Những giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội ..... Những giải pháp đối với chính quy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HỢI
VAI TRÕ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI DÂN THÔN THÁI BÌNH,
XÃ MAI LÂM, HUYỆN ĐÔNG ANH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI (TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HỢI
VAI TRÕ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI DÂN THÔN THÁI BÌNH,
XÃ MAI LÂM, HUYỆN ĐÔNG ANH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI (TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Tôn giáo học
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả điều tra trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Hợi
Trang 4Con xin đê đầu đảnh lễ và tri ân chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng tọa lãnh đạo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã quan tâm giúp đỡ và tạo nhiều thắng duyên cho con trong suốt quá trình học tập, bên cạnh đó nhờ
sự động viên và trợ duyên quý báu của gia đình, cũng như đàn na thí chủ Kính chúc chư Liệt vị pháp thể khinh an, đạo lộ tấn phát, chúng sinh dị độ, Phật đạo viên thành
Tác giả xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 02 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Hợi
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI DÂN THÔN THÁI BÌNH, XÃ MAI LÂM, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI 14 1.1 Khái quát chung về Phật giáo thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội 14
1.1.1 Sự du nhập, phát triển của Phật giáo thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội 14 1.1.2 Chùa Diên Phúc, thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh,
Hà Nội 17
1.2 Khái quát chung về đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình,
xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 21
1.2.1 Khái niệm “đời sống văn hóa” 21 1.2.2 Điều kiện lịch sử - tự nhiên, kinh tế - xã hội - yếu tố tác động, quy định đến đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 23 1.2.3 Thực trạng đời sống văn hóa của người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 25
Tiểu kết chương 1 31 Chương 2.BIỂU HIỆN CỦA VAI TRÕ PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI DÂN THÔN THÁI BÌNH, XÃ MAI LÂM, HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 33 2.1 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với văn hóa vật thể và phi vật thể 33
2.1.1 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với văn hóa vật thể 33
Trang 62.1.2 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với văn hóa phi vật thể 34
2.2 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với cảnh quan văn hóa 39
2.2.1 Giá trị lịch sử của chùa Diên Phúc 39
2.2.2 Giá trị văn hóa của chùa Diên Phúc 40
2.3 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với văn hóa cá nhân 43
2.3.1 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với tư tưởng, đạo đức, lối sống cá nhân 43
2.3.2 Biểu hiện vai trò của Phật giáo với giáo dục 48
2.4 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với văn hóa của các “tế bào” trong cộng đồng 50
2.4.1 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với văn hóa gia đình 50
2.4.2 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với văn hóa các tổ chức xã hội 58
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3 VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI DÂN THÔN THÁI BÌNH, XÃ MAI LÂM, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 62
3.1 Đánh giá vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội 62
3.1.1 Đánh giá vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần, tín ngưỡng của người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội 62
3.1.2 Đánh giá vai trò của Phật giáo đối với việc bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống và cố kết cộng đồng của người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội 66
3.2 Những giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội 70
Trang 73.2.1 Những giải pháp đối với chính quyền địa phương nhằm bảo tồn, phát huy vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa người dân thôn
Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội 71
3.2.2 Những giải pháp đối với Ban trị sự Phật giáo huyện đông Anh nhằm bảo tồn, phát huy vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội 73
3.2.3 Những giải pháp đối với người dân nhằm bảo tồn, phát huy vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội 77
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo du vào Việt Nam từ rất sớm, với ưu thế có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Việt Nam và với phương châm “Tùy duyên phương tiện”, Phật giáo nhanh chóng, dễ dàng được người Việt đón nhận Tận dụng ưu thế
đó, Phật giáo đã từng bước len lỏi vào mọi ngóc ngách của đời sống xã hội Trải qua lịch sử hơn hai nghìn năm, Phật giáo đã khẳng định được vai trò, vị thế của mình, là một phần không thể thiếu của văn hóa Việt Nam, đặc biệt là văn hóa làng xã
Nói đến các làng xã ở Việt Nam, Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn; bên cạnh ngôi đình, không thể thiếu được mái chùa thân thương quen thuộc Trên thực tế, làng nào cũng có chùa, có làng có tới hai, ba ngôi chùa “Chùa Việt Nam là sự hội tụ của tinh hoa Phật giáo, là nơi thuyết pháp, trao đổi học thuật,
là sự kết hợp hài hòa của các loại hình nghệ thuật dân gian và phong thủy, nó
đã tạo nên những sản phẩm vật chất và tinh thần quý giá đối với đời sống văn hóa Việt” [74, tr.91] Vai trò của ngôi chùa Việt được thể hiện rõ nét trong hồn thơ của Huyền Không:
“Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ tông”
Các ngôi chùa trong quá trình thực hành tín ngưỡng đã phát huy rất tốt chức năng liên kết cộng đồng, liên kết các phật tử, bởi chùa là nơi gửi gắm tâm linh Thông qua những sinh hoạt tín ngưỡng gắn với nhà chùa, người dân giữ gìn nuôi dưỡng mối quan hệ gắn bó, một lối sống hòa hợp và bền chặt của cộng đồng Chùa không chỉ là nơi thờ Phật, mà thờ các thánh thần, những người có công với nước, với làng Ngôi chùa không chỉ là nơi đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu tâm linh của các làng, mà còn là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa của
Trang 9địa phương Hội làng luôn gắn với hội chùa và ngược lại Văn hóa chùa luôn gắn với văn hóa cư dân làng - nơi mái chùa tồn tại như gia đình, dòng họ, làng
xã, các tổ chức xã hội khác
Tuy nhiên hiện nay, quá trình đô thị hóa ở nước ta đã và đang diễn ra với tốc độ rất nhanh, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, dẫn đến có sự chuyển dịch về cơ cấu sản xuất, ngành nghề, tăng thu nhập cho người dân, nhưng mặt khác, lại phá vỡ những nguyên tắc cơ bản trong quan
hệ cộng đồng xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và ổn định trên tất
cả các mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng Vì vậy, vai trò của Phật giáo ở các làng xã, hay nói một cách khác, ngôi chùa Việt (nòng cốt là các tăng, ni) cần phải khẳng định và phát huy vị thế, vai trò của mình, để
“hoằng dương Phật pháp, lợi lạc chúng sinh” trong giai đoạn từ Đổi mới (1986) đến nay, rất cần được nghiên cứu
Ngoài ra, thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu viết về Phật giáo, nhưng chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: quá trình du nhập và phát triển, hoạt động, giáo lý, giáo luật, tổ chức, giáo hội… trên diện vĩ mô; chưa có nhiều công trình nghiên cứu cụ thể về vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của người dân ở những làng xã cụ thể
Thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội là một vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời, tương truyền là vùng đất quê ngoại của vương triều Lý rất sùng đạo Phật nên có thể khẳng định nơi đây có bề dày lịch sử Phật giáo Trong đó, chùa Diên Phúc là một địa danh lịch sử quý báu của Thăng Long – Hà Nội Là nhà sư đang tu hành tại ngôi chùa chùa này và có nhiều hoạt động gắn bó với mái chùa và người dân làng Những năm qua, hoạt động của Phật giáo ở đây đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa người dân địa phương
Trang 10Với những lý do quan trọng nêu trên, tôi đã chọn đề tài: “Vai trò của
Phật giáo đối với đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (Từ 1986 đến nay)” làm đề tài Luận
văn Thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Phật giáo du nhập vào nước ta đến nay đã được hơn hai nghìn năm Trong quá trình phát triển, các tài liệu Việt về Phật giáo vô cùng đồ sộ, phong phú Do đó, chúng tôi tập trung tổng quan những tài liệu nghiên cứu liên quan mật thiết đến đề tài Đó là những tài liệu, những công trình đề cập đến vai trò của Phật giáo đối với đời sống của người dân Việt Nam nói chung và người dân các làng xã nói riêng Qua nghiên cứu tài liệu, chúng tôi chia làm ba
mảng sau: Thứ nhất, các công trình đề cập đến vai trò của Phật giáo đối với các mặt của đời sống xã hội người Việt Nam; Thứ hai, các công trình đề cập
đến vai trò của Phật giáo với đời sống văn hóa người dân các làng xã (từ năm
1986 đến nay); Thứ ba, các công trình đề cập đến Phật giáo huyện Đông Anh
nói chung và Phật giáo ở thôn Thái Bình, xã Mai Lâm nói riêng
Thứ nhất, các công trình đề cập đến vai trò của Phật giáo đối với các mặt của đời sống xã hội người Việt Nam
Đạo Phật truyền vào nước ta từ đầu Công nguyên, trở thành tôn giáo tồn tại đến ngày nay và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam trên mọi phương diện chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội Vai trò của Phật giáo trong lĩnh vực chính trị tư tưởng là một đề tài thu hút nhiều sự quan tâm chú ý của các nhà sử học, văn hóa học và triết học Đáng chú ý là các công trình, bài viết của Trần Văn Giàu, Nguyễn Tài Thư, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Đức Sự, Hà Thúc Minh, …
Trước hết phải kể đến các cuốn sách cơ bản: Mấy vấn đề về Phật giáo
và lịch sử tư tưởng Việt Nam của Viện Triết học (1986) Nội dung cuốn sách
Trang 11đã đề cập đến ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư tưởng con người Việt Nam Đây là cuốn sách của nhiều tác giả có uy tín viết về vai trò của Phật giáo đối với lĩnh vực tư tưởng của con người Việt Nam
Cụ thể, bài viết: “Đạo Phật và một số vấn đề của lịch sử tư tưởng Việt
Nam” (trong: Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, 1986)
của tác giả Trần Văn Giàu đã chỉ ra: lịch sử Phật giáo Việt Nam gắn liền với chủ nghĩa yêu nước Nhiều cuộc khởi nghĩa xuất phát từ các ngôi chùa hoặc nói cách khác, nhà chùa là trung tâm của một số cuộc khởi nghĩa, nhiều nhà
sư tham gia phong trào cách mạng của dân tộc Đạo Phật không có chủ nghĩa yêu nước nhưng ở Việt Nam nó gắn liền với chủ nghĩa yêu nước Ở Nam Bộ, các đạo Cao Đài, Hòa Hảo đều từ Phật giáo mà ra [72, tr 15]
Bài viết “Mấy vấn đề về nghiên cứu Phật giáo và lịch sử tư tưởng của
dân tộc (trong Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, 1986)
của Trần Bạch Đằng đã chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa tư tưởng của Phật giáo với tư tưởng Việt Nam, cụ thể: trong mối quan hệ giữa Phật giáo với lịch
sử tư tưởng thì Phật giáo là chủ thể nhưng ngược lại tư tưởng Việt Nam cũng
có ảnh hưởng đến Phật giáo Thậm chí, ảnh hưởng của tư tưởng Việt Nam đến Phật giáo còn có tính chất quyết định [72, tr 18]
Cuốn sách Phật giáo trong văn hóa Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh,
Lê Đức Hạnh (2011), Nxb Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội đã chỉ ra sự ảnh hưởng của những tu tưởng Phật giáo đối với hai vị vua nhà Trần
Theo các tác giả, trong Lục Độ Tập Kinh có đề cập đến khái niệm bố thí: Bố
thí vô cực là bố thí “tài thí”, không giới hạn, kể cả tính mạng đến tài sản, từ ngôi vua đến hoàng hậu, từ voi chiến đến quốc thổ,…hễ có người cần thì ban phát vô tư, dù người đó là kẻ thù Bố thí như vậy quả là vô cực Điều này xuất
phát từ quan điểm vô ngã, nghĩa là không có cái gì là của ta và xa hơn nữa là
tư tưởng Không [19, tr.11] Sau này hai ông vua Trần Thái Tông và Trần
Trang 12Nhân Tông từng có hành động bỏ ngôi vua vào Yên Tử là tương tự với bố thí ngôi vua, tuy động cơ không thực sự như vậy, nhưng dù sao cũng ảnh hưởng phần nào tư tưởng bố thí của Lục Độ Tập Kinh [19,tr.15] Bên cạnh đó, các tác giả cũng khẳng định đặc trưng và vai trò của Phật giáo trong văn hóa, tín
ngưỡng Việt Nam đó là: “Phật giáo Việt Nam tiếp thu trước tiên Phật giáo Ấn
Độ, rồi đến Phật giáo Trung Quốc (mà chủ yếu là Thiền tông) trên cơ sở tín ngưỡng Phồn Thực của người Việt với thần điện Cây Đa - Hòn Đá và cầu mưa…” [19, tr.502]
Tác giả Đặng Thị Lan có cuốn sách: Đạo đức Phật giáo với đạo đức
con người Việt Nam, cuốn sách đề cập đến những vấn đề cơ bản của đạo đức
Phật giáo, đạo đức Phật giáo với đạo đức truyền thống Việt am, Đạo đức Phật giáo với việc xây dựng va hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay Trong đó, ngay ở lời nói đầu, tác giả đã khẳng định: “Đối với người Việt Nam, ngôi chùa đã trở thành một cái gì đó thật thiêng liêng và gần gũi, là một phần trong đời sống văn hóa tinh thần của con người Những lễ hội chùa với hình thức sinh hoạt mang ý nghĩa tôn giáo, văn hóa lành mạnh cần được gìn giữ và phát huy” [29, tr.7]
Bên cạnh các sách còn một số bài viết của các tác giả đăng trên các tạp
chí, kỷ yếu hội thảo chuyên ngành Điển hình là bài viết: “Vị thế Phật giáo
trong văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Thị Kim Oanh (2012, Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981- 2011))
Trong đó, tác giả đi vào phân tích hai vấn đề: thứ nhất, vai trò Phật giáo trong lịch sử nước nhà, với việc điểm lại vai trò Phật giáo trong từng giai đoạn lịch
sử khác nhau; thứ hai, khẳng định vai trò Phật giáo trong văn hóa thời đại mới hiện nay Tác giả khẳng định: Phải nói Phật giáo là một tôn giáo có sức ảnh hưởng rất lớn trong tâm hồn người Việt Hệ thống giáo lý "Nhân quả", "Luân hồi", "Thiện ác nghiệp báo" đã trở thành nhận thức truyền thống
Trang 13Bài viết “Nghiên cứu và ứng dụng các giá trị Phật giáo trong xã hội
Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Hồng Dương (Tạp chí Nghiên cứu
Tôn giáo, Số 5, 2008) đã chỉ ra vai trò quan trọng của các giá trị văn hóa Phật
giáo (cứu nhân, độ thế, từ bi, hỷ xả…) trong lịch sử đã được các triều đại phong kiến Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, nhất là Lý Trần dùng làm nền tảng để tổ chức và cai quản xã hội Trên cơ sở đó xã hội giữ được kỷ cương, lấy được lòng dân, tạo nên sức mạnh đoàn kết để ba lần đánh bại quân Nguyên Mông Trên cơ sở tổng kết những tác động tích cực của giá trị văn hóa Phật giáo tác giả đã đưa ra một số giá trị quan trọng cần phát huy trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay
Bài viết “Ảnh hưởng chữ “tâm” trong Phật giáo đối với văn hóa tinh
thần của người Việt nam hiện nay” của tác giả Ngô Thị Lan Anh (Tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo, Số 5, 2008) đã nêu lên ảnh hưởng của chữ “tâm” trong Phật giáo đối với một số lĩnh vực văn hóa tinh thần của người Việt Nam hiện nay như hướng phật tử tới những giá trị đạo đức cao đẹp, tinh thần nhân văn, tình yêu thương con người không phân biệt đẳng cấp; trong phong cách ứng
xử của con người Việt Nam; tới ngôn ngữ, ca dao, tục ngữ, văn học, nghệ thuật, kiến trúc… của người Việt Nam
Bài viết “Vai trò của Phật giáo đối với sự ổn định và phát triển của xã
hội,” của Nguyễn Thế Cường, Nguyễn Thị Ngọc Lan (Tạp chí Nghiên cứu
Tôn giáo, Số 12, 2008) đã chỉ rõ vai trò quan trọng của Phật giáo Việt Nam
đó là được bản địa hóa, dân tộc hóa, trở thành một phần trong văn hóa Việt Nam Phật giáo có vai trò như chăm sóc đời sống tâm linh cho nhân dân, giúp
đỡ cộng đồng như chữa bệnh, dạy chữ, là nơi nương tựa của người già, trẻ
em, người cơ nhỡ…Văn hóa Phật giáo đã thấm đẫm trong đạo đức, lối sống của người Việt Nam, trở thành lối tư duy, hành động của mỗi con người…, tạo thành sức mạnh của dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 14Thứ hai, vai trò của Phật giáo với đời sống văn hóa người dân các làng
xã (từ năm 1986 đến nay)
Trước hết, đề cập đến vai trò của Phật giáo ở các làng xã, trong công
trình “Vài nét về Phật giáo và làng xã, (trong Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch
sử tư tưởng Việt Nam), Nxb Hà Nội, 1986), Phan Đại Doãn đã lý giải tại sao
Phật giáo Việt Nam lại có sức trường tồn mãnh liệt? Theo ông, đó là, từ khi vào Việt Nam đến nay, Phật giáo đã biết bám riết lấy làng xã, có nhiều hoạt động cụ thể kết hợp với tín ngưỡng bản địa, hội hè, lao động sản xuất Nhà
sư và ngôi chùa có vai trò quan trọng trong đời sống dân gian cổ truyền thể hiện ở làng nào cũng có chùa, có làng có tới hai, ba ngôi Chùa không chỉ là nơi thờ Phật mà dung hợp cả tín ngưỡng dân gian như thờ tổ tiên cho những người ký kỵ, thờ Mẫu Thượng Ngàn, Liễu Hạnh… Ngày Phật Đản của các chùa Gióng, chùa Láng, chùa Thầy… là những ngày hội văn nghệ dân gian phong phú, lôi cuốn nhiều người Ngôi chùa trở thành một trung tâm văn hóa
ở nông thôn
Cuốn sách Văn hóa truyền thống ngoại thành Hà Nội dưới tác động
của kinh tế thị trường (2005) do tác giả Trần Đức Ngôn (chủ biên, Nxb Văn
hóa Thông tin) đã cung cấp một số biến đổi về vai trò của Phật giáo ở các làng xã ngoại thành trong bối cảnh đô thị hóa và kinh tế thị trường Cuốn sách cho biết, mặc dù các làng xã đã bị đô thị hóa, thành phần dân cư đa dạng, trong đó dân ngụ cư chiếm một tỉ lệ đáng kể, nhưng “Dấu ấn làng xã được nhận thấy khá rõ qua các sinh hoạt tập thể của các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng Có tới 88,13% số người được hỏi khẳng định có đi lễ chùa ở mức độ
từ không thường xuyên trở lên, chỉ có 10,8% số người được hỏi không tham gia hoạt động này….” [36,tr.108] Trong số những người đi lễ chùa nêu trên,
có 45,33% người đi lễ chùa thường xuyên và 42,8% đi lễ chùa không thường xuyên Ở các làng ngoại thành ven đô, Phật giáo vẫn đóng vai trò quan trọng
Trang 15không chỉ đối với dân chính cư mà cả dân ngụ cư, bởi “Cửa chùa vốn là nơi đón nhận mọi người dân không phân biệt cũ mới, đương nhiên có tỉ lệ người tham gia cao hơn” [36,tr.109]
Cuốn sách Biến đổi về xã hội và văn hóa ở các làng quê trong quá trình
đô thị hóa tại Hà Nội của tác giả Trần Thị Hồng Yến (Nxb Chính trị quốc
gia, 2013), đã chỉ ra: từ khi thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay, nhiều di tích tại các làng xã (trong đó có chùa làng) được tu sửa khang trang bằng nhiều nguồn lực của người dân và Nhà nước; nhiều di tích đã được xếp hạng, tạo cơ sở pháp lý cho các làng xã giữ gìn, bảo vệ; đồng thời các lễ hội, lễ tiết trong năm được tổ chức trở lại Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của đô thị hóa đã làm biến mất, biến dạng hoặc thu hẹp nhiều công trình văn hóa thờ cúng hàng nghìn năm của cộng đồng dân cư [78,tr 219-220]
Các làng xã đô thị hóa được chuyển thành phường cũng có nhiều cố gắng trong việc phục dựng, tu sửa các di tích (chùa) Tuy nhiên, đó chỉ là sự phục dựng, tu sửa phần “lõi” mà chưa chú ý phục dựng cảnh quan, môi trường xung quanh; một số di tích được phục dựng nhưng không giữ được giá trị cổ Sự phục hồi của các chùa cũng “…kéo theo số lượng phật tử đến chùa ngày càng đông, là nòng cốt của chùa, ủng hộ chùa bằng tiền, vật chất và công sức Nhu cầu tâm linh là tất yếu của con người bởi họ luôn phải đối mặt với những bất trắc của tự nhiên, bất ổn của đời sống xã hộ, ốm đau, bệnh tật… và cả những ham muốn Do vậy, họ luôn mong muốn được che trở và phù hộ Nhà chùa và sư sư là nơi đáp ứng những nhu cầu đó Một số nhà sư được coi như những nhà tâm lý để lắng nghe, thông cảm, chia sẻ, giải đáp những khúc mắc trong cuộc sống của người đến chùa; đồng thời còn “chữa bệnh” tinh thần và cầu nguyện cho họ được như mong muốn” [78,tr.247-248] Bên cạnh đó, lượng khách thập phương đến chùa ngày một nhiều, một
số ngôi chùa làng trước đây đã mở rộng thành ngôi chùa của vùng, thậm chí
Trang 16trên cả nước Đánh giá về thế mạnh của các ngôi chùa làng hiện nay tác giả viết: “… nhà chùa, nhất là những chùa lớn ở Hà Nội, đang nắm giữ một sức mạnh lớn về nhân lực (đệ tử) và nguồn tiền bạc…” [78, tr.249]
Gần đây, đề cập đến Phật giáo tại các làng đô thị hóa ở Hà Nội, bài viết
“Vai trò của văn hóa đạo đức Phật giáo” (Qua các nhà tu hành ở một số
chùa Hà Nội) của tác giả Phan Thị Lan in trong cuốn Việt Nam học (lần thứ
IV), tập III đã chỉ ra một số giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu đạo đức của Phật giáo qua các giáo lý Bài viết cũng ìm hiểu việc thực hành lối sống đạo đức Phật giáo ở một số chùa tại Hà Nội hiện nay: cúng cầu an, cúng sao giải hạn, cầu siêu, bán khoán
Một bài viết khác đề cập đến Mối quan hệ giữa nhu cầu của người đi lễ
chùa và dịch vụ bán đồ lễ (qua khảo sát thực tế tại chùa Quán Sứ và chùa Hà
ở Hà Nội) của Hoàng Thu Hương (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, 2006, số 02,
tr 51 -55) Bài viết bàn về mối quan hệ chặt chẽ giữa nhu cầu của người đi lễ chùa và dịch vụ bán đồ lễ Qua đó, giúp người đọc hiểu thêm về vấn đề đi lễ chùa và thực hành nghi lễ của họ
Thứ ba, các công trình đề cập đến Phật giáo huyện Đông Anh nói chung và Phật giáo ở thôn Thái Bình, xã Mai Lâm nói riêng
Liên quan trực tiếp đến Phật giáo tại địa bàn nghiên cứu của đề tài là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội được đề cập ít nhiều trong các công trình nghiên cứu chung về Phật Giáo thời Lý, Phật giáo Hà Nội
Cuốn sách Phật giáo thời Lý với 1000 năm Thăng Long – Hà Nội của
Đại đức, TS Thích Đức Thiện và TS Nguyễn Quốc Tuấn (đồng chủ biên) (2011), Nxb Chính trị Quốc gia, nội dung gồm ba phần lớn: Tinh hoa Phật giáo thời Lý qua các khía cạnh văn hóa, chính trị và các nhân vật Phật giáo; Phật giáo Đại Việt thời Lý – kế thừa, hội tụ và phát triển; Phát huy di sản Phật giáo thời Lý
Trang 17Liên quan khá trực tiếp đến đề tài là cuốn sách: Kế thừa các giá trị văn
hóa Phật giáo để xây dựng và phát triển đất nước (Nxb Lao Động, 2012),
cuốn sách là kết quả của sự cộng tác giữa Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển với chùa Diên Phúc, trong đó có một phần lớn với nhan đề: Chùa Diên Phúc với những đóng góp cho quê hương đất nước
Ngoài các cuốn sách trên, còn một số bài viết về chùa Diên Phúc như:
“Đình Thái Bình và chùa Diên Phúc” (2013) trên trang Di sản văn hóa thế giới Hoàng Thành Thăng Long1 , “Chùa Diên Phúc đúc tượng và chuông đồng lớn” của Báo Giác Ngộ2 “Chùa Diên Phúc- một danh thắng, lịch sử của Thăng Long Hà Nội” (2014) của Ni sư trụ trì chùa Thích Minh Thịnh”3… Các bài viết nêu trên đều khẳng định vị trí của quan trọng của chùa Diên Phúc trong hệ thống di tích Hoàng Thành Thăng Long Đây là ngôi chùa thời Lý, là danh lam thắng cảnh của Hoàng thành Thăng Long Chùa là nơi thờ Phật và cũng là nơi thờ bà Phạm Thị - mẹ vua Lý Công Uẩn; là một công trình nghệ thuật mang đậm phong cách thời Lý, hiện nay trong chùa còn lưu giữ rất nhiều hiện vật cổ và quí giá như tượng phật, chuông đồng bi
ký, kinh sách… Hiện nay thôn Thái Bình còn nhiều địa danh liên quan đến vương triều Lý, ngôi đình làng còn thờ bà Hoàng hậu nhà Trần là Lý Chiêu Hoàng, thờ Trần Thủ Độ và Trần Cảnh
Qua tổng quan các công trình, tác phẩm, bài viết liên quan đến đề tài, chúng tôi rút ra một số nhận xét:
Những công trình nêu trên đều đã chỉ ra những đóng góp to lớn của Phật giáo trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Việt Nam ở các thời kỳ khác nhau của lịch sử Qua đó, văn hóa Phật giáo đã hòa nhập vào văn
1 http://www.hoangthanhthanglong.vn/blog/dinh-thai-binh-va-chua-dien-phuc/3099, truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2018
2 https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=567412, truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2018
3 LONG-HA-NOI-55/, truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2018
Trang 18http://tadri.org/vi/news/Tin-tuc/CHUA-DIEN-PHUC-MOT-DANH-THANG-LICH-SU-CUA-THANG-hóa Việt Nam, làm phong phú và nâng tầm văn http://tadri.org/vi/news/Tin-tuc/CHUA-DIEN-PHUC-MOT-DANH-THANG-LICH-SU-CUA-THANG-hóa Việt Nam lên một bước mới Bản thân Phật giáo cũng đã mang dấu ấn của dân tộc để trở thành Phật giáo Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, với những tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của quá trình đô thị hóa, Phật giáo đã nhập thế tích cực, tham gia đóng góp vào việc phát triển y tế, giáo dục, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, vận động quần chúng tham gia vào các công tác xã hội: xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa và các hoạt động từ thiện khác,
Tuy nhiên, những vấn đề nêu trên mới chỉ được đề cập đến chung chung trong các công trình, bài viết ở dạng vĩ mô, chưa có những nghiên cứu, khảo sát cụ thể ở các làng xã Chính vì vậy, các nghiên cứu trên chưa cho thấy được mối quan hệ biện chứng về vai trò Phật giáo với đời sống văn hóa người dân và ngược lại, vai trò của người dân với sự tồn tại, phát triển của ngôi chùa
Như vậy, lĩnh vực về vai trò của Phật giáo đối với các làng xã nói
chung và Vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa người dân thôn
Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (Từ 1986 đến nay) còn là khoảng trống bỏ ngỏ
Trên cơ sở sự tổng quan các tài liệu nghiên cứu trên đây, chúng tôi sẽ
kế thừa những kết quả của những công trình nghiên cứu đi trước để làm nền tảng cho những nghiên cứu về vai trò của Phật giáo với đời sống văn hóa người dân làng xã từ 1986 đến nay và là tấm gương phản chiếu để so sánh, khẳng định tính hệ thống, tính liên tục và sự đóng góp của Phật giáo với đất nước, thực hiện tôn chỉ của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam: “ pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” trong mọi thời đại
Trang 193 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ nội hàm khái niệm “đời sống văn hóa”, luận văn chỉ
ra vai trò của Phật giáo với đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Đưa ra những đánh giá về vai trò của Phật giáo, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ các khái niệm liên quan, khái quát về Phật giáo, về địa bàn nghiên cứu - Cơ sở để chỉ ra vai trò Phật giáo với đời sống người dân
- Chỉ ra những biểu hiện cụ thể để khẳng định vai trò Phật giáo với đời sống người văn hóa dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội
- Đánh giá vai trò Phật giáo với đời sống người dân và đưa ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò Phật giáo trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay cũng như trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Vai trò của Phật giáo (các sư trụ trì và các sư đang tu tập) tại chùa Diên Phúc, thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) đối với đời sống văn hóa của người dân
- Người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, nơi có ngôi chùa Diên Phúc là một trong những trung tâm sinh hoạt văn hóa và thực hiện các hoạt động xã hội
Trang 204.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội
- Thời gian: Từ năm 1986 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành của tôn giáo học: phân tích, tổng hợp, so sánh; đặc biệt chúng tôi sử dụng phương pháp của Nhân học tôn giáo (điền dã, khảo sát thực địa tại thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh với các công cụ chính là quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm ) để nghiên cứu đề tài
6 Đóng góp của luận văn
- Đây là công trình khoa học khảo cứu có tính hệ thống và chuyên sâu
về vai trò của Phật giáo đối với đời sống người dân ở một thôn làng cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống văn hóa
- Khẳng định sự đóng góp của Phật giáo đối với làng xã nói riêng, đất nước nói chung trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước
- Cung cấp những luận cứ, luận chứng cụ thể về vai trò của Phật giáo đối với đời sống người dân tại một địa phương cụ thể cho các nhà quản lý và thực hiên chính sách
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 21Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
NGƯỜI DÂN THÔN THÁI BÌNH, XÃ MAI LÂM,
HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI
1.1 Khái quát chung về Phật giáo thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội
1.1.1 Sự du nhập, phát triển của Phật giáo thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội
Thôn Thái Bình, Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội là một vùng đất có lịch
sử lâu đời, Phật giáo du nhập vào đây từ rất sớm, khó có thể xác định được mốc thời gian cụ thể nhưng những dữ liệu lịch sử ngày nay cho thấy sự hiện diện rất sớm của Phật giáo ở vùng đất này Đến thời Lý, Phật giáo nơi đây đã phát triển khá thịnh vượng
Nằm ở phía Bắc sông Đuống, xã Hoa Lâm (sau đổi là Danh Lâm) thuộc tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh xã Danh Lâm gồm 3 thôn: Lệ Xá, Phú Thọ, Thái Bình Sau năm 1945, ba thôn của xã Danh Lâm,
ba thôn của xã Du Lâm, cùng Mai Hiên, Lộc Hà hợp nhất thành xã Mai Lâm, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Năm 1961 nhập vào huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Vùng đất này nằm cạnh trung tâm Phật giáo Luy Lâu - trung tâm Phật giáo cổ xưa Việt Nam, lịch sử Phật giáo từ rất lâu đời, sử sách ghi chép rất nhiều về lịch sử Phật giáo tại Luy Lâu và các vùng lân cận: Vào những thế
kỷ đầu Công Nguyên “Luy Lâu là trụ sở của Giao Chỉ, nằm ở trung tâm đồng bằng Sông Hồng, Việt Nam”, tức huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc ngày nay
Từ đây có những tuyến đường thủy bộ nối với Bành Thành và Lạc Dương Các nhà buôn người Ấn Độ và người Trung Á đến buôn bán ở đây rất sớm và theo sau họ là các nhà sư đến hành đạo và truyền đạo” [47, tr.28]
Trang 22Hay khi viết về lịch sử chùa Diên Phúc, ngôi chùa là biểu tượng của Phật giáo ở vùng đất Thái Bình, các nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định sự xuất hiện rất sớm của Phật giáo ở mảnh đất này, mặc dù không có tư liệu lịch
sử nào ghi chép về thời gian cụ thể: “Một trong những lý do khác là với vị trí địa lý quan trọng bên cạnh sông Đuống, nơi tiếp giáp giữa hai trung tâm Phật giáo Luy Lâu và Thăng Long, trong quá trình chuyển tiếp các giá trị văn hóa phật giáo từ Luy Lâu về Thăng Long, chắc chắn trong lịch sử chùa Diên Phúc phải có một vai trò đặc biệt quan trọng” [74, tr 94]
Một cứ liệu lịch sử nữa cũng cho thấy có thể khẳng định sự phát triển thịnh vượng của Phật giáo ở vùng đất này vào thời Lý Nhà Lý được nhiều sử gia gọi là thời kỳ “hoàng kim” của Phật giáo, có lẽ vì thời kỳ này có các vị vua hiền đã từng chịu ảnh hưởng sâu đậm của giáo lý nhà Phật (đặc biệt, Lý Công Uẩn - vị vua đầu tiên của vương triều Lý là người vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm của giáo lý nhà Phật), luôn ủng hộ Phật giáo, có nhiều vị cao tăng học vấn uyên thâm, phẩm hạnh cao đẹp Ngay từ khi lên ngôi, thấy rõ vai trò Phật giáo với công cuộc chấn hưng dân tộc, Lý Thái Tổ đã có nhiều chính sách, hành động nâng đỡ, trọng đãi Phật giáo: “Trong 18 năm cầm quyền, nhà vua đã có nhiều lần cho xây chùa Ngay trong năm mới lên ngôi (1010), Lý Thái Tổ đã cho “phát tiền kho hai vạn quan, thuê thợ làm tám sở chùa ở phủ Thiên Đức, đều có dựng bia ghi công” và ra lệnh “cho các hương ấp nơi nào
có chùa quán đã đổ nát đều phải sửa chữa lại” Rồi khi xây dựng cung điện tại Thăng Long, trong nội thành xây dựng chùa Ngự Hưng Thiên, còn ngoại thành thì làm chùa Thắng Nghiêm Năm sau (1011) lại dựng chùa Vạn Tuế,
Tứ Đại Thiên Vương, Cập Y, Long Hưng và Thánh Thọ Năm 1016, lại dựng chùa Thiên Quang và Thiên Đức Năm 1024, dựng chùa Chân Giáo dựng chùa trên toàn quốc là một chính sách văn hóa, giáo dục hết sức cơ bản” [Xem 51]
Trang 23Nằm trên mảnh đất quê ngoại của vương triều Lý rất sùng đạo Phật, lẽ
dĩ nhiên Phật giáo ở vùng đất này cũng sẽ được quan tâm phát triển, chính vì thế ngôi chùa Diên Phúc nơi đây được xây dựng từ rất sớm: “Nhiều giải thuyết cũng cho rằng chùa Diên Phúc phải được xây dựng từ rất sớm trong điều kiện những năm đầu của triều đại Lý, khi bản thân các vua nhà Lý là những người rất sùng đạo Phật và họ đã cho xây dựng ngôi chùa trên mảnh đất quê hương của mình, tiện cho việc hành lễ, cúng tế hàng năm” [74, tr 94] Như vậy, với những suy luận logic dựa trên những cứ liệu lịch sử trên đây cho thấy Phật giáo du nhập vào vùng đất Thái Bình từ rất sớm, đến thời
Lý đã phát triển khá thịnh vượng Là một phần của Phật giáo Việt Nam, Phật giáo thôn Thái Bình luôn đồng hành cùng nhân dân địa phương trong mọi bước đi thăng trầm của lịch sử dân tộc Tinh thần “hộ quốc an dân” của Phật giáo vẫn được nêu cao Khi đất nước hòa bình, Phật giáo cùng nhân dân xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc, khi đất nước lâm nguy, Phật giáo cùng nhân dân đánh giặc cứu nước, giành lại độc lập tự do Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, hòa chung với không khí khởi nghĩa của dân tộc, Phật giáo
ở thôn Thái Bình tích cực tham gia, ủng hộ cách mạng Ngôi chùa làng trở thành cơ sở hoạt động cách mạng, nuôi giấu nhiều cán bộ kháng chiến, làm cơ
sở hậu cần tiếp viện cho các đơn vị bộ đội; người tu sĩ trở thành người chiến
sĩ cách mạng, trực tiếp tham gia mặt trận Việt Minh (sẽ trình bày rõ hơn phần giới thiệu về chùa Diên Phúc ở mục sau) Những chiến công vang dội của cách mạng Việt Nam có phần đóng góp không nhỏ của Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo thôn Thái Bình (xã Mai Lâm) nói riêng Khi đất nước sạch bóng quân thù, Phật giáo thôn Thái Bình lại cùng nhân dân trong thôn xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh Phật giáo quay về thực hiện chức năng tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của người dân nơi đây
Trang 24Ngày nay, trải qua biết bao thăng trầm, Phật giáo đã khẳng định được
vai trò quan trọng của mình trong mọi mặt đời sống người dân thôn Thái
Bình Với tinh thần đoàn kết, hòa hợp, phụng sự đạo pháp, phục vụ dân tộc,
góp phần xây dựng cuộc sống hạnh phúc ấm no cho nhân dân (Tóm lại, Phật
giáo Thái Bình, Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội có lịch sử từ lâu đời, ngoài
mang những đặc trưng chung của Phật giáo Việt Nam thì nó còn mang những
đặc trưng rất riêng được tạo bởi truyền thống, lịch sử mảnh đất và con người
nơi đây)
1.1.2 Chùa Diên Phúc, thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông
Anh, Hà Nội
Lịch sử
Diên Phúc Tự (nhân dân quen gọi là chùa Thái Bình) tọa lạc tại thuộc
thôn Thái Bình (xã Mai Lâm, huyện Đông Anh), ngoại thành Hà Nội Chùa
nằm cạnh sông Đuống, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 10km về
phía Bắc, trên trục đường đi Thị trấn Đông Anh
Những cứ liệu, ghi chép lịch sử ít ỏi không cho biết thời gian xây dựng
chùa Diên Phúc chính xác là năm nào, tuy nhiên giá trị lịch sử chùa Diên
Phúc đã được các nhà sử học khẳng định bởi sự hiện diện của nó từ bao đời
nay trên mảnh đất Mai Lâm – nơi được xác định là quê ngoại của Vương triều
Lý “Một trong những lý do khác là với vị trí địa lý quan trọng, bên cạnh sông
Đuống, nơi tiếp giáp giữa hai trung tâm Phật giáo Luy Lâu và Thăng Long,
trong quá trình chuyển tiếp các giá trị văn hóa Phật giáo từ Luy Lâu về Thăng
Long, chắc chắn trong lịch sử chùa Diên Phúc phải có một vai trò đặc biệt
quan trọng Rất tiếc cho đến nay, còn quá ít những tư liệu lịch sử để chứng
minh cho luận điểm này Nhất là trải qua nhiều giai đoạn lịch sử do điều kiện
thiên tai khắc nghiệt, lũ lụt, đất sụt lở nên nhiều di vật của chùa đã bị trôi theo
những dòng chảy của sông Đuống, thậm chí còn phải di chuyển chùa vào năm
1987” [74, tr 94]
Comment [A1]: Phần viết về chùa Diên Phúc có nhiều đoạn văn, câu chữ trùng với bài viết của sư thầy Thích Minh Thịnh trên mạng, em cần phải trích dẫn bài viết của thầy Thịnh không họ sẽ đánh vào tội đạo văn
Trang 25Theo nhà sư trụ trì chùa: “ tương truyền chùa Diên Phúc được xây dựng từ thế kỷ XI và tồn tại liên tục cho đến ngày nay Về lịch sử, theo bài Minh trên quả chuông đồng “Diên Phúc tự chung” đúc, tháng Giêng năm Minh Mệnh thứ hai (1821) thì chùa Diên Phúc tự ở thôn Thái Đường, xã Hoa Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc Từ năm Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống nguyên niên có sự biến động lớn, do nhu cầu cấp thiết đúc tiền nên đã thu chuông đồng khắp thiên hạ, do đó chuông chùa Diên Phúc cũng bị thu lấy Năm Minh Mệnh thứ hai, trụ trì chùa Tỷ Khiêu Diệu Bảo Thích Lãng đã phát nguyện tâm phúc, khuyên dân trong ấp cùng thiện nam, tín nữ thập phương quyên góp của cải mua đồng Diên Phúc đã thuê thợ về đúc quả chuông “Linh Ứng tự chung” suốt thời kỳ nhà Nguyễn, chùa được quan tâm tu sửa nhiều lần”[74, tr 101]
Trong kháng chiến chống Pháp, chùa Diên Phúc là nơi lưu truyền nhiều chiến công chống giặc ngoại xâm và bảo vệ tổ quốc Ở giai đoạn 1946 – 1954, ngôi chùa này được chọn làm cơ sở hoạt động cách mạng, nơi nuôi giấu nhiều cán bộ kháng chiến Sư cụ Đàm Tín là người trụ trì chùa đã trực tiếp tham gia mặt trận Việt Minh Nhiều lần thực dân Pháp tổ chức vây giáp quân cách mạng nhưng nhờ sự che chở của nhà chùa, sự đấu tranh khéo léo của sư trụ trì
mà cơ sở cách mạng địa phương đứng vững ngay trước mặt kẻ thù Cũng thời gian này, chùa là nơi cất giấu nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước ta, cán bộ của mặt trận Việt Minh, trong đó có gia đình cố Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đã được mái chùa che chở an toàn trong thời kỳ chiến tranh Trong cuộc chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ở miền Bắc (1964 - 1974), Chùa Diên Phúc là kho hậu cần tiếp viện quan trọng cho các đơn vị bộ đội bảo vệ thủ đô; là nơi sơ tán của một số cơ quan Trung ương và thành phố
Hà Nội
Trang 26Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, với bề dày lịch sử và truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, chùa Diên Phúc đã được Sở Văn hóa Thông tin và Ban Quản lý di tích và danh thắng Hà Nội xếp hạng di tích Lịch sử - Tôn giáo (8/2/1992) Sư cụ Đàm Tín
đã được phong tặng Huân chương kháng chiến Hạng Ba cho những cống hiến lớn lao của mình
Kiến trúc
Trước đây, chùa Diên Phúc có quy mô kiến trúc rất lớn và là một thắng cảnh nổi tiếng trong vùng Trải qua bao thăng trầm lịch sử với những thách thức, biến động của thời gian đã làm cho kiến trúc của chùa thu hẹp lại Đặc biệt, năm 1987, do lũ lụt tàn phá nhiều lần, sự thay đổi dòng chảy của sông Đuống nên chùa được người dân di chuyển vào bên trong đê Hiện tại, kiến trúc của chùa gồm bốn nếp nhà ngang dọc tạo thành Các bộ phận này được quy hoạch quanh một sân gạch vuông nhỏ: Tiền đường tọa lạc phía trước, Thượng Điện nằm ở sân sau, nhà thờ Mẫu và nhà Tổ nằm theo một trục thẳng phái sau Thượng Điện Lầu Quan Âm nằm song song với Tiền Đường và trước nhà Tổ Tiền đường là nếp nhà ngang 5 gian, 2 trái và được làm theo kiểu 4 mái, lợp ngói ta, nền lát gạch đỏ Trong lòng nhà Tiền Đường gần sát tường hậu của hai gian hồi xây bệ cao để làm ban thờ, còn phía trước chủ yếu
là khoảng trống với không gian thoáng rộng để Phật tử làm lễ
Nhà Tổ nằm sát bên phải sân chùa được xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai Các bộ vì của khung nhà có kết cấu đơn giản kiểu vì kèo quái giang Nhà gồm 5 gian, phía trước mở ra vào, xung quang tường bao khép kín Bên trong sát tường xây bệ gạch cao làm ban thờ
Khu nhà Mẫu được xây dựng nằm theo một trục ngang với nhà Tổ, có thiết kế hình chữ Nhị gồm tiền tế và hậu cung Tiền tế gồm 5 gian nhà ngang hẹp lòng và được xây dựng đơn giản Hậu cung có quy mô nhỏ gồm 5 gian
Trang 27nối với Tiền tế Tại khu nhà Mẫu bày đồ tự khí và nơi thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, đồng thời cũng là nơi thờ bà Phạm Thị Ngà – mẹ vua Lý Công Uẩn, đồng thời thờ cụ bà thân sinh ra cố Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh
Thượng Tọa Điện là một nếp nhà dọc năm gian hai trái, mặt trước mở cửa vào hình chữ nhật, mái lợp ngói ta Các bộ vì đỡ mái được làm thống nhất theo kiểu “chồng giường giá chiêng hạ kẻ” Riêng bộ vì giữa trước Phật điện làm thành cốn mé để trang trí Trên bộ vì này, bức cốn trên trang trí đôi rồng lớn chầu mặt trời lửa, 2 cốn bên có đề tài long – ly – quy – phượng Rồng có kích thước lớn trải kín bề mặt cửa cốn, ngoài ra còn có phượng, long mã điểm xuyết Hình tượng rồng trên ba bức cốn của bộ vì này được thể hiện giống nhau và mang đặc trưng của cốn rồng nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn Thượng Điện được xây dựng trên khu nền cao 200 m so với mặt sân, mặt nền lát gạch màu đỏ sẫm Bên trong, năm gian ngoài dùng làm nơi hành lễ, các gian trong đóng kệ gỗ cao dần từ trên xuống, ngoài nhìn vào
ba pho tượng Tam Thế Phật thường trụ diệu pháp thân tiêu biểu cho ba đời chư Phật là quá khứ - hiện tại - tương lai Lớp kế tiếp là Quan Âm Thế Chí thị
Di Đà, tiếp đến Quan Âm Chuẩn Đề đến Tòa Cửu Long tái hiện hình ảnh đức Phật Thích Ca lúc mới hạ sinh, chín con rồng phun nước tắm, các tiên nữ ca
Trang 28múa, hát mừng và bảy Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Tại Tiền Đường có các ban thờ hai vị Hộ Pháp Vi Đà, Đức Chúa Ông, Thánh Hiền, mười vị Diêm Vương ngồi thành hai ban Ngoài ra, tượng trong chùa còn có hai vị Tổ sư, ba
vị Thánh Mẫu Hệ thống tượng thờ của chùa Diên Phúc có niên đại lịch sử khác nhau, một số thuộc về thời Lê Trung Hưng, một số thuộc thời Nguyễn, một số mới được đúc tạc mới đây
Ngoài kiến trúc, hệ thống tượng thờ, chùa Diên Phúc còn có các di vật
cổ khác có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật cao, như: một bức cửa võng chạm rồng chầu, rồng cuốn thủy, tứ linh, bát bửu thế kỷ XIV; một quả chuông đồng lớn “Diên Phúc tự chung” thuộc niên hiệu Minh Mệnh thứ hai (1821); một bia đá “Ký kỵ bi ký” dựng năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), Ngày nay, chùa Diên Phúc do sư thầy Thích Minh Thịnh Trụ trì
1.2 Khái quát chung về đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
1.2.1 Khái niệm “đời sống văn hóa”
Trước khi đi vào tìm hiểu về đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội, cần làm sáng tỏ khái niệm đời sống văn hóa Việc xác định nội hàm của khái niệm này rất quan trọng vì nó
sẽ chỉ ra những nội dung cần triển khai ở chương 2 của luận văn
Đời sống văn hoá là cụm từ mới được sử dụng rộng rãi ở nước ta vào
những năm 80, 90 của thế kỷ XX Tiền thân của cụm từ này là cụm từ đời
sống mới do Chủ tích Hồ Chí Minh sử dụng làm tiêu đề của bài viết dưới
dạng hỏi - đáp, công bố năm 1947 (của tác giả Tân Sinh - một bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh) Bối cảnh ra đời cụm từ này là sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chính quyền nhân dân non trẻ bắt tay vào sự nghiệp kiến quốc và kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam Nhiệm vụ cấp bách đối với văn hoá
Trang 29lúc đó là diệt giặt dốt, cổ động toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống giặc đói, cổ vũ tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, xây dựng đạo đức cách mạng và sửa đổi nề nếp sinh hoạt trong đời sống của mỗi người, mỗi nhà và mỗi cộng đồng làng bản, đơn vị công tác Đây là công việc mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, chưa từng có trong các giai đoạn lịch sử trước đó nên được gọi là xây dựng đời sống mới
Trong bối cảnh trình độ học vấn của dân ta còn thấp, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã sử dụng từ "mới" thay cho từ "văn hoá" để cho dân dễ hiểu về xây
dựng đời sống văn hoá
Cụm từ đời sống văn hoá xuất hiện trong văn kiện của Đảng từ Đại hội
IV, từ đó, khái niệm về đời sống văn hoá ngày một sáng tỏ và được hoàn
thiện nội hàm Năm 2000, cuốn Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn
hoá của Đảng đưa ra khái niệm: "Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống
xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các
dạng hoạt động văn hóa của nó) Trong cuốn Lý luận văn hoá và đường lối
văn hoá của Đảng (2007) cho rằng đời sống văn hoá bao gồm 4 yếu tố: văn
hoá vật thể và phi vật thể; cảnh quan văn hoá; văn hoá cá nhân; văn hoá của
các "tế bào" trong mỗi cộng đồng, từ đó đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hoá
là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống
xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình
4 Xem Bài viết “Bàn về khái niệm đời sống văn hóa và môi trường văn hóa đăng trên wedsite của Trường cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch, ngày 12/06/2015
Trang 30Trên tạp chí Cộng sản – cơ quan lý luận và chính trị của Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam chuyên đề về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Khi
câu hỏi đời sống văn hóa là gì được đặt ra, câu trả lời ngắn gọn được hiểu:
Đời sống văn hóa là toàn thể các hoạt động sống của con người nhằm thỏa
mãn nhu cầu văn hóa, hướng con người đến các giá trị Chân – Thiện – Mỹ
Trong nghiên cứu của mình chúng tôi sử dụng khái niệm đời sống văn
hóa theo cuốn Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng năm 2007,
trong đó bốn yếu tố nội hàm của khái niệm được hiểu như sau:
- Văn hoá vật thể và phi vật thể: tồn tại ở mỗi cộng đồng như: thiết
chế văn hóa, tác phẩm, sản phẩm văn hóa, sản phẩm thông tin đại chúng và
truyền bá văn hóa, lễ hội, văn hóa - văn nghệ dân gian, trường học, nhóm
văn hóa
- Cảnh quan văn hoá (do tự nhiên hay con người tạo ra), hiện diện ở
mỗi cộng đồng như di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, công viên,
tượng đài
- Văn hoá cá nhân: trình độ học vấn, phong cách lối sống, văn hóa ứng
xử giao tiếp, lối sống văn hóa
- Văn hoá của các "tế bào" trong mỗi cộng đồng: gia đình, nhà trường,
tổ nhóm lao động, học tập, các hội đoàn
1.2.2 Điều kiện lịch sử - tự nhiên, kinh tế - xã hội - yếu tố tác động,
quy định đến đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm,
huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Đời sống văn hóa xét đến cùng là yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc
của xã hội, nó chịu sự quy định của các yếu tố của cơ sở hạ tầng là điều kiện
lịch sử - tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội Chính vì vậy khi xem xét về đời
sống văn hóa người dân nơi đây không thể bỏ qua những yếu tố này
Comment [A2]: Phần khái niệm về đời sống văn hóa em lấy trên mạng nhưng không thấy trích dẫn,
cô đã góp ý nhưng em vẫn không đề trích dẫn vào đây Rất nguy hiểm, đề nghị em bổ sung nguồn trích dẫn
Trang 31 Điều kiện lịch sử - tự nhiên
Thôn Thái Bình là một trong 7 thôn của xã Mai Lâm (xã Mai Lâm gồm các thôn: Du Ngoại, Du Nội, Lê Xá, Phúc Thọ, Lộc Hà, Mai Hiền, Thái Bình) – một xã nằm ở rìa phía Đông Nam, huyện Đông Anh, bên bờ bắc sông Đuống
Nằm ở phía Bắc sông Đuống, xã Hoa Lâm (sau đổi là Danh Lâm) thuộc tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh xã Danh Lâm gồm 3 thôn: Lệ Xá, Phú Thọ, Thái Bình Sau năm 1945, ba thôn của xã Danh Lâm, ba thôn của xã Du Lâm, cùng Mai Hiên, Lộc Hà hợp nhất thành
xã Mai Lâm, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Năm 1961 nhập vào huyện Đông Anh, TP Hà Nội
Điều kiện kinh tế - xã hội
Thôn Thái Bình hiện nay có 656 hộ dân với gần 1800 nhân khẩu Nhân dân trong thôn sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp (80% là hộ nông nghiệp chủ yếu sản xuất cây rau màu, chăn nuôi, nghề phụ) Trước đây cuộc sống người dân gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất như thiếu vốn, người dân tiếp cận khoa học kỹ thuật chưa thường xuyên Song, trong những năm gần đây, được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp Ủy Đảng, Chính quyền, nhiều hộ gia đình đã vay được vồn, được tiếp thu khoa học kỹ thuật, đưa giống cây trồng có năng suất cao vào trồng trọt, chăn nuôi ngày một phát triển Gần đây nhất, vụ xuân năm 2017 năng suất lúa đạt từ 180 đến 200
kg / sào, ngô đạt 180 kg/ sào Rau màu đạt 6.000.000 đồng/ sào Hiện trong thôn có 80 con trâu, bò, trên 300 con lợn nái và thịt, 6900 con gà, vịt thịt và
đẻ trứng
Đẩy mạnh công tác phát triển kinh tế gia đình, được sự quan tâm của ngân hàng chính sách xã hội, nhiều hộ đã được vay vốn phát triển chăn nuôi, kinh doanh, phát triển nghề phụ cho thu nhập cao đảm bảo ổn định kinh tế gia
Trang 32đình với tổng số vốn gần 2 tỷ đồng do Chi Hội Nông dân, Phụ nữ quản lý và một hộ được hỗ trợ cấp 01 con bò giống trị giá 15.000.000 đồng Kinh doanh dịch vụ ngày càng phát triển, tăng thu nhập kinh tế gia đình, đời sống sinh hoạt của nhân dân được nâng lên Theo báo cáo mới nhất về kết quả thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thi văn minh” năm 2017, đến nay trong thôn đã có 95% đường dân sinh được bê tông hóa, trong năm qua với sự quan tâm của chính quyền và công tác tuyên truyền vận động nhân dân đóng góp xây dựng nâng cấp trục đường bê tông với tổng kinh phí 83.700.000 đồng, 90% hộ gia đình có nhà kiên cố, 100% hộ gia đình dùng nước giếng khoan, 95% hộ có xe máy từ 1 đến 5 cái, 41 hộ có xe ô tô Số hộ khá ngày càng tăng, hộ nghèo giảm, cuối năm 2016 – 2017 có 11 hộ nghèo, trong năm đã giúp 02 hộ thoát nghèo, cuối năm 2017 xét 01 hộ có hoàn cảnh khó khăn vào hộ nghèo, đến nay trong thôn chỉ còn 01 hộ nghèo [Theo 46]
1.2.3 Thực trạng đời sống văn hóa của người dân thôn Thái Bình,
xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Văn hoá vật thể và phi vật thể
Nhà văn hóa Thôn Thái Bình được khánh thành năm 2011, là trung tâm sinh hoạt văn hóa của người dân trong làng Nhân dân thường xuyên đến sinh hoạt, trao đổi thông tin, rèn luyện thân thể để có sức khỏe làm việc, lao động, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, học hỏi lẫn nhau và thắt chặt thêm tình đoàn kết Các hoạt động văn hóa của nhân dân trong thôn được phụ trách bởi hệ thống ban ngành với những cán bộ chuyên trách như: Ban Công tác Mặt trận, Ban
Văn hóa…
Hiện nay, các ban trên đang thực hiện rất tốt vai trò của mình: Thường xuyên tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, quy ước của thôn, đẩy mạnh công tác phát huy bảo tồn văn hóa truyền thống của quê hương, dân tộc, tổ
Trang 33chức tốt lễ hội truyền thống bảo đảm văn minh, an toàn, tiếp kiệm, vui vẻ
Toàn dân hưởng ứng phong trào đảm bảo an toàn giao thông, tổ chức ký cam
kết phòng cháy nổ đến 100% các hộ gia đình nhân dân trong thôn
Đời sống kinh tế được nâng lên, kéo theo đó là nhu cầu về đời sống văn
hóa, tinh thần cũng ngày càng được nâng cao, đáp ứng nhu cầu của người
dân Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao là món ăn tinh thần giúp
nâng cao sức khỏe cho mọi người, trong thôn đã thành lập được 05 Câu lạc bộ
(CLB) như dưỡng sinh, bóng chuyền, cầu lông, văn nghệ, CLB thơ, đến nay
các CLB vẫn duy trì hoạt động đều đặn, đặc biệt là đi bộ và đi xe đạp thu hút
rất đông người tham gia
Về chăm sóc sức khỏe cộng đồng: thực hiện dân số kế hoạch hóa gia
đình, tuyên truyền vận động các chị em trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các
biện pháp tránh thai, khám thai định kỳ, tổ chức cho các cháu uống Vitamin
A, cân đo đạt 100% Tuyên truyền vận động nhân dân tham gia chiến dịch vệ
sinh môi trường, diệt bọ gậy, phòng chống dịch sốt xuất huyết tới các hộ gia
đình, nhân dân trong thôn Công tác tham gia bảo vệ môi trường được đề cao:
nhân dân tham gia vệ sinh môi trường hàng ngày bằng các công việc cụ thể:
thu gom rác thải đúng nơi quy định, toàn dân tổng vệ sinh môi trường vào
sáng thứ Bảy hàng tuần Hiện nay trong thôn có ba trục đường được mang tên
Đường tự quản do Chi Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và cụm dân cư quản lý
tạo cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp; hưởng ứng Tết trồng cây, nhân dịp
đầu xuân, Ban thôn đã nhận cây xanh về trồng và tuyên truyền vận động các
hộ gia đình mỗi hộ trồng từ một đến hai cây ăn quả trong vườn góp phần bảo
vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu tại địa bàn dân cư
Người dân trong làng còn lưu giữ được một số loại hình văn hóa, văn
nghệ cổ truyền mang đậm bản sắc dân tộc như ca trù, tuồng cổ, chèo Bên
cạnh đó, người dân trong làng vẫn lưu giữ các lễ hội truyền thống: lễ Thượng
Comment [A3]: Câu viết không có chủ ngử
Trang 34nguyên, ba lễ hội Đình làng trong năm: Hội mùa xuân với lễ Sinh thần (ngày
8/3 Âm lịch), Lễ Hóa thần (12,13/12 Âm lịch) và Lễ Mộng thần (25/7 Âm
lịch); Lễ Khai Xuân (15 tháng Giêng Âm lịch)
Đặc biệt, làng Thái Bình còn có Quy ước làng văn hóa được tuyên
truyền rộng rãi đến người dân dưới nhiều hình thức khác nhau để người dân
nắm bắt được và thực hiện Trong quy ước có những quy định cụ thể về tất cả
mọi lĩnh vực của đời sống: mối quan hệ trong gia đình, mối quan hệ với xã
hội, quy định tỉ mỉ về việc cưới hỏi, tang ma, quy định mừng thọ, tổ chức các
hội đồng niên, đồng ngũ, tổ chức hội làng…
Cảnh quan văn hóa
Là vùng đất có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, thôn (làng) Thái
Bình là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa, điển hình là đình Thái Bình Đình
thôn Thái Bình dựng ngoài bãi sông Đuống, có quy mô khá lớn với 5 gian 2
dĩ Trước đình có tòa tiền tế và hai dẫy tả mạc Theo những chữ Hán ghi ở câu
đầu thì kiến trúc đình thôn Thái Bình còn lại đến ngày nay được dựng vào
năm Ất Tỵ (1905) năm thứ 17 đời Vua Thành Thái nhà Nguyễn Các cột cái,
cột quân bằng gỗ lim, một vòng tay ôm không hết Ở các đầu dư chạm rồng ổ,
rồng chầu Nét chạm mềm mại, uyển chuyển Ở gian giữa, trước hậu cung
đình có bộ “Văn thượng” dân gian quen gọi là “màn giếng” trang trí rất cầu
kỳ Ở hàng trăm các ngôi đình phía Bắc, hiện chỉ còn một hai nơi có bộ “Ván
thượng” này
Trước đây đình thôn Thái Bình có thần tích, sắc phong thần nhưng do
lũ lụt các tài liệu quý hiếm đều bị hỏng nát, năm 1955 - 1956 do nhận thức
không đúng về giá trị ngôi đình làng, kiệu bát cổng, ngựa hồng, ngựa bạch
cũng bị đem chẻ làm củi đun Những đôi câu đối, những bức hoành phi, ở mỗi
chữ được tiền nhân gửi gắm bao ước nguyện, một thời cũng bị người ta cắt ra
đóng hòm, đóng nhà kho… Mùa lũ năm 1990, đất bãi sông bị lở, từ ngày
Comment [A4]: Viết văn kiểu gì mà cứ xuống
dòng liên tục thế
Trang 3505/8/1990 đến 20/10/1990, người dân trong làng đã di chuyển hết 36 triệu đồng do dân đóng góp Đình thôn Thái Bình có tam môn bề thế Năm 2000, ở bên phải có dựng một nhà bia Nhà bia hai tầng tám mái Giữa nhà bia có đặt tầm bia “Lý gia linh thạch” được chế tác theo nguyên mẫu tấm bia ở chua Tiêu Sơn Ở các cột được đắp nổi bằng nề vôi hai đôi câu đối Nội dung nói
về bà Phạm Thị, thân mẫu của Lý Công Uẩn Cùng các bia đá “Hoa Lâm Đông thôn hậu bi ký” tạo năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762), đình vẫn còn giữ được một số hoành phi tạo vào thời Thành Thái Theo báo cáo của ông Trịnh Xuân Luận: “ Nguyên trước làng tôi thờ vị Đào tướng công, sau vì có vườn hoa của Vua nhà Lý ở tổng tôi, cả tổng tôi là viên đình vườn ấy nên mới thờ thêm bà Lý Chiêu Hoàng và hai vị quan triều Lý (…) thờ ngài thì thờ bằng bài vị và có cả hia đai mũ mão nữa” Hiện nay ở hậu cung đình Thái Bình trên ban thờ đặt ba pho tượng: Tượng bà Lý Chiêu Hoàng ở chính giữa, hai bên là tượng Trần Thủ Độ và Trần Cảnh Ba pho tượng này của ông Bảy (phố hàng Chiếu) công đức năm 1980
Ở phần sau của hậu cung, có hai bàn thờ nhỏ Đó là bàn thờ ông bà Đào
Kỳ và Phương Dung Giải thích vì sao có sự đổi mới trong việc thờ phụng này, cách đây 10 năm, ông Trịnh Xuân Ngột cho biết “Dân ta vốn trọng sự đoàn kết, biết đặt quyền lợi tối cao của dân tộc lên trên hết, thờ như vậy sẽ xóa đi thù hận của hai triều Lý – Trần” Đình Thái Bình được xếp hạng Di tích kiến trúc, nghệ thuật quốc gia năm 1992
Thôn Thái Bình còn nổi tiếng với Chùa Diên Phúc (đã được giới thiệu rất kỹ ở phần trên)
Văn hoá cá nhân:
Trước đây vì cuộc sống kinh tế còn nhiều khó khăn, dân số chủ yếu là nông dân nên trình độ dân trí người dân còn thấp nhưng đến nay trình độ dân trí người dân đã được nâng cao rõ dệt Điều này được thể hiện rõ trong báo
Trang 36cáo Công tác giáo dục của Ủy ban Nhân dân Xã Mai Lâm “Công tác giáo dục được các cấp quan tâm đầu tư cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu dạy và học Các thầy cô giáo đã chú trọng đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy, không ngừng nâng cao năng lực sư phạm, chất lượng giảng dạy với yêu cầu:
“Dạy tốt; dạy thực”” [44, tr.4]
Là những con người Việt Nam, lại sinh ra và lớn lên ở mảnh đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, chính vì vậy: “Con người Mai Lâm truyền thống và hiện đại là những con người lao động cần cù, chịu thương chịu khó, hiền lành và trung hậu” [74,tr.95] Người dân Mai lâm nói chung, người dân Thái Bình nói riêng ngày nay là những con người điển hình cho con người Việt Nam trong thời đại mới Điều này thể hiện rất rõ trong quy ước làng văn hóa của thôn Ví dụ như trong đó quy định cụ thể:
Trong mối quan hệ trong gia đình: con cái hiếu thảo với ông bà, cha
mẹ, ngược lại ông bà cha mẹ là tấm gương gương mẫu cho con cháu noi theo theo, có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con cháu, đối xử công bằng với con, cháu…
Gia đình – xã hội: lịch sự trong giao tiếp, tôn trọng lẫn nhau, sống có tình làng nghĩa xóm,… tham gia các phong trào hoạt động cộng đồng vì sự phát triển của cộng đồng…
Văn hoá của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng
Các hộ gia đình trong thôn Thái Bình hiện nay, 100% đăng ký gia đình văn hóa, qua bình xét cuối năm 2017 có 94,7% các hộ đạt gia đình văn hóa Thôn Thái Bình là một vùng đất có truyền thống hiếu học, các dòng họ lớn ở đây đều nêu cao tinh thần hiếu học Trong lịch sử, làng có 4 người đỗ Tiến sĩ thời phong kiến, gồm một người họ Đỗ, là Đỗ Công Quỳnh, đỗ năm 1685; 3 người họ Trịnh: Trịnh Đức Nhuận (1653 – 1713), đỗ năm 1678, làm quan đến Hộ bộ Tả Thị lang, Bồi tụng, có nhiều công lao trong việc bảo vệ
Trang 37biên cương phía Bắc; Trịnh Xuân Thụ (1704 - ?) là con Trịnh Đức Nhuận, đỗ Hoàng giáp, năm 1748, được cử đi sứ sang nhà Thanh và Trịnh Xuân Thưởng, đỗ năm 1847 Ngoài 3 tiến sĩ, họ Trịnh còn có 33 người đỗ Hương Cống, cử nhân, trong đó có 29 người thuộc các đời thứ 8, 9, 10, đỗ dưới triều
Lê Trịnh Các năm 1723, 1771, mỗi khoa có 3 người, năm 1726 có 4 người họ Trịnh cùng đỗ Dòng họ hiện còn lưu giữ được nhà thờ và tấm bia “Đông Hoa Trịnh tiến sĩ”, từ năm 1696 ghi lại lai lịch dòng họ và cuộc đời, sự nghiệp của Tiến sĩ Trịnh Đức Nhuận Nhà thờ được Bộ văn hóa công nhận là Di tích lịch
sử văn hóa năm 1997
Sau Cách mạng, truyền thống hiếu học và khoa bảng của người làng Thái Đường vẫn được duy trì và phát huy Chỉ tính riêng dòng họ Trịnh đã có trên 100 người đỗ đại học, trong đó 5 người có học vị cao và học hàm, tiêu biểu là Giáo sư Tiến sĩ Hoá học Trịnh Xuân Khuê, Giáo sư Bác sĩ Y khoa Trịnh Bỉnh Di, nhà Vật lý không gian, chuyên gia hàng đầu thế giới về các thiên hà li ti Trịnh Xuân Thuận, hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Virgirna (Mỹ)
Ngày nay, công tác chăm lo giáo dục luôn được coi trọng, thực hiện quy ước làng văn hóa hàng năm, các hộ gia đình, các dòng họ tham gia xây dựng quỹ khuyến học Các dòng họ hiện nay đều có những chính sách khen thưởng kịp thời để vận động, ủng hộ tinh thần và truyền thống hiếu học cho con em trong gia đình, dòng họ mình Trong mỗi gia đình, dòng họ ở thôn Thái Bình vẫn giữ nguyên được một nét văn hóa đặc trưng của văn hóa gia đình, dòng họ giống như các gia đình, dòng họ khác trên khắp đất nước Việt Nam, đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Dòng họ thờ cúng tổ tiên trong nhà thờ họ, mỗi năm tổ chức ngày giỗ họ một lần với sự tham gia của tất cả các thành viên trong họ, đặc biệt là các “đinh” là những người con trai trong dòng
họ Kinh tế ngày càng phát triển, con cháu làm ăn khấm khá càng quan tâm
Trang 38đến việc thờ tổ tiên dòng họ nên các dòng họ đều xây dựng các nhà thờ họ ngày càng khang trang, đẹp đẽ Trong các gia đình hạt nhân, mỗi gia đình đều
có ban thờ gia tiên, được đặt trang trọng ở nơi trang nghiêm, thanh tịnh nhất trong gia đình Các ngày giỗ vọng, các ngày lễ tết, các ngày rằm, mùng một đều tổ chức cúng lễ dù to nhỏ nhưng rất trang nghiêm, chu đáo
Trong thôn nhiều tổ chức hội đoàn được thành lập với các chức năng hoạt động khác nhau, bước đầu đã đem lại những hiệu quả tích cực đáng ghi nhận: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Chi đoàn Thanh niên, Hội Cựu Chiến binh, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu giáo chức…
Ngày nay, với những tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, kinh tế thị trường nhiều giá trị văn hóa trong đời sống người dân đang trong quá trình biến đổi mạnh mẽ Bởi trong xu thế chung của thời cuộc hiện nay, “ngoài thách thức về kinh tế và xã hội, Việt Nam còn phải đối mặt với thách thức không nhỏ về văn hóa”[12, tr.166] Chính vì vậy, thực tế, bên cạnh những kết quả đạt được còn nhiều vấn đề tồn tại: Do quá trình đô thị hóa, công nhiệp hóa nhanh chóng khiến cho một bộ phận người dân không thích nghi khịp, bị đẩy ra ngoài guồng quay của xã hội, điển hình như một số thanh niên không có việc làm, ham chơi lại thiếu sự quan tâm của gia đình nên đã sa vào các tệ nạn xã hội Bên cạnh sự tiếp thu nhiều giá trị mới phù hợp với thời đại là sự đánh mất đi nhiều giá trị truyền thống: các chuẩn mực đạo đức truyền thống bị lãng quyên, đảo lộn, trong nhiều gia đình con cái coi thường, bất hiếu với cha mẹ, học trò bất kính với thầy cô,
Tiểu kết chương 1
Nằm ở vị trí địa lý quan trọng, nơi chuyển giao, tiếp biến giữa nền văn hóa Luy Lâu và Thăng Long xưa, thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã đón nhận sự hiện diện rất sớm của Phật giáo, đến thời Lý, Phật giáo nơi đây đã phát triển khá thịnh vượng Trải qua biết bao
Trang 39thăng trầm của lịch sử, Phật giáo Thái Bình vẫn tồn tại, phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay, đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sống người dân nơi đây Điểm qua những mốc quan trọng của lịch sử Thái Bình nói riêng, Mai Lâm nói chung, thời kỳ nào cũng thấy những dấu ấn đậm nét của Phật giáo
Thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời Nơi đây đã chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử dân tộc Đời sống văn hóa người dân nơi đây đã được bồi đắp biết bao lớp trầm tích Ngày nay, với vị thế là một vùng ven đô, chịu tác động mạnh mẽ của quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, đời sống văn hóa người dân đang có những biến đổi mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu quan trọng tuy nhiên mặt trái của nó cũng còn tồn tại nhiều vấn đề đáng quan tâm, lưu ý
Trang 40Chương 2
BIỂU HIỆN CỦA VAI TRÕ PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI DÂN THÔN THÁI BÌNH, XÃ MAI LÂM,
HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Như đã phân tích ở chương 1 về khái niệm đời sống văn hóa và nội hàm của khái niệm Ở chương 2, luận văn đi vào phân tích những biểu hiện cụ thể của vai trò Phật giáo đối với đời sống văn hóa người dân thôn Thái Bình,
xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Vai trò của Phật giáo sẽ được bóc tách, phân tích dưới góc độ đối với các thành tố trong nội hàm của khái niệm đời sống văn hóa Tuy nhiên cần lưu ý rằng, đối với mỗi thành tố, luận văn sẽ chỉ phân tích những biểu hiện nổi bật nhất chứ không đi dàn trải vào mọi yếu tố nhỏ trong thành tố đó Bởi thực chất sự phân chia các thành tố cũng là là tương đối, không thật sự có ranh giới rõ nét Ví như trong văn hóa vật thể và phi vật thể – thành tố thứ nhất cũng có thể bao hàm một phần của cảnh quan văn hóa như di tích lịch sử văn hóa, tượng đài, công viên…
2.1 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với văn hóa vật thể và phi vật thể
2.1.1 Biểu hiện vai trò của Phật giáo đối với văn hóa vật thể
Theo như khái niệm đã phân tích ở chương 1, thành tố thứ nhất của đời sống văn hóa là văn hóa vật thể và phi vật thể
Vai trò của Phật giáo với văn hóa vật thể của người dân thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội được hiểu là những đóng góp to lớn của hệ thống di sản vật thể Phật giáo đối với hệ thống văn hóa vật thể nói chung của người dân nơi đây
Sẽ là trùng lặp nếu như mô tả lại về hệ thống di sản vật thể Phật giáo ở vùng đất Thái Bình, Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội bởi nó chính là hệ thống