là tự sự học và những hiểu biết về văn học thời kỳ đổi mới để sắp xếp, hệ thống các vấn đề có liên quan đến người kể chuyện trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà.. Bàn về Khải huyền muộn,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60 22 01 20
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Đức Phương
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Thư viện Quốc gia Việt Nam, … đã giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình tìm kiếm, thu thập tài liệu nghiên cứu Đặc biệt, tác giả gửi lời cảm ơn chân thành tới GS.TS Đoàn Đức Phương, nhờ sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song giới hạn về mặt thời gian và nhận thức nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Do vậy, tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy, cô giáo và những đóng góp ý kiến quý báu của toàn thể bạn đọc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 01
1 Lí do chọn đề tài 03
2 Lịch sử vấn đề 05
3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Cấu trúc luận văn 12
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ 13
1.1 Tự sự học và người kể chuyện 13
1.1.1 Lý thuyết tự sự học 13
1.1.2 Người kể chuyện 19
1.2 Sáng tác của Nguyễn Việt Hà 23
1.2.1 Hành trình sáng tác 23
1.2.2 Quan điểm nghệ thuật 28
CHƯƠNG 2:NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ NGÔI KỂ, ĐIỂM NHÌN 30
2.1 Ngôi kể của người kể chuyện 32
2.1.1 Giới thuyết về ngôi kể 32
2.1.2 Các loại hình của ngôi kể trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà 34
2.1.2.1 Kể chuyện theo ngôi thứ ba 34
2.1.2.2 Kể chuyện theo ngôi thứ nhất 42
2.2 Điểm nhìn trần thuật 51
2.2.1 Giới thuyết về điểm nhìn 51
2.2.2 Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà 53
CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 59
3.1 Ngôn ngữ trần thuật 59
Trang 53.1.1 Giới thuyết về ngôn ngữ trần thuật 59
3.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà 61
3.1.2.1 Ngôn ngữ đậm chất đời thường 61
3.1.2.2 Ngôn ngữ vay mượn 67
3.1.2.3 Ngôn ngữ mang màu sắc tôn giáo 70
3.2 Giọng điệu trần thuật 75
3.2.1 Giới thuyết về giọng điệu trần thuật 75
3.2.2 Các loại giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà 77
3.2.2.1 Giọng điệu giễu nhại 77
3.2.2.2 Giọng điệu triết lý 84
3.2.2.3 Giọng điệu trữ tình 88
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ sau năm 1986, trong xu thế và không khí chung của thời kỳ đổi mới, toàn bộ nước ta bước vào quá trình thay da đổi thịt trong mọi lĩnh vực Tiểu thuyết đương đại Việt Nam lúc này có sự lột xác mãnh liệt.Nó đòi hỏi sự đổi mới về tư duy nghệ thuật để tạo ra tiền đề cho sự cách tân về mặt thể loại.Đáng chú ý nhất là sự đổi mới trong nghệ thuật trần thuật với sự đóng góp của nhiều thế hệ nhà văn.Những giá trị truyền thống đòi hỏi được làm mới khiến các nhà văn dần từ bỏ thói quen đối chiếu giữa cuộc sống thực bên ngoài mà bắt đầu suy tư về chính cái hiện thực dù có hay không có thật trong cuộc sống mà nhà văn muốn gửi gắm
Nguyễn Việt Hà là một trong những nhà văn trẻ của nền văn học đổi mới.Tiểu thuyết của anh cho thấy một tư duy nghệ thuật sắc bén, một tư tưởng cách tân tiểu thuyết quyết liệt Tuy đề cập đến những vấn đề không mới nhưng lại luôn là những đề tài nóng bỏng về con người đặt ra trong bối cảnh
xã hội đang có những thay đổi mạnh mẽ Chính sự giao thoa không dứt điểm giữa cái cũ và cái mới đã làm nảy sinh nhiều vấn đề.Vì vậy mà tác phẩm của anh khi ra đời đã gây ra khá nhiều dư luận
Mặc dù tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà không nhiều, chỉ với hai cuốn
Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, nhưng đó là những "viên ngọc" quý
tạo nên đặc điểm riêng trong phong cách nghệ thuật của anh Nguyễn Việt Hà
đã không chỉ làm mới ở nội dung, tư tưởng mà còn xây dựng nên một kĩ thuật trần thuật điêu luyện, phá vỡ những khuôn mẫu trần thuật cũ, mở ra một hướng mới trong nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết
Trong tác phẩm tự sự, người kể chuyện có một vai trò hết sức quan trọng Trước đây khái niệm này hầu như bị bỏ qua, người ta chỉ nghiên cứu
Trang 7nhân vật, ngôn ngữ, cốt truyện, các biện pháp tu từ , còn người kể chuyện trong văn bản biến mất, gần như vô hình hoặc bị đồng nhất với tác giả Những năm gần đây, sự ý thức về chủ thể của văn học cùng với việc mở rộng tiếp thu các thành tựu lý luận trên thế giới đã có những tác động mạnh mẽ đến ý thức của những người nghiên cứu văn học Người nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu nội dung, ý nghĩa của tác phẩm ra sao mà vai trò của người
kể chuyện cũng được quan tâm.Bởi cùng một câu chuyện, nếu được kể bởi những hình tượng người kể chuyện khác nhau thì có thể hiệu quả nghệ thuật mang lại sẽ khác nhau Cách thức trần thuật của người kể không chỉ đơn thuần là cách kể chuyện sao cho câu chuyện trở nên đậm đà, ý vị, mà đó còn
là cách thức để nhà văn lý giải sự vật hiện tượng một cách sâu sắc, hiệu quả
và thuyết phục Diện mạo và phong cách trần thuật của người kể chuyện được tạo nên từ sự kết hợp của các yếu tố như ngôi kể, điểm nhìn nghệ thuật, ngôn ngữ kể chuyện và giọng điệu trần thuật.Vì vậy, khi khảo sát một hình tượng người kể chuyện, chúng ta phải đi vào phân tích từng yếu tố này để rút ra một cách nhìn nhận xác đáng và trọn vẹn về hình tượng
Đối với tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, sự đặc sắc của mỗi loại hình tượng người kể chuyện đều gắn với những đặc trưng nhất định trong nghệ thuật sử dụng các phương tiện trần thuật như: ngôn ngữ, giọng điệu kể chuyện, sự luân phiên thay đổi ngôi kể và các điểm nhìn trần thuật Cái hay của Nguyễn Việt
Hà là ở chỗ, anh đã thể hiện được tài năng biến hóa linh hoạt trong việc vận dụng kết hợp các yếu tố tự sự để kiến tạo nên nhiều dạng người kể chuyện khác nhau, qua đó xây dựng nên những cấu tứ tự sự độc đáo, mang tính biểu hiện cao Tuy nhiên, tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà cũng chỉ được các nhà phê bình, nghiên cứu theo hướng gợi mở chứ chưa có công trình đi sâu vào khảo sát đặc điểm cũng như nghệ thuật trần thuật của tác phẩm Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi sẽ vận dụng một số kiến thức về lý luận văn học (đặc biệt
Trang 8là tự sự học) và những hiểu biết về văn học thời kỳ đổi mới để sắp xếp, hệ thống các vấn đề có liên quan đến người kể chuyện trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà Hy vọng rằng, luận văn có thể đóng góp một phần nhỏ vào trong quá trình nghiên cứu chung về Nguyễn Việt Hà và cũng để thấy được những đóng góp của anh đối với nền văn học dân tộc trong quá trình đổi mới
2 Lịch sử vấn đề
Mặc dù được biết đến là cây bút trẻ trong thời kỳ đổi mới nhưng Nguyễn Việt Hà đã nhanh chóng gây được dấu ấn mạnh mẽ trong lòng bạn đọc và làm bận tâm các nhà nghiên cứu, lí luận phê bình Cho đến thời điểm
hiện tại tên tuổi Nguyễn Việt Hà cùng các cuốn tiểu thuyết Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn đã không còn xa lạ với độc giả Việt Nam
Hiện đã có một số bài phân tích, đánh giá về Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn trên cả hai bình diện: nội dung và nghệ thuật Tiêu biểu trong số
đó là các bài viết của Hoàng Ngọc Hiến, Đoàn Cầm Thi, Trần Văn Toàn, Nguyễn Chí Hoan Dưới đây, chúng tôi xin được tóm lược một vài nét về những đánh giá ấy:
Hoàng Ngọc Hiến trong bài Đọc Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt
Hàđã cắt nghĩa tác phẩm trên ba tiêu điểm: Những khái quát xanh rờn, những
mẫu người lập thân lập nghiệp lý thú và chủ đề văn hóa tôn giáo trong Cơ hội của Chúa Ở tiêu điểm nào, Hoàng Ngọc Hiến cũng có những phân tích tỉ mỉ,
khách quan Theo ông, những khái quát “xanh rờn” trong tác phẩm đã cho
thấy Nguyễn Việt Hà “khá am hiểu, có sự cảm nhận tinh tế, có cả sự vô tư của một triết gia tiểu thuyết, vô tư theo cách hiểu rất bác học và cũng rất bình dân của người Hà Nội” Hoàng Ngọc Hiến đã đánh giá cao những đóng góp
của tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà đối với sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam
đương đại trên một số phương diện cơ bản như: Cơ hội của Chúa "thừa thãi
Trang 9những câu hóm hỉnh, đùa giễu, về phương diện này có thể xem tác phẩm của
Nguyễn Việt Hà là một cái mốc" [29,tr 18] "Cơ hội của Chúa kết thúc bằng
mấy trang tiểu luận, mở ra những vấn đề rất sớm của nền văn minh nhân loại" [29,tr 35]
Cơ hội của Chúa cũng đã tạo nên một sự "ngỡ ngàng" đối với Tiến sĩ văn học Đoàn Cầm Thi và điều đó được thể hiện qua bài viết: Cơ hội của Chúa - Từ nhật ký đến hậu trường văn học Đoàn Cầm Thi đã không ngần ngại bộc lộ cảm xúc của mình khi đọc tác phẩm: "Xuất hiện đã năm năm, Cơ hội của Chúa vẫn khiến tôi ngỡ ngàng bởi sự bề bộn của nó Không chỉ ở độ
dày gần năm trăm trang, dù đó là một sự hiếm, khi truyện Việt Nam ngày càng mòn, đa phần nhà văn Việt Nam ngày càng như hụt hơi Không chỉ ở sự phong phú của các chủ đề - tình yêu, tình bạn, tình anh em; các lĩnh vực - tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hoá; các tầng lớp xã hội - thị dân, công chức, lãnh đạo, trí thức, buôn lậu Không chỉ ở chất ngổn ngang của dĩ vãng, hiện tại tương lai Không chỉ ở sự chồng chéo của những Hà Nội, Hải Phòng, Đồ Sơn, Sài Gòn, Huế, Beclin, Dresden, Ba Lan, Tiệp"[67] Bên cạnh việc đánh
giá về nội dung thì bài viết của Đoàn Cầm Thi cũng rất chú ý đến nghệ thuật
của cuốn tiểu thuyết Theo chị, đây là “tiểu thuyết của những cái tôi” Nguyễn
Việt Hà đã rất tài tình khi gạt người kể chuyện sang một bên và để các nhân vật tự bộc lộ “cái tôi” của mình Đồng thời dưới nhiều điểm nhìn khác nhau, Nguyễn Việt Hà đã để các sự vật, các nhân vật được nhìn nhận ở nhiều góc độ
khác nhau khiến cho thế giới trong Cơ hội của Chúa hiện ra “không thuần
nhất mà muôn hình vạn trạng, không khéo mà mở, không xác thực mà đầy bí hiểm, bất ổn, hoài nghi”.Đoàn Cầm Thi đã có những nhận xét khá sắc sảo và
khách quan đối với cuốn tiểu thuyết này
Trang 10Trần Văn Toàn trong cuốn Tự sự học có bài Tự sự trong Cơ hội của Chúa cách tân và giới hạn nhận ra rằng: "Mặc dù ở phương Tây, từ những
năm đầu của thế kỷ XX người ta đã chứng kiến sự biến mất của tính cách, thì với Nguyễn Việt Hà, phạm trù nghệ thuật này vẫn là công cụ chủ yếu để anh xây dựng bức tranh đời sống" [60, tr 422] Tác giả bài viết đã đưa ra những
dẫn chứng cụ thể để minh chứng cho điều này cùng với những thành công cũng như giới hạn mà Nguyễn Việt Hà chưa làm được Cụ thể đó là về cách xây dựng nhân vật, xen kẽ các chuyện ngoại đề, điểm nhìn và giọng điệu trần
thuật Qua đó, Trần Văn Toàn đi đến khẳng định: "Cuốn tiểu thuyết này đã làm được một việc không dễ dàng: nó khiến người ta phải dừng lại suy ngẫm
về những gì đã đạt được, những gì cần vượt qua của tiểu thuyết Việt Nam trong tương lai" [60, tr 428]
Bên cạnh những ý kiến đánh giá về những thành công của tác phẩm cũng có một số ý kiến cho rằng tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà còn gặp phải một
số hạn chế nhất định Nguyễn Hòa trong bài viết Cơ hội của Chúa: Chúa cũng không giúp được gì!đã nhận xét: “Con người và sự việc trong Cơ hội của Chúa không có gì mới Vẫn là những xung đột gia đình, những cuộc tình
tay ba, những chuyện mánh mung, những trò lừa tình, lừa tiền với kẻ thất tình, người thất thế… không diễn ra trong một sàn nhảy, nhà hàng thì cũng diễn ra trong một văn phòng, một biệt thự sang trọng vốn đầy rẫy trong các
phim “mì ăn liền” của Hồng Kông và nội địa” [32].Hay trong bài viết Cơ hội của Chúa: Gánh nặng của những cái tôi phù phiếm, Nguyễn Thanh Sơn cũng
tỏ ra khó chịu với cách sử dụng ngôn ngữ trong Cơ hội của Chúa: “nhân vật
pha trộn tiếng mẹ đẻ với tiếng Anh không cần thiết và sai chính tả, văn phạm một cách cẩu thả” Và theo lời Nguyễn Thanh Sơn thì Nguyễn Việt Hà chỉ
“viết cho sướng ngòi bút, cho thỏa mãn ego của mình, Nguyễn Việt Hà không
Trang 11thể kết thúc được câu chuyện không hiểu tác giả sẽ đi về đâu trong cái mớ bòng bong những câu chuyện vụn vặt này” [58]
Sáu năm sau khi những tranh luận xung quanh cuốn tiểu thuyết đầu tay tạm lắng xuống thì Nguyễn Việt Hà cho ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ hai với
nhan đề Khải huyền muộn Cuốn tiểu thuyết này được người đọc đón nhận
bình tĩnh hơn và cũng nhận được nhiều lời nhận xét, đánh giá của độc giả và giới phê bình
Bàn về Khải huyền muộn, nhà văn Trung Trung Đỉnh đã nói về những
cách tân của Nguyễn Việt Hà trong việc tạo ra một cấu trúc tác phẩm tự mình bứt ra khỏi lối mòn của cấu trúc tiểu thuyết và cách kể chuyện truyền thống
Theo ông, "Nguyễn Việt Hà không hề né tránh phô diễn cái "tôi" thuần tuý trong lối nghĩ và lối viết" Ngay cả cách thể hiện mình bằng một lối kết thúc
mở khác với lối kết thúc của các tiểu thuyết gia truyền thống cũng được Trung Trung Đỉnh khái quát một cách ngắn gọn, rằng Nguyễn Việt Hà đã xây
dựng nên "những câu chuyện không đầu, không cuối nhưng thi vị trong cuộc sống đương đại" [26]
Khi so sánh Khải huyền muộn với cuốn tiểu thuyết đầu tay, nhà văn Tạ
Duy Anh đã dành những lời khen ngợi: “Tôi phải nói ngay rằng văn trong
Khải huyền muộn hơn đứt Cơ hội của Chúa Nhiều trang văn rất đẹp, có
chiều sâu, có sức lan toả và nó cũng cho thấy tác giả là người nghiêm túc, có bản lĩnh, có trách nhiệm nghề nghiệp" [26]
Họa sĩ Lê Thiết Cương cũng đưa ra những bình luận về kết cấu của
cuốn tiểu thuyết: “Giá như Khải huyền muộn có kết cấu bớt mạch lạc đi nữa
Thừa thiếu chấm phẩy, câu chữ xô bồ chút nữa, không giống chút nữa cũng chẳng sao, mỗi người viết cần có chính tả của mình".Trái lại, nhà nghiên cứu
Trang 12Nguyễn Mạnh Hùng lại tỏ ra rất hào hứng với lối viết của Nguyễn Việt Hà
Anh nhấn mạnh: “Khải huyền muộn là những sải bơi tiếp theo của Cơ hội của Chúa trên dòng sông tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà Chọn lựa thứ cấu trúc
đa ngôi thứ như thể khối vuông ru-bích, Nguyễn Việt Hà tạo cho mình ưu thế thoải mái để quan sát và kể chuyện, thỏa cơn khát tìm tòi và đồng cảm với các nhân vật trong cuộc sống Không có số phận đi tới cùng cũng như không
có những câu chuyện đi đến hồi kết thúc, tác giả đang khám phá, mô tả cuộc sống đang diễn ra và điều thú vị, cũng là đóng gópriêng của Nguyễn Việt Hà, chính là vẽ nên những tâm trạng người đương thời”
Đặc biệt năm 2005, bài viết với nhan đề Khải huyền muộn – cuốn tiểu
thuyết viết về chính nó của nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Chí Hoan đã
giúp người đọc dễ dàng nhận ra cấu trúc của cuốn tiểu thuyết Theo nhà phê
bình, cuốn tiểu thuyết này được cấu tạo bằng một loạt những chi tiết dở dang, kết nối vào nhau hết sức chặt chẽ để bày tỏ sự dở dang của chính nó.Nguyễn
Chí Hoan rất chú ý đến việc tác giả để cho các nhân vật và kí ức hiện lên ngang bằng nhau.Trong câu chuyện này có một câu chuyện khác, trong nhân vật này có một nhân vật khác và mỗi người đều là chứng nhân cho sự tha hóa của chính mình, đồng thời còn là chứng nhân cho sự tha hóa của người khác
và cuộc sống xung quanh.\
Bên cạnh những bài viết mang tính chất phê bình, luận bàn về tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà thì cũng có khá nhiều niên luận, khóa luận, luận văn nghiên cứu về tiểu thuyết của anh Qua đó, có thể nhận thấy sự quan tâm, yêu thích của giới trẻ đến những cuốn tiểu thuyết này, dù có rất nhiều ý kiến cho rằng đây là những cuốn tiểu thuyết không dễ đọc
Trước tiên phải nhắc đến báo cáo khoa học năm 2003 của hai sinh viên
Đỗ Thị Bích Liên và Vũ Thị Hồng Minh với đề tài: Ngôn ngữ trong tiểu
Trang 13thuyết Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà Báo cáo đã đi sâu khảo sát và
phân tích một cách khá sắc sảo cách thức sử dụng từ vựng, ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà Sự độc đáo trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà được khẳng định qua hệ thống ngôn ngữ với lớp từ vay mượn phong phú cả tiếng Anh, tiếng Pháp và sự suồng sã của lớp từ Hán Việt Cùng với đó là sự xuất hiện của các thuật ngữ tôn giáo, hệ thống từ láy, các từ ngữ lạ hóa Hai sinh viên cũng có những phát hiện khá chính xác về ngôn ngữ của người kể
chuyện và ngôn ngữ của nhân vật trong cuốn tiểu thuyết
Năm 2004, tiếp tục xuất hiện công trình nghiên cứu về tiểu thuyết
Nguyễn Việt Hà của sinh viên Hà Thu Nga với đề tài Bước đầu tìm hiểu một
số phương diện đổi mới của tiểu thuyết Cơ hội của Chúa Với đề tài nghiên
cứu này, sinh viên Hà Thu Nga đã chỉ ra cho người đọc thấy những phương diện đổi mới của tiểu thuyết này trên góc độ thi pháp của thể loại như: đề tài, chủ đề, cốt truyện, kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo cáo khoa học, tác giả đã bao quát được tất cả các phương diện của tiểu thuyết là một điều đáng mừng.Song bài viết vẫn còn bộc lộ một vài yếu điểm, hạn chế, ở một vài nội dung tác giả
có những nhận định, đánh giá còn sơ sài, chưa đủ sức thuyết phục
Năm 2007, những trang viết của tác giả cuốn luận văn Thạc sĩ Những
thể nghiệm của tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà qua hai cuốn Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn - Nguyễn Thị Anh Đào đã chỉ ra một cách khái quát về
những thể nghiệm thành công cũng như chưa thành công của hai cuốn tiểu thuyết này Tác phẩm được khai thác cụ thể trên các phương diện như cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, di chuyển điểm nhìn trần thuật và khẳng định sáng tác của Nguyễn Việt Hà cho thấy rõ hơn
về bản chất không ngừng vận động của văn học"
Trang 14Năm 2009, sinh viên Nguyễn Thị Hoa trong khóa luận tốt nghiệp Tiểu
thuyết Nguyễn Việt Hà – từ Cơ hội của Chúa đến Khải huyền muộn đã giúp
người đọc có cái nhìn xuyên suốt về sự trưởng thành trong quá trình sáng tác tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà trên các phương diện nhân vật và nghệ thuật trần thật của tác phẩm
Năm 2012, trong luận văn Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Việt
Hà, tác giả Lê Thị Loan đã có sự nghiên cứu, đánh giá một cách khá chi tiết
về nghệ thuật biểu hiện trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà Đặc biệt là nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Việt Hà.Nhân vật trong tiểu thuyết của anh đã không còn có sự phân tuyến, không có nhân vật nào là trung tâm, chuyển tải ý nghĩa của toàn tác phẩm.Đó là một trong những điều mới lạ và độc đáo trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà mà tác giả luận văn đã đi sâu tìm hiểu và chỉ ra sự khác biệt so với các nhà văn đương đại
Trên đây là những đánh giá khá phong phú và đa dạng về hai cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà ra đời trong bối cảnh đất nước có nhiều biến động cũng như sự chuyển đổi của tiểu thuyết Việt Nam trong giai đoạn mới.Một số bài nghiên cứu đã ít nhiều chỉ ra những nét mới trong cả nội dung lẫn nghệ thuật của Nguyễn Việt Hà.Tuy nhiên, những bài viết này mới chỉ dừng lại ở từng khía cạnh mà chưa có sự nghiên cứu toàn diện, sâu sắc trên tất cả mọi vấn đề Nhưng rõ ràng việc chỉ ra những thành quả nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà của các tác giả đi trước là rất có ý nghĩa Nó giúp chúng tôi
có cơ sở phát triển sâu hơn, hệ thống hơn những nghiên cứu về tiểu thuyết của
nhà văn Do đó, vấn đề Người kể chuyện trong tiểu thuyếtNguyễn Việt Hàqua
Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn vẫn là vấn đề mà chúng tôi quan tâm,
tiếp tục đi vào tìm hiểu, khám phá
Trang 153 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Người kể chuyện trong tiểu
thuyết Nguyễn Việt Hà qua Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn”
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát 2 tiểu thuyết của
Nguyễn Việt Hà: Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn
Với việc nghiên cứu đề tài Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn
Việt Hàqua Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, chúng tôi muốn đem đến
cho người đọc cái nhìn có tính khái quát, khoa học và khách quan về hình tượng người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà Đồng thời qua đó góp phần khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo độc đáo cũng như đóng góp của anh trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp lịch sử - xã hội
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp hệ thống
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khái lược về người kể chuyện và sáng tác của Nguyễn Việt Hà Chương 2: Người kể chuyện và ngôi kể, điểm nhìn
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật
Trang 16Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN VIỆT HÀ 1.1 Tự sự học và người kể chuyện
1.1.1 Lý thuyết tự sự học
Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng là nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hay nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc
Tên gọi Tự sự học - Narratology, Narratologie, vốn do nhà nghiên cứu Pháp gốc Bungari T.Todorov đề xuất năm 1969, trong cuốn sách Ngữ pháp
Câu chuyện mười ngày Tác phẩm đã làm cho ngành nghiên cứu tự sự trước
nay có được một cái tên chính thức và trở thành một khoa nghiên cứu có tính độc lập vì nội hàm văn hóa của nó.Hiện nay, tự sự học đã trở thành một bộ môn nghiên cứu liên ngành, có tính quốc tế và có vị trí ngày càng quan trọng trong khoa văn học và các khoa học nhân văn.Nói liên ngành vì nghiên cứu tự
sự học phải liên kết với ngôn ngữ học, sử học, nhân loại học Tự sự học không đóng khung trong tiểuthuyết mà vận dụng cả vào các hình thức "tự sự" khác, như tôn giáo, lịch sử, điện ảnh, khoa học, triết học, chính trị Nó là một ngành văn hóa, bởi vì các hình thức tự sự khác nhau có thể có chung với nhau những nguyên tắc siêu tự sự
Ngày nay, tự sự không còn giản đơn là việc kể chuyện, mà là một phương pháp không thể thiếu để giải thích, lí giải quá khứ, có nguyên lí riêng
Roland Barthes nói: "Đã có bản thân lịch sử loài người, thì đã có tự sự" J.H.Miller (1993), nhà giải cấu trúc Mĩ có nói : "Tự sự là cách để ta đưa các
Trang 17sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng có được ý nghĩa Tự sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố" Jonathan Culler (1998) cũng nói: "Tự sự
là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật" Muốn hiểu một sự vật
nào thì người ta kể câu chuyện về sự vật đó.Bản chất của tự sự ngày nay được hiểu là một sự truyền đạt thông tin, là quá trình phát tin đơn phương trong quá trình giao tiếp.Văn bản tự sự là cụm thông tin được phát ra, và tự sự có thể thực hiện bằng nhiều phương thức, con đường Trong văn học, tự sự có trong thơ, thơ trữ tình, trong kịch, chứ không chỉ là trong truyện ngắn, tiểu thuyết, ngụ ngôn như một phương thức tạo nghĩa và truyền thông tin Tự sự nằm trong bản chất của con người, bởi con người là một động vật biết tự sự.Và trong các hình thức tự sự, chỉ có tự sự văn học là phức tạp nhất, đáng để nghiên cứu nhất, làm thành đối tượng chủ yếu của tự sự học
Vấn đề lí thuyết tự sự ngày càng được quan tâm phổ biến trên thế giới
Từ chủ nghĩa hình thức Nga, ngôn ngữ học Saussure, trường phái Praha, trường phái Tân Aristote, triết học phân tích, kí hiệu học, hậu cấu trúc chủ nghĩa không trường phái nào là không quan tâm tới vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết Lí thuyết tự sự trở thành một sản phẩm thực dụng, cụ thể của làn sóng lớn trong lí thuyết văn hóa về văn học.Mặt khác, lí thuyết tự sự ngày nay còn cung cấp một bộ công cụ cơ bản nhất, sắc bén nhất giúp chúng ta có thể
đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu điện ảnh, giao tiếp, phương tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa.Con người ngày càng nhận ra vai trò của lý thuyết
tự sự, bởi thiếu kiến thức cơ bản về nó thì các phán đoán trong các ngành nghiên cứu trên rất dễ phạm những sai lầm sơ đẳng Chẳng hạn như, rất phổ biến là nhầm lẫn về tác giả và người trần thuật hay nhân vật người kể chuyện xưng “tôi”, nhân vật hành động, nói năng Do vậy, đã nảy sinh những nhận định về chủ nghĩa tự nhiên, về sự tàn nhẫn, thiếu cái tâm ở các nhà văn khi họ
sử dụng một cách trần thuật nào đó Ngày nay, lí thuyết tự sự có thể coi như
Trang 18một bộ phận không thể thiếu của hành trang nghiên cứu văn học Nói theo ngôn ngữ của Thomas Kuhn, thì đó là một bộ phận cấu thành của hệ hình (paradigme) lí luận hiện đại
Dựa trên kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về tự sự học
thì tự sự học hiện đại đến nay được chia làm ba giai đoạn:“Tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa”[60, tr 13]
Tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc một số người đi tiên phong đó là: B.Tomasepxki, năm 1925, đã nghiên cứu các yếu tố và đơn vị của tự sự V.Shklovski chia truyện thành hai lớp: chất liệu và hình thức V.Propp nghiên cứu cấu trúc và chức năng tự sự trong truyện cổ tích.Từ những năm 20 của thế
kỉ trước, Bakhtin đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, ngôn từ trần thuật và tính đối thoại của nó.Có thể nói B.Tomasepxki, V.Propp, Bakhtin là những nhà khoa học đã đặt nền móng cho sự phát triển của tự sự học hiện đại Ở phương Tây, với sáng tác của Flaubert ở thế kỉ XIX, cũng như sáng tác của Henry James (Mĩ) và M.Proust (Pháp) ở đầu thế kỉ XX, người ta
đã biết rằng trong tiểu thuyết sự kiện không phải là cái quan trọng nhất, mà quan trọng nhất là ý thức, là phản ánh tâm lí của nhân vật đối với sự kiện, từ
đó người ta quan tâm tới "trung tâm ý thức", chi tiết trong tiểu thuyết phải lọc qua trung tâm ý thức của nhân vật mới bộc lộ ý nghĩa Từ đó, các vấn đề điểm nhìn, dòng ý thức được đặc biệt quan tâm với Percy Lubbock (1921), K.Friedemann (1910).Về sau các vấn đề này còn được phát triển bởi một loạt tác giả Âu, Mĩ khác như J.Pouillon, A.Tate, Cl.Brooks, T.Todorov, G.Gennette.Những tìm tòi này gắn với ý thức về kĩ thuật của tiểu thuyết
Giai đoạn thứ hai của lí thuyết tự sự là chủ nghĩa cấu trúc, mở đầu với
công trình Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự của R.Barthes năm 1968 và
Trang 19"S/Z" năm 1970 Tiếp theo là Nghiên cứu cấu trúc thần thoại của Claude Levi-Strauss và mô hình hành vi ngôn ngữ của Roman Jakobson Đặc điểm
của lí thuyết tự sự chủ nghĩa cấu trúc là lấy ngôn ngữhọc làm hình mẫu, xem
tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là sự mở rộng của ẩn dụ.Todorov xem nhân vật như danh từ, tình tiết là động từ, trong chủ nghĩa hiện thực thì tình tiết thuộc thức chủ động, còn trong thần thoại lại thuộc thức
bị động A.J.Greimas vận dụng sự đối lập trục liên kết và trục lựa chọn để nghiên cứu cấu trúc tự sự G.Genette tuyên bố mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu - chủ yếu là vị ngữ động từ và ông sử dụng tràn lan các thuật ngữ ngôn ngữ học R.Barthes cũng tán thành quan điểm đó.Còn mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự nhằm tìm một cách đọc tự sự mà không cần đối chiếu giản đơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan Mặc dù không phủ nhận được mối quan hệ văn học với đời sống, nhưng các nhà nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ bản chất biểu đạt và giao tiếp của tự sự Song, sự lạm dụng mô hình ngôn ngữ học đã làm cho tự sự học gặp khó khăn, và chính Todorov cũng vấp phải thất bại, bởi ông chỉ quan tâm ngữ pháp tự sự hơn là văn bản tự sự
Giai đoạn thứ ba của tự sự học là gắn liền với kí hiệu học Kí hiệu học quan tâm đến các phương thức biểu đạt khác nhau nhưng lấy văn bản làm cơ
sở Do đó, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa xem hình thức tự sự như là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm Đặc điểm lý thuyết của tự sự học cấu trúc chủ nghĩa là: Đi sâu nghiên cứu và coi trọng việc phân tích hình thức nhưng không tán thành việc sao phỏng giản đơn các mô hình ngôn ngữ học mà đi theo kí hiệu học và siêu kí hiệu học Pierre Macherey, nhà mácxít Pháp cho rằng bất cứ sự đồng nhất nào giữa phê bình văn học với ngôn ngữ học đều sẽ thất bại, bởi nó bỏ qua vai trò tác động của hình thái ý thức, còn Iu.Lotman cho rằng thông tin ngôn ngữ là thông tin phi văn bản, mà điểm xuất phát của
Trang 20văn bản lại chính là chỗ bất cập của ngôn ngữ khiến nó trở thành văn bản Nếu văn bản trở về với ý nghĩa của ngôn ngữ học thì có nghĩa là sự sụp đổ của văn hóa.Như thế lí thuyết tự sự phải gắn với chức năng nhận thức và giao tiếp
Theo sự tổng kết của nhà lý luận tự sự người Mĩ Gerald Prince đã chia
tự sự làm ba nhóm tương đương ba loại hình Nhóm thứ nhất gồm những nhà
tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như V Propp, Greimas, Todorov, Barthes chú ý tới cấu trúc của câu chuyện được kể, đi tìm mẫu cổ của tự sự, chức năng của biến cố và qui luật tổ hợp, lôgic phát triển và loại hình cốt truyện.Khi cực đoan nhất họ cho rằng tác phẩm tự sự không bị chi phối bởi chất liệu Một câu chuyện có thể kể bằng văn học, điện ảnh, ba lê, hội họa đều được, do đó bỏ qua hoặc không đi sâu vào đặc trưng biểu đạt của chất liệu Nhóm thứ hai lấy G.Genette làm tiêu biểu đã xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt, cho nên vai trò của người trần thuật được coi là quan trọng nhất Họ chú ý lớp ngôn từ của người trần thuật với các yếu tố cơ bản như điểm nhìn, giọng điệu Đây là nhóm đông nhất thu hút nhiều nhà nghiên cứu như Dolezel, Micke Bal Nhóm thứ ba đại diện là Gerald Prince và Seymour Chatman, họ coi trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể, hay dung hợp J.Culler cũng thuộc phái này, ông coi trọng cả cấu trúc sự kiện lẫn cấu trúc lời văn
Như vậy, có thể thấy lí thuyết tự sự học đã trải qua một quá trình hình thành, phát triển từ rất sớm, qua nhiều giai đoạn khác nhau Với nội dung là nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan, tự sự học đã dần khẳng định được vai trò quan trọng của mình là một ngành khoa học nghiên cứu về văn học
Trang 21Tự sự học từ khi được giới thiệu vào Việt Nam đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi, quan tâm của các nhà nghiên cứu.Trước hết phải kể đến công
trình nghiên cứu đầu tiên tập hợp các bài viết về tự sự học ở Việt Nam là Tự
sự học – những vấn đề lí luận và lịch sử (2 phần) của tác giả Trần Đình Sử chủ biên Một công trình khác nữa của Giáo sư Trần Đình Sử: Tự sự học – một bộ môn nghiên cứu liên ngành giữa tiềm năng và bài viết Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển, bài viết của Giáo sư Đặng Anh Đào.Bàn
về một vài thuật ngữ trong kể chuyện, bài viết của Phương Lựu.Bút ký về tự
sự học, bài viết của tác giả Lê Thời Tân.Tự sự học: tên gọi, lược sử và một số vấn đề lý thuyết, bài viết của Nguyễn Thái Hòa Điểm nhìn trong lời nói gián tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện, bài viết cuả Phan Thu Hiền.Về lý thuyết tự sự của Northrop Frye, bài viết của Nguyễn Đức Dân
Những công trình nghiên cứu, những bài viết trên đã góp phần giới thiệu lý thuyết tự sự học ở nhiều phương diện.Qua đó giúp chúng ta nhận diện được tình hình nghiên cứu tự sự học trên thế giới so với Việt Nam, giúp chúng ta tiếp cận tự sự học trong những hướng phát triển mới nhất và có triển vọng nhất Đối tượng của tự sự học ngày nay không chỉ còn là ngữ pháp tự sự nói chung mà còn là thi pháp tự sự, phong cách học tự sự của các tác phẩm cụ thể, ngôn ngữ tự sự của các thể loại tự sự, các loại hình tự sự, mô hình tự sự của các giai đoạn phát triển văn học, sự tiếp nhận tự sự và cách tác động đến người đọc của tự sự Tìm hiểu rõ nội hàm, nguồn gốc và diễn biến của các khái niệm tự sự học, vận dụng linh hoạt và sáng tạo vào phân tích các tài liệu
cụ thể, chúng ta sẽ hiểu thêm về bản chất, phương thức, lịch sử và các bí ẩn của nghệ thuật tự sự, một phương tiện hùng mạnh để biểu đạt và lí giải thế giới, góp phần hữu ích vào việc phê bình và giảng dạy văn học
Trang 221.1.2 Người kể chuyện
Khi nhắc đến nghệ thuật tự sự người ta thường nhắc đến nhiều khái niệm trong đó có khái niệm người kể chuyện.Người kể chuyện là một trong những khái niệm trung tâm của tự sự học Khái niệm người kể chuyện xuất hiện từ năm 1940 nhưng phải đến thế kỉ XX lý luận về nó mới thực sự phát triển và được các nhà nghiên cứu quan tâm Mặc dù vậy nhưng đến nay khái niệm về người kể chuyện vẫn chưa được các nhà nghiên cứu thống nhất.Có người gọi là người kể chuyện nhưng có người lại gọi là người trần thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì người kể chuyện là “Hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả (ví dụ: nhân vật “tôi” trong Đôi mắt của Nam Cao),
dĩ nhiên không nên đồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra (ví dụ: nhân vật người điên trong Nhật kí người điên của Lỗ Tấn), có thể là một người biết một câu chuyện nào
đó, một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lý, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú và nhiều phối cảnh” [28,tr 221]
Cùng quan niệm trên, giáo sư Lê Ngọc Trà viết: “Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò là chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học” [70, tr.89]
Trong giáo trình Lý luận văn học: “Người kể chuyện (Người trần thuật)
là yếu tố thuộc thế giới miêu tả Đó là một người do nhà văn tạo ra để thay thế mình thực hiện hành vi trần thuật Người kể chuyện trong văn bản ẩn
Trang 23mình trong dòng chữ.Người kể chuyện ấy có thể được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai.Và chỉ có thể kể được khi nào họ cảm thấy như người trong cuộc, người chứng kiến hay người biết trước sự việc xảy ra bằng tất cả giác quan, sự hiểu biết của mình Do đó, về căn bản, mọi người kể chuyện đều theo ngôi thứ nhất Cái được gọi là kể theo ngôi thứ ba thực chất
là hình thức kể khi người kể chưa được ý thức hoặc đã được ý thức nhưng cố
Nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập thì cho rằng, người kể chuyện có vai trò như một “kẻ mang thông điệp”, chuyển tải những thông điệp từ người phát
ngôn đến người nhận: “Các thông điệp của một văn bản bao giờ cũng được chuyển đi, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhờ một hay một vài phát ngôn viên (speaker, hoặc narrator), mà tôi gọi là kẻ mang thông điệp: một người sĩ quan ra mệnh lệnh, người kể chuyện trong tiểu thuyết, hay các đối tác ký vào
Trang 24hợp đồng hợp tác kinh doanh Những kẻ mang thông điệp có thể có thật hoặc hư cấu” [45, tr 180]
Nhà lý luận Lại Nguyên Ân cũng đưa ra một nhận định khá sâu sắc về
người kể chuyện trong trần thuật tự sự: “Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những
gì đã xảy ra” [2, tr 360] Trong định nghĩa này, tác giả một lần nữa khẳng
định vai trò cầu nối và dẫn dắt câu chuyện của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, đồng thời nhấn mạnh vai trò chứng kiến và giải thích của hình tượng này Đây là những dấu hiệu cơ bản nhất để nhận diện người kể chuyện trong các sáng tác tự sự từ xưa đến nay
Như vậy, căn cứ vào cách hiểu của các nhà nghiên cứu có thể thống nhất về cách hiểu người kể chuyện như sau: người kể chuyện hay còn gọi là người trần thuật là một nhân vật được hư cấu hoặc có thật; trong phạm vi tác phẩm, người kể chuyện là chủ thể của lời kể, đứng ra kể chuyện và là nhân tố trung tâm chi phối việc tổ chức, kết cấu cấu trúc văn bản tự sự; người kể chuyện giữ vai trò trung giới giữa tác giả, tác phẩm và người đọc
Tác phẩm tự sự nào cũng có hình tượng người kể chuyện của nó Nếu không có người kể chuyện thì hiện thực sáng tạo không được tái diễn Trong tác phẩm tự sự thì người kể chuyện là một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm.Vừa mang tính chất của một nhân vật, lại vừa mang tính chất của người
kể chuyện Do đó, không phải lúc nào người đọc cũng được thông báo về số phận riêng tư, diện mạo hoặc mối quan hệ qua lại của người kể chuyện với các nhân vật, hoặc vì đâu, trong tình huống nào mà tiến hành kể chuyện Mà nhiều khi, người kể chuyện tỏ ra khách quan không để lộ mối thiện cảm, ác cảm hay thái độ suy nghĩ của mình.Nhưng bao giờ người đọc cũng thấy câu chuyện được triển khai thông qua cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của người
Trang 25kể chuyện.Và tất cả các chi tiết, các nhân vật, các hành động đều được kể lại
có sự chi phối của người kể
Người kể chuyện không phải là một phương diện thuần túy thuộc về hình thức văn học mà là hiện thân của một hình tượng đặc biệt, gắn liền với tư tưởng, thái độ của tác giả về hiện thực, về thế giới và con người Tuy nhiên, tác giả và hình tượng người kể chuyện là hai thực thể độc lập Một bên là chủ thể sáng tạo, một bên là hình tượng nghệ thuật Người kể chuyện mang trong mình nó cả nhân vật và người kể
Người kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm của
tác giả trong tác phẩm: “Trong tác phẩm tự sự, vấn đề người kể chuyện có ý nghĩa hết sức quan trọng Nhờ hình thức tường thuật, tác giả có thể trực tiếp phát biểu những cảm nghĩ, nhận xét của mình về nhân vật, về sự kiện được
mô tả và về cuộc đời chung” [69, tr 154] Người kể chuyện trong tác phẩm
văn học, đôi khi lại chính là hiện thân của tác giả, nhưng không hoàn toàn đồng nhất Qua người kể chuyện ta có thể thấy được tư tưởng, quan điểm của tác giả nhưng không thể đồng nhất người kể chuyện với chính bản thân tác giả
Người kể chuyện và tác giả là hai thuật ngữ được phân biệt bởi những
yếu tố riêng biệt nhưng lại quy định lẫn nhau: “Vùng giao thoa của hai phạm trù này tương đối lớn, vì vậy, trong thực tế đã xảy ra không ít nhầm lẫn Nhiều nhà nghiên cứu đồng nhất người kể chuyện với tác giả.Ở thế giới truyện kể, người kể chuyện xuất hiện trong cùng bậc giao tiếp với người nghe chuyện.Anh ta thực chất là những sinh thể trên giấy, tồn tại trong thế giới hư cấu và tưởng tượng Người kể chuyện là nhân vật do tác giả sáng tạo ra có nhiệm vụ tổ chức kết cấu tác phẩm và môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận văn bản Trong khi đó, tác giả là chủ thể sáng tạo Anh ta ở bên ngoài tác phẩm.Như vậy, việc đồng nhất hoặc hoàn toàn tách biệt hai yếu tố thuộc hai
Trang 26bậc giao tiếp khác nhau sẽ không thỏa đáng, hạn chế khả năng hiểu sâu các vấn đề đặt ra trong quá trình giải mã tác phẩm” [43]
Trong tác phẩm tự sự, thông qua người kể chuyện nhà văn trình bày, thể hiện một cách sáng tạo thế giới hiện thực Nhà văn cũng thể hiện ý đồ sáng tác thông qua việc lựa chọn dạng thức xuất hiện của người kể chuyện Người ta thường căn cứ vào vị trí của người kể chuyện trong tác phẩm để phân loại thành người kể chuyện ngôi thứ nhất, ngôi kể chuyện thứ ba, và có những trường hợp người kể chuyện vừa ở ngôi thứ nhất, vừa ở ngôi thứ ba Mặc dù có những quan điểm khác nhau về người kể chuyện song không thể phủ nhận vai trò quan trọng của người kể chuyện đối với mỗi tác phẩm.Với việc nắm được vai trò của người kể chuyện sẽ giúp cho việc phân tích nghệ thuật tự sự của tác phẩm một cách sâu sắc, trọn vẹn hơn
1.2 Sáng tác của Nguyễn Việt Hà
1.2.1 Hành trình sáng tác
Nguyễn Việt Hà tên thật là Trần Quốc Cường sinh ngày 12 tháng 7 năm 1962, tại Hà Nội Xuất thân là một tiểu thị dân, với tuổi thơ bụi bặm lang thang hè phố Anh vốn là nhân viên Ngân hàng Công thương Hà Nội, vì niềm đam mê với văn chương nên đã từ bỏ công việc của một công chức nhà nước.Bởi vậy mới nói, nghiệp văn chương đến với Nguyễn Việt Hà như một
“duyên nợ”
Nguyễn Việt Hà chính thức bước chân vào cánh cửa nghệ thuật năm
1993 với nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, tạp văn, tiểu thuyết, kịch…
và được đông đảo độc giả yêu thích
Sếp và tôi và… là truyện ngắn đầu tiên được nhà văn chính thức ký tên
Nguyễn Việt Hà đã giành được giải nhì truyện ngắn do Tạp chí sông Hương
tổ chức ngày 23 tháng 11 năm 1993 Truyện ngắn Sếp và tôi và… được viết
Trang 27khi Nguyễn Việt Hà đang loay hoay, thảng thốt với mối tình đầu trong trắng
có nguy cơ rạn nứt Nhà văn tâm sự: “sự rạn nứt ở đây không xuất phát từ chủ quan của hai chủ thể yêu nhau mà là lấy hệ lụy của xã hội thời mở cửa, con người vô tình đánh mất nhau trước bão táp cuộc đời, trước cơ chế thị trường
đầy nghiệt ngã” Sếp và tôi và…đã không chỉ là câu chuyện về sự cay đắng
của số phận nhà văn mà còn là câu chuyện kể về mặt trái của cơ chế thị trường nước ta những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX Hiện lên với những thủ đoạn của một nhóm người có học vấn tự làm tha hóa chính mình và cố tình làm tha hóa cả những người trong trắng ngây thơ
Tiếp tục với chủ đề tha hóa, năm 1998 Nguyễn Việt Hà cho ra mắt tập
truyện ngắn Thiền giả Tập truyện bao gồm 11 truyện ngắn xuyên suốt bốn
mảng đề tài lớn: cuộc sống đô thị,tình yêu,trí thức trẻ, tôn giáo Theo Nguyễn
Việt Hà, nhan đề của tập truyện ngắn Thiền giả được lấy từ chính nhan đề của một truyện ngắn có trong tập truyện Thiền giả khoác lên mình hai ý
nghĩa.Ý nghĩa thứ nhất, Thiền tức là thiền luận, giả tức là học giả Ở lớp
nghĩa này, tác giả muốn nhấn mạnh đến tầng lớp độc giả ưu tú của Thiền Luận, tức là những người có trí thức, bác học có khả năng đạt đến cảnh giới
cao nhất để hiểu và luận về thiền Ý nghĩa thứ hai, Thiền giả là những nhóm,
bộ phận người trí thức tha hóa có khả năng lừa lọc giả dối trắng trợn mà lại giống như không lừa lọc giả dối.Đây chính là sự tha hóa “siêu đẳng” của một
bộ phận giới trí thức.Nói như văn sĩ thì sự “giả dối của trí thức là một thứđẳng cấp, tinh hoa của mọi tinh hoa”
Cùng năm 1998, ngay sau khi Thiền giảđược đón nhận, Nguyễn Việt
Hà tiếp tục hoàn thành tập truyện ngắn Của rơi nhưng vì những lí do nhất
định mà mãi tới năm 2004 tập truyện ngắn này mới chính thức được ra mắt
bạn đọc Của rơilại một lần nữa mang đến sự hứng thú và lôi cuốn người đọc
Trang 28Tập truyện chưa đầy 300 trang xuyên suốt 19 truyện, truyện nào cũng chứa đựng ngổn ngang những suy tư, trăn trở của nhà văn về thế hệ trí thức hiện đại Vẫn với ngôn ngữ sắc lạnh, Nguyễn Việt Hà đưa đến cho người đọc cái nhìn mới về giới trí thức và thanh niên trong đời sống đô thị, loay hoay trong tình yêu, sự nghiệp, vô tình bị biến chất, tha hóa, rồi cố gắng đi tìm sự cứu rỗi
ở một thế giới siêu hình Nguyễn Việt Hà từng bộc bạch “Ở một mức độ nào
đó, người trí thức là một thứ của rơi nhặt được và sử dụng nó như thế nào lại
là một vấn đề” [26] Tập truyện còn là một minh chứng cho những nỗ lực
trong ý thức nghề nghiệp và con đường nghệ thuật của Nguyễn Việt Hà, đó là không ngừng làm phong phú nội dung và kỹ thuật kể chuyện trong tác phẩm
Đặc biệt truyện ngắn Mãi không tới núi, trích từ tập truyện ngắn Của rơi đã một lần nữa khẳng định sự thành công trong thể tài truyện ngắn của Nguyễn Việt Hà.Mãi không tới núiđược dịch ra tiếng Pháp và được đọc song
ngữ tại trung tâm văn hóa Pháp L’Espace Truyện ngắn này, đã cho thấy sự
ám ảnh dai dẳng trong nội dung tác phẩm của Nguyễn Việt Hà về cái gọi là lý tưởng của giới trí thức Họ thông tuệ, ưu tú, muốn cống hiến, đóng góp cho cuộc đời nhưng không khí đời sống Việt Nam hiện nay không tạo điều kiện tối ưu cho trí thức Việt Nam bộc lộ khả năng
Là người luôn tìm kiếm những cái mới trong lối viết, Nguyễn Việt Hà
đã tiến tới thử nghiệm trong lĩnh vực văn xuôi qua tiểu thuyết Cơ hội của Chúa.Theo lời Nguyễn Việt Hà, tác phẩm được viết trong suốt chiều dài tám
năm (3/1989 – 2/1997) và đến năm 1999 mới được Nhà xuất bản Văn học ấn
hành Theo nhiều người nhận định, con người và sự việc trong Cơ hội của Chúa không có gì mới, nhưng cuốn tiểu thuyết đầu tay này cũng đã khiến tác giả của nó phải “lao đao” vì dư luận Cơ hội của Chúa nhanh chóng bị
chuyển từ cuộc tranh cãi văn chương sang thái độ chính trị Bởi khi đó, tiểu
Trang 29thuyết Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi tư duy truyền thống thì sự xuất hiện Cơ hội của Chúakhiến dư luận chú ý là điều dễ hiểu.Cuốn tiểu thuyết này sau đó
bị đình chỉ xuất bản và lưu hành.Phải đến gần mười năm sau, khi người ta quen dần với cái mới của tư duy tiểu thuyết hiện đại và dư luận cũng đã tạm
lắng xuống, Cơ hội của Chúa mới được xuất bản trở lại.Lúc này, dư luận đón nhận Cơ hội của Chúa với sự công bằng, khách quan hơn.Và người đọc cũng
nhận thấy những đóng góp đáng kể của Nguyễn Việt Hà cho việc đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Sau những thành công với Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn là một
tác phẩm mới nối tiếp những sáng tạo của Nguyễn Việt Hà Tiểu thuyết được
in năm 2005 bởi Nhà xuất bản Hội nhà văn.Có thể nói, Khải huyền muộn rất
kén độc giả, cuốn tiểu thuyết đòi hỏi người đọc phải là những người trải nghiệm, đã từng vấp ngã, từng đớn đau.Vì vậy mà nó khó đọc hơn so với những tác phẩm giải trí thông thường Dưới những trang viết tưởng chừng chỉ đơn thuần tái hiện hiện thực đời sống với cái vỏ ngoài hào nhoáng của những con người có nhan sắc, có tiền tài, địa vị trong xã hội lại chứa đựng bên trong ngồn ngộn những điều bậy bạ, nhố nhăng Với quan niệm coi lối viết của
người cầm bút như là một chủ đề văn học, Khải huyền muộn của Nguyễn
Việt Hà dường như là sự nối dài của cảm hứng văn học viết về chính nó đã xuất hiện trong tác phẩm trước của anh nói riêng và tiểu thuyết đương đại
Việt Nam nói chung Hòa chung với xu hướng văn học đó, Khải huyền muộn
của Nguyễn Việt Hà mặc dù nhiều rắc rối, khó hiểu nhưng được người đọc
đón nhận bình tĩnh hơn và không chịu nhiều dư luận phê phán như Cơ hội của Chúa Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, nhiều bạn đọc đã nhận ra giá trị nghệ thuật của Khải huyền muộn
Trang 30Không dừng lại ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, Nguyễn Việt Hà
lần lượt cho ra mắt bạn đọc ba cuốn tạp văn Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của đànông trong năm 2007 và gần đây nhất là Đàn bà uống rượu
Nguyễn Việt Hà, nhà văn tự nhận mình là tay "tán nhảm lắm mồm",
nhưng cái sự nhảm của tác giả, từ tập Nhà văn thì chơi với ai qua Mặt của đàn ông đến Ðàn bà uống rượu, và gần đây nhất là Con giai phố cổ thì “sự
tán nhảm” chưa nhạt đi mà đậm hơn, sâu sắc nước đời hơn, giễu cợt hơn, và đọc được nhiều hơn Nhân vật nhìn chung vẫn gồm: đàn ông và đàn bà, diễn viên, văn sĩ, thương gia, thầy giáo, với không gian đô thị, với thời gian bây giờ, mỗi loại lại chứa nhiều "tập con" hành xử của đàn ông - đàn bà với mình, với người, với thiên nhiên mưa gió bốn mùa Từ đó bày ra một bềmặt đô thị nhốn nháo, ngược xuôi giá trị, nhiều nghịch lý, ê hề cái phàm tục, dấp dính cả vào trong cái cao thượng ít ỏi Tạp văn của Nguyễn Việt Hà là một món ăn pha chế nêm nếm các mùi vị đặc trưng, để đẻ ra những trang viết bảo là ê hề
“tái nạm gầu gân” như phở bò cũng được, mà bảo là kênh kiệu “cam vắt không đường” cũng xong Chúng lại có cái mùi Tây của những chai rượu mạnh uống “xếch”, những nhãn hiệu rượu mà tác giả hay dẫn vào văn của mình, và đậm đặc những tích văn cổ trong khi cũng rất dễ dàng thấy những triết lý Thiên Chúa giáo xoắn xuýt bổ trợ Để rồi từ đó, Nguyễn Việt Hà đánh võng từ vỉa hè này sang cột điện kia, khiến cho Hà Nội trong văn của ông nhộn nhịp gấp bội Nguyễn Việt Hà cứ ngắm nghía rồi xoay, dựng chuyện người, chuyện mình, với cái nhìn từ bên ngoài để mà bình luận và giễu cợt
Với tư cách là một nhà văn, Nguyễn Việt Hà vẫn luôn cống hiến và hoạt động hết mình trên những trang văn Hàng loạt những truyện ngắn khác
nhau của ông được đăng rải rác trên các tạp chí Đẹp, Tuổi trẻ, Lao động như:
Trang 31Mắt của mưa, Mưa ngày cưới, Họp lớp cũ, Vẫn chỉ là mây trắng, Cổ tích ngày mưa, Trùng trùng điệp điệp…
Gần đây nhất, năm 2014 Nguyễn Việt Hà đã cho ra mắt bạn đọc cuốn
tiểu thuyết thứ ba mang tên Ba ngôi của người Tiếp nối mạch chủ đề của Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, cuốn tiểu thuyết một lần nữa bóc ra
những lớp đan cài phức tạp của một Hà Nội dồn dập những “sóng lớp phế hưng” trong thời gian tồn tại Không chỉ dừng ở một Hà Nội những năm gần đây, cuốn tiểu thuyết còn tham vọng trải thời gian trên cùng mảnh đất, ngược lên 600 năm trước, thông qua 10 kiếp “luân sinh” của nhân vật chính Những kiếp đời này tựa như những mũi khoan thăm dò thời đại đã qua, bằng những chấm phá của lớp trầm tích khảo lên mà tác giả phác thảo một đôi nét đặc thù của thời ấy - cố nhiên là thủ pháp giả lịch sử, hư cấu quyện với những trích dẫn nằm trong mạch viết, tạo nên một không gian xa mà gần, rất đắc dụng để một nhân vật có lý lịch đi xuyên thời gian tung hoành
Có thể thấy Nguyễn Việt Hà là nhà văn viết không nhiều và viết chậm, tuy nhiên mỗi tác phẩm của anh lại mang tầm bao quát rộng, tính triết lý sâu sắc Ôngthường viết những điều không phải để người đọc thích thú mà viết nhiều về những điều buộc người khác phải suy nghĩ Những tác phẩm của ông luôn đầy ắp những ưu tư, suy nghĩ về con người và giá trị của con người trong cuộc sống hiện đại, vì thế nó rất sát với đời sống hiện nay Những vấn đề mà ông đặt ra có lẽ cũng là những trăn trở của chính chúng ta trong cuộc sống
1.2.2 Quan điểm nghệ thuật
Qua Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, Nguyễn Việt Hà đã bày
tỏ một cách thẳng thắn quan điểm nghệ thuật của mình đối với nhà văn và nghề văn thông qua các nhân vật trong tác phẩm
Trang 32Nhân vật Hoàng trong Cơ hội của Chúa chỉ viết cho chính mình, viết
những lúc buồn chán, viết như một sự giải thoát cho bản thân Còn nhà văn
Bạch trong Khải huyền muộnnói với chúng ta rằng: “sẽ viết như thế nào chứ
không phải tại sao lại phải viết Có thể tôi viết vì cô đơn Tôi viết vì những ám ảnh của một thời ngập đầy kỉ niệm hoặc chiến tranh hoặc tuổi thơ nhọc nhằn.Tôi viết vì những bức xúc với hiện thực xung quanh.Hầu như tất cả những người viết văn đều không nói mình viết chỉ vì kiếm danh hoặc kiếm lợi.Điều này hiển nhiên.Danh và lợi đến với văn chương thường rất chậm.Đại
đa số người viết đều khẳng định một luận cứ mang vẻ chủ quan, viết là một sự giải thoát”[50, tr 164].Đây cũng chính là quan niệm về việc viết văn mà
Nguyễn Việt Hà hướng đến Theo ông, cái mà một nhà văn khác những người khác là anh ta có thể viết và viết để giải tỏa tâm hồn mình, viết để giãi bày chứ không phải viết để trông mong sự nổi tiếng
Đối với Nguyễn Việt Hà, muốn hiểu một nhà văn tốt nhất nên đọc sách
họ [24, tr 28].Nghĩa là cũng giống như nhiều nhà văn khác, ông quan niệm
văn là người, tác phẩm văn học thể hiện con người của tác giả Và theo Nguyễn Việt Hà, giữa nhà văn và nhà thơ có sự khác nhau rõ rệt Điểm khác
nhau đó là sự tỉnh táo.So với cái tỉnh táo của văn xuôi, phần những người làm thơ thường điên điên hơn Họ uống cũng nhiều, say cũng nhanh nhưng đến khi tỉnh táo thì đến quá nửa số người trong bọn họ sẽ đi làm quan [24, tr
158].Như vậy, nhà văn quan tâm đến hiện thực, cần đến cảm xúc nhưng không hoàn toàn là những phút giây thăng hoa của cảm xúc như nhà thơ Mà nhà văn, muốn viết được họ phải biết quan sát và có sự chiêm nghiệm tỉnh táo
về cuộc đời Nghề văn là nghề ngồi nghĩ Nó chưa hẳn đòi hỏi sự cô đơn nhưng tuyệt nhiên không cần sự ấn chứng của đám đông (…) Nhà văn bắt buộc phải biết dừng lại quan sát chính mình Khi văn chương trở nên nhanh nhẹn hoạt bát thì nó đã đánh mất đi một yếu tính quan trọng nhất của nghề,
Trang 33sự thong thả [24, tr 41].Nghề văn có một cái lợi nho nhỏ không như nhiều nghề khác.Nó có thể dựa vào một cái gì đó để hư cấu đoán định [24, tr 198]
Nguyễn Việt Hà cũng bày tỏ quan điểm, viết văn và viết báo là hai công việc hoàn toàn khác nhau.Không phải cứ là nhà văn thì viết được
báo.Với đa phần nhà văn viết báo là khó.Nó đòi hỏi những kĩ năng những tố chất khác hẳn.Nhà văn viết báo thường là miễn cưỡng hoặc phải cố nên bịa
ra cái câu viết báo nhiều làm hại văn Làm báo thật và hay còn hơn rất nhiều những thứ văn chương làng nhàng [24, tr 144]
Bên cạnh đó, Nguyễn Việt Hà cũng có những quan điểm rất sâu sắc về công việc sáng tác văn chương của một nhà văn Đó là công việc lao động nghệ thuật hết sức nghiêm túc và hơn hết là một công việc đòi hỏi năng khiếu,
tài năng thực sự Làm nhà văn thì cũng có thể là hay nhưng là công việc không thể cố, thường người ta chỉ cố phấn đấu để trở thành lao động tiên tiến thôi Văn chương mà hay đa phần đều mơ hồ, thậm chí mông lung không ý nghĩa.Nếu quả thật muốn cố phấn đấu để tới thì cũng chẳng biết thế quái nào
mà lần [24, tr 158].Vì vậy sáng tạo văn học cũng là một sự dấn thân, dấn
thân vào văn chương, vào một thế giới mà chính nhà văn cũng không biết mọi
chuyện diễn ra như thế nào Bởi vậy mà trong Khải huyền muộn khi cô người
mẫu Cẩm My hỏi, Em tưởng nhà văn là sáng tạo nhân vật? Nhà văn trả lời:
Về lí thuyết đơn thuần thì có thể sẽ là như vậy Thế nhưng chưa có người viết văn tử tế nào dám vỗ ngực là mình sẽ sắp xếp được tương lai cho nhân vật Trước một trang viết mới người viết tử tế nào cũng biết là mình đang đứng trước một cái đầy bất trắc không đoán định được [24, tr 31,32] Như vậy, rõ
ràng viết văn là một công việc mà người viết chủ động nhưng hóa ra nó lại trở thành bị động khi đã dấn thân vào
Trang 34Cũng trong Khải huyền muộn, qua nhân vật Bạch, Nguyễn Việt Hà
còn muốn gửi đến người đọc suy nghĩ của anh về công việc viết tiểu thuyết
Đó quả là một công việc không đơn giản Viết tiểu thuyết vừa dễ vừa khó vì việc đầu tiên là có tổ chức được một cuộc sống thích hợp với nó không.Tiểu thuyết là trường thiên, nó chạy dài trong một năm hoặc nhiều năm của người viết Nó sống lẫn lộn với vợ với con với bốn bề nội ngoại Nó nằm giữa và chen ngang các mối quan hệ xã hội, đặc biệt nguy hiểm là nó không sinh lợi
Và nhiều phức tạp đến đáng sợ nhất, nó là một thứ công việc không phải là công việc [24, tr 169] Những suy nghĩ này, phải chăng xuất phát từ sự trải
nghiệm của chính Nguyễn Việt Hà với tám năm để viết Cơ hội của Chúa và
ba năm để hoàn thành cuốn tiểu thuyết thứ hai Khải huyền muộn
Như vậy, qua Cơ hội của chúavà Khải huyền muộnNguyễn Việt Hà
đã phần nào giúp người đọc hiểu rõ về quan điểm sáng tác của ông Cho thấy ông là người am hiểu sâu sắc về văn chương và là nhà văn rất có ý thức, trách
nhiệm với nghề cầm bút
Tiểu kết
Trong chương này, chúng tôi đã tìm hiểu rất kĩ và đưa ra những kiến thức khái quát nhất về lí thuyết tự sự học, khái niệm người kể chuyện nhằm giúp người đọc có cái nhìn khách quan, khoa học nhất về các vấn đề liên quan đến lí thuyết tự sự học và người kể chuyện Từ đó dễ dàng tìm hiểu, áp dụng
lí thuyết vào các tác phẩm tự sự Áp dụng lí thuyết trên đối với nhà văn Nguyễn Việt Hà, chúng tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu sáng tác của anh, đặc biệt
là hành trình và quan điểm sáng tác Nguyễn Việt Hà thật đúng là một trong những nhà văn trẻ tiêu biểu của nền văn học đổi mới
Trang 35Chương 2 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ NGÔI KỂ, ĐIỂM NHÌN
2.1 Ngôi kể của người kể chuyện
2.1.1 Giới thuyết về ngôi kể
Theo lí thuyết hội thoại thì bất cứ một cuộc hội thoại nào cũng đều có
sự xuất hiện của ngôi kể.Trong đó ngôi thứ nhất là người nói (người phát thông tin), ngôi thứ hai là người nghe (người nhận thông tin); còn ngôi thứ ba
là hiện thực được nói tới, là vật quy chiếu, không tham dự vào hoạt động giao tiếp (John Lyon, 1971; Đỗ Hữu Châu, 1993).Tuy nhiên, chỉ có ngôi thứ nhất
và ngôi thứ hai là có chức năng xưng hô – chức năng tham dự vào tình huống giao tiếp còn ngôi thứ ba không thực hiện chức năng này Ngôi thứ nhất là do người nói dùng để chỉ mình với tư cách là chủ thể của lời nói, ngôi thứ hai cũng do người nói dùng để chỉ người nghe, ngôi thứ ba thì có thể do cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai dùng để quy chiếu
Kể chuyện cũng là một trong những hoạt động của hội thoại, đó là hoạt động hội thoại giữa người kể chuyện – người đọc Ở đó, người kể chuyện có thể tự kể về mình (dưới dạng thức của ngôi kể thứ nhất: tôi, tao, chúng tôi ), hoặc kể về người khác (dưới dạng thức của ngôi kể thứ ba: anh ấy, cô ấy, họ ), cũng có khi là trường hợp hiếm gặp kể về người nghe (dưới dạng thức của ngôi kể thứ hai)
Trong sáng tác văn học, người kể chuyện được tác giả tưởng tượng, xây dựng để thay mặt tác giả kể lại câu chuyện Do đó, tư tưởng của tác phẩm có thể được truyền đạt một cách rõ ràng nhất, nhà văn có thể sử dụng người kể chuyện ở các ngôi kể khác nhau G.Genette khi bàn về vấn đề ngôi kể đã
khẳng định: Việc thay đổi ngôi thực sự là sự thay đổi quan hệ giữa người kể chuyện và câu chuyện của ta – nói cụ thể hơn, nó còn có nghĩa là sự thay đổi
Trang 36người kể chuyện [57, tr 188] Nói cách khác, việc lựa chọn ngôi kể gắn liền
với việc xác định tư cách kể của người kể chuyện đối với câu chuyện mà anh
ta trần thuật lại
Theo giáo sư Trần Đình Sử: Người trần thuật trong văn bản văn học là một hiện tượng phức tạp nhất, mà ngôi kể chỉ là hình thức ước lệ Người trần thuật vốn không có gì là ngôi kể.Sự khác biệt của ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba chỉ là khác nhau về mức độ bộc lộ và ẩn giấu của người trần thuật mà thôi.Người kể có thể lộ diện trong câu chuyện của mình khi kể ở ngôi thứ
nhất.Người kể cũng có thể ẩn mình khi lựa chọn ở ngôi kể thứ hai hoặc thứ
ba Mối quan hệ giữa người kể chuyện đối với câu chuyện của anh ta quyết định truyện sẽ được kể theo ngôi nào và giúp người đọc hình dung ra được mối quan hệ giữa người kể chuyện đối với thế giới nhân vật trong tác phẩm
Từ đó, độc giả có thể đi sâu vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật bên trong của tác phẩm
Trong một tác phẩm tự sự, chủ thể kể chuyện thường xuyên xuất hiện dưới hai dạng thức cơ bản: Chủ thể kể chuyện kiểu “khách quan hóa” với ngôi kể thứ ba (vô nhân xưng) hoặc chủ thể kể chuyện kiểu “chủ quan hóa” với ngôi kể thứ nhất (lộ diện) Việc lựa chọn ngôi kể nào còn tùy thuộc vào nội dung, dụng ý và cách thức mà tác giả muốn thể hiện trong tác phẩm của mình
Trong ba hình thức trần thuật chủ yếu của loại hình tự sự, người kể chuyện ở: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba thì hình thức kể chuyện ở ngôi thứ ba ra đời sớm hơn cả Đi sâu nghiên cứu, khảo sát chúng tôi nhận
thấy phần lớn tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, cụ thể trong Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn thường được kể ở ngôi thứ ba dưới dạng trần thuật khách
Trang 37quan hóa và ngôi thứ nhất dưới dạng trần thuật chủ quan hóa tạo nên tính đa thanh và giọng điệu trong lời văn trần thuật
2.1.2 Các loại hình ngôi kể trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
2.1.2.1 Kể chuyện theo ngôi thứ ba
Kể chuyện kiểu “khách quan hóa” với ngôi kể thứ ba, chủ thể ở ngoài cốt truyện, thực hiện nhiệm vụ dõi theo nhân vật, dẫn dắt, đứng sau hành động để quan sát và kể lại Do không trực tiếp tham gia vào sự kiện, biến cố truyện nên chủ thể kể chuyện xuất hiện ở ngôi thứ ba luôn có một vị trí tốt nhất để theo dõi, dẫn dắt nhân vật Nhân vật ít có cơ hội phát biểu suy nghĩ, cảm xúc.Chủ thể kể chuyện chi phối toàn bộ tác phẩm từ lời dẫn chuyện, cách
kể, cách tả đến cả trữ tình ngoại đề.Người kể chuyện kiểu này đứng ngoài câu chuyện khiến chúng ta dễ dàng chấp nhận những gì chúng ta không bao giờ chấp nhận ngoài đời, một người có kiến thức và quyền lực vô hạn.Nghĩa là anh ta chỉ là một ống kính soi vào hiện thực, để cho bản thân hiện thực lên tiếng, tự phô bày ra đúng như nó vốn vậy
Người kể chuyện ở ngôi thứ ba trong Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn nắm giữ vai trò quan trọng, giúp người đọc nắm bắt được toàn bộ nội
dung, không gian, thời gian và diễn biến của câu chuyện Người kể chuyện quan sát, chứng kiến toàn bộ câu chuyện và kể lại một cách khách quan nhất
Đọc Cơ hội của Chúa, những câu văn đầu tiên mở ra qua một giọng kể
khách quan, trung tính và lạnh lùng của người kể chuyện ngôi thứ ba: Đường hun hút nhựa Trời hanh.Nắng vàng ươn ao.Gió nhạt Chiếc xe tải rũ bụi vào mặt Hoàng Anh lăm le tìm cách vượt, không thể được, đành chịu tụt lại khoảng 300m Còn sớm, chừng đến độ chín giờ, đến đầu đường sân bay, Hoàng hỏi thăm một cảnh sát giao thông mặt xanh mét màu rau muống
Trang 38Chiếc dùi cui uể oải chỉ về khu nhà lợp mái tôn Nơi gửi xe Hoàng đi lượn mấy vòng quanh mấy lượt, hình như ba tiếng nữa mới có chuyến của INTERFLUC về.Gã hải quan nói ngọng chữ l Có mùi bánh mỳ thiu thiu của pate Căng tin của sân bay ngột ngạt người Các cô bé bán hàng được đô thị hóa trong bộ đầm tíu tít[24, tr 41] Hàng loạt những câu văn ngắn thiên về
miêu tả xuất hiện.Chủ yếu miêu tả về hành động của nhân vật chính một cách rất tự nhiên mà khách quan Người kể chuyện không giới thiệu về tính cách, hoàn cảnh gia đình hay suy nghĩ, nội tâm bên trong mà chỉ đơn thuần miêu tả
những hành động bên ngoài:“Anh lăm le tìm cách vượt”, “Hoàng đi lượn vòng quanh mấy lượt”, “Hoàng xách chai Lúa mới ngồi xuống góc bàn trống”, “Hoàng uống lơ đãng nhìn”, Mở đầu tác phẩm, nhà văn đã lựa
chọn lối kể chuyện ngôi thứ ba theo điểm nhìn bên ngoài khiến mọi sự vật được hiện lên chân thực và tự nhiên Mặc dù không nhiều thông tin đánh giá, bình luận nhưng qua cách kể này người đọc nhận ra một không gian bị đô thị hóa, một xã hội thời kỳ đổi mới, pha tạp nửa Tây nửa ta
Tính khách quan của người kể chuyện còn được thể hiện qua lời dẫn thoại của các nhân vật.Lời đối thoại cứ lần lượt diễn ra mà không có thêm bất
cứ một lời bình luận xen ngang nào của người kể chuyện để người đọc có thể hình dung đầy đủ hơn về thái độ và suy nghĩ của các nhân vật Hầu hết các lời
dẫn đều theo cấu trúc anh/cô/… + bảo/ nói…Nhưng cũng chính vì vậy mà
những lời nói, suy nghĩ của các nhân vật trở nên chân thực và tự nhiên hơn Đoạn đối thoại giữa Hoàng và Thủy ở chương đầu tiên là một điển hình cho lối dẫn lạnh lùng, khách quan của người kể chuyện:
“- Anh Hoàng
- Vâng, anh xin nghe
Trang 39- Chúng ta không thể sống thế này mãi được
- Tất nhiên, theo anh nên có một thằng nhóc để cải tiến tình hình
- Chúng mình có nhau đã được hai năm Và lúc nào em cũng thấy anh tạm bợ.Dạo mới yêu chẳng hiểu sao em cho là hay hay.Nhưng bây giờ em lớn rồi.Chỉ ba tháng nữa em sẽ tốt nghiệp Anh Hoàng, anh có nghe em nói không Đã khi nào anh tự hỏi, cho đến bây giờ trong tay mình đang có cái gì
Hoàng nhấc ly xoay xoay.Đúng là một giáo cụ trực quan đầy sinh động
- Anh yêu em
- Vẫn một điệp khúc Anh đừng làm em chán” [25, tr 86]
Người kể chuyện đã rất khách quan khi không dùng các tính từ miêu tả cảm xúc mà chỉ thuật lại hành động bên ngoài của nhân vật bằng những câu văn ngắn gọn nhưng qua đó toát lên thái độ bất cần của Hoàng và sự lo âu của Thủy Cả hai nhân vật cứ liên tiếp, lần lượt đảm nhiệm lượt thoại của mình, thông qua đó tự bộc lộ tính cách.Người đọc nhận ra thái độ dứt khoát trong lời nói của Thủy, cô ngày càng chín chắn và nhận ra những mặt trái của cuộc sống, của tình yêu.Suy nghĩ của cô cũng có phần thực tế hơn Những câu đối thoại của Hoàng cho thấy anh luôn bằng lòng với tất cả, anh có một niềm tin sâu sắc vào Chúa, lấy tôn giáo làm chỗ dựa tinh thần và phó mặc cuộc sống Người kể chuyện đứng ngoài điềm tĩnh quan sát và kể lại một cách trung thực những gì đang diễn ra, còn quyền đánh giá, bày tỏ tình cảm được trao cho người đọc Sự lạnh lùng khách quan cố ý này đã tước bỏ rào chắn giữa nhân vật và người đọc.Nhân vật và độc giả không còn bị ngăn cản bởi lớp tình cảm, thái độ, tư tưởng của bản thân nhà văn.Người đọc lúc này có thể tự đánh giá, bày tỏ thái độ của mình trước những hiện thực đang diễn ra trong tác phẩm
Trang 40Tuy nhiên, người kể chuyện ở ngôi thứ ba đôi khi không hẳn là một người đứng ngoài câu chuyện được kể.Người kể chuyện ngôi thứ ba, trong một vài trường hợp cũng chính là người mang tiêu điểm trần thuật, nhưng không lộ diện.Ở trường hợp này người kể chuyện ẩn, anh ta mượn điểm nhìn của nhân vật để kể chuyện.Và anh ta hòa vào nhân vật đến mức độ ta khó có thể phân biệt được giọng kể của anh ta với giọng kể của nhân vật.Bởi vậy, ở đây các sự kiện, diễn biến của câu chuyện được nhìn dưới con mắt của một người phản ánh bên trong thuộc ngôi kể thứ ba.Trần thuật trong điều kiện này mang điểm nhìn bên trong, người kể chuyện ở ngôi thứ ba ẩn tàng, giấu mình sau sự hiện diện của ý thức, đặc biệt là sau những suy nghĩ của người phản ánh bên trong Do diễn ngôn của người kể chuyện gần giống với giọng điệu của người quan sát nên chất giọng của nó không khu biệt rõ nét Một trong những hiệu quả chính của điểm nhìn bên trong là thu hút sự chú ý tới ý nghĩ của nhân vật – người phản ánh và bỏ qua người kể chuyện và quá trình sắp xếp trần thuật
Trong Cơ hội của Chúa, phần lớn dung lượng kể, người kể
chuyện lấy theo điểm nhìn của Hoàng, một con người sống bằng niềm tin và còn lại đôi chút tình người, không bị cuốn vào vòng xoáy của thương trường, của những cuộc làm ăn và sức hút của đồng tiền Hoàng mang trong mình tâm hồn nghệ sĩ, nhạy cảm và tinh tế, luôn dằn vặt, trăn trở về cuộc đời xong lại buông thả, phó mặc và bất cần cuộc sống Người kể chuyện thường xuyên nhập thân vào nhân vật, lấy con mắt và thế giới quan của nhân vật để kể
chuyện.Hai đầu gối ê ẩm mỏi nhưng anh không muốn đứng dậy Hoàng nhìn cây bạch lạp ngưng cháy dưới chân Đức Mẹ Lạy Đức Mẹ lòng lành, Người đã che chở cho con từ tấm bé Xin Người đừng bỏ con Tối qua, hình như lúc hơn mười giờ, đang chơi bản “Điệp khúc tình yêu” của Trần Tiến, Cam Ly vòng qua thùng loa đưa cho Hoàng một đĩa soup bò, một lát bánh