Nó không chỉ cung cấp cho công chúng một khối lượng kiến thức đồ sộ về biển đảo Việt Nam, những hiểu biết về quá khứ và hiện tại mà hơn hết còn tạo cho người xem những cảm nhận sâu sắc v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THUẬN HUẾ
PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VỀ BIỂN ĐẢO
(KHẢO SÁT TRÊN SÓNG VTV1 TỪ 2013 - 2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THUẬN HUẾ
PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VỀ BIỂN ĐẢO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết, đây là luận văn do tôi tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cán bộ hướng dẫn Các vấn đề mà tôi đưa ra trong nghiên cứu "phim tài liệu truyền hình về biển đảo" chưa được công bố ở bất cứ công trình khoa học nào Mọi luận cứ trong luân văn là xác thực
Tác giả luận văn
NGUYỄN THUẬN HUẾ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Dương Xuân Sơn – người đã hướng dẫn tận tình, tạo mọi điều kiện để tôi được tiếp cận, tìm hiều và nghiên cứu đề tài này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Trung tâm nghiệp vụ
- Hội Nhà báo Việt Nam, sự hợp tác của các đồng nghiệp VTV, của Hãng phim tài liệu khoa học Trung ương, của Trung tâm phim tài liệu và phóng sự của Đài truyền hình Việt Nam, Truyền hình An ninh, các đạo diễn, biên kịch, các nhà quay phim, Biên tập, các Nhà báo chuyên và không chuyên, các nhà báo lão thành đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể tiếp cận tư liệu và tìm hiều quá trình thực hiện Phim tài liệu truyền hình về biển đảo
Tôi cũng vô cùng biết ơn các nhà quản lý, lãnh đạo các ngành và các đơn vị liên quan, bạn bè, đồng nghiệp đã dành thời gian tham gia các cuộc trò chuyện, khảo sát, phỏng vấn về các nội dung nghiên cứu của đề tài
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đến đội ngũ các thầy cô ở trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã giảng dạy, giúp đỡ, chỉnh sửa, góp ý đề cương để tôi có điều kiện hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thuận Huế
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BT: Biên tập CĐSX: Chỉ đạo sản xuất CQBĐ: Chủ quyền biển đảo GS.TS: Giáo sư, tiến sỹ KB&ĐD: Kịch bản và đạo diễn KB&LB: Kịch bản và lời bình KTV: Kỹ thuật viên
LHP: Liên hoan phim NXB: Nhà xuất bản NSND: Nghệ sỹ nhân dân NSƯT: Nghệ sỹ ưu tú PTL: Phim tài liệu PTLTH: Phim tài liệu truyền hình PGS.TS: Phó giáo sư, tiến sỹ QP: Quay phim
TCSX: Tổ chức sản xuất TNND: Trách nhiệm nội dung TNSX: Trách nhiệm sản xuất VTV: Đài truyền hình Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 10
7 Bố cục của luận văn 10
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VÀ VẤN ĐỀ VỀ BIỂN ĐẢO 11
1.1 Một số khái niệm 11
1.2 Một số vấn đề chung về biển, đảo hiện nay 27
1.3 các yếu tố của phim tài liệu truyền hình………
TIỀU KẾT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VỀ BIỂN, ĐẢO 33
2.1.Thành công trong việc sản xuất phim tài liệu truyền hình về biển đảo 33
2.2 Nội dung một số phim tài liệu về biển đảo được lựa chọn nghiên cứu 37
2.3 Những thành công của phim tài liệu truyền hình về biển đảo 47
2.4 Những hạn chế của phim tài liệu truyền hình về bển đảo………
2.5 Những kinh nghiệm rút ra từ thành công của phim tài liệu truyền hình về biển đảo… Tiểu kết chương 2 87
CHƯƠNG 3: NHỮNG KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VỀ BIỂN ĐẢO HIỆN NAY 89
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên truyền về biển đảo 89
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng phim tài liệu truyền hình về biển, đảo 93
Tiều kết chương 3 101
Trang 7KẾT LUẬN 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC 112
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê các bộ phim tài liệu về biển đảo phát sóng trên VTV1 trong
2013 - 2014 50 Bảng 2.2: Tỷ lệ các nội dung được phản ảnh trong phim tài liệu về biển đảo 52
Trang 9Với một quốc gia có chiều dài bám biển lớn như Việt Nam, biển đảo thực sự luôn là một vấn đề quan trọng, mang tính chiến lược trong quá trình phát triển của đất nước Chính vì vậy, tuyên truyền về biển đảo là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với những người làm báo, là sứ mệnh cao quý để các loại hình báo chí được đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Từ báo chí,
cụ thể là từ các bài viết nghiên cứu sâu cho đến các phóng sự, phim tài liệu, các chương trình tọa đàm, chúng ta biết được rằng, từ thuở ban đầu mở mang bờ cõi dựng nước và giữ nước, biển không chỉ có ý nghĩa về địa kinh tế mà còn vô cùng quan trọng về địa chính trị Tầm quan trọng ở đây không chỉ ở đường bờ biển dài
mà còn rất đặc biệt hơn 3.000 hòn đảo, với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Từ tuyên truyền, chúng ta biết biển Đông không những cung cấp nguồn thức ăn cho
cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay mà còn là cửa ngõ để Việt Nam phát triển các ngành kinh tế có quan hệ trực tiếp với mọi miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa Hơn nữa, xét về mặt an ninh quốc phòng, chúng ta biết Biển Đông đóng vai trò quan trọng là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc
Trang 10Trong tất cả các loại hình báo chí, từ báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình… tất cả đều tuyên truyền về biển đảo một cách sâu sắc, khai thác tối đa lợi thế của từng loại hình và từng thể loại Tuy nhiên, tôi ấn tượng sâu sắc với thể loại phim tài liệu của truyền hình trong quá trình tuyên truyền về biển đảo Thực sự, đây
là một thể loại đã phát huy mạnh mẽ những ưu thế vượt trội của nó trong quá trình tuyên truyền về biển đảo Ngôn ngữ hình ảnh, lời bình, âm nhạc cũng như độ dài để khai thác và tái hiện cả quá trình lịch sử thậm chí cả ngàn năm…từ đó đưa ra những lập luận, bằng chứng, các lý giải liên quan đến vấn đề biển đảo… của thể loại phim tài liệu truyền hình đã thực sự lôi cuốn người xem Nó không chỉ cung cấp cho công chúng một khối lượng kiến thức đồ sộ về biển đảo Việt Nam, những hiểu biết về quá khứ và hiện tại mà hơn hết còn tạo cho người xem những cảm nhận sâu sắc về vấn đề chủ quyền biển đảo, đánh thức lòng yêu nước và nhất là tạo nên khát vọng hòa bình, niềm tin vào công lý và sức mạnh của đạo lý… Vì những lý do đó mà tôi quyết định chọn đề tài “PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VỀ BIỂN ĐẢO” là vấn
đề nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, chuyên ngành báo chí học của mình
Trang 113
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến vấn đề
Có thể nói, phim tài liệu là một khái niệm không còn xa lạ gì đối với công chúng từ bao lâu nay Trên thế giới cũng đã có rất nhiều công trình, nhiều giáo trình nghiên cứu sâu về phim tài liệu, chủ yếu đi dưới hai góc độ chính là khuynh hướng nghệ thuật và khuynh hướng hiện thực Trong đó, rất nhiều nghiên cứu đi sâu vào
sự hình thành phát triển, quá trình sản xuất phim tài liệu, chỉ những đặc trưng đặc điểm, chức năng và các yếu tố cấu thành nên phim tài liệu… Tuy nhiên, với những vấn đề cụ thể, đi sâu vào nội dung, một vấn đề cốt lõi như “PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VỀ BIỂN ĐẢO” mà tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu thì cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào Chính vì vậy, trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề này, tác giả vô cùng trân trọng những thành tựu của các công trình nghiên cứu về phim tài liệu và các vấn đề liên quan đến biển đảo của các nhà nghiên cứu đi trước Đây sẽ là những tài liệu quan trọng tạo cơ sở, tiền đề để tác giả mạnh dạn đưa ra những lập luận của mình trong quá trình nghiên cứu Phim tài liệu về biển đảo
Cụ thể, liên quan đến vấn đề phim tài liệu, trên thế giới hiện nay có khá
nhiều tác giả nghiên cứu về nó Tác giả Alan Rosenthal trong cuốn sách Writing
Directing and Producing Documentary Films and Videos đã cung cấp cho người
đọc một cách đầy đủ, rõ ràng các nội dung liên quan đến việc làm phim tài liệu, bắt đầu từ ý tưởng đến khi hoàn thành công việc Về bản chất, cuốn sách này là các vấn
đề hàng ngày mà các nhà làm phim phải đối mặt từ ý tưởng đến hoàn thành bộ phim, từ tài chính đến phân phối, từ kiểm duyệt chính trị và các vấn đề khác Cuối cùng, cuốn sách đề cập đến nghiên cứu các vấn đề về phong cách, các phương pháp tiếp cận, và những thách thức của công nghệ mới Tuy nhiên, tác giả cuốn sách cũng đưa ra lời cảnh báo rằng “phương pháp của tôi làm phim có thể không phù hợp với bạn”; không có quy định trong việc làm phim Những gì được chấp nhận
hôm nay cũng có thể sẽ bị từ chối vào ngày mai “Tôi hy vọng rằng bạn sẽ đọc cuốn
sách và chấp nhận những gì là hữu ích Sau đó, đi ra ngoài, phá vỡ tất cả các quy
tắc, và thực hiện những bộ phim vĩ đại nhất.” [27;9]
Trang 12
4
Ngoài ra cũng đã có một số tài liệu, công trình nghiên cứu của nước ngoài về phim tài liệu đã được tập hợp thành các bài giảng cho sinh viên trường Sân khấu
điện ảnh và Học viện Báo chí và truyên truyền học tập như: “Nghệ thuật điện ảnh”
của tác giả David Bordwell và Kristin Thompson nói về các thể loại phim tài liệu, phim thể nghiệm và phim hoạt hình thông qua việc phân tích các bộ phim nổi tiếng trên thế giới để rút ra đặc trưng của các thể loại này
Cũng có một số sách của nhiều tác giả nước ngoài cũng đã được dịch và được các nhà xuất bản đáng tin cậy in ấn và phát hành, có thể khai thác được trong
quá trình nghiên cứu tổng quan Ví dụ như: Nghiên cứu phim của tác giả Warren
Buckland (Nhà xuất bản tri thức), Nghệ thuật điện ảnh của David Hordwell và Kristin Thompson (Nhà xuất bản giáo dục), Hành trình nghiên cứu điện ảnh Việt Nam (Nhiều tác giả, Nhà xuất bản văn hóa thông tin 2007), Ngôn ngữ điện ảnh (giáo trình của trường Đại học sân khấu điện ảnh, 2006), Nghệ sỹ phim tài liệu Việt Nam (nhiều tác giả, trung tâm nghiên cứu nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh
VN tại TP HCM, 2001), Kỹ thuật làm phim tài liệu (Khiu Bedli, Viện Nghệ thuật
và lưu trữ điện ảnh Việt Nam xuất bản, 2002) của Viện phim Việt Nam cũng nói
nhiều về thể loại phim này Trong cuốn Hành trình nghiên cứu điện ảnh Việt
Nam (Nhiều tác giả, Nhà xuất bản văn hóa thông tin 2007 có rất nhiều bài viết của
nhiều tác giả chỉ ra một số đặc trưng, đặc điểm và dần định hình được phim tài liệu như: Những thành quả của điện ảnh Việt Nam 10 năm qua của tác giả Vũ Trọng [12; tr77-90];
Phim tài liệu của điện ảnh Giải phóng trước 1975 về đề tài chiến tranh cách mạng của tác giả Nguyễn Thị Việt Nga; Việc thể hiện con người trong phim tài liệu Việt Nga của Nguyễn Việt Nga; Đạo diễn Lê Mạnh Thích với bộ phim tài liệu về con người; Tìm hướng đi cho phim tài liệu của tác giả Nguyễn Việt Nga; Vấn đề thể hiện chất nhân bản trong phim tài liệu của tác giả Nguyễn Việt Nga đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến phim tài liệu dưới góc nhìn nó là một thể loại của điện ảnh Đây cũng là một kênh tham khảo có ý nghĩa cho đề tài này của tác giả
Trong "Nghiên cứu phim" của tác giả Warren buckland có dành hẳn một chương nói về các thể loại của phim tài liệu.[37; tr.245-282].
Trong đó, tác giả đã chỉ ra
Trang 13Đặc biệt, trong cuốn Giáo trình Báo chí Truyền hình của PGS,TS Dương
Xuân Sơn (nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2011) thực sự là một công trình
nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ, có ý nghĩa lớn đối với những ai đang học tập, làm việc và nghiên cứu về thể loại phim tài liệu truyền hình Trong cuốn sách này, tác giả đã dành trọn chương 13 với hơn 30 trang nói về thế loại phim tài liệu truyền hình Từ những điều sơ đẳng nhất về khái niệm, sự ra đời phát triển, chức năng, đặc điểm, các dạng phim và đặc biệt, tác giả đã đi sâu phân tích sự khác nhau giữa phim tài liệu truyền hình và phim tài liệu điện ảnh Từ đó, đưa ra các phương pháp khai thác chất liệu, các yếu tố, kết cấu, bố cục của kịch bản và lời bình, phong cách của phim tài liệu truyền hình Với đề tài của tôi, đây thực sự là một tài liệu có ý nghĩa lớn về phương pháp luận, tạo căn cứ cũng như định hướng về nội dung, tư tưởng và hình thức thể hiện để tôi có thể soi chiếu, làm rõ hơn các luận điểm của mình trong các chương nghiên cứu nội dung của đề tài
Ngoài ra, cũng có khá nhiều khóa luận, đặc biệt là luận văn thạc sỹ của các học viên chuyên ngành báo chí và truyền thông đã nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến phim tài liệu truyền hình hoặc nội dung về tuyên truyền biển đảo trên các báo Đây cũng là một kênh để bản thân có điều kiện tham khảo thêm, tạo sự phong
phú, khách quan hơn trong nghiên cứu của mình Ví dụ như: Phim tài liệu chân
dung truyền hình trên đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn ThS
Báo chí học Bùi thị Thủy - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006 Đây là luận văn khá thành công ở việc nêu những vấn đề lý luận cơ bản của thể loại báo chí, đặc biệt là ký chân dung báo in, phim tài liệu chân dung điện ảnh, phim tài liệu chân dung truyền hình Khảo sát một số phim tài liệu chân dung truyền hình có hiệu quả xã hội nhất định đối với công chúng Từ đó đề
Trang 146
xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng, số lượng phim tài liệu chân dung trên Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài thạc sĩ chuyên ngành báo chí học tại trường Đại học khoa học xã hội
và Nhân văn, 2013, “Thông tin về chủ quyền biển đảo trên kênh VTV Đà Nẵng”, tác giả Văn Công Nghĩa đã đi sâu vào việc phân tích đánh giá những thành công hạn chế của việc thông tin về biển đảo của VTV Đà Nẵng Tác giả cũng thừa nhận
cơ quan này còn có những hạn chế nhất định trong lĩnh vực tuyên truyền về biển đảo qua thể lại phim tài liệu truyền hình; mạnh dạn đưa ra một số nhóm giải pháp
để nâng cao chất lượng thông tin về biển đảo của VTV Đà Nẵng
Ngoài ra, liên quan đến nội dung tuyên truyền, mặc dù không phải ở thể loại phim tài liệu truyền hình nhưng ít nhất là cũng có liên quan đến vấn để biển đảo, hiện tại cũng đã có một số luận văn thạc sỹ của học viên khoa Báo chí và Truyền
thông, khoa Quốc tế học, khoa Luật đã nghiên cứu Đề tài: “Nâng cao chất lượng
chương trình về biển đảo trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam” (Qua
thực tế các chương trình trên hệ thời sự chính trị tổng hợp VOV1), Luận văn ThS Truyền thông đại chúng, Nguyễn Thị Hòa - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011 Nghiên cứu này trình bày thời cơ và thách thức đặt ra đối với việc thông tin tuyên truyền về biển đảo trong thời đại ngày nay Thông qua đó, làm rõ tính tất yếu phải nâng cao chất lượng các chương trình tuyên truyền về biển đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN - một kênh thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước Việt Nam Trong phần tổng quan, luận văn này nói về cơ sở lý luận báo chí nói chung và cơ sở lý luận về loại hình báo phát thanh, những hình thức hiện đang sử dụng để tuyên truyền về biển đảo trên sóng Đài TNVN, trong đó đi sâu vào nghiên cứu các chương trình phát thanh thông tin tuyên truyền về biển đảo Từ đó đánh giá đúng thực trạng về nội dung, hình thức thể hiện của các chương trình, tác phẩm, đóng góp vào hiệu quả tuyên truyền về biển đảo cùng với các phương tiện thông tin đại chúng khác Đề xuất những giải pháp để đổi mới, nâng cao chất lượng tuyên truyền về biển đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN
Trang 157
Ngoài ra một số luận văn thạc sỹ báo chí của Học viện báo chí và tuyên truyền như "Tuyên truyền phát triển kinh tế biển của các kênh truyền hình khu vực Bắc Trung Bộ" của Bùi Ngọc Toàn; "So sánh phương thức tuyên truyền về biển Đông giữa báo chí Việt nam và báo chí Trung Quốc" của Văn Nghiệp Chúc;
"Xung đột chủ quyền ở quần đảo Trường Sa – những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết" của Tạ Thị Thu Hằng cũng cung cấp thêm nhiều thông tin và tài liệu quý cho tác giả tham khảo trong quá trình làm luận văn
Tất cả những nghiên cứu này sẽ là những tài liệu tham khảo có ý nghĩa về cả
lý luận và thực tiễn để tác giả có cơ hội thực hiện tốt hơn đề tài nghiên cứu của mình Bởi thông qua đó, tác giả không chỉ có điều kiện tiền đề về phim tài liệu mà còn được bổ sung rất nhiều kiến thức về biển đảo, về những vấn đề liên quan đến luật pháp quốc tế, về công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982… từ đó, có thể mạnh dạn đưa ra những đề xuất trong nghiên cứu của mình
Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng, những tư liệu, sách và các khóa luận dù
có những giá trị rất quan trọng trong nghiên cứu về phim tài liệu và về vấn đề tuyên truyền biển đảo Tuy nhiên đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể vấn đề
“phim tài liệu truyền hình về biển đảo” Mặc dù, trong thực tế đây luôn là một đề tài nóng, nó cũng được các nhà làm phim, các đạo diễn trong và ngoài nước quan tâm thực hiện, cũng đã có rất nhiều tác phẩm ra đời, thành công , giành giải cao trong các liên hoan phim khu vực và quốc tế từ những năm 60 của thế kỷ trước Thậm chí, nhiều bộ phim tài liệu truyền hình của Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, Trung tâm Phóng sự và Phim tài liệu Việt Nam… đã đi vào lịch sử phim tài liệu, trở thành những kho tư liệu quý giá không chỉ về nghệ thuật làm phim tài liệu
mà còn ý nghĩa về giá trị lịch sử, về những bằng chứng pháp lý trong quá trình bảo
vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và tính mới mẻ cũng như giá trị khoa học và thực tiễn đó của đề tài mà tôi quyết định nghiên cứu “PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VỀ BIỂN ĐẢO” thành đề tài bảo
vệ luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 168
- Mục đích: Đề tài mong muốn nghiên cứu sâu về phim tài liệu truyền hình
về biển đảo trên sóng truyền hình Việt Nam để có được một cái nhìn sâu sắc, toàn diện Từ đó, chỉ ra được những thế mạnh, ý nghĩa to lớn của việc tuyên truyền về viển đảo bằng thể loại phim tài liệu truyền hình Từ quá trình nghiên cứu đó, tác giả luận văn cũng mong muốn tích lũy cho mình những kinh nghiệm, bài học trong quá trình nghiên cứu để phục vụ tốt hơn cho công tác chuyên môn hiện tại và sau này của mình
- Từ những mục đích trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể sau: + Đánh giá vai trò, ý nghĩa của phim tài liệu truyền hình trong việc tuyên truyền về biển đảo trong giai đoạn hiện nay
+ Phân tích, tìm hiểu nội dung, tư tưởng trong các bộ phim tài liệu về biển đảo được lựa chọn
+ Đánh giá hình thức thể hiện nhằm làm nổi bật nội dung tư tưởng, tăng sức lôi cuốn người xem của các bộ phim tài liệu về biển đảo của truyền hình Việt Nam
+ Nêu những ưu điểm, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của phim tài liệu truyền hình trong thời gian tới để vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đặc trưng loại hình vừa đáp ứng nhu cầu của công chúng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phim tài liệu truyền hình về biển đảo
- Phạm vi nghiên cứu, khảo sát: Dự kiến sẽ khảo sát các bộ phim tài liệu truyền hình về biển đảo của Việt Nam đã được sản xuất qua các giai đoạn, các thời
kỳ lịch sử khác nhau và đã được phát sóng trên truyền hình Việt Nam Trong đó, tập trung là các bộ phim trong 2 năm 2013 và 2014 Để đa dạng và có cái nhìn khách quan, trung thực, ngoài các bộ phim được chọn để phấn tích sâu, luận văn sẽ nghiên cứu cả những bộ phim của tác giả nước ngoài làm về biển đảo Việt Nam, những bộ phim tài liệu được sản xuất trong những năm chiến tranh của các đạo diễn nổi tiếng đã được giải thưởng của khu vực và thế giới Những bộ phim tài liệu này cũng có thể là một tập nhưng cũng có thể dài kỳ theo từng vấn đề được đặt ra Đặc biệt, trong quá trình nghiên cứu, luận văn có thể mở rộng khảo sát thêm cả những
Trang 17+ Andre Menras – Một người Việt
+ Biển của người Việt
+ Biển Đông dậy sóng (ba tập)
+ Trường Sa, Hoàng Sa: nơi ghi dấu hồn thiêng đất Việt
+ Những câu chuyện nhỏ trên biển lớn
+ Cắm cờ Tổ quốc trên biển Đông
5 Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở, phương pháp luận của nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng một số lý thuyết về báo chí học và xã hội học truyền thông đại chúng, dựa trên những kiến thức về luật biển của các tác giả trong và ngoài nước
để làm cơ sở nghiên cứu Đặc biệt trên cơ sở những đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vai trò, tính chất và nhiệm vụ của báo chí cũng như các quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển đảo Từ đó, đưa
ra quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá về phim tài liệu truyền hình về biển đảo
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn gồm:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Được sử dụng với mục đích tiếp cận các tài liệu nhằm khái quát cho phần nghiên cứu tổng quan, bổ sung hệ thống lý thuyết về phim tài liệu truyền hình Đồng thời, cũng sẽ nghiên cứu sâu thêm một số tài liệu liên quan về biển đảo đã được đề cập, nghiên cứu các phim để tạo kiến thức nền cho phần nghiên cứu sâu ở các chương nội dung Đây chính là những lý thuyết
Trang 186 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần bổ sung và phát triển hệ thống lý thuyết về thể loại phim tài liệu truyền hình hiện nay Trong một khía cạnh nào đó,
đề tài sẽ có những đóng góp mang tính mở đầu trong việc thống kê, đánh giá, nhận xét và phân tích ở góc độ nội dung và hình thức thể hiện Điều này sẽ góp phần tạo
cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn sau này về vấn đề tuyên truyền về biển, đảo của báo chí truyền hình
- Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu xuất phát từ lý luận và thực tiễn của luận văn sẽ có tác động đối với các cơ quan báo chí, các đài truyền hình
TW và địa phương, các đài khu vực và nhất là các nhà báo trong việc nhìn nhận, đánh giá lại tác động, hiệu quả của những tác phẩm này Từ đó, sẽ nhận diện được vai trò to lớn của thể loại phim tài liệu truyền hình trong vấn đề tuyên truyền biển đảo hiện nay.… Luận văn hy vọng sẽ góp phần vào việc nâng cao kỹ năng làm phim tài liệu cho những người làm phim tài liệu truyền hình, thêm một nguồn thông tin cho các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý và những ai quan tâm về vấn đề này
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Lý luận chung về phim tài liệu truyền hình và một số vấn đề về biển, đảo
Trang 1911
- Chương 2: Khảo sát thực trạng phim tài liệu truyền hình về biển, đảo
- Chương 3: Những khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phim tài liệu truyền hình về biển đảo
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VÀ
VẤN ĐỀ VỀ BIỂN ĐẢO 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Truyền hình
Cho đến nay, còn nhiều khái niệm, quan niệm khác nhau về truyền hình Nó được xem là một công nghệ thuộc lĩnh vực điện tử viễn thông, bao gồm tập hợp nhiều thiết bị điện tử, có khả năng thu nhận tín hiệu sóng vô tuyến cũng như truyền dẫn các tín hiệu điện mang hình ảnh và âm thanh được mã hóa, được phát dưới dạng sóng vô tuyến hoặc thông qua hệ thống cáp quang, hoặc cáp đồng trục Truyền hình đáp ứng cùng một lúc cả hai chức năng nghe và nhìn, những hình ảnh
sẽ được trình chiếu trên các màn hình và âm thanh được phát trên hệ thống loa Truyền hình có tên tiếng Anh là Television, ngoài ra có các tên gọi khác như Tivi,
Vô tuyến truyền hình hoặc ngắn gọn hơn chính là từ "truyền hình"
Theo G.V Cudơnhetxốp, X.L Xvich và A Ia.Iurôpxky trong giáo trình Báo
chí truyền hình thì "truyền hình có khả năng đến với tất cả các tầng lớp dân chúng
rộng rãi, thậm chí đến tận các tầng lớp nằm bên ngoài ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng khác Truyền hình có được khả năng là do những đặc điểm
về bản chất vật lý của nó Những đặc điểm ấy quyết định tính chất đặc thù của truyền hình với tư cách là phương tiện tạo ra và chuyển tải thông tin Đó là khả năng của những giao động điện từ, khả năng chuyển tải thông tin dưới hình thức những hình ảnh chuyển động có kèm theo âm thanh, khả năng thông tin dưới hình thức âm thanh – hiển thị, về hành động, về sự việc vào đúng thời điểm không lặp lại của chính thời điểm diễn ra sự việc đó".[31, tr 43]
Trang 2012
Theo cuốn "Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản" của PGS, TS
Nguyễn Văn Dững thì: " Truyền hình là kênh truyền thông truyền tải thông điệp bằng hình ảnh động và hầu như đầy đủ màu sắc vốn có của cuộc sống cùng với lời nói,
âm nhạc, tiếng động Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ "
Trong cuốn sách Các loại hình báo chí truyền thông, xét từ góc độ kỹ thuật
PGS, TS Dương Xuân Sơn thì cho rằng: " Truyền hình là quá trình biến đổi từ năng lượng ánh sáng thông qua ống kính máy thu hình thành năng lượng điện, nguồn tín hiệu điện tử được phát sóng truyền đến máy thu hình và lại biến đổi thành năng lượng ánh sáng tác động vào thị giác, người xem nhận thức được hình ảnh thông qua màn hình Về mặt nội dung, truyền hình là loại hình truyền thông mà thông điệp được truyền trong không gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo cho người xem cảm giác sống động của hiện thực cuộc sống."[17, tr.176]
Còn trong "Giáo trình báo chí Truyền hình", PGS, TS Dương Xuân Sơn cho
rằng: "dù phát triển ở bất cứ đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa là nhìn được từ xa"[15, tr 13]
Như vậy, dù hiểu theo khía cạnh nào, nhìn nhận vấn đề theo quan điểm nào thì chúng ta vẫn có thể hiểu một cách tổng quan nhất: Truyền hình với sự hỗ trợ, phát triển của khoa học công nghệ đã giúp cho công chúng có thể biết đầy đủ về một sự kiện, sự việc đã, đang diễn ra bằng sự hỗ trợ của hình ảnh và âm thanh
Vào những năm 60 của thế kỷ 20, truyền hình đã trở thành một phương tiện giải trí quan trọng trong đời sống của nhân loại Ngày nay, với sự phát triển mạnh
mẽ như vũ bảo của khoa học kỹ thuật, truyền hình ngày càng có điều kiện phát triển với nhiều cột mốc mới, ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống sinh hoạt của mỗi quốc gia, mỗi châu lục và mỗi cộng đồng người trên khắp thế giới
1.1.2 Phim tài liệu
Phim tài liệu, tiếng Anh là "documentary film" có thể hiểu trên cơ sở từ gốc của nó là documentary, nghĩa là tài liệu, bằng chứng, chứng cứ, nguồn tài liệu Phim tài liệu có thể xem như là các vấn đề trong thực tế được ghi lại, lưu giữ lại bằng
Trang 2113
hình ảnh Nói một cách dễ hiểu thì Phim tài liệu giống như một cuốn abum lưu giữ lại tất cả mọi khoảnh khắc diễn ra trong đời sống thực tế của con người, sự vật, hiện tượng nào đó
Trong cuốn sách “Nghệ thuật điện ảnh", hai tác giả David Bordwell và Kristin Thompson, thuộc Trường đại học Wisconsin, viết khá sâu về điện ảnh nói chung và phim tài liệu nói riêng, thể hiện qua 6 phần nội dung: sản xuất, phát hành
và chiếu phim; hình thức phim; các loại hình phim; phong cách phim, mối liên hệ các cảnh quay, âm thanh, phân tích phê bình phim, Trong đó, tại chương 5 nói về Phim tài liệu, phim thực nghiệm và phim hoạt hình, tác giả cho rằng: "Một cuốn phim tài liệu thường phản ảnh các thông tin có thật về thế giới ngoài phim Phim tài liệu mang những tương phản đặc trưng với phim hư cấu"[30, tr.170] Định nghĩa này của Bordwell và Thompson cũng nhấn mạnh vào tính chân thực của phim tài liệu truyền hình Tính chân thực được hai tác giả coi như đặc tính quan trọng nhất, quy định những đặc tính khác của phim tài liệu Tất cả những sự kiện, hiện tượng, quá trình con người trong hiện thực đều là đối tượng phản ánh của phim tài liệu
Trong cuốn sách nghiên cứu điện ảnh đại cương, Andrew Britton cho rằng:
“Trước hết, một bộ phim tài liệu có giá trị phải phản ánh được những góc cạnh
khác nhau của sự thực, một sự thực không đơn giản như chúng ta nhìn thấy mà là một sự thực được đặt trong bối cảnh lịch sử, xã hội đã tạo ra chúng” Quan niệm
này của Andrew Britton đã thoát khỏi được tính tự nhiên chủ nghĩa mà nhiều nhà làm phim tài liệu phương Tây mắc phải Sự thực trong phim tài liệu phải được đặt trong bối cảnh đã sinh ra nó, nằm trong mối quan hệ biện chứng với những sự kiện, hiện tượng khác
Từ những nhìn nhận, quan điểm, khái niệm cũng như đánh giá trên, chúng ta
có thể hiểu rằng: Phim tài liệu là một thể loại diễn tả, tái hiện tất cả mọi sự vật,
hiện tượng diễn ra trong đời sống một cách chân thực bằng sức mạnh của hình ảnh
và âm thanh
Phim tài liệu cũng thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá, thể hiện chính kiến của người làm phim Nhà làm phim tài liệu đưa ra hệ thống luận chứng, luận cứ để chứng minh cho luận điểm mà họ nêu lên trong tác phẩm của mình Và chính hệ
Trang 2214
thống luận chứng đó sẽ thuyết phục người xem về tính chân thực của tác phẩm phim tài liệu
Bản chất của phim tài liệu
Từ những năm hai mươi của thế kỉ trước, các bậc thầy của điện ảnh Xô Viết
đã gọi phim tài liệu là Điện ảnh mắt hay Điện ảnh sự thật Nghĩa là bản chất của phim tài liệu là chỉ có sự thật và sự thật mà thôi Không hư cấu, không dàn dựng, không có sự xuất hiện của diễn viên Hiện thực cuộc sống phải được phản ánh một cách khách quan, trung thực nhất như nó vốn có; không được bóp méo, đảo lộn hay
tô vẽ gì thêm Có lẽ vì lý do này mà cho đến tận bây giờ, vẫn có người còn tranh cãi xem phim tài liệu có phải là tác phẩm nghệ thuật không, hay là báo chí; hoặc nó là sự giao thoa giữa nghệ thuật (điện ảnh) và báo chí (truyền hình) Nhưng dù vẫn còn những quan niệm khác nhau, người ta vẫn không thể phủ nhận, rằng phim tài liệu, cũng giống như các thể loại tác phẩm báo chí truyền hình đều có chung một gốc, đó là tất cả đều phải xuất phát từ những hình ảnh có thật đã và đang tồn tại trong cuộc sống
Chức năng của phim tài liệu
Thứ nhất: Chức năng thông tấn và báo chí Đây chính là chức năng quan
trọng nhất, chi phối toàn bộ quá trình xây dựng một bộ phim tài liệu nói chung Từ
đó, mỗi bộ phim đi sâu phản ánh một sự kiện, vấn đề hoặc con người cụ thể, với những mối quan hệ biện chứng, diễn biến, tác động qua lại, những xung đột và mâu thuẫn, v.v trong một thời gian hoặc không gian xác định, từ đó làm bật ra tư tưởng chủ đề tác phẩm
Thứ hai: Chức năng giáo dục và nhận thức Thông qua những hình ảnh chân
thực về con người, sự việc, sự kiện, vấn đề với tất cả sự phong phú và đa dạng của
nó, phim tài liệu giúp nâng cao nhận thức và tư duy của người xem, thậm chí là góp phần định hướng tư tưởng và thay đổi hành vi của họ Hơn thế nữa, phim tài liệu còn có thể giúp người xem phát hiện bản chất có ý nghĩa triết học của hiện tượng và
sự kiện, nâng sự kiện lên tầm khái quát hóa bằng hình tượng tiêu biểu, nhờ việc sử dụng một cách có hiệu quả các thủ pháp nghệ thuật…
Trang 2315
Thứ ba: Chức năng thẩm mĩ và giá trị tư liệu lịch sử Không dừng lại ở việc
miêu tả hiện thực một cách khách quan, trung thực, phim tài liệu (nhất là phim tài liệu nghệ thuật) còn chú trọng khai thác chất thơ với những ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ nhằm tác động tới cảm xúc thẩm mĩ của khán giả, khiến họ cùng vui, buồn, hờn, giận với những hình ảnh trong phim
Phim tài liệu đã từng được xem là thế mạnh của điện ảnh Việt Nam Riêng Hãng Giải phóng hơn 40 năm làm phim tài liệu đã có rất nhiều đầu phim nổi
tiếng: Du kích Củ Chi, Đường ra phía trước (trong chiến tranh chống Mỹ) , Người
công giáo huyện Thống Nhất, Di chúc của những oan hồn (sau giải phóng) Lịch
sử điện ảnh nước nhà đã ghi nhận nhiều phim tài liệu có giá trị lớn, khẳng định tên tuổi nhiều nhà làm phim - từ Bùi Đình Hạc, Phan Trọng Quỳ, Nguyễn Khánh Dư, Nguyễn Xã Hội đến Lê Mạnh Thích, Lò Minh, Trần Văn Thuỷ, Đào Trọng Khánh, Sĩ Chung, Lại Văn Sinh, Văn Lê, Trần Thế Dân…Ở thời kỳ hòa bình và đổi mới có thêm nhiều bộ phim tài liệu Việt Nam gắn bó với cuộc sống đương đại, nhiều bộ phim tạo nên bước ngoặt trong tư duy sáng tác, lôi cuốn và có ảnh hưởng trong đời sống xã hội như "Hà Nội trong mắt ai", "Chuyện tử tế" của Trần Văn Thủy… Những vấn đề đặt ra trong các bộ phim này, không chỉ là nhìn vào sự thật, nói ra sự thật, mà còn định hướng tư duy và phong cách sáng tác mới cho những người làm phim tài liệu tâm huyết với nghề…
Một nhà làm phim tài liệu nổi tiếng của Chile, Patricio Guzman đã từng nói:
Một đất nước không có phim tài liệu như một gia đình không có abum ảnh Lịch sử
luôn là tài sản quý giá của mỗi quốc gia, tổ chức, cá nhân Phim tài liệu không giống như chúng ta viết 1 cuốn sách hay kể một câu chuyện mà nó còn hơn thế Để xây dựng và sản xuất phim tài liệu được tốt đòi hỏi sự chuẩn xác trong sự kiện lịch
sử, hệ thống trong bố cục, tính sáng tạo và nghệ thuật trong cách thể hiện Những tố chất này chính là điều căn cốt để tạo ra thế mạnh cho phim tài liệu hiện nay
1.1.3 Phim tài liệu truyền hình
- Khái niệm
Trang 24Từ điển bách khoa toàn thư Encarta (ở mục từ docmumentaries) của Mỹ cho
rằng: Phim tài liệu truyền hình là những tác phẩm truyền hình có cấu trúc chặt chẽ
nhằm mục đích khám phá sự kiện, hiện tượng, con người trong đời sống hiện thực một cách chi tiết " [15, tr 239-242 ] Khái niệm này đề cao tính chi tiết của tác phẩm, coi chi tiết như tiêu chí duy nhất của một phim tài liệu truyền hình Đó đơn thuần là một tác phẩm truyền hình có cấu trúc được xây dựng kỹ lưỡng và chi tiết Với quan điểm này, Encarta coi trọng phim tài liệu chính luận báo chí mà quên đi tính nghệ thuật của thể loại này
Từ những phân tích trên, PGS, tiến sĩ Dương Xuân Sơn đã đưa ra khái niệm
về phim tài liệu truyền hình: phim tài liệu truyền hình là một thể loại báo chí truyền
hình nằm trong nhóm thể loại chính luận nghệ thuật Nó nói lên tư tưởng chủ đề, tức là tính chính luận của báo chí, thông qua việc xây dựng hình tượng từ những sự kiện, hiện tượng, con người cụ thể có thật trong đời sống xã hội Nói cách khác, phim tài liệu truyền hình dùng sự thật để xây dựng hình tượng nghệ thuật, qua đó làm nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ và định hướng cách nhận thức sự thật đó cho công chúng [15, tr.243]
Từ định nghĩa này, chúng ta có thể rút ra mấy luận điểm chính như sau: Trước hết, phim tài liệu truyền hình là một thể loại báo chí nằm trong nhóm chính luận nghệ thuật, thuộc loại hình báo truyền hình
Thứ hai, phim tài liệu truyền hình tập trung thể hiện tư tưởng chủ đề thông qua việc xây dựng hình tượng từ sự kiện, hiện tượng, con người có thật trong đời sống xã hội
Trang 25đó nhằm định hướng và giáo dục nhận thức cho công chúng về sự thật đó
- Phim tài liệu truyền hình tiếp thu nhiều đặc điểm của phim tài liệu điển ảnh
Mặc dù, giữa phim tài liệu truyền hình và phim tài liệu điện ảnh có nhiều điểm khác nhau khá căn bản về trạng thái tiếp nhận của công chúng, về thiết bị thể hiện và về đặc trưng của phương tiện truyền tải Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của mình, phim tài liệu truyền hình đã kế thừa được nhiều đặc điểm của phim tài liệu điện ảnh, tạo cơ sở vững chắc cho việc tồn tại độc lập của nó với tư cách là một thể loại của truyền hình Từ ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, các cỡ
cảnh của điện ảnh đều được truyền hình phát huy tối đa Truyền hình là phương
tiện truyền thông đại chúng dùng hình ảnh động và âm thanh dể chuyển tải thông điệp tới người xem Chính vì vậy mà ngay từ khi ra đời, truyền hình đã kế thừa được hệ thống ngôn ngữ của điện ảnh, qua hệ thống cỡ cảnh và các góc quay, nghệ thuật sử dụng ánh sáng, kỹ thuật xử lý âm thanh, đặc biệt là kỹ thuật xử lý và nghệ thuật sử dụng tiếng động và nhạc nền…Như vậy, truyền hình khi ra đời đã được thừa hưởng hầu như toàn bộ những hệ thống ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh
từ điện ảnh Phim tài liệu truyền hình cũng vậy
Rõ ràng trong các thể loại báo chí truyền hình, phim tài liệu đã và đang ngày càng khẳng định được vị thế, vai trò của mình với tư cách là một thể loại độc lập Được hình thành từ điện ảnh, ra đời sớm và tiếp nhận, thừa hưởng được nhiều thế mạnh, có nhiều ưu thế vượt trội của điện ảnh, phim tài liệu truyền hình đã phát huy
và ngày càng tạo ra nhiều dấu ấn thành công cho mình
1.2 Các yếu tố trong phim tài liệu truyền hình
Trong giáo trình Báo chí truyền hình của PGS.TS Dương Xuân Sơn, các yếu tố trong phim tài liệu truyền hình được khái quát và phân tích khá rõ ràng Chính vì thế, trong quá trình nghiên cứu, tác giả luân văn xem đây như là khung lý
Trang 2618
thuyết cơ bản để làm nền cho quá trình phân tích, đánh giá về phim tài liệu truyền hình về biển đảo tại chương hai của luận văn này Các yếu tố này được nhấn mạnh
ở một số phần tiêu biểu như sau:
1.2.1 Kết cấu phim tài liệu truyền hình
Kết cấu là sự hình thành và bố cục cho cân đối các nhân tố trong kịch bản và phim Nó phản ánh nhận thức của người làm phim về các quy luật hiện thực khách quan được trình bày trong diễn biến của một tác phẩm cụ thể
Mục đích của nó là để làm rõ tư tưởng chủ đề tác phẩm, tạo nên tiết tấu và
nhịp điệu của kịch bản và phim; phát huy tác dụng của việc lặp lại những chi tiết
tương đồng hay đối lập, nêu bật ý nghĩa của vấn đề Từ đó cũng cho thấy đặc điểm,
tâm lý, tính cách của nhân vật, bản chất của sự việc, sự kiện hoặc vấn đề, tạo nên sự
cân đối, hài hòa trong tác phẩm
Vì thế, yêu cầu trong quá trình làm phim tài liệu phải vận dụng, kết hợp các
yếu tố kỹ năng nghề nghiệp để tạo nên tác phẩm hoàn chỉnh; sử dụng một cách hợp
lý số lượng và quan hệ giữa các nhân vật và sự kiện; quan hệ giữa các chi tiết, sự kiện bên trong và bên ngoài phần nội dung được trình bày trong kịch bản và phim Phải đảm bảo sự cân đối hợp lý giữa độ dài thời gian diễn biến câu chuyện, dung lượng và thời lượng của phim
Các nhân tố trong kết cấu
Phần mở đầu
Phần này phải trả lời các câu hỏi: Ai? (nhân vật ấy là ai,lứa tuổi, giới tính, tiểu sử, nghề nghiệp ) Cái gì? (Sự kiện, sự việc chủ yếu trong kịch bản và phim) Ở đâu? (vị trí, địa điểm, vùng miền, quốc gia…) Bao giờ? (thời gian, thời điểm, thời
kỳ lịch sử ) Như thế nào? (nguyên nhân, diễn biến phát triển của câu chuyện, sự việc, sự kiện…)
Trang 2719
Phần thắt nút
Có nhiệm vụ rất quan trọng, là tạo ra cái cớ, hay lý do cho hành động của các nhân vật Ở phần này, trạng thái "tĩnh" giữa các nhân vật, sự kiện và sự việc bị phá vỡ; chuyển sang thế "động" Nhân vật sẽ buộc phải hành động theo hướng mà cái thắt nút thắt lại, và nút thắt theo hướng nào, thì hành động của nhân vật đi theo hướng đấy
Đối với một số thể phim tài liệu, không nhất thiết phải có xung đột mâu thuẫn cũng như cốt truyện, nhưng dù sao vấn đề này cũng rất quan trọng và qua đó, cho thấy tài năng sáng tạo của người nghệ sỹ, trình độ tay nghề và bản lĩnh của anh
ta Thông thường, đây là trường đoạn dài nhất và quan trọng nhất trong kịch bản nhiệm vụ và phim tài liệu
Phần đỉnh điểm (cao trào)
Ở phần này mọi mâu thuẫn và xung đột đều được đẩy lên mức độ rất cao, dẫn đến tình trạng "tức nước vỡ bờ", đòi hỏi tác giả nhanh chóng tìm cách mở nút, kết thúc vấn đề
Lưu ý phân biệt phần đỉnh điểm này với những "cao trào" trong từng trường đoạn, sau đó được giải quyết ngay để lại bước sang một mâu thuẫn mới Đây cũng
là phần chứa đựng được mâu thuẫn chính, chiếm vị trí trung tâm trong tác phẩm
Trang 2820
Phần mở nút (kết thúc vấn đề)
Có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo nên sự thành công của tác phẩm Cho thấy một cách trọn vẹn tư tưởng chủ đề, những ý nghĩa, bài học rút ra từ tác phẩm,thái độ của tác giả
Có thể kết thúc một cách bất ngờ, trọn vẹn hay kết "lửng"; sử dụng lời bạt hay vĩ thanh… nhưng không được kéo dài, tránh gây sự nhàm chán hay cảm giác giáo huấn vụng về đối với người xem
1.2.2 Bố cục kịch bản phim tài liệu truyền hình
Cảnh quay
Đơn vị cơ bản, quan trọng nhất trong kịch bản và phim, là một cú bấm máy liên tục tại một bối cảnh hay ngoại nhưng máy quay không thay đổi vị trí Phân biệt với cảnh (Plan) - để nói về cỡ cảnh và khuôn hình
Cảnh quay có thể bao hàm một nội dung trọn vẹn hoặc không, tạo nên đoạn
và trường đoạn
Đoạn
Gồm một hay nhiều cảnh quan hợp thành, chứa đựng một nội dung nhất định
và bộ phận của câu chuyện, sự kiện hay vấn đề Đoạn có thể diễn ra tại một bối cảnh nội hay ngoại, hoặc nội kết hợp ngoại, có sự chuyển dịch, thay đổi vị trí máy quay với những góc độ và động tác khác nhau, và tuân theo ý đồ sáng tạo nhất định
Trường đoạn
Gồm một hay nhiều đoạn liên kết với nhau bởi đề tài, vấn đề và tư tưởng chủ đề chung của kịch bản và phim Đây là một phần trọn vẹn, có ý nghĩa hoàn
Trang 2921
cảnh chỉnh và độc lập trong kịch bản và phim, có chức năng phát triển đề tài chung
và tư tưởng chủ đạo, bao trùm của tác phẩm
So với kịch bản phim truyện, thì cảnh quay, đoạn và trường đoạn trong kịch bản và phim tài liệu thường ngắn hơn do đặc thù của thể loại, nhưng số lượng cảnh quay lại rất nhiều, trong khi số đoạn và trường đoạn thường hạn chế do dung lượng
và thời gian của phim có hạn
Các biện pháp gây cao trào hoặc nhấn mạnh thường được sử dụng trong Phim tai liệu truyền hình
- Dùng điệp khúc để nhấn mạnh nét chủ đạo và ý nghĩa của vấn đề
- Dùng trường đoạn trước gây cao trào cho trường đoạn sau
- Thay đổi tiết tấu, nhịp điệu trong phạm vi trường đoạn
- Sử dụng hành động song song trong trường đoạn
1.3 Lời bình
1.3.1 Vai trò của lời bình trong phim tài liệu truyền hình
Đối với phim tài liệu, lời bình có vị trí vô cùng quan trọng, chỉ đứng sau phần hình ảnh Trong một số trường hợp cụ thể còn thay thế hoặc vượt lên trên hình ảnh, làm rõ tư tưởng chủ đề của bộ phim hoặc những ý mà hình ảnh không nêu được hết Đưa ra các số liệu, dữ liêu, sự việc…
Góp phần phát hiện bản chất có ý nghĩa triết học của hiện tượng và sự kiện; nhấn mạnh ý nghĩa xã hội của vấn đề… qua việc kết hợp với các thủ pháp văn học như điệp từ, so sánh, đối chiếu, hô ứng… làm bật ra những ý nghĩa cần nêu
Là sự kết hợp hài hoà giữa hình thức và nội dung, phong cách và thể loại ngôn ngữ văn chương và báo chí, tạo nên hiệu quả nghệ thuật cho phim, đồng thời khắc phục,sửa chữa những sai sót khiếm khuyết (nếu có) từ các khâu khác
Trang 3022
Có giá trị tương đối độc lập so với kịch bản và phim Dùng để chuyển cảnh xâu chuỗi, gắn kết các nhân vật, sự việc, sự kiện tạo ra mạch chuyện và câu chuyện; Thể hiện thái độ lập trường tác giả
Xu hướng hiện nay, người làm phim tài liệu đang sử dụng lời bình một cách hạn chế, có chừng mực nhờ việc khai thác tối đa hiệu quả của hình ảnh; nâng thêm một nấc mới Thích hợp với những bộ phim giàu chất liệu tạo hình và tư liệu Lời bình như một phương tiện biểu hiện chủ yếu của phim, nhất là trong những trường hợp phim bị thiếu hụt hình ảnh hoặc tư liệu vì một lý do nào đó (nói về người quá cố; vì lý do tế nhị hoặc khó khăn' không ghi được hình Thậm chí có nhiều phim không chỉ dùng lời bình rất ít, kết hợp với đối thoại hoặc độc thoại của nhân vật là
xu hướng làm phim hiện đại ngày nay
1.3.2 Hình thức lời bình
Nhân danh tác giả, nói thẳng với người xem
Hình thức hay được sử dụng, gần gũi với ngôn ngữ báo chí, dễ tác động mạnh tới nhận thức của người xem
Trang 3123
Cho đến hiện nay, việc thực hiện các bộ phim tài liệu truyền hình chủ yếu được các nhà làm phim thuộc Trung tâm sản xuất phim tài liệu và phóng sự của đài Truyền hình Việt Nam, Hãng phim tài liệu và khoa học Trung ương đảm nhận Ngoài ra, các đài truyền hình các khu vực, địa phương, các tác giả tự do cũng tham gia nhiều vào quá trình phát triển thể loại này Ðặc biệt, Ngoài Hãng phim tài liệu khoa học Trung ương, Ðài truyền hình Việt Nam là đơn vị có sự đầu tiên đầu tư bài bản và có bước đi rõ ràng trong quá trình phát triển của Phim tài liệu truyền hình Những năm tháng đầu tiên mới ra đời cách đây hơn 20 năm, do khó khăn thiếu thốn
về cơ sở vật chất, phim tài liệu Truyền hình chưa có điều kiện phát triển liên tục ong
ýs nghĩa xã hội và hiệu ứng tích cực của nó vẫn được lan tỏa rất lớn Thấy rõ vị trí
và nhu cầu của phim tài liệu truyền hình, ngày 15 tháng 8 năm 1995, Tổng giám đốc Ðài truyền hình Việt Nam, ông Hồ Anh Dũng đã ký quyết định thành lập tiểu ban phim tài liệu thuộc Ban biên tập chuyên đề Đến tháng 2 năm 2008 để đáp ứng nhu cầu phát triển của phim tài liệu, Tổng giám đốc Ðài truyền hình Việt Nam đã
ký quyết định: Thành lập Trung tâm phim tài liệu và phóng sự Từ nền tảng ban đầu, phim tài liệu một trong những thể loại cơ bản của VTV có điều kiện bước vào giai đoạn phát triển mới, đồng hành cùng sự đổi mới chung của Ðài truyền hình Việt Nam, phấn đấu thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trên sóng truyền hình Tuy thời gian chưa dài, nhưng phim tài liệu truyền hình đã có sức sống và sự phát triển đáng kể Trung bình mỗi năm sản xuất từ 50 đến 70 bộ phim Thời lượng mỗi phim từ 25 đến 30 phút Nhiều bộ phim dài tập thời lượng từ 100 phút đến hàng
1000 phút như phim tài liệu Ði qua một thế kỷ ; Dân là gốc; Giải phóng miền Nam; Ngục tù Côn Ðảo; Khát vọng Tây Bắc v.v Phát trên sóng VTV1, VTV3, VTV4 và các kênh VCTV v.v Nhiều bộ phim tài liệu truyền hình đã nói được những vấn đề lớn về thời đại, về sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, được đông đảo
công chúng khán giả quan tâm, theo dõi
Ðội ngũ những người làm phim - nhiều tác giả cùng với tác phẩm đã trở nên quen thuộc và để lại ấn tượng tốt trong lòng khán giả như NSƯT Bùi Ngọc Hà, NSƯT đạo diễn Lê Thuấn; nhà văn đạo diễn Minh Chuyên; NSƯT đạo diễn Trần
Trang 3224
Minh Ðại ; NSƯT đạo diễn Chu Hòa ; đạo diễn Bội Ngọc, NSƯT đạo diễn Trần Cẩm; NSƯT đạo diễn Vi Hòa; đạo diễn Mai Xuân Hoà; biên tập Thanh Nguyên, Ðạo diễn Bùi Tuấn , Chí Hiếu v.v…
Trong những năm qua điều đáng ghi nhận là những người làm phim tài liệu nói chung và nhất là thuộc Trung tâm sản xuất phim tài liệu và phóng sự đã được tặng 120 giải thửởng trong nước và quốc tế Trong đó 35 huy chương vàng, cúp vàng, 37 huy chương bạc, 48 giải thưởng báo chí và giải hội điện ảnh Một số giải
tiêu biểu như phim tài liệu Cha con ngừời lính của nhà văn đạo diễn Minh Chuyên
được tặng giải cúp vàng quốc tế tại liên hoan phim quốc tế Bình Nhưỡng Triều Tiên
lần thứ 10 tháng 9 năm 2006 Phim tài liệu Dành lại màu xanh cho quê hương của
NSƯT đạo diễn Bùi Ngọc Hà đoạt giải Lai – Xích của CHDC Ðức năm 1976 và
phim tài liệu Người bạn thầm lặng của Bác Hồ của NSƯT đạo diễn Trần Cẩm đoạt giải Cánh diều vàng của hội điện ảnh Việt Nam năm 2008 Phim tài liệu Thủa
bình minh tân nhạc của đạo diễn Việt Hương đoạt giải Cánh diều vàng của Hội
điện ảnh Việt Nam năm 2009 Năm bộ phim tài liệu đoạt giải A giải báo chí quốc
gia gồm: Không ai là vô danh của NSƯT đạo diễn Trần Minh Ðại, phim Tilo và
con Voọc của đạo diễn Trần Quốc Huy, phim Xai Hờ bị tù treo của NSƯT đạo
diễn Chu Hòa Phim Hoa của Thép của NSƯT đạo diễn Trần Cầm và phim Nhà
khoa học của Muối của nhà văn đạo diễn Minh Chuyên
Trong quá trình hình thành và phát triển đó, phim tài liệu truyền hình đã thực
sự thâm nhập ngày càng nhiều trong đời sống báo chí, là thể loại được nhiều nhà làm phim gạo cội ở nhiều thế hệ quan tâm và đã có không ít thành công trong nước
và quốc tế Nghiên cứu, tìm hiều những đặc điểm cơ bản của phim tài liệu truyền hình cũng chính là một cách làm việc khoa học để tạo ra tư duy logic, có cái nhìn khách quan, biện chứng trong quá trình tìm hiểu, khai thác các vấn đề khác liên quan đến thể loại này Với tác giả luận văn, từ phần tổng quan này sẽ tạo cơ sở, tiền
đề cho việc xây dựng các luận điểm nghiên cứu ở các phim tài liệu về biển đảo
1.4.2 Thế mạnh của phim tài liệu truyền hình trong tuyên truyền về biển, đảo
- Phim tài liệu truyền hình trong mối tương quan giữa các thể loại
Trang 3325
So với rất nhiều thể loại khác trong loại hình báo chí truyền hình, Phim tài liệu truyền hình có nhiều thế mạnh hơn hẳn trong việc tuyên truyền nói chung và tuyên truyền về biển đào nói riêng
So với Tin: Theo quan điểm của PGS, TS Dương Xuân Sơn trong giáo trình báo chí Truyền hình thì: "Tin là mới, ngắn gọn, súc tích, nhanh chóng, có ý nghĩa chính trị xã hội nhất định."[15; tr.148] Chính việc ngắn gọn, súc tích đó tạo nên đặc trưng lớn nhất của tin truyền hình là tính thời sự Tuy nhiên, tin chỉ giải quyết trả lời được câu hỏi ai, cái gì, ở đâu, khi nào, trọng tâm của tin cốt yếu chỉ là “cái gì” chứ không thể đào sâu, phận tích làm rõ các vấn đề được như Phim tài liệu
So với phỏng vấn: Phỏng vấn truyền hình, thực chất đây là một cuộc trò chuyện bằng hình ảnh, là hình thức truyền tin dưới dạng một cuộc trao đổi, nói chuyện giữa phóng viên truyền hình với người được phỏng vấn thông qua việc hỏi, đáp nhằm mục đích thông tin về một lĩnh vực nào đó mà cơ quan báo chí muốn cung cấp cho khác giả Mặc dù phỏng vấn đáp ứng được yêu cầu thông tin nhanh, khách quan, có sức thuyết phục cao nhưng so với phim tài liệu, phỏng vấn đơn thuần là một cuộc trao đổi, không thể khai thác hết mọi thế mạnh của truyền hình
So với phóng sự truyền hình: mặc dù so với hai thể loại trên, phóng sự truyền hình đã thể hiện được nhiều lợi thế hơn bởi những đặc trưng về ngôn ngữ và âm thanh Tuy nhiên, so với phim tài liệu, phóng sự vẫn đang nặng về thông tin sự kiện, hiện tại chứ không phải là thông tin thẩm mỹ Phim tài liệu truyền hình có đề tài phản ảnh rộng hơn, đi vào chiều sâu tư tưởng, mang đậm tính thẩm mỹ và nhân văn
So với phóng sự truyền hình, phim tài liệu truyền hình có thể đi sâu khai thác những vấn đề trong quá khứ có tính chất tư liệu Theo cách nói của PGS,TS Dương Xuân Sơn trong Giáo trình báo chí truyền hình : "Phóng sự truyền hình thường đi vào những chi tiết và số liệu cụ thể còn phim tài liệu thường đi vào những chi tiết khái quát, hình ảnh của phóng sự truyền hình là hình ảnh thời sự đắt giá, phim tài liệu truyền hình tập trung vào những hình ảnh hướng tới hình tượng hoá cuộc sống, mang chiều sâu tư tưởng và tính nhân văn sâu sắc Hiện thực trong phim tài liệu truyền hình mục đích nhằm nâng lên tầm hình tượng, điều mà người làm phim tài
Trang 3426
liệu muốn đạt tới là thông điệp – tầng sâu đa nghĩa của hiện thực khách quan Lời bình trong phim tài liệu nhằm cất cánh cho hình ảnh còn lời bình trong phóng sự truyền hình luôn bám sát và bổ sung cho những gì mà hình ảnh chưa nói được "
[15; tr.203-204]
So với ký sự truyền hình, mặc dù đây là một thể loại trong nhóm chính luận nghệ thuật, là thể loại khá phóng túng, vừa có tính chính luận, vừa có tính nghệ thuật, thậm chí không ít quan điểm vẫn đang đánh đồng giữa phim tài liệu
và ký sự Tuy nhiên, trong ký sự có thể vừa kết hợp được nhiều yếu tố của truyện ngắn, tiểu thuyết, điều tra, phỏng vấn, vừa kết hợp tư duy trừu tượng với
tư duy lôgic, cái tôi tác giả luôn bộc lộ khá rõ nét Tuy nhiên, phim tài liệu khác hẳn ký sự ở tầm cỡ và độ dài, ở góc độ khảo cứu, ở cách trình bày logic các vấn
đề xã hội, lịch sử và tìm biện pháp giải quyết các vấn đề đó
- Ưu thế của phim tài liệu truyền hình về biển, đảo trên sóng truyền hình
Từ những phân tích, so sánh trên, có thể thấy rằng, phim tài liệu truyền hình có nhiều ưu việt, nhiều thế mạnh khá nổi bật so với các thể loại của báo truyền hình Điều này đã tạo nên nhiều lợi thế cho truyền hình trong quá trình chuyển tải thông, tin, sự kiện và các vấn đề trong hiện thực đời sống xã hội Đặc biệt, trong quá trình tuyên truyền về biển, đảo những ưu thế này càng có điều kiện được phát huy về mọi mặt, thể hiện trong các yếu tố sau:
- Phim tài liệu truyền hình có thể tuyên truyền sâu rộng về vị trí, vai trò, tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Phổ biến những kiến thức cơ bản, phổ thông về Luật Biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của nước ta
- Yếu tố tư liệu, lịch sử của phim tài liệu được phát huy: Ðưa ra những tư liệu về lòng tự tôn dân tộc, quá trình đấu tranh, xây dựng và những căn cứ pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển và hải đảo, đặc biệt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp và công ước quốc tế
- Tính vấn đề, thời sự được thể hiện trong một thể loại không bị gò ép về thời gian: Tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các hiện tượng sai trái, tiêu
Trang 3527
cực, các hành vi phá hoại môi trường sinh thái biển, tàu biển nước ngoài vi phạm chủ quyền, quyền tài phán vùng biển của nước ta Ðấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực cơ hội, thù địch nhằm xuyên tạc về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam Tuyên truyền những thành tựu hợp tác quốc tế, về phát triển kinh tế, cơ hội ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ biển và đại dương, những thách thức của biển, đảo trong hiện tại và tương lai gắn với công tác quản lý của từng địa phương các ngành và cả nước
Thực tế thời gian qua đã có rất nhiều dự án phim liên quan đến đề tài biển, đảo được triển khai, tiến hành quay phim tại nhiều tỉnh, thành phố với hàng trăm địa điểm dọc suốt từ Móng Cái (Quảng Ninh) tới tận huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang); các đoàn làm phim bao gồm các nhà làm phim dày dạn kinh nghiệm, lòng say mê nghề trong công tác làm phim tài liệu Sau nhiều thập kỷ phim thương mại chiếm chỗ đứng lớn, nhiều thể lại báo chí đều lên ngôi, thì hiện nay, có thể nói, phim tài liệu đã tăng cường được sự công nhận như một thể loại phim phổ biến và lượng khán giả cũng tăng lên Theo dòng sự kiện, với những vấn đề nóng về tình hình biển đảo và nhu cầu được thông tin về biển, đảo của công chúng hiện nay thì
có thể nói phim tài liệu là một sự lựa chọn đầy đủ, tổng quan, sâu sắc và có tính hệ thống nhất trong các thể loại của báo chí truyền hình hiện nay
1.5 Một số vấn đề chung về biển, đảo hiện nay
1.5.1 Những căng thẳng trên biển Đông
Biển Đông – Trường Sa hiện nay đang xảy ra tranh chấp giữa 5 nước, 6 bên là: Việt Nam; Trung Quốc; Đài Loan; Philippin; Malaixia và Brunei Nguyên nhân của các cuộc tranh chấp này là do vai trò to lớn của biển, đảo đối với mỗi quốc gia, dân tộc trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự Việc phân định biên giới trên biển rất khó khăn, phức tạp, vì có nhiều vùng chồng lấn và những vấn đề do lịch sử để lại, trong khi các nước lại có quan điểm khác nhau về phân định các vùng
biển
Đối với Biển Đông, Trung Quốc luôn xác định là “ lối thoát chiến lược” để
mở rộng “không gian sinh tồn” Làm chủ Biển Đông để có thể khống chế yết hầu
Trang 3628
của các nước Đông Dương, kiểm soát cửa ngõ vào Biển Đông, mở rộng khả năng hoạt động để có thể thay thế Mỹ ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Trung Quốc luôn duy trì yêu sách vùng biển của họ theo “đường lưỡi bò” do họ tự vẽ Những vụ gây hấn khiêu khích thậm chí là đụng độ trên Biển Đông diễn ra với nhiều cấp độ khác nhau nhưng nó đều cho thấy thực tế là Trung Quốc không từ bỏ âm mưu độc chiếm Biển Đông và quyết tâm thay đổi thực trạng trên Biển Đông
Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, quan điểm nhất quán của Việt Nam là: Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối vùng biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa Việt Nam có đầy đủ chứng cứ và cơ sở pháp lý về vấn đề này Tuy nhiên, vì lợi ích chung của các bên hữu quan, Việt Nam sẵn sàng đàm phán hòa bình để giải quyết, trước mắt là đạt tới sự thỏa thuận về “Bộ qui tắc ứng xử” trong khi tiếp tục tìm khiếm giải pháp lâu dài cho vấn đề Biển Đông
1.5.2 Một số thông tin về cách ứng xử của các bên ở biển Đông
1.5.2.1 Các hiệp định quốc tế trong lĩnh vực biên giới, lãnh thổ Việt Nam đã
ký kết với các nước láng giềng
Việt Nam là một trong 130 quốc gia bỏ phiếu thông qua, là một trong 119 quốc gia ký và là quốc gia thứ 63 phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982
Đến nay, chúng ta đã ký kết được Hiệp định về ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan ngày 09/8/1997 (đã được phê chuẩn tại Quyết định của Chủ tịch nước số 23-QĐ/CTN ngày 29/12/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 27/02/1998), Hiệp định phân định lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc ngày 25/12/2000 và Hiệp định phân định vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam -Indonesia ngày 26/6/2003 (đã được phê chuẩn tại Quyết định của Chủ tịch nước số
846/2003/QĐ/CTN ngày 18/1l/2003)
Trong tuyên bố chung về Biển Đông 1992, lần đầu tiên các nước ASEAN đã bày tỏ mong muốn xây dựng được một bộ quy tắc ứng xử Sau nhiều năm thương lượng, cuối cùng Trung Quốc đã chấp nhận ký với các nước ASEAN một tuyên bố
Trang 3729
đề cập đến phương cách ứng xử ở Biển Đông Văn bản ký kết cuối cùng mang tên
là Tuyên bố cách ứng xử (Declarateon on the conduct), ít tính ràng buộc, chứ không phải Bộ Quy tắc về ứng xử (Code of Conduct) mang tính ràng buộc nhiều như ASEAN mong muốn lúc đầu Nếu được các bên thực hiện nghiêm túc, thoả thuận sẽ giúp tránh được các xung đột tại Biển Đông như đã từng xảy ra và giữ ổn định cho khu vực có tầm quan trọng rất lớn về địa chiến lược này
1.5.3 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về biển, đảo
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến biển đảo và dành nhiều tình cảm cho nhân dân vùng biển đảo và lực lượng vũ trang nhân dân bảo vệ biển đảo của Tổ Quốc Sự quan tâm và tình cảm đó được thể hiện qua từng bài viết, từng lời căn dặn của Người khi đến thăm các địa phương hay các đơn vị Hải quân Trong
15 tập sách Hồ Chí Minh toàn tập do Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật xuất bản năm
2011 đã lưu lại hàng trăm bức thư, bài viết, bài nói chuyện của Hồ Chí Minh dành cho quân dân vùng biển
Ngày 10/4/1956, khi nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cải cách miền biển, Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng bằng là nhà, biển là cửa Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? … Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”
Khi cùng các cán bộ, chiến sĩ quân chủng hải quân vào thăm Hang Đầu Gỗ, một “công binh xưởng” xưa kia quân của Trần Hưng Đạo làm cọc cắm trên sông Bạch Đằng chống quân Nguyên, Hồ Chí Minh xúc động nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó” (Hồ Chí Minh toàn tập do Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật xuất bản năm 2011) Dù rất ngắn gọn nhưng điều này thể hiện rõ ràng quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như của Đảng và Nhà nước ta về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của biển cũng như quyết tâm bảo vệ chủ quyền trên biển của nước ta qua các giai đoạn khác nhau
Tiếp nối tư tưởng của Người, trong suốt quá trình xây dựng và bảo về Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định rõ tầm quan trọng của biển đảo đối với sự phát triển toàn diện của cả nước Chính vì vậy, trong các văn bản luật, các nghị
định vấn đề biển đảo luôn được đề cao
Trang 3830
Ngày 12-5-1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của
Việt Nam Ngày 23-6-1994, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam (khóa IX) đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982
Về tuyên truyền biển, đảo
Xác định được vai trò, tầm quan trọng của biển, đảo trong quá trình xây dựng
và phát triển đất nước, trong những năm qua, đảng và Nhà nước ra rất coi trọng vấn
đề tuyên truyền về biển, đảo
Năm 2007, tại hội nghị Trung ương 4, khoá X đã ra nghị quyết 09 về "chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020", trong đó xác định: "Phấn đấu đưa nước ta thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh.” Tiếp đó, tại hướng dẫn số
105 ngày 24/11/2014 của ban tuyên giáo Trung ương về công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2014 đã nhấn mạnh một số yêu cầu trong công tác tuyên truyền biển đảo:
- Tuyên truyền tạo sự thống nhất, đồng thuận trong cán bộ Đảng viên và toàn
xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo
- Công tác tuyên truyền cần đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành chặt chẽ, thống nhất; tăng cường tính chủ động, kịp thời, chính xác trong việc cung cấp thông tin, nhất là đối với những vấn đề phức tạp, nhạy cảm và các tình huống đột xuất
- Sử dụng hình thức tuyên truyền phù hợp với đối tượng cụ thể để chuyển tải kịp thời tình hình biển đảo
Nội dung tuyên truyền
Ngoài những vấn đề liên quan đến chiến lược ưu tiên nguồn lực cho phát
triển kinh tế biển, đảo… việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền thể hiện rõ các mặt:
- Công tác tuyên truyền biển, đảo luôn bám sát thực tiễn tình hình, không ngừng đổi mới, phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng
- Công tác tuyên truyền về chủ quyền quốc gia trên biển luôn có sự phối hợp đồng bộ; có sự chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ từ Trung ương tới cơ sở…
Trang 3931
- Tuyên truyền về các điều khoản và nghĩa vụ cần phải chấp hành các quy định của luật pháp Việt Nam Đặc biệt, chú trọng nâng cao nhận thức rõ về tính chất phức tạp của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế; khẳng định, củng cố niềm tin cho nhân dân cả nước, cộng đồng quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
- Công tác tuyên truyền phải được tiến hành sâu rộng trong và ngoài nước, gắn kết giữa lịch sử với hiện tại để người dân thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Từ đó đoàn kết, chung sức đồng lòng quyết tâm làm chủ, bảo vệ biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc
Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước hiện nay và mai sau Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu và là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta
ký kết với các nước láng giềng Đông thời, trong phần ba của chương 1 này, tác giả cũng tập trung nêu và phân tích quan điểm của đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển đảo và các định hướng tuyên truyền về biển đảo trong thời gian qua Từ những kiến thức nền này sẽ tạo cơ sở, tiền đề cho việc đưa ra các nhận định, những luận điểm trong quá trình đi sâu phân tích nội dung và hình thức thể hiện trong các bộ phim tài liệu lựa chọn nghiên cứu trong chương 2
Trang 4032
Tất nhiên, những vấn đề mà tác giả nêu ra trong chương 1 sẽ giữ vai trò lý luận, định hướng, nền tảng cho việc khảo sát, đánh giá thực trạng phần nghiên cứu tiếp theo Còn vấn đề cụ thể về phim tài liệu truyền hình về biển đảo như: nội dung, hình thức thể hiện, thành công, hạn chế, các yếu tố của phim tài liệu truyền hình về biển đảo làm nên thành công cho các tác phẩm cũng như những khuyến nghị và giải pháp để nâng cao chất lượng phim tài liệu truyền hình về biển đảo sẽ được chúng tôi tập trung làm rõ trong chương 2 và chương 3 của nghiên cứu này