1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

xây dựng phát triển đội ngũ công nhân tỉnh phú thọ nghiệp công nghiệp hóa, đại hóa

106 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 810,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy tác giả đã lựa chọn và thực hiện đề tài: “ Xây dựng và phát tri ển đội ngũ công nhân tỉnh Phú Thọ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, hy vọng góp một phần nhỏ

Trang 1

đại học quốc gia hà nội Trường đại học khoa học x hội và nhân văn

- -

lưu hữu hiếu

xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân tỉnh phú thọ trong sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hóa

luận văn thạc sĩ

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 60 22 03 08 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Dương Xuân Ngọc

Hà Nội - 2014

Trang 2

MỞ BÀI

1 Lý do và tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, mỗi người công nhân và toàn xã hội Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, giai cấp công nhân không chỉ là giai cấp lãnh đạo mà còn là lực lượng đi đầu, trực tiếp thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước Giai cấp công nhân Việt Nam có những sự chuyển biến hết sức quan trọng, phát triển nhanh về số lượng, chất lượng và đa dạng

về cơ cấu, hình thành một đội ngũ công nhân trí thức đông đảo Vị trí của giai cấp công nhân ngày càng được khẳng định, phát huy được vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua Đảng cộng sản Việt Nam, vừa tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa Tuy nhiên sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa và hội nhập quốc tế cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thiếu các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề Một bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường, chưa được đào tạo bài bản, có hệ thống Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của giai cấp công nhân không đồng đều, sự hiểu biết chính trị, pháp luật còn nhiều hạn chế Vì vậy, vấn đề xây dựng giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh về mọi mặt là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng, nhà nước của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân

Là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam, trải qua một thời gian phát triển, đội ngũ công nhân Tỉnh Phú Thọ không ngừng trưởng thành, có vai trò lớn trong tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước nói chung cũng như đóng góp vào sự phát triển Đất Tổ nói riêng Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước, đội ngũ công nhân Phú Thọ tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng Tuy nhiên cũng như giai cấp công nhân cả nước, đội ngũ công nhân Phú Thọ đã và đang bộc lộ những những hạn chế và yếu kém đòi hỏi

Trang 3

phải từng bước khắc phục để có thể đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước Vì vậy, nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ công nhân Phú Thọ là việc làm vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách

Chính vì vậy tác giả đã lựa chọn và thực hiện đề tài: “ Xây dựng và phát

tri ển đội ngũ công nhân tỉnh Phú Thọ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

hóa”, hy vọng góp một phần nhỏ vào việc làm rõ bản chất, vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam, góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân Tỉnh Phú Thọ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân và xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong những năm qua, vấn đề giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó

đã được nhiều công trình khoa học nghiên cứu với nhiều góc độ và phạm vi khác nhau Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu: giai cấp công nhân là gì? Thực trạng giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam Một số công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài nghiên cứu của tôi:

- “Tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình”(Trần Thị Bích Liên- Luận án tiến sĩ, 2001)

- “Vấn đề đình công của công nhân ở nước ta hiện nay”( Phạm Thị Xuân Hương, Luận án Tiến sĩ, 2001)

- “Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21”( Tổng liên đoàn lao động Việt nam- Viện công nhân và công đoàn, Nxb Lao động Hà Nội, 2001)

- “Về giai cấp công nhân hiện đại, phong trào cộng sản và công nhân, trào lưu xã hội dân chủ trong chủ nghĩa tư bản hiện đại” (Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Đào Duy Quát, 1995)

- “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011- 2020”( TS Đặng Ngọc Tùng, đề tài khoa học cấp nhà nước, năm 2011)

- “Giai cấp công nhân Việt Nam – thực trạng và suy ngẫm”( Trương Giang Long, Tạp chí Cộng sản số 23 (143) năm 2007)

Trang 4

- “Giải pháp đảm bảo việc làm, cải thiện điều kiện làm việc của công nhân

các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay”( TS Lê Thanh Hà, đề tài khoa học cấp

Tổng Liên đoàn, 2011)

Các công trình nêu trên đã khai thác tương đối toàn diện những vấn đề liên

quan tới công nhân, xu hướng biến động của nó trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa

xã hội, mặt khác đã đề ra những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công nhân không

ngừng lớn mạnh nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa

Gần đây còn một số công trình khác nghiên cứu trực tiếp đền mối quan ghệ

giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự phát triển của giai cấp công nhân; vai trò của giai cấp công nhân trong qúa trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước như:

- “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển giai cấp công nhân”( PGS

Cao Văn Lượng( chủ biên)- Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2001)

- “ Sự phát triển của giai cấp công nhân Việt nam và vai trò của nó trong sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”( Trần Ngọc Sơn- Luận án tiến sĩ,

2001)

- Kỷ yếu hội thảo:” Về giai cấp công nhân và công đoàn Việt nam trong sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.( Trường Đại học công đoàn Việt nam, Hà

Nôi, 2002)

- “ Giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước”( PGS TS Dương Xuân Ngọc- Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004)

- “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh đáp ứng yêu cầu cúa

sự phát triển đất nước”(TS Đặng Ngọc Tùng- Tham luận tại: Phiên họp sáng

14/01/2011, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam)

- Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh trong thời kỳ CNH, HĐH đất

nước” (TS Đặng Ngọc Tùng- Bài phỏng vấn với phóng viên, đăng trên

http://www.baomoi.com nhân ngày 1/5/2009)

Trang 5

Trong các công trình các tác giả đã đi sâu nghiên cứu và đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với sự phát triển của giai cấp công nhân, đặt ra những yêu cầu nhằm phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu…để có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn đặt ra

2.2 Các công trình nghiên cứu về đội ngũ công nhân và xây dựng đội ngũ công nhân Phú Thọ

Đối với tình hình nghiên cứu về đội ngũ công nhân và xây dựng đội ngũ công nhân Phú Thọ trong thời gian qua tôi cũng đã tìm hiểu, tiếp cận với một số bài báo, các nghiên cứu cụ thể như sau:

- “Quy hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2011 - 2020 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, Minh Ngọc, đăng trên http://www.aip.gov.vn/ , 2011

- “Thực trạng công nghiệp tỉnh ta: Nguyên nhân và giải pháp”, đăng trên http://www.baophutho.vn, 2012

- Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, đăng trên http://nguoiphutho.com, 2011

- Ủy ban nhân dân Tỉnh Phú Thọ(2009), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm

vụ phát triển kinh tế- xã hội năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ 2010

- Ủy ban nhân dân Tỉnh Phú Thọ(2010), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm

vụ phát triển kinh tế- xã hội năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012

- Ủy ban nhân dân Tỉnh Phú Thọ(2011), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm

vụ phát triển kinh tế- xã hội năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ năm 2013

- Cục thống kê- Liên đoàn lao động Tỉnh Phú Thọ(2010), Thực trạng đội ngũ công nhân Tỉnh Phú Thọ theo kết quả điều tra xã hội học

Trong các bài báo chỉ đề cấp tới việc phát triển, quy hoạch chung về công nghiệp, về việc phát triển nền kinh tế chung của Tỉnh Phú Thọ, còn việc đề cấp tới đội ngũ công nhân và xây dựng đội ngũ công nhân Tỉnh là rất ít Căn cứu vào mục tiêu nghiên cứu, các đề tài nghiên cứu trên chủ yếu nêu vấn đề và giải quyết vấn đề nằm ở tầm vĩ mô, không có nhiệm vụ đi sâu vào nghiên cứu cụ thể về đội ngũ công

Trang 6

nhân Tỉnh Phú Thọ một cách khoa học và toàn diện Chính vì vậy đề tài này tác giả

sẽ chỉ ra phương hướng, giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân Tỉnh Phú Thọ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng việc xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân Phú Thọ, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân Phú Thọ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.đất nước

Để đạt được mục tiêu đề tài xác định và giải quyết những nhiệm vụ:

- Làm rõ cơ sở lý luận về việc xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, đội ngũ công nhân Phú Thọ nói riêng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân Phú Thọ, tìm

ra những nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân Phú Thọ

- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân Phú thọ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu việc xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân Phú Thọ trong sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa

Đề tài nghiên cứu quá trình xây dựng và phảt triển đội ngũ công nhân Phú Thọ trong quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa, chủ yếu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa (từ Đại hội VIII, 1996) đến nay

5 Cơ sở lý luận và hệ phương pháp nghiên cứu của luận văn

Trang 7

- Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của

nó, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kết quả điều tra thực trạng công nhân ở các doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

- Vận dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Coi trọng phương pháp logic- lịch sử; kết hợp phương pháp thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê,

- Kế thừa một cách chọn lọc các thành tựu nghiên cứu có liên quan đến luận văn

6 Đóng góp mới của luận văn

- Trong đề tài nghiên cứu này tôi đã bước đầu nêu lên được một cách hệ thống thực trạng đội ngũ; thực trạng xây dựng và phảt triển đội ngũ công nhân Phú Thọ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tạo lập cơ sở khoa học để các cấp lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Phú Thọ tham khảo, vận dụng trong việc xây dựng chính sách nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân trên địa bàn toàn tỉnh

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ giảng dạy nghiên cứu

về giai cấp công nhân ở các trường chính trị Tỉnh, Thành phố

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đàu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ Lục, luận văn được chia thành 3 chương, 6 tiết

Trang 8

CHƯƠNG 1 GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN PHÚ THỌ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

đại hóa

1.1.1 Khái lược về giai cấp công nhân và giai cấp công nhân Việt Nam

Khái niệm về giai cấp công nhân được đề cập đến ngay khi giai cấp công nhân xuất hiện trên vũ đài chính trị Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tùy thuộc ở lập trường giai cấp, thái độ chính trị, trình độ nhận thức và phương pháp tiếp cận khác nhau đưa ra nhiều ý kiến không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau Đến nay giai cấp công nhân là gì? Nó còn hay đã "biến mất"? Địa vị kinh tế - xã hội của nó ra sao? Tất cả vẫn đang là trọng điểm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới Thực tiễn cho thấy, quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân vẫn hàm chứa tính khách quan và khoa học hơn cả bởi nó dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận biện chứng duy vật Trong rất nhiều tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét khái niệm giai cấp công nhân trên tất cả các khía cạnh, các dấu hiệu đặc trưng nhất và các thuộc tính bản chất của nó Chẳng hạn như ngay từ năm 1845, khi bắt tay vào nghiên cứu giai cấp công nhân trong tác phẩm "Gia đình thần thánh" C.Mác đã đặt câu hỏi: "Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực sự là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử" [4, tr.56]

C.Mác, Ph.Ăngghen phân biệt giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới và bản chất cách mạng với bộ phận công nhân đã bị tha hóa, đánh mất mình bằng những thuật ngữ đối ngược nhau: giữa một bên là "giai cấp vô sản cách mạng" với một bên là "tầng lớp vô sản lưu manh" mất gốc, những phần tử cặn bã của xã hội, và như vậy cũng đồng nghĩa với việc phân biệt giai cấp công nhân cách mạng với bộ phận công nhân đã khuất phục, trở thành công cụ của giai cấp

Trang 9

tư sản để phá hoại phong trào công nhân từ bên trong, mưu toan kìm hãm và khuôn cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong trật tự của "chủ nghĩa tư bản"

vì mục tiêu kinh tế và lợi ích tầm thường do hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản thao túng mà ở đây các ông đã sử dụng thuật ngữ: "Công nhân quý tộc"

Tựu chung lại, tuy có khác nhau trong cách gọi, cách diễn đạt tùy từng hoàn cảnh lịch sử Nhưng những thuật ngữ không giống nhau nêu trên về khái niệm giai cấp công nhân đều được các nhà kinh điển Mác xít sử dụng như một khái niệm đồng nhất dựa trên hai tiêu chí cơ bản để phân định giai cấp công nhân với các giai tầng xã hội khác là:

V ị trí của giai cấp công nhân trong lực lượng sản xuất

Giai cấp công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và

xã hội hóa, quốc tế hóa cao Đây cũng là tiêu chí cơ bản phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ hay người thợ trong công trường thủ công C.Mác chỉ rõ: "Trong công trường thủ công và trong nghề thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục tùng máy móc" [7, tr.605]

V ị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:

Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không có

tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư

lao động của họ tăng thêm tư bản cũng phát triển theo Những công nhân ấy, buộc

ph ải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là món hàng đem

Điều này đã khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản

Trang 10

Phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen trong thời đại mới, thời đại

đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản - thời đại chủ nghĩa xã hội hiện thực Lênin

đã bổ sung, phát triển những thuộc tính mới của giai cấp công nhân Theo Lênin, giai cấp công nhân là giai cấp thống trị về chính trị, lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp Xu hướng phát triển của giai cấp công nhân là đi tới tự thủ tiêu mình với tư cách là giai cấp

Về phía cá nhân các nhà nghiên cứu, có một số định nghĩa sau:

GS.TS Đỗ Nguyên Phương trong tác phẩm: "Những vấn đề chính trị - xã hội

c ủa cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Nhà

xuất bản Khoa học - kỹ thuật phát hành năm 1993, viết: "Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội hình thành và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong sản xuất của cải vật chất và cải tạo các quan

hệ xã hội, động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội"

GS Phạm Xuân Nam trong cuốn "Đổi mới chính sách xã hội, luận cứ và giải

pháp", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 đưa ra định nghĩa:

Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội rộng lớn những người lao động làm việc trong các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp có thu nhập chủ yếu bằng tiền lương hoặc tiền công, do trực tiếp vận hành những tư liệu sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại trong các ngành then chốt của nền kinh tế quốc dân, đại diện cho lựu lượng sản xuất tiên tiến [37, tr.31]

Trên cơ sở cơ sở kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển Mác xít; những điểm cơ bản của các định nghĩa nêu trên kết hợp với thực tiễn phong trào công nhân, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân như sau:

Trang 11

n ước và trên phạm vi toàn thế giới Trong các nước tư bản chủ nghĩa do không có

ho ặc cơ bản không có những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, họ phải bán sức

lao động làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư; trong các nước

xã h ội chủ nghĩa, họ cùng nhân dân lao động làm chủ các tư liệu sản xuất chủ yếu

Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của giai cấp công nhân thế giới

ra đời ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Do hoàn cảnh, đặc điểm ra đời và phát triển, giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành một lực lượng chính trị độc lập, thống nhất trong cả nước, nhanh chóng vươn lên nắm quyền lãnh đạo cách mạng Điều đó khẳng định: giai cấp công nhân Việt Nam vừa có đầy đủ những đặc điểm của giai cấp công nhân nói chung, đồng thời còn có những nét riêng biệt do hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở Việt Nam quy định

Khi nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam các nhà khoa học ở nước ta

đã đưa ra khá nhiều quan niệm khác nhau Thí dụ:

GS Trần Văn Giàu trong cuốn: Giai cấp công nhân Việt Nam, sự hình thành

Nội, 1958), mặc dù không đưa ra một định nghĩa cụ thể về giai cấp công nhân Việt Nam song toàn bộ công trình đã thể hiện rất rõ nội hàm khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam

Trong cuốn: "Đổi mới chính sách đối với công nhân và thợ thủ công" của

Trung tâm nghiên cứu thông tin lý luận, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đưa ra định nghĩa:

Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn xã hội những người lao động ở Việt Nam có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống và làm việc gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp Do nắm giữ những cơ sở vật chất then chốt và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến của xã hội nên giai cấp

Trang 12

công nhân tất yếu có vai trò đi tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử hiện đại [51, tr.113]

Trên cơ sở khái niệm giai cấp công nhân nói chung, căn cứ những đặc trưng riêng của giai cấp công nhân Việt Nam gắn với thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây về giai cấp công nhân Việt Nam, chúng tôi hiểu về giai cấp công nhân Việt Nam như sau:

hi ện các cơ sở kinh tế của tư sản Pháp, là một tập đoàn gồm những người lao động

Vi ệt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; đảm bảo giữ

v ững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế

gi ới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Công nghiệp hóa , hiện đại hóa là quá trình phát triển tất yếu của thời đại ngày nay, là con đường đưa mỗi quốc gia thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh

tế so với các nước khác trên thế giới và khu vực Không phải đến bây giờ, các quốc gia trên thế giới mới tiến hành công nghiệp hóa mà công nghiệp hóa đã được khởi đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở Anh cuối thế kỷ XVIII và sau đó kéo theo một loạt nước khác ở Tây Âu Nhưng phải đến cuối thế kỷ XIX thuật ngữ

"công nghiệp hóa" mới xuất hiện với ý nghĩa là biến một lĩnh vực sản xuất nào đó sang hoạt động theo tính chất của công nghiệp cơ khí Mãi đến nửa sau thế kỷ XX, khái niệm công nghiệp hóa mới được hiểu như một giai đoạn lịch sử phát triển kinh

tế mà nội dung của nó bao hàm cuộc cách mạng công nghiệp Từ đó đến nay, cùng với hàng loạt các cuộc cách mạng công nghiệp: từ kỹ thuật cơ khí giản đơn với máy

Trang 13

hơi nước làm động lực tới cơ khí phức tạp với động cơ đốt trong rồi điện năng và các dạng năng lượng mới làm động lực, tiếp theo đó là tự động hóa, điện tử hóa Quan niệm về công nghiệp hóa dần được mở rộng trên nhiều khía cạnh và lĩnh vực nghiên cứu khác nhau

Ví dụ: quan niệm của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (cũ) cho rằng: công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp Năm 1963 UNIDO (Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc) đã đưa ra định nghĩa: “công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận năng lực quốc gia ngày càng lớn được huy động

để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghiệp hiện đại để chế tạo ra các phương tiện sản xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp tăng trưởng cao trong toàn nền kinh tế và đảm bảo sự tiến bộ kinh tế và xã hội” [2, tr.6]

chủ yếu là hai quan niệm sau:

M ột là: Theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa là quá trình phát triển công nghiệp

trong một thời kỳ nhất định, trong đó nền sản xuất xã hội được tổ chức theo lối công nghiệp dựa trên cơ sở thay thế lao động thủ công bằng máy móc và máy móc chiếm

ưu thế

cải tổ thường xuyên cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hiện đại, ngày càng đa dạng

Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn, hậu quả chiến tranh nặng nề lại phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã sớm nhận thức được vị trí vai trò của công nghiệp hóa , hiện đại hóa Ngay từ Đại hội III Đảng

ta đã xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, cách mạng kỹ thuật giữ vị trí then chốt Tiếp sau đó Đại hội IV, V, tư tưởng này lại được tiếp tục khẳng định Tuy nhiên trong thời gian này tư tưởng công nghiệp hóa chủ

Trang 14

yếu tập trung phát triển công nghiệp nặng mặc dù có được điều chỉnh qua các kỳ Đại hội IV, V

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) bên cạnh việc tiếp tục khẳng định vị trí nền tảng của công nghiệp trong thời kỳ quá độ, đã có sự chuyển hướng chiến lược về công nghiệp hóa từ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng sang lấy nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm Từ đó đến nay, việc nhận thức về đường lối công nghiệp hóa được đưa ra từng bước phù hợp với tình hình cụ thể của đất nước Công nghiệp hóa có thể hiểu một cách cơ bản: “Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội theo hướng phát triển mạnh công nghiệp, tạo ra sự vượt trội của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, áp dụng rộng rãi với hiệu quả cao những tiến bộ khoa học, công nghệ mới hiện đại, làm nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển nhanh, vững chắc của toàn bộ nền kinh tế - xã hội” [46, tr.63]

Quan niệm này không những phản ánh được nội dung của quá trình công nghiệp hóa mà nêu bật được mục tiêu công nghiệp hóa Công nghiệp hóa chính là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, chứ không riêng chỉ phát triển ở lĩnh vực công nghiệp

Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã tiến lên một nấc thang mới, loài người đang bước vào kinh tế tri thức Vì vậy, công nghiệp hóa đòi hỏi phải gắn với quá trình hiện đại hóa, kể cả những nước có nền kinh

tế lạc hậu như nước ta Không thể tiến hành công nghiệp hóa theo kiểu "cổ điển" như

ở phương Tây thế kỷ XVIII mà công nghiệp hóa phải gắn với việc tận dụng những thành quả khoa học - kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến của thế giới Công nghệ truyền thống gắn với ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của thời đại, là giải pháp quyết định đưa nước ta thoát khỏi đói nghèo lạc hậu và nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế - công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là hai khái niệm khác nhau nhưng lại đan xen, tích hợp, lồng ghép và bổ sung cho nhau Sự gắn kết giữa công nghiệp hóa , hiện đại hóa đã và đang trở thành xu thế

Trang 15

tất yếu của các nước đang phát triển Nó trở thành khái niệm "kép" trong nhận thức

về mục tiêu phát triển kinh tế của nhiều quốc gia

Trên tinh thần đó, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII

đã xác định nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa ở nước ta là:

Công nghiệp hóa , hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao [13, tr.65]

và s ự phát triển của giai cấp công nhân

Khi luận chứng về vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định rằng: Vai trò, vị trí của giai cấp công nhân được xác định từ vai trò của đại công nghiệp, của lực lượng sản xuất mà giai cấp công nhân là người đại diện Đại công nghiệp đã sinh ra giai cấp công nhân, đồng thời cũng là cơ sở vật chất thông qua đó, giai cấp công nhân tác động vào tiến trình phát triển xã hội như một lực lượng chủ đạo Như vậy, có thể thấy rằng công nghiệp hóa , hiện đại hóa và

sự phát triển của giai cấp công nhân có mối quan hệ biện chứng công nghiệp hóa , hiện đại hóa là điều kiện để giai cấp công nhân phát triển về số lượng và chất lượng, đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa Ngược lại, sự phát triển về mặt số lượng, chất lượng của giai cấp công nhân cũng sẽ tác động trở lại, là nguyên nhân, là nhân tố cơ bản quyết định thành công sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước: Giai cấp công nhân vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa

tri ển và lớn mạnh về mọi mặt

Trang 16

Công nghiệp hóa , hiện đại hóa là con đường phát triển tất yếu của xã hội loài người, là con đường duy nhất đưa nước ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu Tuy nhiên để có thể tiến hành công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước phải có được một lực lượng lao động phát triển hiện đại Sự thiếu hụt trầm trọng đội ngũ công nhân lành nghề có thể áp dụng được khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ tiên tiến vào sản xuất đang là một lực cản đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Đại hội Đảng lần thứ VIII, khi quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa, cũng chỉ ra rằng: Một trong những tiền đề quan trọng bậc nhất để đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước là phải nâng cao trình độ và phát triển nguồn nhân lực trong đó phát triển và nâng cao nguồn nhân lực từ giai cấp công nhân Như vậy, có thể khẳng định rằng: Sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa, sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới và sự hình thành, phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất đã kéo theo và đặt ra những yêu cầu mới về số lượng, cơ cấu, chất lượng của lực lượng lao động xã hội đặc biệt là công nhân

Th ứ nhất, công nghiệp hóa , hiện đại hóa là điều kiện để giai cấp công nhân

Quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước mà trọng tâm trong những năm đầu thế kỷ XXI là công nghiệp hóa , hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; cơ cấu nền kinh tế sẽ có chuyển dịch sâu sắc Xu hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ sẽ là điều kiện phát triển mạnh mẽ

số lượng giai cấp công nhân Đường lối đổi mới của Đảng đã tác động mạnh mẽ đến

sự biến động và đặt ra yêu cầu phát triển đối với giai cấp công nhân Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến đầu năm 2004, đội ngũ công nhân làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế là 7,396 triệu (56% nam, 44% nữ) chiếm 9,14% dân số, 17,49% lực lượng lao động xã hội

Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước, đặc biệt sau khi Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 được ban hành, nước ta

đã tiếp nhận được rất nhiều dự án và vốn đầu tư nước ngoài Tính từ năm 1988 đến

Trang 17

đầu năm 2004 theo số liệu của Tổng cục thống kê dựa trên kết quả điều tra doanh nghiệp, cả nước đã có 4892 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép còn hiệu lực từ 66 quốc gia và vùng lãnh thổ với vốn đăng ký lên đến 44,4 tỷ USD Chính vì vậy

mà thu hút hơn 859.000 công nhân với 688.000 công nhân doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, 171.000 công nhân thuộc công ty liên doanh làm việc trong hơn

2300 doanh nghiệp

Th ứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để nâng cao chất lượng

Chất lượng giai cấp công nhân là tổng hợp các yếu tố, thuộc tính cơ bản của giai cấp công nhân bao gồm trình độ học vấn, trình độ tay nghề gắn với máy móc hiện đại, kỹ thuật, công nghệ cao, ý thức chính trị, tính tổ chức kỷ luật cao, tính tiên phong, tác phong công nghiệp trong đó trình độ học vấn, tay nghề, trình độ khoa học kỹ thuật và ý thức giác ngộ chính trị của giai cấp công nhân là những yếu tố cơ bản nhất Chất lượng của giai cấp công nhân ở mỗi quốc gia dân tộc chủ yếu được đánh giá thông qua các yếu tố cơ bản này

Sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước đặt ra yêu cầu phải có đội ngũ công nhân có trình độ học vấn, tay nghề cao, có tác phong công nghiệp để tiếp thu

và sáng tạo công nghệ mới Vì cốt lõi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính là "cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao" [13, tr.43]

Quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức, kinh tế hiện đại đã và sẽ tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời cũng đặt cho giai cấp công nhân một thách thức: nếu không vươn lên trong học tập và phấn đấu để tự nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tác phong công nghiệp thì sẽ bị chính nền kinh tế đó đào thải - xu hướng trí thức hóa công nhân ngày càng tăng lên rõ rệt Tri thức là chìa khóa để tiếp nhận khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại Thực tế cho thấy, trình độ học vấn, trình độ tay nghề của công nhân nước ta không ngừng tăng nhanh so với trước thời kỳ đổi mới, song

so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì còn là quá thấp (Hiện nay chỉ có

Trang 18

62,22% công nhân có trình độ trung học phổ thông 27,24% trình độ trung học cơ

sở, 4,12 trình độ tiểu học, 0,23% không biết chữ, 11,10% tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, 1,56 trình độ đại học và trên đại học) [37, tr.132] Số công nhân trẻ dưới 30 tuổi - thường có trình độ cao hơn Trình độ tay nghề trung bình của công nhân mới ở thợ 3/7; bậc thợ 7/7 mới có 2,38% Trình độ công nhân cũng không đồng đều, đồng bằng cao hơn miền núi, vùng sâu, vùng xa Công nhân ngoài quốc doanh có trình độ cao hơn công nhân lao động trong khu vực doanh nghiệp nhà nước Đội ngũ có trình độ cao đẳng, đại học chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp

nghi ệp hóa, hiện đại hóa đất nước

đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Đảng bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp, là đội tiên phong, là bộ phận tham mưu chiến đấu, là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân Giai cấp công nhân

là cơ sở chính trị, xã hội của Đảng, lực lượng nòng cốt trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, trong khối đại đoàn kết dân tộc Việc giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước không phải

là sự áp đặt vô căn cứ mà vai trò và vị trí đó do chính lịch sử khách quan của cách mạng Việt Nam quy định Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng: trước khi giai cấp công nhân và đảng tiền phong của nó bước lên vũ đài chính trị và nắm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, phong trào cách mạng nước ta đứng trước khủng hoảng lớn về đường lối cứu nước Các giai tầng khác trong xã hội Việt Nam không đủ sức lãnh đạo cách mạng, nhân dân ta chịu sự đàn áp dã man của đế quốc thực dân và tay sai bán nước, chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước là chủ nghĩa Mác - Lênin với đường lối cách mạng đúng đắn thì cách

Trang 19

mạng Việt Nam mới từng bước đánh đổ thực dân xâm lược, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và cuộc sống tự do

Giai cấp công nhân là "con đẻ của nền đại công nghiệp", là một trong những yếu tố cơ bản nhất của lực lượng sản xuất Vì vậy, sự phát triển và hoàn thiện về mọi mặt của giai cấp công nhân sẽ tác động trở lại tạo điều kiện thúc đẩy nền công nghiệp phát triển mạnh mẽ

Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng chủ yếu đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa Bởi lẽ, họ là lực lượng có mặt trong mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, mọi cơ sở sản xuất kinh doanh, trong những trung tâm kinh tế quan trọng, trong những lĩnh vực kinh tế then chốt của đất nước So với dân số hiện có, đội ngũ công nhân lao động của nước ta vẫn còn rất khiêm tốn, song họ vẫn là lực lượng sản xuất tiên tiến nhất của xã hội, đang nắm giữ những

cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Kết quả lao động của họ ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế và đến đời sống hàng ngày của toàn xã hội Với 40% tổng sản phẩm xã hội, bảo đảm hơn 60% ngân sách, gần 70% GDP, họ vẫn đã và đang là lực lượng đi đầu trong công cuộc kiến tạo đất nước Xuất phát từ vị trí trong lực lượng sản xuất, từ vai trò trong tiến trình cách mạng Đảng ta đã chỉ rõ: "Giai cấp công nhân Việt Nam thông qua Đảng tiên phong của mình đã lãnh đạo cách mạng nước ta trong hơn nửa thế kỷ qua, ngày nay đang đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" [13, tr.67]

Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII Đảng ta đã định hướng:

Đối với giai cấp công nhân coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện

"trí thức hóa công nhân", nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, xứng đáng là lực

Trang 20

lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới [14, tr.124-125]

Đây là một trong những nội dung quan trọng, một đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ đổi mới

Giai cấp công nhân không những là lực lượng lãnh đạo, đi đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà nó còn là cơ sở chính trị - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, là chỗ dựa vững chắc của Đảng và Nhà nước, là hạt nhân của khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức và khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố cơ bản giữ vững ổn định chính trị xã hội

Đa số công nhân Việt Nam vững vàng về chính trị tư tưởng, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, mục tiêu chủ nghĩa xã hội, kiên quyết ủng hộ công cuộc đổi mới, kiên cường phấn đấu và đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong suốt tiến trình cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam thực sự là lực lượng tiên phong bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và cũng là lực lượng đi tiên phong trong mặt trận đấu tranh chống tiêu cực và các tệ nạn xã hội có vai trò to lớn trong giữ vững ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội

nghi ệp hóa, hiện đại hóa

Là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ công nhân Phú Thọ là những người trực tiếp lao động sản xuất hoặc tham gia các hoạt động dịch vụ

có tính chất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh, họ có mặt trong mọi thành phần kinh tế

và có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương Cũng như giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ công nhân Phú Thọ có những đặc điểm mà giai cấp công nhân Việt Nam có được Tuy nhiên, do những điều kiện lịch sử, tự nhiên, kinh tế,

xã hội quy định mà đội ngũ công nhân Phú Thọ có những điểm riêng đặc thù đó là:

Trang 21

- Đội ngũ công nhân Phú Thọ ra đời sớm

Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây – Đông - Bắc) Phía Đông giáp Hà Tây(cũ), phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp Hòa Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang Với vị trí “ngã ba sông” cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ cách Hà Nội 80 km, cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thủy hơn 200 km, cách Hải Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km

Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác Là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc

Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La, cùng với các tỉnh bạn trong cả nước và quốc tế

Phú Thọ có 12 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hòa, Thanh Đa, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn và Yên Lập Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh; 274 đơn vị hành chính cấp xã gồm 14 phường, 10 thị trấn

và 250 xã, trong đó có 214 xã miền núi, 7 xã vùng cao và 50 xã đặc biệt khó khăn

Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia thành tiểu vùng chủ yếu Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của Phú Thọ, tuy gặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, Hữu Lô, Tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi

Trang 22

Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.600 đến 1.800 mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85 – 87% Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng

Tổng diện tích tự nhiên của Phú Thọ là 3.519,56 km2, theo kết quả điều tra thổ nhưỡng gần đây, đất đai của Phú Thọ được chia theo các nhóm sau: đất feralít

đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét, diện tích 116.266,27 ha chiếm tới 66,79% (diện tích điều tra) Đất thường có độ cao trên 100 m, độ dốc lớn, tầng đất khá dày, thành phần cơ giới nặng, mùn khá Loại đất này thường sử dụng trồng rừng, một số nơi độ dốc dưới 25o có thể sử dụng trồng cây công nghiệp

Diện tích rừng hiện nay của Phú Thọ nếu đem so sánh với các tỉnh trong cả nước thì được xếp vào những tỉnh có độ che phủ rừng lớn (42% diện tích tự nhiên) Với diện tích rừng hiện có 144.256 ha, trong đó có 69.547 ha rừng tự nhiên, 74.704

ha rừng trồng, cung cấp hàng vạn tấn gỗ cho công nghiệp chế biến hàng năm Các loại cây chủ yếu như bạch đàn, mỡ, keo, bồ đề và một số loài cây bản địa đang trong phát triển (đáng chú ý nhất vẫn là những cây phục vụ cho ngành công nghiệp sản xuất giấy)

Phú Thọ không phải là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản, nhưng lại có một số loại có giá trị kinh tế như đá xây dựng, cao lanh, fenspat, nước khoáng Cao lanh có tổng trữ lượng khoảng 30 triệu tấn, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai thác lên đến 24,7 triệu tấn Fenspat có tổng trữ lượng khoảng 5 triệu tấn, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai thác còn khoảng 3,9 triệu tấn, nước khoáng

có tổng trữ lượng khoảng 48 triệu lít, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai thác còn khoảng 46 triệu lít

Ngoài ra, Phú Thọ còn có một số loại khoáng sản khác như: quactít trữ lượng khoảng 10 triệu tấn, đá vôi 1 tỷ tấn, pyrít trữ lượng khoảng 1 triệu tấn, tantalcum trữ lượng khoảng 0,1 triệu tấn, và nhiều cát sỏi với điều kiện khai thác hết sức thuận lợi

Trang 23

Đây là một số lợi thế cho phép Phú Thọ phát triển các ngành công nghiệp như xi măng, đá xây dựng, các loại vật liệu xây dựng có ưu thế cạnh tranh

Những điều kiện tự nhiên cùng với chủ trương chính sách của lãnh đạo các cấp đã tác động rấ lớn vào việc hình thành, phát triển, tạo sự lớn mạnh không ngừng

cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ công nhân

- Đội ngũ công nhân Phú Thọ là bộ phận công nhân các tỉnh phía Bắc sớm nhanh chóng thoát khỏi cơ chế bao cấp, chuyển biến nhanh sang cơ chế mới

Cũng như các tỉnh phía Bắc, đội ngũ công nhân Phú Thọ hoạt động trong cơ chế bao cấp kéo dài (20 năm) Khi chuyển sang cơ chế mới, lúc đầu công nhân Phú Thọ cũng không tránh khỏi lúng túng Nhưng từ khi Đảng phát động công cuộc đổi mới toàn diện (1986), công nhân Phú Thọ có bước chuyển nhanh sang cơ chế mới

Trong vòng 10 năm từ 1991 - 2000, Phú Thọ giữ được mức độ tăng trưởng liên tục mặc dù không phải quá cao nhưng là một cố gắng vượt bậc đáng được ghi nhận Mức tăng trưởng hàng năm bình quân đạt 8,1%, trong giai đoạn 1991-1995 tốc độ tăng trưởng bình quân là 8,8% (riêng năm 1995 tốc độ tăng trưởng đạt 9,6%)

Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa Tỷ trọng công nghiệp trong GDP từ 25,3% (năm 1991) tăng lên 35,5% (năm 1995), gấp 4,2 mức tăng trưởng trong giai đoạn 1986-1990 Trong 5 năm 1996-2000 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính - tiền tệ, mức độ tăng trưởng chỉ đạt xấp xỉ 6,3% Nhiều cơ

sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn bị đình trệ, sa sút đã làm hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế Dù vậy, đến đầu 2000 hoạt động của các ngành kinh tế quan trọng

đã dần đi vào ổn định và phát triển đạt tốc độ gần với mức bình quân của cả nước Giai đoạn 2000-2004 tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) tiếp tục được đẩy mạnh 8,94% (năm 2000 7,2%; năm 2001: 8,86%; năm 2002: 9,09%; năm 2003 là 9,20%; năm 2004: 8,53% cao hơn mức bình quân của cả nước Cùng với tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức cao, cơ cấu kinh tế trên địa bàn tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, trong

đó công nghiệp và xây dựng chiếm 37,2%, nông, lâm nghiệp chiếm khoảng 26,6%,

Trang 24

dịch vụ chiếm khoảng 36,2% Gắn với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, đời sống nhân dân và đội ngũ công nhân Phú Thọ trên địa bàn được dần nâng lên rõ rệt Đến nay, toàn tỉnh đã có 03 khu công nghiệp lớn và nhiều khu công nghiệp nhỏ được phê duyệt với 1.288 doanh nghiệp và tổng số vốn trên 1.273 tỷ đồng Cùng với việc thành lập mới các doanh nghiệp, tỉnh đã cơ bản hoàn thành chỉ tiêu sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch đề ra Riêng 2003 thực hiện sắp xếp và đổi mới 14 doanh nghiệp nhà nước, cho đến nay 90% các doanh nghiệp được sắp xếp chấm dứt thua lỗ và đi vào làm ăn có hiệu quả

Sự đóng góp của đội ngũ công nhân Phú Thọ trong gần 20 năm qua cũng như đường lối phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của đội ngũ công nhân Phú Thọ không chỉ trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ Tổ quốc mà họ còn đóng vai trò quan trọng trong

sự phát triển của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Đội ngũ công nhân Phú Thọ đa dạng về thành phần dân tộc cũng như

về thành phần xuất thân

Với vị trí thuận lợi về giao thông gồm cả đường bộ, đường sắt và đường thủy Phú Thọ có 2 quốc lộ: Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La, cùng với các tỉnh bạn trong cả nước và quốc tế

Tuyến đường sông trên địa bàn tỉnh gồm: sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Chảy, sông Bứa với tổng chiều dài qua địa bản tỉnh là: 250 km Hệ thống cảng đường thủy: Cảng Việt Trì, cảng An Đạo, cảng Dữu Lâu, cảng Yến Mao, cảng Thạch Đồng Tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai đi qua địa bàn tỉnh với chiều dài gần 90 km

Phú Thọ là tỉnh thành thu hút nguồn nhân lực đến từ rất nhiều tỉnh, nhất là con

em các dân tộc thuộc các tỉnh lân cận Bên cạnh đó, Phú Thọ còn là một trong 6 trung tâm đào tạo của cả nước bao gồm 2 trường đại học, trên 15 trường cao đẳng, trung học

Trang 25

chuyên nghiệp và dạy nghề với một lực lượng trí thức và đội ngũ khoa học, kỹ thuật đông đảo Hàng năm đào tạo một số lượng khá lớn công nhân kỹ thuật bổ sung vào đội ngũ công nhân Phú Thọ và đội ngũ công nhân một số tỉnh bạn Với địa hình mang đặc trưng ba vùng gồm cả trung du, vùng núi và vùng cao nên trên địa bàn tỉnh có 28 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh với số dân là 1.044.979 người, chiếm 85,89% dân số của tỉnh Dân số là người dân tộc thiểu số là: 171.620 người, chiếm 14,11% số dân toàn tỉnh Trong số các dân tộc thiểu số dân tộc Mường có 165.748 người, chiếm 13,62%; dân tộc Dao có 11.126 người, chiếm 0,92%; dân tộc Sán Chay có 2.641 người, chiếm 0,22%; dân tộc Tày có 1.885 người, chiếm 0,15%; dân tộc Mông có 628 người, chiếm 0,05%; dân tộc Thái có 465 người, chiếm 0,04%; dân tộc Nùng có 350 người, chiếm 0,03%; dân tộc Hoa có 274 người, chiếm 0,02%; dân tộc Thổ có 143 người, chiếm 0,01%; dân tộc Ngái có 99 người, chiếm 0,008% Tất cả những điều đó tạo nên nét đặc trưng trong đội ngũ công nhân Phú Thọ sự đa dạng về thành phần xuất thân và dân tộc

Theo kết quả điều tra 92 doanh nghiệp đóng trên địa bàn (trong đó gồm: 50 doanh nghiệp địa phương, 42 doanh nghiệp Trung ương) thì số công nhân từ các nơi khác về làm việc trong các khu công nghiệp ở Phú Thọ chiếm tới 49,4%; có tới 7 thành phần dân tộc trong đó dân tộc Kinh chiếm 88,2%; dân tộc Tày, Nùng 7,5%, còn lại là các dân tộc: Dao, Sán Chay, Cao Lan, Hoa chiếm 4,3% Thành phần xuất thân cũng rất đa dạng Cụ thể là, số công nhân xuất thân từ học sinh phổ thông chiếm 33,2%; số công nhân tốt nghiệp trung học công nghiệp và dạy nghề là 15,4%; tốt nghiệp đại học, cao đẳng 15,9%, từ bộ đội 5,1%; từ nông dân 12,1%; từ cán bộ công chức: 8,1%, những người chưa có việc làm được tuyển dụng là 10,2% [10, tr.16] Như vậy có thể thấy rằng việc phát triển công nghiệp ở Phú Thọ không những chỉ giải quyết việc làm cho đội ngũ lao động trên địa bàn tỉnh mà còn thu hút nguồn nhân lực từ các tỉnh lân cận Điều đó cũng có nghĩa là nguồn lực lao động ở đây khá dồi dào, và như vậy khi tiến hành mở rộng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa sẽ tương đối thuận lợi nếu xét riêng về góc độ nhân lực Tuy nhiên, đội ngũ công nhân Phú Thọ xuất thân từ nhiều thành phần dân tộc nên ít

Trang 26

nhiều cũng có sự chênh lệch về trình độ văn hóa, trình độ học vấn, tay nghề Việc

đa dạng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt đôi khi cũng lại là trở ngại cho việc phổ biến về khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, điều đó cũng là một nguyên nhân khiến cho mặt bằng chung về trình độ học vấn, tay nghề, khoa học

kỹ thuật chưa thực sự cao

- Đội ngũ công nhân Phú Thọ phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng gắn liền với sự ra đời của các khu công nghiệp Thụy Vân, Trung

Hà, Tam Nông…

Qua 15 năm xây dựng và phát triển, các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ bước đầu đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp phát triển công nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Các khu công nghiệp hình thành và phát triển theo quy hoạch thống nhất, trên địa bàn tỉnh đã có 7 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào danh mục các khu công nghiệp tập trung đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 với tổng diện tích đất quy hoạch 2.156 ha; 22 cụm công nghiệp được UBND tỉnh duyệt quy hoạch, với tổng diện tích đất quy hoạch là 1.226,5 ha, trong đó có 2 cụm công nghiệp trọng điểm do Ban quản lý các khu công nghiệp quản lý là cụm công nghiệp Bạch Hạc (thành phố Việt Trì) và cụm công nghiệp Đồng Lạng (huyện Phù Ninh) Đến nay, các khu công nghiệp: Thụy Vân, Trung Hà và cụm công nghiệp Bạch Hạc, Đồng Lạng đã đi vào hoạt động, sử dụng tổng cộng 288 ha đất công nghiệp, tỷ lệ lấp đầy đạt 82% diện tích đất công nghiệp Bên cạnh đó, tỉnh cũng đang khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng để thu hút đầu tư tại các khu công nghiệp Kết cấu hạ tầng kỹ thuật bên trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được kết nối liên hoàn với kết cấu hạ tầng kỹ thuật bên ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp, tạo sự hỗ trợ tích cực, thúc đẩy hai chiều giữa phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và hạ tầng công nghiệp, đô thị của địa phương Đồng thời, tỉnh cũng có cơ chế ưu đãi để những nhà đầu tư có tiềm lực tự đầu tư xây dựng hạ tầng, san lấp mặt bằng trên diện tích được thuê lại, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện dự án được nhanh chóng, thuận

Trang 27

lợi và hiệu quả Sự kết nối hạ tầng bên trong và bên ngoài hàng rào khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, góp phần quan trọng phát triển công nghiệp, dịch vụ và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Các khu công nghiệp tập trung và cụm công nghiệp trọng điểm của tỉnh đã thu hút được 107 dự án đầu tư thứ cấp, gồm 61 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 6.063 tỷ đồng, vốn thực hiện ước đạt 4.087 tỷ đồng và 46 dự án

có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 208 triệu USD, vốn thực hiện đạt 111,6 triệu USD Vốn đầu tư trên diện tích đất công nghiệp đã cho thuê bình quân đạt 35,8 tỷ đồng/ha Nhiều doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh có dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại, có sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước Các loại hình dịch vụ, cung cấp đầu vào cho các doanh nghiệp cũng phát triển, gồm: Dịch vụ vận tải, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu; dịch vụ cung cấp điện, nước, viễn thông, tư vấn, xử lý chất thải, đặc biệt là dịch vụ cung cấp tài chính, tín dụng, bảo hiểm, đại lý phân phối và dịch vụ thương mại, góp phần hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển và tạo ra giá trị gia tăng kép cho kinh tế địa phương

Giai đoạn 2009-2011, các doanh nghiệp khu công nghiệp, cụm công nghiệp tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp đạt 12.500 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 575 triệu USD, đóng góp cho ngân sách 650 tỷ đồng, trong đó nộp ngân sách tỉnh 350 tỷ đồng Trong năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 820 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu ước đạt 270 triệu USD, đóng góp ngân sách ước đạt 500 tỷ đồng, trong

đó nộp ngân sách tỉnh ước đạt 320 tỷ đồng; ước tính bình quân 1 ha đất công nghiệp tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp đạt 2 triệu USD, nộp ngân sách 2,25 tỷ đồng, tạo việc làm cho 79 lao động trực tiếp Hiện tại, có trên 23.000 lao động trực tiếp đang làm việc trong các doanh nghiệp khu công nghiệp, cụm công nghiệp (trong đó 80%

là người địa phương) với mức thu nhập bình quân đạt 3,1 triệu đồng/người/tháng, mức tăng thu nhập của người lao động bình quân 30%/năm Bên cạnh đó, kéo theo

Trang 28

đội ngũ lao động gián tiếp phục vụ cho các hoạt động đầu tư xây dựng, cung ứng dịch vụ sản xuất, thương mại, góp phần giải quyết việc làm, ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội của địa phương

Chính sự phát triển của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, quan tâm và đầu tư đúng mức cũng như định hướng phát triển lâu dài của sản xuất công nghiệp trong địa bàn tỉnh, đội ngũ công nhân Phú thọ đã

có những bước phát triển đáng kể để thích nghi dần cơ chế mới bước đầu khẳng định lại vị trí, vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội

- Đội ngũ công nhân Phú Thọ là lực lượng lãnh đạo quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Phú Thọ

Là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ công nhân Phú Thọ thông qua Đảng bộ tỉnh và cấp ủy Đảng các cấp, đã cụ thể những mục tiêu, quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ của quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước vào điều kiện cụ thể ở tỉnh Phú Thọ và tại các doanh nghiệp mà đội ngũ công nhân đang trực tiếp sản xuất trên địa bàn tỉnh Trong thực tế, đội ngũ công nhân Phú Thọ - thông qua các cấp ủy đảng, tổ chức công đoàn đề ra nhiều giải pháp sát với thực tiễn nhằm phát huy mọi tiềm năng sẵn có, huy động mọi nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ phát triển trên địa bàn tỉnh, tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, tham gia xây dựng, giám sát việc thực hiện các chính sách

xã hội nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa Bản thân đội ngũ công nhân Phú Thọ đã phát hiện nhiều sai phạm trong thực hiện những nhiệm vụ công nghiệp hóa , hiện đại hóa, đề xuất các phương án khả thi mang lại lợi ích về mặt kinh tế - xã hội cho tỉnh Xuất phát từ nguyên nhân đó mà sự phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh bước dần ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kéo dài do hậu quả của cơ chế

cũ, cùng với việc đổi mới phương hướng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cũng như đổi mới và đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại, kinh tế Phú Thọ đã có sự khởi sắc đáng ghi nhận, đặc biệt trong giai đoạn 2007-2011 vừa qua, tốc độ tăng trưởng bình

Trang 29

quân kinh tế đạt 8,97% và cũng là giai đoạn có tốc độ phát triển ổn định nhất so với tất cả các thời điểm trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tốc độ tăng trưởng công nghiệp trung bình tăng gần 12%, cơ cấu kinh tế chuyển dần theo hướng tích cực với tỷ trọng công nghiệp chiếm 37,67%, dịch vụ chiếm 36,55%, nông lâm nghiệp là 26,68% (năm 2011) Những kết quả đạt được tuy chưa phải là cao song

nó là nỗ lực vượt bậc của Đảng bộ và cố gắng phấn đấu của cán bộ và toàn thể nhân dân trong địa bàn tỉnh trong đó đội ngũ công nhân là chủ yếu Điều đó càng khẳng định vai trò to lớn của đội ngũ công nhân Phú Thọ trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vai trò lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Đảng ta đã đề ra và lãnh đạo thực hiện

- Đội ngũ công nhân Phú Thọ là lực lượng sản xuất chủ yếu trong qúa trình phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại hóa ở Phú Thọ

Trong thực tế, đội ngũ công nhân Phú Thọ là những lao động trực tiếp và có mặt ở tất cả các ngành công nghiệp quan trọng, các khu công nghiệp then chốt và ở mọi thành phần kinh tế Sự phát triển kinh tế nói chung trên địa bàn tỉnh trong những năm qua chủ yếu dựa trên tốc độ tăng trưởng về công nghiệp vì vậy mà sự phát triển của các ngành công nghiệp, các khu công nghiệp, dịch vụ và sự tăng trưởng của nó là yếu tố quyết định tạo nên sự thành công của quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa Không chỉ trong giai đoạn hiện nay mà ngay trong thời kỳ hòa bình lập lại, đội ngũ công nhân Phú Thọ đã làm chủ và điều hành các cơ sở vật chất

và các phương tiện trang thiết bị sản xuất hiện đại nhất Trong thời điểm hiện nay, cùng với quá trình đổi mới kinh tế và chuyển giao công nghệ hiện đại, với cương vị

là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, đội ngũ công nhân Phú Thọ tiếp tục là người đầu tiên tiếp nhận, lắp đặt, vận hành, điều khiển, sử dụng máy móc và các thiết

bị hiện đại Bản thân họ, là những người đi đầu trong việc ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo nhiều sản phẩm đa dạng, tăng năng suất lao động đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của mọi tầng lớp nhân Bên cạnh việc tiếp nhận và trực tiếp vận hành có hiệu quả dây

Trang 30

chuyền công nghệ hiện đại, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến thế giới vào thực tiễn sản xuất, đội ngũ công nhân lao động Phú Thọ không ngừng học hỏi sáng tạo, cải tiến công cụ sản xuất, đưa ra nhiều sáng kiến làm lợi cho tỉnh hàng

tỷ đồng Nhờ quá trình đẩy mạnh sản xuất, Phú Thọ đã mở rộng thị trường đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ với nhiều sản phẩm phong phú Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm là 3,6%, nhờ đó mà tổng thu ngân sách từ công nghiệp những năm 1994-1995 là 25,5% đến 2006 công nghiệp đã đóng góp cho ngân sách của tỉnh trên 50% Tất cả những dẫn chứng đã khẳng định rõ: công nghiệp hóa , hiện đại hóa

là con đường phát triển tất yếu của mỗi quốc gia, dân tộc Sự nghiệp phát triển công nghiệp tác động lớn đến tốc độ tăng trưởng của mỗi địa phương và lực lượng đi đầu,

có vai trò quan trọng trong sự phát triển công nghiệp hiện đại không thể không là giai cấp công nhân

- Đội ngũ công nhân Phú Thọ có vai trò to lớn trong việc đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Tỉnh Phú Thọ

Là một tỉnh miền núi trung du phía Bắc, tập quán canh tác lạc hậu, thủ công nên song song với phát triển công nghiệp hiện đại Phú Thọ phải đẩy mạnh CNH nông nghiệp nông thôn Trong những năm qua, đội ngũ công nhân Phú Thọ đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông, lâm nghiệp Tỷ trọng công nghiệp mỗi năm đều cao hơn năm trước: Năm 1995 tỷ trọng công nghiệp là 25,8% thì đến 2010 đã đạt 40,68% [47, tr.2], nông, lâm nghiệp 28,58% Nông, lâm nghiệp của Phú Thọ bắt đầu được trang bị những tư liệu sản xuất máy móc, công cụ, phương tiện và kỹ thuật tiên tiến cũng như nguyên vật liệu có thể tạo ra năng suất lao động cao hơn hẳn so với trước đây Trên địa bàn tỉnh có một số xí nghiệp sản xuất những sản phẩm chủ yếu phục

vụ cho phát triển nông nghiệp như: Công ty Cổ phần cơ khí Hùng Vương, Công ty trách nhiệm hữu hạn Phụ tùng máy Sông Lô, Công ty Cổ phần xây dựng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công ty Cổ phần hóa chất cung cấp những loại máy móc phù hợp địa hình có chất lượng phục vụ cho phát triển nông nghiệp chẳng hạn: các loại máy kéo vừa và nhỏ, máy cày tay, máy bơm nước Các loại máy phục

Trang 31

vụ chế biến nông sản như: Máy tuốt lúa, máy xay sát, máy sấy, máy chuyên dụng cho sản xuất chè Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có một số công ty sản xuất phân bón, giống cây trồng, thức ăn gia súc, thuốc phòng trừ sâu bệnh và vật nuôi không những chỉ phục vụ cho phát triển nông nghiệp tỉnh mà còn lưu thông sang rất nhiều tỉnh khác Công nghiệp chế biến của Phú Thọ đang được đẩy mạnh vì thế đội ngũ công nhân Phú Thọ là lực lượng chính thúc đẩy quá trình giao lưu truyền thống giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn Việc mở rộng quy mô sản xuất của nhà máy giấy Bãi Bằng, các xí nghiệp chè Phú Thọ, nhà máy chế biến thức ăn gia súc, nhà máy hóa chất, Công ty Cổ phần Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao đã tiêu thụ một số lượng lớn nông sản chủ yếu được sản xuất trên địa bàn tạo đà cho nông nghiệp phát triển (chẳng hạn các đơn vị chế biến mỗi năm tiêu thụ khoảng gần 70 ngàn tấn chè, 304 ngàn tấn hạt các loại, 500 tấn thuốc lá, trên 100 ngàn tấn nguyên liệu giấy ) Cùng với việc trang bị cho nông nghiệp Phú Thọ những tư liệu sản xuất, trang thiết bị phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho nông nghiệp đội ngũ công nhân Phú Thọ đã góp phần rất lớn trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới Quá trình đẩy nhanh sự phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh gắn với việc hình thành các khu công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn nhờ hệ thống hạ tầng kỹ thuật - xã hội như điện, đường, trường, trạm,

hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống nước sạch, các dịch vụ công cộng phát triển Điều đó đã tạo thời cơ thuận lợi cho nông dân tiếp cận được với tiến bộ khoa học công nghệ và thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Hiện tại, bộ mặt nông thôn Phú Thọ đang dần từng bước thay đổi tích cực 100% số xã có điện lưới quốc gia, với 90,16% số hộ đã sử dụng điện lưới, 100% có đường ô tô đến các trung tâm xã, 100% xã có trường học, trạm y tế, phủ sóng truyền thanh, truyền hình Nhiều vùng nông thôn Phú Thọ xưa thuần túy trồng cây lương thực hoặc một vài loại cây khác với quy mô nhỏ, phân tán, nay đã trở thành vùng chuyên canh, vùng nguyên liệu cây công nghiệp phục vụ trực tiếp cho phát triển công nghiệp ở tỉnh nhà

Trang 32

- Đội ngũ công nhân Phú Thọ quan hệ gắn bó với các giai cấp, tầng lớp khác nhất là giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức tạo thành khối Liên minh công nhân- nông dân- trí thức là cơ sở của khối đoàn kết thống nhất chặt chẽ giữa các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh

Sự gắn bó giữa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ vốn đã có truyền thống

từ rất lâu đời Do vị trí, địa lý là ngã ba sông nơi giao thương buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh trong khu vực miền núi phía Bắc, bên cạnh đó, dưới sự xâm lược của các quốc gia phương Bắc, việc phải đoàn kết cùng hợp sức để đánh đuổi giặc ngoại xâm tạo nên sự đoàn kết giữa các dân tộc trong tỉnh Truyền thống đó còn được phát huy trong kháng chiến chống Pháp và trong tiến trình xây dựng đất nước Giai đoạn hiện nay - giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa, giai cấp công nhân trở thành lực lượng lãnh đạo có vai trò quan trọng và là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa Sự phát triển công nghiệp đã khiến nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới được xây dựng ở Phú Thọ thu hút hàng vạn lao động từ nông thôn ra thành thị, tham gia vào sản xuất công nghiệp, quá trình đô thị hóa ngày càng phát triển làm cho nông thôn và thành thị càng có điều kiện xích lại gần nhau hơn Nông dân muốn phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động phải dựa vào phương tiện sản xuất, tri thức khoa học kỹ thuật mà công nhân và đội ngũ trí thức cung cấp, công nhân và trí thức muốn tồn tại và đẩy mạnh sản xuất cũng không thể không dựa vào nông nghiệp và nông dân Chính điều đó tạo nên mối quan hệ gắn bó trên cơ sở cùng lợi ích cơ bản giữa công nhân - nông dân - trí thức và nó có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển chung ở tỉnh Khối liên minh công - nông - trí trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, nhân tố nội lực cơ bản của quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa

- Đội ngũ công nhân Phú Thọ với việc phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong Tỉnh

Sự lớn mạnh của đội ngũ công nhân Phú Thọ góp phần làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh dần đi vào ổn định, tỷ trọng công nghiệp ngày càng chiếm tỷ

Trang 33

lệ cao và sự đóng góp vào ngân sách của tỉnh mỗi năm một phát triển Chính điều

đó đã tạo điều kiện để Phú Thọ bước ra khỏi giai đoạn khủng hoảng, có kinh phí để thực hiện tốt các chính sách xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Hàng năm toàn tỉnh đã giải quyết được trên 10 ngàn lao động trong tỉnh [47, tr.2], thu nhập bình quân đầu người năm 2010 tăng 46% so với năm 2005, giảm tỷ lệ đói nghèo từ 11% (2005) xuống còn 4,06% (2010) Tỷ lệ hộ dùng điện năm 2008 là 92,18%, so với

1999 chỉ là 46,12% Mật độ điện thoại tăng cao từ 3,5 máy/ 100 dân năm 2002 lên 9,86 máy/ 100 dân năm 2008 Tỷ lệ số hộ dùng nước sạch là 95% (2010) so với 51% (2005), 100% xã, phường có điện lưới quốc gia, trạm y tế, trường học và sóng phát thanh, truyền hình được phủ sóng 83,6% số xã

trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh phát triển công nghiệp và sự đóng góp to lớn của đội ngũ công nhân và các dân tộc tỉnh Phú Thọ và đó cũng chính là một trong những điều kiện cơ bản để quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi đến thành công

Có thể khẳng định rằng, đội ngũ công nhân Phú Thọ giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa của tỉnh Họ không những là lực lượng lãnh đạo, lực lượng đi đầu trong phát triển công nghiệp mà họ còn tác động tích cực vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương, góp phần không nhỏ nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, tạo môi trường thuận lợi cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Phú Thọ đi đến thành công

Trang 34

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN PHÚ THỌ TRONG

SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA: THỰC TRẠNG,

BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 2.1 Thực trạng xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân Phú Thọ 2.1.1 Thực trạng đội ngũ công nhân Phú Thọ

- Th ực trạng về số lượng

Là mảnh đất cội nguồn của dân tộc Việt nằm ở cửa ngõ Tây Bắc Thủ đô, nơi

có vị trí giao thông huyết mạch nối liền Hà nội với các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, có nguồn lao động hết sức dồi dào, chủ trương chính sách đầu tư theo hướng

“mở”, Phú Thọ đang trở thành điểm thu hút đầu tư đối với hơn 2000 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thương mại

Tuy nhiên, tỷ lệ lao động được giải quyết việc làm lại không cao trong khi thực tế nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp là rất lớn Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, đến năm 2020, Phú Thọ sẽ trở thành tỉnh công nghiệp với các ngành sản xuất chính: giấy, phân bón, chế biến nông lâm sản, khai thác khoáng sản… Các cụm khu công nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh hiện nay gồm: Thụy Vân, Trung Hà, Tam Nông, Bạch Hạc, Yến Mao… Dự kiến đến năm 2015, tỉnh sẽ hình thành thêm một số khu, cụm công nghiệp lớn gồm: Đồng Phì( Hạ Hoà), Phú Hà( Phú Thọ), Đồng Lạng( Phù Ninh)… Các khu công nghiệp này sẽ giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động của tỉnh

Theo số liệu thống kê: Số người trong độ tuổi lao động của tỉnh hiện nay là:

80 vạn người; Số lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng; 11,6 vạn người ( khoảng 14,5%); Số lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ nhỏ: 28% ( năm 2005) và 36% ( năm 2007); Số người thất nghiệp hoặc chưa có việc làm: gần 2 vạn người Những con số trên phản ánh một thực trạng đang diễn ra hiện nay là sự mất cân đối trong cung và cầu về lao động: Mặc dù nhu cầu về sử dụng lao động là rất lớn, nguồn lao động của tỉnh rất đồi dào, nhưng tỉ lệ lao động được giải quyết việc làm lại không cao Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng thừa lao động, thiếu việc

Trang 35

làm như trên chính là do chất lượng nguồn lao động của tỉnh còn thấp Bản thân các nhà đầu tư chưa có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với lực lượng lao động điạ phương và chưa có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực hiệu quả và hợp lý

- Th ực trạng về chất lượng đội ngũ công nhân Phú Thọ

Để từng bước xây dựng tỉnh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm

2020, chúng ta cần phải có các nguồn lực cho sự phát triển như: Tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người…Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế từ trước đến nay Chính vì vậy, ngày 24-11-2011 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TU về phát triển nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2020 Đây là Nghị quyết chuyên đề cụ thể hóa ba khâu đột phá mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã xác định

Ngay sau khi Nghị quyết số 12 được ban hành, từ năm 2011 đến nay UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo hoàn thành các mục tiêu về tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, tỷ lệ trường chuẩn quốc gia và tỷ lệ phòng học kiên cố, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Đó là những tiền đề để đẩy nhanh tốc độ phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Qua 3 năm thực hiện Nghị quyết số 12 nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh có tốc độ phát triển hợp lý, đảm bảo theo lộ trình thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động tiếp tục được nâng cao Tỷ lệ lao động có việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo và

tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khá so với nhiều tỉnh trong khu vực Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực; là tỉnh có cơ cấu lao động tiến bộ hơn so với cơ cấu trung bình của cả nước Thu nhập của người lao động được cải thiện Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các sở, ngành của tỉnh luôn coi phát triển nguồn nhân lực là một trong những khâu đột phá để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Vấn đề lao động, việc làm được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lí Công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn

Trang 36

nhân lực luôn hướng đến việc dần đảm bảo về số lượng, nâng cao về chất lượng; chú trọng đến cả 3 mặt: Sức khỏe, kĩ năng nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức

Cùng với sự tăng lên khá nhanh về số lượng, chất lượng đội ngũ công nhân Phú Thọ đã và đang có những chuyển biến theo hướng tích cực, cụ thể được biểu hiện qua các mặt sau:

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi người công nhân phải không ngừng tự học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ về mọi mặt Trong vài năm trở lại đây, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ của đội ngũ công nhân Phú Thọ được nâng lên đáng kể, nhất là đội ngũ công nhân có tuổi đời, tuổi nghề còn trẻ

V ề trình độ học vấn:

B ảng 2.1: Trình độ học vấn của đội ngũ công nhân Phú Thọ

Đơn vị tính: %

Mốc thời gian Trình độ học vấn

Phổ thông trung học (cấp III) 49.2 56.8 66.5

Ngu ồn: Cục Thống kê tỉnh - Liên đoàn lao động tỉnh Phú Thọ

Qua số liệu trên có thể nhận thấy, trình độ học vấn công nhân ngày càng được nâng lên, nhất là trong giai đoạn 2005-2010 Tỷ lệ công nhân có trình độ phổ thông trung học ngày càng tăng, tỷ lệ công nhân có trình độ tiểu học có xu hướng giảm Điểm thuận lợi, Phú Thọ là nơi tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề và hệ thống các trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia tương đối cao nên việc học tập nâng cao trình độ học vấn của đội ngũ công nhân gặp không nhiều khó khăn như một số tỉnh khác

Trang 37

Số lượng công nhân có trình độ học vấn tốt nghiệp phổ thông trung học theo lứa tuổi đa số còn khá trẻ chủ yếu là từ 16-35 tuổi chiếm 82,6% còn lại là từ 36 trở lên Đây cũng là điểm thuận lợi trong việc tiếp thu những tri thức khoa học công nghệ đối với đội ngũ công nhân Phú Thọ Một vấn đề khác cũng đáng lưu ý là dù tỷ lệ công nhân tốt nghiệp phổ thông trung học tương đối cao nhưng số lượng nam công nhân tốt nghiệp phổ thông trung học có chênh lệch đáng kể so với tỷ lệ nữ công nhân (8,6%)

V ề trình độ chuyên môn kỹ thuật:

Mặc dù có thuận lợi là một tỉnh có hệ thống các trường đào tạo nghề khá cao song

tỷ lệ công nhân qua đào tạo chưa phải cao và phân bố không đồng đều Cụ thể:

- Số lao động có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 13,9%

- Số lao động là công nhân kỹ thuật chiếm 32,1%

- Số lao động được đào tạo trình độ trung cấp chiếm 15,4%

- Không được đào tạo là 38,6%

Số công nhân qua đào tạo chủ yếu hoạt động trong khu vực kinh tế nhà nước

do Trung ương quản lý, còn lao động trong doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý và doanh nghiệp ngoài nhà nước tỷ lệ chưa qua đào tạo còn khá cao (67%)

Số lao động đã được đào tạo và có chuyên môn nghiệp vụ do hoạt động trong một

số doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả nên đang có xu hướng giảm dần Với những nỗ lực chung, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh ước đến năm 2013 đạt 49%, gần tiệm cận mục tiêu đến năm 2015 là 55% Số người được giải quyết việc làm và tạo việc làm mới tăng hàng năm; xuất khẩu lao động duy trì mức ổn định 2.500 người/năm Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 33% (mục tiêu năm 2015 là 40%) Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngành nông, lâm nghiệp đạt 26,7%; ngành công nghiệp, xây dựng đạt 69,2%; ngành dịch vụ đạt 75,9% Tổng số nhân lực đào tạo mới đến năm 2013 ước đạt 107,2 nghìn người, bình quân mỗi năm 35,7 nghìn người; đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, doanh nhân, công nhân kỹ thuật 12,3 nghìn lượt người

Một điểm bất cập nữa là số lượng công nhân ngày càng được thu hút vào khu vực các doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng rất nhanh nhưng tỷ lệ người có trình độ

Trang 38

khoa học - kỹ thuật cao lại giảm Điều đó cho thấy, nhiệm vụ đào tạo nghề cho người lao động chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế nói chung và của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng

th ợ Theo kết quả điều tra sơ bộ của Cục Thống kê - Liên đoàn lao động tỉnh và Sở lao động thương binh xã hội tỉnh cho thấy:

B ảng 2.2: Trình độ bậc thợ, chuyên môn, nghiệp vụ của công nhân

Xét theo thành phần kinh tế: các cơ sở công nghiệp nặng chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước quản lý nên thợ bậc cao trong khu vực nhà nước cao hơn doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhưng chưa phát huy được hết năng lực chuyên môn do công việc chưa thật ổn định, làm việc không đúng với ngành nghề được đào

Trang 39

tạo Một điểm đáng lưu ý nữa là trong nền kinh tế Phú Thọ bắt đầu hình thành ngành có thiết bị công nghệ cao nhưng thiếu hụt nghiêm trọng công nhân thợ bậc cao, phù hợp

Từ kết quả điều tra cho thấy, dù có nhiều lợi thế, song sự thiếu hụt công nhân

có trình độ tay nghề cao và dư thừa lao động giản đơn đang là bài toán khó đối với

sự phát triển kinh tế chung của tỉnh Mặc dù Đảng, Nhà nước và đoàn thể các cấp đã quan tâm, chú trọng đến công tác đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn tỉnh song hiệu quả còn thấp Có tình trạng trên là do tỉnh chưa có chiến lược về quy hoạch đào tạo đội ngũ công nhân gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; các trường đào tạo nghề chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển, chưa có chính sách đầu tư thỏa đáng về kinh phí đào tạo cho người công nhân, chưa tận dụng những tri thức của những công nhân tay nghề bậc cao đã lớn tuổi chuyển giao kinh nghiệm cũng như tri thức trong lao động cho lớp công nhân còn trẻ Nhiều công nhân chỉ lo kiếm sống không muốn giành thời gian cho đào tạo, nhiều doanh nghiệp sử dụng lao động do mở rộng sản xuất, tìm kiếm giá nhân công rẻ nên tuyển lựa tự do chủ yếu là các lao động không qua đào tạo Những hạn chế nói trên đang trở thành lực cản đối với tỉnh Phú Thọ trong quá trình hội nhập và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khắc phục những mặt hạn chế đó vừa là yêu cầu khách quan vừa là điều kiện đảm bảo thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn Tỉnh

Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết 12, Phú Thọ phấn đấu năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%, trong đó qua đào tạo nghề 40%; năm 2020 đạt 70 %, trong đó qua đào tạo nghề là 50% Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngành nông lâm nghiệp đạt 28% năm 2015 và 40,2% năm 2020; ngành công nghiệp, xây dựng đạt 75,5% năm 2015 và 80% năm 2020; ngành dịch vụ đạt 81% năm 2015 và 90% năm

2020 Giai đoạn 2011-2020, tổng số nhân lực đào tạo mới 417,7 nghìn người; đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, doanh nhân,

công nhân kỹ thuật 42,3 nghìn lượt người

+ V ề trình độ lý luận chính trị và sự giác ngộ chính trị

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng giống giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ công nhân Phú Thọ đang đứng trước nhiều khó

Trang 40

khăn, thách thức về việc làm, thu nhập, đời sống và vấn đề thực thi quyền dân chủ Bên cạnh một bộ phận công nhân có thu nhập cao vẫn còn một số đông công nhân có thu nhập thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn Mặc dù vậy, nhìn chung đội ngũ công nhân Phú Thọ vẫn rất tin tưởng và ủng hộ đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Họ nhất trí cao với việc từ bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, ủng hộ việc tổ chức và sắp xếp lại sản xuất, lao động trong các doanh nghiệp nhà nước mặc dù biết điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi cá nhân; luôn nêu cao tinh thần vượt khó khăn và đã góp phần tạo nên những thành tựu quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của Tỉnh Thời gian qua, vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị cho công nhân được Đảng bộ và các cấp chính quyền tỉnh quan tâm đưa vào chương trình hoạt động thường xuyên của Liên đoàn lao động tỉnh, song kết quả vẫn còn nhiều hạn chế

B ảng 2.3: Trình độ chính trị của công nhân Phú Thọ tính đến 2010

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w