Tuy nhiên, cũng từ thực tế cho thấy trong quá trình phát triển, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Đan Phượng còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa có sự phối hợp chặt chẽ các hoạt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ
Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chính trị học
Hà Nội/2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ
Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Hồng
Hà Nội/2018
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG 8
1.1 Hệ thống chính trị và đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam 10
1.2 Hệ thống chính trị cơ sở 11
1.2.1 Khái niệm 11
1.2.2 Cấu trúc hệ thống chính trị cơ sở 14
1.3 Hệ thống chính trị cấp cơ sở huyện Đan Phượng 17
1.3.1 Đặc điểm 17
1.3.2 Vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở huyện Đan phượng 19
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở huyện Đan Phượng 21
1.2.1 Điều kiện về tự nhiên 21
1.2.2 Điều kiện về kinh tế - văn hóa - xã hội 22
Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 29
2.1 Hoạt động của Đảng bộ cơ sở 29
2.2 Hoạt động của hệ thống chính quyền cơ sở 34
Trang 42.2.1 Hội đồng nhân dân 34 2.2.2 Uỷ ban nhân dân 36
2.3 Hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân 38 2.4 Một số kết quả trong hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở huyện Đan
Phượng 40
2.4.1 Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công cuộc xây dựng nông thôn mới 40 2.4.2 Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở góp phần bảo đảm và phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân 46
2.5 Vấn đề tồn tại của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở huyện Đan Phượng 51
2.5.1 Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên chưa sát với thực tiễn, việc xử lý còn nể nang, né tránh 51 2.5.2 Hội đồng nhân dân cấp cơ sở trong hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri chưa mang lại hiệu quả thiết thực 54 2.5.3 Thực hiện cải cách hành chính còn gặp nhiều lúng túng 57 2.5.4 Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa phát huy hết vai trò là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của nhân dân 59
Tiểu kết chương 2 64 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 65 3.1 Phương hướng đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở huyện Phượng 65 3.2 Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở huyện Phượng… 66
3.2.1 Phát huy vai trò Đảng là hạt nhân của hệ thống chính trị 66
3.2.1.1 Nâng cao chất lượng hoạt động của các ban Đảng nhằm phát huy tính tập trung dân chủ 66 3.2.1.2 Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá 68
Trang 53.2.1.3 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động đối với chính quyền và các
thành viên của Mặt trận 71
3.2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính ở cơ sở 74
3.2.2.1 Phát huy tích cực vai trò quản lý của chính quyền cơ sở nhằm ngăn ngừa và khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, dân chủ hình thức 74
3.2.2.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có đủ năng lực trí tuệ và phẩm chất đạo đức góp phần tạo nên một nền hành chính trong sạch, vững mạnh 78
3.2.2.3 Dân chủ hóa các thủ tục hành chính góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các dịch vụ công 80
3.2.3 Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp cơ sở 82
3.2.3.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận góp phần phát huy tính hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động đối với nhân dân 82
3.2.3.2 Từng bước nâng cao văn hóa dân chủ cho nhân dân 85
3.2.3.3 Tăng cường tính độc lập của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội 88
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, luận văn “ Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở ở huyện Đan
Phượng, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” là công trình nghiên cứu khoa
học của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thu Hồng Các số liệu
và trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với các công trình khác
Tác giả nghiên cứu luận văn: Nguyễn Thị Hương
Trang 7Xin chân thành cảm ơn!
Trang 8và sau 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, năng lực và
Trang 92
hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cấp cơ sở nói riêng đã có nhiều chuyển biến Bộ máy Nhà nước được xây dựng và hoàn thiện theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từng bước được đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động
Đan Phượng là huyện nhỏ nhất của thành phố Hà Nội nằm ở phía tây bắc trung tâm thành phố Hà Nội, sát bờ Nam sông Hồng Phía Bắc giáp sông Hồng, bên kia sông là huyện Mê Linh; phía Nam giáp huyện Hoài Đức; phía Đông giáp huyện Từ Liêm; phía Tây và Tây Nam giáp huyện Phúc Thọ với diện tích: 7.735,5ha Dân số: 167.595 người Mật độ dân số: 2.166 người/km2 Đơn vị hành chính: 01 Thị trấn và 15 xã (năm 2016) Trong thực tế đời sống chính trị - xã hội trên địa bàn huyện Đan Phượng nhiều năm trở lại đây, hệ thống chính trị ở cơ sở đã và đang phát huy có hiệu quả vai trò của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển Thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Đan Phượng không ngừng phát huy truyền thống quê hương anh hùng cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh phát triển toàn diện, bền vững, từng bước hiện đại về kinh tế-xã hội, giữ ổn định chính trị - xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và đoàn thể trong sạch vững mạnh, giành được nhiều thành tích to lớn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng Về kinh tế, cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 10 năm qua đạt 16,94%, thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 23,5 triệu đồng Công tác xây dựng nông thôn mới được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, phấn đấu năm
2015, 15/15 xã của huyện hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới, trở thành huyện đầu tiên của thành phố Hà Nội đạt chuẩn Nông thôn mới Tuy nhiên, cũng từ thực tế cho thấy trong quá trình phát triển, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Đan Phượng còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa có sự phối hợp chặt chẽ các hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị; Chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị chưa cụ thể hóa sát với đặc điểm tình hình của từng địa phương; Hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền một số xã chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới, không tạo đà thúc đẩy phát triển kinh tế, đời sống của
Trang 103
người dân ở một số xã còn gặp khó khăn, năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị chưa tương xứng với yêu cầu thực tế; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân chưa phát huy hết vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, sự đồng thuận xã hội ở một số xã không cao Để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, hệ thống chính trị cấp cơ sở huyện Đan Phượng cần có sự đổi mới
để khắc phục những yếu kém, tồn tại hiện nay, từ đó góp phần việc ổn định chính trị xã hội của địa phương, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế phát triển có tính bền vững Việc nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở là một vấn đề cấp thiết
Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Đổi mới hoạt động của hệ thống
chính trị cấp cơ sở ở huyện Đan Phượng - thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
” làm Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
Đổi mới hệ thống chính trị là yếu tố quan trọng để thực hành và phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay Việc nghiên cứu hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như:
Công trình "Hệ thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một số giải pháp đổi mới"
do TS Chu Văn Thành chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H.2004, đã cung cấp những tư liệu và luận cứ khoa học về hệ thống chính trị cơ sở, nhằm cung cấp cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách đối với hệ thống thống trị cơ sở
Công trình “ cách tiếp cận nghiên cứu hệ thống chính trị(2013)” của GS.TS Lưu Văn Sùng, đã nêu ra những cách tiếp cận nghiên cứu hệ thống chính trị, sự hình thành
và phát triển của các thể chế chính trị, cách thức vận hành của hệ thống chính trị Công trình làm rõ hơn vấn đề phương pháp luận trong cách tiếp cận nghiên cứu hệ thống chính trị hiện đại
Công trình “Đổi mới Hệ thống chính trị để phát huy dân chủ” của Đoàn Minh Duệ (Triết học, số 9/2007); Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2008, cung cấp tư liệu lý luận khoa học và tư liệu thực tiễn về vấn đề dân chủ, lý luận về hệ thống chính trị,phương pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả trong việc phát huy dân chủ
Trang 114
Công trình “Dân chủ và dân chủ ở nông thôn trong tiến trình đổi mới” của tác
giả Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2008; Cung cấp những kiến thức và tư liệu sâu sắc về dân chủ và vấn đề dân chủ ở nông thôn hiện nay, là cơ sở cho việc nghiên cứu về dân chủ
Công trình “Hệ thống chính trị cơ sở - đặc điểm, xu hướng và giải pháp đổi mới” PGS.TS Vũ Hoàng Công (biên soạn), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2002,
đã nêu ra những vấn đề lý luận cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam nói chung, hệ thống chính trị cơ sở, từ đó đưa ra những kiến nghị, giái pháp trong việc củng cố, nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị cơ sở
Công trình” chính trị những vấn đề lý luận và thực tiễn(2007 – 2012)” do tác giả GS.TS Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), đã làm sáng tỏ các luận cứ về lịch sử tư tưởng, các học thuyết chính trị, lý luận chung về chính trị, những vấn đề về chính trị Việt Nam hiện đại, khoa học về quản lý và lãnh đạo
Ngoài ra,còn có một số công trình, luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí khoa học được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác như: Kỷ yếu khoa học đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2001 –2002 "Các giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay" PGS.TS Phạm Hào làm chủ biên, Nhà xuất bản Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002; TS Nguyễn Duy Hùng (chủ biên) "Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2008; “Quy chế, thực hiện quy chế dân chủ ở cấp xã: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Dương Xuân Ngọc, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2004; Công TS Mai Đức Ngọc, "Vai trò của cán
bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, (2008); “Về quá trình dân chủ hóa
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Minh Quân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2011; Công trình "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" do TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông làm chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001; “Hoạt động của chính quyền cấp cơ sở trong việc thực hiện Quy chế dân chủ
cơ sở” của tác giả Nguyễn Thị Thuý Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 243 năm 2016;
Trang 125
“Tồn tại và không nên tồn tại Hội đồng nhân dân cấp nào?” của Trần Hữu Trí (Đại đoàn kết, số 139/2007); “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân” của Văn phòng Quốc hội (Nghiên cứu lập pháp, số 8/2001)
Mặc dù nghiên cứu về hệ thống chính trị nói chung, hệ thống chính trị cơ sở nói riêng đã có nhiều tác giả nghiên cứu Song, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở huyện Đan Phượng Vì
vậy, tôi đã chọn “ Đổi mới hoạt động của hệ thống chính trịcơ sở ở huyện Đan Phượng
– thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
của mình Với hy vọng trên cơ sở những lý luận và thực tiễn đề xuất một số phương hướng đổi mới góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn huyện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề ra những phương hướng, giải pháp khắc phục hạn chế để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở huyện Đan Phượng hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở huyện Đan Phượng trong giai đoạn từ 2010 -2015 Tập trung vào nghiên cứu thực trạng
và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống chính trị cơ sở huyện Đan Phượng- thành phố Hà Nội
Trang 135 Cơ sở luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề hoàn thành luận văn, chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp, như: phương
pháp logic, lịch sử; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp phân tích tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
Luận văn góp phần làm rõ vị trí, vai trò, cũng như cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cấp cơ sở nói riêng Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập liên quan đến đề tài này
6.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn cung cấp cơ sở khoa học, nêu các giải pháp có thể tham khảo, vận dụng để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở huyện Đan Phượng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương :
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở
ở huyện Đan Phượng
Trang 147
Chương 2: Thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Đan Phượng giai đoạn 2010 - 2015
Chương 3: Phương hướng và giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị
cơ sở ở huyện Đan Phượng – thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Trang 158
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG 1.1 Hệ thống chính trị và đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam
1.1.1 Khái niệm
Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là một khái niệm hiện đại của chính trị học Nó được hình thành trong nền chính trị hiện đại Trong xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định Nghiên cứu về hoạt động của hệ thống chính trị một mặt cho thấy quyền lực chính trị đó thuộc về ai, do giai cấp nào nắm giữ, lực lượng nào chi phối, mặt khác cho thấy tính dân chủ của nền chính trị đó Vì vậy, hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội, bao gồm
các Đảng chính trị, Nhà nước và các Tổ chức chính trị - xã hội được liên kết với nhau
trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội; củng
cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền
Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền Do đó, hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp Các nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể của quyền lực chính trị, tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị
C.Mác và Ăngghen là những người đầu tiên tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị
như là một chế độ chính trị và dùng thuật ngữ như “hệ thống chính trị”, “hệ thống
đẳng cấp chính trị”, “hệ thống cấp bậc về mặt xã hội và chính trị”[15, tr.128] Nếu xét
theo nội hàm của nó thì các ông thường sử dụng thuật ngữ “cơ cấu chính trị”, “hình
thức chính trị”[15, tr.16], “thiết chế xã hội và chính trị”, “cơ cấu chính quyền”[14,
tr.349], “thể chế pháp luật và chính trị”[14, tr.62] Sau này các ông có đề cập đến một
số khái niệm như “bộ máy thống trị giai cấp”, “chế độ chính trị”…
Kế thừa và phát triển những tư tưởng về dân chủ và hệ thống chính trị của C.Mác
và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tiếp tục hoàn thiện các quan niệm đó trong thời kỳ quá độ
Trang 169
lên chủ nghĩa xã hội Tuy vậy, trong các bài nói, bài viết của mình V.I.Lênin không sử
dụng khái niệm "hệ thống chính trị", mà ông thay thế bằng khái niệm "chuyên chính vô
sản" để nghiên cứu về thiết chế chính trị của xã hội Trên quan điểm và lập trường của
Lênin hệ thống chuyên chính vô sản bao gồm: Nhà nước của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức quần chúng mà tiêu biểu là công đoàn Đối với khoa học chính trị hiện đại, hệ thống chính trị
là một phạm trù rất quan trọng, bởi vì nó tổng hợp những vấn đề của thực tiễn chính trị
Vì vậy, hiện nay trên thế giới quan niệm về hệ thống chính trị còn rất khác nhau
Có quan điểm cho rằng “hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng
xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các
quyết định chính trị”[68, tr.289] Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính
trị trong xã hội bao gồm các Đảng chính trị, Nhà nước và các Tổ chức chính trị -xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự xuất hiện của giai cấp, Nhà nước và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp, đảng phái cầm quyền,
do đó nó mang bản chất, lý tưởng chính trị và phản ánh lợi ích của giai cấp cầm quyền Cấu trúc hệ thống chính trị rất đa dạng, ở mỗi quốc gia lại có đặc thù khác nhau, nhưng
cơ bản gồm 3 bộ phận: Đảng chính trị, Nhà nước, các Tổ chức chính trị hợp pháp Từ
đó, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về hệ thống chính trị như sau: "Hệ thống chính
trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực Nhà nước, các Đảng chính trị, các tổ chức và các phong trào chính trị ) được xây dựng trên các quyền và chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị"
[77, tr.262]
Ở Việt Nam, khái niệm hệ thống chính trị được chính thức sử dụng trong các văn kiện Đảng từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI(3/1989) để thay thế cho khái niệm chuyên chính vô sản vẫn được dùng trước đổi mới (1986) với
cơ chế kế hoạch hóa tập trung Theo đó hệ thống chính trị là một phạm trù thể hiện
Trang 1710
hình thức tổng quát nhất của chính trị và dân chủ, xác lập cơ chế thực hiện quyền lực
chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong điều kiện xây
dựng và vận hành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [32, tr.11-12]
Về cơ bản, hệ thống chính trị ở Việt Nam là một chỉnh thể gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp của nhân dân Các bộ phận này có quan hệ mật thiết với nhau theo nguyên tắc và cơ chế vận hành nhất định, trong đó Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai trò
là hạt nhân của hệ thống chính trị, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột, là trung tâm của hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của Nhà nước và xã hội
1.1.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam
Hệ thống chính trị nước ta có nhiều đặc điểm khác với mô hình hệ thống chính trị của nhiều nước trên thế giới Cụ thể nó có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là: Tính nhất nguyên chính trị Chế độ chính trị Việt Nam gắn với thể chế
chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền
Hiến pháp năm 1980 đã quy định rõ vai trò, chức năng lãnh đạo của Đảng
“Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp
công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lê nin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Đảng là một bộ phận của Hệ thống chính trị
nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị
Thứ hai: Tính thống nhất hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có
tính chất, vai trò và chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất từ trên xuống Sự thống nhất của các thành viên đa dạng và phong phú về tổ chức, phương thức hoạt động trong hệ thống chính trị
Thứ ba: Gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân Thứ tư: Hệ thống chính trị nước ta được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức cũng như của cả hệ thống
Trang 1811
Thứ năm: Hệ thống chính trị nước ta có thuộc tính bản chất là sự thống nhất giữa
tính giai cấp và tính dân tộc Ở nước ta, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc luôn gắn bó, quyện chặt lẫn nhau Nghiên cứu quá trình dân tộc và quá trình chính trị của nước ta sẽ
đi tới khẳng định sự nổi trội của tính dân tộc trong suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Nhận rõ đặc trưng về sự nổi trội của tính dân tộc không phải là coi nhẹ tính giai cấp, mà là khắc phục quan niệm tuyệt đối hoá giai cấp để thấy rõ sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính giai cấp trong hoàn cảnh đặc thù của nước ta
Những đặc điểm trên vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối quan
hệ vừa quy định tính thống nhất của hệ thống chính trị duy nhất trong cả nước
1.2 Hệ thống chính trị cơ sở
1.2.1 Khái niệm
Hệ thống chính trị cơ sở là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa Từ năm 1945, sau khi xây dựng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,
hệ thống chính trị nước ta được thiết lập từ Trung ương đến địa phượng Theo Điều
118 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đơn vị hành chính nước ta chia làm bốn cấp: cấp trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; cấp xã, phường, trị trấn Cấp xã, phường, thị trấn là cấp cuối cùng, gần dân nhất, sát dân nhất nên được gọi là cấp cơ sở [59, tr 20]
Hệ thống chính trị ở cơ sở thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với nhân dân; là nơi triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cấp trên
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa IX ghi:
“Các cấp cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh
sống Hệ thống chính trị cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư” [24, tr.1]
Hệ thống chính trị ở cơ sở là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chủ trương,
Trang 1912
nhiệm vụ của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cấp trên đều do cấp cơ sở chuyển tải, thông tin, triển khai thực hiện, tổ chức thành các phong trào trong các tầng lớp nhân dân Do đó, thông qua hệ thống chính trị ở cơ sở, nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước về chủ trương, đường lối, chính sách, về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, về cán
bộ của Đảng, Nhà nước để từ đó đề ra các chỉ thị, nghị quyết, chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với lợi ích chính đáng của nhân dân Tuy hệ thống chính trị ở cơ sở không phải mang tính chất là khâu trung gian đơn thuần, mà còn có nhiều chức năng khác, như tiếp dân, trực tiếp giải quyết những thắc mắc, kiến nghị của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội
Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Theo phân cấp, hệ thống chính trị cơ sở là nơi triển khai các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chủ trương, nhiệm vụ của cấp trên để lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý, huy động, sử dụng các nguồn lực về đất đai, tài nguyên khoáng sản, lao động, tài chính nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch; xây dựng nông thôn mới; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò quan trọng trong việc ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh, quốc phòng ở địa phương
Hệ thống chính trị ở cơ sở là nơi triển khai thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân Do đó mọi việc cần phải đảm bảo nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp cuối cùng trong công tác điều hành, quản lý và tiếp xúc trực tiếp với mọi hoạt động trong đời sống hàng ngày của nhân dân, ngoài việc đảm bảo an ninh trật tự xã hội của địa phương, còn phải giải quyết những kiến nghị, yêu cầu của nhân dân Vì vậy để đảm bảo ổn định chính trị cơ sở, xây dựng chính quyền vững mạnh, đòi hỏi trong suốt quá trình hoạt động phải luôn đảm bảo việc bám
Trang 2013
sát hoạt động của nhân dân, kịp thời giải quyết những bức xúc, yêu cầu và đảm bảo quyền lợi chính đáng của nhân dân
Các yếu tố của hệ thống chính trị ở cơ sở chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của các yếu tố
hệ thống chính trị cấp trên, cụ thể hóa các nhiệm vụ cấp trên; đồng thời có nhiệm vụ tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, giữ vững ổn định chính trị cơ sở Do đó nhiệm vụ của hệ thống chính trị ở cơ sở rất nặng nề, phức tạp Nếu không bố trí, sắp xếp, tổ chức thực hiện khoa học thì rất khó hoàn thành nhiệm vụ, trong khi năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ còn có những hạn chế và điều kiện để thực hiện còn nhiều khó khăn
Trong hệ thống chính trị cấp cơ sở có vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội đều hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị và tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Tất cả những hoạt động đó đều nằm trong sự lãnh đạo, quản lý, điều hành trực tiếp của hệ thống chính trị cơ sở Khi nghiên cứu về
hệ thống chính trị cơ sở người ta có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau như việc xem xét hệ thống chính trị cơ sở như một chỉnh thể hoàn chỉnh về mặt tổ chức: gồm có Đảng, chính quyền (Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân (Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh) Mỗi bộ phận hợp thành hệ thống chính trị cơ sở có vị trí, vai trò và chức năng khác nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Bên cạnh đó, cấp cơ sở hiện nay còn rất nhiều tổ chức, hội đoàn do nhân dân tự nguyện lập ra, hoạt động theo phương thức
tự quản và tuân thủ pháp luật, thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, liên kết cộng đồng, cùng nhau tổ chức đời sống trong cộng đồng, góp phần tạo ra sự đoàn kết, đồng thuận trong
xã hội Những tổ chức này tuy không phải là bộ phận hợp thành hệ thống chính trị cơ
sở nhưng có mối quan hệ mật thiết với hệ thống này
Xét về phương diện chức năng hệ thống chính trị cơ sở, theo cách tiếp cận này, hệ thống chính trị cơ sở được hiểu theo tính chất của việc thực hiện dân chủ cơ sở, thể hiện quyền lực của nhân dân quyền dân chủ trong bầu cử, chất vấn đại biểu Hội đồng nhân dân, những việc dân được biết, được bàn và thực hiện kiểm tra; tổ chức và hoạt
Trang 2114
động của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân; vai trò của tổ chức Đảng, Mặt trận và các đoàn thể trong việc phát huy quyền dân chủ của người dân; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân trong việc đảm bảo và thực hiện quyền dân chủ của dân
Như vậy, "Hệ thống chính trị cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức
Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở” [60,
tr.10]
1.2.2 Cấu trúc hệ thống chính trị cơ sở
Hệ thống chính trị cấp cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Về mặt tổ chức, hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm ba bộ phận cấu thành là tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc, bao gồm Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Nông dân và Hội Cựu chiến binh
Tổ chức cơ sở Đảng
Tổ chức cơ sở Đảng bao gồm Chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở, là nền tảng của Đảng
và là hạt nhân chính trị ở cơ sở Điều 21, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, được Đại
hội X của Đảng thông qua, đã quy định: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ
sở) là nền tảng của Ðảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở” Điều này bắt nguồn trực tiếp
từ học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, về vai trò của giai cấp công nhân - lực lượng chủ yếu của cách mạng
vô sản và là người lãnh đạo xã hội trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Xét trong
hệ thống tổ chức của Đảng, thì tổ chức cơ sở đảng là tổ chức đảng nhỏ nhất, số lượng nhiều nhất và gắn liền với các tổ chức hành chính, kinh tế ở cơ sở
Với vai trò là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị cơ sở, các đảng bộ, chi bộ
ở xã, phường, thị trấn đã nhận thức và xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong hệ thống chính trị; đồng thời đảm bảo vai trò lãnh đạo toàn diện
Trang 22Chính quyền cơ sở
Chính quyền cơ sở bao gồm: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Theo Hiến pháp 1992, hệ thống chính quyền nhà nước ta bao gồm bốn cấp từ Trung ương đến cơ
sở, chính quyền cấp cơ sở ở xã có vị trí rất quan trọng
Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2013, "Hội
đồng nhân dân được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời
là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên”[17, tr.22] Về mặt tổ chức, Hội đồng nhân dân xã có Chủ tịch, Phó chủ tịch
và các đại biểu Hội đồng nhân dân Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Hội đồng nhân dân xã có Thường trực Hội đồng nhân dân nhưng không có các ban chuyên môn như Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân là 5 năm Hội đồng nhân dân có hai chức năng cơ bản là quyết định
và giám sát
Hội đồng nhân dân quyết định các biện pháp thực hiện phát triển kinh tế - xã hội hàng năm nhằm phát huy tiềm năng của địa phương, quyết định trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội và đời sống, quyết định trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyết định đối với việc thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo, quyết định trong lĩnh vực thi hành pháp luật, quyết định trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính Trong chức năng giám sát, Hội đồng nhân dân
Trang 23chính Nhà nước ở địa phương, góp phần đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong
bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương tới cơ sở”[17,tr.22] Về mặt tổ chức, theo
Nghị định 107/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định, " Ủy ban nhân dân xã miền núi,
hải đảo có dân số từ 5.000 người trở lên; xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8.000 người trở lên và xã biên giới, có 5 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 2 ủy viên Ủy ban nhân dân xã không thuộc diện trên thì có 3 thành viên gồm có 1Chủ tịch, 1Phó Chủ tịch và 1ủy viên”[50, tr.22] Trong đó Chủ tịch phụ trách chung, khối nội
chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội xã Các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phụ trách khối kinh tế - tài chính, xây dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên - môi trường và phụ trách khối văn hóa - xã hội và các lĩnh vực xã hội khác Các ủy viên
Ủy ban nhân dân thì phụ trách công an và phụ trách quân sự Như vậy, Chính quyền cơ
sở là nơi đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, có vai trò nòng cốt trong hệ thống chính trị ở, là khâu quan trọng của bộ máy Nhà nước ở cơ sở
Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Mặt trận tổ quốc Việt Nam là một tố chức liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu của các giai cấp tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo, là
cơ sở của chính quyền nhân dân “Đoàn thể nhân dân” ở nước ta bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội, giới chức, lợi ích, từ thiện Tuy nhiên, phạm trù “đoàn thể nhân dân” được đề cập ở đây là các tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc, bao gồm Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh
Trang 2417
Mặt trận tổ quốc và đoàn thể nhân dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị ở cơ sở Cụ thể các đoàn thể nhân dân có vai trò đoàn kết nhân dân, chăm lo lợi ích của thành viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ của công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Đoàn thể nhân dân là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong trào vận động quần chúng tham gia bảo vệ trật tự trị an, xây dựng nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở
Chức năng, vai trò của các tổ chức chính trị xã hội được Đảng chỉ ra ở nhiều văn
kiện Đảng Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã xác định: “Mặt trận tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; đưa ra các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”[25, tr 124]
Ba bộ phận cấu thành hệ thống chính trị ở cơ sở có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động, hỗ trợ trong quá trình hoạt động Thể hiện tính thống nhất giữa công tác tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền cơ sở và các đoàn thể quần chúng
1.3 Hệ thống chính trị cấp cơ sở huyện Đan phƣợng
1.3.1 Đặc điểm
Hệ thống chính trị cơ sở được hiểu là cấp cuối cùng của hệ thống chính trị, nhưng lại là cấp đầu tiên và trực tiếp liên quan đến mọi hoạt động và cuộc sống của nhân dân,
là cấp chính quyền gần dân nhất, gắn bó mật thiết đến quyền và lợi ích của công dân
Vì thế có vai trò đặc biệt quan trọng
Hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Đan Phượng có một số đặc điểm nổi bật như: Đảng bộ, chi bộ cơ sở và các phòng ban chức năng của chính quyền cơ sở trong việc lãnh đạo và quản lý mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương, vân động nhân dân tham gia xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng nông thôn mới thực hành quy chế dân chủ nhân dân, vì vậy hệ thống chính trị cấp cơ sở có thể coi là trung
Trang 2518
tâm của mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân, bởi mỗi cán bộ, đảng viên ở
cơ sở đều thực hiện tính gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện chỉ thị nghị quyết, xét trên thực tế thì mối quan hệ này luôn tạo ra sự mềm dẻo, gắn bó chặt chẽ cùng thực hiện, cùng xây dựng và phát triển
Là một huyện ngoại thành, tiềm năng và thế mạnh chưa được khai thác và đầu tư phù hợp, vì vậy ở Cơ sở mặc dù xét về chỉnh thể có bộ máy đơn giản nhất, số lượng cán bộ ít nhất, song khối lượng công việc nhiều và phức tạp nhất Nói như vậy là bởi
vì, ngoài công việc hành chính, thì dưới cơ sở còn thường xuyên giải quyết đến các vấn
đề như đơn thư, khiếu nại về quyền sử dụng đất, nông nghiệp, môi trường ở các làng nghề, khu chăn nuôi… giải phóng mặt bằng Cán bộ cơ sở tiếp nhận và xử lý nhiều việc liên quan trực tiếp đến cuộc sống của nhân dân địa phương Vì mọi vấn đề này sinh đều bắt nguồn từ chính cơ sở, nơi mà tiếp xúc với nhân dân, song do phần lớn người dân sống ở nông thôn nên trình độ dân trí còn thấp, không hiểu nhiều về luật Nhiều nơi cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau, cán bộ cơ sở ví như máy tính đa năng, từ văn phòng, tư pháp đến thống kê đều rất thông thạo
Xuất phát điểm là một huyện thuần nông, người dân ở đây có tính cố kết cộng đồng rất cao, nhất là trong các phong trào mang tính chất tình nguyện, cần huy động sức mạnh tập thể, trong đó Ban công tác Mặt trận, ban thanh tra nhân dân và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở là trung gian trong việc giải quyết các nhu cầu, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Đây vừa là đặc điểm vừa là tính chất của hệ thống chính trị ở
cơ sở Trên địa bàn xã/thị trấn ngoài hoạt động quản lý của nhà nước còn đẩy mạnh việc khuyến khích các hoạt động tự quản của nhân dân trong thôn, cụm dân cư, tổ dân phố, nổi bật với vai trò của trưởng thôn được trực tiếp dân bầu Thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh dân chủ ở xã/phường/thị trấn nhằm phát huy tối đa sức mạnh, năng lực tự quản của nhân dân địa phương, qua đó mọi công dân có thể tham gia trực tiếp vào việc kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, tham gia xây dựng và quản lý cuộc sống nơi cộng đồng
Vốn địa hình không thuần nhất, hơn ½ diện tích là đất bãi ven sông, ngoài phát triển nông nghiệp, còn có các nghề tiểu thủ công nghiệp, các cụm công nghiệp vừa và
Trang 2619
nhỏ, một phần dân số là những người dân là chài vạn, sinh sống du mục, một phần khác người dân theo đạo tôn giáo sống đan xen với nhau, tạo nên tính đặc thù riêng của mỗi địa phương, đặc biệt trong việc tuyên truyền, vận động người dân thực hiện chỉ thị nghị quyết chung của Đảng và cơ chế chính sách của chính quyền các cấp đôi lúc còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy, hệ thống chính trị cơ sở là nơi đảm bảo giữ vững chính trị
và xây dựng xã hội phát triển lành mạnh, đúng định hướng Hệ thống chính trị cơ sở chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là vùng nhạy cảm nhất của đời sống xã hội Do vậy, điểm căn bản của cơ sở là ở chất lượng cán bộ, là hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị sao cho giữ vững được lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, thực sự chăm lo cho lợi ích của nhân dân, làm cho dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc
1.3.2 Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở huyện Đan phượng
Từ sau khi sát nhập địa giới về thành phố Hà Nội, so với nhiều huyện của ngoại thành Hà Nội thì Đan Phượng là huyện có địa gới hành chính tương đối nhỏ, quy mô dân số ở mức trung bình, tiềm năng cho phát triển kinh tế không nhiều, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, thâm canh cây ăn quả và hoa màu mang tính nhỏ lẻ, chưa có vùng chuyên canh quy mô lớn Song bằng những quyết tâm, nỗ lực của toàn thể cán bộ, nhân dân trên địa bàn huyện Đan Phượng Cho đến nay, về cơ bản đã tạo lập được một nền kinh tế công - nông nghiệp, tiểu thủ nông nghiệp năng động và đang trên đà phát triển mạnh, đời sống của nhân dân trong huyện ngày một thay da đổi thịt, nhu cầu của người dân tăng cao, giải quyết vấn đề việc làm cho gần 3000 lao động mỗi năm, thu nhập bình quân trên đầu người đã đạt từ 13 triệu đồng(2010) lên 28 triệu đồng vào năm
2015 Phát huy thế mạnh của một huyện nông thôn, toàn Đảng, toàn dân thi đua ra sức xây dựng kinh tế, hình thành các cụm công nghiệp vừa và nhỏ; mở rộng quy mô trong lĩnh vực chăn nuôi như các xã Hồng Hà, Trung Châu, Thọ An; tăng diện tích và sản lượng cây trồng, đặc biệt là cây ăn quả như trồng bưởi Diễn, Bưởi tôm vàng ở các xã Thượng Mỗ, Hạ Mỗ; xây dựng vùng chuyên canh cây rau màu như vùng trồng rau sạch
ở xã Phương Đình, Thọ Xuân, trồng chuối ở xã Trung Châu, trồng hoa ở xã Đan phượng, Hạ Mỗ, Thượng Mỗ; đồng thời tận dụng và phát huy vai trò của các làng nghề tiểu thủ công, nghề mộc như các xã Liên Hà, Liên Trung, Liên Hồng Năm 2015 Đan
Trang 2720
Phượng là huyện đầu tiên của thành phố Hà Nội được đón nhận danh hiệu đạt chuẩn nông thôn mới Để có được những thành công đó, hệ thống chính trị cơ sở đóng một vai trò rất lớn trong việc định hướng, xác định mục tiêu, phát huy tối đa chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc tổ chức hoạt động, vận động nhân dân Điều này được thể hiện rõ nét ở một số điểm sau:
Hệ thống chính trị cơ sở có một vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi tiềm năng cho phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững và ổn định tình hình chính trị địa phương để góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Hệ thống chính trị cơ sở đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, ở đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hành dân chủ của chính mình Nếu dân chủ là dân làm chủ như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, thì cơ sở là nơi thể hiện rõ nhất và trực tiếp nhất ý thức và năng lực dân chủ của dân thông qua phương thức dân chủ đại diện
và dân chủ trực tiếp là nơi diễn ra cuộc sống của dân, nơi chính quyền và các đoàn thể
tổ chức cuộc sống, hoạt động và các phong trào của cộng đồng dân cư để từ đó góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò định hướng, tổ chức các hoạt động, phong trào mang tính chất nhân dân rộng như đền ơn đáp nghĩa, nối vòng tay lớn, chỉnh trang đường làng, ngõ xóm xanh - sạch - đẹp Sau gần 10 năm, hệ thống chính trị ở cơ sở đã tích cực thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình cùng với nhân dân tạo nên những thành tựu quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thay đổi đời sống nông dân theo hướng tích cực
Trang 2821
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Đan Phượng
1.4.1 Điều kiện về tự nhiên
Đan Phượng là huyện ngoại thành nằm phía Tây bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô gần 20km Tháng 12/1978, huyện Đan Phượng nhập vào thành phố
Hà Nội Từ tháng 8/2008, tỉnh Hà Tây được nhập vào thành phố Hà Nội, huyện Đan Phượng trở thành huyện trực thuộc thành phố Hà Nội có vị trí địa lý: phía Bắc giáp huyện Mê Linh (ranh giới tự nhiên là bãi sông Hồng), phía Nam giáp huyện Hoài Đức; phía Đông giáp huyện một phần huyện Đông Anh, quận Bắc Từ Liêm; phía Tây giáp huyện Phúc Thọ Đan Phượng là huyện có hệ thống sông Hồng, Sông Đáy chảy qua Xưa kia là ngã ba sông(Sông Hồng, Sông Nhuệ, Sông Đáy) nên địa hình của huyện là tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đất phù sa Chiều cao trung bình là 6-8m Là huyện
có truyền thống thâm canh trong nông nghiệp, năng suất lúa đạt 7 tấn/ha đầu tiên của Miền Bắc
Đây cũng là điều kiện thuận lợi giúp cho huyện Đan Phượng sớm hoàn thành mục tiêu công cuộc xây dựng nông thôn mới và trở thành huyện đầu tiên của Hà Nội đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015 Lợi thế của một vùng đất ven sông Hồng và Sông Đáy được phù sa bồi đắp quanh năm, thiên nhiên ưu đãi đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Tổng diện tích tự nhiên 7.735,48 ha, trong đó: Đất nông nghiệp đang sử dụng: 3.838,21 ha (50,12%); Đất chuyên dùng: 989,44 ha(12,92%); Đất ở: 787,65 ha(10,29%); Đất chưa sử dụng, sông suối: 2.041,81 ha(26,68%)[34, tr.1] Địa hình của Đan Phượng được chia làm 4 vùng: Vùng bãi sông Hồng gồm các xã: Phương Đình, Trung Châu, Thọ Xuân, Thọ An, là vùng đất phù sa, màu mỡ, thích hợp cho các loại cây rau, màu, chăn nuôi gia súc và đại gia súc, nuôi thủy sản Vùng ven sông Đáy gồm các xã, thị trấn: Thị trấn Phùng, Đan Phượng, Song Phượng, Đồng Tháp, là vùng đất phù sa cổ, màu mỡ, thích hợp trồng cây ăn quả, cây rau, màu, chăn nuôi gia súc và gia cầm, thủy sản Vùng Tiên Tân gồm các xã Liên Trung, Liên Hà, Liên Hồng, Hồng Hà: có địa hình cao, đất cát pha thịt nhẹ màu mỡ, thuận lợi trồng lúa, rau, màu, cây ăn quả và chăn nuôi Vùng Đan Hoài gồm các xã:
Trang 2922
Tân Hội, Tân Lập, Hạ Mỗ, Thượng Mỗ, là vùng đất thịt nhẹ pha sét nhẹ, hàng năm được tưới bằng nước phù sa sông Hồng, qua hệ thống thủy nông Đan Hoài, thích hợp trồng lúa, cây màu, cây ăn quả có chất lượng quả ngon, chăn nuôi
Do đặc điểm địa hình chia thành các vùng rõ rệt tạo điều kiện cho huyện trong việc định hướng, quy hoạch phát triển kinh tế cho phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên của từng vùng, khiến cho nền kinh tế, văn hóa xã hội phát triển đa dạng, mỗi cụm lại mang một đặc trưng riêng Đan Phượng nằm trên vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên đất đai màu mỡ, điều kiện về thủy văn thuận lợi nên kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, thương mại, dịch vụ ở đây sớm phát triển Chính sự phát triển của kinh tế đã tạo điều kiện cho Đan Phượng phát triển văn hóa, xã hội và đặc biệt là xây dựng nông thôn mới Nền khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa Mùa hè nóng ẩm Nắng trong vùng mang tính chất chung của vùng Bắc Bộ Gió theo mùa, mùa đông thường là Đông Nam – Tây Bắc đến Đông Bắc, tốc độ gió trung bình 4m/s; mùa hè thường là Đông Nam – Tây và Tây Bắc, tốc độ gió trung bình 2,5 – 3m/s Bão úng thường xảy ra vào tháng 5 đến tháng 8 trong năm Lượng mưa trung bình từ 1600 – 1800 mm Nhìn chung khí hậu và thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đa dạng các loại cây trồng
1.2.2 Điều kiện về kinh tế - văn hóa - xã hội
Toàn huyện có dân số 167.595 người trong đó số người trong độ tuổi lao động là 97.592 người chiếm tỷ lệ 61,65% Mật độ dân số của huyện là 2.166 người/km2, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 14,1%o (tính đến 31/12/2016) Mặc dù là huyện có diện tích tự nhiên nhỏ nhất so với các huyện ngoại thành Hà Nội Song nhiều năm qua với việc phát huy lợi thế của một huyện ven đô cửa ngõ của Thủ đô “nhất cận thị, nhị cận giang”, nhiều năm qua, được sự quan tâm lãnh chỉ đạo của Đảng bộ Trung ương và thành phố, Đảng bộ cùng với của nhân dân huyện Đan Phượng năng động nhiệt tình trong mọi hoạt động, không ngừng tận dụng, phát huy tối đa những tiềm năng, thế mạnh của mình cho phát triển kinh tế - xã hội và đã giành được nhiều kết quả đáng ghi nhận
Trang 3023
Về văn hóa, xã hội: Trên địa bàn huyện, chỉ thuần nhất là có 01 dân tộc Kinh sinh
sống và có 3 tôn giáo chính là Đạo Phật, đạo Tin Lành, Đạo Thiên Chúa, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện ổn định Nhiều nhà văn hóa thôn, cụm dân cư được thành lập, duy trì hoạt động hiệu quả của các tủ sách, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nâng cao kiến thức của nhân dân Nhiều loại hình văn hoá dân gian độc đáo và có nhiều di tích lịch sử văn hoá quý giá như vật truyền thống ở xã Hồng Hà,
ca trù ở xã Thượng Mỗ, bơi chải ở Đồng Tháp, thổi cơm thi, hội thả diều ở Bá Giang, hát chèo tàu ở Tân Hội Đan Phượng có tất cả 149 di tích, có 67 di tích đã được xếp hạng, di tích có giá trị văn hoá, nghệ thuật cao như đền Văn Hiến, đình Đại Phùng, chùa Hải Giác… Đan Phượng là quê hương của nhà thơ Quang Dũng, tác giả bài Tây Tiến, cùng nhiều danh nhân khác như: Nguyễn Danh Dự, Tạ Đăng Huấn, Phạm Phi Kiến, Thi Sách, Tô Hiến Thành, Nguyễn Hữu Phúc
Phát huy tinh thần quê hương Đan Phượng anh hùng, nhiều năm qua Đảng bộ và nhân dân trên địa bàn huyện đã có nhiều hoạt động ý nghĩa như xây dựng phong trào phụ nữ ba đảm đang, phong trào nhà nhà hiến đất làm đường, người người góp công xây dựng nông thôn mới…hưởng ứng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, đến nay toàn huyện có 7 làng, khu phố, cơ quan, đơn vị văn hóa, hơn 70% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, có 5/6 tổ dân phố, 10 cụm dân cư, 49/70 làng, 53 cơ quan, đơn vị được công nhận danh hiệu văn hóa, trong đó có 16 làng, phố,
06 cơ quan đơn vị được công nhận văn hóa lần hai Có 72 khu phố, làng, cụm dân cư
có nhà văn hoá [74, tr.7] Công tác Giáo dục-Đào tạo phát triển toàn diện, 100% trường lớp THCS, THPT, Tiểu học và Mầm non được xây dựng kiên cố khang trang, có 35 trường học được công nhận đạt chuẩn quốc gia Công tác dân số-KHHGĐ y tế, được thường xuyên quan tâm, mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố Hàng năm được
sự quan tâm của đảng bộ chính quyền, nhân dân trên địa bàn tổ chức các giải đấu vật quy mô vừa
Về kinh tế: Phát huy tiềm năng lợi thế của địa phương, trong những năm qua dưới
sự chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền địa phương và sự phấn đấu quyết tâm của nhân dân trong toàn huyện Đến nay, đã xây dựng được một số vùng sản xuất cây trồng, vật
Trang 3124
nuôi tập trung như: vùng lúa chất lượng cao ở Đan Phượng, Song Phượng; vùng sản xuất rau an toàn Phương Đình, Song Phượng, Đan Phượng; vùng trồng Bưởi diễn, cam canh như Thọ An, Thọ Xuân, Trung Châu, Thượng Mỗ, Phương Đình, Hạ Mỗ… Toàn huyện có 67 trang trại, 243 vườn trại hiệu quả góp phần đưa giá trị thu nhập/ha canh tác đạt trung bình 80 triệu đồng/ha
Công nghiệp, thương mại, dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao Với lợi thế sẵn
có của huyện ven đô, toàn huyện Đan Phượng có hơn 1.200 hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trên 2.200 hộ kinh doanh thương mại- dịch vụ Đan Phượng có 42/70 làng có nghề, trong đó có 7 làng được công nhận làng nghề góp phần tạo chuyển biến rõ nét trong cơ cấu kinh tế: nông nghiệp chiếm 9,85% giá trị sản xuất, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 48,56%, thương mại- dịch vụ chiếm 41,59% [74, tr.1] Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên Các cụm điểm công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, làng nghề ở thị trấn Phùng và các xã Đồng Tháp, Đan Phượng, Liên Hà, Tân Hội Đến nay đã cơ bản hoàn thành với tổng diện tích 77,8 ha, thu hút 54 doanh nghiệp và 456 hộ vào sản xuất, kinh doanh, góp phần giải quyết việc làm cho gần 3000 lao động mỗi năm [36, tr.5]
Đảng bộ và Chính quyền các cấp luôn tạo điều kiện và có những chính sách khuyến khích phát triển các ngành thủ công, tiểu thủ công nghiệp, nhờ đó mà giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 301 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ Trong đó giá trị sản xuất được chia theo thành phần kinh tế: Hợp tác xã đạt 8,46 tỷ đồng, doanh nghiệp đạt tư nhân đạt 36,95 tỷ đồng, công ty trách nhiệm hữu hạn đạt 129,34 tỷ đồng, công ty cổ phần đạt 30,83 tỷ đồng, Hộ cá thể đạt 95,42 tỷ đồng [42, tr.2]
Cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tỷ trọng công nghiệp-Xây dựng chiếm 48,56%, Thương mại-Dịch vụ chiếm 41,59 %, Nông nghiệp-thuỷ sản chiếm 9,85% Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (13,3%/năm), đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 28 triệu đồng [74, tr.1] Công tác xây dựng nông thôn mới được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, Năm 2015 toàn huyện có 15/15 xã đạt chuẩn, là huyện đầu tiên của thành phố Hà Nội hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới
Trang 3225
Với lợi thế khí hậu ôn hoà, diện tích đất bồi phù sa, người dân có truyền thống sản xuất nông nghiệp với trình độ thâm canh cao Công tác quy hoạch được triển khai thực hiện, xây dựng được các khu trồng rau sạch an toàn, các vùng chuyên canh cây ăn quả như vùng sản xuất lúa chất lượng cao Đan Phương, Song Phượng; vùng sản xuất rau Phương Đình, Song Phượng, Đan Phượng; vùng trồng ngô ngọt Song Phượng, Trung Châu
Trong những năm gần đây, cùng với việc quy hoạch mở rộng các khu sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề sản xuất các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp tăng nhanh, tỷ lệ lao động chuyển sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại – dịch vụ tăng nhanh (ước tính mỗi năm tăng 1 – 1,5%) Chất lượng lao động nhìn chung có trình độ văn hóa cao, có khả năng tiếp thu và vận dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường
Huyện đang trong quá trình đô thị hóa nhanh, môi trường đầu tư thuận lợi cùng với sự năng động, sáng tạo của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các ban, ngành đoàn thể các cấp và sự đồng thuận cao trong nhân dân Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, sáng tạo của Huyện ủy, sự giám sát của Hội đồng nhân dân, sự tập trung điều hành sáng tạo, dứt điểm, hiệu quả của chính quyền và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị các cấp, do đó đã hoàn thành các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng mà nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp đề ra trong đó, một trong những kết quả quan trọng đó là việc xây dựng nông thôn mới Huyện Đan Phượng ở gần nội thành Hà Nội và các khu công nghiệp, đây là thị trường rộng lớn cho các sản phẩm hàng hóa của Đan Phượng, từ các sản phẩm lương thực, rau quả, gia súc, gia cầm đến các sản phẩm công nghiệp, làng nghề được tiêu thụ với số lượng lớn ở nội thành Cùng với sự phát triển của Thủ Đô, nhu cầu về sản phẩm nông sản ngày càng lớn, thị trường tiêu thụ hàng hóa của huyện sẽ được mở rộng đồng thời Đan Phượng sẽ là cơ sở gia công các mặt hàng cho các xí nghiệp của thủ đô Thêm vào đó, Đan Phương có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng như: làng nghề chế biến lâm sản Liên Trung; nghề mộc xã Liên Hà; chế biến thực phẩm giò chả xã Tân Hội; nấu rượu, làm đậu xã Hồng
Trang 33là vấn đề ô nhiễm môi trường ở các làng nghề Hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật chưa đồng bộ, chậm được hướng dẫn, bổ sung, sửa đổi như chính sách đầu tư, chính sách đất đai, giải phóng mặt bằng đã ảnh hưởng đến việc huy động nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới Cơ chế chính sách cho phát triển nông nghiệp chậm đổi mới chưa có sức thu hút đầu tư của xã hội và nhà nước Một số cơ chế, chính sách, pháp luật chưa đồng bộ, chậm được hướng dẫn, sửa đổi Quy hoạch phát triển nông nghiệp chậm, thiếu ổn định, đầu tư cho nông nghiệp thấp Đa số người dân nông thôn vẫn còn khó khăn về vốn đầu tư phát triển nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, chưa mạnh dạn xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn và phát triển mạnh các ngành phi nông nghiệp để tạo việc làm và nguồn thu nhập Những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội là cơ sở quan trọng quyết định đến quá trình xây dựng nông thôn mới của huyện Đan Phượng Những thuận lợi trên là động lực góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới của huyện
Trang 3427
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu những lý luận chung về hệ thống chính trị, hệ thống chính trị cơ sở Từ đó có thể nhận xét về hệ thống chính trị nói chung về hệ thống chính chính trị Việt Nam nói riêng, là một hệ thống cấu trúc, một chỉnh thể thống nhất về mặt
tổ chức và hành động, có quan hệ mật thiết với nhau, tạo sự đồng thuận thống nhất từ trên xuống dưới, tạo ra sức mạnh đoàn kết dân tộc góp phần ổn định chính trị, bảo vệ độc lập dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước Bởi lẽ, hệ thống chính trị nước ta là tính thống nhất cao dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Hệ thống chính trị nước ta không phải là hệ thống của các thiết chế đối lập nhau về lợi ích Đảng là một thành viên của hệ thống đó nhưng Đảng giữ vai trò lãnh đạo Sự tác động trực tiếp, mạnh mẽ và nhiều chiều của các yếu tố kinh tế - xã hội đến kiến trúc thượng tầng chính trị là một sự tác động mang tính quy luật, có thể nhận thấy rõ rằng trong hệ thống chính trị Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội là sự thống nhất giữa hai mặt chính trị và xã hội, đồng thời đóng vai trò vừa là trung tâm đoàn kết, tập hợp đông đảo các lực lượng quần chúng nhân dân, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các thành viên vừa thực hiện vai trò nền tảng chính trị của chính quyền nhân dân, tổ chức động viên nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Đảng
và Nhà nước Điều này có ý nghĩa quan trọng, bởi nó cho thấy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội đã tạo cơ sở khách quan cho các hoạt động tham gia hay phản hồi của các tổ chức này đến hệ thống chính trị: Đảng và Nhà nước
Trong điều kiện hiện nay, hệ thống chính trị tác động đến xã hội trên cơ sở đảm bảo sự định hướng và dẫn dắt, điều hành sự phát triển của cả xã hội Vì vậy, mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội là nền tảng cơ bản cho việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đảm bảo sức mạnh thống nhất từ trên xuống dưới, phát huy dân chủ rộng rãi trong nhân dân Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị nếu chặt chẽ Đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng, Chính quyền có hiện tượng suy thoái đạo đức, năng lực quản lý kém, vi phạm dân chủ thì ở nơi đó sẽ xảy ra nhiều tiêu cực, không thể huy động được sức mạnh của nhân dân, dẫn đến các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trì trệ
Trang 3528
Đây là những nền tảng cơ bản nhất để nghiên cứu về quá trình hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở huyện Đan Phượng, từ đó thấy được những mâu thuẫn, bất cập, những hạn chế còn tồn tại trong quá trình hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở
ở huyện để đề ra những giải pháp, phương hướng cụ thể, xác thực góp phần ngày càng hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở ở Huyện Đan Phượng nói riêng và hệ thống chính trị Việt Nam nói chung
Trang 3629
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ Ở
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 2.1 Hoạt động của Đảng bộ cơ sở
Huyện Đan Phượng có 16 đơn vị hành chính, gồm có 15 xã và 01thị trấn Theo số liệu năm 2014 toàn huyện có 49 tổ chức cơ sở Đảng, trong đó có 16 Đảng bộ xã/thị trấn, 07 đảng bộ cơ quan, 26 chi bộ trực thuộc, 216 chi bộ trực thuộc Đảng ủy(trong đó
có 123 chi bộ thôn, cụm, khu phố) với hơn 5.517 đảng viên [34, tr.1] Riêng đối với 16 xã/thị trấn có 08 đồng chí đảng viên là nữ giữ các chức vụ quan trọng, trong đó có 02 đồng chí là Bí thư và 01 đồng chí là Phó bí thư Đảng ủy xã, 02 đồng chí là Phó chủ tịch HĐND, 01 đồng chí là chủ tịch UBND, 02 đồng chí là Phó chủ tịch UBND Đảng viên
nữ chiếm khoảng 38% tổng số đảng viên, đảng viên là giáo dân chiếm khoảng 1,4% (78 đảng viên)
Đảng bộ cơ sở (gọi tắt là Đảng ủy) hay còn gọi là Ban Chấp hành đảng bộ cơ sở,
do Đại hội đảng bộ bầu ra, là cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng bộ giữa hai kỳ đại hội, đứng đầu là Bí thư Đảng ủy, phải là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam Có nhiệm
vụ giám sát các chi bộ cơ sở và đảng viên trong việc thi hành các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy cấp trên, đồng thời lãnh chỉ đạo việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết, quyết định cấp trên và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; giới thiệu nhân
sự của Đảng vào các vị trí của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã/thị trấn; chuẩn bị nội dung giữa hai kỳ họp Đại hội Đảng bộ; quyết định số lượng đại biểu tham
dự đại hội Đảng bộ huyện
Trong nhiều năm qua, Đảng bộ cơ sở luôn phát huy rất tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ cấp trên, cũng như công tác lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương Đảng ủy 16 xã/thị trấn đã trực tiếp ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội như: nghị quyết về vận động toàn dân chung sức tham gia xây dựng nông thôn mới, nghị quyết về phát triển kinh tế hộ gia đình trong chăn nuôi, nghị quyết về xây dựng mô hình chuyên canh cây
Trang 3730
ăn quả, sản xuất rau an toàn, chỉ thị về thực hiện chỉnh trang hạ tầng thôn phố văn hóa xanh-sạch-đẹp, nghị quyết quán triệt việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới việc tang
Nhận thấy tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên, những năm qua Ban Thường vụ Đảng ủy các xã/thị trấn thường xuyên chỉ đạo các tới các chi bộ làm tốt công tác phát triển đảng viên cả về số lượng và chất lượng, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố khóa XIX đã đề ra, coi đây là một trong những chỉ tiêu để đánh giá, xếp loại tổ chức đảng hằng năm
Với những việc làm có tính thường xuyên và mang lại hiệu quả thiết thực Trong công tác tạo nguồn phát triển đảng viên, nhiều đảng bộ cơ sở đã rà soát chặt chẽ và có
sự theo dõi, đánh giá, lựa chọn những quần chúng tiêu biểu, cử đi học lớp cảm tình Đảng Một số Đảng bộ cơ sở trực tiếp chỉ đạo các đoàn thể cùng thực hiện có hiệu quả hoạt động, phát động và tổ chức tốt các phong trào thi đua để lựa chọn, bổ sung nguồn phát triển đảng viên Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ của đội ngũ cán bộ, Đảng bộ cơ sở xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, đặc biệt là chú trọng phát triển cán bộ trẻ, cán bộ nữ Việc đánh giá được các cấp Ủy Đảng tiến hành một cách khách quan, trung thực, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu tuyệt đối không bổ nhiệm cán bộ kém về đạo đức và năng lực, không bổ nhiệm dựa trên thân thế gia đình Kịp thời thay thế cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín giảm phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp chạy bằng cấp, chạy huân chương Tăng cường công tác giáo dục, quản lý cán bộ
Hàng năm, Đảng bộ cơ sở đều có kế hoạch bồi dưỡng kết nạp đảng viên mới gắn với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng Đồng thời, quán triệt tư tưởng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy mạnh công tác phát triển kết nạp đảng viên mới ở cơ sở, cử học viên tham gia các lớp
Trang 3831
đảng viên mới của huyện, đồng thời theo dõi công tác thi đua khen thưởng, tổ chức trao huy hiệu đảng cho các đồng chí đủ năm, giao chỉ tiêu thi đua phấn đấu đảng bộ, chi bộ, đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Nhờ đó số lượng đảng viên được kết nạp tăng lên từng năm, năm 2010 số lượng đảng viên trong toàn huyện là 4.695 đảng viên Năm
2011, kết nạp được 162 đảng viên, đạt 101% kế hoạch giao, tiếp nhận sinh hoạt cho 61 đảng viên, nâng tổng số đảng viên trong toàn huyện lên 4.890 đồng chí, trao huy hiệu Đảng cho 214 đồng chí đảng viên, giới thiệu 121 quần chúng ưu tú tham gia lớp tìm hiểu về Đảng [33, tr.13] Năm 2012 kết nạp được 128 đảng viên mới, nâng tổng số đảng viên toàn huyện lên 5011 đảng viên Năm 2013 kết nạp được 212 đảng viên mới, nâng tổng số đảng viên toàn huyện lên 5.354 đảng viên[34, tr.1] 4 tháng đầu năm 2015 kết nạp được 58 đảng viên mới, trao huy hiệu Đảng cho 75 đồng chí Số đảng viên tốt nghiệp trung học cơ sở là 15%, đảng viên tốt nghiệp Trung học phổ thông trở lên chiếm 82.7%, trình độ đại học sau đại học chiếm 26,3% (bao gồm cả tại chức và chính quy), 80% đảng viên là đoàn viên ĐTNCSHCM[42, tr.9] Chất lượng đảng viên được nâng lên rõ rệt, nhất là về trình độ học vấn, số đảng viên đã qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ chiếm gần 60%, nhất là số có trình độ trung học chuyên nghiệp và sau đại học tăng Trình độ lý luận của đội ngũ đảng viên tuy có tăng lên về số lượng song chất lượng ssvẫn còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu thực tế Cấp ủy cơ sở tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên, quán triệt việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của đảng bộ cấp trên về lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế của địa phương Đan Phượng vốn là huyện nông thôn, công tác phát triển đảng viên và công tác cán bộ còn gặp nhiều khó khăn Hiện nay có không ít bạn trẻ có những nhâ ̣n thức chưa đúng đắn khi đ ứng vào hàng ngũ của Đảng, số tuổi kết nạp vào đảng của đảng viên tăng lên, dưới 30 tuổi chỉ chiếm khoảng gần 40% Một số cơ sở thiếu nguồn để phát triển, nhiều chi bộ có những năm không kết nạp được đảng viên nào
Nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ tại thôn cụm, tổ dân phố, Đảng ủy xã/thị trấn trực tiếp xây dựng quy chế sinh hoạt hàng tháng Ủy ban kiểm tra của Đảng tăng cường nắm bắt tình hình thực hiện của chi bộ, đảng viên ở cơ sở thông qua việc kiểm tra, giám sát thường xuyên, đột xuất nhằm kịp thời ngăn chặn các dấu hiệu vi
Trang 3932
phạm Tập trung giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân liên quan đến chi bộ, đảng viên tránh để xảy ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến
uy tín của toàn đảng bộ Việc thực hiện chế độ sinh hoạt hàng tháng, quý được đảng bộ
cơ sở thực hiện một các thường xuyên, đều đặn từ ngày 03 – 05 hàng tháng, ngoài ra các đảng bộ cơ sơ cũng tiến hành các cuộc họp đột xuất khi có công việc gấp triển khai theo kế hoạch của đảng ủy cấp trên
Việc nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng được coi là yếu tố quan trọng trong công tác xây dựng đảng ở cơ sở, điều này được Đảng bộ các xã/thị trấn đặc biệt chú trọng và thực hiện nghiêm Đến nay, trong sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ luôn bám sát và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên; phát huy tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Đặc biệt, các cấp uỷ, chi bộ đều tích cực đổi mới chương trình, nội dung sinh hoạt Đảng gắn với thực hiện có kết quả Nghị quyết T.Ư 4 và Chỉ thị 05 của Bộ chính trị về đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, làm cho nội dung sinh hoạt chi bộ phong phú, thiết thực ” Để các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của Thành uỷ về công tác xây dựng Đảng đi sâu vào cuộc sống, Huyện uỷ Đan Phượng đã chủ động quán triệt, học tập tới đông đảo cán bộ, đảng viên về những nội dung liên quan Đội ngũ báo cáo viên cấp huyện từng bước kiện toàn, đáp ứng yêu cầu công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay Thông qua hoạt động của mình, đội ngũ báo cáo viên thường xuyên theo dõi nắm bắt kịp thời tâm trạng xã hội, phản ánh đúng diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để kiến nghị cấp uỷ, chính quyền, kịp thời giải quyết, không để điểm nóng về diễn biến tư tưởng trong nội bộ Đảng và trong nhân dân
Tại các chi trực thuộc Đảng bộ cơ sở quán triệt việc mở rộng dân chủ trong sinh hoạt, phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, coi đó
là sức mạnh trong sinh hoạt đảng và xây dựng đảng vững mạnh Thông qua việc nâng cao chất lượng sinh hoạt ở chi, đảng bộ, trách nhiệm nghĩa vụ, quyền lợi của đảng viên không ngừng được khẳng định Qua đó, trong các buổi sinh hoạt ở chi đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh vấn đề theo dõi phát hiện, bồi dưỡng, kết nạp đảng viên mới Chú
Trang 40ủy, bí thư chi bộ chuẩn bị nội dung, chương trình, thời gian và thông báo trước cho đảng viên trong chi bộ, nội dung sinh hoạt phong phú
Đa số các chi bộ đảng đều duy trì tốt chế độ thông tin báo cáo giữa cấp ủy và chi
bộ Một số Đảng ủy còn ban hành công văn hướng dẫn nội dung sinh hoạt riêng đối với những vùng đặc thù có tôn giáo sinh sống
Đảng bộ cơ sở cũng rất coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên Mỗi đồng chí đảng viên luôn xác định rõ tinh thần trách nhiệm được giao,
có ý thức hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong khi thực thi nhiệm vụ
Công tác xây dựng Đảng về nhiều mặt tuy có nhiều chuyển biến tích cực, công tác phát triển đảng viên đã mang lại hiệu quả hơn, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng nâng lên, các chi bộ đã duy trì chế độ sinh hoạt định kỳ theo Điều lệ Đảng quy định, chất lượng sinh hoạt của nhiều chi bộ ngày càng tốt hơn, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng Một số chi bộ chưa thực hiện nghiêm túc nề nếp sinh hoạt, nội dung và hình thức sinh hoạt còn chưa phong phú, chưa thực hiện tốt vai trò là nơi lãnh đạo, giáo dục, quản lý, giám sát và rèn luyện đội ngũ đảng viên Nhiều nơi, vì không có thời tham gia sinh hoạt đảng viên đã xin rút hoặc tự ý bỏ sinh hoạt chi bộ
Nhìn chung các Đảng bộ ở cơ sở thực hiện tốt việc quán triệt và triển khai chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ cấp trên, công tác phát triển đảng viên ngày càng được quan tâm chú trọng vì vậy số lượng đảng viên cũng tăng lên theo từng năm Duy trì chế độ sinh hoạt Đảng thường xuyên theo định kỳ, đúng quy định Tính đến cuối năm 2015,