1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoạt động của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài trong việc nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu tại Việt Nam từ năm 1998 đến nay : Luận văn ThS. Khoa học chính trị: 603102

106 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN QUỲNH ANH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI K

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN QUỲNH ANH

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC NÂNG CAO

NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM

TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN QUỲNH ANH

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC NÂNG CAO

NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM

TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế

Mã số: 60310206

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Bùi Hồng Hạnh

Hà Nội - 2018

Trang 3

1

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Cấu trúc luận văn 13

CHƯƠNG I: TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 15

1.1 Các vấn đề cơ bản về tổ chức phi chính phủ 15

1.1.1 Khái niệm và phân loại tổ chức phi chính phủ 15

1.2 Vai trò của TCPCP đối với vấn đề BĐKH trên thế giới 24

1.2.1 Thực trạng của BĐKH trên thế giới 24

1.2.2 Nỗ lực của các TCPCP chống BĐKH 34

Tiểu kết chương I 39

CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1998 ĐẾN NAY 41

2.1 Thực trạng nhận thức biến đổi khí hậu ở Việt Nam 41

2.2 Hoạt động của TCPCPNN tại Việt Nam trong lĩnh vực BĐKH 46

2.3 Các hình thức hoạt động nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu của tổ chức phi chính phủ nước ngoài 51

2.3.1 Tập huấn, hội thảo 51

2.3.2 Xuất bản sách, cẩm nang hướng dẫn 60

Trang 4

2

2.4 Một số dự án điển hình 64

2.4.1 Giờ Trái đất 65

2.4.2 Dự án "Thích nghi BĐKH dựa vào cộng đồng tại Đồng bằng sông Cửu Long" (ICAM) 67

2.4.3 Dự án "Biến đổi khí hậu và các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam” (CEMI) 69

2.4.4 Dự án "Thúc đẩy vai trò tiên phong của thanh niên trong thích ứng với BĐKH vùng đồng bằng sông Hồng" (READY) 72

Tiểu kết chương 2 76

CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM 77

3.1 Nhận xét chung 77

3.1.1 Thế mạnh – Hạn chế 77

3.2 Kiến nghị - Đề xuất 84

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 99

Trang 5

Dự án “Lồng ghép chiến lược thích ứng dựa vào hệ sinh thái tại Việt Nam”

ENGO Environmental Non Governmental Organization

Tổ chức phi chính phủ về môi trường GNRRTT&ƯPBĐKH Giảm nhẹ rủi ro thiên tai và Ứng phó với biến đổi khí

hậu ICAM Integrated Community-based Adaptation in the

Mekong Delta

Dự án Thích nghi biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại Đồng bằng sông Cửu Long

IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change

Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu PACCOM The People's Aid Co-ordinating Committee

Ban Điều phối viện trợ nhân dân

READY Dự án Thúc đẩy vai trò tiên phong của thanh niên

trong thích ứng với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng

Trang 6

4

TCPCPNN Tổ chức phi chính phủ nước ngoài

UNFCC United Nations Framework Convention on Climate

Change Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

USAID The United States Agency for International

Development

Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ WMO World Meteorological Organization

Tổ chức Khí tượng thế giới

Trang 7

Thậm chí theo kịch bản của Ngân hàng Thế giới (World Bank), BĐKH sẽ làm cho Việt Nam mất 1/2 diện tích canh tác và 22 triệu dân bị mất nhà cửa2 Trong khi đó, tháng 6/2017, đương kim Tổng thống Mỹ Donal Trump tuyên bố Mỹ sẽ rút khỏi Hiệp định khí hậu Paris 2015 với lý do "kết thúc gánh nặng tài chính và kinh tế mà thỏa thuận này tạo ra cho Mỹ" Theo Hiệp định này, Mỹ cam kết cho đến năm 2025 sẽ cắt giảm lượng khí thải từ 26-28% so với mức năm 2005 Điều đó cho thấy vì lợi ích trước mắt, "Nước Mỹ vĩ đại trở lại" sẽ tăng sản xuất bất chấp những vấn đề về môi trường, chất lượng cuộc sống của cả thế giới Hành động này của Mỹ đã đặt ra cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bài toàn khó

có lời giải trong vấn đề bảo vệ môi trường ở tương lai, gây ảnh hưởng lớn đối với nỗ lực đối phó với vấn đề BĐKH toàn cầu

Bên cạnh đó, BĐKH không chỉ là vấn đề riêng của Việt Nam mà đây còn là vấn đề mang tính toàn cầu, là vấn đề an ninh phi truyền thống ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia trên thế giới đang sử dụng chung một bầu khí

Trang 8

http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/biendoikhihau/Pages/Ảnh-hưởng-của-biến-đổi-khí-hậu-6

quyển Đó là lý do tại sao các nước đều cố gắng thiết lập, gia nhập những chính sách quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường như Hội nghị thượng đỉnhTrái đất, Nghị định thư Kyoto, Hội nghị Liên hiệp quốc về khí hậu (Conference of Parties - COP), Hiệp định khí hậu Paris 2015 Đây cũng là một trong những động lực để rất nhiều TCPCP có những dự án thiết thực nhằm hỗ trợ Việt Nam ứng phó, thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, vai trò của các TCPCP ngày càng trở nên quan trọng như đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng và phát huy tính năng động, tích cực xã hội của các thành viên Nhiều hoạt động liên quan đến vấn

đề này đang thực hiện song song với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các TCPCP và bước đầu mang lại hiệu quả tích cực Do đó, việc TCPCP mang đến những dự án liên quan đến việc thích ứng, ứng phó với BĐKH tác động sâu rộng không chỉ cho đối tượng được tiếp cận mà ảnh hưởng đến cơ quan chính phủ cũng như các chính sách phát triển bền vững

Để đạt được hiệu quả trong công tác ứng phó, thích ứng với BĐKH, nhận thức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình thay đổi hành vi của con người Chỉ khi thay đổi suy nghĩ, thay đổi cách nhìn nhận vấn đề thì con người mới điều chỉnh, quyết định hành động xử lý BĐKH Có thể nói trong suốt thế kỷ XX, con người đã có nhiều thay đổi trong nhận thức về BĐKH từ gánh chịu, khắc phục hậu quả thiên tai đến chủ động phòng tránh; tuyên truyền sâu rộng cũng như tăng cường giáo dục cho các thế hệ nối tiếp Tuy nhiên, có một nghịch lý là đa phần người dân lại khá mơ hồ về nội hàm vấn đề BĐKH khiến công tác ứng phó, thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH thiếu hiệu quả, thiếu chiều sâu, ảnh hưởng đến chính sách phát triển lâu dài cũng như sự phát triển tương lai Không chỉ vậy, tâm lý hững hờ ứng phó với BĐKH phổ biến tại nhiều địa phương, từ giới lãnh đạo đến người dân trực tiếp chịu ảnh hưởng, nhất là tại các quốc gia đang phát triển như Việt

Trang 9

7

Nam Do vậy, sự cần thiết phải gia tăng các chương trình tuyên truyền, huấn luyện nhằm nâng cao nhận thức về BĐKH là cấp bách và cần phải thực hiện song hành với các hoạt động chống BĐKH tại Việt Nam

Vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài "Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong việc nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu tại Việt Nam giai đoạn 1998 đến nay" cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện có nhiều công trình luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ hoặc các cuốn sách tập trung tìm hiểu vai trò, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức năng của đối tượng nghiên cứu là TCPCP Trên thế giới, nhiều học giả đã có nhiều công

trình nghiên cứu về vấn đề các TCPCP như sách “Non-Governmental Organizations in World Politics: The Construction of Global Governance (Global Institutions)” (Tạm dịch: “Các TCPCP trong nền chính trị thế giới:

Cấu trúc của Chính phủ toàn cầu”) của Peter Willetts, Giáo sư danh dự Trường Đại học City (London, Anh) vào năm 2010 cung cấp cái nhìn tổng quan về vai trò quan trọng và tăng sự tham gia của các TCPCP trong nền chính trị thế giới thông qua cấu trúc, thành viên và hoạt động của một số tổ chức tiêu biểu, và mối quan hệ phức tạp của các tổ chức này với các phong trào xã hội và xã hội dân sự; qua đó kết luận cần thiết phải tích hợp các TCPCP trong lý thuyết quan hệ quốc tế chủ đạo

Trong cuốn “ Non-Governmental Organizations, Management and Development” (Tạm dịch: “Các TCPCP, cách thức quản lý và phát triển”) của

David Lewis (Giáo sư trường Khoa học kinh tế và chính trị London) khẳng định vị trí, vai trò của các TCPCP như một yếu tố quan trọng của 'xã hội dân sự' bằng cách tiếp cận liên ngành dựa trên các nghiên cứu hiện tại về quản lý,

Trang 10

8

quản lý phát triển, quản lý công cộng và lý thuyết quản lý, khám phá các hoạt động, mối quan hệ và cấu trúc nội bộ của các TCPCP

Eduardo Missoni, Daniele Alesani trong nghiên cứu ra đời năm 2004

“ Management of International Institutions and NGOs: Frameworks, practices and challenges” (Tạm dịch: “Vấn đề quẩn lý các Tổ chức quốc tế,

TCPCP quốc tế: khung quản lý, thực tiễn và thách thức”) đã phân tích những

thách thức quản lý liên quan đến hợp tác quốc tế và làm sáng tỏ cách thức các TCPCP phát triển khi môi trường chính trị, kinh tế và kinh doanh đã thay đổi xung quanh Tác giả khẳng định các tổ chức quốc tế (II), TCPCP quốc tế (INGOs) và tổ chức xuyên quốc gia (THOs) đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới hiện đại

Trong cuốn “Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - Vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu” của Đinh Quý Độ (2012) đã giới thiệu những quan điểm khác nhau, tranh luận từ các khái niệm, đặc điểm, vai trò, tác động đến những xu hướng phát triển của các TCPCPNN trong thế kỷ 21

Từ đó tác giả đi sâu nghiên cứu những vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu của các TCPCP quốc tế trong nền kinh tế và chính trị thế giới hiện đang là vấn đề khoa học cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về thực tiễn

và lý luận đối với Việt Nam

Ngoài ra, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị (Học viện

Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) của Phạm Văn Chiến về "Đầu tư của các TCPCPNN ở vùng Đồng bằng Sông Hồng" nêu lên thực trạng đầu tư,

thu hút đầu tư của các TCPCPNN ở vùng Đồng bằng sông Hồng, từ đó nêu lên phương hướng, giải pháp, điều kiện thực hiện hiệu quả Luận văn Thạc sĩ Quốc tế học (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội) của Lê Xuân

Thắng về "Hoạt động của các TCPCP của Mỹ ở Việt Nam" có đưa ra đề xuất

Trang 11

9

các quy định và thủ tục đối với các TCPCPNN khi hoạt động tại Việt Nam, phân tích thực trạng hoạt động của các TCPCP Mỹ ở Việt Nam từ đó có kiến nghị về thu hút ngày càng nhiều các TCPCP vào Việt Nam hoạt động nhân đạo;

Đỗ Thị Vân Anh về "Hoạt động của các TCPCP quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và chăm sóc trẻ em ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay" nêu bật hiệu quả

các lĩnh vực mà TCPCP danh cho trẻ em Việt Nam; Nguyễn Thành Vinh về

"Hoạt động của các TCPCP trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam" phân tích rõ loại hình TCPCP cũng như nêu bật những thành công của

các tổ chức này trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam trong thời gian từ 2000 đến 2012 Hoặc luận văn Thạc sĩ Quan hệ quốc tế (Học

viên Ngoại giao) như của Đỗ Thị Hồng Hạnh về "Vai trò của các TCPCP trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường toàn cầu"; Lê Trung Hiếu về

"Hợp tác giữa Việt Nam với các TCPCP của Mỹ về viện trợ nhân đạo và phát triển giai đoạn 1995 - 2010"; Trần Thị Thu về "Quan hệ của Việt Nam với các TCPCPNN trong thời kỳ đổi mới"; Sothana Vangkonevilay về "Vai trò của TCPCPNN trong quá trình giải quyết đói nghèo tại Lào"

BĐKH là vấn đề đang thu hút đông đảo các nhà khoa học tham gia, do vậy rất nhiều công trình, sách báo, bài tạp chí liên quan đến đề tài này từ mức

độ khái niệm cơ bản cho đối tượng phổ thông, đến các hội thảo chuyên ngành Các công trình này rất đa dạng, tùy vào đối tượng nên có độ chuyên sâu khác

nhau Trong cuốn “BĐKH và tác động ở Việt Nam” do Viện Khoa học Khí

tượng thủy văn và Môi trường giới thiệu những kiến thức cơ bản về BĐKH, thực trạng BĐKH toàn cầu và ở Việt Nam; kịch bản BĐKH cho Việt Nam; tác động của BĐKH đến các ngành, lĩnh vực và các khu vực địa lý - khí hậu trong cả nước

Đi sâu vào từng chuyên ngành, đề tài BĐKH được nhiều học giả quan

tâm như TS Nguyễn Song Tùng (2018) chủ biên cuốn sách "Đặc trưng sinh

Trang 12

10

thái nhân văn và khả năng thích ứng với BĐKH của một số cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng núi Đông Bắc Việt Nam" trong phần giải pháp nhằm phát

huy các đặc trung sinh thái nhân văn để thích ứng với BĐKH đề cao việc đầu

tư sâu trong lĩnh vực truyền thông nhằm nâng cao nhận thức và năng lực, trách nhiệm tham gia của người dân, các cấp, các ngành với các chính sách, thể chế phù hợp, kịp thời Từ đó, tác giả chỉ ra vai trò của nhà nước và chính quyền tại các địa phương đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số là rất quan

trọng Hay trong cuốn “Ứng phó với BĐKH trong hoạt động công nghiệp, đô thị và xây dựng công trình” của Trần Đức Hạ (2013) tập trung làm rõ khái

niệm cơ bản về BĐKH, phân tích sâu về các cách ứng phó với BĐKH trong hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên nước, trong lĩnh vực công nghiệp

và năng lượng, trong các hoạt động kiến trúc và xây dựng… từ đó đưa ra những giải pháp ứng phó, thích hợp cho phù hợp với sự phát triển của đô thị hiện đại

Ngoài ra, một số bài báo khoa học, luận văn thạc sĩ cũng xoay quanh

vấn đề hợp tác quốc tế về BĐKH Bài viết "BĐKH ở Việt Nam: Một số kết quả nghiên cứu, thách thức và cơ hội trong hội nhập quốc tế" của Phan Văn

Tân, Ngô Đức Thành đăng tại Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 29, Số 2 (2013), tr 42-55 trình bày một số biểu hiện của BĐKH ở Việt Nam trong các thập kỷ qua, xu thế biến đổi trong tương lai cũng như một số bằng chứng và khả năng tác động tiềm ẩn của nó Trong đó, đề cập đến vấn đề hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu BĐKH và xây dựng các kịch bản BĐKH cho Việt Nam, phục vụ chiến lược và kế hoạch ứng phó hiệu quả với BĐKH, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi trường Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội) của Hoàng

Thúy Quỳnh đề cập đến "Hợp tác quốc tế trong vấn đề BĐKH" trong đó chỉ

Trang 13

tay giải quyết những ảnh hưởng từ BĐKH, chỉ rõ những nỗ lực hợp tác quốc

tế thời hậu Nghị định thư Kyoto; luận văn Thạc sĩ BĐKH (Khoa các khoa học

liên ngành, Đại học quốc gia Hà Nội) của Trần Minh Ngọc với đề tài "Nhận thức và thái độ của học sinh trung học phổ thông về BĐKH hiện nay (nghiên cứu trường hợp học sinh trường trung học phổ thông Xuân Đỉnh, Bắc Từ Liêm,

Hà Nội)" thông qua một trường hợp với đối tượng cụ thể để phân tích vai trò của giáo dục trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH

Như vậy, những công trình kể trên đã tiếp cận và nghiên cứu các lĩnh vực hoạt động của các TCPCPNN tại một số lĩnh vực nhất định nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về TCPCPNN trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH tại Việt Nam giai đoạn 1998 đến nay Còn trong mã ngành đào tạo Quan

hệ quốc tế, hiện chưa có đề tài nào về vai trò của các TCPCPNN đối với vấn đề BĐKH tại Việt Nam

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn làm rõ hoạt động của TCPCPNN trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH tại Việt Nam, đánh giá những mặt mạnh và hạn chế của các TCPCPNN; trên cơ sở đó đưa ra một số đề xuất để tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của TCPCPNN trong vấn đề nhận thức về BĐKH đối với Việt Nam và TCPCPNN trong thời gian tới

Trang 14

đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án liên quan

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là TCPCPNN có hoạt động nâng cao nhận thức về BĐKH ở Việt Nam nhằm giúp nhiều đối tượng tại Việt Nam hiểu sâu hơn và có hành động cụ thể hơn về ứng phó, thích ứng và giảm thiểu BĐKH đang diễn ra khá nghiêm trọng ở nhiều vùng trên cả nước

Phạm vi thời gian: Thời gian tiến hành nghiên cứu bắt đầu từ năm 1998

- mốc thời điểm Việt Nam ký tham gia Nghị định thư Kyoto (kèm theo Công ước khung của Liên Hiệp quốc về BĐKH (UNFCCC)), thể hiện nhận thức của Việt Nam trong việc chung tay đẩy mạnh những biện pháp nhằm đạt được

sự ổn định khí thải nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Tuy nhiên giai đoạn này, nhận thức về BĐKH chưa thực sự phổ cập rộng rãi, cũng như hoạt động của các TCPCPNN trong lĩnh vực này cũng chưa nhiều Luận văn tập trung hơn vào những năm đầu thế kỷ XXI, thời điểm nhận thức về BĐKH tại Việt Nam được phổ biến hơn; các TCPCPNN đến Việt Nam nhiều và đa dạng hơn Ngoài ra để thấy được những chuyển biến trong thay đổi tư duy, nhận thức về BĐKH cần có một khoảng thời gian dài đánh giá, do vậy luận văn chọn quãng

Trang 15

13

thời gian 20 năm để có những nhận định khách quan hơn về vai trò của TCPCPNN tại Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài trong quá trình thực tác giả

đã dựa trên các quan điểm của Đảng, của Nhà nước, các cách tiếp cận của quốc tế cũng như thu thập thông tin từ các nghiên cứu, các dự án liên quan đến BĐKH đã và đang được triển khai

- Phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế: làm rõ hoạt động các bên

để thấy rõ mục đích, các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc thực hiện triển khai các hoạt động liên quan đến nâng cao nhận thức về BĐKH

- Phương pháp phân tích văn bản: thông qua các báo cáo, tài liệu thu được từ việc tổng kết các hoạt động liên quan đến BĐKH do các cơ quan nhà nước, TCPCPNN công bố

- Phương pháp phân tích hợp tác quốc tế: chỉ rõ tính liên kết, vấn đề toàn cầu cần chung tay với việc ứng phó với BĐKH, thay đổi hành vi - nhận thức của con người nhằm giảm thiểu tối đa ảnh hưởng của BĐKH

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: TCPCP và vấn đề BĐKH Nội dung chương này đề cập đến

các khái niệm BĐKH, TCPCPNN; vai trò của các TCPCP đối với vấn đề BĐKH… để xác định rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Chương 2: Nhận thức về BĐKH và hoạt động của TCPCPNN tại Việt

Nam giai đoạn 1998 đến nay Thông qua một số dự án điển hình, chương này sẽ làm rõ các hoạt động của TCPCPNN trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH

Trang 16

14

Chương 3: Nhận xét hoạt động của các TCPCPNN trong việc nâng cao

nhận thức về BĐKH tại Việt Nam, từ đó chỉ ra kiến nghị - đề xuất để tìm đến giải pháp hoàn chỉnh hơn

Trang 17

15

CHƯƠNG I: TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI

KHÍ HẬU 1.1 Các vấn đề cơ bản về tổ chức phi chính phủ

1.1.1 Khái niệm và phân loại tổ chức phi chính phủ

Do vai trò ngày càng gia tăng nên trên thế giới có rất nhiều các công trình nghiên cứu đa dạng về các TCPCP từ lý thuyết đến thực tiễn Trong số

đó, học viên đã tiếp cận được với một số công trình vềTCPCP Cụ thể:

Tổ chức phi chính phủ (Non – governmental organization - TCPCP) là một thuật ngữ được sử dụng khi nói tới những tổ chức xã hội dân sự (civil society) hợp pháp tự nguyện vì những lợi ích công, thường không vì mục đích lợi nhuận, phi bạo lực và không thuộc chính phủ

Thuật ngữ TCPCP được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1945 khi Liên hợp quốc ra đời Hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TCPCP Trong

Hiến chương Liên hợp quốc: "Các TCPCP là bất cứ tổ chức quốc tế nào được lập ra không phải do một thỏa thuận liên chính phủ quốc tế, nhưng TCPCP

đó có thể bao gồm các tổ chức thành viên do chính phủ cử ra, với điều kiện thành viên đó không được can thiệp vào quyền tự do bày tỏ ý kiến của tổ chức đó"

Theo định nghĩa của World Bank thì TCPCP là “một tổ chức dân sự theo đuổi những hoạt động nhằm giảm bớt khổ đau, thúc đẩy lợi ích của người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hoặc thực hiện các dịch vụ cộng đồng”.3

3

Malena, C (1995), Working with NGOs: A practical guide to operational collaboration between the world

bank and non-governmental organizations, Operations Policy Department, World Bank

Trang 18

16

Tất cả các tổ chức được gọi là phi chính phủ đều có những đặc điểm chung nhất định:

- Không chịu sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ;

- Là một tổ chức phi lợi nhuận;

- Không phải là một tổ chức được hình thành như một đảng phái chính trị;

- Không phải là một tổ chức tội phạm, phải là một tổ chức phi bạo lực Tuy nhiên không phải lúc nào các tiêu chí này cũng thể hiện rành mạch

do tùy vào cách tiếp cận, mục đích phân loại, đánh giá khác nhau

Ở Việt Nam, thuật ngữ TCPCP xuất hiện lần đầu tiên trong Luật Tổ

chức Chính phủ năm 1992, trong đó quy định “Thủ tướng chính phủ cho phép thành lập và quản lý việc tuân theo pháp luật của các Hội, các Tổ chức phi chính phủ” Sau đó là Luật Hợp tác xã năm 1996 và một số văn bản pháp qui

gần đây: TCPCP là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối với Chính phủ; Được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, có sự quản lý Nhà nước; Được lập ra do sự tự nguyện của nhân dân; Hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật Từ những đặc điểm đó, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và những người làm trong lĩnh vực phát triển đã đưa ra quan niệm chung về TCPPCP trong nước như sau: “ Là tổ chức tự nguyện của nhân dân, có tư cách pháp nhân, cùng ngành, cùng nghề, nhu cầu, giới… hoạt động một cách thường xuyên để thực hiện mục tiêu chung, không vì mục tiêu phân chia lợi nhuận và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam”.4

4

Học viện Hành chính quốc gia, “Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ”, Nhà xuất bản Đại

học Quốc gia Hà Nội

Trang 19

17

Đối với thuật ngữ Tổ chức phi chính phủ quốc tế (TCPCPTQT) lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1950 tại Nghị quyết số 288 (X) của Hội đồng Kinh tế

xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) Theo đó TCPCPQT là bất kỳ tổ chức quốc

tế được thành lập mà không phải bằng hiệp định liên chính phủ Do vai trò ngày càng quan trọng của việc hợp tác quốc tế cũng như của các TCPCPQT, khái niệm về TCPCPQT dần được hoàn thiện, không còn lỏng lẻo như lúc ban đầu Năm 1996, ECOSOC đã đưa ra một số đặc trưng của TCPCPQT bao gồm phi thương mại; không tham gia vào bạo lực hoặc chủ trương bạo lực; không có ý định thay thế các chính phủ hiện có; ủng hộ các mục tiêu và chương trình nghị sự của Liên hợp quốc Theo các đặc điểm đặc trưng này, nhiều khái niệm, định nghĩa về TCPCPQT ra đời, trong đó có khái niệm do Florini đưa ra vào năm 2000 thể hiện đầy đủ, tổng quan nhất tính chất TCPCPQT: "Các nhóm ủng hộ tự tổ chức thực hiện hành động mang tính tập thể, tự nguyện xuyên qua các biên giới quốc gia trong việc theo đuổi những gì

mà họ cho là lợi ích công rộng lớn hơn".5

Phân loại TCPCP rất đa dạng, tùy vào từng mục đích, đối tượng hoạt động cụ thể Có thể phân loại các TCPCP theo tính chất: quốc tế, quốc gia, chính phủ hoặc theo hình thức hoạt động là các quỹ văn hóa, các tổ chức từ thiện, hoặc các tổ chức có nguồn gốc tôn giáo TCPCP còn được phân loại theo lĩnh vực hoạt động như nhân đạo, phát triển cộng đồng, bảo vệ môi trường, tôn giáo Ngoài ra căn cứ theo chức năng hoạt động, TCPCP còn được phân loại thành TCPCP thực thi (đề ra và thực hiện một loạt các chương trình, cơ cấu tổ chức, định hướng hoạt động và các khu vực hoạt động xét theo khía cạnh chương trình, địa lý) và vận động (về chính sách, hành động để giải quyết những mối lo ngại, quan điểm hoặc mối quan tâm cụ thể của quốc tế hay khu vực)

5

Đinh Quý Độ, Các tổ chức phi chính phủ quốc tế: vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu

NXB Khoa học xã hội, 2012, tr.20

Trang 20

18

Từ những năm 80 của thế kỷ XX, sự quan tâm đến môi trường ngày càng gia tăng Điều này đã dẫn tới sự nổi lên của các TCPCP môi trường (Environment non governmental organization - ENGO) ENGO đa dạng về thời gian tổ chức, quy mô ngân sách và nhân viên, phạm vi hoạt động, định hướng tư tưởng, đặc điểm văn hoá và tổ chức, tình trạng pháp lý, phương tiện

và mục tiêu ENGO được chia thành ba nhóm: (1) Nhóm "dòng chính tư tưởng", bao gồm ENGO cố gắng đạt được các mục tiêu của mình bằng cách ảnh hưởng đến chính sách công và cố gắng đạt được sự bảo vệ môi trường trong khuôn khổ các thể chế hiện có; (2) Nhóm "các nhà sinh thái học sâu sắc" bao gồm các ENGO thách thức các cơ cấu tổ chức cơ bản và các giá trị

xã hội; (3) Nhóm "các nhà môi trường cấp tiến", bao gồm các ENGO như những người "chiến binh" và thường mang nghĩa cực đoan

ENGO đóng một vai trò quan trọng trong việc "thiết lập và thực thi các

ưu tiên môi trường"; có quyền tiếp cận quỹ, khả năng thu hút sự chú ý của giới truyền thông, quảng bá truyền thông và cung cấp thông tin liên quan và

để tiếp cận với việc "hình thành và cải cách các tổ chức quốc tế" Các TCPCP

tự giải phóng khỏi chính trị truyền thống, thay đổi điểm tham chiếu và các phương tiện hành động ưu tiên, phát triển về số lượng và sự liên kết lẫn nhau, xuyên quốc gia, góp phần vào sự thay đổi xã hội và chuyển đổi theo một cách khác: họ trở thành những tác nhân của xã hội học tập và do đó đóng góp đáng

kể cho việc học cách ra ngoài Thay vì tập trung vào chính trị truyền thống, làm thế nào để gây ảnh hưởng và huy động nó, ENGO xây dựng cộng đồng, đặt ra các ví dụ, và ngày càng thay thế cho hành động chính trị truyền thống6

1.1.2 Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam

6 https://scholarship.richmond.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1892&context=law-faculty-publications

Trang 21

19

Tại Việt Nam, thuật ngữ Tổ chức phi chính phủ nước ngoài (TCPCPNN) được hiểu là bao gồm các TCPCP Quốc gia và quốc tế Đó là các TCPCP không mang quốc tịch Việt Nam, trong đó các thành viên của nó mang quốc tịch nước ngoài hoặc mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập ra Đây là thuật ngữ được dùng rất nhiều trong các văn bản của nhà nước, quyết định của chính phủ ví dụ như quyết định số 340 QĐ – TTg về việc Ban hành quy chế về hoạt động của các TCPCPNN tại Việt Nam hay quyết định số 59/2001/QĐ – TTg về việc thành lập Ủy ban Theo Hướng dẫn hoạt động của TCPCPNN tại Việt Nam, số 132/HD-UB, ngày 22/8/2005 của Ủy ban Công tác về các TCPCPNN về thực hiện Quy chế hoạt động của các TCPCPNN tại Việt Nam quy định: "Các TCPCPNN nêu tại Điều 1 của Quy chế là các TCPCP, các quỹ văn hóa xã hội, viện nghiên cứu, các Trường Đại học, trung tâm giáo dục, quản tác và các hội hữu nghị được thành lập ở nước ngoài (kể cả cá nhân là người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài) đến Việt Nam hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo, phi lợi nhuận hoặc không vì mục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác, chỉ được phép hoạt động khi đã được

cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép" Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, TCPCPNN được hiểu là những tổ chức được thành lập ở các quốc gia khác tham gia hoạt động cứu trợ và phát triển tại Việt Nam, trên cơ sở tự nguyện và không vì mục đích lợi nhuận, bao gồm TCPCP quốc gia và TCPCQT

Các TCPCPNN có quan hệ với Việt Nam rất sớm Sau 1975, phần lớn

số TCPCPNN đã chấm dứt hoạt động ở miền Nam Việt Nam Sau đó các TCPCPNN đã dần dần trở lại Việt Nam Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với các TCPCPNN: Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ nhiệm vụ phát triển KTXH: "Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả Tích cực tham gia

Trang 22

Đến năm 2001, Ủy ban Công tác về các TCPCPNN (COMINGO) được thành lập theo Quyết định số 59/2001/QĐ-TTg ngày 24/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng chính phủ chỉ đạo, giải quyết những vấn đề liên quan đến các TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam Trong đó Ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) là một bộ phận chức năng, chuyên về công tác phi chính phủ nước ngoài của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, được giai nhiệm vụ tăng cường quan hệ đối tác giữa các TCPCPNN và các địa phương, các tổ chức của Việt Nam; tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của các TCPCPNN; thu thập và chia sẻ thông tin liên quan đến các hoạt động của các TCPCPNN ở Việt Nam, tiến hành nghiên cứu về hoạt động của TCPCPNN và nhu cầu của các địa phương khác nhau; đề xuất với Chính phủ chính sách thích hợp cho hoạt động của TCPCPNN ở Việt Nam

Trang 23

21

Năm 1978 đã có 70 TCPCP đặt quan hệ với Việt Nam, giá trị viện trợ khoảng 30 triệu USD/năm, chủ yếu viện trợ nhân đạo (lương thực, thuốc men ), giúp khắc phục hậu quả chiến tranh Đặc biệt, kể từ năm 1986 với chính sách Đổi mới và chủ trương về hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả hợp tác với các TCPCP quốc gia và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân các nước, các TCPCPNN có quan hệ với Việt Nam tăng lên và giá trị viện trợ tăng dần Trong hơn 15 năm

từ 1994 đến 2009, số lượng các tổ chức TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam đã tăng mạnh từ 210 tổ chức TCPCPNN năm 1994 lên hơn 750 tổ chức TCPCPNN hoạt động ở Việt Nam vào năm 2009 Trong số đó, có trên 500 tổ chức có hoạt động thường xuyên, có dự án và đối tác Việt Nam Theo số liệu tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 3 về hợp tác giữa Việt Nam và các TCPCPNN, trong giai đoạn từ 2001-2013, số lượng các TCPCP quốc tế tại Việt Nam đã tăng hai lần, từ 491 tổ chức vào năm 2001 lên khoảng 900 tổ chức vào năm

2013 Giá trị viện trợ của các TCPCPNN dành cho Việt Nam cũng tăng mạnh

từ 40 triệu USD năm 1993 lên 85 triệu USD năm 2002, 140 triệu USD năm

2004, 175 triệu USD năm 2005 và đạt ngưỡng 217 triệu USD năm 2006 Theo thống kê, tính từ năm 2005 đến hết 6 tháng đầu năm 2009, trong 04 năm giá trị viện trợ giải ngân của các TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam đạt trên 1

tỷ USD, tương đương với giá trị giải ngân của cả 15 năm, giai đoạn

1989-2004 Không chỉ vậy, ngân sách cam kết hỗ trợ cũng tăng gấp ba lần trong mười năm, từ 84 triệu USD năm 2001 lên khoảng gần 300 triệu USD năm

2013 Tổng giá trị giải ngân từ các TCPCPNN cho Việt Nam đạt tổng cộng gần 2,4 tỷ đô la trong giai đoạn từ 2003-2013.7 Gần đây nhất, COMINGO đã

tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động giai đoạn 1996-2017 đã tổng kết hiện Việt Nam có quan hệ với hơn 1.000 TCPCPNN, trong đó, khoảng 500

7

http://suckhoedoisong.vn/cac-ingo-dong-gop-lon-cho-y-te-viet-nam-n87172.html

Trang 24

22

TCPCPNN hoạt động thường xuyên tại Việt Nam, hằng năm hỗ trợ khoảng 3.000 chương trình, dự án và cấp các khoản viện trợ với giá trị giải ngân trong hơn 20 năm qua đạt 4,3 tỷ USD8

Hoạt động của các TCPCPNN được triển khai trong nhiều lĩnh vực mà Việt Nam có nhu cầu hợp tác, như y tế, giáo dục, phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường

Theo thống kê của VUFO - NGO cập nhật năm 2018, khoảng 40% số TCPCPNN đang hoạt động tại Việt Nam đến từ Mỹ và Canada, hơn 40% đến

từ châu Âu, gần 8% đến từ Australia và New Zealand, trên 6% đến từ châu Á

và 6% còn lại là từ các tổ chức đa quốc gia hoặc TCPCPNN đến từ các khu vực khác trên thế giới; trong số đó có 46 TCPCPNN hoạt động liên quan đến lĩnh vực BĐKH9

Theo khu vực địa lý, viện trợ của các TCPCP Bắc Mỹ, châu

Âu, châu Á - Thái Bình Dương đều tăng, đặc biệt giá trị viện trợ của các TCPCP Mỹ tăng đáng kể

Viện trợ của TCPCPNN thường rất đa dạng và không ổn định Phương thức hoạt động cơ bản là trực tiếp làm dự án và trực tiếp quan hệ với địa phương, cơ sở Từ năm 1990, đa số TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam tiến hành các dự án theo hướng phát triển bền vững, chiếm trên 80% giá trị viện trợ Chương trình viện trợ của các TCPCPNN đặc biệt tập trung vào những vùng còn nghèo, vùng sâu, vùng xa và ngày càng tập trung hơn vào các lĩnh vực phù hợp với các ưu tiên và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững Sự trợ giúp của TCPCPNN không chỉ là viện trợ vật chất mà bao gồm cả chuyển giao kinh nghiệm, công nghệ, nâng cao dân trí, chăm sóc y tế, phổ cập giáo dục Đáng chú ý, tại Hội

8

ngoai.html

http://nhandan.com.vn/chinhtri/item/36919902-tong-ket-cong-tac-ve-cac-to-chuc-phi-chinh-phu-nuoc-9 http://www.ngocentre.org.vn/ingodirectory?page=2&field_ingo=&title=&field_projectsvietnam_value=&tid [0]=204&tid_1=All

Trang 25

23

nghị cung cấp thông tin, tham vấn với các chuyên gia và các bên liên quan nhằm xây dựng kế hoạch, chiến lược ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn đang diễn ra tại 13 tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long được tổ chức vào năm 2016, 07 TCPCPNN và doanh nghiệp đã có những cam kết hỗ trợ ban đầu cho các cộng đồng chịu ảnh hưởng trong đợt hạn hán và xâm nhập mặn này với tổng trị giá 1,1 triệu USD (24 tỷ đồng) qua các chương trình cung cấp nước sạch, lương thực và dinh dưỡng Và trong dài hạn, 22 TCPCPNN thông qua Thỏa thuận khung ký với Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, cam kết triển khai 30 chương trình và dự án trong

ba năm (2016-2019) tại 13 tỉnh bị thiệt hại với tổng ngân sách là 12,3 triệu USD (tương đương khoảng 274 tỷ đồng)10

Lĩnh vực hoạt động của các TCPCPNN ở Việt Nam chủ yếu là xóa đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả chiến tranh, giảm thiểu ảnh hưởng do thiên tai, giáo dục, y tế, cung cấp nước sạch và tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật và đào tạo Trong một vài năm tới, sẽ không có thay đổi lớn về phương thức, giá trị

và lĩnh vực viện trợ của các tổ chức TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam Các

dự án mang tính lĩnh vực bao trùm sẽ được quan tâm nhiều hơn so với các dự

án nhỏ lẻ Thay vì tập trung tài trợ cho xây dựng cơ sở hạ tầng, ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy các tổ chức TCPCPNN tập trung vốn cho các dự án tín dụng, tiết kiệm, vốn quay vòng cho phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người dân; các dự án về môi trường, môi sinh, bảo vệ động vật và đa dạng hóa sinh học sẽ có nhiều vốn tài trợ hơn; viện trợ phòng chống thiên tai mang tính bền vững sẽ thay thế dần các hình thức viện trợ cứu

10

hau.aspx

Trang 26

http://comingo.gov.vn/chitiet/thong-tin-hoat-dong/lien-hop-quoc-giup-viet-nam-ung-pho-bien-doi-khi-24

tế; viện trợ nâng cao nguồn năng lực, làm chính sách và phát triển các tổ chức

xã hội dân sự (TCPCP Việt Nam) sẽ được đặc biệt quan tâm và phát triển

1.2 Vai trò của TCPCP đối với vấn đề BĐKH trên thế giới

1.2.1 Thực trạng của BĐKH trên thế giới

BĐKH được thể hiện qua những biểu hiện như nhiệt độ trung bình của

bề mặt trái đất tăng, làm cho mực nước biển dâng lên do sự tan băng ở các cực và các đỉnh núi cao; sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, địa quyển; các thiên tai

và hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt, hạn hán ) xảy ra với tần suất cao, bất thường và cường độ tăng lên

Trong Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC) có

hiệu lực vào ngày 21/3/1994 thì khái niệm BĐKH nghĩa là biến đổi của khí hậu được qui cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được

Còn theo IPCC, BĐKH là sự thay đổi trong trạng thái của khí hậu có thể được xác định được (ví dụ như sử dụng các phương pháp thống kê) diễn ra trong một thời gian dài, thường là thập kỷ hoặc lâu hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất

Trong khi đó, Cơ quan Hàng không và vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) công bố BĐKH bao gồm sự nóng lên toàn cầu nhưng phản ảnh trong phạm vi rộng hơn của những thay đổi đang diễn ra trên trái đất như nước biển dâng; băng tan tại Greenland và hai cực; sự thu hẹp của các dòng sông băng; thời gian

Trang 27

Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH của Việt Nam năm

2008 ghi nhận BĐKH cũng có nhiều điểm tương đồng với khái niệm của IPCC, đó là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập

kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất

Theo IPCC (2007), BĐKH thể hiện qua 06 biểu hiện:

- Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên do sự ấm lên của bầu khí quyển toàn cầu;

- Sự dâng cao mức biển do nước bị giãn nở khi nhiệt độ tăng và băng tan;

- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển;

- Sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của trái đất;

11

https://climate.nasa.gov/faq/: Climate change encompasses global warming, but refers to the broader range of changes that are happening to our planet These include rising sea levels, shrinking mountain glaciers, accelerating ice melt in Greenland, Antarctica and the Arctic, and shifts in flower/plant blooming times These are all consequences of the warming, which is caused mainly by people burning fossil fuels and putting out heat-trapping gases into the air

Trang 28

Như vậy, nguyên nhân gây BĐKH có thể là nguyên nhân khách quan

do sự biến đổi của tự nhiên và cũng có thể là nguyên nhân chủ quan do tác động của con người Trong lịch sử hình thành, trái đất đã trải qua nhiều lần thay đổi về khí hậu, thời tiết, tuy nhiên thuật ngữ BĐKH muốn khẳng định tác nhân gây ra nhiệt độ toàn cầu tăng lên là bởi con người Sự gia tăng lượng phát thải khi CO2 và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người góp phần làm cho bầu khí quyển ấm dần lên Điều này có thể nhận thấy rõ qua bảng mối liên hệ giữa khí nhà kính và BĐKH: các khí CO2, CH4, NO2 thay đổi cân bằng giữa năng lượng đến bề mặt trái đất và năng lượng từ trái đất thoát ra vũ trụ tạo nên hiệu ứng nhà kính; từ đó gia tăng nhiệt độ của khí quyển, đại dương khiến nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên; lượng mưa thay đổi; khí hậu cực đoan gia tăng 12

Mỗi năm, nhân loại thải ra hơn 30 tỷ tấn CO2 vào bầu khí quyển, tương đương với khoảng 1000 tấn/giây Theo báo cáo năm 2007 của IPCC, khí nhà kính như CO2 sẽ gây ra một sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu từ 1,1oC đến 6,4oC trong thế kỷ sau Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy nhiệt độ có thể tăng khoảng 5oC trong khoảng thời gian này Điều đó có nghĩa là toàn bộ Bắc Cực bây giờ đang bị tan chảy suốt năm Hầu hết các vùng nhiệt đới và thậm chí ở các vĩ độ thấp hơn đều quá nóng để có thể sinh sống được Nước biển hiện nay đang dâng lên nhanh chóng đến mức nhiều thành phố ven biển trên toàn thế

12 Trần Thọ Đạt, Vũ Thị Hoài Thu, Kinh tế và chính sách BĐKH, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2017,

tr.31

Trang 29

Rõ ràng, BĐKH không còn là khái niệm mơ hồ mà ngày càng hiện hữu

rõ ràng với nhiều hệ lụy không chỉ riêng quốc gia nào Có thể thấy hậu quả của BĐKH tác động rõ ràng lên cuộc sống của con người từ ô nhiễm môi trường sống đến tăng việc di cư đến các đô thị thương mại và công nghiệp để tìm kiếm công việc và địa điểm sống thích hợp hơn Theo Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) nhận định, BĐKH được xếp vào dạng vấn đề

an ninh "phi truyền thống" và được xem như là một trong những thách thức lớn nhất đối với "an ninh môi trường - phát triển toàn cầu"; trở thành thách thức lớn nhất với hòa bình và an ninh thế giới Hậu quả của BĐKH (các thảm họa thiên nhiên, các vấn đề môi trường…) có thể làm thay đổi nguồn phân bổ tài nguyên, dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực, an ninh năng lượng và làm bùng nổ các làn sóng di cư, gây xung đột và làm bất ổn chính trị xã hội

Theo một thống kê 48 năm từ 1969 - 2017, 88% người dân trên thế giới ảnh hưởng bởi thiên tai nằm ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Hơn 2 triệu người chết vì thiên tai cũng nằm ở khu vực này Do đó, nếu không có mục tiêu giảm thiểu BĐKH và giảm thiểu thiên tai thì toàn bộ người dân thế giới sẽ bị ảnh hưởng Đến năm 2025, khoảng 5 tỉ người có thể sẽ sống trong những khu vực có nguy cơ căng thẳng, xung đột liên quan đến nước và lương

Trang 30

28

thực Đến năm 2050, khoảng 150 triệu người có thể phải rời khỏi những khu vực duyên hải do nước biển dâng, bão, lụt hoặc nước ngọt bị nhiễm mặn Chất lượng sống kém, dân cư quá đông đúc và tình trạng thiếu nước, mất vệ sinh cũng như không hiệu quả trong việc quản lý và xử lý rác thải là nguyên nhân gây ra tỉ lệ mắc bệnh ngày một cao Nếu như ở các nước phát triển, trẻ

em dưới 18 tuổi chiếm khoảng 20% dân số thì các nước chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH mà hầu hết là nước thu nhập thấp, trẻ em dưới 18 tuổi lên đến gần một nửa dân số (như 42% ở Bangladesh, 51% ở Algeria, 57% ở Uganda) Quan trọng hơn là trẻ em dưới 5 tuổi chiếm tới 10 - 20% dân số ở các nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi BĐKH như Ấn Độ (11%), Bangladesh (12%), Algeria và Mozambique (17%), Uganda (21%), trong khi các nước có thu nhập cao, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi chỉ chiếm 4 - 5% dân số.13

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, quê hương của 75% dân cư mà ngày nay đang sinh sống tại các khu vực sẽ không còn được coi là đất liền trong tương lai với tác động của BĐKH Nhiều loại hình thiên tai, hiện tượng khí hậu và thời tiết cực đoan diễn ra với quy mô, tần suất và mức độ ngày

càng lớn Theo bản báo cáo với tiêu đề "Một khu vực nhiều nguy cơ: Các khía

cạnh về con người của BĐKH ở Châu Á và Thái Bình Dương" do ADB và Viện Nghiên cứu Tác động BĐKH Potsdam (PIK) hợp tác thực hiện14, 19/25 thành phố có nguy cơ biến mất khi nước biển dâng cao 1 mét nằm trong khu vực châu Á, bảy trong số đó là ở Philippines; cuối thế kỷ XXI, dự báo nhiệt

độ trên khắp đại lục châu Á sẽ tăng khoảng 6o

C, thậm chí nhiệt độ ở một số nơi như Afghanistan, Pakistan, Tajikistan hay Tây Bắc Trung Quốc có thể

Trang 31

http://www.nhandan.com.vn/thegioi/cua-so-the-gioi/item/33510202-adb-bien-doi-khi-hau-de-doa-huy-29

tăng tới 8o

C Thực ra, châu Á hiện phải hứng chịu các cảnh hưởng của thay đổi BĐKH, gánh chịu gần 30% tổng thiệt hại về kinh tế trên toàn cầu do tác động của các hoạt động thời tiết cực đoan từ năm 2000 đến 2008 Tại một số quốc gia Đông Nam Á, sản lượng lúa gạo có thể giảm tới 50% vào năm 2100

"nếu không có những nỗ lực thích ứng nào được triển khai"; Những ca tử vong liên quan tới các dịch bệnh như sốt rét hay sốt xuất huyết cũng sẽ gia tăng, cùng các ca tử vong do các nguyên nhân gây bệnh khác như ô nhiễm không khí, hiện đã đạt tới 3,3 triệu ca mỗi năm trên toàn cầu, với số lượng nhiều nhất là ở các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh Số liệu năm 2015 cho thấy, trong tổng số 90 cơn bão toàn cầu, 344 thảm họa thiên tai thì có đến gần 50% số đó xuất hiện ở các quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Nhiều loại hình thiên tai, thảm họa tự nhiên tác động nặng nề đến các quốc gia trong khu vực như: Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia, Myanmar, Pakistan, Philippines, Srilanka, Trung Quốc tác động trực tiếp đến 59,3 triệu người, khoảng 16.000 người tử vong, tăng gấp đôi so với năm 2014, gây thiệt hại kinh tế khoảng 45,1 tỷ USD, thậm chí con số còn cao hơn nếu tính toán các thiệt hại gián tiếp khác.15

Tuy nhiên, nếu không có cách cân bằng lợi ích giữa các quốc gia, BĐKH sẽ thực sự trở thành mối xung đột lớn của quan hệ quốc tế hiện đại khi các nước phương Nam chỉ trích các nước phương Bắc vì các hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm, vì chủ nghĩa tiêu thụ quá lớn gây tổn hại nguồn tài nguyên, vì hành động chuyển tác hại môi trường sang các nước nghèo thông qua đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Trên thực tế, không phải các nước phương Bắc không nhận thấy mình là nguyên nhân chính gây nên sự tăng nhiệt độ của

15

Bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà tại Hội nghị chuyên đề IPU khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về “Ứng phó BĐKH - hành động của các nhà lập pháp nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững” do Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) và Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam phối hợp tổ chức vào tháng 5/2017

Trang 32

30

trái đất, nhưng họ không thể ngừng việc phát triển công nghiệp vì sự tồn tại

và phát triển của quốc gia họ Các nước phương Bắc cho rằng chính các nước phương Nam, điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ cũng đang và sẽ trải qua quá trình phát thải giống như các nước phương Bắc Vậy nên ngay từ bây giờ các nước phương Nam cần giảm dần việc phát thải khí carbon Thêm vào đó, họ cho rằng các nước phương Nam quản lý kém và khai thác tài nguyên bừa bãi làm ảnh hưởng trầm trọng tới bầu khí quyển Song, các nước phương Nam không muốn xem xét lại con đường phát triển mà họ đang đi Và họ cũng không thể ngừng khai thác tài nguyên bởi đó là lợi thế so sánh của họ Họ cho rằng đó là quyền phát triển của họ Nếu ngừng khai thác tài nguyên, nhiều nước sẽ không có chỗ dựa cho tăng trưởng và sẽ ngày càng bị tụt hậu so với các nước phát triển Điển hình như việc Trung Quốc cho rằng việc nâng cao nguồn thu nhập còn đang thấp của người dân còn quan trọng hơn việc cắt giảm hoạt động đốt các nhiên liệu hóa thạch Như vậy, cả hai phía đều theo đuổi những lợi ích khác nhau và cùng làm tổn hại tới bầu khí quyển trong khi vẫn tiếp tục chỉ trích lẫn nhau BĐKH rõ ràng đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển

Biểu đồ “Chi phí tăng vọt dùng để khắc phục hậu quả của BĐKH từ năm

1990 đến năm 2016” do Cơ quan nghiên cứu độc lập về sức khỏe và BĐKH thực hiện, thể hiện diễn biến số lần thời tiết cực đoan xảy ra và chi phí thiệt hại cho nền kinh tế chỉ rõ từ đến 2016, thế giới hứng chịu số lần thời tiết cực đoan tăng gấp 02 lần (tương đương 193% so với năm 1990); thiệt hại kinh tế gấp 02 lần (tương đương 197% so với năm 1990) BĐKH có thể dẫn tới những khủng hoảng về sinh thái, gia tăng thiệt hại về sản xuất, tăng chi phí của các biện pháp ứng phó, gây xáo trộn về trật tự xã hội, thậm chí đe dọa sự phát triển bền vững các các quốc gia cũng như mọi nỗ lực phát triển của con người

Trang 33

31

Việc bỏ tiền ra chi phí cho việc khôi phục thiệt hại sau những thiên tai

đã làm thâm hụt vào ngân sách các quốc gia Theo Nicolas Stem - nguyên chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới, thì trong vòng 10 năm tới (đến năm 2025), chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỉ USD; nếu con người không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5 - 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP), còn nếu

có những ứng phó tích cực để ổn định khí nhà kính ở mức 550 ppm tới năm

2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 01% GDP

Là một trong số 10 quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ BĐKH, Việt Nam đã có cam kết mạnh mẽ đối với vấn đề phát triển bền vững và ứng phó với những thách thức của BĐKH Theo các kịch bản BĐKH của Việt Nam, vào cuối thế kỷ 21, sẽ có khoảng 40% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích vùng Đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các địa

Trang 34

32

phương khác thuộc khu vực ven biển sẽ bị ngập nước Khi đó sẽ có khoảng 10-12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp, với tổn thất khoảng 10% GDP Đặc biệt, TPHCM sẽ bị ngập trên 20% diện tích thành phố

Trong khi phải đối mặt với nhiều hiểm họa và các biện pháp ứng phó đang được đặt lên hàng đầu, Việt Nam tham gia vào nỗ lực chung toàn cầu nhằm ngăn chặn tình trạng BĐKH thông qua việc thúc đẩy các chính sách giảm thiểu quan trọng Ở cấp quốc gia, Việt Nam đã có nhiều chính sách cụ thể như Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH Gần đây nhất, Hội nghị Trung ương 7 khóa XI Ban chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường với mục tiêu cụ thể đến năm

2020 là nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát BĐKH của các

cơ quan chuyên môn; hình thành cho mỗi thành viên trong xã hội ý thức chủ động phòng tranh thiên tai, thích ứng với BĐKH; giảm dần thiệt hại về người, tài sản do thiên tai gây ra Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, hơn 1 triệu km2 lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển, trong đó có trên 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và trên 30% diện tích đồng bằng sông Hồng – Thái Bình có độ cao dưới 2,5m so với mặt biển Do vị trí địa lý nên những tác động từ BĐKH ảnh hưởng nặng

nề đến sự phát triển kinh tế, xã hội tại Việt Nam, thậm chí có khả năng xóa sổ ngành nông nghiệp Theo phân tích mới nhất về ảnh hưởng của lũ lụt đến GDP của Viện Tài nguyên Thế giới (WRI), trong số 164 quốc gia được khảo sát, Việt Nam đứng thứ 4 về tác hại nghiêm trọng của lũ lụt đến toàn nền kinh

tế khi có đến 80% dân số chịu ảnh hưởng Tổ chức này cũng thống kê rằng lũ lụt đã làm hao hụt đến 2,3% GDP của Việt Nam mỗi năm

Trang 35

33

Chỉ tính riêng năm 2016, thiên tai đã khiến Việt Nam thiệt hại về kinh

tế khoảng 39.726 tỷ đồng; khiến 264 người chết và mất tích; 5.431 nhà bị đổ, sập, trôi, 364.997 nhà bị ngập, hư hại, tốc mái; 828.661 ha diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại; Hàng triệu mét khối đất đá giao thông, thủy lợi bị sạt lở, bồi lấp; 115km đê, kè, 938km kênh mương, 122km bờ sông, bờ biển bị sạt lở 16

Những mối đe dọa an ninh phi truyền thống do BĐKH thực sự trở thành những thách thức mang tính toàn cầu và những thách đố lớn không chỉ đối với năng lực điều hành của các chính phủ, sự vững chắc của các thể chế chính trị và các nền kinh tế mà còn đối với tính khả thi, bền vững của các liên kết quốc tế hiện nay Nhận thức về vấn đề chung này xuất phát từ chính bản chất của vấn đề BĐKH Môi trường mang tính hệ thống chỉnh thể, các quốc gia không thể ngăn được sự ô nhiễm bầu khí quyển tràn vào từ bên ngoài, khi

16 http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/bien-doi-khi-hau-da-tac-dong-den-viet-nam-nhu-the-nao-403757.html

Trang 36

34

bầu khí quyển bị tổn hại ở khu vực này thì nó cũng gây ảnh hưởng tới những khu vực khác Một nước phát thải quá mức có thể làm khí hậu toàn cầu nóng lên Các quốc gia buộc phải cộng tác với nhau để cùng đối phó những nguy

cơ làm tổn hại bầu khí quyển Nếu chỉ đơn phương một vài nước hành động nhằm cứu vãn vấn đề thì những nỗ lực đó cũng không đạt hiệu quả Với bản chất như vậy, BĐKH đã thúc đẩy nhận thức của nhân loại về tính thống nhất của khí quyển, về tính chung của vấn đề BĐKH và từ đó là sự cần thiết phải hợp tác giữa các quốc gia Nhận thức chung này ngày càng được củng cố và trở nên phổ biến, rộng rãi hơn

1.2.2 Nỗ lực của các TCPCP chống BĐKH

Là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại thế kỷ XXI, thế giới đã có nhiều cố gắng trong cuộc chiến chống BĐKH toàn cầu Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC) được ký tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Môi trường và Phát triển tại Rio De Janeiro (Brasil) năm 1992; Nghị định thư Kyoto với cam kết sẽ giảm 5% lượng phát thải trong khoảng thời gian từ 2008 - 2012 cũng đã được thông qua tại COP 3 (1997) Sau COP 13 (2007), cộng đồng quốc tế đã có nhiều cố gắng để triển khai Lộ trình Bali nhằm xây dựng xong một hiệp ước toàn cầu mới về BĐKH trước năm 2010 tại COP 15 (2009) với mục tiêu giữ cho nhiệt độ Trái đất không tăng quá 2 độ C vào cuối thế kỷ XXI, thay thế cho Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực vào năm 2012 Điểm nhấn của cuộc chiến chống BĐKH toàn cầu chính là Thỏa thuận Paris được thông qua tại COP 21 (2015) - văn bản pháp

lý toàn cầu đầu tiên ràng buộc trách nhiệm của tất cả các Bên trong ứng phó với BĐKH Trách nhiệm cam kết này được phản ánh qua Đóng góp dự kiến

do quốc gia tự quyết định (INDC) của mỗi Bên Thỏa thuận Paris đã được gần

180 Bên tham gia Công ước khí hậu ký vào tháng 4/2016 tại trụ sở của Liên hợp quốc Hiện nay, Thỏa thuận này đã được 95 quốc gia phê chuẩn và chính

Trang 37

35

thức có hiệu lực từ ngày 04/11/2016 Việc thông qua Thỏa thuận Paris đã mở

ra một kỷ nguyên phát triển mới trên toàn cầu, đặc trưng bởi phát triển phát thải carbon thấp, các mô hình sản xuất và tiêu dùng thân thiện với môi trường, giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo

Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau, đến nay đã có không ít các quy phạm pháp luật quốc tế về chống BĐKH được xây dựng, thể hiện sự quyết tâm và những cố gắng của cộng đồng quốc tế trong việc chống lại các tác động cực đoan của BĐKH Các quy phạm này chủ yếu được ghi nhận trong các điều ước quốc tế quan trọng về BĐKH như Công ước Vienna về bảo vệ tầng Ozone (1985), Nghị định thư Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tầng Ozone; Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH năm 1992; Nghị định thư Kyoto

về cắt giảm khí thải nhà kính năm 1997 và một số văn bản khác Dù còn những khoảng trống nhất định nhưng những quy phạm này đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình hợp tác quốc tế về BĐKH

Thích ứng và giảm nhẹ là những nỗ lực chung của thế giới trong việc ứng phó với BĐKH, trong đó giảm nhẹ BĐKH là ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu thông qua việc giảm cường độ hoặc mức độ phát thải khí nhà kính; thích ứng với BĐKH bao gồm tất cả những hoạt động, những điều chỉnh trong hoạt động của con người để thích nghi và tăng cường khả năng chống chịu của con người trước tác động của BĐKH và khai thác những mặt thuận lợi của nó Mục tiêu của ứng phó với BĐKH nhằm nâng cao nhận thức của con người, giúp con người điều chỉnh hành vi, đáp ứng lại với tác động từ BĐKH, từ đó hướng đến sự phát triển bền vững

Trang 38

36

Nhận thức về BĐKH đã và đang ngày càng được nâng cao và mở rộng trong cộng đồng quốc tế Từ đầu những năm 70, vấn đề BĐKH còn chưa được coi trọng trong tư duy về sự phát triển Nhưng đến nay, vấn đề này được quan tâm và đặt lên hàng đầu trong các chương trình nghị sự toàn cầu Không chỉ các chính phủ mà ngay cả những người dân ở các quốc gia trên thế giới không kể giàu nghèo đều quan tâm tới tác động của BĐKH Nhận thức của cộng đồng quốc tế về BĐKH không chỉ thể hiện trong các hội nghị, các cuộc biểu tình mà còn được thể hiện qua những hành động cụ thể hơn nữa Đây thực sự là điều kiện thuận lợi để thế giới cùng chung tay hành động ứng phó với BĐKH

Ngoài các vấn đề về phát triển và nhân quyền, các TCPCPNN và các nhà tài trợ sẽ ngày càng quan tâm hiểu hơn về môi trường bởi "các cú sốc" liên quan đến BĐKH đang cản trở nỗ lực giảm đói nghèo, đặc biệt là gây thất thu mùa màng, tăng giá thực phẩm và ảnh hưởng đến nông nghiệp, vốn là nguồn thu chính của các hộ nghèo BĐKH cũng làm tăng nguy cơ mắc các căn bệnh nhiễm trùng, làm lây lan sốt rét Một mức tăng 2-3 độ C nhiều khả năng đẩy thêm 150 triệu người nữa vào nguy cơ bị sốt rét Trong một phóng

sự, kênh CNN đã khẳng định "Báo cáo cho thấy chấm dứt đói nghèo và chiến đấu chống BĐKH không thể thực hiện tách biệt - mà hai mục tiêu này sẽ dễ dàng đạt được nếu giải quyết cùng nhau" Vì vậy, trong những năm tới đây, các TCPCP như Oxfam, Greenpeace và World Wide Fund sẽ bắt đầu các chiến dịch hành động để làm giảm thiểu các tác động của con người và môi trường gây ra BĐKH bằng hai cách tiếp cận chính:

Thứ nhất, tìm cách thu hút sự chú ý của các chính phủ và các công ty thông qua vận động hành lang Trong trường hợp chính phủ, TCPCP vận động cho các đề xuất chính sách có thể làm giảm nhẹ tác động của BĐKH và tạo điều kiện thích ứng với hậu quả không thể tránh khỏi của nó Tuy nhiên,

Trang 39

37

cách tiếp cận này dễ bị tổn thưởng và sụp đổ do định hướng chính sách kỹ thuật thường tạo ra một loại chính sách có mục tiêu ngắn hạn Nói cách khác, những cản trở do lãnh đạo chính trị yếu kèm và không có động lực bầu cử, có nghĩa là chỉ theo đuổi các chương trình chính sách là không đủ Dường như, các nghị định của chính phủ sẽ không phải là nguồn gốc tạo ra những thay đổi lớn

Trong khi đó, đối với các công ty, các TCPCP sẽ tìm cách làm nổi bật, nêu gương các trường hợp kinh doanh "phát triển bền vững" Trong khi chắc chắn có nhiều ví dụ về sự thúc đẩy giữa các lợi ích thương mại và môi trường nhưng cũng có nhiều trường hợp hai lợi ích này xung đột với nhau Chiến lược này do đó ít khuyến khích được các công ty hành động theo lợi ích của môi trường khi lợi ích kinh tế bị suy giảm

Cách tiếp cận thứ hai mà các TCPCP đã áp dụng trong các chiến dịch

về khí hậu là tập trung vào thay đổi hành vi Ví dụ, các dụ án của Oxfam Anh

đã cố gắng thúc đẩy số lượng lớn người thực hiện lối sống "xanh" Tiền đề cho những ý tưởng này thường dựa trên ý tưởng rằng những thay đổi đơn giản trong hành vi có thể có một tác động thật sự, ý tưởng một cuộc sống tốt hơn cho bạn có nghĩa là một cuộc sống tốt hơn cho những người sống trong nghèo đói Tuy nhiên, những chiến dịch này cũng gặp phải nhiều chỉ trích Nhà vật

lý David MacKay từng viết rằng chúng ta không nên phân tán bởi những chuyện hoang đường về "một giúp đỡ nhỏ" "Nếu tất cả mọi người chỉ làm một chút, chúng ta sẽ chỉ đạt được một chút Chúng ta phải làm rất nhiều" Hơn nữa, khái niệm này cho rằng không thể giám sát các chiến dịch như vậy,

vì có thể có tác động thông qua một quá trình lan tỏa tích cực (nghĩa là bằng cách tăng khả năng thích nghi của các cá nhân thông qua hành vi thân thiện với môi trường) Một nghiên cứu gần đây của Quỹ bảo tồn động vật hoang dã

- WWF (2009) kết luận rằng không có bằng chứng đáng tin cậy cho thấy hiệu

Trang 40

Cũng có ý kiến phản bác rằng BĐKH chỉ là trí tưởng tượng của một số nhóm người muốn sử dụng sự thay đổi của khí hậu để điều chỉnh hành vi trong quan hệ quốc tế, nhằm mang lại lợi ích nhóm Nhưng dù có phản bác thế nào thì sự thật vẫn là BĐKH toàn cầu hiện nay là do con người tạo ra Hiện tại, lượng khí CO2 mà con người thải vào khí quyển cao gấp hàng trăm lần so với quá khứ Lượng khí CO2 tự nhiên thải ra môi trường thường dao động từ 180-

300 ppm, tuy nhiên, hiện nay hàm lượng khí CO2 đã ở vào mức 380 ppm17

Hậu quả của BĐKH (các thảm họa thiên nhiên, các vấn đề môi trường…) có thể làm thay đổi nguồn phân bổ tài nguyên, dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực, an ninh năng lượng và làm bùng nổ các làn sóng di cư, gây xung

17 http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/nhung-nham-lan-to-ve-bien-doi-khi-hau-4403.html

Ngày đăng: 22/09/2020, 02:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w