Kiên quyết thực hiện cơ cấu lại hệ thốngNHTM theo các đề án được Chính phủ phê duyệt và phù hợp với cam kết đốivới các tổ chức tài chính quốc tế nhằm tạo ra các ngân hàng có quy mô đủ lớ
Trang 1CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CẢI CÁCH HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM VỚI CÁC BÀI HỌC ĐÚC KẾT TỪ KINH NGHIỆM CỦA TRUNG
QUỐC
I XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ NGÂN HÀNG
1 Chiến lược phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010
1.1 Quan điểm xây dựng chiến lược tổng thể phát triển ngành ngân hàng Việt Nam
- Chiến lược phát triển ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 là mộtchiến lược tổng thể toàn ngành, mang tính đồng bộ và phải nằm trong chiếnlược tổng thể phát triển kinh tế- xã hội Việt Nam giai đoạn 2001- 2010
- Đổi mới về cơ bản cấu trúc tài chính, cấu trúc tổ chức, cấu trúc sởhữu và môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng trong cơ chế thị trườngđịnh hướng XHCN- Trong đó, các tổ chức tín dụng phải được tự do hoá tronghoạt động kinh doanh, được tạo điều kiện mở rộng không gian hoạt động rangoài lãnh thổ, chấm dứt mô hình hoạt động đan xen giữa tín dụng thị trường vàtín dụng chính sách trong cùng một Định chế tài chính hạch toán độc lập
- Khuyến khích vai trò chủ động của NHNN trong hoạch định, chỉ đạo chiếnlược và điều hành chính sách tiền tệ, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý tiền tệbằng việc phát triển các công cụ thị trường, xoá bỏ vai trò “Bộ chủ quản” củaNHNN đối với NHTM đồng thời tăng cường năng lực và hiệu lực của hoạtđộng thanh tra, kiểm soát, kiểm toán các hoạt động theo luật định
- Để chống tụt hậu của nền KTQD vì công nghệ ngân hàng, các tiệních ngân hàng trong các lĩnh vực thanh toán, chuyển tiền, kiều hối, lưu thônghàng hoá và lưu thông vốn phải được phát triển một cách phổ biến theo hướng
Trang 2phát triển các cơ chế cho phép tăng tối đa trách nhiệm phán quyết tài chính trên
cơ sở hình thành và hoạt động hữu hiệu của Ban quản trị rủi ro, Ban kiểm soát,kiểm toán và hệ thống thanh toán hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế
1.2 Mục tiêu tổng quát của chiến lược tổng thể phát triển ngành NHTM Việt Nam
Xuất phát từ thực trạng một diện mạo tổng quan của hoạt động tiền tệ
đã trải qua gần 15 năm đổi mới, theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
IX là: 10 năm tăng gấp đôi GDP, pháp điển hoá rõ nét cơ chế thị trường có sựquản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng XHCN, chuyển mạnh cơ cấu kinh
tế theo hướng Công nghiệp hoá- hiện đại hoá, chủ động hội nhập quốc tế, đồngthời củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững chủ quyền dân tộc, ổn định chính trị
và trật tự xã hội- Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng thể chế lànhmạnh, công bằng, cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhândân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ vănminh
Từ đó, xác định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển ngànhngân hàng Việt Nam đến năm 2010 Kiên quyết thực hiện cơ cấu lại hệ thốngNHTM theo các đề án được Chính phủ phê duyệt và phù hợp với cam kết đốivới các tổ chức tài chính quốc tế nhằm tạo ra các ngân hàng có quy mô đủ lớn,hoạt động an toàn, hiệu quả, đủ sức cạnh tranh trong nước và quốc tế: Cụ thể là:
- Cơ cấu lại tổ chức theo hướng tách hoàn toàn các hoạt động cho vaytheo chính sách của Nhà nước ra khỏi hoạt động kinh doanh của các NHTMthông qua việc thành lập một số ngân hàng chính sách để các NHTM chủ độngthực hiện tốt chức năng kinh doanh theo nguyên tắc thị trường Nâng cao quyền
tự chủ, tự quyết và tự chịu trách nhiệm kinh doanh của các NHTM, giảm thiểubao cấp và bảo hộ trong hệ thống ngân hàng
Trang 3- Cơ cấu lại về tài chính: Thực hiện tăng vốn điều lệ và xử lý dứt điểm
nợ tồn đọng của các NHTM nhằm lành mạnh hoá tài chính, nâng cao khả năngchống chọi rủi ro và khả năng cạnh tranh Đối vối NHTM QD, thực hện bổsung đủ vốn điều lệ để dần đạt được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, phấn đấuđến cuối năm 2005, hoàn thành xử lý nợ tồn đọng Đối với NHTM CP, cần tăngvốn điều lệ thông qua sáp nhập, hợp nhất, phát hành bổ sung cổ phiếu NhữngNHTM CP hoạt động quá yếu kém, không thể tăng vốn điều lệ và không khắcphục được những yếu kém về tài chính thì có thể bị thu hồi giấy phép hoạtđộng Nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh, giảm tỷ lệ nợ quá hạnxuống mức an toàn (dưới 2%) Phối hợp đồng bộ giữa cải cách ngân hàng vàcải cách hệ thống doanh nghiệp, nhất là DNNN, trong đó trọng tâm là gắn xử lý
nợ của hệ thống ngân hàng với xử lý nợ của DNNN
- Cơ cấu lại hoạt động và giám sát ngân hàng: Từng ngân hàng phảixây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh mới, trong đó chú trọng việc mởrộng quy mô hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh, hiện đại hoá công nghệ,
đa dạng hoá và nâng cao tiện ích các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại dựatrên nền kỹ thuật công nghệ tiên tiến Xây dựng các định chế quản lý và đảmbảo an toàn hoạt động phù hợp với chuẩn mực quốc tế như quản trị rủi ro, quảntrị tài sản nợ/có, quản trị vốn, kiểm toán nội bộ…Xây dựng hệ thống kế toán vàthiết lập các chỉ tiêu, báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực kế toán hiện đại
Có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, cả về chuyên môn, ngoại ngữ, tin học,đáp ứng yêu cầu hội nhập và cạnh tranh quốc tế
2 Chiến lược hội nhập quốc tế của ngành ngân hàng
2.1 Quan điểm chiến lược về hội nhập kinh tế quốc tế ngành ngân hàng
Nền kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hoá, các nước đangrất tích cực tham gia vào quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế Việt Nam cũng
Trang 4đang chủ động tham gia vào quá trình hội nhập ấy, trong đó có hội nhập quốc tế
về ngân hàng Việt Nam đã tham gia các thoả thuận song phương và đa phươngnhư AFTA, WTO, APEC, Hiệp định Thương mại Việt Mỹ và đang trong quátrình đàm phán gia nhập WTO
Quán triệt quan điểm và chủ trương hội nhập quốc tế lĩnh vực ngânhàng, cải cách ngân hàng phải được tiến hành toàn diện và đồng bộ với cải cáchcác khu vực kinh tế khác, coi đó là cơ sở để nhanh chóng củng cố và tăngcường sức mạnh của hệ thống ngân hàng, đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thịtrường trong nước và quốc tế Mặt khác, phải cải cách triệt để thông qua việchoàn thiện hệ thống luật pháp nhằm tạo hành lang pháp lý có hiệu lực, đảm bảo
sự bình đẳng giữa các đối tác, gây sức ép đổi mới và tăng hiêu quả lên cácNHTM như giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ, có khả năng tự bảo vệtrước cạnh tranh quốc tế trong quá trình hội nhập Các chính sách đưa ra phảigắn với điều kiện quốc tế, nhất là về tỷ giá, lãi suất và phải đảm bảo quyền lợicủa các quốc gia đối tác
Tự do hoá có trật tự, trong đó việc xoá bỏ bảo hộ và sự phân biệt đối
xử về hoạt động ngân hàng trong nước phải đi trước một bước so với cơ chế tự
do hoá áp dụng chung đối với các định chế tài chính nước ngoài Trước hếtchuyển đổi cơ chế và thể chế hoạt động ngân hàng trong nước nhằm tăng sứccạnh tranh, tạo điều kiện tự do hoá thương mại, dịch vụ và đầu tư đã cam kết
Trong quá trình hội nhập, Việt Nam phải tận dụng tối đa vị thế củamột nước đang phát triển trong đàm phán song phương và đa phương để đượchưởng những ưu đãi hoặc nhượng bộ trong việc thực hiện nghĩa vụ của mộtthành viên (về phạm vi, mức độ, lộ trình cam kết), có đủ thời gian để tái cơ cấu
và tăng cường sức cạnh tranh quốc tế, là bước chuẩn bị cần thiết cho một thịtrường được tự do hoá hoàn toàn Việc mở cửa và nới lỏng ràng buộc tài chính
Trang 5đối với các ngân hàng nước ngoài nên được bắt đầu từ các quy định về tíndụng- lĩnh vực mà các NHTM trong nước có khả năng cạnh tranh và từng bước
mở rộng sang các lĩnh vực khác dựa trên sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàngViệt Nam
2.2 Nội dung hội nhập
(1)- Tự do hoá hoạt động ngân hàng, tạo sân chơi bình đẳng về ngânhàng: Nới lỏng điều kiện tham gia các hoạt động NHTM đi đôi với việc thiếtlập một cơ chế thị trường hoạt động hiệu quả gồm: tự do hoá lãi suất, chuyển tíndụng sang cơ chế thị trường thực sự, đảm bảo quyền tự quyết của các NHTMtrong cho vay, đảm bảo một môi trường kinh doanh ngân hàng bình đẳng vàthống nhất
(2)- Từng bước nới lỏng quản lý ngoại hối và thả nổi tỷ giá hối đoái:Cải cách chế độ quản lý ngoại hối với tiến trình tự do hoá các giao dịch vãng lai
và tự do hoá có chọn lọc các giao dịch vốn; Thiết lập khuôn khổ pháp lý chochu chuyển vốn quốc tế dễ dàng và khuyến khích đầu tư nước ngoài; Cải cáchchế độ tỷ giá hối đoái phù hợp với quan hệ cung cầu ngoại tệ, từng bước tiến tới
áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có kiểm soát theo nguyên tắc thị trường
(3)- Tham gia các tổ chức thương mại quốc tế và khu vực, ký kết cáchiệp định song phương và đa phương
2.3 Lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành ngân hàng Việt Nam
Có thể chia lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế về ngân hàng theo ba giaiđoạn quan trọng với các nội dung như sau:
(1)- Giai đoạn từ nay đến năm 2005 Trọng tâm của giai đoạn này là
thực hiện các cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, cụ thể là từngbước cho phép các nhà cung cấp dịch vụ tài chính Hoa Kỳ cung cấp 12 phân
Trang 6ngành dịch vụ tại Việt Nam theo lộ trình 7 mốc Trước mắt, nới lỏng các hạnchế đối với ngân hàng Hoa Kỳ về nhận tiền gửi, cho phép phát triển một số loạihình tín dụng và thanh toán, tiếp cận nghiệp vụ tái cấp vốn của NHTW, thamgia hoạt động tư vấn và môi giới kinh doanh ngoại tệ Trong giai đoạn này, ViệtNam cũng chuẩn bị đàm phán theo yêu cầu của GATS để gia nhập WTO.
(2)- Giai đoạn 2006-2010 Nội dung quan trọng về hội nhập kinh tế
quốc tế của giai đoạn này là tiếp tục thực thi các cam kết trong Hiệp địnhThương mại Việt- Mỹ, bắt đầu thực hiện Hiệp định chung về thương mại dịch
vụ (GATS) của WTO theo hướng thực hiện các hiệp định song phương đã kýkết với các nước thành viên WTO, đồng thời bắt đầu thực hiện các yêu cầu đãcam kết trong hiệp định khung về thương mại dịch vụ (AFAS) của ASEAN Cụthể là tiếp tục mở cửa dịch vụ ngân hàng và hình thức pháp lý trong hoạt độngngân hàng đối với các trung gian tài chính Hoa Kỳ, đảm bảo đến năm 2010, cácngân hàng Hoa Kỳ được đối xử như đối với các trung gian tài chính trong nước.Đối với các nước thành viên WTO (không kể Mỹ) và các nước ASEAN, lộtrình mở cửa dịch vụ tài chính- ngân hàng bắt đầu được thực hiện với nội dungtương tự như giai đoạn 2001-2005 Cạnh tranh quyết liệt hơn (mặc dù vẫn có sựcan thiệp nhất định của NHNN do Việt Nam được hưởng những ưu đãi nhấtđịnh đối với nước đang phát triển), cả về loại hình và chất lượng dịch vụ, nhữngkhống chế hoạt động đối với các trung gian tài chính nước ngoài đã giảm rõ rệt
(3)- Giai đoạn 2011-2020 Tiếp tục thực hiện những yêu cầu còn lại
của GATS và AFAS về mở cửa dịch vụ tài chính ngân hàng
Theo các cam kết quốc tế đó, Việt Nam đã chủ động từng bước tự dohoá hơn nữa khu vực ngân hàng;
+ Nới lỏng hạn chế đối với ngân hàng nước ngoài: Hiện tại, Việt Namvẫn thực hiện hạn chế các ngân hàng nước ngoài về huy động nội tệ và phạm vi
Trang 7địa lý hoạt động Riêng về giao dịch VND của các ngân hàng nước ngoài đãđược mở dần: đến nay các ngân hàng liên doanh hoạt động bình đẳng như cácNHTM khác của Việt Nam; các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã nới rộnghơn (từ mức được huy động VND của các pháp nhân không có quan hệ tíndụng, không quá 10% lên 20% đến 25% mức vốn được cấp; hiện tại NHNN đãtrình Chính phủ tăng mức này lên 50%)
+ Một số nhà đầu tư nước ngoài đã tham gia vào NHTM CP, tuynhiên mức độ còn thấp (VPBank, ACB và SACOMBANK)
+ Lộ trình cam kết đối với khu vực ngân hàng từ nay đến năm 2010như các cam kết trong hiệp định thương mại Việt Mỹ đang được NHNN chủđộng thực hiện nghiêm chỉnh; không hạn chế các chi nhánh ngân hàng nướcngoài tại Việt nam (huy động VND, phạm vi hoạt động, dịch vụ ngân hàng,mua cổ phần Việt Nam); cho phép các ngân hàng niêm yết trên thị trườngchứng khoán để các nhà đầu tư dễ dàng tham gia vào khu vực ngân hàng
Hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động bình đẳng với các ngân hàngnước ngoài đảm bảo hiệu quả, an toàn, đáp ứng nhu cầu về vốn và thanh toánchủ yếu của nền kinh tế, đồng thời đã có vai trò nhất định trên thị trường tàichính khu vực và quốc tế
II CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CẢI CÁCH HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
Việt Nam và Trung Quốc đều tiến hành cải cách và đổi mới đất nướctrên cơ sở của cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội có nguồn gốc từ cơ chế kếhoạch hoá tập trung Nền kinh tế của Trung Quốc và Việt Nam về cơ bản cũnggiống như tất cả những nền kinh tế của hệ thống này, trước hết là về cơ cấu sởhữu, cách thức tổ chức và vận hành toàn bộ các hoạt động kinh tế Do đó, đòihỏi phải có một cuộc cải cách toàn diện và triệt để mang tính hệ thống, đặc biệt,trong lĩnh vực ngân hàng- một lĩnh vực mà cả hai nước đều bị đánh giá là trì trệ
Trang 8và kém phát triển Trước tình hình ấy, Trung Quốc đã nỗ lực cải cách toàn diện
hệ thống ngân hàng của mình và đã đạt được những thành tưu đáng kể Từnhững kinh nghiệm của Trung Quốc- một đất nước có nhiều nét tương đồng vớiViệt Nam, vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của nước mình, Việt Nam đã tiếnhành công cuộc cải cách, đổi mới hệ thống ngân hàng nhằm đưa hệ thống ngânhàng Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế
1 Cải cách khuôn khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng
Trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa hội nhập, đặc biệt là tronglĩnh vực tài chính, ngân hàng, hệ thống pháp luật đòi hỏi phải rõ ràng minhbạch và có tính thực thi cao Theo nguyên tắc đó, Ngân hàng Nhà nước(NHNN) đã đặc biệt quan tâm đến việc xác lập một môi trường, khuôn khổpháp lý rõ ràng, có hiệu lực cũng như phù hợp với các thông lệ quốc tế Trong
đó nguyên tắc là đảm bảo sự hoạt động an toàn, hiệu quả, tự chịu trách nhiệm,đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng…Cụ thể là:
- Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về ngân hàng, đặc biệt là Luật sửađổi Luật các tổ chức tín dụng đang chờ phê duyệt; hoàn thiện văn bản pháp luật
- Một số văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng như:Nghị định 05/2001/CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 63 về quản lý ngoại hối;
Trang 9Nghị định 16/2001/CP về tổ chức và hoạt động của công ty thuê tài chính; Nghịđịnh 64/2001/CP về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụthanh toán; Nghị định 85/2002/CP bổ sung cho Nghị định 178/1999/NĐ-CP vềbảo đảm tiền vay…
- NHNN đã xây dựng một số dự thảo văn bản pháp quy mới nhằmđiều chỉnh những nghiệp vụ mới phát sinh như nghiệp vụ môi giới tiền tệ, thanhtoán bù trừ; điều chỉnh, sửa đổi một số văn bản pháp quy như Quy chế cho vaycủa tổ chức tín dụng đối với khách hàng, điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt độngcủa ngân hàng liên doanh, quy định về quản lý ngoại hối đối với đầu tư chứngkhoán, thực hiện chuyển Ngân hàng phục vụ người nghèo thành Ngân hàngchính sách…
- Điều chỉnh một số văn bản pháp luật cho phù hợp với các cam kếtquốc tế, đặc biệt là đối với Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, NHNN đã tiếnhành rà soát các văn bản, đối chiếu với nội dung ký kết, đưa vào kế hoạch sửađổi, bổ sung nhằm thực thi Hiệp định theo đúng lộ trình cam kết
2 Cơ cấu lại tổ chức
Việc cơ cấu lại tổ chức được thực hiện theo hướng tách hoàn toàn cáchoạt động cho vay theo chính sách của Nhà nước ra khỏi hoạt động kinh doanhcủa NHTM thông qua việc thành lập một số ngân hàng chính sách để cácNHTM chủ động thực hiện tốt chức năng kinh doanh theo nguyên tắc thịtrường Nâng cao quyền tự quyết, tự chủ và tự chịu trách nhiệm kinh doanh củacác NHTM, giảm thiểu bao cấp và bảo hộ trong hệ thống ngân hàng Đầu năm
2003, Ngân hàng chính sách xã hội chính thức đi vào hoạt động theo Quyếtđịnh số 131/2002/QĐ-TTg với số vốn được cấp ban đầu là 5000 tỷ đồng1 Ngânhàng này được thành lập trên cơ sở tách Ngân hàng phục vụ người nghèo ra
1 Tạp chí T i chính Tháng 1+2/2003 ài chính Tháng 1+2/2003
Trang 10khỏi Ngân hàng NN&PTNT, hoạt động tín dụng chính sách của các NHTM QDkhác, tín dụng giải quyết việc làm và chương trình 135 của Kho bạc Nhànước.Việc tách bạch này cũng tạo điều kiện cho việc giám sát, đánh giá củahoạt động kinh doanh của các cơ quan quản lý đối với các NHTM; sự tách bạchnày cũng nằm trong cam kết của Việt Nam với các tổ chức quốc tế (như trongChương trình PRGF) về tách bạch tín dụng chính sách với tín dụng thương mại
Cơ cấu lại hệ thống tổ chức ngân hàng còn tập trung xử lý về mặt tổchức dưới hình thức giải thể hoặc kiểm soát đặc biệt các ngân hàng yếu kém,sáp nhập hoặc hợp nhất các ngân hàng Trong năm 2001 và 2002, việc thựchiện chính sách trên đây đã đạt được những kết quả hết sức khả quan, giải thể 5ngân hàng, sáp nhập và bán lại 5 ngân hàng và đang tiếp tục xử lý các ngânhàng yếu kém còn lại2
- Đối với các NHTM QD: Hiện nay, việc cổ phần hoá các NHTM QDcũng đang được xem xét và sẽ nhanh chóng được tiến hành trong thời gian tớinhằm giảm bớt sự cồng kềnh trong bộ máy quản lý nhiều cấp, dễ dàng phát huytính năng động trong kinh doanh
- Đối với các NHTM CP: Năm 1997, số lượng các NHTM CP là 51ngân hàng, đến nay (30/4/2003) số lượng các NHTM CP là 37 ngân hàng, dựkiến đến năm 2005, số lượng các NHTM CP sẽ là 25 ngân hàng3
Song song với các hoạt động trên, các NHTM cũng đang tích cực pháttriển và mở rộng mạng lưới ngân hàng Trên các nước tiên tiến hiện nay bìnhquân có khoảng 1000 ngân hàng trên 1 triệu dân trong khi ở Việt Nam bìnhquân chỉ có khoảng 55 ngân hàng trên một triệu dân4 Do vậy, các ngân hàngđang hoàn thiện các chi nhánh cấp II, cấp III tại các tụ điểm dân cư, trường học,
2 Tạp chí T i chính S ài chính Tháng 1+2/2003 ố 5/2003
3 Báo cáo tình hình thực hiện Nghị Quyết 07-NQ-TW ng y 27/11/2001 c ài chính Tháng 1+2/2003 ủa NHNN
4 Tạp chí T i chính Tháng 8/2003 ài chính Tháng 1+2/2003
Trang 11thị xã, thị trấn, các khu công ghiệp… Đồng thời mở thêm các chi nhánh phục
vụ tại các doanh nghiệp lớn, các phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm…
3 Cơ cấu lại tài chính
Cơ cấu lại tài chính trong hoạt động ngân hàng là một trong nhữngvấn đề được quan tâm hàng đầu Mục tiêu của việc cơ cấu này là làm cho việcquản lý các hoạt động ngân hàng thực sự có hiệu quả Những nội dung chủ yếutrong cơ cấu lại tài chính bao gồm:
3.1 Mở rộng quy mô vốn, đảm bảo an toàn về vốn
Nhìn chung ở cả hai khối NHTM QD và NHTM CP, cả về tỷ lệ antoan và quy mô vốn đều là những thách thức lớn trong quá trình hội nhập quốc
tế về an toàn hoạt động Do vậy, các NHTM phải tiếp tục đẩy nhanh tiến trình
cơ cấu lại hệ thống ngân hàng để sáp nhập hoặc giải thể các ngân hàng có mứcvốn quá nhỏ, không đủ sức cạnh tranh Mặt khác bắt buộc các ngân hàng không
đủ vốn phải có biện pháp bổ sung trong một thời gian nhất định sao cho ngangbằng với mức trung bình của khu vực và đạt mức an toàn tối thiểu là 8%.Khuyến khích và tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nhiều biện pháp khácnhau để tăng vốn từ các nguồn bên ngoài kết hợp với phát triển vốn từ bêntrong:
(1) Phát triển vốn từ bên trong Nếu như lợi nhuận của ngân hàng để
lại có thể đáp ứng được những nhu cầu gia tăng vốn của mình thì thông thườngđây chính là nguồn bổ sung tốt nhất Vì vậy, các NHTM cần xác định rõ mụctiêu tăng trưởng tài sản hàng năm và mức vốn cần đạt được để quyết định tỷ lệlợi nhuận giữ lại sau khi đã tính toán các nguồn bổ sung khác Để có căn cứquản lý, phải thiết lập một cơ chế phù hợp buộc các NHTM phải tự tích luỹvốn; bên cạnh các quy định về mức vốn tối thiểu và tỷ lệ an toàn vốn, nhất thiết
Trang 12phải đặt ra chỉ tiêu về tỷ lệ số nhân đòn bẩy tối đa để ràng buộc các ngân hàngmuốn mở rộng quy mô hoạt động phải tích lũy một lượng vốn tương ứng Bướcđầu, các ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn từ quỹ đầu tư phát triển và dựphòng tài chính hàng năm chưa dùng đến, số lợi nhuận chưa phân phối để bổsung vốn Sau đó, mỗi ngân hàng phải bổ sung vốn đủ mức an toàn tối thiểu,trong thời gian chưa bổ sung đủ vốn, ngân hàng không được mở rộng quy môhoạt động Mới đây NHNN đã có văn bản đề nghị Văn phòng Chính phủ và BộTài chính xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ cho phép Ngân hàng Ngoạithương được thực hiện thí điểm giải pháp này, trên cơ sở lấy kết quả kinh doanhnăm 2002 làm gốc và kế hoạch tăng trưởng lợi nhuận trước thuế là 5%/năm.Nếu lợi nhuận thực hiện đạt và vượt mức đăng ký thì ngân hàng sẽ nộp thuế vàtrích lập các quỹ trên cơ sở mức lợi nhuận đạt bằng 105% lợi nhuận thực hiệnnăm trước, phần lợi nhuận còn lại thì được dùng toàn bộ số vượt đó để bổ sungtăng thêm vốn điều lệ5
(2) Gia tăng vốn từ các nguồn bên ngoài Các nguồn bên ngoài có thể
giúp ngân hàng tăng vốn gồm: Vốn từ ngân sách cấp bổ sung, nguồn vay chomục đích cơ cấu lại các NHTM của WB và IMF, vốn do phát hành cổ phiếuhoặc chứng khoán cấp cao Cho đến nay, các NHTM QD chủ yếu vẫn dựa vàonguồn ngân sách cấp bổ sung Từ năm 2002 đến nay, NHNN đã phối hợp với
Bộ Tài chính trình Chính phủ thực hiện hai đợt cấp bổ sung vốn điều lệ cho cácNHTM QD Đợt I đã thực hiện trong năm 2002 với số vốn cấp cho 5 NHTM
QD là 4900 tỷ đồng Tiếp đến, ngày 4/6/2003, trên cơ sở thống nhất giữa BộTài chính và NHNN, Bộ Tài chính đã có một loạt quyết định cấp bổ sung 400 tỷđồng cho mỗi ngân hàng: Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Ngoại thương,Ngân hàng ĐT&PT Riêng Ngân hàng NN&PTNT được cấp 700 tỷ đồng Nhưvậy, cùng với số vốn được cấp đợt I trong năm 2002 thì tổng số vốn điều lệ các
5 Tạp chí Ngân h ng S ài chính Tháng 1+2/2003 ố 13/2003
Trang 13NHTM QD được cấp bổ sung cả hai đợt đến nay là 6.800 tỷ đồng.6 Đối với cácNHTM CP thì sau hơn 3 năm NHNN chỉ đạo tiến hành chấn chỉnh rất quyết liệtthì đến nay đã có 32 ngân hàng tăng đủ vốn điều lệ theo quy định (70 tỷ VND),một số ngân hàng còn đạt mức cao hơn7 Tuy nhiên, trong diều kiện nguồn vốnNgân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn thì yêu cầu tăng vốn cho các ngânhàng sẽ trở thành mọt vấn đề nan giải và khó có thể đáp ứng được trong thờigian ngắn Ở các nước, việc phát hành cổ phiếu hay chứng khoán cấp cao để giatăng nguồn vốn chủ sở hữu là một biện pháp phổ biến được áp dụng rộng rãi.Hiện tại, ở nước ta lượng vốn trong dân còn rất nhiều, nhưng ngân hàng mới chỉthu hút được bằng các hình thức huy động tiền gửi, phát hành kỳ phiếu, tráiphiếu, chứng chỉ tiền gửi Với các hình thức huy động này đã không tạo nênnền tảng vốn vững chắc cho các ngân hàng đồng thời còn luôn đe dọa đến khảnăng chi trả đối với ngân hàng khi thị trường có sự biến động Vì vậy, việc pháthành cổ phiếu cũng là một phướng án rất khả thi, cho phép huy động vốn trongcông chúng cũng đang được xem xét và chờ phê duyệt Khi các ngân hàng đượcniêm yết cổ phiếu trên thị trường, ngoài tác dụng tạo vốn còn phát huy được vaitrò của các nhân tố thị trường trong điều tiết hoạt động ngân hàng.
3.2 Các biện pháp giải quyết nợ xấu
Việc xoá bỏ nợ xấu là mục tiêu cao nhất không chỉ của hệ thống ngânhàng Việt Nam mà còn là của nền kinh tế Thời gian qua, Chính phủ và NHNN
đã ban hành các giải pháp xử lý nợ và tài sản và các ngân hàng đang tích cực ápdụng các biện pháp cần thiết để xử lý nợ tồn đọng
Thứ nhất, làm rõ chuẩn mực đánh giá, phân loại đối với nợ tồn đọng;
nếu không làm rõ được thì không có cơ sở và cơ chế cho việc xử lý tổng thể,toàn diện các khoản nợ xấu
6 Tạp chí Ngân h ng S ài chính Tháng 1+2/2003 ố 13/2003
7 Tạp chí Ngân h ng S ài chính Tháng 1+2/2003 ố 13/2003
Trang 14Thứ hai, xem xét lại quy trình, thủ tục cho vay tại các NHTM để hoàn
chỉnh và đảm bảo an toàn khi cho vay Có chiến lược khách hàng một cách hợp
lý, xoá bỏ hiện tượng cạnh tranh khách hàng không lành mạnh giữa các NHTM,đây là giải pháp xử lý tận gốc việc phát sinh nợ tồn đọng
Thứ ba, các NHTM phải đối chiếu, rà soát, đánh giá, phân loại tất cả
các khoản nợ, kết hợp với việc thu thập thông tin một cách dầy đủ về kháchhàng vay vốn như quá trình sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và khả năng trảnợ…; việc điều tra thu thập thông tin phải kết hợp từ nhiều nguồn như các báocáo tài chính kế toán, qua các diễn biến của cổ phiếu, trái phiếu của khách hàng,qua các ý kiến tổng hợp của các nhà phân tích Trên cơ sở thông tin thu thập,kết hợp đối chiếu rà soát nợ giúp cho các ngân hàng đánh giá xác suất rủi ro từngười vay, xác định khả năng thu hồi nợ Từ việc đánh giá khách hàng liênquan đến món vay, các NHTM thực hiện việc hoàn chỉnh về mặt pháp lý các hồ
sơ tín dụng Đây là giải pháp làm rõ thực chất các khoản nợ xấu
Thứ tư, đối với các khoản nợ tồn đọng có tài sản đảm bảo, cần tập
trung nghiên cứu xem xét, phân tích nguyên nhân làm chậm quá trình chuyểnhoá các tài sản này thành tiền Lưu ý, khi xem xét giá trị tài sản gán nợ, xiết nợphải hợp lý, phù hợp với giá thị trường, thủ tục chuyển quyền sở hữu phải thuậntiện, đơn giản…
Thứ năm, đối với các khoản nợ tồn đọng không có tài sản đảm bảo thì
việc xử lý cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành các cấp trong việcnhắc nhở, đôn đốc, cưỡng chế đối với khách hàng
Thứ sáu, thực hiện trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro Một trong
những nội dung quan trọng nhằm tháo gỡ khó khăn cho các NHTM trong việcphát mại tài sản thế chấp không đủ bù đắp vốn vay hoặc tài sản thế chấp không
xử lý được, đó là việc thực hiện phân loại tài sản “có”, trích lập và sử dụng dự
Trang 15phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng theo quyết định 488/2000/QĐ-NHNN.Theo đó, dư nợ cho vay được phân loại và được trích lập quỹ bù đắp rủi ro hàngtháng, số tiền trích rủi ro được tính vào chi phí của NHTM Giải pháp này tạohành lang pháp lý trước hết cho các NHTM bằng nguồn trích lập quỹ rủi ro, tạo
ra nguồn tài chính nhằm vào việc xử lý nợ xấu của các NHTM được thực hiệnhàng năm, nhờ đó nợ xấu giảm đi Đồng thời quyết định này cũng giảm hẳnkhoản nợ xấu phát sinh khác nhau về nguồn gốc của nhiều NHTM, đã trở thànhmột gánh nặng không chỉ đối với ngành ngân hàng như nó đã từng phát sinh từnhiều năm qua
Thứ bảy, trong việc xử lý tài sản đảm bảo nợ đối với các tài sản mà
toà án tuyên giao cho ngân hàng, nếu giá trị thu hồi được khi bán tài sản lớnhơn nghĩa vụ trả nợ, Chính phủ có thể xem xét cho phép các ngân hàng khônghạch toán vào các khoản thu nhập bất thường mà hạch toán bù trừ các khoản nợkhông có khả năng thu hồi hoặc hạch toán tăng quỹ dự phòng rủi ro
Thứ tám, thành lập công ty quản lý tài sản ACM, đây là một công cụ
giúp các ngân hàng tiến hành xử lý các khoản nợ đọng, không sinh lời và cơ cấulại vốn của mình Trong điều kiện Việ Nam hiện nay, Thủ tướng Chính phủ mớichỉ ban hành Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg phê duyệt đề án xử lý nợ tồnđọng của các NHTM Theo đó cho phép các NHTM, các Công ty Quản lý nợ vàKhai thác tài sản của NHTM được chủ động xử lý các tài sản đảm bảo nợ vay
kể cả các tài sản là bất động sản Tuy nhiên sau khi mua nợ từ các NHTM,Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản của các NHTM không biết căn cứ vàovăn bản pháp lý nào để bán nợ cho các tổ chức kinh tế hay cá nhân khác, vì vậyNHNN cần ban hành văn bản hướng dẫn hoạt động mua bán nợ và khai thác tàisản với nhau và quan hệ mua bán nợ giữa Công ty Quản lý nợ và Khai thác tàisản với các tổ chức kinh tế và cá nhân khác hoặc ngược lại
Trang 16Với các giải pháp đó, cho đến nay việc giải quyết nợ xấu đã đạt đượcmột số thành tựu nhất định Ngoài số nợ Chính phủ cho phép xử lý theo chínhsách thì các NHTM cũng đã tích cực xử lý bằng biện pháp trích lập dự phòngrủi ro và bán tài sản thế chấp của khách hàng vay vốn Tính đến cuối năm 2002Ngân hàng NN&PTNT đã xử lý được trên 2000 tỷ đồng, chiếm khoản 50% số
nợ đọng, do đó tỷ lệ nợ quá hạn hiện tại chỉ còn 2,38% Tiếp đến, Ngân hàngCông thương trong năm 2001-2002 đã xử lý được gần 2000 tỷ đồng nợ nhóm I
và nợ nhóm III theo Quyết định 149 của Chính phủ về xử lý nợ tồn đọng củacác NHTM Trong đó riêng năm 2002 xử lý được gần 1230 tỷ đồng, vượt chỉtiêu xử lý nợ do NHNN giao cho, đến hết năm 2002 tỷ lệ nợ quá hạn còn dưới3% Ngân hàng Ngoại thương cũng đã trích lập dự phòng rủi ro được 3100 tỷđồng, tỷ lệ nợ quá hạn còn 2,28% Đây là ngân hàng có khoản dự phòng rủi rolớn nhất hệ thống NHTM Việt Nam, có năng lực tài chính vững vàng nhất8
Đối với khối NHTM CP thì NHTM CP Xuất nhập khẩu Việt Nam(Eximbank) dẫn đầu trong việc xử lý rủi ro, trước đó Eximbank là một ngânhàng mất khả năng chi trả với con số nợ gần 1500 tỷ đồng, trong đó nợ quá hạn
là 1130 tỷ đồng, chiếm trên 70% tổng dư nợ thì nay đã giảm được trên 700 tỷđồng nợ quá hạn, trong đó bán tài sản thế chấp thu hồi được trên 500 tỷ đồng.Các NHTM CP khác như: Á Châu, Sài Gòn Công thương, Sài Gòn Thương Tín,Đông Á, Hàng Hải… cũng đã xử lý nợ xấu bằng biện pháp phát mại tài sản thếchấp thu hồi được khoảng 100 tỷ đồng, đồng thời trích lập phòng rủi ro đượcgần 300 tỷ đồng Hiện nay một số ngân hàng khá vững vàng về năng lực tàichính, bảng cân đối tài chính trong sạch ngày càng tăng9
3.3 Giải pháp cân đối tỷ giá- lãi suất- cơ cấu tiền tệ
8 Tạp chí Thị trường T i chính Ti ài chính Tháng 1+2/2003 ền tệ Tháng 3/2003
9 Tạp chí Thị trường T i chính Ti ài chính Tháng 1+2/2003 ền tệ Tháng 3/2003
Trang 17Để có được giải pháp thoả đáng, các NHTM cần phải có sự nhìn nhậnxuyên suốt trong một quá trình lâu dài và toàn diện vấn đề Rõ ràng một nguyênnhân căn bản nằm ngay trong chính hệ thống NHTM là việc thiếu sự điều chỉnh
có tính chiến lược để đối phó với sự tăng trưởng đều đặn cơ cấu ngoại tệ trongtổng tài sản và nguồn vốn Các NHTM cần thực sự chú trọng đến việc tăngcường huy động vốn ngoại tệ trung và dài hạn theo những phương thức linhhoạt và hiện đại Đồng thời các NHTM cần phải tránh tình trạng bị động trongquản lý thanh khoản do hạn chế về phương pháp và công cụ dự báo thanhkhoản trong nội bộ hệ thống của một ngân hàng Những hạn chế và bất cập liênquan đến trục tỷ giá- lãi suất- cơ cấu ngoại tệ nằm trong phạm vi điều chỉnh củacác NHTM có thể xử lý được nếu NHNN và các NHTM thống nhất trong cáchthức giải quyết một cách triệt để và dài hạn
Trước hết, các NHTM cần nâng cao năng lực dự báo vốn khả dụng cảnội tệ và ngoại tệ của mình thông qua việc phát triển ứng dụng công nghệ quản
lý hiện đại đối với tất cả hoạt động thanh toán, huy động vốn và đầu tư, tíndụng Tuy vậy, điều quan trọng nhất là chiến lược quản lý thanh khoản và cânđối vốn- tài sản của ngân hàng phải được xác lập trên cơ sở các mục tiêu trung
và dài hạn chứ không phải là mục tiêu ngắn hạn, tình thế Trên nền tảng đó,ngân hàng sẽ có các biện pháp điều chỉnh cơ cấu tiền tệ một cách tối ưu trướcnhững biến động của lãi suất và tỷ giá hối đoái nhằm hạn chế rủi ro lãi suất và
tỷ giá tới mức tối thiểu để đạt được mục tiêu kinh doanh có hiệu quả, tăngtrưởng và an toàn trong dài hạn Các NHTM cũng nên tập trung vào huy độngvốn ngoại tệ trung và dài hạn thông qua các biện pháp chuẩn hóa công cụ kếthợp linh hoạt và đa dạng hoá lãi suất, phương thức chi trả, chiết khấu Các biệnpháp này mặc dù đã được áp dụng tại một số NHTM thông qua các đợt pháthành trái phiếu, kỳ phiếu nhưng thực sự chưa mang lại hiệu quả cao do thiếu
Trang 18các biện pháp giới thiệu và quảng bá sản phẩm một cách rộng rãi vào các phânđoạn thị trường có tiềm năng cao Nhưng những bất cập liên quan đến sử dụngvốn ngoại tệ thì cần có sự định hướng và hỗ trợ của NHNN về mặt tạo dựngkhuôn khổ pháp lý và chính sách Việc áp dụng một tỷ lệ phù hợp và linh hoạtvốn ngoại tệ ngắn hạn cho đầu tư tín dụng trung dài hạn cho các dự án có tínhkhả thi cao trong một số ngành trọng điểm như dầu khí, điện lực, viễn thôngvốn co nhu cầu rất lớn về vốn ngoại tệ trung và dài hạn…Biện pháp này cũngđược áp dụng thành công với vốnnội tệ nếu được thực hiện một cách thận trọngcho vốn ngoại tệ chắc chắn cũng mạng lại kết quả Tuy vậy, khi mở ra hướngđầu tư tín dụng này và đảm bảo được các tiêu chuẩn về đa dạng hoá rủi ro theoLuật ngân hàng (theo đó các NHTM không được có dư nợ với một khách hànghay dự án quá 15% vốn điều lệ), các NHTM cũng phải được nhanh chóng củng
cố và tăng vốn điều lệ và phát triển tích cực hơn các nghiệp vụ đồng tài trợ Bêncạnh đó, tăng cường phát triển hoạt động nghiệp vụ thị trường mở cũng là mộtnhân tố quan trọng góp phần để NHNN sử dụng cộng cụ có tính thị trường củamình để hỗ trợ trong việc xử lý những bất cập trong quản lý lãi suất và cơ cấutiền tệ trong hệ thống NHTM
4 Cơ cấu lại hoạt động ngân hàng
4.1 Đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh