1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng hiện nay.

201 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng Mẫu ở Thành phố Hải Phòng được thể hiện rất đa dạng và phong phú trong suốt tiến trình lịch sử tồn tại và phát triển của tôn giáo này, có nhiều

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHAN THỊ KIM (Thích Đàm Kiên)

SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ

HẢI PHÒNG HIỆN NAY

Chuyên ngành: Tôn giáo học

Mã số: 62.22.90.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHAN THỊ KIM (Thích Đàm Kiên)

SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ

HẢI PHÒNG HIỆN NAY

Chuyên ngành: Tôn giáo học

Mã số: 62.22.90.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC

Chủ tịch hội đồng:

PGS TS Trần Thị Kim Oanh

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS Nguyễn Hữu Vui

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả điều tra trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Phan Thị Kim

(Thích Đàm Kiên)

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 7

1.1 Tổng quan tư liệu nghiên cứu 7

1.1.1 Tư liệu nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo ở Việt Nam 7

1.1.2 Tư liệu nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu 15

1.2 Những vấn đề liên quan đến luận án 19

1.2.1 Khung phân tích lý thuyết và những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu 19

1.2.2 Một số khái niệm và thuật ngữ sử dụng trong luận án 22

Chương 2: CƠ SỞ CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY 31

2.1 Cơ sở địa văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của Thành phố Hải Phòng 31

2.1.1 Cơ sở tự nhiên và kinh tế xã hội 31

2.1.2 Cơ sở văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo 34

2.2 Cơ sở triết lý của Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng 42

2.2.1 Cơ sở triết lý của Phật giáo 42

2.2.2 Cơ sở triết lý của tín ngưỡng thờ Mẫu 52

Tiểu kết chương 2: 62

Chương 3: BIỂU HIỆN CƠ BẢN CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY 64

3.1 Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng qua niềm tin và thực hành tín ngưỡng tôn giáo 64

3.1.1 Biểu hiện qua niềm tin trong thực hành nghi lễ 64

3.1.2 Biểu hiện qua không gian và thời gian thờ cúng 77

3.2 Sự dung hợp giữa tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật giáo ở Thành phố Hải Phòng qua nghi lễ và lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo 95

3.2.1 Biểu hiện qua nghi lễ thờ cúng 95

Trang 5

3.2.2 Biểu hiện qua lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo 105

3.3 Đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật giáo trong sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay 118

3.3.1 Đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu trong sự dung hợp với Phật giáo ở thành phố Hải Phòng 118 3.3.2 Đặc điểm cơ bản của Phật giáo trong sự dung hợp với tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng 123

Tiểu kết chương 3: 136 Chương 4: XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN VÀ BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY 138 4.1 Dự báo xu hướng vận động phát triển 138

4.1.1 Xu hướng lịch sử hóa và hiện đại hóa trong việc dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu 138 4.1.2 Xu hướng địa phương hóa sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng 146 4.1.3 Xu hướng gia tăng hiện tượng mê tín dị đoan, hiện tượng tôn giáo mới trong sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu 148

4.2 Giá trị và bảo tồn giá trị của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng trong quá trình hội nhập 151

4.2.1 Giá trị của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng 151 4.2.2 Bảo tồn giá trị của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng trong quá trình hội nhập 155

Tiểu kết chương 4: 161 KẾT LUẬN 163 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 165 TÀI LIỆU THAM KHẢO 166 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Niềm tin theo Phật – Mẫu của người dân thành phố Hải Phòng 64 Bảng 3.2 Niềm tin của người dân thành phố Hải Phòng qua thực hành

tôn giáo 65 Bảng 3.3 Nhu cầu đi lễ Phật và Mẫu của người dân thành phố Hải Phòng 66 Bảng 3.4 Mức độ hiểu biết về giáo lý và lễ nghi Phật giáo của người dân

thành phố Hải Phòng 68 Bảng 3.5 Mức độ hiểu biết về giáo lý và lễ nghi tín ngưỡng thờ Mẫu của

người dân thành phố Hải Phòng 69 Bảng 3.6 Niềm tin của người dân Hải Phòng về Phật và Mẫu 72 Bảng 3.7 Những nghi lễ người dân Hải Phòng coi trọng và thực hiện trong

đời sống tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật giáo 103

Hải Phòng năm 2014 130 Bảng 4.1 Nghề nghiệp người đi lễ Phật và Mẫu ở thành phố Hải Phòng 142 Bảng 4.2 Độ tuổi người đi lễ Phật và Mẫu ở thành phố Hải Phòng 143 Bảng 4.3 Trình độ học vấn người đi lễ Phật và Mẫu ở thành phố Hải Phòng 144

phố Hải Phòng 147

tín dị đoan ở thành phố Hải Phòng 149 Bảng 4.6: Tình hình kinh tế của người dân thành phố Hải Phòng 150

xã hội ở thành phố Hải Phòng 152

xã hội ở thành phố Hải Phòng 161

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Niềm tin về mối quan hệ giữa Phật và Mẫu của người dân Hải

Phòng hiện nay 73 Biểu đồ 2: Tham gia lễ nghi trong thực hành tín ngưỡng của người dân thành

phố Hải Phòng 104

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng Sự tồn tại của các loại hình tôn giáo tạo nên thế song hành, hòa quyện vào nhau, dung hợp lẫn nhau cùng với bản sắc văn hóa dân tộc trong một khối “nhất thể” gọi chung là bản sắc dân tộc Việt Nam Người Việt vốn khoan dung với các tôn giáo, tín ngưỡng Các tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam cũng khoan hòa, dung hợp với nhau tạo nên sự đoàn kết, tính bao dung, đồng thuận trên tổng thể đời sống tâm linh và đời sống xã hội

Từ xa xưa người Việt Nam đã thực hiện việc thờ cúng của mình trước khi có các tôn giáo ngoại nhập Tất cả các tôn giáo khác từ bên ngoài du nhập vào đều không thể nào xóa bỏ được đạo gốc của dân tộc, mà rút cuộc đều phải chung sống với nó, nếu muốn thu phục được tín đồ Đối với người Việt Nam, đạo nào cũng được coi trọng, miễn là giáo lý không đi ngược với đạo đức của dân tộc, trái với thuần phong mỹ tục của nhân dân, không phản lại lợi ích của cộng đồng, của đất nước

Tính bao dung trong tín ngưỡng, tư tưởng, tự do tín ngưỡng thuộc nếp sống bình thường của người Việt Nam, là cơ sở của sự đoàn kết tôn giáo ngoại lai và tín ngưỡng bản địa trong sự nghiệp xây dựng và giữ nước của dân tộc

Đúng như vậy, lịch sử đã chứng minh xu hướng chủ yếu của các tôn giáo ở nước ta là hướng về dân tộc Trong các tôn giáo hiện có mặt ở Việt Nam, Phật giáo mặc dù là một tôn giáo ngoại nhập nhưng rất gần gũi và hầu như đã trở thành một lĩnh vực tinh thần không thể thiếu của người Việt Nam Phật giáo đã nhanh chóng hòa mình cùng văn hóa dân tộc, hòa mình cùng những phong tục tập quán, tín ngưỡng dân tộc, đặc biệt là tín ngưỡng Mẫu để trở thành Phật giáo riêng, mang đậm tinh thần đặc sắc của Việt Nam

Trang 9

Hải Phòng là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp lớn nhất phía Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ Tín ngưỡng thờ Mẫu vốn mang đậm sắc thái của cư dân nông nghiệp và có nguồn gốc từ chế độ Mẫu hệ Trước khi Phật giáo du nhập vào Hải Phòng, bên cạnh tín ngưỡng thờ Thần, Thánh, người dân đất Cảng đã rất coi trọng tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống tâm linh của mình Khi Phật giáo du nhập vào Hải Phòng, từ rất sớm gắn liền với biểu tượng Tháp Tường Long và thành

Nê Nê, vùng biển Đồ Sơn Con người đất cảng vốn cởi mở trong văn hóa nên

dễ dàng tiếp nhận Phật giáo và đồng thời cũng giống như người dân Việt Nam

ở nhiều vùng miền khác bản địa hóa Phật giáo, dung hợp Phật giáo với tín ngưỡng tâm linh truyền thống của địa phương mình Đặc biệt là dung hợp với tín ngưỡng thờ Mẫu

Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng Mẫu ở Thành phố Hải Phòng được thể hiện rất đa dạng và phong phú trong suốt tiến trình lịch sử tồn tại và phát triển của tôn giáo này, có nhiều đóng góp cho đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa đất Cảng

Dung hợp cho thấy tinh thần khoan dung tôn giáo nói chung, giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng ở Việt Nam và Hải Phòng hiện nay còn

có nhiều ý kiến trái chiều Qua nghiên cứu trong luận án này cho thấy sự dung hợp tôn giáo, tín ngưỡng là một truyền thống văn hóa của người Việt là một tất yếu, đồng thời cũng phản biện lại quan điểm, nhận định trái chiều của một

số học giả hiện nay cho rằng: “Việt Nam không có truyền thống dân chủ, dung hợp và khoan dung tôn giáo”[75;tr.9], hay tính đồng thuận và dung hợp tôn giáo, khoan dung tôn giáo ở Việt Nam chưa thật sâu đậm Nghiên cứu

“Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải

Phòng hiện nay” là khai thác giá trị văn hóa dân tộc, khẳng định căn tính của

Trang 10

Phật giáo Việt Nam, nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân Đảng và Nhà nước khẳng định: Tôn giáo, tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội còn tồn tại lâu dài, nó còn chứa đựng những giá trị văn hóa và đạo đức nhất định, nó còn là một trong những động lực góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu:

- Luận án phân tích sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu

để làm rõ những giá trị và bảo tồn giá trị của sự dung hợp ấy ở thành phố Hải Phòng hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Thứ nhất, phân tích khái quát về cơ sở dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Thành phố Hải Phòng hiện nay

Thứ hai, trình bày và phân tích những biểu hiện và đặc điểm sự dung hợp Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay

Thứ ba, xu hướng vận động và bảo tồn giá trị của sự dung hợp Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng

thờ Mẫu ở Hải Phòng hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Biểu hiện sự dung hợp giữa Phật giáo với tín

ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng trên các lĩnh vực tín ngưỡng, nghi lễ, lễ hội, cơ

sở thờ tự… qua khảo sát một số quận, huyện của thành phố Hải Phòng

Cụ thể phạm vi điều tra xã hội học bao gồm các quận, huyện: : Lê Chân, Đồ Sơn và Thủy Nguyên Số lượng mẫu lựa chọn: Số phiếu phát ra 210 phiếu, thu về 200 phiếu dành cho các đối tượng: (70 phiếu, chiếm 35%) Phật

tử, (50 phiếu, chiếm 25%) người theo tín ngưỡng thờ Mẫu và chức sắc tu sỹ

Trang 11

Phật giáo (20 phiếu, chiếm 10%), người dân địa phương (30 phiếu, chiếm 15%) cán bộ quản lý Nhà nước quận, huyện, xã (30 phiếu, chiếm 15%)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận:

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử; nhất là phần học thuyết về mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội, về sự tương tác giữa các hình thái ý thức xã hội Nghiên cứu Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu

ở Hải Phòng là hai tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng thuộc ý thức xã hội tồn tại độc lập nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, có sự dung hợp với nhau trong quá trình phát triển để từ đó đánh giá những biểu hiện của sự dung hợp giữa hai hình thái ý thức xã hội đó và phân tích giá trị và bảo tồn những giá trị đó trong bối cảnh hiện nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học, nghiên cứu liên ngành, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp:

4.2.1 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát khoa học: là phương pháp tri giác trực tiếp hoặc gián tiếp một cách có hệ thống để thu thập thông tin về sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng

- Phương pháp điều tra: là phương pháp khảo sát sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng qua một số chùa, điện thờ Mẫu để phát hiện các quy luật phân bố và các đặc điểm của sự dung hợp

- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: là nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ từ các công trình đã nghiên cứu đề cập đến sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu để rút ra kết luận cho thực tiễn và khoa học

Trang 12

4.2.2 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận

để tìm hiểu sâu sắc về sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo

ra một hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu

- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Phân loại là sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu Hệ thống hóa là sắp xếp tri thức thành một hệ thống trên

cơ sở một mô hình lý thuyết làm sự hiểu biết về sự dung hợp giữa Phật giáo

và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng đầy đủ hơn

- Phương pháp giả thuyết: Là đưa ra các dự đoán về quy luật của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu sau đó đi chứng minh dự đoán đúng

- Phương pháp lịch sử: Là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu từ đó rút ra bản chất và quy luật của đối tượng

5 Đóng góp mới của luận án

- Một là, phân tích khái quát về cơ sở dung hợp giữa Phật giáo và tín

ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Thành phố Hải Phòng hiện nay: Những cơ

sở địa chính trị, kinh tế, văn hóa, triết lý của Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu thành phố Hải Phòng hiện nay

- Hai là, qua khảo cứu, điền dã, phỏng vấn và điều tra xã hội học, luận án

phân tích biểu hiện của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành

Trang 13

phố Hải Phòng hiện nay qua: niềm tin Phật giáo và tín ngưỡng Mẫu trong thực hành tôn giáo, không gian, thời gian thờ cúng, nghi lễ và lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo của Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng

- Ba là, luận án phân tích giá trị của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín

ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng hiện nay, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy và bảo tồn các giá trị này trong bối cảnh hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần hoàn thiện hơn những hiểu biết về

sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải phòng hiện nay trên một số phương diện biểu hiện Cung cấp những minh chứng lý luận trong nghiên cứu mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa

Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc

hoạch định chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta đối với Phật giáo,

và tín ngưỡng thờ Mẫu, phục vụ nghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo ở Việt Nam nói chung, Phật giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các bài viết của tác giả và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương 10 tiết

Trang 14

Chương 1:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tư liệu nghiên cứu

1.1.1 Tư liệu nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo ở Việt Nam

Mảng tài liệu nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam khá phong phú và đa dạng Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

1.1.1.1 Nghiên cứu về Phật giáo

Nghiên cứu về Phật giáo là mảng đề tài được đề cập đến ở nhiều công trình nghiên cứu trên các phương diện tiếp cận từ lịch sử Phật giáo, tư tưởng Phật giáo, triết học Phật giáo, trong đó, tiêu biểu các công trình sau:

Phật giáo nhìn toàn diện do Piyadassi, (Nguyễn Kim Khánh dịch)

Đây là công trình viết một cách toàn diện về Phật giáo Khẳng định tinh thần của Phật giáo vừa là một tôn giáo và còn là một trào lưu triết học

Cuốn 2500 năm Phật giáo, do P.V.Bapat viết, nghiên cứu về lịch sử

của Phật giáo Ấn Độ, các trường phái triết học và văn học Phật giáo trong đời sống văn hóa nhân loại

Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận (1999) của Kimura Taiken trình bày

về nguồn gốc, lịch sử, tư tưởng và giáo lý cơ bản của Phật giáo Đại thừa

Phật giáo và Văn hóa, của tác giả D.T.Suzuki người Nhật Bản đã chỉ

cho người đọc thấy mối liên hệ, vai trò của Phật giáo trong văn hóa, đáng lưu

ý là nhận định trích dẫn của nhà nghiên cứu Chu Mur:

Trong Phật giáo chúng ta tìm thấy chủ nghĩa tự nhiên như một học thuyết chủ yếu về hiện thực; chủ nghĩa duy lí như một phương pháp chủ yếu để phát hiện và kiểm tra chân lý; chủ nghĩa thực chứng

Trang 15

như mặt đối lập với phép siêu hình và như sự mong muốn chuyển dịch trọng tâm từ niêm tin vào Thượng Đế sang phục vụ con người; chủ nghĩa nhân đạo như một quan niệm cơ bản của cuộc sống và các giá trị của nó [134; tr 92]

Thiền luận là công trình của Daisetz Teitaro Suzuki (1992) cho người

đọc thấy được những kiến giải mới về giáo lý của Phật giáo từ tri thức luận thiền học uyên thâm

Ngoài ra, nhiều học giả Việt Nam trong các công trình của mình đều ít nhiều đưa ra những phân tích riêng về giáo thuyết của Phật giáo:

Phật học phổ thông (1992) của Thích Thiện Hoa phân tích và làm sáng

tỏ về: Lược sử đức Phật, về quy y Tam Bảo, ngũ giới, thập thiện, tứ nhiếp

pháp, lục hòa, tịnh độ; Phật học cơ bản, tập 1 (2003) của tác giả Thích Viên

Giác, Nxb Tôn giáo, phân tích đã hệ thống những kiến thức cơ bản về Phật

giáo; Ấn Độ Phật giáo sử luận (2006), tác giả Viên Trí; Lịch sử triết học Ấn

Độ (2007), Thích Mãn Giác; Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo (1994) của

Thích Tâm Thiện, Nxb Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh xuất bản… và nhiều bài báo đăng trên các tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Nghiên cứu Triết học cũng đề cập đến vấn đề nêu trên

Qua đây cho thấy, khi nghiên cứu về Phật giáo các tác giả chủ yếu trình bày những vấn đề khái quát về sự ra đời, lịch sử và tư tưởng Phật giáo, thường xem vừa là một tôn giáo, cũng vừa là một bộ phận của triết học Ấn

Độ Các công trình này đều khái quát được ít nhiều về những tư tưởng, quan điểm Phật giáo và ý nghĩa triết học của nó

Những vấn đề cơ bản nhất của Phật giáo đều được các công trình trên nghiên cứu, phân tích, đào sâu, khai thác để làm sáng tỏ các nội dung căn cốt nhất của Phật giáo là sự ra đời, nội dung giáo lý, giáo luật, triết học Phật giáo

Từ đó chỉ ra các đặc điểm làm cơ sở nền tảng cho những nghiên cứu chuyên

Trang 16

sâu về Phật giáo Việt Nam, những tác động, ảnh hưởng, đóng góp và mối liên

hệ giữa Phật giáo với văn hóa, xã hội và con người Việt Nam nói chung, tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam nói riêng

1.1.1.2 Nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam

Phật giáo Việt Nam là mảng tư liệu được đề cập đến cũng khá phong phú và đa dạng:

Việt Nam Phật giáo sử luận, của Nguyễn Lang, do Nxb Văn học Hà

Nội (2000) đề cập toàn diện và bao quát về tiến trình du nhập, phát triển của Phật giáo ở nước ta từ khởi nguyên đến các giai đoạn phát triển Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần và Nguyễn trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội (1988),

phân tích rất chi tiết về những giai đoạn hình thành phát triển của Phật giáo Việt Nam trên phương diện tư tưởng và các mốc lịch sử gắn với từng giai đoạn, từng triều đại phong kiến và vai trò của nó đối với lĩnh vực văn hóa, chính trị, xã hội và nhất là lịch sử tư tưởng Việt Nam

Thiền Uyển Tập Anh, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên cứu

Phật học, Nxb Văn học ấn hành (1990), trình bày về hành trạng và tư tưởng của các Thiền sư thông qua các tông phái Thiền học từ thời kỳ Bắc thuộc, Đinh, Lê, Lý, Trần Công trình thể hiện hơi hướng kết hợp giữa văn học và lịch sử được trình bày theo lối truyện kí và triết học, khúc triết, rõ ràng và dễ theo dõi

Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến 1981), Bồ đề Tân Thanh

Nguyễn Đại Đồng, Nxb Văn học (2012) Nội dung phân tích về về Phật giáo

từ khi ra đời ở Ấn Độ, lan truyền sang Trung Hoa và đặc biệt đi sâu phân tích các sự kiện tư tưởng, lịch sử phát triển của Phật giáo ở Việt Nam

Trang 17

Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước, do nhóm tác giả Nguyễn Hồng Dương và Thượng tọa Thích Thọ Lạc

(đồng chủ biên) Công trình tập hợp những bài viết của hội thảo đánh giá về vai trò của Phật giáo Đại Việt dưới các triều đại Đinh và Tiền Lê

Lịch sử đạo Phật Việt Nam, Nguyễn Duy Hinh, Nxb Tôn giáo, Hà

Nội, là công trình đề cập đến những nội dung tư tưởng, lịch sử của đạo Phật được truyền bá và phát triển ở Việt Nam

Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Hùng Hậu, Nxb

Khoa học Xã hội, Hà Nội (2002), phân tích những tư tưởng triết học Phật giáo

Ấn Độ và sự biểu hiện, những biến đổi, tiếp thu và phát triển trong các Thiền

sư Việt Nam Các dòng phái triết học Phật giáo Việt Nam từ Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường thời Lý đến Trúc Lâm Yên Tử thời Trần,

có sự điểm qua về Lâm Tế Tông, Tào Động tông ở Việt Nam…

Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam (1986) là chủ

đề hội thảo do Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Triết học tổ chức và được xuất bản, trình bày về các đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, nội dung tư tưởng thiền phái Phật giáo ở Việt Nam

Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (1997) của Viện Triết học do

Nguyễn Tài Thư chủ biên, phân tích ảnh hưởng của các hệ tư tưởng tôn giáo trong đó có đề cập đến ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống, tư tưởng và nhân cách con người Việt Nam hiện nay

Phật giáo và văn hoá Việt Nam, của Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội

(1999) cũng là tác phẩm làm sáng rõ về vai trò, mối quan hệ của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam trên các lĩnh vực khác nhau từ văn hóa vật thể đến văn hóa phi vật thể…

Trang 18

Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại, Nxb Tp Hồ Chí Minh (1993);

Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám (3 tập), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (1997, 1998); Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

(1975), là cụm công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn của Trần Văn Giàu đề cập đến hệ thống những giá trị truyền thống của dân tộc Viêt Nam, trong đó tư tưởng Phật giáo được xem như một giá trị có lịch sử lâu đời

và ảnh hưởng rất lớn đến thang các giá trị truyền thống, đến lịch sử tư tưởng của người Việt Nam

Có một nền đạo lý ở Việt Nam, Nguyễn Phan Quang, Nxb Thành phố

Hồ Chí Minh (1996) phân tích được mối liên hệ và tác động qua lại của đạo đức Phật giáo với đạo lý dân gian Việt Nam

Văn hoá Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ, Nguyễn Thị Bảy, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội (1997) là luận án

tiến sĩ được xuất bản thành sách chuyên khảo trình bày về văn hoá Phật giáo

và những ảnh hưởng của nó đến đời sống của người dân Việt ở Hà Nội và vùng đồng bằng Bắc Bộ;

Ngoài ra, có thể kể đến các công trình khác cũng đề cập đến vấn đề

nghiên cứu này như Đại cương triết học Phật giáo, Thích Đạo Quang, Nxb Thuận hoá, Huế (1996), Những nét đẹp văn hoá của đạo Phật, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành (1995); Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc

con người, Thích Minh Châu; Phật giáo với dân tộc, Thích Thanh Từ, Thành

hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh (1995); Phật giáo Việt Nam với cộng đồng

dân tộc, Lê Cung, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành

(1996) đều tập trung làm sáng tỏ những vấn đề khẳng định vị thế của Phật giáo đối với lịch sử đất nước và con người Việt Nam

Trang 19

Bên cạnh đó có nhiều hội thảo về chủ đề này: “Phật giáo nhập thế và

phát triển”, Học viện Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, (Nxb Tôn giáo

2008); “Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại” (TP Hồ Chí Minh 1999);

“Thực trạng, nguyên nhân, xu hướng vận động của Phật giáo ở Việt Nam

và những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo quản lý” Học Viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2001); “Chính sách của Nhà nước Việt Nam

đối với Phật giáo Nam tông và đạo Tin lành vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm phục vụ cho công tác chỉ đạo điều hành của Đảng và Chính phủ”

(Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 2005); “Ảnh hưởng của Phật giáo

trong đời sống tinh thần của nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ” (Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2007)…

Gần đây cũng có nhiều luận án Tiến sĩ Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học bảo vệ thành công về chủ đề đánh giá những ảnh hưởng của Phật giáo

đến các lĩnh vực của đời sống xã hội như: “Ảnh hưởng của những tư tưởng

triết học Phật giáo trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam”

của Lê Hữu Tuấn (Hà Nội, 1999);“Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong

đời sống đạo đức của xã họi Việt Nam hiện nay”, của Tạ Chí Hồng (Hà Nội,

2004) “Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức của con người

Việt Nam hiện nay”, Hoàng Thị Lan (Hà Nội, 2004) “Ảnh hưởng của văn hoá tôn giáo trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam hiện nay”, Lê

Văn Lợi (Hà Nội, (2008); “Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến

đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Nguyễn Thị

Thúy Hằng (2015)…

Ngoài ra còn có nhiều công trình trên các tạp chí Nghiên cứu Tôn

giáo, Triết học, Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Phật học… cũng đề cập

đến vấn đề này: “Một vài đóng góp của Phật giáo đối với văn hoá Việt

Nam”, Nguyễn Xuân Nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2005, “Bàn

Trang 20

thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay”, Lê Đức Hạnh, (Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 10/2007); “Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, của Hòa

thượng Thích Thanh Tứ (Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3/2006); “Nhận

diện để phát huy giá trị di sản văn hoá Phật giáo Việt Nam” (Tạp chí

Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2008) của Đặng Văn Bài; “Ảnh hưởng của

“Tâm” trong Phật giáo đối với văn hoá tinh thần của người Việt Nam hiện nay” của Ngô Thị Lan Anh, (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2008);

“Phát huy giá trị nhân văn Phật giáo trong xây dựng xã hội mới hiện nay”, Ngô Văn Minh (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2009), “Giáo lý Nghiệp

của Phật giáo với vấn đề đạo đức con người Việt Nam”, Nguyễn Thị Điệp,

(Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 8/2011); “Lễ hội Quán Thế Âm trong một

số ngôi chùa ở Bắc Bộ”, Phan Thị Lan Anh (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo,

số 01/2014);…

Nghiên cứu về Phật giáo Hải Phòng là mảng tài liệu rất khan hiến Hiện chỉ có một số công trình:

Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố, Hội Khoa học Lịch sử và Nhà

xuất bản Hải Phòng phối hợp ấn hành tập 1 cuốn sách “Chùa cổ Hải Phòng”

Cuốn sách dày 200 trang, mang tính chất giới thiệu về 50 ngôi chùa cổ ở thành phố Hải Phòng Đây đều là các công trình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, tôn giáo của thành phố

Cuốn “Chùa Đỏ xưa và Nay” của Ngô Đăng Lợi, Nxb Tôn giáo (2002)

Giới thiệu về toàn bộ lịch sử và hệ thống thờ tự của ngôi chùa này Tác giả có viết: “Theo truyền ngôn, năm Mậu Tuất (1288) Hưng Đạo Vương khi đến vùng An Dương để nghiên cứu trận thuỷ chiến tiêu diệt đoàn thuyền Ô Mã Nhi rút chạy qua cửa Bạch Đằng, có đội hoả đầu quân ở chùa Linh Độ Tự lo việc phục dịch ăn uống cho bộ chỉ huy chiến dịch Chùa vốn là nơi am thanh

Trang 21

cảnh vắng, khi đội hoả đầu quân đến đóng, bếp luôn đỏ lửa Do đó có tên dân

dã để nhớ đến kỷ niệm ngày Đức Thánh Trần trú quân ở đây”[105;tr.15]

Cuốn Hải Phòng di tích lịch sử văn hóa (1993) của Trịnh Minh Hiền,

Nxb Hải Phòng; giới thiệu về một số di tích chùa cổ Hải Phòng và đình đền, danh thắng của Hải Phòng

Ngoài ra còn một số tư liệu có đề cập đến các cơ sở thờ tự của Phật

giáo và tín ngưỡng và văn hóa, lịch sử ở Hải Phòng như: Du lịch văn hóa Hải

Phòng (2006) của Trần Phương, Nxb Hải Phòng; Di tích lịch sử Tràng Kênh Thủy Nguyên Hải Phòng (2015) của Nguyễn Văn Mỹ, Nxb Hải Phòng; Quá trình hình thành phát triển thành phố và đặc tính người Hải Phòng (1987),

Ban Nghiên cứu lịch sử Hải Phòng, Nxb Hải Phòng; Đảng bộ Hải Phòng

qua các kỳ đại hội (2000) của Đoàn Trường Sơn, Nxb Hải Phòng Luận án

Tiến sĩ văn học Nghiên cứu văn bia Hải Phòng (2011) của Nguyễn Thị Kim Hoa; Luận án Tiến sĩ văn hóa học Tín ngưỡng thờ thủy thần ở Hải Phòng

(2011) của Trần Quốc Tuấn…

Khái quát về tình hình nghiên cứu về Phật giáo và những vấn đề liên quan đến Phật giáo, Phật giáo ở Việt Nam cho thấy:

Nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, lịch sử Phật giáo Việt Nam và vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội là lĩnh vực thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Các công trình nghiên cứu tiếp cận lịch sử Phật giáo và vai trò của Phật giáo dưới nhiều quan điểm và góc độ khác nhau

Bên cạnh những nghiên cứu về lịch sử, giáo lý, giáo luật, lễ nghi, triết học, các học giả cũng chú ý nghiên cứu về những giá trị của Phật giáo như đề cập đến các giá trị đạo đức, giá trị nghệ thuật, tư tưởng và giá trị thẩm mỹ và những ảnh hưởng Phật giáo đến đạo đức, lối sống của người Việt Nam, sự dung hợp, hội nhập giữa Phật giáo với văn hóa Việt Nam

Trang 22

Nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Hải Phòng nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng, đặc biệt sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng là mảng tư liệu còn ít và là khoảng trống để luận án này có những đóng góp mới

Chưa thấy có công trình nào bàn về sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng hiện nay Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, luận án tập trung vào việc phân tích sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng hiện nay

1.1.2 Tư liệu nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu

tác phẩm của một số tác giả trong nước viết về tín ngưỡng thờ Mẫu

Các tư liệu nghiên cứu về tín ngưỡng Mẫu được dịch ra từ văn tư Hán

Nôm có thể kể đến như Vân Cát Lê gia ngọc phả; Truyền kỳ tân phả; Vân

Cát thần nữ cổ lục …,

Tư liệu Quốc ngữ và chữ Pháp về tín ngưỡng Mẫu như Nam Hải dị

nhân (Phan Kế Bính); Truyện thần nữ Vân Cát (Thiên Đình hay Nam

Phong); Sự tích Liễu Hạnh công chúa (Trọng Hối, 1959); Leculte des

immortels (Nguyễn Văn Huyên, 1944)…

Trong những thập kỉ gần đây có thể kể đến các công trình nghiên cứu chuyên biệt về tín ngưỡng Mẫu như:

Đặng Văn Lung với hai tác phẩm: Tam Tòa Thánh Mẫu, (1991), Nxb

Văn hóa dân tộc, Phân tích những yếu tố và màu sắc dân gian về Thánh Mẫu Liếu Hạnh và quá trình hình thành, đặc điểm của Tam Tòa Thánh Mẫu trong

đời sống tâm linh người Việt Nam; Văn hóa Thánh Mẫu (2004), đề cập

nhiều tư liệu về các “Mẫu” được viết dưới góc độ văn hóa, văn học và lịch sử chứ chưa xét dưới góc độ tín ngưỡng và tôn giáo

Trang 23

Ngô Đức Thịnh với Đạo Mẫu ở Việt Nam (2 tập, 1996); Đạo Mẫu và

các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á (2004)

phân tích và nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam về lịch sử, hệ thống thờ tự và các bài Chầu văn của các giá đồng do tác giả sưu tầm và biên soạn

Nguyễn Đăng Duy với Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam

(2001), đề cập đến tín ngưỡng thờ Mẫu, những vấn đề cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu, hiện tượng Mẫu Liễu Hạnh, nghi lễ hầu đồng, không gian thờ Mẫu,

ở ba miền Bắc, Trung và Nam Tác giả nhận định:

Như vậy, có thể nói được rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu ở người Việt (Kinh) hay ở Việt Nam, khởi đầu gắn với con người còn cư trú trên các miền rừng núi Có nghĩa là tín ngưỡng thờ Mẫu khởi nguyên từ miền rừng núi, thờ Mẹ Cây (sau này gọi Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn lâm), rồi theo dòng lịch sử, dần đi xuống trung du, đồng bằng, bổ sung thêm những Mẫu khác [32, tr.159-160]

Khi xem xét dấu ấn Phật giáo trong hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, tác giả phân tích và khẳng định:

"Từ Phật giáo mà họ cho Mẫu Liễu luân hồi hóa kiếp mấy lần, hay

như Mẫu Liễu được Phật bà quan âm cứu thoát khi bị mắc mưu sa lưới, trong lúc chiến đấu ác liệt với Nội đạo Trần Toàn, hay Mẫu Liễu hóa là một bà già, chữa thuốc cứu độ chúng sinh" [32, tr.176]

Như vậy, ta thấy ít nhiều tác giả đã đề cập đến sự dung hợp các tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam, trong đó có Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu

“Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam”,

tác giả Chu Quang Trứ (2000) có bài viết về tín ngưỡng thờ Mẫu nhưng còn sơ sài, tác giả giới thiệu dàn đều bốn loại hình tín ngưỡng chủ yếu tại Việt Nam

Trang 24

Lịch sử tín ngưỡng Đông Nam Á xuất bản năm 2000, tái bản năm

2003 của Trương Sĩ Hùng (chủ biên), trong đó có bài viết: Thờ Mẫu Việt Nam một tín ngưỡng điển hình ở Đông Nam Á Tác giả giới thiệu về lễ hội thờ Mẫu và bước đầu đưa ra kết luận tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam mang sắc thái điển hình ở Đông Nam Á

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Miền Trung, Phân viện Nghiên cứu Phật học

Huế, do Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) lại một lần nữa khẳng định về tục thờ

Mẫu và diễn trình của tục thờ Mẫu, các tác giả đi sâu vào các nữ thần ở Miền Trung, đặc biệt là Thần Nữ YANA

Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh (2001), có viết về

các tín ngưỡng dân gian Việt Nam hiện nay, trong đó có cả tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng Tam phủ - Tứ phủ, nhưng không nghiên cứu sâu từng loại hình tín ngưỡng mà chỉ nêu khái quát từng loại hình tín ngưỡng dân gian

mà thôi

Lễ hội dân gian ở Nam bộ, Trương Quốc Thắng (2003), có bài viết: Lễ

hội thờ Mẫu - Nữ thần nguyên gốc từ sinh hoạt dân gian Bắc Bộ Tác giả chủ yếu giới thiệu con đường đưa tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Bắc vào miền Nam như thế nào?

Cũng trong năm 2003, tác giả Nguyễn Chí Bền viết cuốn Văn hóa dân

gian những phác thảo, cuốn sách này tác giả đề cập đến tục thờ Mẫu của

người Việt nhưng ở vùng Nam Bộ

Năm 2005, cuốn sách Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt

Nam do Nguyễn Đức Lữ (chủ biên) cũng viết về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt

Nam, nhưng chỉ đề cập đến khái niệm thờ Mẫu và một số đặc điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu, chưa đi sâu vào nguồn gốc, vai trò…của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

Trang 25

Năm 2005, Mai Thanh Hải là tác giả cuốn sách Tìm hiểu tín ngưỡng

truyền thống Việt Nam Tác giả đưa ra quan điểm thờ Mẫu ở Việt Nam có

cội nguồn bản địa và thờ Mẫu bắt nguồn từ triết lý nhân sinh

Cuốn Nghi lễ lên đồng lịch sử và giá trị của Nguyễn Ngọc Mai (2013),

Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu về nghi lễ lên đồng với tư cách là một hiện tượng văn hóa phức tạp ở vùng đồng bằng Bắc

Bộ Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu về: Phần I Nghi lễ lên đồng và lịch sử phát triển: Nghi lễ lên đồng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, lịch

sử và sự phát triển; Nghi lễ lên đồng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và mối quan

hệ với các tôn giáo khác trong khu vực; Nghi lễ lên đồng hầu bóng với tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ; Hiện tượng lên đồng ở châu thổ Bắc Bộ từ đổi mới đến nay và những tác động của nền kinh tế thị trường; Trang phục trong nghi lễ lên đồng Phần II gồm: Đời sống tâm, sinh lý các căn đồng hiện nay; Nghi lễ lên đồng hầu bóng và sự chuyển đổi nhận thức về tâm linh tôn giáo của các căn đồng hiện nay; Nghi lễ lên đồng hầu bóng, những giá trị về y học; Ý nghĩa xã hội, vai trò của nghi lễ lên đồng hầu bóng

ở đồng bằng Bắc Bộ

Bên cạnh đó còn có nhiều cuộc hội thảo khoa học về tín ngưỡng thờ

Mẫu: Hội thảo Quốc tế "Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội Phủ Giầy”, Hà Nội, năm 2001; “Lễ hội Đền Cờn – Tục thờ Tứ vị Thánh Nương với văn hóa

biển ở Việt Nam” (2009); “Văn hóa thờ nữ thần (Mẫu) ở Việt Nam và văn hóa – Bản sắc và giá trị” (năm 2012);…

Ngoài ra, có nhiều bài báo đăng tải trên các tạp chí: Nghiên cứu Tôn

giáo, Công tác tôn giáo, Triết học: Nguyễn Minh San “Đạo Mẫu ở nước ta –

nhìn từ hệ thống đền miếu và thần tích”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, tr.42-47,

1992; Phạm Quỳnh Phương “Khát vọng của người phụ nữ Việt Nam qua

truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh”, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, Số

Trang 26

4, tr.4-5, 1994; Nguyễn Kim Hiền (2001) “Lên đồng một sinh hoạt tâm linh

mang tính trị liệu”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, tr 69-78 Nguyễn Quốc

Tuấn “Mẫu Liễu Hạnh qua góc nhìn tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu

hóa”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6, tr.50-59, 2004……

Trên đây chỉ là một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu trong những năm gần đây Theo tinh thần đó, tác giả xin tiếp thu, kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả đi trước, kết hợp với những kiến thức do chính bản thân sưu tầm, tích lũy chọn lọc trong quá trình học tập, công tác và khảo sát thực tế về tín ngưỡng thờ Mẫu tại các trung tâm thờ Mẫu Hải Phòng hiện nay để phân tích

và làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu đặt ra trong luận án

1.2 Những vấn đề liên quan đến luận án

1.2.1 Khung phân tích lý thuyết và những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu

Để phân tích sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng, luận án sử dụng hệ thống các lý thuyết nghiên cứu liên ngành:

1) Lý thuyết xã hội học tôn giáo: Đánh giá sự dung hợp giữa Phật giáo

và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng qua những biểu hiện cụ thể Xem xét sự dung hợp như một hiện tượng văn hóa, xã hội Đó là quá trình hòa hợp giữa yếu tố văn hóa ngoại lai (Phật giáo) với yếu tố văn hóa bản địa (tín ngưỡng thờ Mẫu) ở thành phố Hải Phòng qua định tính và định lượng bằng các thao tác xã hội học

2) Lý thuyết về văn hóa vùng: Cụ thể ở đây là sự dung hợp trong văn

hóa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng như thế nào qua niềm tin, lễ nghi, không gian thờ cúng, lễ hội… chỉ ra được tính đặc thù của

sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng do địa văn hóa, chính trị, xã hội quy định Đó là việc xuất hiện những danh lam cổ tự hoặc cơ sở Tôn giáo lớn như: Đền Bà Đế, Đền Chúa bà Năm Phương; chùa Tháp Tường Long, chùa Dư Hàng; Chùa An Đà…

Trang 27

3) Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa: Giao lưu văn hóa bao hàm

trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa (của hai cộng đồng, hai dân tộc, hai đất nước) và giao lưu là hình thức quan hệ trao đổi văn hóa cùng

có lợi, giúp đáp ứng một số nhu cầu không thể tự thỏa mãn của mỗi bên, giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa để từ đó làm nẩy sinh nhiều nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển Do đó giao lưu văn hóa là dạng cộng sinh giữa các nền văn hóa Chẳng hạn, những lễ hội, những phiên chợ quê ở đồng bằng hay miền núi Việt Nam là những dạng giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng dân cư, qua đó mỗi cộng đồng giới thiệu những hoạt động văn hóa và trao đổi những sản phẩm văn hóa của mình với các cộng đồng khác, giúp thỏa mãn rất nhiều nhu cầu của nhau và thúc đẩy lan tỏa văn minh

từ vùng này sang vùng khác Lợi ích căn bản và lâu dài mà giao lưu văn hóa đem lại là thúc đẩy sự phát triển của mỗi nền văn hóa Qua giao lưu tiếp xúc với các nền văn hóa bên ngoài những con người của nền văn hóa bản địa thu nhận được nhiều thông tin mới, xử lý những thông tin này giúp họ có được những hiểu biết hoặc tri thức mới, từ đó ở họ nẩy sinh những nhu cầu mới

4) Lý thuyết chức năng trong tâm lý học tôn giáo

Có thể nói đa phần các nghiên cứu về tôn giáo từ góc độ xã hội học và tâm lý học đều bị ảnh hưởng bởi cách tiếp cận chức năng tôn giáo Theo lý thuyết này, con người có nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo như là kết quả của

ba đặc điểm cơ bản của sự tồn tại của con người

1 Con người sống trong các điều kiện bất định, thậm chí nguy hiểm Các sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với sự an toàn và sức khỏe của con người xảy ra nhiều khi vượt quá sự tiên đoán Nói cách khác, sự tồn tại của con người có đặc điểm là nhiều khi phụ thuộc vào những yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ may rủi

Trang 28

2 Năng lực của con người trong việc kiểm soát và tác động mặc dù ngày càng tăng tới điều kiện sống nhưng vẫn còn rất hạn chế Ở một số thời điểm, con người tỏ ra bất lực

3 Con người sống trong một xã hội có sự phân chia lao động và sản phẩm lao động không đồng đều, với tình trạng "kẻ ăn không hết, kẻ lần chẳng ra" Các xã hội tồn tại trong các điều kiện khủng hoảng thì sự khan hiếm, thiếu hụt ngày càng nhiều hơn

Vai trò của tôn giáo là giúp con người thích nghi với thực tế bất định, bất lực, thiếu hụt và các hệ quả của chúng như sự bất an, lo sợ, túng thiếu, nghèo khổ cũng mang tính phổ biến hơn Kể cả cuộc sống hiện đại đôi khi cũng chưa thể cung cấp cho con người một "cơ chế" để thích nghi với những điều kiện sống nói trên

Trên cơ sở những lý thuyết nghiên cứu đó, những vấn đề mà luận án đặt ra trong nghiên cứu này là:

Thứ nhất, sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng Mẫu ở thành phố Hải Phòng đã đáp ứng như cầu tâm linh của quần chúng nhân dân địa phương Tin tưởng vào sự thiêng liêng “phù hộ độ trì” không chỉ của Phật mà cả Mẫu thể hiện một đức tin sâu sắc của đông đảo quần chúng nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân thành phố Hải Phòng nói riêng khi đến chùa

Thứ hai, trong tâm thức dân gian của người dân Hải Phòng, hình tượng

Nữ tướng Lê Chân được xem là vị Phật Bà, Thánh Mẫu của người dân đất cảng Người dân tin rằng nếu như, tin tưởng vào sự thiêng liêng, “phù hộ độ trì” của Phật, Tam bảo, đó là cầu mong sự bình an, sự may mắn, cầu mong điều tốt lành, đề cao chữ “Tâm”, tôn vinh tư tưởng từ bi hỉ xả Thì tin tưởng vào sự thiêng liêng, “phù hộ độ trì” của Mẫu, đó là truyền thống đạo lí, là tâm thức “uống nước nhớ nguồn”, “hướng về cội nguồn”, tôn vinh những người

có công với dân với nước

Trang 29

Thứ ba, bên cạnh ý nghĩa tín ngưỡng, sự dung hợp giữa đạo Phật và đạo Mẫu còn thể hiện sự tích hợp những giá trị văn hóa qua đối tượng thờ cúng, không gian và thời gian thờ cúng, qua nghi lễ và các lễ hội tôn giáo của địa phương Đây cũng là một sinh hoạt văn hoá cộng đồng, thu hút nhiều người, nhất là các bà, các mẹ tham gia

Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng Mẫu ở thành phố Hải Phòng không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm thức, làm phong phú đời sống tâm linh của nhân dân địa phương mà đó còn là quá trình bổ sung lẫn nhau giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu Phật giáo một mặt tiếp thu tín ngưỡng Mẫu để phù hợp với tâm thức người Việt nói chung, người dân địa phương đất cảng nói riêng Mặt khác, tín ngưỡng Mẫu hòa quyện cùng Phật giáo để bổ sung cho mình những triết lý nhân sinh, nhân bản, những tư tưởng từ bi hỉ xả Đó

là quá trình dung hợp, sư tương tác qua lại giữa tín ngưỡng bản địa và tôn giáo ngoại nhập Quá trình tiếp biến giữa tín ngưỡng Mẫu và Phật giáo làm giàu thêm giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, hướng con người về cái thiện, cái đẹp đẽ, cao cả - Chân, Thiện, Mỹ Đó là quá trình tín ngưỡng Mẫu và Phật giáo khẳng định căn tính Việt Nam, bản sắc Việt Nam

1.2.2 Một số khái niệm và thuật ngữ sử dụng trong luận án

của hai chủ thể để biến đổi, tiếp biến và cùng dựa vào nhau để tồn tại, phát triển tạo thành sự đa dạng trong một thể thống nhất Sự dung hợp thực chất là

sự hòa hợp trong sự khác biệt Dung hợp là sự tôn trọng, chấp nhận và đề cao

sự đa dạng, phong phú của các nền văn hóa khác nhau trên thế giới Dung hợp được thúc đẩy bởi sự hiểu biết, sự thẳng thắn, sự giao tiếp và quyền tự do tư tưởng, nhận thức và tín ngưỡng Dung hợp sẽ tạo ra sự ổn định, tính thống nhất, có thể đóng góp vào việc khắc phục những khác biệt về văn hóa tạo nên tính hài hòa Ở một nghĩa khác, dung hợp còn được hiểu là tiếp biến, tuy

Trang 30

nhiên trong luận án này chúng tôi không hiểu theo nghĩa đó Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu là quá trình hòa hợp, lựa chọn và đan xen, kết hợp những yếu tố của Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu trong cùng một không gian tâm linh, không gian văn hóa thờ cúng, cụ thể là trong đền, chùa, phủ

Tôn giáo nào cũng có trong mình tính khoan dung để dễ dàng dung hợp đối với các tôn giáo và tín ngưỡng khác Các tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

có sự dung hợp, đan xen và hòa đồng, không kỳ thị, tranh chấp và xung đột Các tín ngưỡng truyền thống phản ánh đời sống tâm linh phong phú, đa dạng,

sự khoan dung, độ lượng, nhân ái của người Việt Nam và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc Đây là những yếu tố để người Việt Nam dễ hòa đồng với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Trong nhiều cộng đồng dân cư có sự xen kẽ giữa người có tôn giáo và người không có tôn giáo Ở nhiều nơi, trong cùng một làng, xã, có nhóm tín đồ của tôn giáo này sống đan xen với nhóm tín đồ của tôn giáo khác hoặc với những người không theo tôn giáo, và họ sống hòa hợp với nhau trên nền tảng làng, xóm, dòng họ

2 Tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ Mẫu

Về mặt thuật ngữ tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay trên thế giới được sử dụng như sau: Belief, Belive (Tiếng Anh), Tiếng Pháp (Croyan) Ở Việt Nam từ trước đến hiện nay, vấn đề tín ngưỡng cũng có nhiều quan điểm khác nhau

Đặng Nghiêm Vạn, với quan điểm là: Thuật ngữ tín ngưỡng có thể có hai nghĩa Khi nói đến tự do tín ngưỡng, người ngoại quốc có thể hiểu đó là niềm tin nói chung (belief, lelieve, croyance) hay niềm tin tôn giáo (belief, believe, croyance riligieuse) Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần

ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief, believer theo nghĩa hẹp croyance riligieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo [174; tr.76]

Trang 31

Các học giả như Toan ánh, Phan Kế Bính… xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam

Có ý kiến khác thì cho rằng nội hàm cơ bản của tín ngưỡng là “lòng tin,

sự ngưỡng vọng của con người vào một lực lượng siêu nhiên nào đó - một lực lượng siêu thực, hư ảo, vô hình” [110; tr.6]

Tác giả Nguyễn Chính cho tín ngưỡng là tâm linh, vì tín ngưỡng và tâm linh là hạt nhân của tín ngưỡng tôn giáo Đây là niềm tin, sự trông cậy và yêu quý một thế lực siêu nhiên mà với tri thức con người và kinh nghiệm chưa đủ

để giải thích và lý giải được Ông cho rằng: “tín ngưỡng nếu hiểu theo nguyên nghĩa dịch từ chữ Croyance của tiếng Pháp, thì chỉ có nghĩa là sự tin vào một điều gì đó, và thông thường hay được dùng để chỉ một niềm tin tôn giáo (Croyance religieuse)” [137; tr.50] Cũng theo tác giả này thì “tín ngưỡng”, nếu xét về mặt ngữ nghĩa, chỉ là một niềm tin tôn giáo; còn những dạng thức sinh hoạt tâm linh mà chúng ta thường gọi là “tín ngưỡng”, tức là những dạng thức tôn giáo chưa đạt tới cấp độ của một tôn giáo hiểu theo nghĩa cấu thành của nó thì các nhà tôn giáo học thường dùng với thuật ngữ là “sự thờ cúng” hay “sự thờ phụng”, dịch từ chữ Culte của tiếng Pháp hay chữ Whorship của tiếng Anh

Trong Hán - Việt từ điển, Đào Duy Anh đã giải nghĩa: Tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa

Ngoài ra, còn có quan điểm cho rằng: “tín ngưỡng đồng nghĩa với tâm linh (niềm tin thiêng liêng) cũng có nghĩa tâm linh không phải là tôn giáo, tâm linh chỉ là khả năng dẫn tới tôn giáo” [151, tr.97]

Hay tín ngưỡng là một hình thái ý thức xã hội, là một nhu cầu của xã hội và “một khi những nhu cầu ấy chưa được những hình thái của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tôn giáo- tín

Trang 32

ngưỡng vẫn là nguồn gốc của giá trị, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý.” [157; tr.12]

Hiện nay, Nhà nước ta cũng phân biệt rõ ràng giữa tín ngưỡng và tôn giáo, điều này thể hiện ngay trong pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004); hay trong Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2005)… Trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo tại chương I, điều 3 qui định như sau:

Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội [8; tr.10]

Theo Phạm Ngọc Quang, tín ngưỡng dân gian cũng có thể và cần được xem là một yếu tố, một bộ phận văn hóa dân gian Từ quan niệm đó, nếu văn hóa dân gian (folklore) được hiểu là loại hình văn hóa ra đời nhờ sự sáng tạo của chính nhân dân, thì tín ngưỡng dân gian cũng có thể xem là loại hình tín ngưỡng tôn giáo do chính nhân dân - trước hết là những người lao động -sáng tạo ra trên cơ sở những tri thức phản ánh sai lạc dưới dạng kinh nghiệm cảm tính từ cuộc sống thường nhật của bản thân mình [110; tr.8]

Tín ngưỡng dân gian còn phản ánh những ước nguyện tâm linh của con người và cả cộng động, là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ, gắn liền với phong tục tập quán, truyền thống

* Tín ngưỡng thờ Mẫu: Ở Việt Nam đa phần các nhà nghiên cứu tôn giáo cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian, bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ nữ thần (nhưng không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu), là một bộ phận của ý thức xã hội, được hình thành từ chế độ thị tộc mẫu hệ, để tôn vinh những người phụ nữ có công với nước, với cộng đồng

Trang 33

tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội làm Thánh mẫu, Vương mẫu… và qua đó người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp đỡ của các lực lượng siêu nhiên thuộc nữ thần Nội hàm của tín ngưỡng thờ Mẫu được dùng để biểu thị sự tôn vinh, một nhân vật nào đó, hay

có thể đồng nhất với việc thờ các vị nữ thần hiển linh, được tôn phong là Mẫu như: Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu… tín ngưỡng thờ Mẫu còn được hiểu theo một nghĩa hẹp hơn đó chỉ là dạng hình thức tín ngưỡng với tên gọi

là Mẫu Tam phủ - Tứ phủ, hình thức thờ cúng những vị Mẫu cai quản trong

vũ trụ

3 Tôn giáo – Phật giáo là một tôn giáo:

Tôn giáo, theo phương Tây, tiếng Latinh (Religare) có nghĩa là sự nối liền với cái tột cùng, như sự gắn bó với Chúa, với Thượng đế; hoặc được hiểu

là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cái thiêng liêng với cái trần tục Theo quan điểm phương Đông: tôn giáo là Đạo, Giáo, Thờ, Cúng

Theo quan điểm mác-xít, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã hội Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh hư ảo tồn tại xã hội, có kết cấu gồm: Tâm lý, tình cảm, niềm tin và hệ tư tưởng tôn giáo Còn với tính cách là một thực thể, hay một hiện tượng xã hội, tôn giáo thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, được quy định bởi hạ tầng cơ sở xã hội Cụ thể hơn, tôn giáo ra đời từ 3 nguồn gốc: Kinh tế -

xã hội, nhận thức và tâm lý Là một hiện tượng xã hội, kết cấu của tôn giáo bao gồm cả yếu tố vật chất và tinh thần, mà thông thường là các yếu tố: ý thức (giáo lý), nghi lễ, luật lệ và tổ chức

Cũng cần phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị đoan Tôn giáo

và tín ngưỡng có sự khác nhau, song có quan hệ chặt chẽ, mà gianh giới để phân biệt chỉ là rất tương đối Tín ngưỡng có các nghĩa rộng, hẹp khác nhau,

Trang 34

nghĩa rộng, đó là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng, một điều gì đó, thông thường để chỉ một niềm tin tôn giáo; nghĩa hẹp là các hình thức khác với tôn giáo, như người Việt Nam thường gọi “tín ngưỡng dân gian” Còn mê tín dị đoan, đó là tình trạng người

ta quá tin vào cái siêu nhiên, đến mất lý trí, mê muội, tốn tiền của và huỷ hoại sức khoẻ, thậm chí cả sinh mạng, vậy nên hoạt động mê tín phải bị phê phán

đế Phật tự xem mình là “vị thầy chỉ bày con đường” (Margadata), tức là con đường Bát chánh đạo đã dẫn tới giác ngộ và giải thoát, con đường đoạn trừ mọi khổ đau

Phật giáo là một tôn giáo hướng cho con người tới một cuộc sống tốt đẹp nhất, cao cả nhất, thúc đẩy con người tự hoàn thiện mình bằng một nỗ lực đạo đức không ngừng, vượt lên những nhu cầu vật chất tầm thường của cuộc sống, để đạt được sự an lạc và giải thoát Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cách đây

Trang 35

hơn 2.500 năm, đã làm chấn động tận gốc rễ xã hội đẳng cấp lâu đời, buộc tất

cả mọi tôn giáo và triết phái truyền thông phải xét lại cơ sở giáo lý của mình

Và sau khi nó vượt qua biên giới, nó trở thành một tôn giáo thế giới, đã chinh phục trái tim và khối óc của hàng triệu người Ngày nay đạo Phật vẫn đứng vững như bàn thạch Đạo Phật mở con đường du nhập của mình vào nhiều nước trên thế giới ở Á, Âu, Phi và Mĩ La Tinh,…

4 Niềm tin

Niềm tin, là sự phản ánh trong ý thức của con người, là bộ lọc lựa chọn thông tin và chỉ lối cho mọi hành động Con người không nhất thiết phải tin những gì mình thấy, nhưng con người thường có xu hướng "thấy" những gì mình đã tin Ý thức thường loại bỏ những thông tin trái ngược với những gì

đã tin tưởng mà không xem xét liệu niềm tin và thành kiến đó có dựa trên sự thật khách quan hay chỉ là cảm nhận chủ quan

Niềm tin là một cảm giác chắc chắn về một điều gì đó, cho phép con người khai thông những nguồn năng lực để tạo được những kết chắc chắn trong ý thức Thông thường con người đều có sẵn nơi mình câu trả lời cho hầu hết mọi chuyện hay ít ra có thể tìm những câu trả lời cần thiết nhờ những người khác Nhưng con người thường thiếu niềm tin, thiếu sự chắc chắn, khiến chúng ta không sử dụng được khả năng có sẵn nơi mình

suy nghĩ của con người, khi được nhắc đi nhắc lại thường xuyên, sẽ tin vào điều mà suy nghĩ đó được lặp lại, không quan trọng những gì họ nghĩ có phải

là sự thật hay không Và đôi khi niềm tin đơn giản chỉ là tin vào những gì người khác nói, chính họ cũng ko hiểu hết được những điều đang nói đang làm nhưng trong lòng vẫn thuyết phục mình tin vào điều đó bởi vì mình nghĩ

là điều đó đúng và đáng tin tưởng

Trang 36

5 Niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng:

Niềm tin tôn giáo là một dạng nhận thức đặc biệt, dựa trên trực giác, tạo cho con người một niềm tin có tính thiêng liêng, giúp người ta có thể nhận thức được những sự vật mà người thường không thấy được, cho ta một sức mạnh đặc biệt mang tính “thăng hoa" để tác động đến cuộc sống trần tục

Niềm tin tôn giáo là một niềm tin có thật và chắc chắn, là niềm tin mang tính chủ quan, không cần lý giải một cách khoa học Đó là điều kiện để con người đến với tôn giáo Không có niềm tin này con người không thể đến được với đạo Để có được niềm tin đó, người theo đạo cần phải có một sự hiểu biết nhất định về giáo lý, tuân thủ những hành vi, phép tắc tôn giáo theo cách của mình

Niềm tin tôn giáo có tính thiêng còn thể hiện ở những vật thể, những lời thề, những sự kiêng cữ nào đó thậm chí còn gắn với những con người cụ thể Ví dụ: người ta thường nói “Thần cây đa, Ma cây gạo ”, một số người được coi là thánh nhân và trở thành đối tượng được thờ cúng: Trần Hưng Đạo được coi là Đức Thánh Trần

Đặc điểm của niềm tin tôn giáo: Trong tín ngưỡng phải có yếu tố liên quan đến thế giới vô hình, những siêu linh mà do chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra rồi chính chúng lại có thể chi phối tác động ngược trở lại cuộc sống con người Đó là niềm tin vào một quyền lực siêu linh được san sẻ không đều cho những cộng đồng tôn giáo, khẳng định sự ưu ái của quyền lực đó đối với một số người và từ đó an ủi đối với thân phận của một

số người khác

Niềm tin tôn giáo phải là một niềm tin siêu lý, không dựa vào lý tính, thực nghiệm, một niềm tin được cảm nhận hoặc theo truyền thống kinh nghiệm, hoặc do tu luyện dần để khẳng định vững chắc Đó là một niềm tin không cần chứng minh Người ta tin để rồi tin Tin vào những điều vĩnh hằng,

Trang 37

tuyệt đối, một cuộc sống như ý muốn, cuộc sống bất diệt Vì lý do đó mà nội dung Niềm tin tôn giáo phụ thuộc vào những tín điều, giáo lý của từng tôn giáo khác nhau

Niềm tin tôn giáo có phần độc lập với việc am hiểu nội dung tôn giáo Trong thực tế có những người không thực hành nghi thức tôn giáo có khi lại hiểu giáo lý nhiều hơn người thực hành nghi lễ tôn giáo đều đặn Do đó không phải cứ có nhận thức giáo lý một cách vững chắc là có được niềm tin sâu sắc E.Rousseau rất có lý khi ông cho rằng: “chính cái mơ mơ hồ hồ lại tạo dựng cho Niềm tin tôn giáo, làm cho tôn giáo tồn tại.”

Mặc dù nội dung tôn giáo có thể không thay đổi nhưng Niềm tin tôn giáo có thể thay đổi trong từng cá nhân, từng cộng đồng Đối với con người, Niềm tin tôn giáo thay đổi theo tuổi tác, theo sức khoẻ hoặc theo những thăng trầm của cuộc sống

Con người tạo ra thần thánh không chỉ để tin, không chỉ vì cảm nhận sự bất lực, kém cỏi của bản thân mà còn xuất phát từ nhu cầu muốn được bất tử trong một thế giới vĩnh hằng Vì vậy không nên nhầm lẫn hoặc đánh đồng giữa tôn giáo với những ý thức hệ, những chủ nghĩa, những lý tưởng trong cuộc sống đời thường

Trang 38

Chương 2:

CƠ SỞ CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG

THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY

2.1 Cơ sở địa văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của Thành phố Hải Phòng

2.1.1 Cơ sở tự nhiên và kinh tế xã hội

Hải Phòng là vùng đất ven biển, có đời sống sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng đặc trưng, có thể thấy sự giao thoa văn hóa của cư dân nội đồng với văn hóa cư dân từ biển vào Vị thế của Hải Phòng nằm trong vùng ảnh hưởng, giao lưu văn hóa vùng và tiểu vùng, những luồng văn hóa từ các biển đảo, tín ngưỡng dân gian của cư dân nội đồng, ngư dân các vạn chài nơi cửa sông cận duyên khi đứng trước biển có sự khác biệt về cách thực hành nghi lễ Mảnh đất Hải Phòng chịu nhiều thiên tai tác động, có thời kỳ phát triển kinh tế biển đảo và cảng biển phía Bắc, có nhiều thương nhân đến làm

ăn sinh sống, có nhiều yếu tố của đời sống văn hóa phồn thịnh và trở thành một trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng được nhắc đến trong lịch sử dân tộc là bởi những điều kiện địa lý và tự nhiên của thành phố thuận lợi cho sự giao lưu tôn giáo Đặc biệt là giữa Phật giáo – một tôn giáo ngoại nhập với tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân ven biển

Hải Phòng ngày xưa chỉ là một khu đất rộng nằm bên hữu ngạn sông Cửa Cấm Hai lần Pháp tiến quân ra Bắc, năm 1973 và 1882, đều đổ quân tại đây Xưa kia chỉ là một cánh đồng lầy, rộng 150.000 Km2,

, chỗ nông, chỗ sâu Chỗ nông thì dân chúng thường hop chợ bán cá Sau này, người ta đổ cát cho đầy dần Đầu năm 1875 đã có nhiều cư dân lập nghiệp trên bờ song Tam Bạc Tên Hải Phòng do ông Pham Phú Thứ đăt năm 1877, lúc đầu chỉ có tên Ninh Hải là một nha thuộc tỉnh Hải Dương Rồi dần dần được nâng lên thành

Trang 39

một tỉnh năm 1887 Năm 1888, thành phố Hải Phòng tách ra riêng Còn tỉnh

cũ được mang tên Kiến An Từ năm 1882 trở đi, thành phố đã trở nên đông đúc sầm uất, có nhiều cửa hàng lớn mở ra Ngoài bến tàu có nhiều cát, tàu bè khó đi lại, Pháp cho nạo vét, dần dần hình thành một hải cảng quan trọng trong vùng Đông Nam Á [xem 184]

Năm 1887, Nha Hải Phòng gồm các huyện Nghi Dương, An Lão, An Dương thuộc phủ Kiến Thụy và một số xã của huyện Thủy Nguyên Ngày 11 tháng 09 năm 1887, đổi tên là tỉnh Hải Phòng Từ ngày 19 tháng 07 năm 1898 thành lập thành phố Hải Phòng Từ ngày 31 tháng 01 năm 1898, tách thành phố ra khỏi tỉnh Hải Phòng, đổi tên tỉnh Hải Phòng thành Phù Liễn (1902) rồi Kiến An (1906) Ngày 20 tháng 10 năm 1962, Hải Phòng và Kiến An hợp thành thành phố Hải Phòng Thành phố Hải Phòng hiện nay có diện tích rộng

Hải Phòng ngày nay bao gồm 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 7 quận (Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An, Đồ Sơn, Dương Kinh), 8 huyện (An Dương, An Lão, Bạch Long Vĩ, Cát Hải, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo) Dân số thành phố trên 1.925.200 người, trong đó số dân thành thị là trên 847.000 người và số dân ở nông thôn là trên 990.000 người Mật độ dân số 1.260 người/km² [172; tr.7]

Hiện nay, tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh đạt được nhiều thành tựu

rõ rệt Theo Báo cáo thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2014; mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hải Phòng:

Tổng sản phẩm trong nước GDP năm 2014 tăng 8,53% so với cùng kỳ, đạt kế hoạch tăng trưởng 8,0 – 9,0%/năm Trong đó nhóm nông, lâm, thủy sản ước tính tăng 1,89%; nhóm công nghiệp, xây dựng ước tính tăng 10,72%; nhóm dịch vụ tăng 8,2% so với cùng kỳ Cơ cấu các ngành dịch vụ - công

Trang 40

nghiệp, xây dựng – nông, lâm, thủy sản tương ứng 54,89% - 35,69% - 9,42% [173; tr.1- 5] Tổng nguồn vốn đầu tư xã hội đạt 45.345,4 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2015, tổng sản phẩm GDP đạt 37.254,4 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ, bằng 42,92% kế hoạch cả năm Trong đó nhóm nông, lâm, thủy sản ước tính tăng 1,81%; nhóm công nghiệp, xây dựng ước tính tăng 11,86%; nhóm dịch vụ tăng 8,47% so với cùng kỳ Tổng nguồn vốn đầu tư xã hội đạt 16.732,1 tỷ đồng [173; tr.1 - 5]

Hải Phòng không chỉ là vùng đất phát triển kinh tế mà còn là vùng đất gắn với lịch sử và truyền thống dân tộc Thành phố Cảng nổi tiếng với các điểm đến trong ngành du lịch, văn hóa tâm linh như là Khu du lịch Đồ Sơn, suốt nước nóng Tiên Lãng, Khu du lịch Cát Bà, Cát Hải, khu di tích Núi Voi, huyện Vĩnh Bảo quê hương hiếu học có tiếng trong cả nước có đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đền thờ Ngũ Linh Từ Tiên Lãng

Có thể nói, với những cơ sở tự nhiên và kinh tế, xã hội đó, Hải Phòng

là vùng đất có lịch sử truyền thống lâu đời, những điều kiện đó tạo nên tính cách sáng tạo và cởi mở, dễ hoà hợp trong suy nghĩ, tác phong, lối sống và tập quán của cư dân vùng biển Là đầu mối quy tụ của nhiều thành phần dư

cư từ mọi miền quê đến sinh sống nơi đây, đã hình thành nên tính cách kiên nghị, cho con người đất Cảng năng động, sáng tạo trong lao động, nhạy bén với cái mới, sớm tiếp thu được những tinh hoa của thời đại trước biến thiên của lịch sử

Hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, Hải Phòng luôn mong muốn hợp tác với các nhà đầu tư giàu kinh nghiệm và mạnh về năng lực tài chính Mục tiêu của Chiến lược là đến năm 2020 đưa Hải Phòng phát triển nhanh, bền vững, để cơ bản trở thành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại trước năm 2020 từ 3 đến 5 năm Để đạt được mục tiêu này, định hướng của Hải Phòng trong thời gian tới là tập trung huy động mọi nguồn lực của các

Ngày đăng: 22/09/2020, 02:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w