng bước thiết lập bộ máy cai trị trên đất Tây Nguyên như việc lập Nha kinh lý An Khê (1877), tổng An Khê (1888), tòa Đại lý hành chính Kon Tum (1898) Ngày 30-10-1893, hiệp ước Xiêm- Pháp được ký kết, Xiêm thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp trên tả ngạn sông Mê Kông và Tây Nguyên được sát nhập vào đất Hạ Lào Ngày 16-10-1898, Khâm sứ Trung Kỳ là Buuloche đưa yêu sách buộc triều đình Huế để cho Pháp phụ trách kinh tế và an ninh toàn vùng Tây Nguyên, từ đó Tây Nguyên thuộc quản lý của Thực dân Pháp

Sau nhiều lần sáp nhập đã hình thành nên ở Tây Nguyên các tỉnh: Đồng Nai Thươ ̣ng (1899), Công Tum (1913), tỉnh Đắk Lắk (1923), tỉnh Pleiku (1932) [246, tr 45] Năm 1898, triều đình Huế đã đồng ý với yêu sách của chính quyền thuô ̣c đi ̣a , giao quyền quản lý Tây Nguyên cho Pháp theo yêu cầu củ a Khâm sứ Trung kỳ Boullotche (ngày 16-10-1898) Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX , mă ̣c

dù người Pháp ngăn cản người Việt lên Tây Nguyên sinh sống , song vẫn không cản được Do đó , thành phần cư dân Việt vẫn tăng và có mối quan hệ sâu rộng

Ngày đăng: 22/09/2020, 02:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w