Theo tác giả, cách ăn nói, giao tiếp không phải là biểu hiện xã giao, bề ngoài mà chứa đựng, thể hiện, phản ánh trình độ, quan niệm về đạo đức, văn hoá nhất định, những yếu tố này có ảnh
Trang 11 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu Các số liệu, tư liệu, tài liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, khách quan và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ
Đặng Thị Minh Phương
Trang 4Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH : Công nghiệp hóa HĐH : Hiện đại hóa KTTT : Kinh tế thị trường
KT - XH : Kinh tế - Xã hội NNL : Nguồn nhân lực PTNNL : Phát triển nguồn nhân lực
Trang 61
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 9
1.1 Những công trình nghiên cứu về gia đình và vai trò của gia đình 9
1.2 Những công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 16
1.3 Những công trình nghiên cứu về vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực 24
1.4 Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và một số vấn đề luận án tập trung nghiên cứu 30
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 34
2.1 Quan niệm về gia đình, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 34
2.1.1 Quan niệm về gia đình 34
2.1.2 Quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 39
2.2 Quan niệm về vai trò và nội dung vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 44
2.2.1 Quan niệm về vai trò của gia đình 44
2.2.2 Nội dung vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực 49
2.3 Một số nhân tố tác động đến vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 65
2.3.1 Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế 65
2.3.2 Tác động của khoa học và công nghệ 67
2.3.3 Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường 71
2.3.4 Tác động của yếu tố truyền thống 76
Trang 72
2.3.5 Tác động của chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam 79
Tiểu kết chương 2 84 Chương 3 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 85
3.1 Thực trạng thực hiện vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 853.1.1 Vai trò của gia đình trong tái sản xuất ra con người để phát triển nguồn nhân
lực 853.1.2 Vai trò giáo dục của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực 973.1.3 Vai trò kinh tế và tổ chức đời sống gia đình trong phát triển nguồn nhân lực1133.2 Một số vấn đề đặt ra từ việc thực hiện vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 1213.2.1 Vấn đề nhận thức và thực hiện vai trò tái sản xuất ra con người của gia đình
trong phát triển nguồn nhân lực còn nhiều bất cập 1213.2.2 Yêu cầu giáo dục đạo đức, nhân cách nguồn nhân lực ngày càng cao trong khi
vai trò giáo dục của gia đình có biểu hiện suy giảm 1263.2.3.Yêu cầu nâng cao thể lực và trí lực nguồn nhân lực trong khi khả năng kinh tế,
tổ chức đời sống của nhiều gia đình còn hạn chế 129
Tiểu kết chương 3 134 Chương 4 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT
HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 135
4.1 Quan điểm phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 1354.1.1 Phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực phải gắn với
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia 1354.1.2 Phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực phải gắn với
Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 1384.1.3 Phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực phải gắn với
Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 142
Trang 83
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực 1484.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực 1484.2.2 Tăng cường vai trò giáo dục của gia đình để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực 1554.2.3 Tạo lập những điều kiện vật chất thuận lợi cho việc phát huy vai trò của gia
đình trong phát triển nguồn nhân lực 1614.2.4 Tăng cường vai trò của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc
tạo lập cơ chế, chính sách thuận lợi nhằm nâng cao vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực 169
Tiểu kết chương 4 176 KẾT LUẬN 178 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN 181 TÀI LIỆU THAM KHẢO 183 PHỤ LỤC
Trang 9cơ bị cạn kiệt, bị giới hạn thì NNL lại có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết phát hiện, bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý Trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi trình độ phát triển nhất định của xã hội lại đòi hỏi một NNL phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của thời đại Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế hiện nay, nền kinh
tế chủ yếu dựa vào tri thức thì NNL, nhất là NNL chất lượng cao ngày càng giữ vai trò quyết định
Nằm trong xu hướng phát triển chung của thế giới, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực (PTNNL), đặc biệt là NNL chất lượng cao ở Việt Nam đang trở thành một vấn đề cấp thiết, xuất phát từ sự phát triển của nền kinh tế tri thức; từ đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế; từ sự bùng nổ của cách mạng khoa học và công nghệ và từ chính thực trạng yếu kém của NNL ở nước ta hiện nay Nhận thức được vai trò quan trọng của PTNNL, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác định: PTNNL chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược [26, tr.32] nhằm thực hiện thành công các mục tiêu của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) giai đoạn 2011-2020 Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, trong mục tiêu tổng quát phát triển KT - XH, Đảng ta tiếp tục khẳng định: đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược… nâng cao năng xuất, hiệu quả và sức cạnh tranh [27, tr.271] Đồng thời, cần phải đặt ra yêu cầu
phát triển nhân lực Việt Nam trong giai đoạn mới là “phát triển nhân lực toàn diện,
gồm những yếu tố thể lực, tri thức, kỹ năng, hành vi và ý thức chính trị, xã hội theo yêu cầu phát triển toàn diện con người và phát triển đất nước bền vững chú trọng phát triển nhân tài, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành ” [105, tr.4]
Trang 105
Hơn nữa, trước sự tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nổi bật là cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế, thì PTNNL càng được chú trọng PTNNL chất lượng cao sẽ giúp chúng ta tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế và đưa đất nước phát triển Thực tế cho thấy, Việt Nam đang có NNL dồi dào về số lượng nhưng chất lượng thấp và thiếu hụt nhân lực chất lượng cao là rào cản lớn nhất trong quá trình phát triển KT - XH và hội nhập quốc tế hiện nay Do vậy, việc nâng cao chất lượng NNL là một trong những nhiệm vụ chiến lược, giữ vai trò then chốt để phát triển nhanh và bền vững đất nước Tuy nhiên, PTNNL chỉ đạt được kết quả như mong muốn nếu coi đó là sự nghiệp, là trách nhiệm của toàn xã hội Do đó, PTNNL không chỉ dựa vào vai trò của Đảng và Nhà nước, mà cần sự tham gia tích cực từ các tổ chức chính trị - xã hội, các thiết chế, trong đó cần chú ý đến vai trò của thiết chế gia đình
Xét trên quan điểm toàn diện, PTNNL phụ thuộc vào nhiều yếu tố và môi trường khác nhau, nhưng dưới góc độ tạo NNL cần đặc biệt quan tâm tới vai trò của gia đình Với tư cách là một thiết chế xã hội đặc thù, gia đình vừa là nơi tái sản xuất
ra con người, tạo ra cơ sở sinh học - xã hội cho việc PTNNL, lại vừa là môi trường đầu tiên nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả về thể chất lẫn tinh thần cho NNL Với
tư cách là cơ sở xã hội trong PTNNL, gia đình là môi trường xã hội đầu tiên, là cầu nối để NNL gia nhập vào đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của xã hội
Do vậy, gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành con người, NNL cho xã hội hiện tại và tương lai Thông qua việc thực hiện các chức năng cơ bản, vốn có của mình, gia đình một mặt tái sản xuất ra con người, tạo ra của cải vật chất
để duy trì sự tồn tại và phát triển của chính mình và xã hội, mặt khác, gia đình là môi trường quan trọng bậc nhất trong sự hình thành, phát triển nhân cách của mỗi
cá nhân Gia đình ổn định và phát triển sẽ là điều kiện tốt cho sự phát triển của NNL Vì thế, xây dựng gia đình Việt Nam phát triển bền vững, tạo thuận lợi để gia đình thực hiện tốt các vai trò, chức năng của mình là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng để PTNNL đảm bảo về số lượng và không ngừng nâng cao về chất lượng
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL ở
Trang 116
Việt Nam hiện nay đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức trước sự thay đổi nhanh chóng về KT - XH và biến đổi gia đình Nhiều gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức lớn như: thiếu việc làm, thu nhập chưa ổn định đã hạn chế nguồn vật lực cho việc đầu tư PTNNL Bên cạnh đó, nhận thức của nhiều cha
mẹ còn hạn chế nên cách thức nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục con cái xuất hiện nhiều bất cập ảnh hưởng đến sự phát triển về thể lực, trí lực và nhân cách của NNL Mặt khác, xu hướng gia tăng các cặp vợ chồng ly hôn, ly thân; hôn nhân
có yếu tố nước ngoài; sống chung không đăng ký kết hôn; bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình diễn biến phức tạp; cùng với tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường (KTTT) đưa lại như: lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, coi thường đạo
lý, gia tăng các tệ nạn xã hội… tất cả những điều này đang đe dọa đến sự bình yên,
ổn định và phát triển của gia đình Từ đó, khiến cho nhiều gia đình khó có thể hoàn thành các vai trò, chức năng của mình với PTNNL
Nhận thức được vai trò quan trọng của gia đình với việc PTNNL, năm 2012
Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Chiến lược khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là
môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [109, tr.1] Với tư cách là cơ sở sinh học - xã hội, cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội đầu tiên trong PTNNL, gia đình có nhiều lợi thế để phát triển một NNL “có thể lực tốt, tầm vóc cường tráng, phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực và đạo đức, có năng lực tự học, tự đào tạo, năng động, chủ động, tự lực, sáng tạo, có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng và nhanh chóng tạo được thế chủ động trong môi trường sống và làm việc” [105, tr.2]
Vì vậy, việc xây dựng gia đình Việt Nam với tư cách là tác nhân quan trọng
vì sự ổn định, phát triển chung của xã hội là một chiến lược quan trọng của đất nước
ta hiện nay Bên cạnh đó, sự ổn định, phát triển bền vững của gia đình sẽ là nền tảng quan trọng để tăng cường vai trò của gia đình trong PTNNL phục vụ sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài
Trang 127
nghiên cứu và viết luận án tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của gia đình trong PTNNL, luận án đánh giá thực trạng, phân tích những vấn đề đặt ra, từ đó đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay;
- Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay và phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực trạng đó;
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án tập trung phân tích vai trò của gia đình trong PTNNL
qua ba vai trò cơ bản là: vai trò của gia đình trong tái sản xuất ra con người; vai trò giáo dục của gia đình; vai trò kinh tế và tổ chức đời sống gia đình Từ đó, tác giả luận giải vai trò của gia đình với PTNNL trên hai phương diện số lượng và chất lượng NNL
Chủ thể thực hiện vai trò của gia đình trong PTNNL là gia đình (chủ yếu là cha, mẹ) và đối tượng cần được phát huy là con cái (chủ yếu dưới tuổi 18) với tư cách là nhân lực sẽ bổ sung cho xã hội hiện tại và tương lai Vì thế, nội dung đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của gia đình trong PTNNL trong luận án chủ yếu ở giai đoạn đầu của quá trình PTNNL
- Về thời gian: nghiên cứu vai trò của gia đình trong PTNNL từ khi đất nước
đổi mới (năm 1986) đến nay
Trang 138
- Về không gian: nghiên cứu vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về gia đình, NNL và PTNNL
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu như: lịch sử- lôgíc, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa để làm rõ vấn đề nghiên cứu
5 Đóng góp mới của luận án
- Đánh giá việc thực hiện vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay và phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực trạng đó;
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lí luận: Luận án góp một góc nhìn toàn diện hơn về gia đình và vai
trò của nó trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn: Là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy các
vấn đề liên quan đến gia đình, vai trò của gia đình trong PTNNL ở các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương và 11 tiết
Trang 149
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong những năm gần đây, nghiên cứu về vấn đề gia đình và vai trò của gia đình đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm trên nhiều góc độ
và quy mô khác nhau Liên quan đến đề tài luận án, có thể phân loại thành các nhóm công trình cơ bản sau:
1.1 Những công trình nghiên cứu về gia đình và vai trò của gia đình
Cùng với cơn lốc của cuộc cách mạng công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa diễn ra trên toàn cầu thì “gia đình - tế bào cơ bản của xã hội” đã không ngừng được cảnh báo như là một đối tượng đang
bị đe dọa tổn thương và phải chịu đựng những cú sốc riêng của nó [84, tr.198] Chính vì vậy, nghiên cứu về vấn đề gia đình và vai trò của gia đình đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan và tổ chức trong nước cũng như quốc tế quan tâm
Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề gia đình và vai trò của gia đình trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế Trước hết, cần phải kể đến một số công trình tiêu biểu của nhà nghiên cứu Lê Thi
như: Gia đình Việt Nam ngày nay; Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới; Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam
Trong cuốn Gia đình Việt Nam ngày nay [100], tác giả Lê Thi đã khẳng định
tầm quan trọng của việc nghiên cứu gia đình Việt Nam, bởi gia đình chính là “nhân tố phát triển của xã hội, lịch sử và hiện tại”, là một trong ba mắt xích để hiểu sâu sắc đất nước, con người, lịch sử Việt Nam Gia đình (nhà) - làng - nước, sự gắn kết mật thiết giữa ba yếu tố đó là nét đặc thù của quá trình phát triển dân tộc, đất nước Việt Nam [100, tr.33] Theo tác giả Lê Thi, quan điểm phương pháp luận cơ bản để đánh giá và xem xét gia đình Việt Nam là quan điểm phát triển, phát triển của gia đình gắn với sự phát triển của dân tộc, của xã hội Việt Nam Mỗi quốc gia, dân tộc đều có quá trình phát triển riêng của mình và sự phát triển của gia đình tất yếu không tách rời quá trình phát triển của dân tộc, đất nước mình Vì vậy, cần tìm về cội nguồn dân tộc để hiểu được gia đình Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Việt
Trang 1510
Nam đang đón nhận nhiều nền văn hóa qua các phương tiện thông tin đại chúng nên con người, gia đình, xã hội Việt Nam không thể không chịu ảnh hưởng của bên ngoài, cả tích cực và tiêu cực - đặc biệt về văn hóa, lối sống, nếp sống nên cần coi trọng việc nghiên cứu sự biến đổi của gia đình thế giới để suy nghĩ về bước tiến của gia đình Việt Nam trong những năm tới [100, tr.36-37] Quan điểm của tác giả Lê Thi rất đáng để chúng ta suy ngẫm khi nghiên cứu về vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay Bởi xem xét một cách toàn diện có thể thấy, sự phát triển của NNL phụ thuộc vào cả yếu tố khách quan và chủ quan, yếu tố truyền thống và hiện đại Trong quá trình xây dựng NNL mới cho xã hội hiện tại và tương lai rất cần phải căn cứ vào tình hình thực tiễn của nước nhà, cũng như truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc và tác động của những nhân tố mới từ bên ngoài vào Việt Nam Rõ ràng, dưới góc độ tạo NNL, gia đình luôn có vị trí quan trọng trong việc chăm lo về cả thể chất, trí tuệ và tinh thần cho NNL và khi NNL trưởng thành lại đóng góp sức lực và trí tuệ cho sự phát triển của gia đình và xã hội
Trong cuốn Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới [102], tác
giả Lê Thi đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh về gia đình Việt Nam hiện nay Đó là những thay đổi về cấu trúc, quy mô, chức năng, cũng như quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Những biến đổi của gia đình đã tác động đến vai trò xã hội hóa trẻ em, xây dựng nhân cách con người Tác giả cho rằng, gia đình là một thiết chế giáo dục cơ sở, trung tâm đào tạo đầu tiên giúp đứa trẻ tập sự đi vào cuộc sống Gia đình chuẩn bị cho trẻ có thể phát triển đầy đủ tiềm lực của nó và đóng vai trò hữu ích trong xã hội khi đến tuổi trưởng thành [102, tr.65] Nếu các gia đình làm tốt được vai trò của mình sẽ góp phần quan trọng vào việc PTNNL phục
vụ sự nghiệp phát triển KT - XH của đất nước Những phân tích, so sánh của tác giả
về giáo dục của gia đình truyền thống và gia đình hiện đại khá toàn diện và sâu sắc,
có thể định hướng cho các bậc cha mẹ trong việc giáo dục nhằm nâng cao thể lực, trí lực và nhân cách cho NNL ở Việt Nam hiện nay
Trong một công trình nghiên cứu khác, Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam hiện nay [103], tác giả Lê Thi đã phân tích một cách toàn
diện hơn về cuộc sống hôn nhân, gia đình Việt Nam hiện nay Đất nước ngày càng
Trang 1611
hội nhập sâu vào thế giới, những ảnh hưởng của toàn cầu hoá càng làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội và tác động trực tiếp đến cuộc sống của từng
gia đình ở Việt Nam Vấn đề xây dựng văn hoá gia đình, phát huy quyền làm chủ
của các thành viên, thực hiện sự công bằng, dân chủ, bình đẳng trong quan hệ gia
đình là những vấn đề rất cấp thiết hiện nay Sự biến đổi của văn hóa gia đình cũng
là một trong những yếu tố tác động sâu sắc đến sự biến đổi của chức năng, vai trò của gia đình trong PTNNL cả về thể lực, trí lực và nhân cách Theo tác giả, cách ăn nói, giao tiếp không phải là biểu hiện xã giao, bề ngoài mà chứa đựng, thể hiện, phản ánh trình độ, quan niệm về đạo đức, văn hoá nhất định, những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến giáo dục con cái trong gia đình, đến việc hình thành các phẩm chất đạo đức, nhân cách cho thế hệ trẻ - một trong những nội dung quan trọng trong PTNNL chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
Cuốn Xây dựng gia đình văn hoá trong sự nghiệp đổi mới [112] của Trần
Hữu Tòng - Trương Thìn (Chủ biên), các tác giả đã khái quát thực tiễn xây dựng gia đình văn hóa trong quá trình đổi mới ở nước ta Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng diễn ra sâu rộng, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của gia đình với tư cách là “tế bào” vững chắc của xã hội, là môi trường lành mạnh để xây dựng nguồn lực con người; coi xây dựng gia đình văn hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong chiến lược phát triển KT - XH Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hy vọng rằng, trong thời gian tới, vị trí, vai trò của gia đình ngày càng được khẳng định và các gia đình Việt Nam sẽ ngày càng “khỏe mạnh” hơn để giữ vững nền tảng xã hội, nâng cao chất lượng NNL, thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong tương lai
Cuốn sách chuyên khảo Gia đình học [41] của tác giả Đặng Cảnh Khanh và
Lê Thị Quý là một công trình khoa học công phu, hệ thống, được biên soạn dưới hình thức một giáo trình giảng dạy, nghiên cứu Qua công trình này, các tác giả đã
vẽ ra một bức tranh toàn cảnh về gia đình Việt Nam dưới góc nhìn tiếp biến từ truyền thống đến hiện đại Ngoài những nội dung mang tính lý thuyết, các tác giả cũng trình bày rất nhiều tư liệu nghiên cứu, tổng kết thực tiễn mà các tác giả đã trực
tiếp khảo sát Các tác giả cho rằng, gia đình Việt Nam đang đứng trước những thách
Trang 1712
thức lớn của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Thông qua số liệu thống kê từ những
cuộc điều tra và nghiên cứu cơ bản về gia đình Việt Nam, các tác giả đã phác họa
những nét tổng quát về quy mô, cơ cấu và những hình thức tổ chức vận hành của
gia đình Việt Nam
Các tác giả đã dành nhiều trang sách để phân tích về vị trí, vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng của gia đình Trong các chức năng đó, giáo dục gia đình từ xưa cho tới nay đều có vai trò quan trọng đối với việc hình thành các phẩm chất đạo đức và năng lực của thế hệ trẻ Để NNL tương lai phát triển hài hòa cả thể chất, trí tuệ và nhân cách thì không thể sao nhãng vai trò của giáo dục gia đình Đặc biệt, trong bối cảnh nước ta đang
có những biến đổi sâu sắc trên mọi mặt của đời sống xã hội, tác động rất lớn đến thế
hệ trẻ Đôi khi những tác động tiêu cực lại nổi trội hơn cả những tác động tích cực thì việc tăng cường vai trò giáo dục gia đình là hết sức cần thiết nhằm bảo vệ nhưng cũng đồng thời trang bị cho các em biết cách tự bảo vệ chính mình trước những biến đổi tiêu cực đó Mặc dù không tiếp cận gia đình dưới góc độ PTNNL nhưng những phân tích và điều tra về gia đình và giáo dục gia đình vẫn là những tư liệu quý giúp tác giả luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu về vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay
Trong cuốn Quản lý nhà nước về gia đình, lý luận và thực tiễn [85], tác giả Lê
Thi Quý đã tập hợp các bài viết của một số nhà nghiên cứu và của chính tác giả viết
về lĩnh vực quản lý nhà nước về gia đình Trong cuốn sách này nhiều nhà nghiên cứu
cho rằng: gia đình Việt Nam, bên cạnh những bước phát triển mới, tiến bộ, thuận lợi
cũng đang phải đối diện với rất nhiều thách thức và cũng đã có dấu hiệu của sự khủng hoảng Nguyên nhân của tình hình trên là do sự hạn chế về nhận thức của các cấp lãnh đạo và nhân dân về vị trí, vai trò của gia đình và công tác gia đình, công tác quản
lý nhà nước về gia đình chưa theo kịp sự phát triển của đất nước Nhiều gia đình còn xem nhẹ việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ các thành viên, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em
và người cao tuổi Trong tình hình đó, nếu các gia đình không được hỗ trợ, không được chuẩn bị đầy đủ về nhận thức, về điều kiện vật chất, tinh thần sẽ không đủ khả năng đối phó với những biến động và sự thay đổi nhanh chóng của xã hội và không
Trang 1813
làm tròn được chức năng của mình [85, tr.7] Khi gia đình không làm tròn được chức năng của mình thì việc phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn, bởi vai trò của gia đình trong PTNNL được thể hiện và biểu hiện thông qua chính các chức năng cơ bản của gia đình
Đề tài cấp Bộ Tổng quan về xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2011 -
2020 [66] của Viện Khoa học xã hội Việt Nam do tác giả Nguyễn Hữu Minh làm
chủ nhiệm Công trình này đề cập đến nhiều vấn mang tính “thời sự” của gia đình Việt Nam hiện nay, đó là mối quan hệ giữa vợ và chồng; vị thế và vai trò của con cái trong gia đình; quan hệ cha mẹ - con cái vị thành niên; quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu; quan hệ gia đình và vấn đề tổ chức cuộc sống trong những gia đình có vợ hoặc chồng di cư lao động Những thay đổi trong các mối quan hệ gia đình đang tác động mạnh mẽ đến giáo dục gia đình và do đó cũng tác động không nhỏ đến việc PTNNL
Cuốn sách Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam [129] do tác giả Lê
Ngọc Văn làm chủ biên Cuốn sách là một công trình nghiên cứu công phu, có giá trị khoa học cao Khi viết lời giới thiệu cho cuốn sách, tác giả Trịnh Duy Luân đã cho rằng: đây là công trình thể hiện sự “nỗ lực mang tính bứt phá” [129, tr.12] của tác giả nhằm hệ thống hóa những nội dung quan trọng về gia đình và biến đổi gia đình, được cập nhật trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang có những chuyển đổi mạnh mẽ trên nhiều phương diện Những biến đổi đó đang hàng ngày, hàng giờ tác động đến việc thực hiện các vai trò của gia đình, nhất là vai trò xã hội hóa trẻ em Chức năng xã hội hóa trẻ em của gia đình có nội dung khá phong phú và toàn diện, bao gồm cả giáo dục về thể lực, trí lực và nhân cách nên giáo dục gia đình có vai trò quan trọng, góp phần quyết định đến chất lượng của NNL trong tương lai
Đề tài cấp Nhà nước Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng gia đình Việt Nam đến năm 2020 [86] của Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội do tác giả Lê Thị Quý làm chủ nhiệm Đây là công trình nghiên cứu cơ bản về lý luận và thực tiễn xây dựng gia đình Việt Nam đến năm
2020 Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, xác định hệ quan điểm, chính sách,
cơ chế xây dựng gia đình Việt Nam, tác giả đã phân tích thực trạng dự báo về sự
Trang 1914
biến đổi của gia đình Việt Nam về vị trí, vai trò, chức năng, quy mô, cơ cấu và hệ giá trị văn hóa của gia đình trước những biến đổi của đất nước trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Từ đó, tác giả đã xây dựng hệ tiêu chí cơ bản về xây dựng gia đình Việt Nam đến năm 2020 Những phân tích thực trạng dựa trên kết quả điều tra thực tế của tác giả đã cho thấy vai trò quan trọng của gia đình đối với
sự phát triển của xã hội nói chung và NNL nói riêng Kết quả nghiên cứu của đề tài
là tài liệu tham khảo rất hữu ích khi phân tích và luận giải vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay
Tiếp cận gia đình dưới góc độ xã hội học có một số công trình như: cuốn Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam [47] do tác giả Tương Lai chủ biên đã trình bày khá rõ nét những đặc điểm của gia đình, đặc biệt có những nội
dung phân tích về gia đình và giáo dục gia đình của tác giả Trần Đình Hượu; phụ nữ với chức năng giáo dục gia đình của tác giả Đặng Thanh Lê đã phân tích sâu sắc ảnh hưởng của giáo dục gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của
con người Trong cuốn Xã hội học gia đình [6] của Mai Huy Bích, tác giả đã đi sâu
phân tích các kiểu loại gia đình trên thế giới và Việt Nam, các chức năng cơ bản của gia đình, vị trí, vai trò của gia đình đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội Từ
đó, tác giả chỉ ra những ảnh hưởng của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi người
Ngoài những công trình nghiên cứu trong nước còn có một số công trình
nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như: Cẩm nang về sự đa dạng gia đình (Handbook of family diversity) của David H Demo, Katherine R Allen và Mark A Fine Cẩm nang về Nghiên cứu gia đình trên thế giới (Handbook of World
Families) của Bert N Adams (Trường đại học Wisconsin, Madison, Mỹ) và Jan
Trost (Trường đại học Upsalla, Thụy Điển) Gia đình trong viễn cảnh toàn cầu và
đa văn hóa (Families in Global and Multicultural Perspective), tái bản lần hai do tác
giả Bron B Ingoldsby (Đại học Brigham Young, Mỹ) và Suzanna D Smith (Đại học Florida, Mỹ) biên soạn Đây là những công trình nghiên cứu khá đồ sộ, có tính chất quốc tế về sự biến đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình trong xu thế
hội nhập và tiếp biến văn hóa
Trang 2015
Trong cuốn Handbook of family diversity (Cẩm nang về sự đa dạng gia đình)
[138] của David H Demo, Katherine R Allen và Mark A Fine Cuốn sách đề cập đến nhiều chiều cạnh của sự đa dạng gia đình như sự đa dạng về cấu trúc, chủng tộc, đạo đức và văn hóa của gia đình; sự đa dạng thành phần, giai cấp trong gia đình Theo các tác giả, gia đình vào đầu thế kỷ XXI phải “chia sẻ chung bối cảnh nền tảng của những căng thẳng lớn về kinh tế và xã hội” [138, tr.2], do đó, sẽ không
có một hình thức gia đình được đánh giá bên ngoài bối cảnh KT - XH đặc biệt của
nó và các mối quan hệ của nó với các gia đình khác
Trong cuốn Handbook of World Families (Cẩm nang về Nghiên cứu gia đình trên thế giới) [136] do Bert N Adams (Trường đại học Wisconsin, Madison, Mỹ)
và Jan Trost (Trường đại học Upsalla, Thụy Điển) biên soạn và được nhà xuất bản Sage phát hành Cuốn sách cho thấy một bức tranh về sự đa dạng của gia đình ở các nền văn hoá khác nhau thông qua các xu hướng biến đổi gia đình của các quốc gia
và cách thức mà các nước này phản ứng trước các biến đổi Những thông tin trong cuốn sách là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những nhà nghiên cứu cần tìm hiểu những thông tin cơ bản cần thiết khi thực hiện các nghiên cứu so sánh về gia đình Các chương sách cung cấp cho người đọc kiến thức về sự đa dạng, tính phức tạp và tính chính trị của đời sống gia đình, từ đó giúp họ nâng cao hiểu biết về cuộc sống gia đình ở nhiều quốc gia với các nền văn hoá, kinh tế, chính trị khác nhau trên thế giới Ngoài ra, người đọc có thể học hỏi kinh nghiệm nghiên cứu thực tiễn và có thêm lý luận về nghiên cứu gia đình phục vụ công tác nghiên cứu của mình
Vượt qua ranh giới địa lý, văn hoá và lịch sử, cuốn sách Families in Global and Multicultural Perspective (Gia đình trong viễn cảnh toàn cầu và đa văn hóa)
[137], tái bản lần hai do tác giả Bron B Ingoldsby (Đại học Brigham Young, Mỹ) và Suzanna D Smith (Đại học Florida, Mỹ) biên soạn, đã khám phá sự đa dạng của các gia đình thế giới đặt trong bối cảnh toàn cầu và đa văn hóa, được thể hiện ở nhiều chiều cạnh như: lịch sử, cấu trúc, bối cảnh xã hội và môi trường cho sự hình thành
và phát triển của gia đình Vấn đề gia đình đã được xem xét một cách toàn diện từ nguồn gốc đến chức năng gia đình, cấu trúc hôn nhân, các quy tắc về dòng họ, phát
triển gia đình, điều chỉnh hôn nhân, nuôi dạy con cái, ly hôn và già hóa Gia đình
Trang 2116
trong viễn cảnh toàn cầu và đa văn hóa thực sự là một cuốn sách rất hữu ích đối với
những nhà nghiên cứu khi thực hiện các nghiên cứu so sánh về gia đình
Như vậy, qua khảo sát nhiều công trình nghiên cứu về gia đình và vai trò của gia đình cho thấy, các tác giả đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về gia đình và khẳng định vai trò quan trọng của gia đình đối với mỗi cá nhân
và toàn xã hội Sự biến đổi của gia đình đang tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện các vai trò của gia đình trong việc sinh đẻ, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con cái Mặc dù chưa đề cập trực tiếp đến mối quan hệ giữa gia đình với PTNNL nhưng các công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp cho tác giả một nguồn tư liệu phong phú về gia đình làm nền tảng để tiếp tục nghiên cứu về vai trò của gia đình trong PTNNL
1.2 Những công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
Trong những năm trở lại đây, ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về NNL và PTNNL dưới nhiều góc độ và quy mô khác nhau Liên quan đến đề tài nghiên cứu có thể kể đến một số công trình cơ bản sau:
Trong cuốn Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước
ta [126] của tác giả Trần Văn Tùng - Lê Ái Lâm (Viện Kinh tế thế giới), các tác giả
đã giới thiệu khái quát về vai trò của NNL trong bối cảnh đổi mới nền kinh tế Có thể thấy, NNL luôn giữ vai trò then chốt trong chiến lược phát triển KT - XH ở mỗi quốc gia, đặc biệt đối với Việt Nam, khi đất nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội và tham gia hội nhập quốc tế Trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm PTNNL dưới góc độ phát triển giáo dục ở một số nước trên thế giới, Việt Nam có thể đẩy nhanh quá trình PTNNL, nhất là NNL chất lượng cao nhằm tạo động lực thúc đẩy KT - XH phát triển
Cuốn sách Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước [12] do tác giả Mai Quốc Chánh (chủ biên) Tác giả đã phân tích một số
vấn đề lý luận về NNL, đồng thời làm rõ vai trò của NNL trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay Tác giả cũng khẳng định sự cần thiết phải nâng cao chất lượng NNL ở nước ta Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề thực tiễn về chất lượng
Trang 22từ đó tìm ra những định hướng trong việc PTNNL có chất lượng cho CNH, HĐH, trong đó nhấn mạnh phải lấy giáo dục và đào tạo làm quốc sách hàng đầu
Tác giả Nguyễn Hữu Dũng trong cuốn Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người
ở Việt Nam [17] đã trình bày hệ thống một số vấn đề cơ bản về nguồn lực con
người; những yêu cầu cơ bản về phát triển, phân bổ và sử dụng nguồn lực con người trong quá trình phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, tác giả còn giới thiệu kinh nghiệm sử dụng hiệu quả NNL của một số nước như Mỹ, Nhật, Trung Quốc Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển, phân bổ
và sử dụng nguồn lực con người ở Việt Nam trong những năm đổi mới, tác giả đã
đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực này trong quá trình phát triển KT - XH ở nước ta
Cuốn sách: hát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục - đào tạo - Kinh nghiệm Đông Á [49] của tác giả Lê Thị i Lâm là một công trình nghiên cứu khoa học công phu, trong đó tác giả tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản sau: một là, những vấn đề lý luận chung về PTNNL; hai là, phân tích thực tiễn PTNNL thông qua giáo dục - đào tạo ở Đông ; ba là, tổng kết toàn bộ những bài học rút ra từ
thực tiễn đã phân tích ở trên Tác giả cũng đưa ra một số lưu ý về bối cảnh PTNNL thông qua giáo dục - đào tạo ở Việt Nam, so sánh những nét tương đồng và khác biệt về phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục - đào tạo ở Đông và Việt Nam, từ đó nêu ra một số gợi ý để PTNNL thông qua giáo dục - đào tạo ở Việt Nam đến 2010 Có thể nói, cuốn sách là một công trình nghiên cứu có giá trị khoa học, trình bày một cách khá hệ thống nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về NNL, PTNNL
Trang 2318
dưới tác động của giáo dục - đào tạo nói chung Mặc dù tác giả chưa tiếp cận vấn đề PTNNL gắn với vai trò của gia đình nhưng cuốn sách vẫn là một tài liệu hết sức bổ ích để tác giả thực hiện luận án của mình
Trong cuốn Những luận cứ khoa học của việc phát triển nguồn nhân lực công nghiệp cho vùng kinh tế trọng điểm phía nam [90], tác giả Trương Thị Minh
Sâm đã nêu lên khái niệm, những đặc trưng cơ bản về NNL, vai trò của NNL và PTNNL trong quá trình CNH, HĐH; nêu lên kinh nghiệm PTNNL của một số nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản phân tích thực trạng NNL và sử dụng NNL công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm phía nam, từ đó đề xuất một số chính sách và giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy sự PTNNL của vùng kinh tế trọng điểm này
Cuốn sách Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn [69] do tác giả Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (chủ biên), bao gồm tập hợp
các bài nghiên cứu, bài viết, bài tham luận tại Hội thảo của Đề tài KX.05.11 thuộc Chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KX.05 (giai đoạn 2001 - 2005)
đã tập trung vào việc trình bày các vấn đề lý luận, kinh nghiệm và những khuyến nghị chính yếu trong quản lý NNL Việt Nam Công trình này có ý nghĩa quan trọng
để Nhà nước ta quản lý hiệu quả NNL Việt Nam, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH
và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong cuốn Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam [98], tác giả Vũ Bá Thể đã phân tích,
làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến NNL, đánh giá thực trạng NNL nước ta cả về quy mô, tốc độ, chất lượng; từ kinh nghiệm PTNNL ở một số nước, tác giả đề xuất 4 giải pháp nhằm PTNNL của Việt Nam trong thời gian tới: nhóm giải pháp phát triển giáo dục phổ thông; nhóm giải pháp phát triển giáo dục cao đẳng, đại học và trên đại học; nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng NNL hiện có; nhóm giải pháp nâng cao trạng thái sức khoẻ NNL
Tác giả Đoàn Văn Khái trong cuốn Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam [40] đã làm rõ vai trò của nguồn lực con người, vì đây là
yếu tố quyết định sự nghiệp CNH, HĐH Đồng thời chỉ ra thực trạng nguồn lực con
Trang 2419
người ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu của CNH, HĐH Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra những phương hướng, quan điểm chỉ đạo và những nhóm giải pháp cơ bản (về khai thác hợp lý, có hiệu quả NNL; về phát triển nguồn lực con người; về xây dựng môi trường xã hội thuận lợi) nhằm khai thác và phát triển hiệu quả nguồn lực con người ở nước ta hiện nay Cuốn sách có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn, có thể làm tài liệu tham khảo cho việc phát triển và nâng cao chất lượng NNL ở nước ta hiện nay
Phạm Thành Nghị (Chủ biên), Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [70] Trong công trình này,
các tác giả đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản lý NNL, đồng thời đưa ra những nhận thức mới và hiện đại về quản lý NNL Các tác giả trình bày những kinh nghiệm quản lý NNL của các nước phát triển như Hoa Kỳ, Thụy Điển, kinh nghiệm của các nước Đông và các nước có nền kinh tế chuyển đổi Những tư liệu thu thập được từ các cơ quan quản lý cũng như số liệu điều tra thực tiễn phong phú, có
hệ thống và có độ tin cậy cao là những tư liệu có giá trị đánh giá hiện trạng và phát hiện những vấn đề đang đặt ra trong quản lý NNL ở nước ta Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất hệ thống các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NNL trong ba khu vực: hành chính nhà nước, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh Các quan điểm và giải pháp này khá toàn diện, có cơ sở khoa học và có tính khả thi
Năm 2008, với đề tài Giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam sau 20 năm đổi mới (1986 - 2006) [73], tác giả Phạm Công Nhất đã phân tích khái niệm
NNL; khẳng định tầm quan trọng của NNL trong phát triển KT - XH; nêu lên kinh nghiệm của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong việc xây dựng và PTNNL như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra thực trạng PTNNL Việt Nam sau 20 năm đổi mới; đánh giá chung về những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra; nêu lên một số giải pháp cơ bản nhằm PTNNL Việt Nam đến năm 2020
Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 [8] của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tập trung làm rõ bốn nội dung cơ bản là: (1) Hiện trạng PTNNL Việt Nam với những thành tựu cơ bản, những hạn chế
Trang 2520
chủ yếu và nguyên nhân của nó; (2) Phương hướng PTNNL Việt Nam đến năm
2020 và những vấn đề đặt ra; (3) Các giải pháp chủ yếu thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; (4) Tổ chức thực hiện quy hoạch
PTNNL Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 Đây là công trình góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về NNL và PTNNL ở Việt Nam giai đoạn 2011 -
2020 Có thể thấy, việc quy hoạch PTNNL có ý nghĩa rất quan trọng đối với tiến trình đổi mới và đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam, đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển KT - XH của đất nước
Tác giả Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (đồng chủ biên), Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế [78]
Cuốn sách ra đời nhằm quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI Cuốn sách gồm 3 phần: Phần I nêu lên những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về PTNNL, những vấn đề lý luận chung như: cách tiếp cận NNL, từ lý luận đến thực tiễn PTNNL; Phần II của cuốn sách chủ yếu giới thiệu những kinh nghiệm PTNNL của một số ngành trong nước (dầu khí, ngân hàng ) và một số nước, vùng lãnh thổ trên thế giới Phần III tập trung phân tích thực trạng, những bất cập, thách thức và đề xuất các giải pháp PTNNL của nước ta hiện nay Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích khi nghiên cứu những vấn đề liên quan đến PTNNL trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Cuốn sách Kỷ yếu hội thảo khoa học: Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế [30] do Trần Thị Thái Hà và Trần Văn Hùng (chủ biên)
Cuốn sách đã tập hợp được nhiều bài viết phân tích về thực trạng, yêu cầu đối với việc đào tạo NNL trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam Trên
cơ sở đó, các tác giả đã đưa ra quan điểm và những giải pháp chủ yếu để PTNNL trong giai đoạn hiện nay
Đề tài khoa học cấp Bộ: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay: Yêu cầu và giải pháp [32] do tác giả Lương Đình Hải làm chủ
nhiệm Đây là một công trình nghiên đồ sộ, có tính hệ thống, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH và hội
Trang 2621
nhập quốc tế Thông qua công trình này, tác giả đã làm rõ: Một số vấn đề lý luận và thực trạng PTNNL chất lượng cao ở nước ta từ năm 1996 đến nay; Xác định những vấn đề đặt ra trong việc PTNNL chất lượng cao trước yêu cầu đến năm 2020 nước
ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; Đề xuất những giải pháp lớn để PTNNL chất lượng cao cho giai đoạn từ nay đến năm 2020 Theo tác giả, quan niệm về NNL chất lượng cao ở nước ta chưa có sự thống nhất, do đó để PTNNL chất lượng cao trước hết cần phải thống nhất quan niệm về NNL chất lượng cao trong các cơ quan quản lý, các cơ quan nghiên cứu và toàn xã hội để từ đó có thể cung cấp thông tin, dự báo nhu cầu PTNNL chất lượng cao ở nước ta hiện nay Việc
dự báo về nhu cầu và yêu cầu của NNL chất lượng cao trong các ngành, vùng, miền
và trên quy mô toàn xã hội sẽ là căn cứ quan trọng cho việc lựa chọn, đào tạo và sử dụng NNL chất lượng cao của Nhà nước, các cá nhân, gia đình, nhà trường, doanh nghiệp và xã hội [32, tr.225-226] Như vậy, việc PTNNL chất lượng cao phụ thuộc vào rất nhiều chủ thể, trong đó, gia đình cũng được coi là một chủ thể vô cùng quan trọng, bởi gia đình không chỉ là nơi tạo ra NNL mà còn là nơi nuôi dưỡng, giáo dục, góp phần đào tạo và PTNNL có chất lượng cao cho xã hội
Ngoài những công trình nghiên cứu nêu trên, còn có nhiều bài viết đăng trên tạp chí và hội thảo đề cập đến vấn đề NNL và PTNNL như: "Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa" của các tác giả Đinh Trọng Thắng và
Ngô Văn Giang, Tạp chí Lao động và Xã hội (3); “Cơ hội và thách thức về nguồn nhân lực khi gia nhập WTO” của tác giả Hồng Minh, Tạp chí Lao động và xã hội
(324); “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập
quốc tế” của tác giả Phạm Công Nhất, Tạp chí Cộng sản (786) “Kinh nghiệm phát
triển nguồn nhân lực ở những quốc gia và vùng lãnh thổ Đông ” của các giả Phạm
Thành Nghị, Tạp chí Nghiên cứu con người (2/41) “Phát triển nguồn nhân lực Việt
Nam giai đoạn 2015 - 2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập
quốc tế” của tác giả Đặng Xuân Hoan, Tạp chí Cộng sản điện tử… Thông qua các
bài viết này, các tác giả đều khẳng định PTNNL là một mắt xích quan trọng trong chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển KT - XH của đất nước; đồng thời PTNNL trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia ở trong
Trang 2722
điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trong nước còn có nhiều công trình
nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như: Cuốn Human resource planing: Aproach needs assessments and priorities in manpower planning [142] của
Stivastava do nhà xuất bản Manak New Delhi phát hành Trong cuốn sách này, tác giả đã xem NNL là nguồn vốn đặc biệt trong quá trình sản xuất, nó có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai, do đó, nếu đầu tư càng nhiều vào nguồn lực này thì giá trị gia tăng càng lớn Không giống như các nguồn vốn khác, nguồn vốn này có trình độ, có kỹ năng, có kinh nghiệm và sự sáng tạo
Cuốn sách: Tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong sự phát triển Đông Nam Á [134] của các tác giả Xavier, Oudin, Nguyễn Thị Cành, Bernard Haudville
do nhà xuất bản Lao động phát hành Trong cuốn sách này, các tác giả đã chỉ ra tác động to lớn của những biến đổi KT - XH đến NNL; đặc điểm và xu hướng phát triển của NNL; các vấn đề về quan hệ lao động, về việc làm ở Việt Nam nói riêng
và các nước Đông Nam nói chung
Trong cuốn Lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới [74] do nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành, các tác giả Nolwen, Henaff,
Jean - Yves Martin, Geoffrey B.Hainworth đã khái quát thực tiễn PTNNL Việt Nam những năm đầu của thời kỳ đổi mới, từ đó chỉ ra những hạn chế trong giáo dục đào tạo làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự PTNNL của Việt Nam đó là mức học phí, sự thiếu hụt kinh niên số giáo viên mới vào nghề ở mỗi cấp học, tiền lương thấp so với các ngành nghề khác Vì vậy, cần phải cải cách chương trình đào tạo và các cải cách giáo dục khác bao gồm tăng số lượng phòng học, tăng số lượng giáo viên, nâng cấp trang thiết bị phục vụ giảng dạy, tăng tiền lương Ngoài ra, cuốn sách còn
đề cập đến một số vấn đề về việc làm, vấn đề tổ chức lại nền kinh tế và cơ cấu lại xã hội, chiến lược cá nhân và gia đình, chiến lược của doanh nghiệp Với góc độ tiếp cận này, các tác giả chưa đề cập nhiều đến vai trò của gia đình trong PTNNL
Cuốn sách Foundations of Human Resource Development [141] của Richard
A Swanson và Elwood F Holton III, do nhà xuất bản Berrett-Koehler phát hành Đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ, đã trình bày một cách hệ thống về cơ sở
Trang 2823
PTNNL từ lý luận đến thực tiễn Cuốn sách bao gồm mười bảy chương được kết
cấu thành sáu phần: Phần thứ nhất, các tác giả giới thiệu chung về PTNNL, đem
đến cho người đọc những hiểu biết cơ bản về PTNNL, mô hình tổng quát trong
PTNNL và lịch sử PTNNL Phần thứ hai, cung cấp các nền tảng lý thuyết và triết học quan trọng trong PTNNL Phần thứ ba, các quan điểm về PTNNL thông qua các mô hình học tập và thực hiện PTNNL Phần thứ tư, phát triển chuyên môn của con người thông qua đào tạo và phát triển nhân sự, nắm bắt được bản chất của đào tạo và phát triển nhân sự - nội dung quan trọng trong PTNNL Phần thứ năm, phát
huy khả năng chuyên môn của con người thông qua phát triển tổ chức, các tác giả
đã trình bày khái quát về phát triển tổ chức, bản chất của quá trình thay đổi và thực tiễn phát triển tổ chức Trong phần này, các tác giả đã trình bày các ví dụ về phát triển tổ chức cũng như tư duy cốt lõi, quy trình, các biện pháp can thiệp và các công
cụ để PTNNL Phần thứ sáu: PTNNL trong thế kỷ 21 Trong phần này, vai trò
chiến lược của PTNNL, tác động của toàn cầu hóa và những thách thức công nghệ đối với PTNNL đã được các tác giả giải thích kỹ lưỡng Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ, đã hệ thống được những kiến thức nền tảng trong PTNNL
và là một tài liệu rất hữu ích khi nghiên cứu so sánh về NNL và PTNNL ở Việt
Nam hiện nay
Cuốn sách Chuyển hóa nguồn nhân lực [133] của các tác giả William
J.Rothwell, Robert K.Prescott và Maria W.Taylor do nhà xuất bản Kinh tế quốc dân dịch và phát hành Nội dung của cuốn sách được kết cấu thành 3 phần: Phần một, các tác giả nói về “chuyển hóa NNL”; Phần hai, khẳng định sự cần thiết phải “quan tâm đến các xu hướng tương lai”; Phần ba đề cập đến vấn đề “thiết lập vai trò mới của lãnh đạo NNL” Trong công trình này, các tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn tri thức đối với NNL khi cho rằng: “Tăng trưởng kinh tế có thể chỉ đến từ
sự gia tăng liên tục và mạnh mẽ năng suất lao động của NNL trong đó các quốc gia phát triển vẫn có thể cạnh tranh (và họ sẽ tiếp tục duy trì được vị thế này trong vài thập kỷ nữa)” [133, tr.72] Bên cạnh đó, “Để tối đa hóa thành tố con người, phải thiết kế cơ cấu của tổ chức, hệ thống kế hoạch và kiểm soát, quản lý NNL và văn hóa… hệ thống và các chính sách được xây dựng cho việc tuyển dụng, duy trì, đào
Trang 2924
tạo và phát triển nghề nghiệp” [133, tr.56] Các quan điểm nêu trên khá tương đồng với chủ trương, chính sách PTNNL, đặc biệt là NNL chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
Trong cuốn Handbook of human resource development (Cẩm nang về phát triển nguồn lực) [140] do các tác giả Neal Chalofsky, Tonette Rocco và Michael
Lane Morris (Chủ biên), được tài trợ bởi Học viện phát triển nguồn nhân lực
(Acadame of human resource development) Cuốn sách dày gần 700 trang với 8
phần, bao gồm tập hợp các bài viết của nhiều chuyên gia, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Nội dung của cuốn sách tập trung vào việc giải quyết những khái niệm cơ bản và các vấn đề về PTNNL như: Cơ sở của quy tắc PTNNL; Các vấn đề và quan điểm về PTNNL; Phát triển lực lượng lao động; Quản lý lực lượng lao động; PTNNL trong tổ chức; Quản lý PTNNL; Các ứng dụng sáng tạo; Định hướng tương lai Có thể thấy, nội dung của cuốn sách được viết khá toàn diện, bao quát được các vấn đề liên quan đến PTNNL Cuốn sách sẽ là một tài liệu rất hữu ích trong nghiên cứu về NNL và PTNNL ở Việt Nam
Như vậy, thông qua các công trình nghiên cứu về NNL và PTNNL các tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận về NNL, đồng thời phân tích thực trạng NNL ở Việt Nam trong những năm gần đây Qua các số liệu điều tra, khảo sát, nhiều tác giả cho rằng, NNL của nước ta tuy dồi dào nhưng cơ cấu chưa phù hợp và chất lượng NNL còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Để nâng cao chất lượng NNL đòi hỏi phải có sự nỗi lực rất lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội Trên cơ sở đó các tác giả đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm PTNNL ở Việt Nam hiện nay Các công trình này là nguồn tư liệu quý để tác giả làm rõ khung lý thuyết của đề tài và phân tích thực trạng phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL
1.3 Những công trình nghiên cứu về vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực
Nghiên cứu về vai trò của gia đình trong PTNNL đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả như: Lê Thi, Nguyễn Trọng Bảo, Lê Như Hoa,
Hà Văn Tác, Lê Thị Quý, Hoàng Thị Lịch, Thân Hữu Dũng
Trang 3025
Trong cuốn Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam [99] của Lê Thi, thông qua việc trình bày và phân tích sự phát triển của
gia đình Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử, nhất là trong sự nghiệp đổi mới, tác giả
đã đề cập đến vấn đề con người và vai trò của gia đình trong sự hình thành nhân cách trẻ em - giai đoạn phát triển quan trọng nhất của NNL
Cuốn Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em [34] của Lê Như Hoa được tiếp cận dưới góc độ văn hóa, tác giả đã khẳng định vai
trò quan trọng của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em - những chủ nhân tương lai của đất nước Gia đình là nơi duy trì nòi giống con người, liên tục tái tạo
ra các thế hệ nối tiếp nhau ngày càng hoàn thiện về thể chất, trí tuệ, tinh thần chuẩn
bị hành trang cho cá nhân hòa nhập vào cộng đồng xã hội
Cuốn sách Vai trò của gia đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh [93] của tác giả Hà
Văn Tác đã khẳng định: nguồn lực quan trọng nhất đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở thành phố Hồ Chí Minh là nguồn lực con người (NNL) NNL này được tạo ra từ các thiết chế xã hội hiện hành, trong đó trực
tiếp là thiết chế gia đình Tuy nhiên, theo tác giả ở Việt Nam nói chung và thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng, việc PTNNL chủ yếu dựa vào ngành giáo dục và đào tạo, còn gia đình thì lại chưa được thực sự quan tâm một cách đúng mức Nguyên nhân là do chúng ta thiếu sự định hướng và chỉ đạo chặt chẽ, thiếu chính sách có hệ thống mang tầm chiến lược của Nhà nước nhằm tác động vào gia đình để giúp gia đình trở thành một chủ thể tự giác trong việc PTNNL đáp ứng yêu cầu xã hội Do hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cho các thành viên trong gia đình được tiến hành tự phát, theo kinh nghiệm nên rất dễ gây lãng phí về thời gian và tiền bạc cho cả gia đình và xã hội Để phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL, cần phải có những định hướng, chính sách từ phía Đảng và Nhà nước để việc đầu tư, chăm sóc và giáo dục con cái đi đúng hướng, phát huy được sức mạnh tổng hợp của gia đình và toàn
xã hội trong việc PTNNL
Trang 31và xã hội, đồng thời là động lực, mục tiêu của quá trình xây dựng và phát triển của
xã hội hiên tại và tương lai Con người quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của chính mình Do vậy, con người cần được dạy dỗ, giáo dục để có sự hiểu biết kiến thức và kỹ năng sống thì khi đó mới làm tốt vai trò của mình Tuy nhiên, để đào tạo và giáo dục con người tốt thì phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội Và trong ba môi trường này thì tác giả nhấn mạnh đến vai trò hết sức quan trọng của gia đình vì
lý do gia đình chính là nơi con người được sinh ra, được nuôi dưỡng và trưởng thành Cũng trong bài viết này, tác giả đã đưa ra quan điểm là phải đào tạo người phụ nữ để họ có đủ kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm trong việc nuôi dạy con cái
Sở dĩ như vậy là vì xuất phát từ chức năng kép của người phụ nữ là họ vừa tham gia vào quá trình sản xuất xã hội, lại vừa có vai trò tái sản xuất trong gia đình Và bằng khảo sát thực tế cũng như nhiều tài liệu khoa học cho thấy việc nuôi dạy con cái là công việc hàng ngày của phụ nữ Bài viết tuy ngắn nhưng đã chứa đựng nhiều ý tưởng quan trọng gợi mở nhiều điều bổ ích cho tác giả luận án
Bài viết Vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực của tác giả
Thân Hữu Dũng [18] tiếp cận vấn đề từ Chỉ số phát triển người (HDI) do Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố Báo cáo phát triển con người hàng
năm dựa trên 3 tiêu chí: Thu nhập quốc dân đầu người, giáo dục và tuổi thọ Đây là
các tiêu chí có thể đo đạc được Tuổi thọ, giáo dục và thu nhập bình quân đầu người phụ thuộc vào nhiều yếu tố Và tác giả cho rằng, việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu, tình trạng đầy đủ về chất dinh dưỡng, sự thoả mái về vật chất, tinh thần do gia đình
và xã hội quyết định, trong đó gia đình đóng vai trò quan trọng chính yếu Do đó, gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành con người của xã hội tương lai,
và vai trò đó được thể hiện rõ trong các chức năng của gia đình, đặc biệt là chức năng giáo dục, chức năng tâm lý tình cảm và chức năng tái sản xuất Bài viết tuy
Trang 3227
ngắn nhưng đã gợi ý một cách tiếp cận hay khi nghiên cứu về vai trò của gia đình
Bài viết “Gia đình Việt Nam đương đại - Tư duy mới trong một xã hội đang biến đổi” [87] trên Tạp chí Cộng sản điện tử đăng ngày 01/07/2015 của tác giả Lê
Thị Quý đã nhấn mạnh về vai trò to lớn của gia đình trong xã hội Tác giả cho rằng gia đình là cơ sở đầu tiên cho việc tái sản xuất ra con người, cung cấp NNL và của cải cho xã hội và tham gia vào các quá trình phát triển KT - XH, từ sản xuất, phân phối, đến trao đổi và tiêu dùng Đồng thời, gia đình cũng là một mắt xích quan trọng kết nối các mối quan hệ xã hội, xây dựng và giữ gìn các chuẩn mực, giá trị đạo đức, phong tục, tập quán, lối sống của con người Mọi nhân tài của đất nước, từ các anh hùng, nghệ sỹ, nhà khoa học đến những người bình thường đều xuất thân từ gia đình Như vậy, gia đình đã góp phần quan trọng vào việc duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
Bên cạnh những công trình nêu trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Các công trình này thường đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của
gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em Trong cuốn Nói chuyện về giáo dục gia đình [56], A Ma-ca-ren-cô cho rằng, việc giáo dục trẻ em
phải bắt đầu từ thời thơ ấu, đó là một công việc lý thú, mang lại niềm vui và hạnh phúc cho chính cha mẹ Nếu trẻ em không được gia đình giáo dục ngay từ đầu thì công việc cải tạo sẽ tốn rất nhiều công sức không chỉ của gia đình, mà của toàn xã hội (A Ma-ca-ren-cô, 1978) Kinh nghiệm giáo dục gia đình của A Ma-ca-ren-cô vẫn có
ý nghĩa rất lớn đối với việc giáo dục trẻ em trong gia đình Việt Nam hiện nay
Trong một số công trình như: Giáo dục con người chân chính như thế nào và Giáo dục thái độ cộng sản đối với lao động của Xu-khôm-lin-xki [135]; Dạy con yêu lao động [76] của I.A-Pê-sec-ni-cô-va, các tác giả đã nhấn mạnh đến việc giáo
dục lao động cho con cái trong gia đình, bởi các phẩm chất đạo đức được hình thành
ở trẻ, trước hết là trong quá trình lao động
Như vậy, khi phân tích về các thành tố ảnh hưởng đến môi trường giáo dục trẻ em nhiều tác giả đã coi gia đình là một thành phần của môi trường giáo dục Quá trình xã hội hóa cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó môi trường gia đình với điều kiện kinh tế, văn hóa, lối sống có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình
Trang 3328
thành nhân cách cá nhân Điều đó cho thấy, môi trường gia đình có ý nghĩa rất lớn đối với việc giáo dục trẻ em Đi sâu vào mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái, nhiều nghiên cứu cho rằng, chất lượng của mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái và mức
độ ấm áp trong mối quan hệ này ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều mặt của con cái Một trong những phát hiện của nghiên cứu kiểm tra sự tương tác giữa các thành viên gia đình tạo điều kiện để phát triển đạo đức chính là các yếu tố tâm lý, tình cảm và sự tương tác giữa chúng, chẳng hạn như tình cảm ấm áp, sự tham gia và hỗ trợ của cha mẹ liên quan đến sự phát triển đạo đức Do đó, tình cảm ấm áp, sự liên kết, hỗ trợ giữa cha mẹ và con cái có thể làm tăng khả năng giúp trẻ em có động lực
để lắng nghe và phản hồi lại cha mẹ
Ngoài những công trình nêu trên còn có nhiều luận án tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề gia đình và vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ như: Luận án
tiến sĩ Triết học Vai trò của gia đình trong giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay của Nghiêm Sĩ Liêm (2000) Luận án Tiến sĩ Xã hội học Chăm sóc sức khỏe trẻ em trong các gia đình Việt Nam hiện nay của Mai Thị Kim Thanh (2003) Luận án tiến
sĩ Xã hội học Vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ em lứa tuổi trung học cơ sở ở Hà Nội hiện nay của Nguyễn Thị Tố Quyên (2010) Luận án tiến
sĩ Triết học Xây dựng đạo đức của thanh niên Việt Nam trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa của tác giả Diệp Minh Giang (2011) Luận án tiến sĩ triết học Giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay của Hà Thị Bắc (2015) Luận án tiến sĩ triết học Sự biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay của Lê
Trang 3429
thần, trong sáng về đạo đức, vừa đạt đến tầm cao về trí tuệ, đủ năng lực đưa nước ta hội nhập với văn minh nhân loại mà bản sắc dân tộc vẫn được giữ vững Đã đến lúc chúng ta nên có sự nhìn nhận đầy đủ hơn, khách quan hơn, đúng đắn hơn về vai trò của giáo dục gia đình trong sự nghiệp giáo dục để từ đó có chiến lược và kế hoạch đầu tư thỏa đáng cho giáo dục gia đình
Luận án tiến sĩ Xã hội học Chăm sóc sức khỏe trẻ em trong các gia đình Việt Nam hiện nay [96] của Mai Thị Kim Thanh Trên cơ sở làm rõ thực trạng nhận thức,
hành động của các bậc cha mẹ trong chăm sóc sức khỏe trẻ em tại gia đình, tác giả đã phân tích nguyên nhân và xu hướng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em trong gia đình, đồng thời đề xuất những kiến nghị, giải pháp góp phần phát huy hơn nữa vai trò của gia đình trong việc chăm sóc sức khỏe trẻ em, cung cấp cơ sở khoa học để đổi mới nội dung, chương trình tuyên truyền, giáo dục cho các bậc cha mẹ trong việc bảo vệ, nâng cao sức khỏe trẻ em Theo tác giả, muốn phát triển xã hội, trước hết phải đầu tư cho sức khỏe, PTNNL và gia đình chính là môi trường quan trọng nhất đối với việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trẻ em, nếu gia đình thực hiện tốt vai trò này sẽ góp phần nâng cao thể chất, PTNNL phục vụ quá trình CHH, HĐH đất nước
Luận án tiến sĩ triết học Giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay
[4] của Hà Thị Bắc Tác giả tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của giáo dục đạo đức trong gia đình, các yếu tố ảnh hưởng đến dục đạo đức trong gia đình Đồng thời phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay về nhận thức, nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay Theo tác giả, giáo dục đạo đức trong gia đình là
sự tác động có hệ thống, có mục đích của những người lớn trong gia đình, đặc biệt
là cha mẹ nhằm chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức, nhân cách cho trẻ, hình thành ở trẻ thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác, tự nguyện thực hiện các chuẩn mực đạo đức của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật [4, tr.47] Do đó, giáo dục đạo đức trong gia đình có vai trò quyết định đến việc hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của thế hệ trẻ - NNL tương lai của đất nước Thực hiện tốt vai trò
Trang 35và nhân cách Để PTNNL, trước hết phải xuất phát từ gia đình, huy động tiềm lực của gia đình vào PTNNL Tuy nhiên, để NNL phát triển toàn diện, hài hòa, đáp ứng được yêu cầu của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, ngoài việc huy động tiềm lực của gia đình vào PTNNL thì cần phải có sự kết hợp giữa giáo dục gia đình với giáo dục nhà trường và xã hội Những kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục con cái trong gia đình của các học giả nước ngoài vẫn
có ý nghĩa lớn đối với việc giáo dục trẻ em trong gia đình Việt Nam hiện nay, đặc biệt khi nhiều gia đình ở đô thị đã chuyển giao một phần chức năng giáo dục của gia đình cho nhà trường và xã hội
1.4 Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và một số vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Thông qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, có thể thấy các công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, thông qua các công trình nghiên cứu về gia đình và vai trò của gia
đình các tác giả đã khái quát và hệ thống được bức tranh toàn cảnh về gia đình Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn
về gia đình đã được các tác giả đi sâu tìm hiểu và phân tích cụ thể trên các bình diện
và quy mô khác nhau Các tác giả đều có chung quan điểm khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội Bên cạnh những
cơ hội thúc đẩy gia đình Việt Nam vận động theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với yêu cầu của thời đại thì gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước rất nhiều thách thức có nguy cơ làm khủng hoảng về mặt thiết chế và mai một, xói mòn về mặt giá trị đạo đức, văn hóa gia đình Điều đó sẽ ảnh hưởng đến vai trò của gia đình trong
Trang 3631
việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em hay nói cách khác là ảnh hưởng đến vai trò của gia đình trong PTNNL Do các công trình này thường tiếp cận vai trò của gia đình nói chung nên những phân tích cụ thể về vai trò của gia đình trong PTNNL còn ít, chưa thể hiện rõ mối quan hệ giữa vai trò của gia đình với PTNNL Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này vẫn là tư liệu quý để tác giả tiếp tục đi sâu tìm hiểu, làm rõ nội dung, phân tích thực trạng vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai, thông qua các công trình nghiên cứu về NNL và PTNNL, các tác
giả đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về NNL, đồng thời phân tích thực trạng NNL và PTNNL ở Việt Nam trong những năm gần đây Qua các số liệu điều tra, khảo sát, nhiều tác giả cho rằng, NNL của nước ta tuy đảm bảo về mặt
số lượng, nhưng chưa hợp lý về mặt cơ cấu và chất lượng NNL còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Để nâng cao chất lượng NNL đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội, trong đó có vai trò của gia đình Do các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung
về lý luận và thực tiễn PTNNL với tư cách là yêu cầu và nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nên những lát cắt cụ thể về vai trò của các cá nhân, gia đình, nhà trường, doanh nghiệp trong PTNNL còn rất ít và tản mạn Sự nghiệp PTNNL không thể thiếu vai trò của gia đình với tư cách là “đầu vào” của quá trình này và là một tác nhân quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện, cả về thể lực, trí lực và nhân cách của NNL Đây chính là “khoảng trống” mà tác giả luận án sẽ tập trung làm rõ và trình bày một cách có hệ thống về vai trò của gia đình trong PTNNL
ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về vai trò của gia đình trong PTNNL
được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, song chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ xã hội học, phạm vi nghiên cứu hẹp, chủ yếu tập trung vào vai trò của gia đình trong việc giáo dục - xã hội hóa trẻ em Có thể thấy, tiếp cận vai trò của gia đình trong
PTNNL đã được các tác giả xem xét ở hai khía cạnh cơ bản sau: (1) các tác giả đều
khẳng định, gia đình là môi trường đầu tiên tạo ra NNL, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục NNL, góp phần tạo ra một NNL phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh
Trang 3732
thần Do đó, việc PTNNL ở nước ta hiện nay sẽ không mang lại hiệu quả như mong
muốn nếu không phát huy được vai trò của gia đình; (2) quá trình CNH, HĐH và
hội nhập quốc tế đã tác động mạnh đến sự biến đổi về cấu trúc và chức năng của gia đình, đồng thời đang đặt ra những thách thức lớn cho các gia đình trong việc PTNNL cả về số lượng và chất lượng Bên cạnh đó, cũng có những công trình đề cập đến vai trò của gia đình trong PTNNL thông qua các lát cắt nhỏ trong việc thực hiện chức năng cơ bản của gia đình như chức năng sinh sản, giáo dục hay chức năng kinh tế Việc làm rõ vai trò của gia đình thông qua khảo sát từng chức năng cụ thể hoặc nhấn mạnh một chức năng nào đó sẽ không làm nổi bật được vai trò của gia đình trong việc PTNNL ở Việt Nam hiện nay Do đó, khi nghiên cứu về vai trò của gia đình trong PTNNL đòi hỏi phải có một cách tiếp cận toàn diện hơn, bao quát
được những chức năng, vai trò cơ bản, quan trọng của gia đình trong PTNNL
Thứ tư, thông qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề
tài luận án có thể thấy, các công trình nghiên cứu về gia đình thường đề cập nhiều đến vai trò của gia đình nói chung, còn các nghiên cứu về NNL thì quan tâm nhiều tới chất lượng NNL với các giải pháp PTNNL thường thiên về vai trò của giáo dục
và đào tạo trong các nhà trường Với góc tiếp cận như vậy, chúng ta đang quan tâm nhiều đến “ngọn” mà chưa để ý đến “gốc” của việc PTNNL Bởi vì, muốn nói đến đào tạo con người thì trước hết phải có con người - những con người phát triển bình thường, khỏe mạnh, có khả năng tư duy Do vậy, khi nói đến PTNNL, trước tiên phải nói đến vai trò của gia đình - với tư cách là cơ sở sinh học - xã hội, cơ sơ kinh
tế và cơ sở xã hội cho việc PTNNL, là “đầu vào” của quá trình PTNNL Do vậy, gia đình có nhiều ưu thế để phát triển con người, NNL một cách toàn diện Qua khảo sát các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy, những phân tích trực tiếp có tính hệ thống về vai trò của gia đình trong PTNNL còn chưa nhiều và tản mạn, gây ra những khó khăn nhất định khi định hình về nội dung vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay
Với luận án: Vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay, dưới cách tiếp cận triết học, tác giả sẽ phân tích vai trò của gia đình
trong PTNNL thông qua các chức năng cơ bản, vốn có của gia đình Đặc biệt, tác
Trang 3833
giả sẽ xem xét, phân tích nội dung và các yếu tố tác động đến việc thực hiện vai trò của gia đình trong PTNNL hiện nay như thế nào? Tác động nào là tích cực và tác động nào là tiêu cực? Việc thực hiện vai trò của gia đình trong PTNNL hiện đang đặt ra những vấn đề gì? Để làm rõ được những điều này, trên cơ sở kế thừa biện chứng kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án tiếp tục triển khai, nghiên cứu những vấn đề sau:
1 Làm rõ cách hiểu về các khái niệm công cụ như: gia đình, vai trò của gia đình, nguồn nhân lực, PTNNL Đồng thời, đưa ra nội dung vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay;
2 Phân tích một số nhân tố tác động đến vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay để xem xét điểm tích cực và hạn chế của nó là gì?
3 Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay và phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực trạng ấy;
4 Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay
Quan điểm chung để triển khai nghiên cứu những vấn đề ở trên là tác giả đứng trên lập trường duy vật của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhìn nhận đối tượng nghiên cứu theo quan điểm phát triển, quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể
Trang 3934
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH
TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Quan niệm về gia đình, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
2.1.1 Quan niệm về gia đình
Gia đình là một khái niệm động, không ngừng thay đổi cùng với sự vận động, biến đổi của xã hội Do vậy sẽ khó để có một khái niệm đúng với mọi nền văn hóa và trong tất cả các giai đoạn lịch sử Nghiên cứu lý luận của C Mác và Ph Ăngghen, trong quá trình xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử, bao giờ các ông
cũng dựa vào những tiền đề hiện thực Đó là những tiền đề được biểu hiện cụ thể thông qua các phạm trù như: hàng hóa, sức lao động, con người, sở hữu tất cả các phạm trù này đều có liên quan đến phạm trù gia đình Bởi, theo quan niệm của các
C Mác và Ph Ăngghen, gia đình là tế bào của xã hội, tham gia vào mọi quá trình
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm; từ việc tái sản xuất ra con người đến việc đào tạo, bồi dưỡng con người; từ chỗ tạo ra sự khác biệt về sở hữu đến chỗ giải quyết vấn đề sở hữu Và, ngược lại, các quá trình sản xuất, tiêu dùng, cải tiến và sử dụng công cụ lao động, giáo dục và đào tạo đều tác động trở lại gia đình, củng cố hoặc làm biến đổi hình thức, kết cấu và chức năng của gia đình
Trong các tác phẩm của mình, C Mác và Ph Ăngghen đã không ít lần đề cập tới vấn đề gia đình Các ông đã xem xét gia đình với tư cách là một xã hội thu nhỏ, phân tích các hình thức lịch sử của gia đình, nhất là hình thức gia đình gắn với sự xuất hiện của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; nghiên cứu mối quan hệ giữa gia đình và nhà nước, sự khác biệt giữa gia đình dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và gia đình dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Có thể nói, vấn đề gia đình trong di sản lý luận
của C Mác và Ph Ăngghen không chỉ dừng lại ở khái niệm gia đình thuần túy, mà
còn khám phá nguồn gốc gia đình, tác động của gia đình tới xã hội và ảnh hưởng của những biến đổi xã hội tới gia đình, đặc biệt là ảnh hưởng của sự biến đổi kinh
tế, của tiến trình công nghiệp hoá, thông qua cách mạng kỹ thuật Khi luận chứng về
những tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại của con người, trong tác phẩm Hệ tư tưởng
Trang 4035
Đức (1846) C Mác và Ph Ăngghen đã viết: “…hằng ngày tái tạo ra đời sống của
bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nẩy nở - đó là
quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [57, tr.41]
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) C Mác và Ph Ăngghen đã cho
rằng, sự ra đời của nền sản xuất bằng máy móc hiện đại - nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa với lực lượng sản xuất mới đã dần xóa bỏ toàn bộ hệ thống công trường thủ công, đã thay đổi sự phân bố dân cư và kết cấu ngành nghề của xã hội và do vậy nó xóa bỏ mọi phẩm chất và đức hạnh do chế độ phong kiến tạo dựng; nó “tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay vẫn được trọng vọng và tôn sùng” [58, tr.600], nó biến đổi cả quan hệ gia đình vốn được xem là thiêng liêng nhất,
“xé toang tấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình và làm cho những quan
hệ ấy chỉ còn là những quan hệ tiền nong đơn thuần” [58, tr.600]
Về sau, khi nghiên cứu về gia đình, trong một tác phẩm chuyên khảo Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước (1884), Ph Ăngghen đã
khẳng định vị trí của gia đình đối với sự phát triển của các thiết chế xã hội: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo và nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Những trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là
do trình độ phát triển của gia đình” [59, tr.44] Như vậy, theo quan điểm của C Mác
và Ph Ăngghen, gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và củng cố chủ yếu trên cơ sở hôn nhân và huyết thống Quan niệm
này đến nay vẫn có giá trị rất lớn trong việc nghiên cứu về gia đình và vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội nói chung và NNL nói riêng
Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về gia đình trên quy mô quốc gia và quốc tế Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam có rất nhiều quan niệm khác nhau về gia đình Tổ chức Văn hóa, khoa