1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh biểu trưng của 12 con giáp trong tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc

119 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2004, Jeong Yu Ji đã viết luận văn “So sánh tục ngữ động vật của Hàn Quốc và Nhật Bản, tập trung về tục ngữ liên quan đến chó và mèo” và nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau về tục

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

Son Sun Yeong

SO SÁNH BIỂU TRƯNG CỦA 12 CON GIÁP TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

Son Sun Yeong

SO SÁNH BIỂU TRƯNG CỦA 12 CON GIÁP TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 02 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Nguyễn Văn Hiệp

Hà Nội - 2015

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Chính tạo điều kiện cho em học thạc sĩ tại Khoa Ngôn ngữ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đặc biệt trong thời gian em mới sang Việt Nam chưa biết thủ tục nhập học cụ thể và gặp nhiều khó khăn, nếu thầy không giúp em, em không thể ở lại Việt Nam

먼먼먼 먼먼 먼먼먼먼 먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼

먼먼 먼 먼 먼먼먼먼 먼먼먼먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼 먼먼먼먼먼

Cảm ơn PGS.TS Mai Xuân Huy đã quan tâm việc bảo vệ luận văn của

em, thầy Vinh phòng hợp tác quốc tế, thầy Nam phòng Sau đại học đã giúp

em có thể theo học tập tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình dạy cho chúng em

먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼먼먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼먼먼먼 먼먼먼먼, 먼먼먼먼 먼 먼먼먼 먼먼 먼 먼먼먼먼 먼먼먼 먼 먼먼먼

먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼먼먼먼

Cảm ơn cô Phạm Thúy Hoa luôn giúp đỡ em

먼 먼 먼 먼먼먼 먼먼 먼먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼

Trang 4

Cảm ơn các thầy cô trường đại học Chung Woon luôn khích lệ và cổ vũ cho em, đó là thầy Lee Yun-beom, thầy Kim Jong-uk, thầy Park Yeon-gwan, thầy Lee Gang-woo, Cô Hồ Thị Long An Em luôn nhớ thời sinh hoạt tại đại học Chung Woon Cảm ơn các thầy cô đã cho em cơ hội học tập tại Việt Nam Cảm ơn anh Seo Seung-won luôn làm gương cho em

먼먼먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼, 먼먼먼 먼먼먼, 먼먼먼 먼먼먼, 먼먼먼 먼먼먼, 먼먼먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼먼 먼먼 먼먼먼 먼먼 먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼먼 먼 먼먼먼 먼먼먼먼

Cảm ơn Hội cựu sinh viên trường đại học Chung Woon, cảm ơn anh Yeo In-Gwon luôn quan tâm đến em trong quá trình viết luận văn Và anh Jeon Yun-sik, bạn Kim Han-na, bạn Lee Jung-won đang trong thời gian học cao học đã luôn chia sẻ, động viên Mong các bạn cũng hoàn thành tốt việc bảo vệ luận văn ….như chị nhé : )

먼먼먼먼먼 먼먼먼먼먼먼먼 먼먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼 먼먼먼먼

먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼먼 먼먼 먼먼 먼먼먼먼 먼먼 먼먼먼 먼먼먼, 먼먼먼, 먼먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼 먼 먼먼먼 먼먼먼먼

Cảm ơn Giám đốc Sim Sang-joon và Phó giám đốc Kim Young-sin Trung tâm giao lưu văn hóa Việt-Hàn đã giúp đỡ em lúc em mới sang và không đủ tiền sinh hoạt, cho em cơ hội dạy tiếng Hàn cho các sinh viên Việt Nam

먼먼먼먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼, 먼먼 먼먼 먼먼먼먼 먼 먼먼먼먼 먼먼 먼먼먼 먼먼 먼먼 먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼 먼먼먼 먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼먼

Trang 5

Cảm ơn nhà thờ Saeng Myeong Na Mu, Mục sư Kim Dong-ki, Cô Jeon Sun-Yê, thầy truyền đạo Abraham Yoo và các bạn luôn luôn tâm sự với mình trong lúc vui buồn là chị Kim Hye-sun, bạn Yang Nan-hee, em Jang Eun-bee, anh Min Kyung-il, Han Jun-hee, Kim Gi-hwan

먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼, 먼먼먼 먼먼먼, 먼먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼, 먼먼먼, 먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼, 먼먼먼 먼먼, 먼먼먼먼 먼먼먼먼먼

Cảm ơnquỹ POSCO TJ Park Foundation tạo điều kiện để em học tập tại Việt Nam Em xin lỗi vì quá trình học 2 năm mà em đã kéo dài đến tận 3 năm Tuy thế, quỹ vẫn tin tưởng em và ủng hộ emhọc tiếp tại đây Emsẽ không bao giờ quên ơn của Quỹ học bổng này

먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼먼먼먼 2 먼 먼먼먼 3 먼먼먼 먼먼먼

먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼 먼먼먼 먼 먼먼먼

먼 먼먼먼 먼먼먼먼먼 먼먼 먼먼먼먼먼

Luận văn này là kết quả học tập và nghiên cứu trong thời gian tôi được

ở Việt Nam Tôi thấy trong thời gian qua, tôi không chỉ thu được kiến thức và hiểu biết mà còn nhận được sự quan tâm chia sẻ của các thầy cô, bạn bè cả Việt Nam lẫn Hàn Quốc Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người

먼먼먼 먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼

먼먼 먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼 먼먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼 먼먼먼먼

Trang 6

Ngày 15 tháng 11 năm 2015 tại Hà Nội,

Son Sun Yeong MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1

1 Lí do và lịch sử nghiên cứu đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Bố cục của luận văn 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1 Khái niệm chung về tục ngữ 7

1.1.1 Quan niệm về tục ngữ trong tiếng Hàn 7

1.1.2 Quan niệm về tục ngữ trong tiếng Viêt 9

1.1.3 Phân biệt tục ngữ với các đơn vị khác 10

1.1.4 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ 10

1.1.5 Phân biệt tục ngữ với quán ngữ và ca dao 12

1.2 Đặc điểm của tục ngữ 13

1.2.1 Về cấu trúc 13

1.2.2 Về ý nghĩa 14

1.3 Về khả năng vận dụng 15

1.4 Biểu trưng trong tục ngữ có yếu tố 12 con giáp 16

1.4.1 Mối quan hệ văn hóa – ngôn ngữ - tư duy 17

1.4.2 Đặc trưng văn hóa 20

CHƯƠNG II: SO SÁNH TỤC NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN 12 CON GIÁP HÀN QUỐC VÀ VIỆT NAM 22

2.1 Nhận xét chung về số lượng tục ngữ 22

2.2 Phân loại tục ngữ 25

Trang 7

2.2.Tục ngữ đồng loại gần nghĩa 27

2.3.Tục ngữ khác loại gần nghĩa 29

2.3.1 Kinh nghiệm sinh hoạt 30

2.3.2 Quan hệ - tính tập thể và hợp tác 33

2.3.3.Rèn luyện bản thân 37

2.4.Tục ngữ khác loại khác nghĩa 38

2.4.1 Nội dung phản ánh của tục ngữ Hàn Quốc liên quan đến 12 con giáp 40

2.4.2.Nội dung phản ánh của tục ngữ Việt Nam liên quan đến 12 con giáp 44

CHƯƠNG3 : TÌM HIỂU BIỂU TRƯNG 12 CON GIÁP TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC 49

3.1 Hiểu biết khái quát về biểu trưng 12 con giáp 49

3.1.1 Chuột 55

3.1.2 Trâu và Bò 57

3.1.3 Hổ 61

3.1.4 Mèo 63

3.1.5 Rồng 66

3.1.6 Rắn 68

3.1.7 Ngựa 69

3.1.8 Dê 70

3.1.9 Khỉ 71

3.1.10 Gà 72

3.1.11 Chó 74

3.1.12 Lợn 76

3.1.13 Thỏ 78

3.1.14 Cừu 79

KẾT LUẬN 82

Trang 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Thống kê số lượng tục ngữ theo động vật 22

Bảng 2: Tục ngữ phân chia theo nhóm 25

Bảng 3: Số lượng tục ngữ theo nhóm 26

Bảng 4: Số lượng động vật xuất hiện trong tục ngữ Đồng loại gần nghĩa 27

Bảng 5: Số lần xuất hiện của các con vật trong các tục ngữ Khác loại gần nghĩa 29 Bảng 6: Bảng thống kê số lần xuất hiện con vật trong 38

nhóm khác loại khác nghĩa 38

Bảng 7 Số lượng đặc điểm và hình ảnh được thể hiện 51

trong tục ngữ “12 con giáp” 51

Bảng 8 Đặc trưng trong tục ngữ Hàn Quốc và Việt Nam 52

Bảng 9 Các hình ảnh trong tục ngữ Hàn Quốc 53

Bảng 10 Các hình ảnh trong tục ngữ Việt Nam 54

Bảng 11 Đặc trưng và hình ảnh của con chuột trong tục ngữ 55

Bảng 12 Đặc trưng và hình ảnh của con trâu và bò trong tục ngữ 57

Bảng 13 Đặc trưng và hình ảnh của con hổ trong tục ngữ 61

Bảng 14 Đặc trưng và hình ảnh của con mèo trong tục ngữ 63

Bảng 15 Đặc trưng và hình ảnh của con rồng trong tục ngữ 66

Bảng 16 Đặc trưng và hình ảnh của con rắn trong tục ngữ 68

Bảng 17 Đặc trưng và hình ảnh của con ngựa trong tục ngữ 69

Bảng 18 Đặc trưng và hình ảnh của con dê trong tục ngữ 70

Bảng 19 Đặc trưng và hình ảnh của con khỉ trong tục ngữ 71

Bảng 20 Đặc trưng và hình ảnh của con gà trong tục ngữ 72

Bảng 21 Đặc trưng và hình ảnh của con chó trong tục ngữ 74

Bảng 22 Đặc trưng và hình ảnh của con lợn trong tục ngữ 76

Trang 9

Bảng 23 Đặc trưng và hình ảnh của con thỏ trong tục ngữ 78 Bảng 24 Đặc trưng và hình ảnh của con cừu trong tục ngữ 79

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Lí do và lịch sử nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay có nhiều học giả Hàn Quốc và Việt Nam đã nghiên cứu về tục ngữ.Vì tục ngữ là một lĩnh vực rộng nên các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu tục ngữ ở nhiều phương diện, góc cạnh khác nhau Chính vì thế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu riêng của các học giả theo những vấn dề khác nhau Dưới đây chúng tôi xin điểm một vài công trình nghiên cứu về tục ngữ của Việt Nam và Hàn Quốc:

1.1 Nghiên cứu tục ngữ tại Hàn Quốc

Nghiên cứu về tục ngữ tại Hàn Quốc bắt đầu bằng việc sưu tập và biên soạn từ điển tục ngữ Từ năm 1945 đã có nhiều học giả Hàn Quốc sưu tập tục ngữ Vào năm 1950 học giả Bang Jong Hyon và Kim Sa Yeop bắt đầu chuyên nghiên cứu tục ngữ Vào những năm 1960, Hàn Quốc bắt đầu có từ điển tục ngữ và nghiên cứu theo từng chủ đề Từ năm 1970 trở đi các học giả nghiên cứu về tục ngữ chi tiết hơn

Năm 1992, Kim Byung Ung đã viết luận văn “Nghiên cứu tục ngữ Hàn Quốc liên quan đến động vật” Trong luận văn của mình tác giả nghiên cứu tục ngữ theo từng chủ đề ngôn ngữ, đời sống, gia đình, xã hội, tri thức, tình cảm v.v

Năm 2004, Jeong Yu Ji đã viết luận văn “So sánh tục ngữ động vật của Hàn Quốc và Nhật Bản, tập trung về tục ngữ liên quan đến chó và mèo” và nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau về tục ngữ trong hai ngôn ngữ

Năm 2011, Kim Myeong Hwa đã viết luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu so sánh tục ngữ động vật về 12 con giáp của Hàn Quốc và Trung Quốc” và tìm hiểu ảnh hưởng của 12 con giáp đối với tục ngữ trong tiếng Hàn và tiếng Trung

Riêng trong lĩnh vực đối chiếu tiếng Hàn và tiếng Việt, năm 2013, thạc

sĩ Châu Ngọc Hưu đã viết luận văn tại Hàn Quốc theo chủ đề “Sự tương đồng

về văn hóa qua so sánh tục ngữ Hàn Quốc và Việt Nam”

Trang 11

2

Sau đó, vào năm 2014, thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Anh đã viết luận văn tại Hàn Quốc theo chủ đề “So sánh tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc.” Các nghiên cứu này đã bước đầu miêu tả và so sánh tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt ở nhiều phương diện khác nhau: cấu tạo, ngữ nghĩa, đặc trưng văn hóa Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu và so sánh đặc trưng của tục ngữ có chứa 12 con giáp trong tiếng Hàn và tiếng Việt

1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Theo tác giả Nguyễn Thái Hòa [2,tr11] việc sưu tầm tục ngữ tại Việt Nam đã được bắt đầu từ thế kỷ 17 và càng ngày càng phát triển thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Những tên tuổi của các học giả gắn với nghiên cứu tục ngữ như Dương Quảng Hàm,Vũ Ngọc Phan, Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Cù Đình Tú v.v đã có các công trình riêng về tục ngữ như:

Tục ngữ cao dao dân ca Việt Nam, Tục ngữ Việt Nam v.v

Bên cạnh đó, có nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đề tài tục ngữ như Nguyễn Thị Đăng Thu với luận văn “Nghiên cứu so sánh thành ngữ, tục ngữ

về lời ăn tiếng nói trong tiếng Việt và tiếng Nhật”(2005) Nguyễn Thị Kim Dung với luận văn “Khảo sát các thành ngữ và tục ngữ xuất hiện trên báo phụ

nữ Việt Nam thời kì đổi mới”(2007) Bạch Thị Lệ nghiên cứu đề tài “So sánh cấu trúc-ngữ nghĩa các đơn vị thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt với một số ngôn ngữ nhóm Tày-Thái ở Việt Nam”(2008) Thạc sĩ Nguyễn Việt Hòa đã viết luận văn “Tìm hiểu so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt và tiếng Anh” (2009)…

Trên đây là tìm hiểu của chúng tôi về lịch sử nghiên cứu tục ngữ của Việt Nam và Hàn Quốc Như chúng tôi đã nói, các công trình nghiên cứu khá phong phú nhưng vì tục ngữ là một lĩnh vực rất rộng nên vẫn có nhiều đề tài chưa được tiếp cận Một trong số đó là đề tài so sánh tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc về động vật Theo khảo sát của chúng tôi có chỉ hai công trình nghiên cứu so sánh tục ngữ giữa hai nước

Trang 12

3

Hơn thế, là một người đang học ngôn ngữ của Việt Nam và có kế hoạch tiếp tục tìm hiểu Việt Nam, theo suy nghĩ của tôi, Việt Nam là một quốc gia thường xuyên sử dụng tục ngữ và thành ngữ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày cũng như trong khi viết Vì thế, nghiên cứu tục ngữ là một cách có hiệu quả

để chúng ta có thể hiểu kĩ hơn về văn hóa Việt Nam

Còn ở Hàn Quốc, người xưa truyền lại câu “Lời nói (tục ngữ) lâu đời không có gì là sai cả” Tục ngữ là sản phẩm của ngôn ngữ được hình thành từ kinh nghiệm của nhiều người qua nhiều thế hệ, nó phản ánh rõ nét thực tế cuộc sống Tục ngữ là bài học cuộc sống, những điều răn dạy mà người xưa

để lại cho thế hệ sau Từ ý nghĩa gửi gắm trong từng câu, chúng ta có thể rút

ra kinh nghiệm và vận dụng vào đời sống của mình

Hiện nay, ngày càng có nhiều hoạt động giao lưu và hợp tác diễn ra giữa Hàn Quốc và Việt Nam Cùng với xu hướng đó, nghiên cứu sâu hơn về ngôn ngữ nói riêng và văn hóa nói chung của mỗi nước, đặt trong phối cảnh

so sánh là một việc rất cần thiết và có ý nghĩa Tục ngữ là một trong những yếu tố quan trọng nhất của hoạt động ngôn ngữ, một phương tiện ngôn ngữ hữu hiệu để hiểu về kinh nghiệm, quan niệm sống lâu đời của mỗi đất nước

Vì thế, chúng tôi chọn đề tài “So sánh biểu trưng của 12 con giáp trong tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình Chúng tôi hy vọng, công trình này sẽ góp phần làm phong phú hơn nghiên cứu văn hóa giữa hai nước

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Tục ngữ là sản phẩm văn hóa của loài người Tục ngữ phản ánh phương thức, tập quán sinh hoạt, thế giới quan của mỗi quốc gia

Mục đích nghiên cứu của luận văn này là qua việc thống kê, phân loại

so sánh đối chiếu tục ngữ có sự xuất hiện 12 con giáp của hai nước Việt Nam

và Hàn Quốc, khảo sát sự giống nhau và khác nhau về mức độ ảnh hưởng của

Trang 13

4

yếu tố 12 con giáp trong tục ngữ mỗi nước Từ đó, chúng tôi muốn hiểu hơn

về cách sử dụng tục ngữ trong đời sống và mối liên hệ của nó với văn hóa

Chúng tôi hy vọng, đề tài này sẽ giúp những người học tiếng Việt và tiếng Hàn nói riêng và những ai yêu mến muốn tìm hiểu văn hóa hai nước nói chung có thêm hiểu biết về tục ngữ cũng như văn hóa của hai nước

Với mục đích trên, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ cần làm trong luận văn là:

- Sưu tập tất cả những câu tục ngữ có sự xuất hiện 12 con giáp của Việt Nam và Hàn Quốc bao gồm 15 con vật(con số 15 là do có sự khác biệt trong cách tính 12 con giáp ở mỗi nước) là: chuột, trâu, hổ, mèo, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn, bò, thỏ, cừu

- Tiến hành phân loại tục ngữ thành 3 nhóm: đồng loại gần nghĩa, khác loại gần nghĩa, khác loại khác nghĩa Từ đó chúng tôi so sánh sự giống và khác nhau về số lần xuất hiện cũng như đặc điểm sử dụng tên gọi động vật vào tục ngữ của mỗi nước

- Tìm hiểu và thống kê biểu trưng được thể hiện ở mỗi con vật sau đó tiến hành so sánh biểu trưng đó trong tục ngữ của hai nước để thấy được nét tương đồng và khác biệt giữa chúng

3 Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu

Chúng tôi chọn 12 con giáp vì chúng đều là những con vật quan trọng trong tín ngưỡng văn hóa của Việt Nam và Hàn Quốc Từ xưa người ta dựa vào động vật để thể hiện quan điểm của mình Từ đặc điểm sống, sinh hoạt và tập tính của mỗi động vật, tổ tiên chúng ta gán cho mỗi động vật một ý nghĩa nào đó 12 con giáp thân thuộc đến mức mỗi người chúng ta đều cầm tinh một con vật nào đó Bởi thế mà những động vật xuất hiện trong tục ngữ cũng phần lớn là các con vật trong 12 con giáp

Như chúng ta đã biết 12 con giáp được đọc theo tiếng Hán - Việt là: tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi Tiếng Việt có lớp từ Hán

Trang 14

5

Việt, thuần Việt nên cùng một đối tượng con vật người ta có thể gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như: chó – khuyển – tuất – cẩu; hổ – hùm; rồng – long, ngựa – mã… Vì tục ngữ là sản phẩm tinh thần của người Việt Nam được

ra đời từ thực tế cuộc sống nên chúng tôi chỉ sưu tập tục ngữ liên quan đến 12 con giáp được gọi tên bằng các âm thuần Việt, với giả định rằng những tục ngữ này phản ánh chính xác hơn tâm thức, cách tư duy và văn hóa Việt Theo tôi, động vật được gọi tên bằng các từ thuần Việt chiếm số lượng lớn hơn hẳn trong tục ngữ Các từ khác xuất hiện trong tục ngữ cùng chỉ một con vật không phải là đối tượng sưu tập của chúng tôi Việc tập hợp như trên có thể chỉ đưa ra một kết quả mang tính chất tương đối về sự xuất hiện của các con vật nên nếu có dịp chúng tôi hy vọng sẽ nghiên cứu sâu hơn về đề tài này trong các công trình tiếp theo

Còn trong tiếng Hàn 12 con giáp cũng được đọc theo âm Hán Hàn là: 먼(Ja,子), 먼(Chuc,丑), 먼(In,寅), 먼(Myo,卯), 먼(Jin,辰), 먼(Sa,巳), 먼(O,午), 먼(My,未), 먼(Sin,申), 먼(Yu,酉), 먼(Sul,戌), 먼(Hae,亥)먼먼먼먼 Còn tiếng Thuần Hàn tên các con vật lại được gọi là:먼(chuột), 먼(bò), 먼먼먼(hổ), 먼먼(thỏ), 먼(rồng),

먼(rắn), 먼(ngựa), 먼(cừu), 먼(gà), 먼먼먼(khỉ), 먼(chó), 먼먼(lợn) Trong tục ngữ Hàn Quốc, trước đây cũng có một số từ Hán Hàn để chỉ cùng một đối tượng con vật trong 12 con giáp, ví dụ chỉ con bò có từ 먼(thuần Hàn), 먼(Hán Hàn), chỉ con ngựa có từ먼(thuần Hàn), 먼(Hán Hàn) v.v Nhưng các tục ngữ

có 12 con giáp sử dụng từ Hán Hàn rất ít và ngày nay hầu như đã chuyển sang

từ thuần Hàn nên trong luận văn này chúng tôi chỉ sưu tập tục ngữ về 12 con giáp được dùng bằng các từ thuần Hàn như đã kể trên

Thêm nữa, 12 con giáp của Việt Nam và Hàn Quốc có 3 con vật khác

Trang 15

6

nhau Hàn Quốc sử dụng con cừu, con thỏ, con bò, nhưng ở Việt Nam thì sử dụng con dê, con mèo và con trâu Do vậy trong luận văn của mình, chúng tôi không chọn một trong hai con vật khác nhau đó Như vậy bên cạnh những động vật giống nhau là: chuột, hổ, rồng, rắn, ngựa, khỉ, chó, lợn, chúng tôi còn sưu tập 6 động vật khác nhau kể trên Như vậy, số con vật được sưu tầm

là 15 bao gồm: chuột, trâu, hổ, mèo, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn, bò, thỏ, cừu

Tư liệu tục ngữ liên quan đến 12 con giáp về tiếng Việt trong luận văn này chúng tôi sưu tập trong cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ của Việt Nam” (Nguyễn Lân, NXB Văn học, năm 2010 )

Còn tư liệu tục ngữ liên quan đến 12 con giáp về tiếng Hàn trong luận văn này chúng tôi sưu tập trong cuốn “Đại từ điển quốc ngữ tiêu chuẩn” (Viện Quốc ngữ Quốc gia, năm 2008)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu luận văn này, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân loại

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp miêu tả

- Phương pháp thủ pháp nghiên cứu liên ngành

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài

Chương 2: So sánh tục ngữ liên quan đến 12 con giáp

Chương 3: So sánh biểu trưng tục ngữ

Luận văn có phần mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo

Trang 16

1.1.1 Quan niệm về tục ngữ trong tiếng Hàn

Ở Hàn Quốc, cho đến bây giờ khái niệm về tục ngữ vẫn chưa được xác định rõ Khác với Việt Nam, Hàn Quốc không có từ riêng chỉ khái niệm tục ngữ và thành ngữ mà sử dụng từ tục đàm(俗談) Nội hàm của từ này bao gồm

cả tục ngữ và thành ngữ

Ví dụ, 식식 식 식식식 “Ăn cháo nguội (dễ như ăn cháo nguội)” Cụm

từ này diễn tả một cách hình ảnh làm một việc gì rất dễ

Còn câu 식식 식식 식식식 식식 식식 식식 “Lời nói đi đẹp thì lời nói đến cũng đẹp” (Nên nói những lời nói tốt)

Với tiếng Hàn thì cả hai câu trên đều gọi chung là tục đàm còn ở Việt Nam câu đầu là thành ngữ và câu sau gọi là tục ngữ(俗語)

Như vậy, khái niệm tục đàm ở Hàn Quốc bao gồm cả tục ngữ và thành ngữ nếu hiểu theo quan niệm của tiếng Việt Tục đàm là câu nói liên quan mật thiết với hoạt động ngôn ngữ chúng ta, được sáng tạo ra bởi quần chúng, được lưu giữ truyền miệng và chứa đựng lời giáo huấn cho đời sống nhân dân Định nghĩa về tục đàm trong các từ điển và của các học giả nhìn chung không khác nhiều Sau đây là một số định nghĩa tục đàm trong từ điển Hàn Quốc

Theo Đại từ điển tục đàm thế giới [13 ,tr11 ], tục đàm là lời quý giá được

lan truyền rộng rãi dựa vào kinh nghiệm đời thường của nhân dân trong thời

Trang 17

8

gian dài, là tài sản văn hóa chung của nhân loại được lưu giữ bằng tiếng nói của các quốc gia và nhận được tình cảm yêu quý của người dân quốc gia đó

Còn theo Đại từ điển tục ngữ lời nói ta [14 ,tr1896](2006) thì tục đàm

là lời nói được sử dụng khi nói chân lý về sinh hoạt nhân dân, mục đích của

nó là biểu hiện lời giáo huấn, lời khuyên, tưởng tượng, so sánh, mỉa mai và những tri thức có thể thêm kinh nghiệm

Ngoài ra, định nghĩa về tục đàm còn được đưa ra trong nhiều cuốn từ điển khác như: Từ điển tiếng nói ta mới, Từ điển quốc ngữ tiểu chuẩn mới, Từ điển tục ngữ Hàn Quốc, Từ điển tục ngữ chữ Hán Hàn Quốc, Từ điển tiếng Hàn Yonsei, Từ điển Hangul

Bên cạnh từ điển, trong nhiều công trình nghiên cứu, các học giả Hàn Quốc cũng đưa ra các cách hiểu về tục đàm như sau

Theo tác giả Kim Sa Yeop trong sách Luận tục đàm[15 ,tr128]

(1953):Khác với những câu nói của tài liệu thánh hiền, tục ngữ được đúc kết tính tình và tâm lí của nhân dân nên nó thể hiện khí chất, bản tính của nhân dân của một quốc gia đó, có thể hiểu về đạo lí và tính ngưỡng nữa Có thể coi tục ngữ là vật thu nhỏ của quốc gia đó

Còn học giả Jo Jae Yun trong luận văn tiến sĩ “Nghiên cứu phân tích

cấu trúc tục đàm Hàn Quốc” [16,tr10](1970) thì quan niệm tục đàm là lời nói thường dùng thể hiện một cách ngắn gọn và so sánh trí tuệ sinh hoạt trần tục được rút ra từ trải nghiệm đời thường của người bình thường

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về tục đàm được đưa ra trong các công trình nghiên cứu Chúng ta không thể biết ai đã sáng tạo ra tục đàm, và vào thời gian nào nhưng tục đàm, giống như thành ngữ và tục ngữ, thực sự là

di sản quý báu được truyền miệng qua nhiều thế hệ, được đúc kết trong sinh hoạt đời thường Chúng là lời nói thật thà chứa đầy tri thức, có khi hài hước

Trang 18

1.1.2 Quan niệm về tục ngữ trong tiếng Viêt

Trong tiếng Việt, tục ngữ giữ một vai trò rất quan trọng và thu hút được nhiều sự quan tâm của các học giả Tục ngữ, cũng giống như ngôn ngữ, được hình thành và phát triển cùng với lịch sử của dân tộc, nó là phần lưu giữ nét đẹp văn hóa, đạo đức của dân tộc cũng như là phần kết tinh đẹp nhất của ngôn ngữ Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tục ngữ

Theo từ điển tiếng Việt tục ngữ [8;1062] được hiểu là câu ngắn gọn

thường có vần điệu đúc kết tri thức kinh nghiệm sống và đạo đức của nhân dân

Theo từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của giáo sư Nguyễn

Lân[5;6] Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn, nói lên hoặc

một nhận xét về tâm lý, hoặc một lời phê phán, khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội…

Trong từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học tục ngữ là câu ngắn

gọn có cấu trúc tương đối ổn định, đúc kết kinh nghiệm sống, đạo đức, tri thức của dân tộc [5,tr239]

Trang 19

10

Theo học giả Vũ Ngọc Phan [10,tr13]: Tục ngữ là một câu tự nó diễn

trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán

Còn theo nhà nghiên cứu Mã Giang Lân[10,tr13]: Tục ngữ là lời ăn

tiếng nói của nhân dân đã được đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản mang nội dung xúc tích Tục ngữ thiên về biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới, xã hội và con người

1.1.3 Phân biệt tục ngữ với các đơn vị khác

Nếu như Hàn Quốc có từ tục đàm để chỉ cả khái niệm tục ngữ và thành ngữ thì Việt Nam có khái niệm thành ngữ, tục ngữ riêng Bên cạnh đó trong

từ vựng tiếng Việt còn có các khái niệm khác như quán ngữ, ca dao hoặc ngữ

cố định Các khái niệm này có nhiều sự tương đồng và khác biệt Vì chúng đều là đơn vị trong một ngôn ngữ, có tính cố định và được hình thành qua một thời gian lâu dài nên việc phân biệt và nhận diện từng đơn vị không phải dễ Dưới đây, chúng tôi sẽ đưa ra một vài lập luận để phân biệt tục ngữ với các đơn vị khác

1.1.4 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ

Tục ngữ và thành ngữ là hai khái niệm khá gần gũi và song hành trong một ngôn ngữ Từ trước đến nay, có rất nhiều nghiên cứu được các nhà Việt ngữ học đưa ra xoay quanh vấn đề này Vì giữa tục ngữ và thành ngữ có sự xâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau nên ranh giới của chúng không rõ ràng Cho đến hiện nay, vẫn tồn tại tranh cãi về một số đơn vị không biết là thành

ngữ hay tục ngữ Ví dụ: Sống lâu lên lão làng, tre già măng mọc v.v có đến

3 cách hiểu khác nhau: thành ngữ, tục ngữ, vừa thành ngữ vừa tục ngữ

Có tác giả cho rằng thành ngữ và tục ngữ tuy phân biệt nhau nhưng cũng thâm nhập lẫn nhau Do đó, có những trường hợp một thành ngữ cũng

có thể được dùng như một câu tục ngữ Mặt khác, có nghiên cứu cho rằng số

Trang 20

thiệu những tình trạng, những tính cách, những thái độ như: Gà què ăn quẩn

cối xay, Trâu trắng đi đâu mất mùa đến đó

Chính sự gần gũi và chuyển hóa lần nhau của tục ngữ và thành ngữ cũng gây ra nhiều khó khăn cho chúng tôi trong quá trình chọn lọc các tục ngữ làm tư liệu cho luận văn này Ở một số trường hợp, với chúng tôi việc nhận diện đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ không hề dễ dàng và bên cạnh việc tìm hiểu tài liệu thì cũng dựa vào cảm quan và suy đoán của cá nhân

Tuy thành ngữ có nhiều nét tương đồng với tục ngữ như đều là những đơn vị có sẵn, có kết cấu chặt chẽ, tính hình ảnh về ý nghĩa nhưng lại khác tục ngữ về bản chất

Theo từ điển tiếng Việt [8,tr915], thành ngữ là tập hợp từ cố định đã

quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó

Như vậy, xét về cấu trúc, thành ngữ chỉ là một cụm từ cố định có tính chất tương đương với từ, là những đơn vị có sẵn được sử dụng một cách rộng rãi tự nhiên trong đời sống Thành ngữ không có khả năng đứng độc lập trong chuỗi lời nói mà chúng thường được chêm thêm vào trong quá trình giao tiếp

Ví dụ: Rẻ như bèo

Còn tục ngữ là những đơn vị tương đương với câu, là những thông báo ngắn gọn, một kết luận về một hiện tượng nào đó Khi muốn đưa ra một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm, một lời khuyên thì mỗi tục ngữ tối thiểu

Trang 21

hình ảnh Ví dụ Mẹ tròn con vuông, Chậm như rùa v.v

Còn tục ngữ thì đúc kết một quy luật, một kinh nghiệm Tục ngữ là một nhận định cụ thể, một chân lí, một kinh nghiệm sâu sắc hoặc lời khuyên, nêu lên

một vài học về đạo đức Ví dụ Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây

1.1.5 Phân biệt tục ngữ với quán ngữ và ca dao

Theo từ điển tiếng Việt [8;801], quán ngữ là tổ hợp từ cố định đã dùng

lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của các yếu tố hợp thành

Trong tiếng Hàn cũng có khái niệm quán ngữ, phân biệt với khái niệm tục đàm, được định nghĩa như sau

Theo học giả Kim Jin Sik [17,tr284], Quán ngữ là đơn vị được kết hợp

từ 2 hình vị trở lên, nhưng không giữ ý nghĩa của hình vị đó mà sinh thành ý nghĩa mới, được nhân dân quen thuộc sử dụng theo hình thức cụm từ

Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn

từ thuộc các phong cách khác nhau Chức năng của nó là đưa đẩy, rào đón để nhấn mạnh hoặc liên kết trong diễn từ và nghĩa của nó là nghĩa suy trực tiếp

từ ý nghĩa của các từ vị tạo ra nó Ví dụ: nói thật mất lòng, nói tóm lại, của

đáng tội, nói trộm vía…

Về mặt cấu trúc, quán ngữ không được ổn định như thành ngữ và tục ngữ vì thật ra quán ngữ thiên về cụm từ tự do, do nội dung biểu thị của chúng được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định và rồi lâu dần trở thành một đơn vị có sẵn Vì vậy nghĩa của chúng hoàn toàn hiểu theo nghĩa thực của những đơn vị cấu tạo nên quán ngữ

Trang 22

13

Còn ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao Ca dao có những câu bốn chữ, năm chữ, sáu tám hay hai, bảy sáu, tám, đều có thể ngâm được nguyên câu, không cần tiếng đệm như người ta ngâm thơ Còn khi dùng một bài ca dao để hát thì bài ca dao sẽ biến thành dân ca vì hát yêu cầu phải có khúc điệu và như vậy phải có thêm tiếng đệm

1.2.1.2 Phóng đại

Tục ngữ cần các kỹ thuật thể hiện như phép phóng đại để câu đó được quan tâm và gây được ấn tượng, thuyết phục Vì thể hiện đúng mức hiện tượng thì hiệu quả truyền tải không cao Tuy nhiên sự phóng đại đó không phải là giả dối mà là nó dựa vào sinh hoạt thực tế mà người ta cảm nhận

Ví dụ tục ngữ Hàn Quốc :

식식식 식식, 식식식 식식식 Hãy kiếm như bò và ăn như chuột (Làm việc

chăm chỉ như bò và tiêu ít như chuột)

식식식식 식식식 식식식 식식식 Con hổ bị đói thì ăn cả hoạn quan nữa

(Nếu đói thì cứ ăn bất chấp chất lượng của nó.)

1.2.1.3 Thủ pháp lặp

Đây là phương pháp thể hiện hiệu quả Qua việc lặp lại những cụm từ có

Trang 23

14

ngữ điệu giống nhau có thể làm câu có nhịp điểu, dễ nhớ và sâu sắc hơn về nghĩa

식식식식식식식, 식식식식식식식식 Lời nói ban ngày thì chim nghe, lời

nói ban đêm thì con chuột nghe (Nên cẩn thận mặc dù ở nơi không ai nghe.)

식식 3 식식식 식식식 식식식 Chó 3 năm ở trường học thì đọc thơ (Dù là

người dốt nếu làm việc một ngành thì có thể trở thành chuyên gia của ngành đó.)

5,6 식식식식식식식식식식식식 Khách tháng 5,6 thì sợ hơn hổ (Mùa hè

nóng thì rất ngại tiếp khách.)

Mưa tháng sáu máu rồng

1.2.2.2 Có chân lí về đạo đức, giáo huấn

Trang 24

15

Tục ngữ có chứa nội dung giáo huấn, cách xử thế, đúc kết một quy luật

có lợi cho đời sống, là tinh túy triết học, tôn giáo, đạo đức được rút ra từ nhiều kinh nghiệm đã qua kiểm nghiệm đúng sai ở một thời đại và một xã hội nhất định Tục ngữ có tính giáo dục, nếu chân lí trong tục ngữ không có giáo huấn thì không thể coi là tục ngữ

Trải qua 5 ngày thì chó cũng biết chủ nhân của mình (Phải biết biết ơn.)

con (Để có thành quả mình muốn thì phải làm những việc thỏa đáng.)

1.2.2.3 Phản ánh hình ảnh thời đại

Tại mỗi thời điểm quan niệm sống và giá trị, tư tưởng và nhận thức khác nhau nên tục ngữ cũng là tấm gương phản ánh hình ảnh thời điểm đó Với mức độ đồng cảm và ủng hộ của đại chúng, cũng theo quy luật sinh tồn, chịu thử thách và chọn lọc của xã hội, tục ngữ mới được tiếp tục sinh ra và có những tục ngữ bị quên lãng Những tục ngữ thực sự có giá trị và ý nghĩa thì được lưu giữ lâu dài Trong số tục ngữ thì cũng những câu không phù hợp với

xã hội hiện đại, suy nghĩ hiện đại Thế nên có thể nói, tục ngữ cũng mang tính lịch sử

Ví dụ tục ngữ tiếng Hàn :

식식식식식식식식식식식 Gà mái kêu thì gia đình đó bị sụp đổ (Tiếng

nói của phụ nữ lớn thì gia đình đó bị sụp đổ.)

Thứ nhất đom đóm vào nhà, thứ nhì chuột rúc, thứ ba hoa đèn

Có những câu tục ngữ không phù hợp với thời đại hiện nay nữa nhưng qua đó, chúng ta có thể hiểu về sinh hoạt cũng như suy nghĩ của tổ tiên Mặt khác trong hiện tại có những tục ngữ được hình thành phản ánh chính thời điểm hiện tại Nói cách khác, tục ngữ cũng mang tính lịch sử

1.3 Về khả năng vận dụng

Trang 25

16

Tục ngữ có khả năng độc lập tạo thành câu Thay vì nói những lời dài dòng, diễn đạt một cách cầu kì, phức tạp, người ta chỉ cần sử dụng một câu tục ngữ là có thể gói gọn rất nhiều ý nghĩa đạt được mục đích giao tiếp Tục ngữ được vận dụng một cách rộng rãi phong phú trong cả văn nói và văn viết vừa bình dân vừa sang trọng với khả năng biểu cảm và truyền tải nội dung với hiệu quả cao

1.4 Biểu trƣng trong tục ngữ có yếu tố 12 con giáp

1.4.1 Một vài hiểu biết về biểu trƣng

Giống như Việt Nam và Hàn Quốc, mỗi dân tộc có một tiếng nói và chữ viết riêng, cùng với tiếng nói và chữ viết thì những hình ảnh, sự vật cụ thể cũng là những phương tiện để diễn tả, để truyền đạt một ý tưởng, một quan niệm nào đó Những hình ảnh, sự vật phi ngôn ngữ đó còn được gọi là tính biểu trưng của ngôn ngữ

Ngôn ngữ là phương tiện có giá trị diễn đạt rất độc đáo, bao gồm cả một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ rất phong phú và đa dạng Ngoài các hình thức của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết thì trong một ngôn ngữ, các phương tiện ngôn ngữ truyền tải như hình ảnh, sự vật, hiện tượng cụ thể nào đó cũng mang những giá trị biểu trưng, bao hàm một nội dung ngữ nghĩa gắn liền với lịch sử phát triển của mỗi dân tộc

Tính biểu trưng của ngôn ngữ được thể hiện qua các hình ảnh, sự vật ở những mức độ khác nhau Đó là những giá trị nhất định mà con người trong cộng đồng gắn cho sự vật hiện tượng những thuộc tính căn bản của nó

Chẳng hạn như, trong tâm thức của người dân Việt Nam lẫn Hàn Quốc, hình ảnh con rồng là con vật trong tưởng tượng nhưng lại tượng trưng cho sự

ấm no thịnh vượng, biểu tượng của quyền uy và sức mạnh Từ quan niệm này, hình ảnh con rồng đã đi vào tục ngữ rất tự nhiên để biểu trưng cho sức mạnh,

sự cao quý Ngoài những giá trị biểu trưng trên thì trong đời sống hàng ngày,

Trang 26

17

rồng còn là biểu trưng cho nét đẹp, sự tài hoa

Những giá trị biểu tượng đó dù ở mức độ nào cũng đều liên quan đến các hiện tượng trong đời sống, xã hội, phản ánh quá trình lịch sử, phong tục tập quán tín ngưỡng của nhân dân, đó là những giá trị mang đậm màu sắc văn hóa dân gian

Thế giới biểu tượng là thế giới của các tín hiệu do con người sáng tạo ra, làm vật môi giới giữa thế giới ý niệm và thế giới thực tại Do đó biểu tượng là những tín hiệu hai mặt gồm cái được biểu hiện và cái biểu hiện? Cái được biểu hiện là những thông điệp thuộc thế giới ý niệm và cái biểu hiện là những hình thức tồn tại của ý niệm dưới dạng vật thể gia nhập vào thế giới thực tại

Bằng các phương thức này hay phương thức khác như ẩn dụ hoặc hóan

dụ mà con người đã gửi gắm vào các sự vật hiện tượng những ý nghĩa tình cảm rất sâu sắc và ý nhị

Có thể dễ dàng nhận thấy trong ngôn ngữ, ý nghĩa càng được biểu hiện rõ

ở tính biểu trưng Ngôn ngữ không đơn thuần chỉ là nhận thức giao tiếp, trực tiếp hay thông qua các văn bản mà ngôn ngữ còn hóa thân vào các hình ảnh sự vật cụ thể để biểu trưng cho một giá trị nào đó gắn liền với cuộc sống con người

1.4.2 Mối quan hệ văn hóa – ngôn ngữ - tƣ duy

Văn hóa là một khái niệm rộng, khái niệm văn hóa phụ thuộc vào từng mục đích nghiên cứu của chuyên ngành cần quan tâm đến nó Theo Hồ Chí Minh trong sách Hồ Chí Minh toàn tập [10,tr431] văn hóa được định nghĩa

là“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và

phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn,

ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức

là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu

Trang 27

18

đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”

Văn hóa bao gồm hai yếu tố là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần được một cộng đồng người tích lũy và bất kỳ một nền văn hóa nào cũng là một thể thống nhất giữa cái có tính nhân loại và cái có tính đặc thù dân tộc Ngôn ngữ là một phần quan trọng của văn hóa, là một trong những yếu tố quan trọng để cấu thành nên một quốc gia Có thể nói, ngôn ngữ vừa là bộ phận của văn hóa, vừa là tấm gương phản chiếu văn hóa Ngôn ngữ là cái riêng, mang đặc thù của quốc gia, dân tộc

Còn “Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất để truyền đạt và bảo quản thông tin” (V.B.Kasevich) hay theo Lê Nin “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” Như vậy, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Con người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều hình thức cử chỉ, nét mặt,… nhưng không thể bằng ngôn ngữ Chức năng này của ngôn ngữ đều được mọi người thừa nhận

Ngoài ra, ngôn ngữ còn có một chức năng khác nữa là “Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy” tức là ngôn ngữ như hiện thực trực tiếp của tư tưởng – chức năng phản ánh tư duy Thế giới khách quan bên ngoài con người, được phản ánh vào tư duy dưới hình thức ngôn ngữ Ngược lại, nhờ có ngôn ngữ

mà các hoạt động tư duy của con người được truyền đạt cho các cá nhân và tập thể khác trong xã hội Các kinh nghiệm, tâm tư, tình cảm được mọi người biết đến, đánh giá, học tập, trao đổi là kết quả phản ánh hoạt động của tư duy được diễn đạt nhờ ngôn ngữ Ngôn ngữ có phong phú thì mới có khả năng biểu hiện hết và trọn vẹn những diễn biến của tư duy

Trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ - tư duy và văn hóa thì ngôn ngữ đóng vai trò là phương tiện liên hệ, kế thừa và phát triển của văn hóa Còn văn hóa lại chính là thước đo tư duy, trình độ của một dân tộc Vì vậy, chúng

Trang 28

19

có mối quan hệ qua lại, gắn bó và tác động với nhau Ngôn ngữ là một trong những thành tố đặc trưng nhất của bất cứ nền văn hóa nào Nó phản ánh tính đặc thù văn hóa của mỗi nơi và chính trong ngôn ngữ, văn hóa dân tộc được lưu giữ lại rõ ràng nhất

1.4.3 Một vài điểm nổi bật về môi trường tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến tính cách của con người Việt Nam và Hàn Quốc

a Hàn Quốc

Hàn quốc có thể nói là nước môi trường sống khắc nghiệt với khí hậu

ôn đới với mùa đông lạnh giá, với địa hình tới 70 là núi đá Về nguồn gốc dân tộc, thì tổ tiên người Hàn hiện đại là cư dân thuộc ngữ hệ Altai ít nhiều mang trong mình chất du mục của dân săn bắn và chăn nuôi Siberia Về loại

hình kinh tế nghề nông nghiệp lúa nước vốn là loại hình kinh tế chủ yếu trong

suốt trường kỳ lịch sử Korea

Tất cả những đặc điểm trên đã tạo nên đặc trưng về lối sống và tính

cách của người Hàn Quốc là: ối sống trọng tình, tính trọng thể diện , coi trọn

gia đình và tính tôn ti Bên cạnh đó là lối làm việc cần cù và khẩn trương

b Việt Nam

Việt Nam ở vào khu vực có môi trường sống thuận tiện, với khí hậu

nhiệt đới nóng ấm và địa hình sông nước, có đất đai trồng trọt nhiều nói chung là được tự nhiên ưu đãi Về nguồn gốc của dân tộc thì tổ tiên người Việt là cư dân thuộc ngữ hệ Nam , ngay từ đầu đã sống chủ yếu bằng hái lượm và sớm chuyển sang nông nghiệp, rồi nông nghiệp lúa nước.Còn về kinh tế chủ yếu thì

giống Hàn Quốc, Việt Nam cũng sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp lúa nước

Xét rộng ra về mặt văn hoá thì trong lịch sử, hai dân tộc còn có một điểm chung quan trọng là cùng nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của văn hoá Trung Hoa,

Trang 29

trong cuốn Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của

người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác), đã xem xét các bình

diện của các đơn vị từ vựng quy định đặc trưng văn hóa dân tộc của hành vi nói năng thành bốn đặc trưng chính là: Đặc trưng văn hóa – dân tộc trong ý nghĩa của từ; đặc trưng văn hóa – dân tộc trong sự chuyển nghĩa và nghĩa biểu trưng Trong đó, phù hợp với mục đích của luận văn, chúng tôi thấy đặc trưng văn hóa – dân tộc trong sự chuyển nghĩa và nghĩa biểu trưng được áp dụng trực tiếp vào tục ngữ chỉ động vật là cần yếu hơn cả

Văn hóa là sản phẩm tinh thần trừu tượng của con người về tri thức, tin tưởng, thế giới quan, thành quả vật chất đã được tạo thành trong đời sống Những sản phẩm này có thể là nghệ thuật, tôn giáo, học vấn và tục ngữ Đặc điểm của văn hóa là mỗi dân tộc và mỗi địa phương đều có văn hóa riêng của mình Mỗi văn hóa đều có giá trị riêng, đặc trưng và duy nhất Vậy, không thể nhận xét về một nền văn hóa nào là tốt hay xấu

Tục ngữ là lời nói hàm chứa kinh nghiệm từ đời sống quần chúng ngày xưa Cho nên, mỗi tục ngữ có chứa trí tuệ của mỗi nền văn hóa Vì thế, những người biết nhiều tục ngữ có thể hiểu hơn văn hóa và ngôn ngữ của quốc gia

Trang 30

21

đó và nói chuyện bằng ngôn ngữ cũng suôn sẻ hơn

Ở Hàn Quốc có câu, 식식식식식식식식식식 “Nói hổ thì hổ đến” Nghĩa là nói xấu về một người nào đó thì người đó sẽ đến Mặc dù người đó không có mặt, không nên đánh giá một cách vô lí và không nên nói xấu

Còn ở Việt Nam có câu: Nhắc đến Tào Tháo là Tào Tháo đến

Ở Hàn Quốc thì đối tượng sợ lúc đó là con hổ, ở phương Tây là ma quỷ

Vì phương Tây chịu ảnh hưởng của đạo Tin lành

Ngày xưa ở Hàn Quốc, con bò làm việc thay cho con người nên người Hàn Quốc thường nói “làm việc như con bò”

Nhưng ví dụ như ở Mỹ thì con bò không làm việc nên họ có thể nói là

“làm việc như con ngựa”

Còn ở Việt Nam thì có thể nói là “làm việc như trâu.”

Có thể thấy dù điều kiện địa lí và hiện tượng tự nhiên tương đồng nhưng tư duy ngôn ngữ của mỗi dân tộc có thể khác, chất liệu được dùng để góp phần tạo nên nghĩa biểu trưng cũng khác

Thế nên học một ngôn ngữ là học chính văn hóa của quốc gia đó 12 con giáp là tín ngưỡng văn hóa gắn liền với cả hai dân tộc Các con vật vừa gần gũi vừa linh thiêng Khi nhắc đến tín ngưỡng văn hóa thì không thể không nhắc đến 12 con giáp

Trang 31

22

CHƯƠNG II: SO SÁNH TỤC NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN 12 CON GIÁP

HÀN QUỐC VÀ VIỆT NAM 2.1 Nhận xét chung về số lượng tục ngữ

Về tần suất xuất hiện của các con vật trong tục ngữ ở mỗi nước có thứ

tự khác nhau Cụ thể như sau:

Trang 32

23

Trong tiếng Hàn Quốc, tục ngữ về con chó có số lượng nhiều nhất với

67 câu, sau đó là tục ngữ về con bò (40 câu) và con hổ (39 câu)

Còn ở Việt Nam, tục ngữ về con chó và con gà chiếm số lượng nhiều nhất với 33 câu Sau đó là con trâu xuất hiện trong 29 câu

Qua kết quả thống kê, chúng tôi có thể phần nào hiểu được động vật nào gần gũi đối với mỗi nước Trước hết, cả Hàn Quốc và Việt Nam đều có nhiều tục ngữ về chó, gà Đây là hai con vật gần gũi với đời sống hàng ngày của người dân ở hai nước Và cả hai nước đều có văn hóa ăn động vật này

Bên cạnh đó, cả hai nước đều có truyền thống sản xuất nông nghiệp nên

có nhiều tục ngữ về động vật gắn bó mật thiết với nghề nông, đó là con bò và con trâu Ở Hàn Quốc không có trâu mà chỉ có bò nên nhiều tục ngữ về con

bò, còn ở Việt Nam thì nhiều tục ngữ về con Trâu

Sự khác biệt này theo chúng tôi là xuất phát từ đặc điểm sống, và thích nghi của trâu và bò Ở Việt Nam vì trâu khỏe hơn bò nên trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam dùng con trâu để cày ruộng và làm việc nhà nông nên con trâu có vị trí quan trọng hơn trong đời sống, vì thế nó cũng xuất hiện trong tục ngữ nhiều hơn với 29 câu Con bò cũng là một động vật thân thuộc với người Việt nhưng không được coi trọng bằng con trâu Có lẽ vì thế, số lượng tục ngữ

có con bò cũng ít hơn chỉ có 12 câu

Theo tìm hiểu của chúng tôi, con trâu là động vật sống ở những nơi khí hậu nóng và nhiều nước, lông của trâu ít và ngắn nên hợp với điều kiện nóng

ẩm của Việt Nam nhưng đặc điểm của trâu không sống được ở những nơi có khí hậu lạnh như Hàn Quốc Ở Hàn Quốc xưa kia đã có nhiều vị vua, như vua Sejong, cũng đã từng thử nhập con vật này về Hàn Quốc nhưng chúng không tồn tại được Vì thế, ở Hàn Quốc không có con trâu nên cũng không có tục ngữ liên quan đến con vật này Thay vì đó, Hàn Quốc lại chỉ có tục ngữ về bò với số lượng đến 40 câu

Trang 33

24

Bên cạnh các con vật cùng xuất hiện với số lượng nhiều, còn có các con vật có sự xuất hiện ít trong tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt là dê, khỉ, cừu Vậy chúng ta có thể hiểu rằng so với động vật khác thì những động vật này không mấy gần gũi, chiếm ít trong suy nghĩ của người Hàn Quốc và Việt Nam

Ngoài sự giống nhau kể trên, theo bảng thống kê, chúng tôi còn thấy có

sự khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Hàn ở số lần xuất hiện của con hổ Trong tục ngữ Hàn Quốc con vật này chiếm số lượng khá lớn với 39 câu, chênh lệch hơn nhiều so với trong tiếng Việt chỉ có 5 câu

Theo tìm hiểu của chúng tôi, ở Hàn Quốc hổ là một động vật đặc biệt Hàn Quốc có khí hậu mát lành và nhiều núi nên có nhiều hổ Hổ là biểu tượng cho sức mạnh, sự dũng mãnh Người Hàn Quốc vừa sợ hổ vừa sự tôn thờ nên nói nhiều về nó, trong thần thoại dựng nước Hàn Quốc cũng có sự xuất hiện của con vật này Còn ở Việt Nam tục ngữ có hổ ít hơn theo chúng tôi nguyên nhân là do Việt Nam ngoài từ hổ người ta còn sử dụng nhiều từ khác trong tục ngữ như con cọp, con khái, con hùm và nhiều biệt danh như Chúa sơn lâm, ông Ba mươi, ông Kễnh v.v để cùng chỉ một đối tượng

Ví dụ:

Chớ thấy hùm ngủ vuốt râu, đến khi hùm dậy đầu lâu chẳng còn

Miệng hùm chớ sợ, vảy rồng chớ ghê

Hùm mất hươu tiếc hơn mèo mất thịt

Rừng nào cọp nấy

Cọp chết để da, người ta chết để tiếng

Còn trong luận văn này, chúng tôi chỉ sưu tập những câu tục ngữ có từ

“hổ” mà không sưu tập những tục ngữ chứa từ còn lại ở trên Có lẽ đó là một nguyên nhân làm cho số lượng tục ngữ về con hổ trong luận văn không nhiều Nên có thể nói con hổ trong cả tiếng Việt và tiếng Hàn đều xuất hiện nhiều Tuy nhiên, vì đối tượng là con hổ được người Việt Nam gọi bằng các tên khác

Trang 34

trong thành ngữ ví dụ: Ngựa quen đường cũ, cưỡi ngựa xem hoa,…

Trên đây là thống kê và nhận xét sơ bộ của chúng tôi về số lượng tục ngữ và mức độ xuất hiện của 12 con giáp trong cả tiếng Việt và tiếng Hàn Số lần xuất hiện của các con vật vừa có sự tương ứng vừa có sự chênh lệch và khác biệt Sau đây, chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu cụ thể và chi tiết hơn thông qua việc phân loại tục ngữ

2.2 Phân loại tục ngữ

Việc phân loại tục ngữ, chúng tôi căn cứ cả về nội dung cũng như hình thức của tục ngữ để tiến hành phân loại Tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt có thể được chia thành 4 nhóm nếu kết hợp các yếu tố giống (+) hay khác (-)về cấu trúc và ý nghĩa giữa hai ngôn ngữ

Bảng 2: Tục ngữ phân chia theo nhóm

II tục ngữ giống về cấu trúc nhưng khác về

Trang 35

26

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy trong tiếng Hàn và tiếng Việt nhóm II - tục ngữ giống về cấu trúc nhưng khác về ý nghĩa không xuất hiện Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi chỉ phân loại theo 3 nhóm tiêu chí I, III, IV và gọi là:

Dưới đây, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu cụ thể hơn về từng nhóm:

Trang 36

27

2.2.Tục ngữ đồng loại gần nghĩa

Bảng 4: Số lƣợng động vật xuất hiện trong tục ngữ Đồng loại gần nghĩa

Tên động vật Tục ngữ Hàn Quốc Tục ngữ Việt Nam

Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng có 2 nguyên nhân phát sinh tục ngữ đồng loại gần nghĩa

Nguyên nhân thứ nhất là câu tục ngữ đều được du nhập từ Trung Quốc

Vì cả Việt Nam và Hàn Quốc đều gần với Trung Quốc nên chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc Cùng với xu hướng của giao lưu văn hóa, một số tục ngữ của Trung Quốc cũng được du nhập vào Việt Nam và Hàn Quốc và được

sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày

Tục ngữ đồng loại gần nghĩa có nguồn gốc từ Trung Quốc theo chúng tôi

tìm hiểu trong nhóm này có một câu là Bất nhập hổ huyệt, bất đắc hổ tử của

tiếng Việt còn trong tiếng Hàn Quốc là “식식식식식식식식식식식식식식식식

(Phải vào hang hổ mới bắt được hổ con)”

Trang 37

Dưới đây là 3 tục ngữ còn lại

- 식식식식식식식식식 (Một con ngựa không dùng hai chiếc yên.)

- Ngựa nào gác được hai yên

- 식식식식식식식식식식식식식 (Làm đầu gà tốt hơn đuôi bò.)

- Đầu gà còn hơn đít voi

- 식식식식식식식식식식식식 (Chơi với chó thì nó làm quần áo bẩn.)

- Chơi chó, chó liếm mặt

Như vậy, số lượng tục ngữ đồng loại gần nghĩa chiếm số lượng ít nhất chỉ với 4 câu

Trang 38

29

2.3.Tục ngữ khác loại gần nghĩa

Bảng 5: Số lần xuất hiện của các con vật trong các tục ngữ Khác loại gần nghĩa

Tục ngữ Hàn Quốc Tục ngữ Việt Nam

Tục ngữ khác loại gần nghĩa là tục ngữ có biểu hiện khác nhau nhưng

có ý nghĩa gần giống nhau Vì hai nước có phong tục tập quán và điều kiện thiên nhiên khác nhau nên cách đặt câu, từ vựng được sử dụng khác nhau nhưng lại diễn đạt những ý nghĩa, nêu lên những kinh nghiệm, đạo lí gần giống nhau

Theo bảng thống kê, chúng tôi sưu tập được tất cả 70 tục ngữ Hàn Quốc và 35 tục ngữ Việt Nam là tục ngữ khác loại gần nghĩa Số lượng tục ngữ Hàn Quốc và số lượng tục ngữ Việt Nam khác nhau vì 1 tục ngữ Việt Nam có thể phù hợp với 2 tục ngữ Hàn Quốc trở lên

Trang 39

30

Để phân tích một cách chi tiết, chúng tôi lại phân loại tục ngữ khác loại gần nghĩa theo từng chủ đề là kinh nghiệm sinh hoạt, quan hệ con người (tính tập thể và hợp tác) và quan niệm rèn luyện bản thân

2.3.1 Kinh nghiệm sinh hoạt

a Tầm quan trọng của bò, trâu với sản xuất nông nghiệp

Trong các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp có lịch sử lâu nhất nên cũng

có liên quan mật thiết với cuộc sống con người Nông nghiệp là hoạt động sản xuất dựa trên trồng trọt và chăn nuôi Cả Việt Nam và Hàn Quốc đều đặc biệt coi trọng nông nghiệp Trong đó, trồng lúa và làm việc đồng ruộng là một trong những hoạt động lâu đời gắn bó với người dân của hai nước Vì thế, những con vật phục vụ cho việc đồng ruộng như trâu, bò cũng từ lâu được người ta chú ý đề cao

식식식식식식식 (Con bò là tổ tiên của

nhà nông )

bán củi không thể sống nếu chân của con

bò bị gẫy.)

Con trâu là đầu cơ nghiệp

Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc

Lo trẻ mùa hè không bằng lo bò què tháng sáu

Qua các câu tục ngữ chúng ta có thể thấy với người nông dân trâu và bò được đặt lên vị trí hàng đầu trong sản xuất, coi nó là “tổ tiên”, “đầu cơ nghiệp” Trâu và bò đều rất quan trọng với sản xuất, trước đây, làm ruộng thì phải có con bò (với Hàn Quốc) và con trâu (với Việt Nam) Với người xưa, việc đồng ruộng không thể tiến hành một cách thuận lợi nếu không có sự trợ giúp của hai loài vật này Như vậy, cùng là hai quốc gia xuất phát từ nông nghiệp nên hai nước đều coi trọng trâu, bò

Trang 40

31

b Nhận định về thời tiết

Đối với những quốc gia nông nghiệp thì thời tiết rất quan trọng Diễn biến thời tiết có ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp, đặc biệt vào thời xưa, khi con người còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và chưa dự báo được thời tiết Trong những hiện tượng tự nhiên ảnh hưởng đến nghề nông thì mưa có một vai trò quan trọng Nếu mưa thuận, gió hòa phù hợp với thời điểm canh tác thì

sẽ được mùa còn nếu thời tiết không thuận lợi thì sẽ làm giảm năng suất hoặc mất mùa Từ quá trình sản xuất và gần gũi với thiên nhiên người dân hai nước

đã đúc rút ra kinh nghiệm để truyền lại cho thế hệ sau

hoa hồng dại thì hạt cơm dính vảo cả cằm chó (Trời mưa vào chối mùa xuân thì năm đó sẽ được mùa.)

Ở tục ngữ Hàn Quốc, mưa vào mùa hoa hồng dại tức là mùa Xuân (khoảng cuối tháng 5 đến tháng 6) thì năm đó sẽ được mùa Ở Hàn Quốc vào mùa Xuân thì gieo mạ và vào mùa thu sẽ thu hoạch Nếu lúc gieo mạ tức là vào mùa Xuân có mưa thì mùa thu sẽ có thể thu hoạch nhiều lúa gạo

Còn ở Việt Nam (miền bắc Việt Nam) cũng gieo mạ khoảng tháng 6 âm lịch và thời điểm này có mưa thì năm đó sẽ được mùa

Như vậy cả hai nước đều có câu tục ngữ dự báo về hiện tượng thời tiết

sẽ thuận lợi cho việc trồng lúa

c Cái đói

식식식식식식식식식식식식식 Con hổ bị đói thì ăn cả hoạn quan

nữa.(Nếu đói thì sẽ ăn bất chấp đó là món ăn gì.)

nhà sư và chó (Nếu đói quá thì không còn phân biệt được gì nữa.)

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w