1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

32 392 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Tăng Cường Công Tác Huy Động Vốn Và Chiến Lược Phát Triển Nguồn Vốn Tại Sở Giao Dịch I Ngân Hàng Đầu Tư Phát Triển Việt Nam
Trường học Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 56,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tài này em xin phép được bỏ qua biến chỉ số chứng khoán vì qui mô chứng khoánhóa của nền kinh tế nước ta còn rất nhỏ so với tổng GDP.* Công cụ lãi suất: Thời gian qua, chính sách lãi suấ

Trang 1

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN TẠI

SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

VIỆT NAM

A PHÂN TÍCH MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN HUY ĐỘNG

VỐN VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN

1 XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU

1.1 Mục tiêu của toàn hệ thống NHĐT&PTVN:

Trong năm 2002, cùng với tiến trình cải tổ lại toàn bộ hệ thống Ngân HàngViệt Nam NHĐT&PT đã đề ra mục tiêu tổng quát như sau:

Cơ cấu lại gắn liền với phát triển toàn diện vững chắc, giữ vững nhịp độ tăngtrưởng cao, hiệu quả, an toàn phục vụ đầu tư phát triển Đổi mới đa dạng sản phẩm

và dịch vụ với cơ cấu hợp lí, chất lượng tốt, không ngừng nâng cao sức cạnh tranhcủa toàn hệ thống theo đòi hỏi của cơ chế thị trường và lộ trình hội nhập quốc tế,phát triển bền vững Ngân Hàng đầu tư &phát triển Việt Nam làm nòng cốt choviệc xây dựng và phát triển tập đoàn tài chính-tín dụng đa năng vững mạnh, hộinhập quốc tế, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đátnước

Trang 2

110 00040%

Trang 3

1.2 Mục tiêu của Sở Giao Dịch I NHĐT&PTVN:

1.2.1 Phương hướng nhiệm vụ kinh doanh trong thời gian tới, thuận lợi và

- Tiến độ cơ cấu lại Ngân Hàng, xắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa hệ thống Ngân Hàng đã được chính phủ phê duyệt và cho triển khai thực hiện

- NHNN từng bước đổi mới điều hành các công cụ chính sách tiền tệ quốcgia Cơ sở pháp lí cho hoạt động Ngân Hàng tiếp tục được hoàn thiện, công nghiệpcông nghệ Ngân Hàng

Những thuận lợi trên là tiền đề vững chắc cho sự phát triển bền vững của NgânHàng trong những năm tới

Tuy nhiên, nhìn về phía trước trong những năm tiếp theo, Ngân Hàng phải đốimặt với nhiều khó khăn hơn hiện nay

ta, thu nhập của nền kinh tế nước ta còn thấp và tăng chậm

- Diễn biến lãi suất phức tạp rất khó lường trước, theo chiều hướng khôngthuận lợi cho hoạt động Ngân Hàng

Nhận định được những thuận và khó khăn trong những năm kế tiếp cùng với

sự phát triển chung của toàn hệ thống NHĐT&PTVN, SGD I cần thiết phải cụ thểhóa mục tiêu và kế hoạch

1.2.2 Mục tiêu về quản lí và huy động vốn của SGD I:

Xác định cơ cấu đầu tư của toàn hệ thống, duy trì mức tăng trưởng cao hơnmức tăng trưởng của toàn nghành, được sự hỗ trợ đầu tư của TW, với nguồn lực

Trang 4

hiện có, đơn vị đã xác định một số chỉ tiêu trong kế hoạch kinh doanh năm, 2003như sau:

Tổng tài sản: 1 150 tỉ VND

Nguồn vốn huy động: 9 480 tỉ VND

Lợi nhuận: 90 tỉ VND

Phấn đấu đến năm 2010 xây dựng đơn vị thành một tập đoàn tài chính tín dụng

có các chỉ số hoạt động chuẩn mực với các chỉ tiêu hoạt động như sau:

+0.95%/năm +13%/năm

(Nguồn: SGD I NHĐT&PTVN)

Trang 5

2 ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HUY ĐỘNG VỐN VÀ

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN

Đây là một bước quan trọng của quá trình phân tích chiến lược, gồm có đánh giácác nhân tố thuộc môi trường vĩ mô

1.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô:

1.1.1 Tổng quan chung về tình hình kinh tế Việt Nam và dự báo tương lai:

Từ khi bắt đầu cải cách kinh tế từ những năm 80, Việt Nam chúng ta đã đượcnhững thành tựu nổi bật Siêu lạm phát gây ra bởi chính sách tiền tệ, các khoản nợvào cuối những năm 80 đã được kiềm chế bằng chính sách cân bằng thu chi vàchính sách tiền tệ chặt chẽ vào đầu những năm 90 Điều này đã góp phần tạo nên

sự ổn định giá trị đồng Việt Nam, kết quả là đã thu hút được đầu tư trực tiếp từnước ngoài giúp nước ta có sự tăng trưởng kinh tế cao trong những năm sau

Cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á, gây ra bởi sự phá giá bất ngờ của đồng BạtThái Lan vào giữa năm 1997, đã gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế nước ta: xuấtkhẩu sang các nước láng giềng giảm, nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trongnước sụt giảm Bởi vậy nền kinh tế nước ta bị chững lại vào năm 1998, năm 1999

tỉ lệ tăng trưởng GDP giảm xuống còn 4-5% so với cùng kì những năm trước là 9% Trong hai năm 2000, 2001 nền kinh tế nước ta từ từ phục hồi và tăng trưởng,NHNN tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm kích cầu GDP năm 2001 đã được

8-là 6.8%

Cũng trong năm 2002, chính sách tiền tệ mở rộng đã trở nên phổ biến trên toàncầu Hiện nay, cục dữ trữ Liên Bang Mĩ Fed đã cắt giảm lãi suất cơ bản xuống ởmức 1.75% một năm, sau 11 lần hạ từ mức 6.5% Đây là mức thấp nhất kể từ 40năm qua Động thái này sẽ có lợi đối với các nước đang phát triển, trong đó có ViệtNam ở chỗ: Làm giảm nhẹ gánh nặng nợ nước ngoài, đồng vốn nước ngoài trở nên

rẻ hơn, giảm sức ép về tỉ giá, cho phép các nước nới lỏng chính sách tiền tệ chốngsuy thoái hay duy trì tăng tăng trưởng ổn định, gia tăng xuất khẩu Tuy nhiên điềunày sẽ có được nếu như Việt Nam xây dựng một hệ thống tài chính vững mạnh

2.1.2 Chính sách lãi suất, tỉ giá:

Các chỉ số chứng khoán, lãi suất, tiền gửi, tỉ giá là những điểm, là vấn đề đầynhạy cảm trong các nền kinh tế thị trường Các chỉ số này đều là những biến số vĩ

mô quan trọng trong việc hoạch định chiến lược của Ngân Hàng Trong phạm vi đề

Trang 6

tài này em xin phép được bỏ qua biến chỉ số chứng khoán vì qui mô chứng khoánhóa của nền kinh tế nước ta còn rất nhỏ so với tổng GDP.

* Công cụ lãi suất:

Thời gian qua, chính sách lãi suất được đổi mới từng bước theo hướng tự dohóa, cơ chế điều hành lãi suất ngày càng trở nên linh hoạt hơn, phù hợp với cungcầu vốn trên thị trường Diễn biến lãi suất được kiểm soát (từ 3 con số nay xuốngdưới 10%) Quyền ấn định lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng được mởrộng cho nên cạnh tranh trên thị trường tiền tệ tăng lên, nhưng Nhà nước vẫn kiểmsoát được các mức lãi suất, biểu hiện ở tỉ lệ tăng trưởng vốn huy động và tín dụngcủa hệ thống các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế ở mức cao, 15-22%/năm(riêng NHĐT&PT là trên 22%)

Cơ chế lãi suất hiện nay và trong thời gian tới đây được tiếp tục đổi mới theohướng hình thành trên cơ sở nguyên tắc của cơ chế thị trường, từng bước được tự

do hóa nhưng vẫn đảm bảo được sự kiểm soát của Nhà nước, phù hợp với tiếntrình cải cách DNNN, mục tiêu và diễn biến tiền tệ, kinh tế vĩ mô (lạm phát, tăngtrưởng kinh tế, tạo việc làm, cán cân thanh toán quốc tế ), nhờ đó huy động tiếtkiệm trong nước và vốn từ nước nước ngoài ở mức cao, ổn định giá trị tiền VND

Cơ chế điều hành lãi suất hiện nay và qua đó ảnh hưởng đến huy động vốn vàchiến lược phát triển nguồn vốn của đơn vị như sau:

- Sau nhiều lần thay đổi về chính sách, cơ chế điều hành, cho đến nay lãi suấttiền gửi và lãi suất cho vay giữa các tổ chức tín dụng với nhau đã được tự dohóa Điều này dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trong hoạt động huy động giữacác tổ chức tín dụng, đặt đơn vị trước một thách thức lớn, NHNN chỉ quản lílãi suất cho vay và qua đó ảnh hưởng đến lãi suất huy động cũng như chênhlệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động của Ngân Hàng

- Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đồng VND thực hiện từ tháng 8/2001 Các

tổ chức tín dụng ấn định LSCB và biên độ do NHNN qui định trong từng thời

kì (Trong tháng 8, 9 năm 2000 LSCB = 0.75%/tháng, biên độ 0.3-0.5%/tháng;Trong năm 2001, NHNN đã 4 lần cắt giảm lãi suất, vào 1/10/2001 LSCB =0.6%) Lãi suất cơ bản được công bố trên cơ sở tham khảo mức lãi suất chovay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụngđược lựa chọn theo quyết định của thống đốc NHNN trong từng thời kì.LSCB được công bố định kì hàng tháng

Trang 7

- Việc LSCV nội tệ được hình thành trên cơ sở tham khảo mức LSCV đối vớikhách hàng tốt nhất như vậy cũng gây khó khăn cho Ngân Hàng Vì là nhữngkhách hàng tốt nhất nên sở đã hạ lãi suất cho vay tới mức thấp nhất đến mứckhông thể hạ được nữa Trong đó, các tổng công ti lớn của Nhà nước, cácdoanh nghiệp có doanh số xuất khẩu cao, mặt hàng tiêu thụ trong nước tốt,được sở cho vay với lãi suất có tính cạnh tranh cao (0.85-0.68%/tháng), thấphơn cả LSCB và tương đương mức lãi suất trên thị trường thế giới Điều nàydẫn đến việc chênh lệch lãi suất cho vay và huy động của Ngân Hàng ngàycàng hẹp, gây khó khăn cho việc huy động nguồn vốn của Ngân Hàng.

- Cơ chế điều hành lãi suất ngoại tệ: LSCV ngoại tệ ngắn hạn không vượt quá

mức bằng lãi suất tiền tệ liên Ngân Hàng Singapo thời hạn 3 tháng + tối đamột năm

Lãi suất cho vay ngoại tệ trung, dài hạn không vượt quá mức = lãi suất thịtrường tiền tệ liên Ngân Hàng Singapo kì hạn 6 tháng + tối đa 2.5%/năm

- Từ 1/6/2001, NHNN bỏ cơ chế khống chế biên độ, cho phép các Ngân Hàngthương mại và tổ chức tín dụng dựa trên lãi suất thị trường quốc tế và cơ cấunguồn vốn ngoại tệ trong nước mà thỏa thuận với khách hàng của mình mứclãi suất cho vay phù hợp Qui định này vừa tạo ra thuận lợi lẫn bất lợi choNgân Hàng Thuận lợi ở chỗ: Sở có thể bằng khả năng của mình chủ độnghơn trong việc tìm kiếm các nguồn ngoại tệ rẻ trên thị trường trong nước, muavào bán ra thông qua các hợp đồng Spot hay kì hạn để thu chênh lệch tỉ giánếu dự đoán đúng với xu hướng của thị trường Bất lợi ở điểm vì chưa đượctrung ương cho phép kinh doanh trực tiếp trên thị trường tiền tệ quốc tế nênNgân Hàng không được vượt rào mà phải vận dụng được khả năng kinhdoanh nhanh nhạy của mình Hơn nữa, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ chỉ vừamới được sở tiến hành trong thời gian ngắn nên chưa có kinh nhgiệm và đủmạnh bằng các Ngân Hàng khác

Như vậy, phản ứng của thị trường, của các tổ chức tín dụng, và người gửi,người vay tiền cho thấy cơ chế lãi suất cơ bản và cơ chế lãi suất ngoại tệ nói trên làphù hợp với lộ trình tự do hóa tài chính khu vực, là bước đi thích hợp Tuy nhiên,xét theo quan điểm tự do hóa, trong điều kiện cải cách các Ngân Hàng thương mạimới ở giai đoạn đầu, thì cơ chế lãi suất vẫn chứa đựng một số bất cập và có tácđộng ngược chiều tới hoạt động huy động vốn của Ngân Hàng

* Công cụ tỉ giá:

Trang 8

Hiện nay, mục tiêu cuối cùng của NHNN trong việc cải cách cơ chế điều hành

tỉ giá là tiến tới thả nổi tỉ giá, qua đó ổn định thị trường ngoại hối, thị trường tiền

tệ NHNN đã thực hiện cải cách thận trọng cơ chế điều hành tỉ giá Chính sự thậntrong này đã mang lại những thành công lớn trong thời gian qua là góp phần vào sự

ổn định của thị trường tiền tệ, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, góp phần vào sự hìnhthành và phát triển của thị trường ngoại hối nói chung cũng như thị trường tiền tệliên Ngân Hàng nói riêng

Tóm lại, lãi suất và tỉ giá là hai công cụ điều hành chính sách tiền tệ của

NHNN có mối quan hệ đầy nhạy cảm và liên quan chặt chẽ tới nhau Do vậy, sẽđem lại hiệu quả cao hơn nếu việc cải cách các công cụ này được phối hợp đồng

bộ Trên thực tế, sự cải cách đồng bộ giữa hai công cụ nàycó những hạn chế nhấtđịnh Sự hoạt động yếu kém của các doanh nghiệp những năm sau khủng hoảng, rõnét nhất là năm 1999 đã làm cho việc điều hành khó khăn, qua đó gây ra dòng dịchchuyển vốn từ đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ, làm tăng tỉ trọng Dolla hóa nền kinh

tế (tỉ trọng ngoại tệ trong tổng phương tiện thanh toán tăng từ 19% năm 1995 lêngần 29% năm 2000 và có giảm đôi chút vào năm 2001, 2002) Những nhân tố trên

đã làm hạn chế khả năng kiểm soát tiền tệ của NHNN, hạn chế việc sử dụng vốncủa các NHTM

2.1.3 Các nhân tố khác nhau thuộc môi trường vĩ mô:

Đó là các nhân tố dân số, văn hóa, chính trị, kĩ thuật Các nhân tố này cũng gópphần tác động đáng kể tới kế hoạch chiến lược của Ngân Hàng

Về nhân tố kĩ thuật: Mặc dù có trụ sở ở trung tâm thủ đô nhưng việc giới thiệuquảng bá hình ảnh của Ngân Hàng cũng như áp dụng các công nghệ Ngân Hàngmới vẫn còn chậm Cả SGD I mới chỉ có môt số ít máy rút tiền tự động ATM hoạtđộng nhưng chưa nối mạng đại lí với các Ngân Hàng khác Dân cư vẫn còn dè dặtkhi dự định sử dụng các dịch vụ của Ngân Hàng có thể vì chưa rõ họ sẽ được phục

vụ ở mức nào, mức bình dân như của NHNN&PTNT, các quĩ tín dụng nhân dânhay các dịch vụ cao cấp như của ACB

Về nhân tố chính trị: Một sự kiện kinh tế, chính trị mà trong đó có tác động rấtlớn Ngân Hàng đó là vấn đề về hiệp định thương mại Việt - Mĩ Trong thời giantới

đây SGD I cần có sự thay đổi đáng kể trong chiến lược huy động vốn của mình.Trong lộ trình thương mại dịch vụ, các điều khoản cam kết thuộc lĩnh vựcNgân Hàng chỉ có 3 trang, nhưng những dòng chữ ngắn ngủi đó đang đặt các

Trang 9

Ngân Hàng Việt Nam, trong đó có SGD trước nhiều thách thức Mối lo ngại lớnnhất của Ngân Hàng có lẽ là có thêm nhiều đối thủ cạnh tranh với nguồn tài chínhdồi dào và dày dạn kinh nhgiệm hơn.Hiệp định thương mại qui định rõ, sau 9 năm

kể từ ngày có hiệu lực, các Ngân Hàng Mĩ được phép thành lập Ngân Hàng con100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Trong thời gian 9 năm “ân hạn” cho các NgânHàng Việt Nam, các Ngân Hàng Mĩ có thể thành lập Ngân Hàng liên doanh với đốitác trong nước Hơn nữa, đối tác trong đã cắm rễ vào thị trường, nay có thêmnguồn lực tài chính, cộng thêm các công nghệ, dịch vụ mới được chuyển giao từđối tác bên ngoài, một Ngân Hàng liên doanh với Mĩ cũng là một đối thủ đánggờm đối với các Ngân Hàng trong nước nói chung và SGD I nói riêng

Trên đây là một số đánh giá chủ quan của bản thân em về tác động của cácnhân tố vĩ mô tới huy động vốn và giải pháp chiến lược phát triển nguồn vốn tạiSGD I NHĐT&PTVN Sau đây em xin được tiếp tục phân tích đánh giá các nhân

tố thuộc môi trường vi mô

1.2 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô:

2.2.1 Phân tích các đối thủ cạnh tranh:

 Tổng quan về thị trường tài chính Việt Nam:

Hiện nay, hệ thống tài chính của Việt Nam bao gồm 6 NHTMQD (chiếm 82%tổng tài sản của hệ thống Ngân Hàng), khoảng 50 Ngân Hàng Thương mại cổ phần

mà cổ phần của nó bao gồm cả DNNN lẫn tư nhân (chiếm 10% tổng tài sản của hệthống Ngân Hàng), 27 chi nhánh Ngân Hàng nước ngoài và 4 Ngân Hàng liêndoanh cùng nhau chiếm 8% tổng tài sản của cả hệ thống tài chính Tổng tài sản của

hệ thống Ngân Hàng Việt Nam mới tương đương 38%GDP, tổng dư nợ tín dụng là22%GDP và tổng tiền gửi là 20% GDP Điều này nói lên mức độ tiền tệ hóa của hệthống tài chính ở nước ta còn thấp, chưa theo kịp các nước trong khu vực TháiLan, Indonexa, Philippin (tổng tài sản của hệ thống Ngân Hàng các nước này đạt

từ 100-150%GDP)

Thực tế cho thấy, chỉ số độc quyền HHI trên thị trường Ngân Hàng đã giảm đinhanh chóng từ khoảng 80% năm 1993 xuống còn 35% vào năm 1999 Trongnhững năm tiếp theo, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn trong toàn hệ thốngNgân Hàng thương mại Việt Nam

Lợi thế về độc quyền của đầu tư TW nói chung và của SGD nói riêng sẽ bịgiảm sút Trước đây, khách hàng truyền thống của Sở là các tổng công ti 90-91 thìmấy năm gần đây Ngân Hàng phải chia xẻ một phần cho các Ngân Hàng khác

Trang 10

- Các Ngân Hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD): Điểm mạnh của họ

so với NHĐT&PTTW và SGD I là:

+ Ngân Hàng ngoại thương: Đứng đầu trong lĩnh vực thanh toán quốc tế vàkinh doanh ngoại tệ

+ Ngân Hàng công thương: Có mạng lưới hoạt động Ngân Hàng rộng khắp trên

cả nước Tầng lớp khách hàng đông đảo đa dạng Ngân Hàng có lợi thế do cơ chế

cũ để lại, là Ngân Hàng giàu vốn tiền đồng nhất do hầu hết các tổng công ti, cácDNNN đều có tài khoản ở đây từ khi nước ta còn chưa chuyển đổi nền kinh tế tậptrung bao cấp Mức lãi suất huy động tiền gửi không kì hạn trung bình0.15%/tháng Do đó lãi suất huy động bình quân của Ngân Hàng chỉ dao động ởmức 0.3-0.32%/tháng, dẫn đến chênh lệch lãi suất đầu ra, đầu vào lớn hơn cácNgân Hàng khác

+ Ngân Hàng NN&PTNTVN: là Ngân Hàng có số vốn tự có lớn nhất (năm

1999 là 220 tỉ VND), khách hàng rất đông trong lĩnh vực nông nghiệp

Tính đến ngày 31/12/2001, tổng nguồn vốn huy động của 4 NHTMQD là

250 200 tỉ VND, chiếm tỉ trọng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn hệ thống.Trong đó Ngân Hàng ngoại thương huy động 77.794 tỉ VND, chiếm 25% thị phầncủa cả nước Theo con số huy động trên thì thị phần huy động vốn của sở trên toànquốc là khoảng 8%, một con số thật đáng kể

- Các chi nhánh Ngân Hàng nước ngoài: Với qui mô huy động toàn cầu, sứcmạnh về vốn, công nghệ , sự đa dạng hóa về dịch vụ Các chi nhánh Ngân Hàngnước ngoài đã và đang dần dần từng bước vững chắc hình thành và bám rễ vào nềnkinh tế Việt Nam Với một tị phần khá lớn như hiện nay, có thể nói khả năng chiphối và ảnh hưởng của các Ngân Hàng nước ngoài đối với hoạt động tài chínhtrong nước là khá lớn

Trong tiến trình tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN, WTO, các quiđịnh về hoạt động Ngân Hàng sẽ được nới lỏng hơn Chẳng hạn, NHNN sẽ nớilỏng phạm vi hoạt động của các Ngân Hàng nước ngoài, cho phép huy động tiếtkiệm VND, USD từ dân cư

Tự do hóa lãi suất, nới lỏng qui định hoạt động cho các tổ chức tín dụng sẽlàm giảm ưu thế của SGD Nếu lãi suất tiền gửi của pháp nhân được tự do hóa, chophép các tổ chức tín dụng nước ngoài được huy động tiết kiệm sẽ là thách thức lớnđối với các NHTMQD nói chung và SGD nói riêng trong việc duy trì thị phần vốnhuy động, bởi các NHTM được phép sử dụng các công cụ cạnh tranh nhằm thu hút

Trang 11

vốn, mở rộng thị phần Như vậy, Ngân Hàng phải có chiến lược dài hạn để đối phóvới môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.

Ngân Hàng nước ngoài huy động ở Việt Nam từ đầu những năm 90, ban đầuchủ yếu phục vụ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng nay đã mởrộng đối tượng khách hàng sang cả doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, họ chỉ tậptrung vào các doanh nghiệp hoạt động có lãi lớn, luồng chu chuyển lớn và cónguồn ngoại tệ thu được từ xuất khẩu ổn định, số lượng tương đối Đây cũng lànhững khách hàng ưu tiên truyền thống của sở Do vậy thách thức đang phải đốimặt của Ngân Hàng là làm sao phải duy trì được khách hàng truyền thống, kháchhàng có chất lượng tốt, không bị chia sẻ với các đối thủ cạnh tranh khác

- Các Ngân Hàng thương mại cổ phần (NHTMCP):

Các Ngân Hàng thương mại cổ phần đã tập trung có qui mô nhỏ nên chỉ tậptrung vào các khách hàng nhỏ hay phát triển hoạt động Ngân Hàng bán lẻ (đây làthị trường mà NHĐT&PT hiện còn bỏ ngỏ) Khi có tiềm lực tài chính, qui mô vốn

và uy tín được nâng cao, các NHTMCP cũng sẽ xâm nhập vào các khách hàng lớn

Chiến thuật “nhỏ là đẹp” của một số NHTMCP đã đạt được hiệu quả cao Điều này

được thấy rõ nhất ở NHTMCP Á Châu Cho đến nay, NHTMCP Á Châu là mộttrong những đối thủ cạnh tranh mạnh nhất về thị trường thẻ tín dụng ở nước ta.Ngoài ra, Ngân Hàng này cũng đã thâm nhập vào thị trường tín dụng của một sốkhách hàng lớn thông qua hình thức đồng tài trợ

Tóm lại, để duy trì được thị phần ổn định trước mức độ cạnh tranh gay gắt như

hiện nay, đòi hỏi Ngân Hàng phải có giải pháp tổng thể kế hoạch huy động vốnchiến lược phát triển bền vững nguồn vốn, trong đó có chiến lược cạnh tranh, pháttriển sản phẩm mới

- Các tổ chức phi Ngân Hàng:

Đó là các quĩ tín dụng nhân dân, các công ti tài chính, công ti bảo hiểm, bưuđiện Hiện nay, cả nước có gần 900 quĩ tín dụng nhân dân cơ sở làm nhiệm vụhuy động vốn và cho vay Các công ti tài chính cạnh tranh với sở trong lĩnh vựccho thuê tài chính, chovay trung, dài hạn

Trong lĩnh vực chuyển tiền cá nhân tiết kiệm nhỏ lẻ, Ngân Hàng hiên đangthua kém bưu điện, đánh giá sự thua kém này qua bảng so sánh sau:

SO SÁNH LỢI THẾ GIỮA NGÂN HÀNG VÀ BƯU ĐIỆN

Trang 12

Mạng lưới giao dịch Rộng khắp, đến các xã Tại trung tâm tỉnh,

thành phố.

Thời gian chuyển tiền Nhanh Nhanh hơn

Thông báo cho khách

hàng nhận tiền

Có nhân viên bưu điện đưa giấy đến tận tay

Không có

Bưu chính viễn thông Việt Nam vừa khai trương dịch vụ tiết kiệm bưu điệnvới các loại hình tiết kiệm không kì hạn, tiết kiệm có kì hạn, tiết kiệm trả góp Tại

Hà Nội đã có trên 7300 tài khoản được mở với số vốn huy động trên 10 tỉ VND.Chủ tài khoản được hưởng tiện ích tương tự như Ngân Hàng, ngoài ra được miễnphí mở tài khoản , miễn phí giao dịch gửi rút tiền nội tỉnh Dường như dân chúng

có thói quen đến bưu điện hơn là đến Ngân Hàng Điều này cũng giải thích lí do tạisao tiền gửi không kì hạn cá nhân tại Ngân Hàng có tỉ lệ nhỏ

Một đối thủ cạnh tranh đáng ngại nữa hiện nay đó là các công ti bảo hiểm Tổchức bảo hiểm tham gia vào hệ thống tài chính với tư cách là trung gian tài chính,cung cấp các sản phẩm dịch vụ như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm an sinh xã hội,bảo hiểm học đường Thị phần huy động vốn của các công ti bảo hiểm gia tănghàng năm đây là mối lo ngại cho các NHTM

Giải pháp cho tình huống này là sở cần kết hợp với công ti bảo hiểm Hiện tại,

sở đang phối hợp với Chìnon, Prudential làm dịch vụ chi trả lương cho nhân viêncác hãng này, qua đó thu hút được một lượng lớn và có khả năng cung ứng các sảnphẩm dịch vụ khác như: phát triển dịch vụ cho vay đời sống, tổ chức thu nợ hàngtháng từ tài khoản tiền lương, thanh toán hộ một số khoản chi phí điện, nước, bảohiểm theo định kì, thực hiện nghiệp vụ môi giới, tiền gửi thanh toán, hỗ trợ vốntrong giao dịch mua bán bất động sản và các tài sản khác có giá trị lớn qua tàikhoản Ngân Hàng

1.2.2 Các quan hệ với khách hàng

*Khách hàng truyền thống hiện nay của Ngân Hàng là các đơn vị thuộc tổngcông ti 90-91 thuộc các nghànhd kinh tế trọng điểm như dầu khí, sản xuất vật liệuxây dựng

Trang 13

Cho đến nay, cả nước có 17 tổng công ti 91 và 77 tổng công ti 90 trong đó cónhững lĩnh vực chỉ có một tổng công ti 91 như bưu chính viễn thông, dầu khí vàhàng không Các tổng công ti Nhà nước có 1392 doanh nghiệp thành viên bằng24% tổng số doanh nghiệp Nhà nước, nắm giữ 66% về vốn, 55% về lao động trong

đó riêng 17 tổng công ti 91 có 532 doanh nghiệp thành viên bằng hơn 10% sốdoanh nghiệp Nhà nước, nắm giữ 56% tổng số vốn kinh doanh và 35% lao động

Do đặc tính qui mô lớn nên các tổng công ti 90-91 đã tạo nên được hình thứcđộc quyền tự nhiên và đạt được một số kết quả nhất định, từng bước tạo lập được

vị thế trong kinh doanh, đầu tư có trọng điểm, mở rộng thị trường, tăng cường xuấtnhập khẩu, nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh

Nhu cầu đầu tư và công nghệ mới, để thích ứng với sự cạnh tranh trong điềukiện hiện nay đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn để nhập máy móc thiết bị và côngnghệ cũng như mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại Trong khi thịtrường vốn nước ta mới phát triển thì Ngân Hàng được coi là nơi duy nhất để cáccông ti này tìm kiếm nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là tìm đến NHĐT&PT thông quacác dự án cho vay trung, dài hạn

Vì vây, trong vài năm trở lại đây các tổng công ti này đang trở thành đối tượngcho vay ưu tiên của các NHTM Là doanh nghiệp quốc doanh, với khối lượng vốnlớn, độc quền thị trường trong nước tại một số nghành và nhận được chính sáchbảo hộ của Nhà nước, chính là các yếu tố quan trọng thúc đẩy các NHTM hướngvốn đầu tư của mình vào các doanh nghiệp này Đối với các Ngân Hàng thì đầu tưvào đây ít có nguy cơ bị mất vốn và cải thiện được tình hình kinh doanh hiện tại

* Hiện nay, chúng ta đang trong quá trình cải cách hệ thống DNNN và làmlành mạnh hóa hệ thống tài chính Do đó, tiến trình cải cách DNNN làm ảnh hưởngđến khu vực Ngân Hàng:

- Các doanh nghiệp Nhà nước được xắp xếp lại trước hết để nâng cao sứccạnh tranh, thúc đẩy sản xuất qua đó tạo thuận lợi cho thị trường tín dụnghoạt động an toàn hiệu quả

- Việc tiến hành cổ phần hóa các DNNN đã bổ sung thêm các công cụ tàichính cho thị trường tài chính, thị trường vốn Một trong những yếu tốquan trọng cho sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán

- Việc cải cách các DNNN còn để lại gánh nợ khó thu đối với các NgânHàng, trong khi đó các thị trường tín dụng của Việt Nam còn tiềm ẩn

Trang 14

những như rủi ro lãi suất, rủi ro tỉ giá, cơ chế chính sách còn nhiều thayđổi

Do vậy, tiến trình cải cách cơ cấu lại các DNNN sẽ có tác động tích cực đốivới hoạt động kinh doanh của các NHTM nói chung và SGD I NHĐT&PT nóiriêng

2.2.3 Các quan hệ với quần chúng tiếp xúc:

SGD I NHĐT&PT có ưu thế là có trụ sở tại trung tâm, ở những địa điểm dân

cư đông đúc nên có thể huy động được những vốn với tốc độ nhanh Cùng với sựphát triển kinh tế, dần dần người gửi tiền sẽ không còn cân nhắc lựa chọn nhiều vềthể lệ lãi suất cao (tương đương với các kì hạn dài) vì chênh lệch lãi suất rất nhỏ lạibất tiện hơn vì bị ràng buộc bởi các kì hạn của thể lệ tiền gửi

Khi đó, điều quan tâm nhất của dân cư là tính an toàn hay uy tín của NgânHàng về tiện ích của việc gửi tiền về các công cụ thanh toán, cùng với chất lượng

hệ thống phục vụ của Ngân Hàng Khi trên thị trường đã được phổ biến rộng rãicác công cụ thanh toán như séc, thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động, và các dịch vụkhác của Ngân Hàng

2.2.4 Các quan hệ lẫn nhau nội bộ Ngân Hàng:

Tại SGD I, cơ cấu tổ chức và hoạt động theo mô hình chi nhánh cấp một ngàycàng được hoàn thiện hơn, với 12 phòng ban, 21 chi nhánh trực thuộc, 10 quĩ tiếtkiệm Với chức năng nhiệm vụ, mối quan hệ được qui định rõ ràng, chặt chẽ, tạonên một khí thế mới, một sức mạnh thống nhất trong hoạt động kinh doanh củaNgân Hàng

2.2.5 Các quan hệ với bên trung gian và người cung cấp:

Hiện SGD I đang phối hợp có hiệu quả với trung tâm đào tạo NHĐT&PT triểnkhai công tác đào tạo hàng năm và cử cán bộ tham gia có kết quả tốt các lớp tậphuấn kinh doanh ngoại tệ, thẩm định dự án đầu tư, tin học Ngân Hàng

Thường xuyên theo dõi và kiểm tra việc chấp hành các qui định an toàn về hoạtđộng Ngân Hàng, kiểm tra hồ sơ tín dụng, bảo lãnh, công tác huy động vốn Thực hiện kiểm tra kiểm soát mọi mặt hoạt động của đơn vị theo đúng qui định củanghành của Nhà nước

2.2.6 Quan hệ với NHĐT&PTTW:

NHĐT&PTTW hỗ trợ nguồn vốn với lãi suất hợp lí đảm bảo khả năng cạnhtranh của đơn vị khi tham gia vào các dự án lớn Tăng cường năng lực công nghệ

cả về trang thiet bị và các chương trình tiện ích, các chương trình phần mềm ứng

Trang 15

dụng cho sở Ngoài ra, SGD còn được hỗ trợ trong công tác đào tạo cán bộ nhằmnâng cao trình độ, kĩ năng hoạt động trong cơ chế thị trường, đặc biệt là các côngtác quản trị điều hành, quản lí kinh doanh và Marketing Ngân Hàng Một chiếnlược quản lí, huy động phát triển nguồn vốn đúng đắn của SGD I sẽ có được dựatrên mối quan hệ khăng khít giữa SGD I và NHĐT&PTTW.

B GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC HUY ĐỘNG VỐN VÀ PHÁT TRIỂN

NGUỒN VỐN TẠI SGD I NHĐT&PTVN

Để tăng cường công tác huy động vốn, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế,trong đó tăng trưởng tỉ trọng nguồn vốn trung, dài hạn phục vụ cho đầu tư pháttriển, SGD I cần quan tâm đến việc huy động tiền gửi vì tiền gửi là bộ phận quantrọng bậc nhất trong tài sản nợ của Ngân Hàng thương mại trong tổng nguồn vốnhuy động Như ta đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến qui mô tiền gửi, nóchịu sự tác động bởi:

- Lãi suất trên thị trường

- Các hình thức huy động vốn và các dịch vụ do Ngân Hàng cung ứng

- Chiến lược Marketing Ngân Hàng

- Mục tiêu chiến lược của Ngân Hàng, nguồn lực của Ngân Hàng, trình độ tổchức của Ngân Hàng, đội ngũ cán bộ công nhân viên của Ngân Hàng, địa điểm, uytín và thời gian hoạt động của Ngân Hàng

- Môi trường kinh tế xã hội

- Môi trường cạnh tranh quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ và thị trườngvốn

Đồng thời căn cứ vào thực tế hoạt động kinh doanh của mình SGD cần thựchiện các giải pháp nhằm tìm ra các hình thức huy động vốn khác nhau sao cho chiphí huy động vốn thấp nhất và tạo ra nguồn vốn ổn định, phù hợp với mục tiêu sửdụng vốn của Ngân Hàng

Để tìm ra các giải pháp phù hợp mang tính khả thi trước hết ta nên tìm ranguyên nhân chính của khó khăn trong việc huy động vốn vào Ngân Hàng Căn cứnhững nguyên nhân chính của khó khăn trong công tác huy động vốn em xin đượcđưa ra một số giải pháp sau

1 Thường xuyên phân tích diễn biến qui mô và cơ cấu nguồn vốn tại sở:

Trang 16

Trong quá trình thực hiện chiến lược cũng như dự kiến thay đổi chiến lược vềvốn, việc phân tích qui mô và cơ cấu nguồn vốn là việc cần thiết, giúp cho đơn vịtiếp cận được nguồn vốn rẻ, có qui mô và cấu trúc tối ưu, đảm bảo mục tiêu antoàn và sinh lợi

Cùng với sự phát triển của Ngân Hàng trong mỗi thời kì nhất định, qui mô vàcáu trúc nguồn tối ưu luôn thay đổi Do đó, việc quan sát đánh giá từng loại nguồnvốn cụ thể để kịp thốic những chiến lược về vốn tốt nhất trong từng thời kì cụ thể

là nhiệm vụ hàng đầu đối với đơn vị

Tại các Ngân Hàng lớn thường co các phòng phân tích hoạt động kinh doanh.SGD I cũng đã lập ra một ban phân tích hoạt động kinh doanh mà nòng cốt của bannày là các cán bộ có kinh nhgiệm trong phòng nguồn vốn kinh doanh Ban phântích hoạt động kinh doanh sẽ có nhiệm vụ phân tích nguồn vốn, dư báo sự biếnđộng về qui mô và cấu trúc nguồn vốn Cán bộ phụ trách của ban này phải lànhững người có năng lực chuyên môn, có tầm nhìn xa, rộng, dự báo chính xácdiễn biến trên thị trường nguồn vốn trong tương lai

Trên thực tế, hiện nay phòng nguồn vốn kinh doanh mới chỉ thực hiện công tác

này theo kiểu “tùy cơ ứng biến” chỉ dự đoán những xu hướng biến động của nguồn

vốn trong ngắn hạn mà thiếu hẳn sự dự báo về dài hạn trong tầm nhìn chiến lược.Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa ban chuyên trách phân tích nguồn vốn và cácphòng khác đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại trong quá trình phântích, nhằm đảm bảo tính chính xác, kịp thời và khoa học

Tóm lại, công tác phân tích qui mô và cơ cấu nguồn vốn cần phải được tiến

hành thường xuyên, định kì tại sở một cách khoa học và hệ thống nhằm phục vụcho việc xây dựng nguồn vốn tại đơn vị

2 Đa dạng hóa hình thức huy động vốn:

Hiện nay, các hình thức huy động vốn tại sở vẫn chưa phong phú bằng cácNgân Hàng khác Phổ biến mới chỉ có các loại tiền gửi, kì phiếu, trái phiếu (pháthành dưới sự chỉ đạo của đầu tư trung ương) Trong khi xã hội càng phát triển nhucầu sử dụng thêm các dịch vụ mới ngày càng gia tăng Tới đây đơn vị nên triểnkhai áp dụng hình thức phát hành các chứng chỉ tiền gửi hay các loại tài khoản cánhân đặc biệt Ngoài ra, Sở nên áp dụng một số hình thức khác như: tiết kiệm gửigóp tiết kiệm xây dựng nhà ở, phát hành kì phiếu có mệnh giá đa dạng

3 Dự toán kì hạn thực tế, nối kết nguồn vốn ngắn thành nguồn vốn dài:

Ngày đăng: 19/10/2013, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w