1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mô hình thí điểm cải cách kinh tế ở Trung Quốc – Nghiên cứu trường hợp các đặc khu kinh tế

130 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNSau hơn hai năm thưc hiện nghiêm túc và khẩn trương chương trình cao học Châu Á học, Khoa Đông Phương, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, luận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ QUỲNH THÚY

MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM CẢI CÁCH KINH TẾ

Ở TRUNG QUỐC - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

CÁC ĐẶC KHU KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Châu Á học

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ QUỲNH THÚY

MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM CẢI CÁCH KINH TẾ

Ở TRUNG QUỐC - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu luận văn là hoàn toàn trung thực Luận văn

có kế thừa các công trình nghiên cứu của người đi trước và có bổ sung của những tư liệu, số liệu cập nhật

Học viên

Nguyễn Thị Quỳnh Thúy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau hơn hai năm thưc hiện nghiêm túc và khẩn trương chương trình cao học Châu Á học, Khoa Đông Phương, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, luận văn cao học với đề tài “Mô hình thí điểm cải cách kinh tế ở Trung Quốc – Nghiên cứu trường hợp các đặc khu kinh tế” đã được hoàn thành với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân cùng với

sự giúp đỡ của các thầy cô giáo

Để hoàn thành luận văn cao học này, trước hết, tôi xin gửi cảm ơn chân thành đến cơ sở đào tạo , Khoa Đông Phương, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; các thầy cô giáo giảng dạy các môn chuyên đề để cho tôi có được kiến thức ngày càng toàn diện và sâu sắc về các lĩnh vực có liên quan đến đề tài cũng như nghiên cứu Trung Quốc học Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến TS Phạm Sỹ Thành, người hướng dẫn khoa học cho tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, xong luận văn mới là kết quả nghiên cứu bước đầu, nên không tránh khỏi những hạn chế về nhận thức Tôi mong nhận được sự góp ý của thầy cô, bạn bè để có thể hoàn thiện nghiên cứu hơn nữa

Hà Nội, ngày 12/12/2013

Học viên

Nguyễn Thị Quỳnh Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ VÀ

THỰC TIỄN CHUYỂN ĐỔI TẠI CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

THUỘC HỆ THỐNG CỔ ĐIỂN

1.1 Lý thuyết chung về phương thức chuyển đổi kinh tế

1.1.1 Mục tiêu và giới hạn của chuyển đổi kinh tế

1.1.2 Tốc độ và trình tự của chuyển đổi kinh tế

1.2 So sánh lợi ích – chi phí của hai phương thức chuyển đổi kinh tế

1.2.1 Bản chất của chuyển đổi kinh tế

1.2.2 Các dạng chi phí chuyển đổi

1.3 Lựa chọn các dạng thức chuyển đổi và chi phí của từng dạng thức

1.3.1 Xây dựng mô hình các dạng thức chuyển đổi

1.3.2 Lựa chọn phương thức chuyển đổi với những điều kiện khác nhau

1.4 Chuyển đổi kinh tế ở Nga và Trung-Đông Âu

1.4.1 Khái quát quá trình chuyển đổi kinh tế ở Trung- Đông Âu và Nga

1.4.2 Chuyển đổi kinh tế theo liệu pháp sốc tại Nga và Trung – Đông

Âu: Trường hợp cải cách chế độ sở hữu

Tiểu kết chương 1

CHƯƠNG 2 CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ THEO MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM CẢI

CÁCH Ở TRUNG QUỐC (KỂ TỪ NĂM 1978)

2.1 Một số lĩnh vực từng tiến hành cải cách theo mô hình thí điểm tại

Trung Quốc kể từ năm 1978

2.1.1 Chế độ khoán trách nhiệm kinh doanh trong sản xuất nông nghiệp

2.1.2 Thí điểm thành lập đặc khu kinh tế (special economic zone)

2.1.3 Thí điểm cải cách doanh nghiệp nhà nước

Trang 6

2.1.4 Thí điểm cải cách thể chế quản lí ngoại tệ

2.1.5 Thí điểm về mở cửa đối ngoại

2.2 Những đặc trưng của quá trình chuyển đổi theo mô hình thí điểm cải

cách tại Trung Quốc

2.2.1 Giải quyết những vấn đề ngoài thể chế tạo nguồn lực cải cách các

lnxh vực trong thể chế cũ

2.2.2 Các cải cách mang tính cục bộ lớn

2.3 Lý giải về việc Trung Quốc lựa chọn chuyển đổi theo mô hình thí

điểm cải cách từ góc độ Kinh tế học Chính trị

2.3.1 Hai dạng thức “phản hồi” của cấp trên trong “hệ thống Đảng –

Nhà nước” (Party – State System)

2.3.2 Kết cấu quyền lực chính trị của Trung Quốc và tác động đến lựa

chọn phương thức chuyển đổi

Tiểu kết chương 2

CHƯƠNG 3 ĐẶC TRƯNG THÍ ĐIỂM CẢI CÁCH THÔNG QUA

NGHIÊN CỨU VỀ CÁC ĐẶC KHU KINH TẾ (ĐKKT)

3.1 Quá trình thành lập các ĐKKT

3.1.1 Đặc khu kinh tế trong chiến lược cải cách kinh tế của Trung Quốc

3.1.2 Ý nghĩa xây dựng ĐKKT của Trung Quốc

3.1.3 Quá trình xây dựng các ĐKKT

3.2.Tính chất thí điểm chính sách trong sự phát triển của các đặc khu kinh tế

3.2.1 Chính sách Quản lý nhà nước đối với ĐKKT

3.2.2 Các chính sách ưu đãi về thuế

3.2.3 Chính sách về lao động và tiền lương

3.2.4 Các chính sách ưu đãi về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, ngoại hối

Trang 7

nhược điểm của mô hình thí điểm

3.3.2 Một số vấn đề tồn tại trong quá trình hình thành và phát triển các ĐKKT

3.4 Ưu – nhược điểm của chuyển đổi theo phương thức thí điểm cải cách

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ khi chính thức tiến hành cải cách (năm 1978) đến nay, kinh tế Trung Quốc đã có những chuyển biến làm thế giới phải khâm phục Trong giai đoạn 1978 – 2007, Trung Quốc duy trì được mức tăng trưởng GDP bình quân 9,7%/năm, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình 3% của thế giới Trong suốt chiều dài từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, mức GDP bình quân của Trung Quốc hầu như không có sự chuyển biến đáng kể nào Trong tiến trình

ấy, xuất hiện hai mốc thời gian mà GDP bình quân xuất hiện quỹ tích khác so với thời gian trước Đó là khoảng năm 1850 và 1978 Sau cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất (1840), Trung Quốc từ chỗ chiếm 32,88% trong tổng GDP toàn thế giới đã đánh mất vị trí của mình, và kéo dài đà suy thoái trầm trọng đó cho đến năm 1973 Quốc gia này chỉ khởi sắc sau khi tiến hành chuyển đổi dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình vào năm 1978 Từ mốc thời gian này trở đi, quỹ tích phát triển của đường GDP bình quân đã thay đổi với một tốc độ đáng kinh ngạc Có thể nói không quá rằng về tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, những gì mà Trung Quốc đạt được trong giai đoạn hơn 30 năm qua bằng 1000 năm trước đó của quốc gia này cộng lại Bất kể sự trỗi dậy của Trung Quốc được coi như là một cơ hội hay là sự “uy hiếp” đối với thế giới thì chúng ta đều phải thừa nhận rằng “con rồng Trung Hoa” đã tỉnh giấc

Lý giải về nguyên nhân thành công của quá trình chuyển đổi kinh tế tại Trung Quốc từ năm 1978 đến nay, các nghiên cứu thường tập trung vào 3 khía cạnh chính: (i) sự tái phân phối quyền tài sản; (ii) xây dựng thể chế kinh tế thị trường và (iii) tận dụng vai trò của thị trường bên ngoài – quá trình hội nhập

Trang 9

Nguyên nhân quan trọng đầu tiên đó là cải cách đã tiến hành phân định lại quyền tài sản hướng đến chủ thể quyền tài sản cụ thể Điều này tạo ra động lực phát triển vô cùng mạnh mẽ Trước khi tiến hành chuyển đổi năm 1978, chế độ quyền tài sản phổ biến nhất ở Trung Quốc là chế độ quyền tài sản công hữu với quyền sở hữu (ownership) nằm trong tay nhà nước, và chủ sở hữu danh nghĩa là “toàn dân” Ở nông thôn, chế độ sở hữu tập thế với sự hiện diện của các hợp tác xã được coi là một hình thức “chuẩn – sở hữu nhà nước” và là hình thức sở hữu hợp pháp duy nhất trong sản xuất nông nghiệp Việc coi kinh tế xã hội chủ nghĩa = địa vị thống trị của chế độ quốc hữu + kinh tế kế hoạch [51, 59] khiến Trung Quốc luôn phải đối diện với những khó khăn lớn bởi bản thân chế độ quyền tài sản công hữu tồn tại nhiều hạn chế rõ rệt

Chế độ quyền tài sản công hữu mang đặc tính rõ nét của một chế độ quyền tài sản tàn khuyết (残缺产权制度) Biểu hiện của đặc tính này là giữa quyền tài sản được ghi nhận và bảo vệ bởi luật pháp (hoặc luật tục) với quyền tài sản thực thi trong thực tế luôn tồn tại sự bất cân xứng Barzel [9] chỉ

ra rằng việc phân định/giới định quyền sở hữu về một tài sản nào đó trên khía cạnh pháp luật luôn dễ dàng và có chi phí thấp hơn rất nhiều so với việc thực thi nó trong thực tế Bởi lẽ bất kể quyền tài sản được phân định như thế nào (hình thái cực đoan - chế độ công hữu, hay ở một thái cực khác - chế độ tư hữu) thì trong hoạt động kinh tế vẫn luôn tồn tại một “trường/miền công cộng” (public domain) Nghĩa là, chi phí để thực hiện quyền sở hữu quá lớn khiến chủ thể quyền tài sản khó lòng đảm bảo được khả năng ngăn cản, “loại trừ” người khác sử dụng Barzel [9] gọi quyền lợi của cá nhân xác lập được ở trong “trường/miền công cộng” này là “cướp đoạt phúc lợi” (walfare capture) Việc tài sản bị sử dụng “miễn phí” như sẽ gây ra những tổn thất phúc lợi hoặc làm “hao tán tiền tô” (rent dissipation) Mà hậu quả trực tiếp dễ nhận thấy nhất là khả năng làm cạn kiệt các nguồn lực mang tính công cộng

Trang 10

Bên cạnh đó, sự tồn tại của một chế độ quyền tài sản công hữu mang tính tàn khuyết còn khiến cho cơ chế khích lệ (incentive regime) không phát huy tác dụng khi chế độ quyền tài sản này chỉ tạo điều kiện để các “phi chủ thể sở hữu” được khuyến khích sử dụng miễn phí nhưng lại không phải chịu trách nhiệm gì với hành vi của mình Nhìn lại sự phát triển của công xã nhân dân và các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở nông thôn hay các xí nghiệp quốc doanh (sau này là doanh nghiệp nhà nước) ở thành thị có thể thấy rõ những tác hại này của chế độ quyền tài sản công hữu Khi tất cả tài sản là của chung, làm nhiều làm ít đều hưởng đãi ngộ như nhau, kinh doanh lỗ hay lãi đều không ảnh hưởng đến thu nhập của cá nhân thì giám đốc xí nghiệp, công nhân viên chức trong nhà máy và nông dân trong hợp tác xã đều chỉ làm việc “cầm chừng” cho đủ chỉ tiêu và vừa đủ hoàn thành kế hoạch được giao Nhưng khi thực hiện những cải cách về chế độ sở hữu, thành tích của kinh tế nông nghiệp và của các doanh nghiệp nhà nước (một thời gian đầu) đã thay đổi hoàn toàn hoặc khởi sắc hơn rất nhiều

Nguyên nhân thứ hai là xây dựng và vận dụng thể chế kinh tế thị trường Xung quanh vấn đề vì sao thể chế kinh tế kế hoạch ở các nước xã hội chủ nghĩa lại vận hành kém hiệu quả, các nhà kinh tế học nổi tiếng thế giới đã triển khai nhiều đợt tranh luận sôi nổi [51] Trong đó, có thể kể đến những phê phán xuất sắc của L von Misses (1881 - 1973), F von Hayek (1899 - 1992) hay những phản biện của các nhà kinh tế bênh vực cho kinh tế kế hoạch như M Dobb (1900 - 1976), M Taylor (1855 - 1932), P Lerner (1903 - 1982) và O Lange (1904 - 1965) Những tranh luận của các nhà kinh tế nêu trên chủ yếu xoay quanh vấn đề chính phủ có thể thay thế thị trường để cung cấp tín hiệu quan trọng bậc nhất (là giá cả) trong việc điều phối và phân bổ các nguồn lực hay không? Kinh tế thị trường có thể làm tăng lượng của cải xã hội Lí thuyết kinh tế học Tân cổ điển chỉ ra rằng việc chuyển từ định giá theo

kế hoạch sang thị trường định giá khiến cho mức thặng dư của người tiêu

Trang 11

dùng và người sản xuất tăng lên Do giá kế hoạch tương đối cố định và phản ứng kém linh hoạt với những dịch chuyển khỏi điểm cân bằng của quan hệ cung cầu, nên giá kế hoạch thường chệch khỏi mức “giá cân bằng” của thị trường Điều này khiến cho sản xuất trong nền kinh tế thị trường nếu không rơi vào tình trạng thiếu hụt thì cũng bị dư thừa quá mức, tất yếu sẽ gây ra những tổn thất thặng dư cho người sản xuất và tiêu dùng.

Cách giải thích của Kinh tế học Hợp đồng đơn giản hơn J Buchanan chỉ

ra rằng, tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá hiệu quả là tính nhất trí cao của sự đồng thuận “Đồng thuận” có nghĩa là những bên tham gia giao dịch sau khi trải qua sự cân nhắc về chi phí – lợi ích, cho rằng một giao dịch thực hiện sắp xếp/phân bổ nguồn lực là có lợi cho bản thân, hoặc ít nhất là vô hại “Không đồng thuận” vì có nghĩa là các bên hoặc một bên tham gia giao dịch cho rằng giao dịch không đem lại ích lợi cho họ Điều cần chú ỳ là trong giao dịch ấy, các chủ thể giao dịch là những chủ thể bình đẳng, có quyền tự quyết, do vậy, giao dịch về bản chất là một quá trình trao đổi tự do và tự nguyện Kinh tế học

dễ dàng chứng minh được xét từ góc độ xã hội, giao dịch mà trong đó ít nhất một bên không “đồng thuận” có tổng hiệu dụng thấp hơn so với giao dịch có

sự đồng thuận của tất cả các bên Trong một giao dịch tự do trên thị trường, khi một bên nhận thấy giao dịch cho rằng giao dịch không làm tăng "độ thỏa dụng" (phúc lợi) của mình hoặc sẽ làm mình bị thiệt hại họ có thể sẽ rút lui

Sự rút lui hàm ý các giao dịch tự do trên thị trường cho phép chủ thể giao dịch tránh được các tổn thất không cần thiết,xét từ góc độ kinh tế, khi một chủ thể rút lui khỏi giao dịch không hiệu quả họ đã hạn chế việc các nguồn lực bị phân bổ lãng phí, kém hiệu quả Nền kinh tế kế hoạch với cách quản lí thông qua cơ chế mệnh lệnh hành chính luôn xuất hiện tình trạng ít nhất một bên tham gia giao dịch không đồng thuận Do vậy, việc thực hiện chuyển đổi từ

cơ chế điều phối mệnh lệnh sang cơ chế điều phối đàm phán tự do khiến hiệu

Trang 12

quả của giao dịch được cải thiện rõ rệt, qua đó nâng cao tổng lượng của cải xã hội.

Những nỗ lực cải cách theo hướng thị trường hóa trước hết tập trung vào cải cách giá cả Trong đó, một kinh nghiệm đáng lưu ý là việc thực hiện “chế

độ hai giá” (价格双轨制) – giá do nhà nước qui định (giá kế hoạch) và giá thị trường Trung Quốc trước cải cách hầu như không tồn tại thị trường với ý nghĩa thực sự của nó Các hàng hóa tiêu dùng và tư liệu sản xuất đều được lưu thông theo chế độ phân phối Đến đầu thập niên 1980, sau khi các loại hình doanh nghiệp phi quốc hữu xuất hiện và đạt được sự phát triển mạnh, thể chế phân phối này không thể tiếp tục tồn tại lưu dài, nếu không các doanh nghiệp này sẽ không thể tiếp tục tồn tại và phát triển Trước tình hình đó, năm 1979, chính phủ Trung Quốc ban hành “Một số quyết định về việc mở rộng quyền

tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh”, cho phép doanh nghiệp tự mình tiêu thụ toàn bộ số sản phẩm “vượt kế hoạch” Tháng 1 năm 1985, Cục Vật giá quốc gia và Cục vật tư quốc gia ban hành văn bản

“Thông báo về việc buông luông giá đối với các sản phẩm công nghiệp mang tính tư liệu sản xuất vượt kế hoạch” Văn bản này cho phép các doanh nghiệp mua bán sản phẩm “ngoài kế hoạch” theo giá thị trường Đối với các doanh nghiệp nhà nước từ trước năm 1983 vẫn có quyền nhận vật tư theo kế hoạch nhà nước thì được tiếp tục mua số vật tư cần cho sản xuất theo giá nhà nước phân phối, dựa trên cơ số phân phối năm 1983 Số tư liệu sản xuất cần có nếu vượt quá cơ số năm 1983 thì phải mua lại theo giá thị trường Hiện nay, hầu hết các hàng hóa và tư liệu sản xuất ở Trung Quốc đều do thị trường định giá Nguyên nhân thứ ba, Trung Quốc đã tận dụng được các cơ hội từ quá trình hội nhập của mình Nhìn lại lịch sử phát triển của Trung Quốc và nhìn vào mức độ gắn kết của Trung Quốc với nền kinh tế thế giới hiện nay, chúng

ta hoàn toàn có cơ sở để tin rằng nếu quá trình cải cách không gắn liền với mở cửa thì rất có thể những thành tựu ngày hôm nay sẽ không còn ấn tượng như

Trang 13

những gì chúng ta đang chứng kiến Năm 1980, thời điểm mà Trung Quốc mới bắt đầu tiến hành quá trình chuyển đổi (transformation), quốc gia này chỉ chiếm hơn 2% tổng GDP thế giới và chưa đầy 2% tổng giá trị thương mại toàn cầu [8, 11-13] 30 năm sau, tỉ trọng GDP của quốc gia này đã chiếm khoảng 9% của toàn thế giới và cũng đóng góp khoảng 9% trong tổng mức thương mại toàn cầu Năm 2009, FDI vào Trung Quốc chiếm 7% lượng FDI toàn cầu trong khi con số này của năm 1980 chỉ là 1%, đồng thời lượng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc cũng tăng từ mức không đáng

kể (năm 2004) lên 4% toàn cầu (năm 2009) [8, 11-13]

Tuy nhiên, các nghiên cứu so sánh để tìm hiểu về nguyên nhân thành công của quá trình chuyển đổi kinh tế tại Trung Quốc chưa thực sự nhiều Đặc biệt, thiếu các nghiên cứu và nghiên cứu so sánh sau về quá trình chuyển đổi tại Trung Quốc:

(i) Nghiên cứu cách thức chuyển đổi của quốc gia này từ góc độ thuần túy lý thuyết kinh tế học;

(ii) So sánh từ góc độ thuần túy lí thuyết cách thức chuyển đổi của Trung Quốc với các cách thức của quốc gia Đông Âu, Nga v.v.;

(iii) Các nghiên cứu trường hợp về cách thức chuyển đổi, quá trình hoạch định chính sách chuyển đổi, điều kiện ban đầu của chuyển đổi, thiết lập các thể chế mới trong quá trình chuyển đổi v.v

Tầm quan trọng của việc nghiên cứu về cách thức chuyển đổi thể hiện ngày càng rõ nét sau khi “mô hình Trung Quốc” được nêu lên như một tương phản với “mô hình chuyển đổi shock” không chỉ về cách thức mà cả về kết quả Khi tiếng nói của Đồng thuận Washington ngày càng yếu và quan điểm về Đồng thuận Bắc Kinh ngày càng nổi bật, thậm chí có quan điểm cho rằng

mô hình Trung Quốc mới là điều mà các quốc gia chuyển đổi cần mô phỏng Tuy rằng các tranh luận về cách thức – hành vi – kết quả chuyển đổi vẫn tồn tại nhiều tranh luận nhưng có một điểm cần khẳng định là nghiên cứu về cách

Trang 14

thức chuyển đổi từ góc độ lí thuyết không chỉ có ý nghĩa trong quá khứ mà còn có ý nghĩa ở hiện tại bởi quá trình chuyển đổi – đối với nhiều quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam – vẫn chưa dừng lại.

Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu về quá trình chuyển đổi cũng như ý nghĩa của việc nghiên cứu này, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu về cách thức chuyển đổi tại Trung Quốc thông qua một mô hình đặc thù – mô hình thí điểm

cải cách Thông qua việc nghiên cứu mô hình này, tôi muốn làm rõ bản chất

chuyển đổi từng bước/phần/tiệm tiến của Trung Quốc Thông qua nghiên cứu

mô hình, tôi cũng muốn tìm hiểu về việc cách thức nào giúp Trung Quốc có thể chuyển đổi từng bước/phần/tiệm tiến như vậy

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cùng với quá trình chuyển đổi tại các nước xã hội chủ nghĩa thuộc hệ thống cổ điển ngày càng đi sâu, các kết quả của chuyển đổi ngày càng hiện rõ, mường tượng của mọi người về quá trình chuyển đổi kinh tế ngày càng chân thực hơn thì các nghiên cứu về kinh tế học chuyển đổi cũng ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm và chất vấn hơn Sự chất vấn diễn ra với các giả thiết nghiên cứu không còn phù hợp với thực tiễn chuyển đổi hoặc với chính bản thân quá trình chuyển đổi tại các quốc gia khác nhau

Trọng tâm nghiên cứu đợt thứ nhất về chuyển đổi chủ yếu là các nghiên cứu mang tính khuyến nghị chính sách Mục đích của các nghiên cứu này là tác động đến tầng lớp hoạch định chính sách nhằm từ đó tác động đến kết quả trên mọi phương diện của quá trình chuyển đổi Các nghiên cứu này phần lớn bắt nguồn từ nhu cầu trước mắt, một số thậm chí được tiến hành với tư cách là

“đơn đặt hàng” của các chính phủ Nhưng hứng thú với các dạng nghiên cứu này tại phương Tây cũng suy giảm chỉ sau vài năm Trái ngược với điều này, các nghiên cứu về chuyển đổi kể cả từ góc độ lý thuyết hay nghiên cứu thực chứng đều đã đạt được sự phát triển liên tục và lâu dài

Trang 15

Trung tâm nghiên cứu chính sách kinh tế châu Âu (CEPR) đã thành lập chương trình nghiên cứu Kinh tế học chuyển đổi ngoài các lĩnh vực nghiên cứu kinh tế truyền thống như kinh tế vĩ mô, kinh tế ngành, thương mại, chính sách công, tài chính v.v

J.E Stiglitz [45] trong tác phẩm “Chủ nghĩa xã hội đi về đâu – Lý thuyết và bằng chứng của chuyển đổi thể chế kinh tế” đã tiến hành so sánh về kết quả của quá trình chuyển đổi theo liệu pháp shock và tiệm tiến Trong đó, ông chú trọng phân tích nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Nga trong việc theo đuổi chuyển đổi theo liệu pháp shock Chẳng hạn, “hiểu sai về các khái niệm

cơ bản nhất của kinh tế thị trường”, tiếp thu một cách máy móc các lí thuyết của trường phái kinh tế tân cổ điển Mỹ Thứ hai, lầm lẫn phương thức và kết quả, chẳng hạn coi tư nhân hóa là mục đích cuối cùng của chuyển đổi chứ không phải là một công cụ của quá trình chuyển đổi Thứ ba, xuất hiện các vấn đề về mặt quyết sách khi làm theo các kiến nghị của các chuyên gia kinh tế Bên cạnh đó, Stiglitz cũng đề cập đến thành công của Trung Quốc trong việc thực hiện chuyển đổi từng phần, nhưng ông vẫn giữ thái độ hoài nghi với cái gọi là “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”

Dương Tiểu Khải trong nghiên cứu “Chuyển đổi kinh tế và chuyển đổi hiến pháp và chính trị” có quan điểm hoàn toàn trái ngược với Stiglitz [45], theo đó ông kịch liệt phê phán việc dùng “shock” và “tiệm tiến” để coi là cơ sở đánh giá thành công hay thất bại của chuyển đổi kinh tế tại Nga và Trung Quốc Dương Tiểu Khải cho rằng: chuyển đổi kinh tế chỉ là một bộ phận của quá trình chuyển đổi về chính trị và hiến pháp, những nhà kinh tế ủng hộ chuyển đổi “từng phần” là thiếu suy xét đến mặt hiến chính, do đó chỉ căn cứ vào hiệu quả kinh tế trước mắt để đánh giá thành bại của quá trình chuyển đổi Do đó, không thể dùng thành công của mô hình tiệm tiến tại Trung Quốc để phủ định thất bại của mô hình shock của Nga, muốn có đánh giá chính xác

Trang 16

nhất thì phải dựa vào xem xét biểu hiện của hai quốc gia – hai mô hình – trong dài hạn

Kolodko [43] trong cuốn sách “Từ shock đến trị liệu: kinh tế chính trị của các nước chuyển đổi hậu xã hội chủ nghĩa” cho rằng trong trong các lĩnh vực khác nhau, “shock” và “tiệm tiến” có các lựa chọn khác nhau (1) Về mặt tự do hóa kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô, phải phân tích cẩn thận về tình hình tiền tệ và tài chính, nếu mức độ kiểm soát kinh tế trước khi chuyển đổi tương đối lớn, khi chuyển đổi xuất hiện tình trạng tài chính không ổn định thì việc lựa chọn “shock” có thể đạt được tình trạng tự do hóa (2) Về chuyển đổi kết cấu và cải cách thể chế, bao gồm tư nhân hóa, kết cấu quản trị công ty thì phải áp dụng phương thức chuyển đổi tiệm tiến (3) Trong lĩnh vực tái cấu trúc cơ cấu vi mô của ngành, phải có các khoản đầu tư mới, phải đóng cửa nhà máy cũ, phải điều động lại các lao động và nâng cao sức cạnh tranh của ngành Trong lĩnh vực này có thể áp dụng chuyển đổi theo liệu pháp shock

K Janos [47] trong cuốn “Suy nghĩ về chuyển đổi của các quốc gia hậu

xã hội chủ nghĩa” đã tiến hành quy nạp về các xu thế đã diễn ra tại các quốc gia chuyển đổi, bao gồm: thị trường hóa, sự phát triển của khu vực tư nhân, tái xuất hiện sự mất cân bằng vĩ mô, sự phát triển của chính thể lập hiến, sự phát triển của chế độ dân chủ, định nghĩa lại các tổ chức dân sự, bất bình đẳng về phúc lợi v.v Mà những nhân tố tác động chủ yếu đến hướng đi của các xu thế này là năng lực xử lí của chính phủ, sức mạnh của phe đối lập với chính đảng chấp chính, khả năng chịu đựng hy sinh của nhân dân và các yếu tố bên ngoài quốc gia Kornai đặc biệt nhấn mạnh rằng, tại các quốc gia chuyển đổi, sự xuất hiện của các xu thế này vẫn còn tồn tại quá nhiều yếu tố bất định Leonid Polishchuk [48] trong bài viết “Sự tiến hóa của nhu cầu về thể chế trong các nền kinh tế chuyển đổi” kết hợp với thực tiễn chuyển đổi của Nga để nghiên cứu về việc thiết kế thể chế tại các nền kinh tế chuyển đổi Ông cho rằng, khi mới chuyển đổi, các tập đoàn tài phiệt và công nghiệp độc

Trang 17

quyền nhóm hoàn toàn không ủng hộ thậm chí chống đối lại việc thiết kế các thể chế nhằm bảo vệ quyền tài sản (property rights) Nhưng khi chuyển đổi tiến hành được một thời gian tương đối dài, đặc biệt sau khủng hoảng tài chính năm 1997, yêu cầu về một nền tài chính – kinh tế có độ minh bạch, ổn định và hiệu quả ngày càng lên cao, điều này khiến các chủ thể kinh tế dù muốn hay không cũng đều phải dần đưa các hoạt động của mình ra công khai Đồng nghĩa với việc các chủ thể này phải bỏ một nguồn lực để hỗ trợ cho việc xây dựng các thể chế đảm bảo cho sự vận hành của kinh tế thị trường như luật pháp, chính sách công v.v Tuy vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền là một cuộc thỏa thuận chính trị lâu dài.

David M.Kotz [38] trong cuốn sách “Cuộc cách mạng đến từ thượng tầng: Sự sụp đổ của Nga” đã cho rằng Trung Quốc thực hiện “chiến lược chuyển đổi do chính phủ chỉ đạo” tốt hơn nhiều so với “chiến lược chuyển đổi

do chủ nghĩa tự do mới định hướng” của Nga Nhưng đồng thời ông cũng cho rằng, chuyển đổi kinh tế Trung Quốc không thể tránh khỏi việc dẫn đến sự xuất hiện của tầng lớp tinh anh mới Nhóm tinh anh này không chỉ chạy theo lợi nhuận kinh tế mà còn theo đuổi quyền lực về chính trị, đồng thời cũng có thể đòi hỏi áp dụng các chính sách chuyển đổi của chủ nghĩa tự do mới Kotz [38] cũng cho rằng, việc Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001 ở một mức độ nhất định thể hiện việc từ bỏ một phần chiến lược chuyển đổi do chính phủ chủ đạo

Mark Knell và Christine Rider dựa trên lí thuyết của chủ nghĩa Keynes mới phê phán sự sùng bái mù quáng của phương thức cải cách shock vào thị trường tự do Họ cho rằng phương án chuyển đội thị trường hóa và tự do hóa

đã bỏ qua một sự thật rất quan trọng: quan hệ kinh tế giữa mọi người không chỉ là một dạng quan hệ trao đổi đơn thuần, mà còn là dạng quan hệ sản xuất phức tạp; mối quan hệ giữa kế hoạch và thị trường là quan hệ bổ sung chứ không phải là quan hệ loại trừ - thay thế; cơ chế giá cả không chỉ là một biện

Trang 18

pháp điều phối nguồn lực mà còn có chức năng tài chính, chức năng chiến lược và chức năng sản xuất; tư hữu hóa không nhất thiết sẽ tạo ra sự cải thiện

về hiệu suất sản xuất [18] A Amsden, J Kochaniwicz và L Taylor cho rằng bước quá độ sang chủ nghĩa tư bản cần có “bàn tay hữu hình” hơn “bàn tay vô hình” mà chủ nghĩa tự do mới đề xướng Sự thành công của kinh tế tư bản chủ nghĩa phụ thuộc vào các thể chế tạo được sự đầu tư trong thời gian dài cũng như có khả năng chịu đựng rủi ro, nhưng chỉ có nhà nước mới đủ năng

lực để đảm trách xây dựng những thể chế này [7] Theo họ, “chủ nghĩa tư

bản” mà Đông Âu xây dựng không giống với phương Tây bởi nó khuyết thiếu những thể chế hạt nhân đảm bảo cho sự tích lũy tư bản lâu dài

Peter Murrel cho rằng các cải cách shock coi toàn bộ xã hội là một dạng công cụ điều phối, phân bổ nguồn lực, do vậy nó thiết kế một thể chế phân bổ hoàn hảo với hi vọng đưa cải cách một bước đạt đến thành công, chuyển đổi từng phần thì coi xã hội là một công cụ “gia chế” thông tin, thông tin xã hội cần một quá trình tích lũy, bất kì phương án cải cách nào ban đầu cũng cho rằng đều phải dựa vào cơ sở là các thông tin của xã hội cũ, đối với cải cách,

những người thực thi nó chỉ có thể đi từng bước (P Murrel, 1994) Giáo sư

M Aoki cho rằng thể chế kinh tế là một hệ thống diễn tiến (tiến hóa) phức tạp, bên trong thể chế này có cơ chế tự tăng cường, giữa các thể chế khách nhau sẽ tồn tại tính bổ sung lẫn nhau, nếu tính bổ sung này càng lớn thì chi phí của cải cách càng cao [50] Khi tiến hành các cải cách đồng bộ với quy

mô lớn, cho dù phương hướng chung đã xác định rõ thì trong quá trình và kết quả chuyển đổi vẫn còn nhiều điều khó lường, trong quá trình định ra sự phát triển còn xuất hiện các tập đoàn lợi ích khác nhau, điều này gây ra nhiều khó khăn cho việc thúc đẩy cải cách, do vậy, phương thức chuyển đổi tiệm tiện có tính khả thi cao hơn cả [50] Gernot Grabber và David Stark cho rằng xét từ quan điểm tiến hóa, nếu không có tính đa dạng thì không có sự lựa chọn, sự biến đổi nhanh chóng của thể chế và tổ chức thường thường hi sinh hiệu suất

Trang 19

lâu dài Ngược lại, sự tồn tại của thể chế cũ, những va chạm, xung đột trong chuyển đổi sẽ giữ lại tính đa dạng của thể chế, điều này tạo ra không gian lựa chọn và xuất hiện rộng hơn cho các thể chế mới, từ đó thúc đẩy thể chế phát triển [14].

Buchanan chỉ ra rằng, sự vận hành có hiệu quả của thể chế thị trường dựa vào kết cấu thể chế có khả năng thúc đẩy giao dịch tự do và những cá nhân có thể thích ứng đồng thời hành động theo ý niệm thị trường Mà những kết cấu thể chế và cá nhân như nêu trên lại là kết quả của một thời kì lịch sử lâu dài, cách nghĩ cho rằng kinh tế thị trường có thể hình thành và phát huy tác dụng trong điều kiện không có lịch sử, không có kết cấu thể chế và ý niệm thị trường là một cách nghĩ hoàn toàn hoang tưởng [44]

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn Luận văn lấy “cách thức chuyển đổi” kinh tế làm đối tượng nghiên cứu chính Để làm rõ được đối tượng nghiên cứu này, luận văn tiến hành nghiên cứu về một mô hình đặc thù trong cách thức ấy, làm nên cách thức ấy – đó là “mô hình thí điểm cải cách”

Phạm vi nghiên cứu của luận văn Về phạm vi thời gian, luận văn có phạm vi nghiên cứu là từ năm 1978 – 2011 Về phạm vi không gian, luận văn nghiên cứu 4 đặc khu kinh tế của Trung Quốc đại lục

4 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn hướng đến thực hiện hai nhóm mục tiêu là mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể

Mục tiêu tổng quát bao gồm:

- Khái quát lại các lí thuyết liên quan đến chuyển đổi kinh tế

- Khái quát và xây dựng mô hình về hai dạng thức chuyển đổi kinh tế đã tồn tại trên thế giới,

- Từ góc độ lí thuyết, tìm ra và phân tích ưu – nhược điểm, của từng mô hình

Trang 20

Nhóm mục tiêu cụ thể bao gồm:

- Khái quát quá trình chuyển đổi của các quốc gia Trung – Đông Âu, Nga và Trung Quốc

- Sử dụng các lí thuyết kinh tế học hiện đại để làm rõ mô hình thí điểm cải cách của Trung Quốc có vị trí và ý nghĩa như thế nào trong quá trình chuyển đổi của quốc gia này

- Làm rõ ưu – nhược điểm của cách thức chuyển đổi kinh tế của Trung Quốc trước kia

- Thông qua nghiên cứu trường hợp các đặc khu kinh tế để gắn nghiên cứu lí thuyết với nghiên cứu trường hợp

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu này, luận văn sử dụng các lí thuyết của Kinh tế học thể chế mới như:

- Lý thuyết về quyền tài sản

Các lý thuyết của kinh tế học thông tin như:

- Lý thuyết ủy thác – đại diện

- Lý thuyết cơ chế khích lệ

Các lý thuyết của kinh tế học chuyển đổi về mục tiêu, mô hình, kết quả của chuyển đổi Đồng thời, các lý thuyết và công cụ phân tích của kinh tế học nói chung cũng được sử dụng nhằm phản ánh được bản chất của quá trình chuyển đổi kinh tế tại Trung Quốc

Các số liệu được sử dụng trong nghiên cứu là số liệu thứ cấp và mang tính trung thực vì đều được trích dẫn nguồn cụ thể

6 Ý nghĩa của đề tài

Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu về quá trình chuyển đổi cũng như ý nghĩa của việc nghiên cứu này, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu về cách thức

Trang 21

chuyển đổi tại Trung Quốc thông qua một mô hình đặc thù – mô hình thí điểm cải cách

Thông qua việc nghiên cứu mô hình này, tôi muốn làm rõ bản chất

chuyển đổi từng bước/phần/tiệm tiến của Trung Quốc

Thông qua nghiên cứu mô hình, tôi cũng muốn tìm hiểu về việc cách thức nào giúp Trung Quốc có thể chuyển đổi từng bước/phần/tiệm tiến như

vậy

Đóng góp của luận văn – ở mức độ nhất định – làm rõ thêm về bản chất, cách thức, mô hình, chi phí – kết quả của quá trình chuyển đổi ở mức độ khái quát hóa về mặt lí thuyết

Ngoài ra, khác với các nghiên cứu khác mang đậm tính thuần túy lí thuyết của kinh tế học chuyển đổi, luận văn hướng đến việc nghiên cứu trường hợp, thông qua nghiên cứu trường hợp để làm rõ cách thức, thông qua đó đạt đến mục tiêu cuối cùng là làm rõ bản chất của mô hình chuyển đổi tại một quốc gia cụ thể

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn được tổ chức và triển khai theo 3 phần

Chương 1: Lý thuyết chung về chuyển đổi kinh tế và thực tiễn chuyển đổi tại các nước xã hội chủ nghĩa thuộc hệ thống cổ điển

Chương 2: Chuyển đổi kinh tế theo mô hình thí điểm cải cách ở Trung Quốc (kể từ năm 1978)

Chương 3: Đặc trưng thí điểm cải cách của Trung Quốc thông qua nghiên cứu về các đặc khu kinh tế

Trang 22

CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ VÀ THỰC TIỄN CHUYỂN ĐỔI TẠI CÁC NƯỚC

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THUỘC HỆ THỐNG CỔ ĐIỂN

1.1 Lý thuyết chung về phương thức chuyển đổi kinh tế

1.1.1 Mục tiêu và giới hạn của chuyển đổi kinh tế

Định nghĩa “chuyển đổi”

Về mặt định nghĩa, chuyển đổi (transformation) được hiểu là một quá trình chuyển biến từ thể chế kinh tế kế hoạch của các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển sang thể chế kinh tế thị trường [24] Tuy nhiên, định nghĩa một cách nghiêm mật hơn, “chuyển đổi” là một dạng thay đổi thể chế (institution change) nảy sinh trong lòng một xã hội cụ thể với mục đích là thay đổi các quy tắc, luật chơi (rule) cũ; với ba chức năng (i) khích lệ, (ii) phân bổ lại nguồn lực và (iii) phân phối lại lợi ích, việc thay đổi luật chơi trong quá trình chuyển đổi có thể dẫn đến sự thay đổi hiệu quả của ba chức năng này, từ đó thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển của kinh tế trong dạng thiết lập thể chế (institution arrangement) mới [57]

Cụm từ “chuyển đổi kinh tế” có thể gây nên những hiểu nhầm đối với nhiều người – kể cả các nhà kinh tế Sự hiểu lầm này cho rằng chuyển đổi chỉ là các vấn đề về chính sách mang tính ngắn hạn với thời gian vài ba năm, nên

“chuyển đổi kinh tế” đôi khi bị lầm lẫn với các chính sách “ổn định kinh tế” Sự hiểu lầm thứ hai cho rằng “chuyển đổi” kinh tế sẽ đưa một nước xã hội chủ nghĩa trở thành một quốc gia theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa Trên thực tế, không ai có thể xác định được thời gian tiến hành chuyển đổi cũng như thể chế chính trị có thể xuất hiện sau khi chuyển đổi Điều chắc chắn là là chuyển đổi kinh tế đem đến những chuyển biến lón, và thay đổi về chất rõ nét hơn so với một quá trình ổn định kinh tế vốn chỉ mang tính điều chỉnh cục bộ

Mục tiêu và giới hạn của chuyển đổi kinh tế

Trang 23

Với những điều kiện chuyển đổi xác định cho trước, việc đưa một nền kinh tế chuyển đổi thuận lợi từ một thể chế kinh tế này sang một thể chế kinh tế khác thông thường bao gồm một số nhiệm vụ.

Thứ nhất, chuyển đổi kinh tế có nhiệm vụ đưa vào giá so sánh có tính co giãn đồng thời tạo lập một thị trường cạnh tranh mở cửa với thế giới để nhằm sửa chữa những khuyết tật của nền kinh tế kế hoạch trước đây, từ đó cải thiện hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực

Thứ hai, ổn định kinh tế vĩ mô, đây là nhiệm vụ thiết yếu nhằm giúp cho hệ thống giá cả vừa quay trở lại có thể vận hành một cách bình thường

Thứ ba, cung cấp cơ chế khích lệ hiệu quả hơn và một hệ thống quản trị công ty hữu hiệu cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tiến hành cổ phần hóa hoặc tư nhân hóa Điều này nhằm mục đích giúp cho doanh nghiệp phản ứng hữu hiệu hơn với thị trường

Thứ tư, tạo lập lại hệ thống cơ quan chính phủ đáp ứng được yêu cầu của kinh tế thị trường Hai yêu cầu cơ bản của thị trường đối với sự tồn tại của chính phủ là: (i) chính phủ phải đảm bảo tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản cá nhân; (ii) chính phủ cung cấp hàng hóa công là nền chính trị và các thể chế khác một cách ổn định

Mặc dù các nhà kinh tế có sự thống nhất tương đối cao về các mục tiêu cần ưu tiên nêu trên của quá trình chuyển đổi, nhưng quá trình này hẳn nhiên cũng đối diện với những ràng buộc/hạn chế trong khi thực hiện

Trước hết, ở tầng nấc chung và tầng nấc cá biệt, sự bất trắc (uncertainty)/tính không thể biết trước của kết quả là một đặc trưng của quá trình chuyển đổi kinh tế Trong rất nhiều nghiên cứu chính sách về quá trình chuyển đổi kinh tế, đều ẩn chứa tư duy về một mục tiêu đã được giới định rõ rệt Tuy nhiên, xét một cách khách quan, phải thừa nhận rằng các nền kinh tế chuyển đổi không nhất thiết đều hướng đến việc trở thành một trong các mô hình của chủ nghĩa tư bản hoặc thậm chí không hoàn toàn trở thành một nền

Trang 24

kinh tế thị trường Tranh luận của các nhà kinh tế về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường đã chuyển biến một cách nhanh chóng và tự nhiên thành tranh luận về vai trò của chính phủ trong chuyển đổi kinh tế Quan trọng hơn cả, cho dù quá trình chuyển đổi có một mục tiêu rõ ràng thì cũng chưa có lý thuyết nào được thừa nhận rộng rãi có thể chỉ ra làm thế nào để đạt được mục tiêu đó Vì thế, kết quả của chuyển đổi là một sự bất định ngay cả khi các quốc gia chuyển đổi đã tiến hành quá trình này được hơn cả chục năm Chẳng hạn, trong khi Ba Lan có thể tiến hành chuyển đổi tương đối thuận lợi thì nhiều nước Đông – Trung Âu khác không những không phục hồi được mà còn ngày càng lún sâu vào suy thoái Với tư cách là kết quả của chuyển đổi, mức thu nhập của Nga nhiều khả năng sẽ chịu sự tác động mang tính lâu dài.

Tiếp theo, giới hạn thứ hai của quá trình chuyển đổi có liên quan mật thiết đến tính bổ sung và tác động qua lại của các chương trình cải cách khác Việc chỉ tập trung vào một chương trình cải cách chuyên biệt nào đó có thể làm chúng ta nhìn sai về toàn cảnh của chuyển đổi Chẳng hạn, giữa các chương trình tư nhân hóa và tự do hóa giá cả có tồn tại quan hệ bổ trợ lẫn nhau rất rõ ràng Sự kích thích của các khoản lợi nhuận do thị trường bị bóp méo tạo ra đã dẫn đến việc phân bổ tài nguyên không hợp lí, nếu doanh nghiệp không đối mặt với cơ chế khích lệ là lấy tối đa hóa giá trị làm mục tiêu phát triển của mình, thì việc chỉ tự do hóa giá cả vẫn không thể giúp cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực Trong hoàn cảnh thực hiện hoặc chưa thực hiện tự do hóa giá cả, việc ổn định kinh tế vĩ mô cũng cần lựa chọn nhiều cách thức khác nhau Hầu như tất cả các nhà kinh tế đều đồng tình với tính bổ sung, bổ trợ cho nhau của các cải cách nhưng quan điểm của họ về hàm ý của sự bổ trợ này không hẳn đều giống nhau Có nhà kinh tế cho rằng, sự bổ trợ, bổ sung này là chứng cứ rõ ràng nhất cho tính chuẩn xác của các phương án chuyển đổi theo liệu pháp shock

Trang 25

Cuối cùng, sự ràng buộc của thể chế chính trị, hoàn cảnh chính trị, môi trường chính trị là sự hạn chế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc xem xét một quá trình chuyển đổi kinh tế Điều này là do kể cả khi tiến hành chuyển đổi kinh tế cải thiện phúc lợi cho đa số người thì vẫn có những nhóm người chịu thiệt hại về lợi ích Đối với những nước Đông Âu, sự ràng buộc về các điều kiện chính trị có thể tác động mạnh tới chuyển đổi kinh tế càng được thể hiện rõ nét do tại đây đã diễn ra quá trình dân chủ hóa (chuyển đổi về chính trị) trước khi chuyển đổi về kinh tế Sự ràng buộc về chính trị rất quan trọng kể cả là trước hay sau khi thuyết phục người dân ủng hộ một chương trình cải cách nào đó

1.1.2 Tốc độ và trình tự của chuyển đổi kinh tế

Các tranh luận về chuyển đổi kinh tế ở các quốc gia thường xoay quanh hai quan điểm đối lập: một số nước chuyển đổi ngay lập tức (tiến hành chuyển đổi shock/big-bang) trong khi đó một số nước chuyển đổi từng phần Tuy nhiên, cách gọi chuyển đổi shock hay từng bước mới chỉ phản ánh được một phần của vấn đề chuyển đổi Để hiểu cặn kẽ hơn về chuyển đổi kinh tế cần xem xét đến các khái niệm về “tốc độ điều chỉnh/chuyển đổi” và “trình tự cải cách/chuyển đổi”

Tốc độ điều chỉnh Tốc độ điều chỉnh có thể định nghĩa là khoảng thời

gian kể từ khi chuyển từ một tập hợp các biến số kinh tế vĩ mô ban đầu sang một tập hợp các biến số kinh tế vĩ mô mục tiêu Ví dụ, nếu trong thời kì 0

(không), tỉ lệ lạm phát ở mức X0 %, và phải mất số thời gian là t để đạt đến tỉ

lệ lạm phát mục tiêu là Xt, khi đó tốc độ điều chỉnh dùng để chỉ số thời gian

từ X0 đến Xt Tuy nhiên, các mối liên hệ có thể phức tạp hơn, bao gồm các

mục tiêu sơ bộ về tăng trưởng, lạm phát và các tài khoản của khu vực đối ngoại, cũng như các mục tiêu trung gian như mục tiêu về cân bằng ngân sách hay tỉ lệ mở rộng tín dụng

Trang 26

Tốc độ điều chính cũng dùng để chỉ khoảng thời gian chuyển từ một cơ cấu tổ chức kinh tế này sang một cơ cấu khác Ví dụ, hiểu theo nghĩa rộng thì tốc độ điều chỉnh dùng để chỉ khoảng thời gian cần cho việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường Hiểu theo nghĩa hẹp, đây là khoảng thời gian cần cho việc giảm kiểm soát giá cả, thay đổi cơ cấu thuế quan, tiến hành tư nhân hóa DNNN, thực thi các cải cách trong khu vực tài chính và thiết lập các thể chế thích hợp.

Do vậy, tốc độ điều chỉnh dùng để chỉ tổng số thời gian cần thiết để chuyển từ một tập hợp các biến số kinh tế vĩ mô này sang một tập hợp (các biến kinh tế vĩ mô) khác, để tiến hành các cuộc cải cách kinh tế và làm cho các cải cách này có hiệu lực

Hiện tồn tại cuộc tranh luận tương đối rõ nét giữa hai trường phái: trường phái thứ nhất gồm những người ủng hộ điều chỉnh tốc độ cao (thường gọi là trường phái liệu pháp shock/big-bang) và trường phái thứ hai gồm những người ủng hộ phương thức tiệm tiến (điều chỉnh tốc độ từ từ) Cuộc tranh luận xoay quanh bốn vấn đề lớn: Các chi phí của việc điều chỉnh, sự tín nhiệm của chương trình cải cách, tính khả thi của phương thức điều chỉnh và các rủi ro đi kèm với mỗi chiến lược điều chỉnh Bảng sau tóm tắt các quan điểm đối lập, tập trung vào các vấn đề rộng

Bảng 1: Tốc độ điều chỉnh-Các quan điểm đối lập

Tiêu chí Liệu pháp sốc Phương thức tiệm tiến

Trang 27

lực (Mussa 1984) hơn, dẫn đến sự chống đối chính trị

ít hơn (Little, Scitovky và Scott, 1970)

Sự tín nhiệm

Các cuộc cải cách toàn diện có thể tạo được sự tín nhiệm một cách hiệu quả hơn (Hiemanz, Nunnenkamp

và những người khác, 1992).

Phương thức tiệm tiến có thể làm tăng sự tín nhiệm nếu các kết quả ngắn hạn đủ thuận lợi (Rodrik,

1987 và 1989)

Tính khả thi

Việc thiết kế một trình tự chi tiết cho các cuộc cải cách gần như là không thể, các cuộc cải cách cần được tiến hành càng nhanh càng tốt (Funke 1993).

Đơn giản là các cuộc cải cách cần phải có thời gian (Fischer và Gleld, 1991)

Trong trường hợp áp dụng liệu pháp sốc, sự gia tăng tạm thời tình trạng thất nghiệp có thể làm suy yếu sự ủng hộ chính trị và buộc chính quyền phải từ bỏ các nỗ lực cải cách (Agenor và Montiel, 1999).

Cải cách rộng khắp có thể tăng nguy cơ lan truyền (Rodrik, 1989).

Nguồn: [10, 346]

Sự tín nhiệm Sự tín nhiệm đối với chính sách chính phủ và quá trình

cải cách là yếu tố căn bản quyết định thành công của cải cách và kiểm soát chi phí điều chỉnh Sự tín nhiệm sẽ lan rộng khi kì vọng của khu vực tư nhân về chính sách tương lai không chênh lệch với những tuyên bố công khai hay ngầm định của chính quyền Sự tín nhiệm là một yếu tố quyết định đối với mức độ chi phí điều chỉnh Nếu các cuộc cải cách có được sự tín nhiệm, các tác nhân ở khu vực tư nhân sẽ hướng hành vi theo chính sách đã công bố Trong điều kiện các yếu tố khác ngang bằng, cải cách càng có tín nhiệm thì quá trình tái phân bổ nguồn lực càng diễn ra nhanh chóng Ngược lại, một khi các chính sách và cải cách được công bố không có tín nhiệm, thì các tác nhân

sẽ miễn cưỡng hưởng ứng và quá trình điều chỉnh sẽ mất nhiều thời gian hơn, thậm chí là thất bại Tầm quan trọng của sự tín nhiệm càng tăng lên trong một nền kinh tế bị bóp méo cao độ Trong môi trường đó, một khi tồn tại nhận

Trang 28

thức rằng các cuộc cải cách đó có thể không chắc chắn và bị đảo ngược, thì sự suy đoán theo thời gian sẽ làm lệch các nỗ lực tiến hành cải cách từ từ [30].

Sự tín nhiệm của một chương trình cải cách toàn diện có thể diễn giải theo hai cách Cải cách sâu rộng có thể làm tăng sự tín nhiệm của công cuộc cải cách tại các nước đang phát triển nếu công chúng nhìn nhận các cải cách

đó là một tín hiệu rõ ràng của chính quyền muốn đoạn tuyệt với những truyền thống cũ Cải cách nhanh và rộng cũng có thể có xác suất thành công cao hơn nếu chúng giúp vượt qua sự phản đối của các nhóm đặc quyền dễ dàng hơn Mặt khác, cải cách từng phần sẽ không chỉ đặt ra vấn đề sự tín nhiệm mà còn

có thể thất bại nếu ngay từ đầu chính phủ đã không có tín nhiệm

Ngược lại, những người đề xuất phương thức tiệm tiến lập luận rằng phương thức này có thể làm tăng độ tín nhiệm nếu các kết quả đạt được bước đầu đủ thuậ lợi Các cải cách ban đầu thành công có thể làm tăng uy tín của chính quyền và tạo thuận lợi cho việc thực thi các cải cách tiếp theo Trong một vài trường hợp, như trường hợp tự do hóa tài khoản vãng lai và tài khoản vốn, một số cải cách phải được xử lí đồng thời mà không nhất thiết phải tự do hóa hoàn toàn tài khoản vốn ngay Trong trường hợp đó, cách làm tiệm tiến cũng có thể nâng cao sự tín nhiệm [17]

Tính khả thi Tính khả thi của phương thức cải cách cũng là nội dung

chính của cuộc tranh luận Một mặt, chúng ta có thể cho rằng dường như không thể lập được một trình tự chi tiết cho các cuộc cải cách Vì vậy, trong tình trạng cấp bách, phương thức tốt nhất có thể là tiến hành cải cách sâu rộng càng nhanh càng tốt Mặt khác, những người thuộc trường phái tiệm tiến nhấn mạnh rằng đơn giản là tiến hành cải cách phải mất thời gian Hai yếu tố phạm

vi cải cách và năng lực hành chính của một đất nước quyết định phương thức cải cách theo từng giai đoạn chứ không phải là cải cách đồng thời

Hơn thế, khả năng điều khiển quá trình cải cách của chính phủ là yếu tố sống còn Phải mất thời gian để có thông tin cần thiết về kết quả cải cách và

Trang 29

xác suất kèm theo Do đó, bất chấp sự ủng hộ mạnh mẽ của lí thuyết đối với các cuộc cải cách nhanh và toàn diện, rất nhiều nhà kinh tế học và giới hoạch định chính sách tin rằng phương thức tiệm tiến là con đường không thể chối

bỏ Căn nguyên của chủ nghĩa cải cách tiệm tiến (mà thực chất là trình tự hóa cải cách) bắt nguồn từ tính chất tiên quyết của một số hành động chính sách.Chủ nghĩa tiệm tiến còn do “sự cạnh tranh của các công cụ (chính sách)”

quyết định Cụ thể, McKinnon (1973) lập luận rằng các thành tố cải cách khác

nhau cần các công cụ khác nhau, một vài trong số các công cụ này có thể mâu thuẫn với nhau Ví dụ, việc đồng thời tiến hành tự do hóa thương mại và tự do hóa tài khoản vốn có thể mâu thuẫn với chính sách tỉ giá Cải cách thương mại cần được hỗ trợ bởi sự giảm giá của tỉ giá hối đoái thực trong khi tự do hóa tài khoản vốn, do dẫn đến dòng vốn nước ngoài chảy vào nền kinh tế, có thể là tăng tỉ giá hối đoái thực Việc xem xét tính khả thi cho thấy các cuộc cải cách phải được tiến hành liên tục và phù hợp với sự cạnh tranh có thể có giữa các công cụ (chính sách) Chính vì vậy, chúng ta phải xác định cho được các nhóm cải cách gồm những chính sách bổ sung cho nhau thay vì cạnh tranh nhau để thực thi một cách liên tục

Những rủi ro Những rủi ro đi kèm với mỗi chiến lược điều chỉnh và cải

cách cũng là yếu tố quan trọng Như đã đề cập ở phần trước, mối quan ngại đối với liệu pháp sốc là liệu pháp này có thể dẫn tới giảm sản xuất và tăng thất nghiệp Ngược lại, phương thức tiệm tiến có thể thất bại do phải có khung thời gian dài hơn để đạt được những thay đổi quan trọng Thông tin hạn chế

và tính bất chắc của các thành quả cải cách càng tăng thêm thách thức cho chính quyền Nếu liệu pháp shock thực sự làm cho thất nghiệp tạm thời tăng mạnh, thì sự ủng hộ chính trị đối với công cuộc cải cách sẽ yếu đi, và rốt cuộc buộc chính quyền từ bỏ nỗ lực cải cách của chính mình Hơn thế, khi cải cách

đã có ảnh hưởng sâu rộng, mối liên hệ giữa các thành tố (cải cách) có thể tạo

ra mâu thuẫn giữa các chính sách Ví dụ, nếu một tập hợp các cải cách không

Trang 30

thành công trong một lĩnh vực nào đó, công chúng sẽ trở nên hoài nghi về kết quả của các cải cách khác, dẫn đến sự giảm sút tính hiệu lực và tính bền vững đáng phải có của nỗ lực cải cách.

Mặt khác, cải cách từng phần có thể thất bại trong việc giảm mạnh sự bóp méo và do đó không kịp thời mang lại lợi ích cho khu vực tư nhân Cải cách từng phần mà đánh giá thấp việc tái phân bổ hiệu quả nguồn lực từ các ngành bị kiểm soát sang các ngành được giải phóng sẽ không chỉ làm giảm sản lượng và phúc lợi mà còn không thể thúc đẩy các thị trường mang tính cạnh tranh Kinh nghiệm của một số nước Đông Âu đã cho thấy khiếm khuyết của các phương thức (cải cách) từng phần

Các yếu tố khác Bên cạnh vấn đề tốc độ điều chỉnh và cải cách, còn

một số yếu tố khác hàm chứa những liên hệ quan trọng đối với kết quả cuối cùng:

 Khu vực cải cách: yếu tố khu vực có tính chất quan trọng vì tốc độ điều

chỉnh giữa khu vực kinh tế thực và khu vực tài chính là khác nhau

 Tình trạng ban đầu: các điều kiện ban đầu mang tính quyết định đối

với tốc độ cải cách

 Chi phí của sự thất bại: chi phí thất bại càng cao thì động cơ điều chỉnh

nhanh càng lớn

 Khả năng chịu đựng: các nước không còn khả năng chịu đựng các hệ

quả tiêu cực của những bóp méo hiện hành cần phải chọn cách thức cải cách nhanh hơn

Tốc độ điều chỉnh tổng thể bị tác động bởi nhịp độ cải cách trong các khu vực khác nhau Trong khi các chính sách ổn định hóa tài chính có thể thực thi tương đối nhanh, thì phản ứng của cơ cấu sản xuất, phương thức đầu

tư và sở hữu đối với cải cách kinh tế lại có khuynh hướng chậm hơn nhiều

Trang 31

Hơn thế, việc tiến hành cải cách trong cách lĩnh vực như tư nhân hóa, thuế và thương mại đòi hỏi nhiều thời gian và công tác chuẩn bị.

Các điều kiện ban đầu cũng hết sức quan trọng trong việc quyết định tốc

độ cải cách Có lập luận cho rằng trong tình trạng khủng hoảng thì giải pháp điều chỉnh nhanh được ưa chuộng hơn Tình trạng ban đầu khó khăn đòi hỏi hành động nhanh và có ảnh hưởng rộng Khi nền kinh tế xấu đi nhanh chóng, các tác nhân có xu hướng điều chỉnh kì vọng của mình nhanh hơn Sự cứng nhắc trong nền kinh tế giảm đi cho phép hành động quyết liệt để tạo ra sự thay đổi nhanh chóng Tại những nước lạm phát cao và đang trong quá trình thực hiện ổn định hóa, phương thức “vụ nổ lớn” được đề xuất để phá vỡ những kì vọng về lạm phát, hay trong trường hợp các cuộc khủng hoảng thì nhằm mục đích khôi phục niềm tin

Chi phí của sự thất bại càng cao thì động lực điều chỉnh nhanh càng lớn Trong mô hình hai thời kì, Dornbusch [12] đã rút ra các kết luận sau: Chi phí thất bại càng cao, nỗ lực điều chỉnh cũng như xác suất thành công càng lớn; chi phí điều chỉnh cận biên càng cao thì nỗ lực cũng như xác suất thành công càng thấp; các yếu tố về nguồn tài chính càng cao thì xác suất thất bại của chương trình càng cao; và lượng dự trữ hay khả năng vay nợ càng lớn thì xác suất thất bại của chương trình càng thấp Dựa trên phân tích này, sự thất bại của chính phủ ở giai đoạn đầu cải cách hàm ý chính phủ phải theo đuổi giai đoạn cải cách tiếp sau với chi phí điều chỉnh mới và các điều kiện ban đầu tồi

tệ hơn Sự phân tích hai thời kì nêu bật động cơ tiến hành sớm các nỗ lực điều chỉnh – các nhà hoạch định chính sách có động lực mạnh mẽ trong việc sớm

có được những thành công nhằm ngăn chặn vấn đề chi phí điều chỉnh cao hơn

và xác suất thành công thấp hơn trong tương lai

Tốc độ cải cách cũng gắn liền với khả năng chịu đựng (của nền kinh tế) Các nước có tỉ lệ tiết kiệm thấp – như các quốc gia Mỹ Latinh – có chiều hướng đẩy nhanh cải cách trong khu vực tài chính, trong khi các nước có tỉ lệ

Trang 32

tiết kiệm cao như Nhật Bản và Hàn Quốc lại hay theo đuổi phương thức cải cách tiệm tiến hơn [17] Tại nhóm nước có tỉ lệ tiết kiệm cao, các hệ thống tài chính hiệu quả có vai trò ít quan trọng hơn trong việc huy động các nguồn tiết kiệm, do vậy nhóm này có thể tiến hành cải cách từ từ, trong khi đó nhóm nước có tỉ lệ tiết kiệm thấp lại phải tiến hành cải cách nhanh chóng để thúc đẩy vai trò của các trung gian (tài chính).

Trình tự cải cách Trình tự cải cách dùng để chỉ một trật tự tiến hành

các chính sách kinh tế vĩ mô hoặc các cải cách cụ thể Việc lập trình tự (cải cách) liên quan đến một trật tự thực thi cải cách giữa các khu vực (ví dụ, liệu việc điều chỉnh hay ổn định hóa tài khóa có phải là điều kiện tiên quyết cho việc tiến hành tự do hóa tài khoản vãng lai hay bỏ kiểm soát giá cả) và một trật tự thực thi cải cách trong một khu vực cụ thể (ví dụ, trong trường hợp tự

do hóa tài khoản vốn, liệu chúng ta nên tự do hóa các dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) trước hay tự do hóa các dòng vốn ngắn hạn trước)

Trong trường hợp việc lập trình tự (cải cách) giữa các khu vực và trong mỗi khu vực cần có thời gian, thì trình tự đó chắc chắn sẽ tác động tới tốc độ điều chỉnh

Cuộc tranh luận về trình tự cải cách bắt đầu nổi lên từ cuối thập kỉ 1970 đầu thập kỉ 1980 cùng với thực tiễn cải cách tại các nước Mỹ Latinh Tình trạng thất bại phổ biến trong cải cách đã tạo ra cuộc tranh luận trong giới hoạch định chính sách và giới học giả để tìm hiểu liệu những thất bại cải cách

là do “kê sai” đơn thuốc chính sách hay do lập trình tự cải cách không đúng Cuộc tranh luận này lại trỗi dậy khi xem xét kinh nghiệm và các nỗ lực cải cách gần đây của các nền kinh tế chuyển đổi Nhiều nhà kinh tế đã lập luận ủng hộ quan điểm có thể có trình tự cải cách thích hợp mà không nhất thiết phải theo đuổi cuộc tranh luận giữa hai trường phái liệu pháp sốc và tiệm tiến.Bảng 2 cho chúng ta thấy các quan điểm khác nhau về trình tự cải cách,

có phân biệt giữa đề xuất cho các nước đang phát triển và cho các nền kinh tế

Trang 33

chuyển đổi Sự phân biệt này là quan trọng vì các điều kiện ban đầu khác nhau đòi hỏi các nhiệm vụ cải cách khác nhau Ví dụ, tại các nước đang phát triển có thị trường tài chính bị áp chế, việc tự do hóa thị trường trong nước đóng vai trò trung tâm Trong trường hợp nền kinh tế kế hoạch hóa đang chuyển sang kinh tế thị trường, công cuộc cải cách bao gồm tự do hóa kiểm soát giá cả, tư nhân hóa xí nghiệp công, và nới lỏng kiểm soát đối với thị trường tài chính và thị trường lao động Rõ ràng việc phân loại các đề xuất này trong một khuôn khổ rộng là hạn chế vì các tiêu chí cải cách trùng lặp Ngoài ra, các đề xuất cụ thể hơn liên quan đến một hoặc hai lĩnh vực cải cách lại không được trình bày đầy đủ Cho dù có những lưu ý trên, bảng 2 vẫn nêu bật những lĩnh vực có được sự nhất trí cũng như những bất đồng chủ yếu xung quanh vấn đề trình tự cải cách.

Theo bảng 2, hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý rằng việc ổn định hóa khu vực tài chính và tiền tệ và cải cách thể chế nên thực hiện sớm trong quá trình cải cách Mảng vấn đề gây tranh cãi nhiều hơn là thời điểm của các lĩnh vực cải cách khác, đặc biệt là thời điểm tiến hành cải cách thương mại, cải cách khu vực tài chính và tự do hóa tài khoản vốn Một hạn chế của bảng quan điểm này là nó không chỉ ra một đường lối chi tiết về các ưu tiên cải cách cụ thể trong một ngành nào đó và không giúp ước định tốc độ tiến hành cải cách trong một lĩnh vực nào đó

Bảng 2: Quan điểm của một số đề xuất chọn lọc về trình tự cải cách

Tác giả

Cải cách thể chế* hóa giả Tự do

cả trong nước

Ổn định hóa tài chính và tiền tệ

Hệ thống tài chính trong nước

Tư nhân hóa

Cải cách thương mại

Tự do hóa tài khoản vốn

Các nước đang phát triển

Trang 34

Chú thích (*): Chỉ xem xét các cải cách theo nghĩa rộng Nếu các cải cách này không khớp

chính xác với phân tích của các đề xuất thì tiêu chí gần nhất được lựa chọn Con số từ (1) đến (5) dùng để chỉ trình tự cuộc cải cách cần được tiến hành đầu tiên (1) hay sau cùng (5) Việc xếp thứ tự chủ yếu dùng để chỉ thời điểm bắt đầu cải cách, do đó các bước cải cách khác nhau có thể trùng lặp Tiêu chí nào có hơn một số thứ tự cho thấy không thể định ranh giới nhóm rõ ràng.

Nguồn: [13, 353]

1.2 So sánh lợi ích – chi phí của hai phương thức chuyển đổi kinh tế

1.2.1 Bản chất của chuyển đổi kinh tế

Trong tất cả các nghiên cứu về kinh tế học chuyển đổi đều ẩn chứa một hàm ý về việc một quốc gia chuyển từ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung theo chế độ công hữu sang thể chế kinh tế thị trường Do đó có thể giả định rằng (i) mô hình mục tiêu của chuyển đổi đã được xác định rõ – trở thành nền kinh tế thị trường, và (ii) dù cách thức chuyển đổi có khác nhau nhưng đều không ảnh hưởng đến kết quả của chuyển đổi – tức là xây dựng được nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi kinh tế có những đông lực và trở ngại nội tại của nó Với giả định của thuyết hành vi lí tính hữu hạn, sở dĩ các cải cách thể chế xuất hiện là bởi mọi người cho rằng thể chế mới sẽ đem lại những điều tốt đẹp hơn so với thể chế cũ Nhưng cũng như việc sáng tạo, hoạt động cải cách để tạo ra sự chuyển đổi cũng đòi hỏi phải có chi phí Nếu chi

Trang 35

phí cải cách quá lớn thì hoạt động cải cách có thể trở nên “thiếu khả thi” khiến cho toàn bộ quá trình chuyển đổi bị chậm lại Vì vậy, để chuyển đổi có thể diễn ra, thông thường phải đảm bảo điều kiện:

Wn – TC > W0

Trong đó, Wn là lợi ích kì vọng mà thể chế mới xuất hiện sau cải cách có thể đem lại cho đại bộ phận người dân, TC là các chi phí mà cũng chính nhóm dân chúng đó phải bỏ ra để thực hiện cải cách; còn W0 là lợi ích ròng mà thể chế cũ đã tạo ra cho người dân Để tiện cho việc phân tích, giả định là Wn và

W0 đã biết trước, như vậy mức độ “dễ – khó/nhanh – chậm” của chuyển đổi hoàn toàn phụ thuộc vào chi phí cải cách TC hay còn gọi là chi phí chuyển đổi (transaction cost) lớn hay nhỏ Đối với mỗi cá nhân trong xã hội, nếu đều tồn tại bất đẳng thức Wn – TC > W0 đồng thời mỗi chi phí cải cách bỏ ra của cá nhân đều có thể được bù đắp bởi lợi ích Wn mới thì chắc chắn quá trình chuyển đổi sẽ diễn ra vô cùng thuận lợi vì khi đó chuyển đổi sẽ là một dạng

“cải tiến Pareto” Nhưng trong thực tế, tình hình của các quốc gia chuyển đổi hoặc các chương trình cải cách trong một quá trình chuyển đổi thường là: bản chất của cải cách thể chế kinh tế dẫn đến thay đổi quan hệ lợi ích giữa các nhóm người, trong đó có nhóm người được lợi, có nhóm người chịu thiệt hại Điều này bắt nguồn từ 3 nguyên nhân sau

(i) Do thể chế thay đổi nên khiến một số người mất đi lợi ích hiện có, những lợi ích này vừa có thể thuộc về thiểu số như quyền lực, địa vị, đặc quyền, vừa có thể là lợi ích của đa số như chế độ việc làm trọn đời, phúc lợi xã hội trọn đời trong các doanh nghiệp nhà nước v.v

(ii) Mặc dù cải cách có thể đem lại lợi ích cuối cùng cho đại bộ phận người dân nhưng mức độ lợi ích thu được cũng nhiều ít khác nhau, chỉ cần lợi ích thu được của một nhóm người vượt trội so với lợi ích thu được của một

nhóm khác cũng có thểlàm nảy sinh sự so sánh dẫn đến cảm giác cải cách chỉ

đem lại lợi ích cho một nhóm người và lãng quên nhóm còn lại.

Trang 36

(iii) Kể cả có sự “bù đắp” tổn thất cho nhóm bị mất lợi ích trong/sau cải cách thì cũng không hoàn toàn giải quyết được mọi vấn đề của nhóm đã mất quyền lợi Bởi lẽ, khó có thể có sự “bù đắp hoàn toàn” đến khi thu nhập tương đối của mọi người đều không đổi

Những phân tích nêu trên nhằm nhấn mạnh một điều rằng, đối với các nghiên cứu về quá trình chuyển đổi kinh tế tại các quốc gia thực hiện công cuộc này, không nên giả định rằng chuyển đổi sẽ đem lại cải thiện Pareto mà thường là xuất hiện tình trạng “cải tiến phi Pareto”

1.2.2 Các dạng chi phí chuyển đổi

Chi phí thực hiện chuyển đổi (implementing costs)

Đối với vấn đề đâu là cách thức tối ưu để tiến hành chuyển đổi, nhiều nhà kinh tế đã ủng hộ cách thức chuyển đổi theo liệu pháp shock với lí do rằng: do thể chế cũ là kém hiệu quả, nên nếu xuất phát điểm của thể chế mới được hình thành trên nền tảng đó, tiến hành chuyển đổi từng bước/tiệm tiến thì mỗi một bước tiến/giai đoạn trong quá trình chuyển đổi đều chỉ là trong trạng thái “ưu việt thứ cấp” và do đó vẫn kém hiệu quả; hơn nữa, nhiều khả năng mỗi bước tiến sẽ ngày càng cách xa chứ không phải lại gần với mục tiêu đã định ban đầu, nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng bị “méo mó”, chi phí chuyển đổi do đó sẽ bị đội lên Ngược lai, nếu áp dụng cách thức chuyển đổi một bước/liệu pháp shock, phá vỡ thể chế cũ với tốc độ nhanh nhất, bước đi lớn nhất, tạo dựng một thể chế kinh tế mới tuân theo kết quả tối ưu là “các mục tiêu định sẵn” thì khi mới chuyển đổi, chi phí có thể lớn, thậm chí dẫn đến một số biến động xã hội, nhưng do tránh được sự méo mó về tín hiệu trong phân bổ nguồn lực nên về lâu dài chi phí sẽ giảm xuống và duy trì ở mức thấp hơn so với việc kéo dài quá trình chuyển đổi

Hệ thống luận cứ này đã hình thành nên lý thuyết về chuyển đổi kinh tế theo liệu pháp shock và được nhiều quốc gia chuyển đổi áp dụng

Trang 37

Ngoài ra, cũng có một số quan điểm khác bổ sung thêm cho quan điểm chuyển đổi theo liệu pháp shock Đó là các quan điểm của kinh tế học hợp đồng Các nhà kinh tế theo lý thuyết này cho rằng bản chất của chuyển đổi là một quá trình phá bỏ các hợp đồng (contracts) cũ để kí kết các hợp đồng mới (vì bản thân thể chế (institution) có thể được coi là một dạng hợp đồng xã hội Việc kí kết hợp đồng vốn phải mất chi phí (một dạng chi phí giao dịch – transaction costs) Chẳng hạn, nếu xuất hiện những thay đổi về quan hệ quyền tài sản (property rights), thì cần có thời gian và chi phí nhằm đánh giá lại giá trị của tài sản, phân định lại quyền lợi và nghĩa vụ của các bên, cũng như thiết lập các hợp đồng mới và hệ thống pháp luật đảm bảo cho các hợp đồng mới đó Ngoài ra, chi phí giao dịch này còn bao gồm cả thời gian và “chi phí” để người dân tiếp thu, thích ứng, thực hiện các hợp đồng mới Đối với liệu pháp shock, chi phí bỏ ra ban đầu để kí kết, thực hiên hợp đồng mới có thể lớn nhưng có thể thành công trong một lần Trái lại, đối với chuyển đổi từng bước, chi phí kí kết hợp đồng có thể nhỏ nhưng sau đó phải liên tiếp kí kết nhiều lần hợp đồng (chẳng hạn, mỗi lần điều chỉnh giá cả lại phải kí lại hợp đồng tiêu thụ); bản thân mục tiêu cải cách cũng liên tục được điều chỉnh trong quá trình chuyển đổi Nên tổng chi phí gộp lại có thể sẽ lớn hơn so với chuyển đổi một bước bởi chi phí tái kí kết hợp đồng là hàm tăng của nhiều lần kí hợp đồng mới.

Toàn bộ các lí thuyết nêu trên trên thực tế đều tập trung thảo luận một vấn đề căn bản của mọi quá trình chuyển đổi – chi phí thực thi chuyển đổi Về định nghĩa, chi phí thực thi chuyển đổi bao gồm toàn bộ tổn thất hiệu quả xuất hiện do sự thiếu ổn định của “thông tin không hoàn hảo”, “tri thức không đầy đủ” v.v xuất hiện sau khi quá trình chuyển đổi được khởi động [53, 138] Xét theo định nghĩa này, tổn thất hiệu suất nảy sinh trong thời kì chuyển đổi kinh tế có thể sẽ lớn hơn cả trong thể chế cũ khi chưa cải cách Bởi lẽ, vấn đề tín hiệu bị méo mó trong thể chế cũ chưa kịp khắc phục thì các nguyên nhân như

Trang 38

sự xung đột “tín hiệu” đến từ thể chế cũ, chưa kịp thích ứng với thể chế mới, thiếu tri thức về thể chế mới v.v có thể sẽ tạo ra những hỗn loạn lớn hơn trong đời sống kinh tế của quốc gia chuyển đổi

Nhìn chung, các thảo luận về chi phí thực thi chuyển đổi đều dựa trên giả định chi phí thực thi chuyển đổi là hàm số giảm của “mức độ cấp tiến trong cải cách” – hay nói cách khác đó là hàm số tăng của quãng thời gian cần thiết để tiến hành chuyển đổi Điều này hàm nghĩa là thời gian chuyển đổi càng ngắn, thì mức độ méo mó của tín hiệu phân bổ nguồn lực trong thể chế cũ càng mau chóng được khắc phục, xã hội càng sớm thiết lập được thể chế mới, tổn thất kinh tế càng nhỏ

Chi phí ma sát của chuyển đổi kinh tế

Trong các thảo luận về chi phí chuyển đổi kinh tế, các nghiên cứu thường tập trung ước lượng/định lượng chi phí thực thi chuyển đổi Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi, tất cả các quốc gia và cá nhân không chỉ đối diện với tổn thất hiệu suất, tổn thất phúc lợi mà còn đối diện với các tổn thất kinh tế khác do sự phản đối đến từ các nhóm bị tước mất lợi ích hiện thời Các tổn thất nảy sinh trong quá trình chuyển đổi do các trở lực của nhóm lợi ích gây nên có thể rất đa dạng phong phú Trước hết, đó có thể là việc một nhóm người tìm mọi cách ngăn cản sự vận động của toàn bộ xã hội để đảm bảo lợi ích của mình không bị tước đoạt, do đó tạo ra các trở ngại cho chuyển đổi, làm lỡ thời cơ hoặc bước tiến của quá trình này Tiếp đó, các trở ngại có thể là việc sau khi quá trình chuyển đổi được khởi động, các nhóm bị mất đi lợi ích cũng có thể tìm cách cản trở Ngoài ra, bản thân thể chế cũ cũng luôn tìm cách trở lại Cuối cùng, để vượt qua các trở lực đối với quá trình chuyển đổi, cần có thời gian và tốn chi phí để “thuyết khách”, “mua chuộc” hay “bù đắp” cho các nhóm mất lợi ích

Nhìn chung, toàn bộ các hao tổn chi phí gồm cả thời gian và vật chất do các trở lực gây nên trong quá trình chuyển đổi có thể được coi là “chi phí ma

Trang 39

sát” Đặc điểm của chi phí này là nếu các chi phí khác của quá trình chuyển đổi đều có thể được giải thích bời “thông tin không hoàn hảo” hay “tri thức không đầy đủ” thì chi phí này không thể giải thích đơn thuần theo cách đó – chi phí ma sát hay sự chống đối, cản trở đối với quá trình chuyển đổi hoàn toàn có thể xuất hiện dưới giả định “biết hết mọi kết quả”, thậm chí chính việc biết hết kết quả càng làm gia tăng chi phí ma sát Chi phí ma sát cũng khác với chi phí giao tiếp (communication costs) của Lý thuyết lựa chọn công cộng Chi phí ma sát nhấn mạnh quan điểm cho rằng việc lựa chọn con đường chuyển đổi không chỉ là kết quả của những lựa chọn do các nhà cải cách hoặc các nhà kinh tế đưa ra trên cơ sở tính toán cân nhắc giữa lợi ích và tổn thất mà đó là kết quả của sự tính toán của từng cá nhân, từng nhóm lợi ích trong xã hội

Ở phần trình bày về chi phí thực thi chuyển đổi, chi phí này đã được xác định là hàm số tăng của thời gian chuyển đổi, vậy chi phí ma sát có quan hệ như thế nào với biến “thời gian chuyển đổi”? Một giả thuyết có thể nhận sự ủng hộ từ trong quá trình chuyển đổi kinh tế của các quốc gia là trong bối cảnh tất cả các điều kiện đều được cho trước, chi phí ma sát là hàm số tăng của mức độ cấp tiến của quá trình chuyển đổi Nói cách khác, chi phí này là hàm số giảm của thời gian cần thiết để tiến hành các phương án chuyển đổi – trong điều kiện cho trước tất cả các xuất phát điểm của chuyển đổi và các điều kiện cụ thể xuất hiện trong quá trình chuyển đổi – nếu các chương trình cải cách nằm trong hệ thống chuyển đổi càng triệt để, thời gian tiến hành càng ngắn thì càng dễ vấp phải các trở lực xã hội, bởi các nhóm lợi ích càng khó chấp nhận những thay đổi lớn, lại đến trong thời gian ngắn, có nghĩa là chi phí

ma sát sẽ càng lớn Ngược lại, với việc chuyển đổi được tiến hành từng bước các cải cách tiến hành dần dần nên sự tổn thất lợi ích của các nhóm đặc lợi cũng vừa phải, không xảy ra tình trạng “trắng tay” Điều này khiến sự cản trở

Trang 40

của các nhóm được giảm thiểu so với cách thức chuyển đổi mang tính liệu pháp shock

1.3 Lựa chọn các dạng thức chuyển đổi và chi phí của từng dạng thức

1.3.1 Xây dựng mô hình các dạng thức chuyển đổi

Những phân tích về các dạng chi phí chuyển đổi bao gồm chi phí thực thi và chi phí ma sát cho thấy nếu quan hệ giữa chi phí thực thi và cách thức chuyển đổi dễ khiến các chính phủ lựa chọn phương thức chuyển đổi theo liệu pháp shock hơn (vì điều này giúp giảm chi phí thực thi) thì quan hệ giữa chi phí ma sát với phương thức chuyển đổi lại dẫn đến sự lựa chọn theo chiều ngược lại Tuy nhiên, cùng với thời gian tiến hành chuyển đổi, các cân nhắc về điều tiết dạng chi phí nào sẽ có sự thay đổi nhất định Một quốc gia ban đầu có thể chú trọng việc giảm thiểu chi phí thực thi đến một thời điểm nhất định hoàn toàn có khả năng sẽ tập trung vào kiểm soát chi phí ma sát Điều này được kiểm nghiệm bằng kinh nghiệm chuyển đổi của các quốc gia lựa chọn liệu pháp shock cho thấy khi những tổn thất kinh tế và biến động xã hội dường như vượt ngoài dự liệu ban đầu thì mối quan tâm của chính phủ và toàn xã hội sẽ tập trung vào việc trả lời câu hỏi “có cần thiết giảm bớt tốc độ của quá trình chuyển đổi để giảm nhẹ các mâu thuẫn xã hội hay không” Trái lại, với các quốc gia chuyển đổi theo phương thức tiệm tiến/từng bước, việc chậm trễ trong thực thi các cải cách căn bản, mang tính triệt để đã kéo dài tình trạng thị trường bị méo mó, các tín hiệu phân bổ nguồn lực kém hiệu quả Khi đó, các chính phủ thường có khuynh hướng tập trung vào việc “có nên đẩy nhanh tốc độ, mức độ triệt để của các cải cách để khắc phục tình trạng thị trường méo mó hay không”

Việc phân tích về các dạng chi phí chuyển đổi cũng cho thấy ưu điểm của từng dạng thức chuyển đổi khác nhau Trong khi chuyển đổi theo liệu pháp shock có “tổn thất hiệu suất” tương đối nhỏ thì chuyển đổi từng bước lại

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w