1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhận diện rào cản về nguồn lực trong hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ của Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

122 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới trường Đại học Xã hội và Nhân văn, Khoa sau Đại học, Khoa Khoa học quản lý, đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRIỆU THỊ BẢO HOA

NHẬN DIỆN RÀO CẢN VỀ NGUỒN LỰC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRIỆU THỊ BẢO HOA

NHẬN DIỆN RÀO CẢN VỀ NGUỒN LỰC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Mai Hà

Hà Nội, 2015

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Phạm vi nghiên cứu 13

5 Mẫu khảo sát 13

6 Câu hỏi nghiên cứu 13

7 Giả thuyết nghiên cứu 13

8 Phương pháp nghiên cứu 13

9 Kết cấu của Luận văn 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KH&CN CỦA CÁC TỔ CHỨC KH&CN 15

1.1 Một số khái niệm 15

1.1.1 Tổ chức KH&CN 15

1.1.2 Nguồn lực 17

1.1.3 Hội nhập quốc tế 21

1.2 Một số nội dung cơ bản về lý thuyết 23

1.2.1 Lý thuyết về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực KH&CN 23

1.2.2 Lý thuyết rào cản nguồn lực đối với hội nhập quốc tế về KH&CN 33 * Tiểu kết Chương 1 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆN HÀN LÂM KH&CN VIỆT NAM 39

2.1 Hội nhập quốc tế về KH&CN của các tổ chức KH&CN Việt Nam 39

2.1.1 Khái quát hệ thống các tổ chức KH&CN ở Việt Nam 39

2.1.2 Thực trạng hội nhập quốc tế của tổ chức KH&CN Việt Nam 45

Trang 4

2.2 Hội nhập quốc tế về KH&CN của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam 55

2.2.1 Tổng quan về Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam 55

2.2.2 Thực trạng hội nhập quốc tế về KH&CN của VAST 61

2.3 Kinh nghiệm một số quốc gia thúc đẩy hội nhập quốc tế về KH&CN 73

2.3.1 Nhật Bản 73

2.3.2 Hàn Quốc 79

2.3.3 Trung Quốc 84

* Tiểu kết Chương 2 88

CHƯƠNG 3 RÀO CẢN ĐỐI VỚI HỘI NHẬP KH&CN CỦA VIỆN HÀN LÂM KH&CN VIỆT NAM 89

3.1 Rào cản nguồn lực đối với hội nhập quốc tế của VAST 89

3.1.1 Rào cản về tài chính (tài lực) 92

3.1.2 Rào cản về con người (nhân lực) 95

3.1.3 Rào cản về cơ sở vật chất (vật lực) 97

3.1.4 Rào cản về thông tin KH&CN (tin lực) 99

3.2 Một số rào cản khác 101

* Tiểu kết Chương 3 106

KẾT LUẬN 107

KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC RÀO CẢN NGUỒN LỰC 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 120

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới trường Đại học Xã hội và Nhân văn, Khoa sau Đại học, Khoa Khoa học quản lý, đặc biệt là PGS.TS Mai Hà đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Nhận diện rào cản về nguồn lực trong hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ của Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam”

Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo, các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quí báu cho tác giả trong những năm tháng qua

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nhóm Đề tài “Nghiên cứu, phân tích hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam trong xu thế hội nhập khoa học và công nghệ quốc tế”, thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước KX.06/11-15 “Nghiên cứu và Phát triển hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ”, Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu nghiên cứu cần thiết phục vụ cho đề tài

Xin cảm ơn những đóng góp nhiệt tình của các bạn học viên lớp Cao học khóa QH-2012-X đã giúp đỡ tác giả điều tra, thu thập số liệu Đặc biệt xin ghi nhớ và cảm ơn sâu sắc tới gia đình và người thân đã chia sẻ, quan tâm, động viên trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Một lần nữa, tác giả xin chân thành cảm ơn các đơn vị, cá nhân đã hết lòng quan tâm đến sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý khoa học Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy cô, các nhà khoa học, độc giả và bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

FDI: Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài GCI Global Competitiveness Index

Chỉ số cạnh tranh toàn cầu HĐND: Hội đồng nhân dân

IF: Impact factor

Chỉ số tác động IPR: Intellectual Property Right

Quyền Sở hữu trí tuệ ISBN: International Standard Book Number

Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho sách ISI: Institute of Scientific Information

Viện Thông tin khoa học ISSN: International Standard Serial Number

Mã số tiêu chuẩn quốc tế KEI: Knowledge Economy Index

Chỉ số kinh tế tri thức KH&CN: Khoa học và Công nghệ

KI: Knowledge Index

Chỉ số tri thức NCTK: Research and Development

Nghiên cứu và triển khai NGO: Non-governmental Organization

Tổ chức phi chính phủ NIS: National Innovation System

Hệ thống đổi mới quốc gia ODA: Official Development Assistant

Hỗ trợ phát triển chính thức

Trang 7

OECD: Organisation for Economic Co-operation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế SCI: Science Citation Index

Danh mục trích dẫn khoa học SCI-E: Science Citation Index-Expanded

Danh mục trích dẫn khoa học mở rộng SIR: SCImago Institutions Rankings

Báo cáo xếp hạng tổ chức KH&CN của SCImago TBT: Technical Barriers to Trade

Hiệp định hàng rào kỹ thuật UBND: Ủy ban nhân dân

UN: United Nations

Liên hợp quốc

UNESCO: United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc VAST: Vietnam Academy of Science and Technology

Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam WEF: World Economic Forum

Diễn đàn kinh tế thế giới WIPO: World Intellectual Property Organization

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WTO: World Trade Organization

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng tổ chức KH&CN Việt Nam (1960 - 1999) 42 Bảng 2.2 Cấu trúc công nghệ của hàng hóa xuất khẩu 50 Bảng 2.3 Chỉ số cạnh tranh toàn cầu năm 2012-2013 51 Bảng 2.4 Chỉ số Môi trường kinh doanh và đổi mới sáng tạo 2012 51 Bảng 2.5 Số lượng công bố khoa học quốc tế của Việt Nam và

một số nước Đông Nam Á giai đoạn 1996-2011

52

Bảng 2.6 Số lượng ấn phẩm khoa học trong Scopus 53 Bảng 2.7 Chỉ số tri thức của một số quốc gia ASEAN 54 Bảng 2.8 Phân bố lực lượng cán bộ khoa học của VAST 59 Bảng 2.9 Sơ đồ nguồn tài chính của VAST (đơn vị: tỷ VND) 60 Bảng 2.10 Tổng hợp số lượng các phát minh, sáng chế của VAST 62 Bảng 2.11 Số lượng bài báo trong các tạp chí quốc tế 63 Bảng 2.12 Số lượng bài báo quốc tế và bài báo trong nước 64 Bảng 2.13 Tỷ lệ % bài báo trong nước với bài báo quốc tế 64 Bảng 2.14 VAST trên Bảng xếp hạng tổ chức KH&CN thế giới 65 Bảng 2.15 Mức độ thụ hưởng kết quả hội nhập quốc tế về

KH&CN các đơn vị thuộc VAST

66

Bảng 2.16 Kết quả hoạt động hội nhập quốc tế và tỷ lệ % đơn vị

thực hiện hoạt động này

67

Bảng 2.17 Nhân lực hội nhập quốc tế về KH&CN của các tổ chức

KH&CN thuộc VAST

69

Bảng 2.18 Tỷ lệ % nhân lực đào tạo ở nước ngoài của các tổ chức

KH&CN thuộc VAST

70

Bảng 2.19 Kinh phí cho các hoạt động hội nhập quốc tế của các

đơn vị thuộc VAST

Bảng 3.1 Kinh phí thực hiện đề tài Nghị định thư và đề tài hợp

tác quốc tế của VAST

91

Bảng 3.2 Kinh phí đề tài Nghị định thư và đề tài hợp tác quốc tế 92

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

Ngày 18/5/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

735/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đến năm 2020 Mục tiêu của đề án là đưa Việt Nam trở thành nước mạnh trong

một số lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) vào năm 2020 phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu về trình độ KH&CN của nước ta với khu vực và quốc tế Trong giai đoạn 2015-2020, mục tiêu của Đề án là xây dựng được đội ngũ cán bộ KH&CN Việt Nam có đủ năng lực trực tiếp tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học

và phát triển công nghệ (R&D) của khu vực và thế giới trong một số lĩnh vực

ưu tiên trọng điểm; có đủ năng lực hợp tác với nước ngoài, tiếp thu, làm chủ, đổi mới và sáng tạo công nghệ; một số kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm của Việt Nam xác lập được

vị trí trong thị trường khu vực và thế giới

Việt Nam hiện có hơn 2.200 tổ chức KH&CN, hơn 24 nghìn tiến sỹ, 100.000 thạc sỹ, 62.000 người trực tiếp làm công tác R&D (7 người/một vạn dân), 2.600 giáo sư/phó giáo sư; hơn 800 cơ quan thông tin khoa học và công nghệ và tổng đầu tư cho KH&CN ở mức gần 0.8% GDP Tuy nhiên, trình độ KH&CN của nước ta hiện nay thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực Năng lực KH&CN và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã được xếp ở tốp dưới, chỉ đứng vị trí thứ 115/146 nước theo Phương pháp đánh giá tri thức (KAM) của Ngân hàng thế giới và 71/132 nước theo Chỉ số đổi mới toàn cầu (GII) của Mạng lưới các trường kinh doanh quốc tế (INSEAD); đứng thứ

76/141 quốc gia về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu do Tổ chức Sở hữu trí

tuệ thế giới (WIPO) công bố năm 2012 Về nhân lực, số lượng cán bộ R&D của Việt Nam còn rất thấp so với các nước có quy mô dân số tương đồng hoặc lớn hơn như Hoa Kỳ, tổng số nhân lực R&D là hơn 1,4 triệu người, Trung Quốc: 1,2 triệu, Nhật Bản: 656 nghìn, Nga: 442 nghìn, Đức: 327 nghìn, Hàn

Trang 10

Quốc: 264 nghìn.1 Về nguồn lực tài chính: Tổng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho KH&CN tính trong 2 năm gần đây chỉ đạt hơn 13 nghìn tỷ đồng (2012, tương đương 627 triệu USD).Trong khi đó, tổng chi cho hoạt động R&D năm

2010 của Hoa Kỳ là hơn 401,5 tỷ USD, Trung Quốc: 178,9 tỷ USSD, Nhật Bản: 140,8 tỷ USD, Đức: 86,2 tỷ USD, Hàn Quốc: 53,1 tỷ USD và Nga: 32,8

tỷ USD2; Về năng lực KH&CN: Việt Nam chưa có nhiều công trình, sản phẩm KH&CN ở tầm khu vực và thế giới Số lượng bài báo, công trình khoa học công bố quốc tế của Việt Nam trong 5 năm gần đây (2008-2012) là 6.356, kém Thái Lan 4 lần, kém Singapore 7 lần, kém Nhật Bản 57 lần và kém Hoa

Kỳ 256 lần.3 Số lượng đơn sáng chế đăng ký bảo hộ giai đoạn 2001-2010 của người Việt Nam là 1.665 đơn, trong khi có 20.057 đơn của người nước ngoài;

số bằng độc quyền sáng chế được cấp của Việt Nam còn thấp hơn nhiều, chỉ đạt 257 văn bằng, kém 27 lần so với số văn bằng được cấp của người nước ngoài là 6.997.4

Điều đó cho thấy, để đáp ứng được những mục tiêu của Chính phủ về đẩy nhanh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực KH&CN của Việt Nam, các tổ chức KH&CN còn gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt là về nguồn nhân lực, tài chính (tài lực), cơ sở hạ tầng nghiên cứu (vật lực) và hệ thống thông tin khoa

học và công nghệ (tin lực) Đây có phải là những rào cản chủ yếu trong hội

nhập quốc tế về KH&CN của các tổ chức KH&CN của nước ta? Nhận diện và chứng minh được các yếu tố này đang cản trở quá trình đó trở nên hết sức cấp thiết cho những nhà hoạch định chính sách để tìm ra được các chính sách phù hợp và kịp thời

Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam (VAST) là một trong 2 viện quốc gia

do Chính phủ thành lập VAST có 34 đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học,

01 doanh nghiệp nhà nước Viện còn có hệ thống trên 100 đài, trạm, trại thuộc

1

Theo OECD, Main Science và Technology Indicators Database, 3/2012

2 Theo OECD, Main Science và Technology Indicators Database, 3/2012

3 Số lượng bài báo công bố quốc tế trong giai đoạn tương ứng của Thái Lan là 25.965, Malaysia: 28.799, Singapore: 43.779, Nhật Bản: 368.067 và Hoa Kỳ: 1.629.140 Theo ISI Web of Science của Thomson Reuters tháng 3/2013

4 Theo Cục Sở hữu trí tuệ (2012), Báo cáo thường niên 2012

Trang 11

17 Viện nghiên cứu chuyên ngành, phân bố tại 35 tỉnh, thành phố đại diện cho hầu hết các vùng địa lý của Việt Nam (đồng bằng, ven biển, trung du, miền núi và hải đảo) làm nhiệm vụ khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, triển khai thực nghiệm về địa chất, địa từ, địa động lực, địa lý, môi trường, tài nguyên

và thử nghiệm vật liệu, Viện Vật lý địa cầu hiện đang quản lý 53 đài, trạm trở thành đơn vị có số đài trạm lớn nhất trong Hệ thống Tính đến tháng 12/2012, VAST có tổng số trên 4.000 cán bộ, 43 giáo sư, 180 Phó Giáo sư, 36 tiến sĩ khoa học, 678 tiến sĩ, 722 thạc sĩ và 802 cán bộ đại học Tại Quyết định

số 2133/QĐ-TTg, ngày 01/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển VAST đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

có nhấn mạnh: đến năm 2020, VAST trở thành một trung tâm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ hàng đầu của cả nước, với tiềm lực khoa học và công nghệ đạt trình độ tiên tiến ở khu vực Đông Nam Á và đạt trình độ tiên tiến khu vực châu Á vào năm 2030; 50% các tổ chức nghiên cứu cơ bản trực thuộc VAST có đủ tiêu chuẩn và điều kiện hội nhập được với khu vực và thế giới, đến năm 2030 là 75% tổ chức, và xây dựng được 15 tổ chức khoa học và công nghệ trọng điểm, nhóm nghiên cứu mạnh có cơ sở vật chất, thiết

bị hiện đại, đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới để giải quyết những nhiệm vụ khoa học và công nghệ quan trọng của quốc gia Do vậy, tác giả lựa chọn VAST làm trường hợp nghiên cứu điển hình và đề tài sẽ tập trung vào

“nhận diện các rào cản về nguồn lực trong hội nhập quốc tế về KH&CN của Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam”

Kết quả của luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa lý thuyết về hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế về KH&CN và nguồn lực; thống nhất một số khái niệm về hội nhập quốc tế về KH&CN, tầm quan trọng của hội nhập quốc tế đối với sự phát triển của các tổ chức KH&CN cũng như của nền KH&CN Việt Nam Trên cơ sở nhận diện và chứng minh được những rào cản về nguồn lực đối với VAST trong hội nhập quốc tế về KH&CN, luận văn sẽ đề xuất những kiến nghị tháo gỡ rào cản để thúc đẩy VAST hội nhập hiệu quả vào nền KH&CN thế giới

Trang 12

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hội nhập quốc tế về kinh tế - thương mại được nghiên cứu nhiều cả về

lý thuyết và thực tiễn Tuy nhiên, hội nhập quốc tế về KH&CN mới chỉ bắt đầu nhận được quan tâm của giới nghiên cứu trong thời gian gần đây, song vẫn chưa có công trình nghiên cứu dành riêng cho việc nhận diện các rào cản của các tổ chức KH&CN Việt Nam để hội nhập quốc tế

Đặng Mộng Lân (2006) cho rằng, “hội nhập quốc tế về KH&CN được xác định là quá trình quốc tế hóa tri thức với sự di chuyển địa điểm của hoạt động R&D đang diễn ra mạnh mẽ, có xu hướng di chuyển nhanh hơn sự di chuyển của các hoạt động sản xuất và kinh doanh”

Khi nghiên cứu “Những chỉ tiêu đánh giá hội nhập quốc tế về khoa học

và công nghệ”, Đặng Ngọc Dinh và Trần Chí Đức (2006) đã xác định tính

khách quan của tiến trình hội nhập quốc tế về KH&CN, yếu tố lực đẩy từ quá trình toàn cầu hóa, cũng như sức mạnh tự thân của hoạt động KH&CN trong việc làm phong phú, sâu sắc hơn kho kiến thức của nhân loại Hai tác giả cũng đã phân tích làm rõ những chỉ tiêu làm thước đo mức độ hội nhập, qua

đó đánh giá và xác định được những ưu thế cũng như hạn chế để ban hành những chính sách, giải pháp phù hợp, kịp thời thúc đẩy quá trình hội nhập

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển (NC&PT) hội nhập KH&CN quốc

tế tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ của các tổ chức khoa học và công nghệ tại Việt Nam” (2012) với mục tiêu tạo lập được một hệ thống tiêu chí

đánh giá khách quan về năng lực hội nhập quốc tế đối với các tổ chức KH&CN của Việt Nam, trước mắt là các tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khoa học nông nghiệp và y học, và sau đó là các tổ chức KH&CN trên các lĩnh vực khác nhau

Đề tài nghiên cứu “Chính sách khoa học và công nghệ của Việt Nam phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực” của Viện Chiến lược và Chính

sách KH&CN (2005) đã có những đánh giá về tình hình hội nhập kinh tế quốc

tế, tình hình hội nhập quốc tế về KH&CN ở Việt Nam với những cơ hội và

Trang 13

thách thức Nghiên cứu cũng đã có cái nhìn cụ thể, xác thực về hệ thống chính sách KH&CN liên quan đến hội nhập, những yêu cầu hội nhập kinh tế đối với chính sách quốc gia và các cam kết quốc tế về KH&CN của Việt Nam về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng, về sở hữu trí tuệ và dịch vụ KH&CN

Đề tài “Nghiên cứu xây dựng chương trình tăng cường nguồn lực thông tin phục vụ hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ” (2012) của Cục Thông

tin KH&CN Quốc gia đã kịp thời xác định và đề xuất được các nguồn thông tin cốt lõi phục vụ hội nhập quốc tế về KH&CN, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tạp chí KH&CN Việt Nam để được lựa chọn vào chỉ mục ISI hoặc SCOPUS cũng như phát triển hệ thống tạp chí khoa học trực tuyến của Việt

Nam Đề tài “Nghiên cứu cơ chế và giải pháp tăng cường hội nhập hoạt động KH&CN của Việt Nam với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á” do Viện

Chiến lược và Chính sách KH&CN đang thực hiện tập trung vào các giải pháp thúc đẩy hội nhập KH&CN của Việt Nam với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Vấn đề nghiên cứu về rào cản trong hội nhập quốc tế về KH&CN cũng còn rất ít công trình, mặc dù nghiên cứu về rào cản trong hội nhập quốc tế nói chung (chủ yếu là hội nhập kinh tế quốc tế) cũng đã được thực hiện tương đối nhiều cả về lý thuyết lẫn thực tiễn

Nguyễn Huy Long (2007) đã thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài "Vận dụng các rào cản thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam", trong đó hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về rào cản

thương mại trong thương mại quốc tế, phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hệ thống các rào cản thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Bích Ngọc (2010) nghiên cứu về "Những rào cản đối với chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam" cũng đã bước đầu hệ thống một số lý luận về rào cản đối với việc chuyển giao công nghệ vào Việt Nam Luận văn cũng đã đưa ra giải

pháp để khắc phục những rào cản này

Trang 14

Nhận diện năng lực thấp của đội ngũ nhà khoa học cũng là một rào cản trong quá trình hội nhập quốc tế Liên quan đến vấn đề này, Trương Văn Tuấn

(2012) đã có bài viết về "Thực trạng đội ngũ trí thức Thành phố Hồ Chí Minh

và giải pháp phát triển đội ngũ trí thức phục vụ sự nghiệp đổi mới

và hội nhập quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh“ Hồng Lực (Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 9 - 03/2012) có bài viết "Thành phố Hồ Chí Minh: Gắn khoa học công nghệ với thực tiễn", trong đó cũng đề cập đến một số khó khăn

lớn nhất của TP HCM để phát triển mạnh mẽ KH&CN trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, bao gồm tình trạng lạc hậu của cơ sở vật chất, thiếu hụt chuyên gia giỏi, đầu tư cho KH&CN còn hạn chế, một số chính sách còn bất cập

Phần lớn các nghiên cứu liên quan đến hội nhập quốc tế về KH&CN hay về rào cản hội nhập quốc tế đã góp phần nhất định trong việc hệ thống lý luận, làm rõ quan niệm; và đề cập đến những rào cản cơ bản trong quá trình hội nhập của Việt Nam với thế giới Tuy nhiên, các nghiên cứu về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực KH&CN có tính hệ thống cũng chỉ mới bắt đầu trong năm 2012, nên vấn đề lý luận và thực tiễn vẫn đang trong quá trình nghiên cứu Như đã nói trên, nghiên cứu về rào cản trong hội nhập quốc tế về KH&CN và tìm giải pháp khắc phục đang còn là chủ đề mới mẻ

Mục tiêu chính của luận văn là nhận diện được rào cản về nguồn lực trong quá trình hội nhập quốc tế về KH&CN của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam;

Để thực hiện mục tiêu chính trên, Luận văn đề ra một số nhiệm vụ cụ thể sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận về hội nhập quốc tế về KH&CN và rào cản về nguồn lực trong hội nhập quốc tế về KH&CN;

- Đánh giá những quan điểm cơ bản về hội nhập quốc tế và rào cản nguồn lực trong hội nhập quốc tế về KH&CN của một số nước trên thế giới cũng như kinh nghiệm và thực tiễn của các nước đó trong việc thúc đẩy hội nhập quốc tế về KH&CN;

Trang 15

- Phân tích và đánh giá thực trạng hội nhập quốc tế về KH&CN của các

tổ chức KH&CN Việt Nam nói chung và Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam nói riêng;

- Đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp khắc phục rào cản về nguồn lực đối với Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu xác định

các rào cản về nguồn lực Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế về KH&CN

- Phạm vi không gian: một số tổ chức KH&CN trực thuộc Viện Hàn

lâm KH&CN Việt Nam

- Phạm vi thời gian: tập trung đánh giá trong 5 năm gần đây (từ năm

2009 đến nay)

- Mẫu khảo sát không gian: các tổ chức KH&CN thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, nghiên cứu các đơn vị (Viện Công nghệ môi trường; Viện Công nghệ vũ trụ; Viện Vật lý địa cầu; Viện Hải dương học Nha Trang; Viện Khoa học vật liệu ứng dụng Tp HCM; Trung tâm phát triển kỹ thuật và

công nghệ Tp HCM)

- Những rào cản nào cản trở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam hội nhập quốc tế về KH&CN?

- Nguồn lực là yếu tố chính cản trở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam hội nhập quốc tế về KH&CN

- Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến (1) hội nhập quốc tế về KH&CN trong các tổ chức, các đề án, chương trình hội nhập quốc tế về KH&CN các cấp; (2) các lý thuyết về rào cản; nguồn lực và hội nhập quốc tế về KH&CN của một số nước trên thế giới

Trang 16

- Điều tra bảng hỏi: dự kiến sẽ tiến hành nghiên cứu định lượng khoảng

20 phiếu điều tra dành cho một số tổ chức KH&CN trực thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

- Phỏng vấn sâu: một số chuyên gia có tính đại diện cho 03 nhóm: (1) Các nhà khoa học có uy tín và kinh nghiệm quốc tế; (2) Các nhà quản lý - để

có cái nhìn về kế hoạch, chiến lược hội nhập quốc tế của đơn vị; (3) một số nhà khoa học trẻ có tinh thần doanh nghiệp và có kinh nghiệm chuyển giao công nghệ với đối tác nước ngoài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học

và công nghệ của các tổ chức khoa học và công nghệ

Chương 2 Thực trạng hội nhập quốc tế của Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam

Chương 3 Rào cản đối với hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ của Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG

LĨNH VỰC KH&CN CỦA CÁC TỔ CHỨC KH&CN

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Tổ chức KH&CN

Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào có sự thống nhất một định nghĩa rõ ràng về tổ chức KH&CN trên thế giới và chủ yếu định nghĩa các thuật ngữ riêng như “khoa học”, “công nghệ”, “nghiên cứu và phát triển”, “hoạt động KH&CN” Bản thân thuật ngữ “Tổ chức” được định nghĩa tương đối đồng nhất đó là một đơn vị/một tập hợp người được sắp xếp và quản lý để đáp ứng nhu cầu hoặc theo đuổi những mục tiêu chung Mọi tổ chức đều có một cấu trúc quản lý quyết định các mối quan hệ tương tác giữa các hoạt động và các thành viên với nhau, phân công trách nhiệm, vai trò và quyền hạn để thực thi các nhiệm vụ khác nhau (Từ điển Tiếng Việt, Từ điển Kinh doanh, Từ điển Macmillian, Từ điển Cambridge, Từ điển Merriam Webster) Như vậy, về cơ bản tổ chức KH&CN được hiểu là những đơn vị được thành lập để cùng thực hiện các hoạt động KH&CN Ở Việt Nam, tổ chức khoa học và công nghệ được định nghĩa trong Luật KH&CN của Việt Nam ban hành năm 2013 là

“những tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật” [25; Điều 3] “Các tổ chức này bao gồm (1) Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm; (2) Cơ sở giáo dục đại học được tổ chức theo quy định của Luật giáo dục đại học; và (3) Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được tổ chức dưới hình thức trung tâm, văn phòng, phòng thử nghiệm” [25;

Điều 9, Mục 1, Chương II] Để làm rõ hơn định nghĩa này, Luật KH&CN

cũng định nghĩa “Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng

Trang 18

dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ” “Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch

vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội” [25; Điều 3]

Trong khuôn khổ của Luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa về tổ chức KH&CN được quy định tại Luật KH&CN Việt Nam năm 2013 như đã được nêu ở trên

1.1.2 Rào cản

Theo Từ điển Oxford và Từ điển Tiếng Việt, “Rào cản” là “rào chắn hoặc một chướng ngại vật để ngăn, không cho vượt qua; dùng để ví sự trở ngại lớn khiến ngăn cách, cản trở trong việc giao lưu, thông thương”.5

Theo

Từ điển bách khoa toàn thư Merriam Webster, “Rào cản” chỉ “đối tượng vật chất, hoặc những vật thể được dùng để tách biệt, phân định ranh giới, hoặc là các chướng ngại vật nói chung Rào cản cũng chính là các luật lệ, quy định làm cho một vấn đề nào đó trở nên khó khăn hoặc không thể thực hiện được; hoặc là thứ làm cho con người khó hiểu nhau”.6

Ngoài những sự tương đồng trong các định nghĩa trên, Từ điển tiếng Anh Macmillian bổ sung định nghĩa

“Rào cản” là “bất kỳ thứ gì cản trở tiến độ hoặc tạo khó khăn trở ngại cho một người đạt được mục đích theo đuổi của mình”.6F7

Từ điển Vocabulary

định nghĩa “Rào cản” còn là “bất kể thứ gì tạo ra sự cách biệt bằng cách làm che khuất tầm nhìn hoặc cản trở lối vào”.8

Trong khuôn khổ của Đề tài luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa

về “Rào cản” như sau: Rào cản là những yếu tố (cả vật chất và phi vật chất)

5 http://www.oxforddictionaries.com/definition/english/barrier và theo Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển

Trang 19

gây trở ngại, khó khăn, vướng mắc cho một chủ thể trong quá trình xây dựng, triển khai chiến lược, chính sách và giải pháp để đạt được mục tiêu phát triển

đã đặt ra

1.1.2 Nguồn lực

Theo tổng hợp của Vũ Quốc Đạt, về nghĩa hẹp, nguồn lực thường được hiểu là tổng thể các nguồn lực vật chất cho phát triển, ví dụ tài nguyên thiên nhiên, tài sản vốn bằng tiền, Về nghĩa rộng, nguồn lực được hiểu gồm tất

cả những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nhất định Đối với một quốc gia, nguồn lực là tổng thể vị trí địa

lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường ở cả trong nước và nước ngoài

có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của đất nước Nguồn lực không phải là bất biến Nó thay đổi theo không gian và thời gian Con người có thể làm thay đổi nguồn lực theo hướng có lợi cho mình.9

Theo từ điển Merriam Webster, nguồn lực là “những gì một quốc gia

có và có thể sử dụng để làm tăng của cải vật chất, sự thịnh vượng cho đất nước”.10

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa nguồn lực là “một nguồn cung cấp,

hỗ trợ và đặc biệt là luôn sẵn sàng được sử dụng khi cần thiết Nguồn lực cũng được định nghĩa là toàn bộ của cải vật chất của một quốc gia hoặc là những công cụ của quốc gia đó để tạo ra của cải vật chất Thông thường, nguồn lực được hiểu là tiền hoặc bất kỳ tài sản nào có thể chuyển đổi được thành tiền”.11 Từ điển Macmillian có định nghĩa cho rằng nguồn lực “là những thứ bạn có thể sử dụng để đạt được một cái gì đó, đặc biệt trong công việc hay nghiên cứu Đối với một tổ chức hay một doanh nghiệp, nguồn lực bao gồm tài chính, nhân lực hay trang thiết bị có thể được sử dụng để hỗ trợ cho tổ chức đó phát triển”.12 Từ điển kinh doanh (Bussiness Dictionary) có

9

Theo Vũ Quốc Đạt (2011), Huy động các nguồn lực để nâng cao năng lực công nghệ sản xuất các chương

trình truyền hình (nghiên cứu trường hợp đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh), Luận văn Thạc sĩ,

Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội

10

http://www.merriam-webster.com/dictionary/resource

11 http://dictionary.reference.com/browse/resources

12 http://www.macmillandictionary.com/dictionary/british/resource

Trang 20

cách định nghĩa về nguồn lực là “một yếu tố kinh tế hoặc sản xuất cần thiết

để hoàn thành một hoạt động, hoặc là những công cụ, phương tiện cần thiết

để vận hành một doanh nghiệp và để đạt được kết quả mong muốn”.13

Có nhiều cách phân chia nguồn lực Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, có thể phân chia nguồn lực thành hai loại, gồm (1) Nguồn lực trong nước (còn gọi là nội lực) là các nguồn lực tự nhiên, nhân văn, hệ thống tài sản quốc gia, đường lối chính sách đang được khai thác Nguồn lực trong nước đóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết định trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia; và (2) Nguồn lực nước ngoài (còn gọi là ngoại lực) bao gồm khoa học -

kỹ thuật và công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất và kinh doanh từ nước ngoài Mặc dù có vai trò khác nhau, nhưng giữa nguồn lực trong nước và nguồn lực nước ngoài có mối quan hệ hỗ trợ, hợp tác, bổ sung cho nhau Xu thế chung là các quốc gia cố gắng kết hợp nguồn lực trong nước (nội lực) với nguồn lực nước ngoài (ngoại lực) thành sức mạnh tổng hợp để phát triển Nếu theo cách tiếp cận giá trị, nguồn lực có thể phân loại thành nguồn lực vật chất, nguồn lực phi vật chất; theo cách tiếp cận theo nguồn gốc hình thành, nguồn lực bao gồm nguồn lực tự nhiên, nguồn lực nhân tạo; theo cách tiếp cận 5 „M‟, nguồn lực bao gồm Man (nguồn nhân lực), Money (tiền); Material (nguyên vật liệu), Machine (máy móc công nghệ), Method (phương pháp) Nguồn lực KH&CN được định nghĩa là những yếu tố đầu vào đảm bảo cho hoạt động KH&CN gồm có nhân lực, tài lực (tài chính);

hệ thống tổ chức KH&CN; tin lực (thông tin); vật lực (cơ cở vật chất).14

Trong khuôn khổ của Đề tài luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa

về “Nguồn lực” như sau: Nguồn lực là toàn bộ những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho các mục tiêu nhất định của một tổ chức, một quốc gia mà tất cả đều hướng về mục tiêu cao nhất là đem lại sự phát triển cao hơn và thịnh vượng cho chủ thể cũng như đại đa số thành viên trực thuộc nó Đối với tổ chức KH&CN, nguồn lực bao gồm tài chính (tài lực),

13

http://www.businessdictionary.com/definition/resource.html

14 Theo Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn (2013), Bài giảng chính sách phát triển các nguồn lực

KH&CN

Trang 21

con người (nhân lực), hạ tầng kỹ thuật như thiết bị, máy móc, công nghệ, phòng thí nghiệm, cơ sở vật chất khác (vật lực); và thông tin KH&CN (tin lực) Một đặc thù cần lưu ý trong nguồn lực của tổ chức KH&CN đó là nhân lực KH&CN và thông tin KH&CN

Nhân lực KH&CN: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên

hợp quốc (UNESCO) đưa ra khái niệm nhân lực KH&CN là “những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho hoạt động của họ, bao gồm các nhà khoa học

và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ, .” [18;15] Bên cạnh đó,

UNESCO cũng nêu một số khái niệm liên quan đến nhân lực KH&CN là

“Tổng số nhân lực có trình độ” và “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác” Tổng nhân lực có trình độ là tổng số những người được đào tạo để có năng lực trở thành nhà khoa học và kỹ sư, bất kể hiện tại họ có làm việc theo năng lực này hay không “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác” phản ánh số lượng cán bộ thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc

là làm trong lĩnh vực KH&CN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế của một đất nước Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), nhân lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong các điều kiện sau (1) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành KH&CN; (2) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; (3) Chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình

độ tương đương Đây là một khái niệm rất rộng để đề cập đến nguồn nhân lực KH&CN của một quốc gia Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu và phát triển (NCTK) để thể hiện lực lượng lao động KH&CN của mình Theo Hướng dẫn thống kê NCTK của OECD (Cẩm nang FRASCATI), nhân lực NCTK bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động NCTK hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động NCTK Nhân lực NCTK được chia thành 3 nhóm (1) Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu): là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao

Trang 22

đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới; (2) Nhân viên kỹ thuật và tương đương: Nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết

kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN Họ tham gia vào NCTK bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu; và (3) Nhân viên phụ trợ trực tiếp NCTK: Là những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án NCTK Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính

và hành chính trực tiếp phục vụ công việc NCTK của các tổ chức NCTK.15

Hình 1 Quan hệ giữa nhân lực KH&CN và nhân lực NCTK

Nguồn: Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia, 2005

Ở Việt Nam hiện nay, các lực lượng tham gia hoạt động KH&CN nước

ta gồm 5 thành phần chủ yếu sau đây (1) Cán bộ nghiên cứu trong các viện, trường đại học; (2) Cán bộ kỹ thuật, công nghệ (kỹ thuật viên, kỹ sư, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư) làm việc trong các doanh nghiệp; (3) Các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội yêu thích khoa học kỹ thuật, có sáng kiến cải tiến, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống; (4) Cán bộ quản lý các cấp (kể cả quản lý doanh nghiệp) tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ việc hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng trong thẩm quyền của mình; và (5) Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam

15 Theo Nguyễn Thúy Hà (2013), Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ,

http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/ChinhSach/View_Detail.aspx?ItemID=179, ngày cập nhật 7.1.2015

Trang 23

Thông tin KH&CN: Có nhiều khái niệm khác nhau về thông tin Trong

Từ điển Oxford, “Thông tin là điều mà người ta đánh giá, hoặc nói đến, là tri thức, là tin tức” Trong tiêu chuẩn Việt Nam 5453-1991 đã nêu “Thông tin là nội dung mà con người gán cho dữ liệu với các quy ước (ký hiệu) đã biết, được sử dụng trong việc trình bày chúng, ” Điều 3 của Nghị định số 11/2014/NĐ- CP định nghĩa “Thông tin KH&CN là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo” Nguồn lực thông tin khác với các nguồn lực khác của mỗi quốc gia, các nguồn lực tự nhiên như khoáng sản, càng dùng nhiều thì càng cạn kiệt, không tái tạo Ngược lại, nguồn lực thông tin càng được dùng nhiều thì càng phong phú và phát triển thêm vì mỗi người sử dụng thông tin lại tạo ra những thông tin mới.16

1.1.3 Hội nhập quốc tế

Hội nhập là hòa mình vào trong một cộng đồng lớn;17

tham gia vào một cộng đồng để cùng hoạt động và phát triển với cộng đồng ấy (thường nói về quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia).18

Theo từ điển bách khoa toàn thư,

thuật ngữ “hội nhập” đề cập đến “một quá trình mà ở đó chất lượng của các mối quan hệ giữa các đơn vị xã hội có quyền tự chủ riêng (các nhóm có chung sắc tộc, các bộ tộc, thành phố, công đoàn, đảng phái chính trị, ) thay đổi theo hướng giảm đi quyền tự chủ của mình và đưa nó trở thành một phần trong tổng thể lớn hơn Trong phân tích chính trị, sự thay đổi đó nói về việc thêm hay bớt chủ quyền của các tổ chức chính trị Trong nghiên cứu về quan

hệ quốc tế, thuật ngữ hội nhập được phân tích theo hướng sự thay đổi có tính tích lũy trong mối quan hệ giữa các quốc gia dân tộc và kết quả dẫn đến việc

họ chấp nhận để một số quyền lực được điều tiết tập trung Điều lưu ý để phân biệt giữa hội nhập với việc hình thành các quyền lực tập trung thông qua vũ lực đó là: sự san nhượng/giảm quyền lực tự chủ ở đây được dựa trên

16 Theo Nguyễn Phạm Thu Hiền (2014), Thông tin khoa học và công nghệ là nguồn lực phát triển, Tạp chí

Thông tin KH&CN Sóc Trăng, số 3/2014, tr.14-17

17 Theo Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng

18 Theo http://tratu.soha.vn/ (Từ điển số hóa)

Trang 24

các quyết định tự nguyện và được cân nhắc thận trọng bởi các chủ thể có liên quan hoặc có thể là hậu quả không mong muốn của những quyết định đó, nhưng không bao giờ thực hiện bằng vũ lực”.19

Hội nhập có nghĩa chung nhất

là hành động hoặc quá trình gắn kết các phần tử riêng rẽ với nhau, hợp chung các bộ phận vào một chỉnh thể (nhất thể, hợp nhất) và kết hợp các thành tố

khác nhau lại (tụ hội, tụ nhóm).20

Khi nghiên cứu về các học thuyết hội nhập quốc tế, Garza cho rằng “Hội nhập quốc tế” là một quá trình mà ở đó các quốc gia dỡ bỏ các hàng rào cản trở sự tự do của thương mại hàng hóa và tự

do di chuyển của con người qua các biên giới, mới mục tiêu là giảm căng

thẳng có nguy cơ dẫn đến xung đột quốc tế.21

Nghiên cứu về định nghĩa của hội nhập quốc tế, chúng ta thường bắt gặp hai khái niệm liên quan là Quốc tế hóa (internationalization) và Toàn cầu

hóa (globalization) Quốc tế hóa được Từ điển định nghĩa là “làm một cái gì

đó có tính chất quốc tế hoặc đưa một cái gì đó đặt dưới sự chi phối của quốc tế”.22 Từ điển Merriam Webster bổ sung quốc tế hóa là “làm cho một cái gì

đó có sự liên quan hoặc có tác động ảnh hưởng đến một hay nhiều quốc gia”.23 Theo Từ điển kinh doanh, quốc tế hóa là “xu hướng gia tăng của các công ty mở rộng hoạt động kinh doanh của mình vượt ra ngoài biên giới của quốc gia”.24 Toàn cầu hóa được Từ điển Merriam Webster định nghĩa là “một quá trình xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, được đánh dấu bởi sự phổ biến của hàng hóa và ý tưởng và ngày càng được chuẩn hóa trên phạm vi toàn cầu Các yếu tố đóng góp vào quá trình toàn cầu hóa bao gồm công nghệ truyền thông và giao thông hiện đại, dòng di cư ồ ạt của con người, hoạt động kinh

tế vượt ra khỏi quy mô thị trường quốc gia, và các hiệp định quốc tế nhằm giảm thiểu chi phí kinh doanh ở nước ngoài”.25 Theo diễn đàn Toàn cầu hóa

19 http://www.encyclopedia.com/doc/1G2-3045000593.html

20 Theo Đặng Đình Quý (2012), Bàn thêm về khái niệm và nội hàm “Hội nhập quốc tế” của Việt Nam trong

giai đoạn mới, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 4 (91), 12/2012, tr 19-31

Trang 25

101, toàn cầu hóa là quá trình tương tác và hội nhập giữa con người, công ty,

và chính phủ của các quốc gia khác nhau Quá trình này được thúc đẩy bởi thương mại và đầu tư quốc tế với chất xúc tác là công nghệ thông tin Quá trình toàn cầu hóa tác động đến môi trường, văn hóa, hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, sự thịnh vượng và chất lượng cuộc sống của con người trong xã hội trên thế giới.26 Theo tác giả Mai Hà (2015), “Hội nhập quốc tế là quá trình phát triển và tích hợp để trở thành bộ phận cấu thành tích cực của hệ thống quốc tế với thể chế được thống nhất, đảm bảo lợi ích lâu dài cho các bên tham gia”.27

Trong khuổn khổ luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa về “Hội nhập quốc tế” như sau: Hội nhập quốc tế là quá trình một thực thể (tổ chức, doanh nghiệp, quốc gia) phát triển và liên kết để trở thành bộ phận cấu thành của một

tổ chức, thể chế quốc tế ở các cấp độ khu vực, liên khu vực và toàn cầu nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển của mình Theo tác giả, “Hội nhập quốc tế”,

“Toàn cầu hóa” và “Quốc tế hóa” có nghĩa liên quan mật thiết khi đề cập đến quá trình một chủ thể (tổ chức, hay quốc gia) tham gia vào các hoạt động và trở thành một phần trong lĩnh vực đó ở quy mô khu vực và quốc tế

1.2 Một số nội dung cơ bản về lý thuyết

1.2.1 Lý thuyết về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

Hội nhập quốc tế nói chung được chia thành các trường phái nhất định Garza đã hệ thống một số học thuyết quan trọng có ảnh hưởng lớn như sau:28

Trường phái Chức năng (Funtionalism) có đại diện tiêu biểu là Emile Durkheim và Robert Merton Được sinh ra trong giai đoạn giữa hai cuộc Đại chiến thế giới, trường phái này cho rằng các quốc gia sẽ phải dần giới hạn chức năng vào một số lĩnh vực (như kinh tế, kỹ thuật) Do các quốc gia đều có những mối quan tâm chung, vai trò tổ chức phi quốc gia ngày càng tăng, chủ quyền quốc gia dần bị giảm đi, và sự gia tăng của trí tuệ trong quá trình hoạch định chính sách sẽ tạo nên động lực nội tại để các quốc gia hội nhập quốc tế

26 Theo http://www.globalization101.org/what-is-globalization/ (Diễn đàn toàn cầu hóa 101)

27 Theo Mai Hà (2015), Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Xã hội học, Số 1, 3/2015, tr.70-82

28Theo Garza, D C (2006), International Integration Theories,

https://diiego.files.wordpress.com/2006/08/international-integration-theories.pdf, ngày cập nhật 19.8.2014

Trang 26

Trường phái Chức năng mới (neo-functionalism) đại diện tiêu biểu là David Mitrany, Jeffrey Alexvafer, Jean Monenet Họ cho rằng các quốc gia sẽ hội nhập theo từng lĩnh vực riêng lẻ để đạt được hiệu ứng lan tỏa và tiếp tục thúc đẩy quá trình hội nhập „Tác động lan tỏa‟ là sự hợp tác trong một lĩnh vực đòi hỏi sự hợp tác trong lĩnh vực khác”.29 Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu chứ không phải là khát vọng của các chính trị gia đại diện cho quốc gia và không phải là kết quả cuối cùng của một quy trình phát triển Vì thế các quốc gia cần phải đưa ra những chính sách tạo được hiệu ứng lan tỏa

Có 2 dạng hiệu ứng lan tỏa gồm hiệu ứng lan tỏa chức năng (là sự tác động của chính sách trên 1 lĩnh vực nhất định lên chính sách khác) và hiệu ứng chính trị (là việc tạo ra các mô hình quản lý siêu quốc gia)

Trường phái Liên chính phủ (inter-governmentalism) cho rằng hội nhập quốc tế của các quốc gia đều bắt đầu từ chính trị và kinh tế Các chính phủ chủ động hội nhập vì họ xem đó là cách thức để xử lý một số vấn đề chung giữa các quốc gia Vì lợi ích của quốc gia, họ có thể ủy thác một số quyền lực nhất định vào một thể chế liên chính phủ Trong thể chế liên chính phủ đó vẫn

có không gian cho các hoạt động hợp tác quốc tế, các quốc gia vẫn có chủ quyền riêng Tổ chức của siêu quốc gia không bình đẳng với các tổ chức quốc gia Trường phái Siêu quốc gia (Supernationalism) cho rằng mỗi quốc gia chỉ định một đại diện của mình trong quá trình pháp lý xem xét và ban hành chính sách ở quy mô khu vực Các quốc gia thành viên vẫn có quyền của mình, tuy nhiên họ phải chia sẻ quyền đó với các thành viên khác Các quyết định được ban hành dựa trên đa số phiếu vì vậy một số quốc gia thành viên dù chống lại quyết định nhưng vẫn phải thực thi Trường phái Liên bang quốc tế (International federalism) cho rằng để tạo ra được sự hợp tác giữa các quốc gia cùng nhau đạt được mục tiêu phát triển chung cần thiết phải tạo ra một hệ thống pháp lý chung thông qua đó thúc đẩy quá trình hội nhập theo từng lĩnh vực như kinh tế, văn hóa

29 Cini, M (2003), European Uninion Politics, Oxford University Press, pg.81

Trang 27

Trường phái “Sự phụ thuộc” (dependency) được đại diện bởi một số học giả tiêu biểu như Raul Presbisch, Immanuel Wallerstein Trường phái này cho rằng sự nghèo đói ở các quốc gia đang phát triển không phải là hệ lụy từ việc họ không hội nhập đầy đủ với thế giới mà bởi vì cách họ hội nhập vào hệ thống đó Các nước nghèo cung cấp tài nguyên, nhân công giá rẻ, là điểm đến của những công nghệ lỗi thời và là thị trường cho các nước giàu Do vậy, các nước giàu luôn duy trì tình trạng phụ thuộc này thông qua hệ thống chính sách

và các chương trình/dự án Các nước nghèo nếu chống lại ảnh hưởng của sự phụ thuộc thường bị sự trừng phạt kinh tế hoặc các biện pháp kiểm soát quân

sự Những người chủ xướng của học thuyết phụ thuộc cho rằng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như là một sự lệ thuộc có tính cưỡng ép giữa các nước giàu và nước nghèo

Theo tác giả Mai Hà (2015), “Hội nhập quốc tế” có những đặc điểm sau đây (1) Tính tự nguyện (Willingness): nguyên tắc này đảm bảo không quốc gia nào bị ép hội nhập quốc tế Việc quốc gia nào, khi nào tham gia hội nhập quốc tế là do năng lực và tầm nhìn của lãnh đạo quốc gia đó; (2) Chấp thuận luật lệ chung (Regulations acceptance): Nguyên tắc này khuyến cáo các quốc gia tham gia phải chấp thuận luật lệ chung đã có hoặc sẽ hình thành, đồng thời các luật lệ nội bộ cũng phải thích ứng với những luật lệ chung; (3) Tính hợp chuẩn (Standards conformity): Nguyên tắc này khuyến cáo các quốc gia tham gia phải chấp thuận vấn đề hợp chuẩn cho tất cả các luật lệ chung đã có hoặc

sẽ hình thành, đồng thời các luật lệ nội bộ cũng phải thay đổi để thích ứng với những luật lệ chung; (4) Cạnh tranh bình đẳng (Fair competition): Cạnh tranh bình đẳng là hệ quả tất yếu khi quốc gia nào cũng hướng tới lợi ích bền vững chính đáng trên cơ sở chấp thuận luật lệ chung và hợp chuẩn Đồng thời, chỉ

có cạnh tranh bình đẳng mới đảm bảo cho yếu tố bền vững của lợi ích trong điều kiện hội nhập quốc tế; (5) Lợi ích bền vững (Sustainable interest): Đảm bảo lợi ích bền vững là yếu tố sống còn của hội nhập quốc tế nói chung Đồng thời đó cũng là mục tiêu để các quốc gia hội nhập quốc tế, cùng hợp tác, cạnh tranh và phát triển.30

30 Theo Mai Hà (2015), Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Xã hội học, Số 1, 3/2015, tr.70-82

Trang 28

Như vậy, hội nhập quốc tế là một quá trình liên tục, có thể đi từ thấp đến cao, từ trạng thái này đến trạng thái khác Hội nhập chủ yếu bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, từ đó kéo theo sự hội nhập trên nhiều lĩnh vực khác như văn hóa, KH&CN Hội nhập được thực hiện ở cấp độ khu vực và toàn cầu với các hình thức đa dạng như việc tham gia vào các tổ chức đa phương hay xây dựng và

áp dụng các luật lệ, chuẩn mực chung.31 Động lực chính thúc đẩy hội nhập quốc tế đó là từ bên trong, do nhu cầu và lợi ích của từng quốc gia/tổ chức Tuy nhiên các chủ thể đó vẫn chịu sức ép rất lớn từ bên ngoài trong quá trình hội nhập Để tối đa hóa được mục tiêu phát triển, các chủ thể đi sau cần phải chủ động hội nhập theo 3 bước (1) nâng cao năng lực theo hướng tiếp cận với trình độ quốc tế; (2) từng bước tham gia vào “sân chơi” chung; và (3) trở thành một bộ phận đầy đủ trong “sân chơi” đó

Trong lĩnh vực KH&CN, xu thế hội nhập quốc tế cũng đang diễn ra một cách mạnh mẽ và không thể đảo ngược Xu thế này được thúc đẩy bởi các yếu

tố kinh tế, bản chất quốc tế hóa của tri thức, những thách thức KH&CN toàn cầu và những “luật chơi” chung đặt ra cho cộng đồng KH&CN quốc tế

Cạnh tranh trong phát triển kinh tế là một động lực quan trọng thúc đẩy cộng đồng KH&CN tạo ra những công nghệ mới, những công nghệ mới lại tìm đến những thị trường mới Thị trường mới lại đặt ra nhu cầu cho việc tiếp tục ra đời các sản phẩm KH&CN mới từ đó tạo ra dòng vận chuyển của tri thức và công nghệ ở quy mô toàn cầu Doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy toàn cầu hóa và hội nhập về KH&CN, vì họ muốn đưa các sản phẩm sáng tạo của mình ra thị trường thế giới Một trong những cách thức quan trọng là thông qua hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)32, thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển ở nước ngoài33 với động cơ chính

là tiếp cận kho nhân lực tài năng ở nước sở tại.34

31 Theo Đặng Đình Quý (2012), Bàn thêm về khái niệm và nội hàm “Hội nhập quốc tế” của Việt Nam trong

giai đoạn mới, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 4 (91), 12/2012, tr 19-31

32

Theo Archibugi D và Iammarino S (1997), The Policy imlications of the globalization of innovation,

ESRC Center for Business Research, University of Cambridge, Working Paper No.75

33 Theo Gerybadze, A., Reger, G (1999), Globalization of R&D: recent changes in the management of

innovation in transnational corporations, Research Policy, 28, 1999, Elsevier, pg 251 – 274

34

Theo Van Beers, C., Berghäll, E., Poot, T (2007), R&D internationalization, R&D collaboration và public

knowledge institution in small economies: evidence from Finland và the Netherlands, Research Policy, 37,

2008, Elservier, pg 294 – 308

Trang 29

Bản chất tri thức có tính quốc tế hóa nên thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế về KH&CN Nếu công nghệ chịu sức tác động mạnh của thị trường và doanh nghiệp (kết quả của hội nhập kinh tế quốc tế) trong quá trình hội nhập quốc tế, thì tri thức và khoa học chịu nhiều tác động của môi trường học thuật

và các chính sách kích thích phát triển nghiên cứu khoa học của các quốc gia Bản thân tri thức và khoa học đã hàm chứa những yếu tố tự thân để lan rộng

và phổ biến trên quy mô quốc tế Trong giới hàn lâm, theo cách truyền thống, hoạt động chuyển giao tri thức giữa một học giả này sang một học giả khác thường là tự nhiên và không đòi hỏi sự chi trả tiền bạc.35

Họ có nhu cầu chia

sẻ và phổ biến tri thức trên phạm vi thế giới, so sánh và liên kết với nhau để tìm ra tri thức mới Tự nội tại của tri thức và khoa học cũng như từ mong muốn của những người “sản xuất” ra chúng, liên kết và di chuyển vượt ra ngoài khuôn khổ của biên giới quốc gia là điều tất yếu thuộc về bản chất Bên cạnh đó, các chính phủ có xu hướng hỗ trợ cho xu thế này thông qua việc thúc đẩy ký kết hợp tác về KH&CN với nhau trong nhiều thập kỷ qua

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về KH&CN còn bị chi phối bởi

những vấn đề thách thức về KH&CN cần giải quyết ở quy mô khu vực và

quốc tế Đây là những vấn đề vượt qua mọi rào cản của biên giới, tác động đến hầu hết các quốc gia và không thể được giải quyết bởi một hoặc một nhóm nhỏ các nước Chẳng hạn như vấn đề y tế (dịch cúm H5N1, virút HIV, Ebola), năng lượng, lương thực, phác thải khí nhà kính, xử lý ô nhiễm nguồn nước, đạo đức trong nghiên cứu, Do tính phức tạp của các vấn đề này nên hợp tác quốc tế giữa các nhà khoa học, các nhà công nghệ trở nên cần thiết để

xử lý một cách tổng thể trên phạm vi toàn cầu KH&CN có nhiệm vụ: (1) Cung cấp các hiểu biết thống nhất về các khía cạnh của vấn đề; (2) Mô tả và phát minh ra các giải pháp KH&CN cho các vấn đề đó; (3) Dự đoán tác động của mỗi giải pháp được đưa ra Để thực hiện được những vai trò này, hoạt động KH&CN cần được tổ chức dưới dạng những thể chế quốc tế, không bị

bó hẹp trong phạm vi của các định chế quốc gia, huy động sự tham gia của

35 Theo Archibugi D và Iammarino S (1997), The Policy imlications of the globalization of innovation,

ESRC Center for Business Research, University of Cambridge, Working Paper No.75

Trang 30

nhiều chuyên gia đến từ nhiều ngành khoa học khác nhau và phi chính trị (non-political).36 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ (NGO) ngày càng tăng, Liên hợp quốc (UN) cũng có những tổ chức chuyên trách về KH&CN,

có nhiệm vụ góp phần xử lý các vấn đề toàn cầu thông qua các giải pháp KH&CN.37 Sự chia sẻ trách nhiệm và hành động của các thành viên là điều kiện tiên quyết cho thành công của mọi liên kết quy mô toàn cầu.38

Hội nhập quốc tế về KH&CN được thúc đẩy bởi những chuẩn mực và quy định đang được công nhận và áp dụng một cách rộng rãi trên thế giới

“Luật chơi” tác động đến cá nhân nhà KH&CN, tổ chức KH&CN và cả quốc gia, vì vậy đặt các chủ thể này vào tình trạng hoặc phải tham gia hoặc bị gạt

ra bên lề Một trong những “luật chơi” điển hình là thước đo về giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu là công bố kết quả tại các tạp chí khoa học

uy tín trong nước và quốc tế, đặc biệt trên các tạp chí được xác nhận bởi Viện thông tin khoa học (ISI) cũng như chỉ số tác động (IF) Đối với công nghệ, các quốc gia, khu vực và quốc tế đều đặt ra các tiêu chuẩn nhất định đối với một loại hình công nghệ Các tiêu chuẩn kỹ thuật này ngày càng gần nhau và

có tính toàn cầu (các quốc gia ký kết các Hiệp định công nhận lẫn nhau MRA

để hài hòa các tiêu chuẩn kỹ thuật) Một công nghệ ở mức dưới chuẩn quốc tế

sẽ khó có cơ hội để tồn tại lâu dài do sẽ khó được thị trường chấp nhận Các

tổ chức KH&CN cũng được đánh giá năng lực thông qua các chỉ số như số lượng giáo sư, tiến sĩ, số lượng bài báo trong nước và quốc tế, số lượng pa-tăng trong năm, số tài chính thu được từ việc ký hợp đồng với các doanh nghiệp.39 Bản thân năng lực của cá nhân các nhà nghiên cứu cũng được điều chỉnh bởi “luật chơi” đánh giá ở quy mô toàn cầu, trong đó thành tựu đóng

36 Theo Roger E L (1979), Global Problems: the role of international Science và technology Organizations,

in Science, Technology and Global Problems Trends and Perspectives in Development of Science and

Technology and their impact on the Solution of contemporary Global Problems, Pergamon Press Ltd.,

Elsevier, pg 45-50

37 Theo King A (1979), A new approach to international Co-operation in Science and Technology with

Regard to Global Problems, in Science, Technology và Global Problems Trends and Perspectives in

Development of Science and Technology and their impact on the Solution of contemporary Global Problems,

Pergamon Press Ltd., Elsevier, pg.51-53

38 Theo Nichols, R W (2003), UNESCO, US goals, và international institutions in science và technology:

what works?, Technology in Society, 25 (2003), Elsevier, pg 275-298

39 Theo Thomson Reuteurs, (2009), White paper using bibiliometrics: a guide to evaluating research

performance with citation data

Trang 31

góp của họ là một yếu tố hàng đầu, tiêu biểu chỉ số H (H-index) Chỉ số này được tính toán dựa vào số công trình công bố và số lần trích dẫn40

và ngày càng được cộng đồng khoa học quốc tế áp dụng, ví dụ như các tạp chí khoa học danh tiếng như Nature, Science, Cell, PNAS và các cơ quan quản lí khoa học ở Âu châu, Mỹ châu, châu Úc.41 Ở quy mô quốc gia, các chỉ số đang được

áp dụng trên quy mô toàn cầu để đo lường hiệu quả hoạt động và năng lực KH&CN của quốc gia42 như tổng đầu tư toàn xã hội cho hoạt động NCTK (GERD), Doanh nghiệp đầu tư cho NCTK (BERD), Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (GII), Chỉ số kinh tế tri thức của Ngân hàng thế giới (KEI)

Hội nhập quốc tế về KH&CN ngày càng có tác động mạnh mẽ đến đời sống của một quốc gia Đây là tác động hai chiều, cơ hội và thách thức đi cùng nhau Theo cách hiểu trước đây, trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế, thị trường và thương mại là hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đối với sự phát triển của mọi quốc gia Tuy nhiên, kể từ thập niên 80, và đầu 90, các tác động của thương mại và thị trường lại đang phụ thuộc ngày càng mạnh mẽ vào KH&CN Năng lực công nghệ quốc gia đã được chứng minh là yếu tố phi giá

cả (non-price) tác động đến sự cạnh tranh của một nền kinh tế.43 Như vậy, đối với các nền kinh tế mở cửa và hội nhập, hội nhập quốc tế về KH&CN sẽ có tác động mạnh hơn do tốc độ mở cửa về thương mại và hội nhập kinh tế sẽ đẩy nhanh tốc độ trao đổi tri thức, khoa học và phổ biến công nghệ với bên ngoài Quốc gia nhỏ hơn thường có dòng chảy mạnh mẽ về tri thức KH&CN chuyển giao vào đất nước mình Quốc gia lớn hơn có tính tự chủ về công nghệ cao hơn

sẽ ít bị ảnh hưởng bởi dòng chảy KH&CN quốc tế44 và chủ động điều phối dòng chảy đó Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nước phát triển có lợi thế nhiều

40

Theo Hirsch, J.E (2005), An index to quantify an individual's scientific research output, Proceedings of

National Academy of Sciences of the United States of America,

http://www.pnas.org/content/102/46/16569.full, ngày cập nhật 12.12.2014

41

Theo Nguyễn Văn Tuấn (2008), Đánh giá ảnh hưởng trong nghiên cứu khoa học qua chỉ số H,

tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=100&News=884&CategoryID=32, ngày cập nhật 12.12.2014

42 Theo OECD (2013), Science, Technology và Industry Scoreboard 2013

43 Theo Petrella, R (1992), Internationalization, multinationalization and globalization of R&D: Toward a new

division of labor in science and technology? Knowledge and Policy, Volume 5, Issue 3, Fall 1992, pg 3-25

44 Theo Carlsson, B., (2005), Internationalization of innovation system: a survey of the literature, Research

Policy, 35 (2006), Elsevier, pg 56-67

Trang 32

hơn các nước đang phát triển vì họ nắm được nhiều cơ hội do sở hữu năng lực công nghệ tiên tiến Các nước đang phát triển cần nắm bắt cơ hội bằng việc tìm

ra những công nghệ tinh xảo và chuyên biệt, khi đó họ sẽ tạo ra được một số lĩnh vực phát triển đặc biệt nhanh (chủ yếu trong lĩnh vực công nghệ cao), vừa phục vụ phát triển vừa tăng cường sức mạnh trong quá trình phân công lao động quốc tế Tuy nhiên, nếu không có công cụ bảo vệ, các nước đang phát triển sẽ chịu sức ép rất lớn từ các công ty, tập đoàn đa quốc gia, và không loại trừ khả năng sẽ là nước nhận những công nghệ lạc hậu, thành nơi gia công công nghệ, hoặc là mảnh đất thử nghiệm cho các công nghệ mới của nước ngoài.45 Họ luôn phải đương đầu với những thách thức thường xuyên như nguồn vốn đầu tư thấp, vòng luẩn quẩn nghèo khổ và kém phát triển, hạn chế tiếp nhận công nghệ tiên tiến, chảy máu chất xám Trong nhiều trường hợp, các tập đoàn đa quốc gia có lợi ích trong việc mua lại các đối thủ cạnh tranh, sát nhập, giảm thị phần hoặc thậm chí thanh toán các phòng thí nghiệm NCTK của nước sở tại Những hành động này sẽ làm nghèo đi hạ tầng công nghệ của một quốc gia, loại bỏ các doanh nghiệp trong nước và hạn chế không gian đóng góp của các tổ chức KH&CN bản địa.46

Trong xu thế không thể đảo ngược của hội nhập quốc tế về KH&CN,

và sức ép của việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, các tổ chức KH&CN buộc phải có những thay đổi và điều chỉnh hoạt động của mình.47Một trong những đặc điểm chính để định hình toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế về KH&CN là sự phân bố lại các tổ chức KH&CN, trong đó trọng tâm là các hoạt động NCTK.48 Thập niên 90, các tập đoàn đa quốc gia bắt đầu thành lập các cơ sở NCTK ở ngoài lãnh thổ hoặc mua lại một số lượng lớn các

45 Theo Hsu, Chia-Wen, Lien, Yung-Chih, Chen, Homin (2014), R&D internationalization và innovation

performance, International Business Review, Elsevier, pg 2-10

46 Theo Archibugi D và Iammarino S (1997), The Policy imlications of the globalization of innovation,

ESRC Center for Business Research, University of Cambridge, Working Paper No.75

47

Theo Sharif, N và Baark, E (2009), The transformation of Research và Technology Organisations in Asia

và Europe,

http://www.naubaharsharif.com/filesforcvprincipalpublications/b11%20Sharif%20Baark%20Introduction.pdf , ngày cập nhật 15.12.2014

48

Theo Godin, B (2004), Globalizing S&T indicators: How statisticians Responded to the Political Agenda

on Globalization, Project on the History và Sociology of S&T indicators,

http://www.csiic.ca/PDF/Godin_27.pdf, ngày cập nhật 12.12.2014

Trang 33

phòng thí nghiệm ở nước ngoài Mục đích chính là: (1) tìm kiếm thị trường mới và năng động; (2) kiểm tra và thử nghiệm các ý tưởng sản phẩm mới; (3) tham gia ngay từ đầu ở những quốc gia có những quy định phù hợp (regulatory niche) để hưởng lợi thế của người đặt nền móng ban đầu (đối với sản phẩm công nghệ cao); (4) Có lợi thế lớn về thời gian, chất lượng, tính linh hoạt và chi phí; (5) Tiếp cận tới các nguồn lực, kết quả nghiên cứu hàng đầu

và nguồn nhân lực chất lượng cao tại các trung tâm nghiên cứu xuất sắc ở nước ngoài.49

Xu hướng tổ chức các hoạt động NCTK của các tập đoàn đa quốc gia là: (1) Định hướng các hoạt động NCTK vào thị trường quốc tế và các trung tâm nghiên cứu; (2) Thiết lập các điểm nhận diện công nghệ ở nước ngoài có sự điều phối chặt chẽ; (3) Tăng quyền tự chủ và thẩm quyền cho các

cơ sở nghiên cứu ở nước ngoài; (4) Liên kết chặt chẽ hơn các đơn vị NCTK phân tán; và (5) Điều phối chặt chẽ và tái tập trung các hoạt động NCTK vào một số trung tâm nghiên cứu hàng đầu để gia tăng hiệu suất hoạt động toàn cầu.50 Việc các tập đoàn đa quốc gia đầu tư hoạt động NCTK ra nước ngoài

có tác động rất lớn lên cách thức tổ chức hoạt động NCTK nói riêng và KH&CN nói chung ở các quốc gia sở tại Khái niệm hoạt động NCTK đã được định nghĩa lại trong bối cảnh mới Hoạt động NCTK không thể nhìn nhận theo cách truyền thống trước đây là chỉ thực hiện ở trong nước và phục

vụ cho nhu cầu của riêng quốc gia đó Điểm thay đổi quan trọng trong cách nhìn mới là: một phần các hoạt động NCTK được thực hiện trong phạm vi biên giới của quốc gia là để phục vụ thị trường nước ngoài; và ngược lại, một phần các hoạt động NCTK được thực hiện ở nước ngoài là để dành cho thị trường trong nước Điều này tác động đến việc sắp xếp lại của các tổ chức KH&CN Một số tổ chức KH&CN đã tư nhân hóa, một số khác áp dụng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực hoạt động vào quy trình quản lý Một số tổ chức tỏ ra lo ngại dưới sức ép của hội nhập và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học sẽ giảm đam mê nghiên cứu theo cách truyền thống là

49 Theo Gerybadze, A., Reger, G (1999), Globalization of R&D: recent changes in the management of

innovation in transnational corporations, Research Policy, 28, 1999, Elsevier, pg 251 – 274

50 Theo Gassmann, O và von Zedtwitz, M (1999), New concepts và trends in international R&D

organizations, Research Policy, 28 (1999), Elsevier, pg 231-250

Trang 34

lấy tri thức mới và sự sáng tạo thay vì lấy hội nhập hoặc thị trường làm động lực Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phần lớn các tổ chức KH&CN đã chọn cách thức liên kết với các doanh nghiệp cũng như các đối tác khác trong

hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS) để thay đổi chất lượng hoạt động của mình Sự liên kết này không chỉ giới hạn trong các chủ thể nội địa mà còn

mở rộng với các đối tác quốc tế.51 Đối với các tổ chức KH&CN ở các nước đang phát triển, sức ép của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế lớn hơn, đặc biệt

là các thách thức quản lý và tổ chức triển khai các hoạt động nghiên cứu cơ bản, NCTK, đổi mới và thương mại hóa công nghệ Lý do chính là ở các nước này, cơ chế quản lý KH&CN kém hiệu quả; tỷ lệ đầu tư cho NCTK trên GDP nhỏ; chất lượng các hoạt động NCTK thấp, tập trung nhiều vào thích hợp và chuyển giao công nghệ từ nước ngoài Thị trường KH&CN còn sơ khai Các doanh nghiệp trong nước ít chú trọng đến KH&CN mà tập trung nhiều vào khai thác tài nguyên khoáng sản, bất động sản, dầu khí Thiếu hụt nguồn lực KH&CN (tài chính, hạ tầng, nhân lực) cộng với nhu cầu thị trường nội địa thấp đối với công nghệ phức tạp và đắt đỏ đã làm nản lòng doanh nghiệp tư nhân nỗ lực đầu tư cho NCTK.52 Trong bối cảnh đó, các tổ chức KH&CN phải tăng cường trao đổi tri thức mới, bí quyết công nghệ và sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo bài bản Việc khai thác tri thức mới được hướng đến các nguồn sản xuất tri thức tiên tiến trên thế giới do các nước đang phát triển

đã nhận thức được bản chất của tri thức KH&CN luôn có tính hội nhập toàn cầu Đối với một tổ chức KH&CN, hội nhập quốc tế được xem là hội nhập ở mức độ rộng lớn nhất Theo đó, tổ chức sẽ gặp một khó khăn lớn là sự không tương đồng về các chuẩn mực tổ chức, cách thức đánh giá hiệu quả hoạt động cũng như cách thức quản lý.53

52

Theo Von Zedtwitz , M (2006), International R&D strategies of TNCs from developing countries: the case

of China, in UNCTAD (2006), Globalization of R&D and developing countries, Part II,

UNCTAD/ITE/IIA/2005/6 UN, New York & Geneva

53

Theo Zajac, C (2009), Barriers to cultural và organizational integration in international holding groups –

nature, scope và remedial measures, Journal of Intercultural Management, Vol.1, No.2, November 2009,

pg.50-58

Trang 35

Hội nhập quốc tế về KH&CN cũng là một quá trình tất yếu Quá trình này được thúc đẩy bởi: bản chất kết nối quốc tế và lan tỏa toàn cầu của tri thức KH&CN; hội nhập quốc tế mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, mà chủ chốt là kinh tế; KH&CN là giải pháp chính và bền vững cho nhiều vấn đề thách thức toàn cầu Hội nhập quốc tế về KH&CN tạo ra cơ hội cũng như thách thức đối với các tổ chức KH&CN trong quá trình phát triển Lựa chọn của các tổ chức KH&CN là cải cách theo hướng: nâng cao năng lực thực hiện và chất lượng

các sản phẩm nghiên cứu; lấy tiêu chuẩn quốc tế và thị trường làm thước đo hiệu quả hoạt động của đơn vị; liên kết hợp tác với doanh nghiệp, các tổ chức KH&CN trong nước và quốc tế; đào tạo, bồi dưỡng và thu hút được nhân lực chất lượng cao vào làm việc; gắn kết với thế giới trong việc tạo

ra các tri thức mới Tác giả khái quát thành mô hình về quá trình hội nhập quốc tế

về KH&CN ở Hình 2

1.2.2 Lý thuyết rào cản nguồn lực đối với hội nhập quốc tế về KH&CN

Các nghiên cứu lý thuyết về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

và về tổ chức đã chỉ ra các yếu tố tác động có tính quyết định đối với tiến trình cũng như kết quả của hội nhập bao gồm: (1) Chiến lược, chính sách phát triển KH&CN; (2) Hệ thống thể chế có liên quan (giáo dục, KH&CN, sở hữu

Hình 2 Quá trình hội nhập quốc tế về KH&CN

Nguồn: tác giả

Trang 36

trí tuệ, doanh nghiệp công nghệ, ); và (3) Nhóm yếu tố liên quan đến nguồn lực gồm: hạ tầng nghiên cứu, nhân lực KH&CN, thông tin KH&CN, và tài chính cho KH&CN Các yếu tố này vừa có thể tạo ra tác động thuận chiều đối với sự phát triển của chủ thể (tổ chức hoặc quốc gia); vừa có thể tạo ra tác động ngược chiều và khi đó chính chúng sẽ trở thành rào cản đối với tiến trình vận động và phát triển của chủ thể đó

Chiến lược, chính sách của chính phủ được xem là yếu tố có vai trò ảnh hưởng đến tốc độ cũng như đặc điểm của hội nhập quốc tế, mặc dù không phải lúc nào cũng ở chiều hướng làm tăng tốc độ hội nhập, mà có thể là theo chiều hướng làm chậm hoặc cản trở tiến độ Một số quốc gia như Đài Loan hay Hàn Quốc đã thành công nhờ việc xây dựng chiến lược phát triển của mình trên cơ

sở học tập và tiếp thu từ những nước đi đầu trong một số lĩnh vực ưu tiên (Chang, 1999; Sung và Carlsson, 2003) Tuy nhiên, cũng có những quốc gia khác không đạt được thành công như mong muốn Thể chế cũng tác động đến hội nhập quốc tế về KH&CN, chẳng hạn như các quy định về quyền sở hữu trí tuệ, giáo dục (đặc biệt là giáo dục đại học), đầu tư cho nghiên cứu cơ bản Một quốc gia có nhiều quy định khác nhau trong quản lý hoạt động KH&CN, thương mại hóa công nghệ sẽ dẫn đến những thách thức trong việc chuẩn hóa các quy định về quyền sở hữu trí tuệ theo chuẩn quốc tế (Foray, 1995), khi đó

sẽ biến hệ thống sở hữu trí tuệ trở thành rào cản cho hội nhập quốc tế về KH&CN Cơ chế khuyến khích hoạt động nghiên cứu cơ bản và hệ thống giáo dục cũng là hai yếu tố tác động tới hội nhập quốc tế về KH&CN vì chúng tạo

ra các tri thức mới cho nền KH&CN của một quốc gia và kết nối tri thức đó với

hệ thống KH&CN toàn cầu Ở những nước đang phát triển, chính sách hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu cơ bản thường ưu tiên sau so với NCTK hoặc nghiên cứu ứng dụng, đổi mới và thương mại hóa công nghệ (Lee 1996); do vậy ít có xu hướng làm thay đổi rõ rệt năng lực nghiên cứu cơ bản của quốc gia

sở tại (Gregersen và Johnson, 1997) Chính sách giáo dục ở các nước đang phát triển gặp nhiều thách thức về giáo dục trình độ cao Việc thu hút các tiến sĩ đào tạo và làm việc ở nước ngoài về nước vẫn không đủ tạo nên tác động khác biệt đến lượng sinh viên khổng lồ trong nước (Carlsson, 2005) Như vậy, khi yếu tố

Trang 37

chính sách khuyến khích nghiên cứu cơ bản và giáo dục trình độ cao gặp khó khăn trong việc tạo ra tri thức mới và lưu chuyển dòng tri thức đó với thế giới

sẽ trở thành rào cản cho hội nhập quốc tế về KH&CN.54

Nguồn lực là yếu tố cốt lõi cho các tổ chức KH&CN hội nhập quốc tế

Vì theo tổng hợp lý thuyết về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở trên, hội nhập quốc tế về KH&CN sẽ tạo sức ép lên các tổ chức KH&CN phải đối diện với sự thay đổi có tính chiến lược: tồn tại và phát triển hoặc hoạt động kém hiệu quả và đối diện với nguy cơ bị gạt ra bên lề Các tổ chức KH&CN đặt hội nhập quốc tế là một mục tiêu phát triển Nguồn lực là yếu tố quyết định cho sự phát triển của mọi tổ chức, trong đó có hội nhập quốc tế

Lý thuyết về nguồn lực, trong đó Thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory) của Pfeffer và Salancik được xem là nổi tiếng nhất trong suốt thập kỷ 70 đến nay, khẳng định nguồn lực có tính quyết định đối với sự phát triển của tổ chức Mọi tổ chức đều phụ thuộc vào nguồn lực Nguồn lực một tổ chức cần có lại nằm trong tay của các tổ chức khác Nguồn lực chính là nguồn gốc của quyền lực Quyền lực không phải là trò chơi có tổng số bằng không (zero-sum game) mà mỗi tổ chức đều có quyền lực đối với tổ chức khác.55 Vì thế các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau cả về nguồn lực và quyền lực Mọi tổ chức đều cần có nguồn lực thiết yếu để đảm bảo tối thiểu việc vận hành theo đúng chức năng đề ra, duy trì sự tồn tại và ổn định Đồng thời, mọi tổ chức cũng luôn nỗ lực để thúc đẩy phát triển, tăng cường quyền lực, quyền tự chủ, mở rộng quan hệ và tăng trưởng Tuy nhiên, nguồn lực luôn ở mức độ khan hiếm, trong khi các tổ chức thường không thể đưa ra các sáng kiến bù đắp cho tất cả những nguồn lực phục vụ nhu cầu mới, nên các tổ chức thường phải cân đối giữa việc lựa chọn các nội dung ưu tiên với nguồn lực hạn chế.56 Nguồn lực có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động cũng

56 Pfeffer, J và Salancik, G R (1978), The External Control of Organizations: a resource dependence

perspective, Harper & Row, New York

Trang 38

như những thay đổi mang tính chiến lược của tổ chức,57

cho dù nguồn lực đó

đủ, thiếu hay thừa Nguồn lực có thể là động lực nhưng cũng có thể là rào cản đối với sự thay đổi chiến lược của tổ chức Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các tổ chức sở hữu được nguồn lực có giá trị thường ít có xu hướng thay đổi để thích nghi mà ngược lại cản trở những thay đổi cần thiết của tổ chức trong bối cảnh môi trường thay đổi mạnh mẽ (Levitt và March, 1988) Lý do chủ yếu là vì tổ chức đó quá chú trọng vào việc khai thác nguồn lực hiện có thay vì tìm thêm các nguồn lực mới (Leonard-Barton, 1992) Ngay cả đối với những tổ chức được xem là có năng lực đặc biệt, hoặc được hưởng những quy chế đặc thù,

có nguồn nhân lực tài năng và cam kết lâu dài với tổ chức cũng có khả năng chính nguồn lực giàu có đó làm hạn chế sự phát triển do lãnh đạo luôn có xu hướng níu giữ các giá trị truyền thống, ít sử dụng nguồn lực hiện nay để mạo hiểm tìm ra những nguồn lực mới (Selnick, 1957 và Ghemawat, 1991) Như vậy, trong những điều kiện nhất định, nguồn lực lại chính là rào cản đối với

sự thay đổi để phát triển của tổ chức Rào cản đối với sự phát triển của tổ chức được chia thành hai nhóm “rảo cản bên ngoài” (external barrier) và “rào cản bên trong” (internal barrier) Rào cản bên trong chính là các yếu tố nảy sinh từ bên trong tổ chức, thường trực tiếp liên quan đến yếu tố năng lực của

tổ chức đó.58 Rào cản bên trong bao gồm: sự thiếu hụt nguồn lực tài chính (thường là để đầu tư vào thời điểm rất cần thiết), thiếu hụt nguồn nhân lực, cơ

sở hạ tầng không đáp ứng nhu cầu phát triển, thiếu hụt nhận thức trong các thành viên của tổ chức, sự lãnh đạo ở tầm cao chưa đủ mạnh để đưa tổ chức vượt qua những trở ngại cần thiết, thái độ không ủng hộ giữa nhân sự quản lý

và nhân viên đối với những thay đổi trong tổ chức để hội nhập tốt hơn Yếu tố

“thiếu hụt nguồn tài chính để đầu tư” và “nguồn nhân lực” luôn được xem là trở ngại lớn nhất trong các yếu tố bên trong Rào cản bên ngoài tổ chức bao gồm: sự không ổn định về các chính sách, khung pháp lý của quốc gia nơi tổ

57

Kraatz, M S và Zajac, E J (2001), How Organizational Resources affect strategic change và performance

in turbulent environments: theory and Evidence, Organization Science, Vol.12, No.5, September-October

2001, pg 632-657

58

Ceballos, D J et al (2011), The Effect of Internal Barriers on the Connection Between Stakeholder

Integration và Proactive Environmental Strategies, Journal of Business Ethics, Volume 107, Issue 3, May

2012, Springer Science and Business Media B.V, pg 281-293

Trang 39

chức đó đăng ký hoạt động và của quốc tế, sự phức tạp của vấn đề kỹ thuật - công nghệ và sự thiếu vắng thị trường,

Tóm lại, nguồn lực có tính quyết định đối với sự phát triển của tổ chức Nguồn lực luôn khan hiếm và mọi tổ chức đều phải cân đối nguồn lực giữa một bên là duy trì sự ổn định và đảm bảo các chức năng cơ bản của tổ chức mình, với một bên là thay đổi (chủ động hoặc bị động do sức ép) để phát triển hoặc để tồn tại Trong những điều kiện nhất định, nguồn lực là rào cản chính đối với sự thay đổi chiến lược của tổ chức để phát triển Nếu xem các cấu phần của nguồn lực bao gồm nhân lực, tài lực, tin lực và vật lực thì nhóm yếu

tố nguồn lực được xếp vào nhóm rào cản bên trong (internal barrier) Trong

đó, sự thiếu hụt nguồn lực tài chính, thiếu hụt nguồn nhân lực được xem là cản trở nhiều hơn đến sự chuyển đổi chiến lược của tổ chức Hội nhập quốc tế

về KH&CN tạo sức ép cho các tổ chức KH&CN phải chuyển đổi để phát triển nếu không sẽ bị tụt hậu Như vậy, nguồn lực là rào cản có tính quyết định đối với quá trình hội nhập quốc tế về KH&CN của các tổ chức KH&CN Tác giả

mô hình hóa rào cản đối với hội nhập quốc tế về KH&CN ở Hình 3

Hình 3 Những rào cản đối với hội nhập quốc tế về KHCN

Nguồn: Tác giả

Trang 40

* Tiểu kết Chương 1

1 Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu Động lực chính của hội nhập

quốc tế xuất phát từ nhu cầu và lợi ích bên trong của chính chủ thể: đó là nhu cầu tồn tại và phát triển

2 Hội nhập quốc tế về KH&CN có “quyền lực riêng”, tự nó thúc đẩy toàn cầu hóa và hội nhập trong các lĩnh vực khác, kể cả kinh tế Hội nhập KH&CN cũng tạo ra tác động hai chiều đối với các quốc gia/tổ chức, cả cơ hội và thách thức, tác động trực tiếp đến vấn đề tồn tại và phát triển hay bị loại bỏ và tụt hậu

3 Quá trình hội nhập quốc tế về KH&CN đặt tổ chức KH&CN trước sức ép phải điều chỉnh và cải cách theo hướng lấy chuẩn mực quốc tế làm thước đo cho chất lượng hoạt động KH&CN; lấy sân chơi khu vực và toàn cầu làm không gian để tạo ra tri thức mới cũng như phổ biến các tri thức đó ra ngoài lãnh thổ quốc gia; gắn kết các hoạt động KH&CN với các hoạt động khác, trong đó quan trọng nhất là kinh tế; đồng thời góp phần vào sứ mệnh chung của KH&CN trong việc xử lý các vấn đề thách thức toàn cầu Đòi hỏi này càng đặt vấn đề nguồn lực trở thành thách thức lớn hơn đối với tổ chức KH&CN để hội nhập quốc tế

4 Các yếu tố tác động lên hội nhập quốc tế về KH&CN của các tổ chức nói chung cũng như tổ chức KH&CN nói riêng luôn có tính hai mặt, có thể là thúc đẩy nhưng cũng có thể là rào cản Nguồn lực là yếu tốt quyết định sự phát triển của tổ chức KH&CN nói chung và trong hội nhập quốc tế nói riêng

Sự thiếu hụt tài chính, nhân lực, sự lạc hậu của hạ tầng nghiên cứu sẽ biến nguồn lực thành rào cản cho tổ chức KH&CN trong hội nhập quốc tế

Ngày đăng: 22/09/2020, 02:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w