1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Truyền thông về an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam

292 37 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 292
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ là những tài liệu cần thiết để nâng cao chất lượng thông tin trên báo chí nói chung và truyền hình nói riêng trong vấn đề an toàn thực phẩm..

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ THÙY DƯƠNG

TRUYỀN THÔNG VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM

TRÊN TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội, 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ THÙY DƯƠNG

TRUYỀN THÔNG VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM

TRÊN TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

Chuyên ngành: Báo chí học

Mã số:60320101

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ ANH ĐỨC

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là do tôi thực hiện Mọi số liệu khảo sát và kết luận nghiên cứu đều được thực hiện trong thực tế và trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác

Tác giả

Lê Thị Thùy Dương

Trang 4

Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Đỗ Anh Đức đã đồng hành

và giúp đỡ tôi từ việc lựa chọn, đóng góp và bổ sung đề tài để đi tới thực hiện

đề tài khóa luận của mình

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đã giúp tôi hoàn thành luận văn này!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

6 Điểm mới, ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9

7 Kết cấu của đề tài 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ VAI TRÕ CỦA TRUYỀN HÌNH TRONG TRUYỀN THÔNGVỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 11

1.1 Lý luận chung về truyền thông và truyền hình 11

1.1.1 Khái niệm “Truyền thông” 11

1.1.2 Mô hình truyền thông và thông điệp truyền thông 12

1.1.3 Khái niệm “Truyền hình” và đặc điểm của truyền hình 16

1.1.4 Vai trò của truyền hình trong vấn đề ATTP 24

1.2.Thực tiễn về ATTP ở Việt Nam hiện nay 26

1.2.1.Khái niệm “Thực phẩm” và “An toàn thực phẩm” 26

1.2.2 Những vấn đề về ATTP ở Việt Nam hiện nay 32

1.3 Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu truyền thông về ATTP 35

Tiểu kết chương 1 37

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 38

2.1.Khái quát về các chương trình khảo sát 38

2.1.1 Chương trình “Nói không với thực phẩm bẩn” trên VTV1 38

2.1.2 Chương trình “Chúng ta đang ăn gì?” trên VTC16 40

2.2.Thực trạng thông điệp truyền thông về ATTP trên truyền hình 42

Trang 6

2.2.1 Nội dung thông điệp truyền thông về ATTP trên kênh VTV1 và VTC16

42

2.2.2 Hình thức truyền tải nội dung thông điệp về ATTP trên truyền hình 59

Tiểu kết chương 2 69

CHƯƠNG 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN TRUYỀN HÌNH 70

3.1 Những vấn đề cần đặt ra khi truyền thông về an toàn thực phẩm trên truyền hình 70

3.1.1 Về nội dung 70

3.1.2 Về hình thức 73

3.2 Một số giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng truyền thông về ATTP trên truyền hình 75

3.2.1 Nhóm giải pháp liên quan đến nội dung thông điệp 75

3.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến hình thức thể hiện thông điệp 78

3.2.3 Nhóm giải pháp liên quan đến tổ chức sản xuất chương trình 79

3.2.4 Nhóm giải pháp đối với nhà báo 83

3.2.5 Nhóm giải pháp liên quan đến quản lý về ATTP 85

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 97

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng thông điệp về vấn đề thực phẩm không an toàn trong chương trình “Chúng ta đang ăn gì?” 45 Bảng 2.2: Số lượng chương trình phát sóng thể hiện thông điệp về thực phẩm không an toàn trong chương trình “Nói không với thực phẩm bẩn” trên kênh VTV1 48 Bảng 2.3: Số lượng chương trình phát sóng có thông điệp về thực phẩm an toàn trên VTC16 52 Bảng 2.4: Số lượng chương trình phát sóng có thông điệp về thực phẩm an toàn trên VTV1 55 Bảng 2.5 Thông tin phát sóng của hai chương trình khảo sát 65 trên VTV1 và VTC16 65 Bảng 3.1 Đề xuất format chương trình về an toàn thực phẩm trên truyền hình 80

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Mô hình truyền thông của Lasswell và Shannon [41, tr.18] 12

Hình 2.2 Mô hình truyền thông [41, tr 20] 13

Hình 2.3: Sơ đồ đặc điểm của truyền hình 18

Hình 2.4: Những yếu tố cơ bản trong truyền hình 20

Hình 2.5: Hình ảnh chương trình “Nói không với thực phẩm bẩn” được phát sóng trên VTV1 39

Hình 2.6: Một trong số hình ảnh chương trình được phát sóng 42

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ các nội dung thông điệp về thực phẩm không an toàn trong chương trình “Chúng ta đang ăn gì” trên kênh VTC16 45Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nội dung thông điệp về thực phẩm không an toàn trong chương trình “Nói không với thực phẩm bẩn” trên kênh VTV1 48Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ thông điệp về thực phẩm an toàn trong chương trình “Chúng ta đang ăn gì” trên kênh VTC16 53Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ thông điệp về thực phẩm an toàn trong chương trình “Nói không với thực phẩm bẩn” trên kênh VTV1 55

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực phẩm là một trong những nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng Trong những năm gần đây, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm xuất hiện nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng khiến người dân hoang mang, lo ngại Tuy nhiên, vì những mục đích khác nhau, các nhà sản xuất và kinh doanh thực phẩm vẫn sử dụng những biện pháp bảo quản, chất kích thích tăng trưởng sai quy định gây ảnh hưởng đến tiêu dùng và xuất khẩu Nhiều vấn đề phản ánh liên quan đến thực phẩm như các chất hóa học được sử dụng trong nông nghiệp, các chất phụ gia thực phẩm trong sản xuất thực thẩm… đã làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng đối với thực phẩm

Ở Việt Nam, ATTP thu hút sự chú ý của xã hội với nhiều mối lo ngại

về thực phẩm bẩn có xu hướng lan rộng về phạm vi Ăn gì, uống gì đã trở thành mối lo lắng, nghi ngại thường trực trong suy nghĩ của mỗi người

An toàn thực phẩm là vấn đề nhức nhối trong xã hội, nó không chỉ diễn

ra ở các nước đang phát triển, kém phát triển mà còn cả ở các nước phát triển Tại Việt Nam, theo báo cáo “Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về

an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2016” của Quốc hội cho biết, mỗi năm có khoảng 70.000 người chết vì bệnh ung thư và hơn 200.000 ca phát hiện mới, trong đó có một phần nguyên nhân từ việc sử dụng thực phẩm không an toàn Tình hình ngộ độc thực phẩm và các bệnh liên quan đến thực phẩm diễn ra khá nghiêm trọng ở một số địa phương.Trung bình có 167,8 vụ/năm với hơn 5.000 người mắc/năm và khoảng 27 người chết do ngộ độc thực phẩm/năm.Tỷ lệ tồn dư hóa chất vượt ngưỡng cho phép là 8,47% đối với rau; Kiểm tra đối với 54.750 lượt hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đã phát hiện 9.056 hộ vi phạm (chiếm 16,54%); Kiểm tra 2.064 đợt với 63.230 lượt cơ sở sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực phẩm, phát hiện và xử lý trên 7.434 có sở vi phạm (chiếm 11,7%)

Trang 12

Những năm gần đây, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng khiến người tiêu dùng hoang mang, lo ngại Thông qua nghiên cứu dư luận xã hội về an toàn thực phẩm, cho biết thái độ và niềm tin về an toàn thực phẩm đồng thời kết quả nghiên cứu sẽ giúp cơ quan quản lý trong việc soạn thảo, ban hành, tổ chức thực hiện; thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận 3 tránh những thông tin vô căn cứ gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng và tình hình kinh tế - xã hội nói chung Sử dụng các loại thực phẩm không an toàn, người tiêu dùng đã phải trả giá đắt bằng chính sức khoẻ, thậm chí cả tính mạng do bị ngộ độc thực phẩm và mầm mống gây ra căn bệnh ung thư Tuy vậy, vẫn có không ít người tiêu dùng chưa thực sự quan tâm đúng đắn đến vấn đề an toàn thực phẩm

Bên cạnh đó, công tác quản lý của nhà nước về ATTP vẫn còn chưa triệt để nên các nhà sản xuất, kinh doanh chưa nhận thức được trách nhiệm trong việc tuân thủ các điều kiện đảm bảo ATTP

Trước những diễn biến phức tạp của vấn đề ATTP thì hoạt động truyền thông giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm ATTP Trong bối cảnh đó, báo chí là một trong những kênh thông tin quan trọng mà người dân có thể dễ dàng tiếp cận qua nhiều hình thức khác Thực tế hiện nay, ít nghiên cứu ở Việt Nam lấy việc truyền thông về ATTP trên truyền hình làm đề tài nghiên cứu.Trong khi đó, truyền hình có mức độ phủ sóng rộng, là một loại hình được công chúng đón nhận như một kênh thông tin chính thống Việc nghiên cứu truyền thông về ATTP trên truyền hình nhằm nâng cao nhận thức của người dân, đồng thời, giúp họ điều chỉnh hành vi an toàn thực phẩm để trở thành những người tiêu dùng thông thái

Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Truyền thông về ATTP trên truyền hình Việt Nam” cho luận văn chuyên ngành báo chí học của mình Những

kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ là những tài liệu cần thiết để nâng cao chất lượng thông tin trên báo chí nói chung và truyền hình nói riêng trong vấn đề an toàn thực phẩm

Trang 13

2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thực phẩm chủ yếu tập trung vào kiến thức thực hành, nhận thức và hành động đối với các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

ATTP là mối quan tâm toàn cầu, do đó số lượng các nghiên cứu về lĩnh vực này khá nhiều Tuy nhiên, trước đây những nghiên cứu về sản xuất và tiêu dùng thực phẩm chủ yếu thuộc các lĩnh vực: Nông sản, trồng trọt, kinh tế nông nghiệp

Năm 2013, trong luận văn thạc sỹ chuyên ngành báo chí truyền thông của Nguyễn Hoàng Anh có tên “Chiến dịch truyền thông trong Chương trình mục tiêu Quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm” tại Viện Đào tạo Báo chí – Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tìm hiểu lý thuyết và kỹ năng tổ chức chiến dịch truyền thông vào nghiên cứu thực tiễn hoạt động triển khai chiến dịch truyền thông của các

tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam Hệ thống hóa khái niệm, quy trình, phương pháp thực hiện và đánh giá chiến dịch truyền thông và khái quát vế chiến dịch truyền thông trong chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm Khảo sát thực trạng chiến dịch truyền thông do Bộ Y tế thực hiện trong Chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm từ năm 2006 đến năm 2012 Đánh giá về chiến dịch truyền thông vệ sinh an toàn thực phẩm

và giải pháp nâng cao hiệu quả của các chiến dịch truyền thông tại Việt Nam

Năm 2010, trong Khóa luận Tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tuyết

có tên “Báo chí với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm (Khảo sát trên báo Vietnamnet.vn thời gian từ tháng 9 năm 2008 đến tháng 5 năm 2010)” cũng tại Viện Đào tạo Báo chí – Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Đề tài đã thực hiện khảo sát mô tả hình thức và nội dung thông tin tuyên truyền về ATTP trên báo điện tử Vietnamnet Tuy nhiên, khóa luận khảo sát để tìm hiểu về tính phổ cập kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm của một tờ báo điện tử, hoàn toàn không đề cập đến vấn đề tư vấn, chỉ dẫn

Trang 14

Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu về vấn đề ATTP trong những năm gần đây như: “Thông điệp về an toàn thực phẩm trên báo điện tử Việt Nam hiện nay” do học viên Khuất Thị Diệu Linh – Học viện Báo chí và Tuyên tuyền thực hiện: Luận văn tìm hiểu về thực trạng đưa tin của báo mạng điện tử thông qua việc phân tích các bài viết về ATTP và đề xuất khuyến nghị nâng cao hiệu quả công tác thông tin truyền thông về ATTP trên báo mạng đối với cơ quan quản lý báo chí, cơ quan báo chí, phóng viên và công chúng trong lĩnh vực truyền thông về ATTP

Năm 2012, tác giả Nguyễn Ngân Giang trong luận văn ThS ngành Luật

“Trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm” đã tổng thuật một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn pháp lý về ATTP;

Rà soát các hành vi vi phạm về điều kiện an toàn thực phẩm Đánh giá hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước

về an toàn thực phẩm và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của các đối tượng trong xã hội đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm Nâng cao kiến thức về quản lý an toàn thực phẩm

Với đề tài “Vấn đề thông tin, tư vấn, chỉ dẫn ATTP trên báo chí Việt Nam” do học viên Trần Thị Thảo – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện năm 2016 Luận văn khảo sát đặc điểm nội dung, cách thức thể hiện thông tin tư vấn, chỉ dẫn về ATTP trên các loại hình báo chí Việt Nam và trên cơ sở khảo sát, rút ra kết luận và khuyến nghị giải pháp làm tăng hiệu quả thông tin, tư vấn, chỉ dẫn ATTP trên báo chí

Từ những năm 1980, các nhà xã hội học trên thế giới ngày càng chú ý tới cách mà thực phẩm củng cố các mối liên hệ xã hội, đánh dấu những khác biệt xã hội và trở thành một dạng thiết chế, tổ chức và mạng lưới xã hội Cuối thế kỉ 20 – đầu thế kỉ 21, các công trình nghiên cứu xã hội học trong lĩnh vực

Trang 15

thực phẩm bắt đầu ra đời Các vấn đề chính sách được các nhà xã hội học thực phẩm quan tâm là mối liên hệ giữa thực phẩm và sự bất bình đẳng, giao thương, lao động, quyền lực, vốn, văn hóa và tiến bộ kỹ thuật Mặc dù vậy, những nghiên cứu đánh giá về thông điệp ATTP trên báo chí vẫn còn khiêm tốn

Năm 1995, các tác giả Maurer, Donna and Jeffery Sobal trong nghiên

cứu “Việc ăn uống: Thực phẩm và dinh dưỡng với tư cách là vấn đề xã hội”

(Eating agendas: Food and nutrition as social problems) đã đưa ra một bản tổng hợp đầy giá trị về thực phẩm mà con người tiêu thụ, các vấn đề đi kèm vơi chất lượng của những thực phẩm này (như mối lo lắng về thực phẩm bị nhiễm độc hay việc ăn thịt) và những vấn đề liên quan tới công nghiệp thực phẩm và những chính sách của chính phủ

Tiếp đó, năm 1997, tác giả Phạm Năng Cường với tác phẩm “Vệ sinh thực phẩm” đề cập tới vấn đề thực phẩm và dinh dưỡng, cách bảo quản thức ăn

Nghiên cứu về thực trạng công tác đảm bảo ATTP (1998 – 2002), tác

giả Nguyễn Hữu Huyên trong công trình Đánh giá thực trạng công tác đảm bảo chất lượng VSATTP ở Đắc Lắc 5 năm (1998 – 2002), trong báo cáo toàn

văn hội nghị khoa học vệ sinh ATTP lần thứ 2 năm 2003, tác giả nghiên cứu

đã tập trung phân tích kiến thức, đánh giá thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm được nhiều người xem nhất, qua kênh truyền hình thì có 91,3 % người tiêu dùng biết được kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm [29]

Năm 1991, cuốn sách “Vệ sinh thực phẩm” của tác giả Phạm Văn Sổ,

Bùi Thị Thu Thuận, Nguyễn Phùng Tiến đề cập tới nguyên nhân và biện pháp phòng ngộ độc thực phẩm Công tác thanh, kiểm tra chất lượng VSTP tại những điểm ăn uống

Năm 2005, nhóm tác giả Nguyễn Đức Lượng, Phạm Minh Tâm trong

cuốn Vệ sinh và an toàn thực phẩm cũng nghiên cứu khá toàn diện và bao

quát về quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm Cuốn sách đã cung cấp các kiến thức cơ bản về ATTP, phân tích làm rõ các khái niệm, đồng thời đưa ra các

phương pháp để đánh giá mức độ thực phẩm an toàn

Trang 16

Năm 2016, “Luật an toàn thực phẩm” quy định mới về chất phụ gia

thực phẩm, quản lý chất lượng và xử phạt vi phạm hành chính, Tác giả : Quang Minh;Tiến Phát Nhà Xuất bản : Lao Động, Luật an toàn thực phẩm quy định mới về chất phụ gia thực phẩm, quản lý chất lượng và xử phạt vi phạm hành chính

Năm 2003, các tác giả Phan Thị Kim, Bùi Trọng Chí, Chu Quốc Lập

trong “Báo cáo toàn văn Hội nghị khoa học an toàn vệ sinh thực phẩm lần thứ hai” đã có những báo cáo đánh giá tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm,

thực trạng vệ sinh môi trường thực phẩm cũng như cơ sở chế biến thực phẩm

và nguy cơ gây ô nhiễm một số chất độc hại trong thực phẩm tại một số tỉnh, thành phố như Hà Nội, Đà Nẵng

Tiếp đó, trong cuốn Truyền thông vệ sinh an toàn thực phẩm của Trần

Chí Liêm đã đưa ra những vấn đề chung về truyền thông, tư vấn vệ sinh ATTP, kỹ năng truyền thông, lập kế hoạch truyền thông trong đó chú ý đến

mô hình, cách tiếp cận, đối tượng và thông điệp truyền thông; chiến lược huy động và sử dụng các kênh truyền thông Đây là một trong các tư liệu tham khảo hữu ích, giúp người nghiên cứu tiếp cận đầy đủ những thành tố liên quan đến vấn đề truyền thông, tư vấn về ATTP

Trong các bài khoa học và các công trình nghiên cứu, mới chỉ đề cập đến việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu các loại sản phẩm, thông điệp về ATTP trên báo mạng chứ chưa đề cập sâu rộng và nghiên cứu cụ thể một chương trình chuyên biệt về an toàn thực phẩm, đặc biệt sóng trên truyền hình Trong khi đó mức độ phủ sóng của truyền hình rộng khắp các tỉnh thành, vùng miền

Như vậy, có nhiều công trình lấy thực phẩm làm đối tượng nghiên cứu trên các phương tiện truyền thông đại chúng Tuy nhiên, chưa có công trình nào phân tích sâu về khía cạnh truyền thông về ATTP trên truyền hình Việt Nam Vì vậy, tác giả cho rằng việc nghiên cứu đề tài “Truyền thông về an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam” là cần thiết Có thể nói, đâ là công

Trang 17

trình đầu tiên nghiên cứu tổng thể về vấn đề nghiên cứu thông điệp về an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam

3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, hệ thống hóa những vấn đề về lý luận truyền hình, ATTP tức là

làm rõ những khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu

Hai là,tổng hợp, phân tích các chương trình phát sóng về vấn đề an toàn vệ

sinh thực phẩm trên 2 kênh truyền hình VTV1 và VTC16để thấy được thực trạng về truyền thông trên truyền hình hiệu quả và hạn chế còn tồn tại trong công tác tuyên truyền

Ba là, đề xuất giải pháp nâng cao thông điệp truyền thông về an toàn thực

phẩm trên truyền hình nói chung, trên 2 chương trình khảo sát nói riêng và đối với giới truyền thông Đặc biệt là cơ quan báo chí, phóng viên – những người làm công tác truyền thông về ATTP

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Thông điệp truyền thông về ATTP trên truyền hình Việt Nam

4.3 Phạm vi nghiên cứu

4.3.1 Phạm vi không gian

Trang 18

Đối tượng khảo sát là các chương trình về ATTP trên truyền hình:

Chương trình “Nói không với thực phẩm bẩn” trên kênh VTV1- Kênh Thời

sự - Chính trị - Tổng hợp của Đài truyền hình Việt Namvà chương trình

“Chúng ta đang ăn gì?” của VTC16 - Kênh Truyền hình Nông nghiệp nông

thôn của Đài truyền hình Kĩ thuật số VTC

4.3.2 Phạm vi thời gian

Nghiên cứu tiến hành thu thập và khảo sát thông tin trên sóng truyền hình Việt Nam của kênh VTV1 và kênh VTC16 (từ tháng 1/2017 đến tháng 6/2017)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận chung

Tác giả dựa trên nền tảng các quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa Mac – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phương pháp luận báo chí; cơ sở

xã hội học truyền thông đại chúng;; Đường lối, chủ trương chính sách của Đảng

và Nhà nước của mộtsố bộ ngành đối với vấn đề ATTP để tiến hành nghiên cứu

đề tài đặt ra

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu là: Phương pháp phân tích nội dung; Phương pháp phỏng vấn sâu

5.2.1 Phương pháp phân tích nội dung

Phương pháp phân tích nội dung được sửdụngdựa trênthông điệp được truyền từthiết chếtruyền thông đại chúng Việc phân tích bằng phương pháp này căn cứvào cách xác định các khái niệm và từkhóa đượcmã hóa thành bộcông cụthểhiện các chỉ báo nghiên cứu, nhằm đưa ra những suy luận xác đáng vềquá trình xã hội mà thông điệp đềxuất

Quy trình phân tích nội dung thông điệp nhằm mục đích chuyển các đặcđiểm được lựa chọn của thông điệp thành sốliệu có thểxửlý bằng các phương pháp thống kê vềmặt định lượng và định tính.Những đơn vịphân tích cần phải được xác định bằng sự tham chiếu của hệthống đặc điểm

Trang 19

ngữnghĩa và cú pháp của thông điệp Những đơn vịđiển hình của phân tích nội dung thông điệp là câu chuyện được thểhiện dưới văn bản báo chí hoặc các hình thức khác

Ởnghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp trên để tiến hành phân tích nội dung thông điệp trong các chương trình đã phát sóng trong khoảng

thời gian khảo sát Cụ thể là: Chương trình “Nói không với thực phẩm bẩn”

trên VTV1trong khoảng thời gian: tháng 1/2017 – tháng 6/2017 Số lượng

chương trình phát sóng lần 1 là 112 chương trình Và chương trình: “Chúng ta đang ăn gì?” trên kênh VTC16 trong khoảng thời gian từ tháng 1/2017 –

tháng 6 /2017 Số lượng chương trình là 25 chương trình

5.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu được tiến hành với các khách thể nghiên cứu là chuyên gia báo chí truyền thông; Cục an toàn thực phẩm - Bộ Y tế và các nhà báo, biên tập viên tại các kênh truyền hình được khảo sát Tổng đối tượng phỏng vấn sâu là 04 người, trong đó:

+ 01 phỏng vấn sâu chuyên gia truyền thông

+ 01 phỏng vấn sâu đại diện Cục an toàn thực phẩm, Bộ Y tế

+ 02 phỏng vấn sâu phóng viên, biên tập viên sản xuất chương trình về an toàn thực phẩm

Phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm tìm hiểu chi tiết các khía cạnh liên quan đến đánh giá của chuyên gia, lãnh đạo, nhà quản lý về ATTP hiện nay

Từ đó, phân tích một cách cụ thể thực trạng truyền thông về ATTP trên truyền hình và những giải pháp trong thời gian tới

6 Điểm mới, ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

6.1 Đóng góp mới về khoa học của đề tài

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế, với tốc độ nhanh và mạnh mẽ như hiện nay thì việc nghiên cứu vấn đề truyền thông về ATTP là rất cần thiết, từ đó, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý truyền thông đưa ra những giải pháp phù hợp

Trang 20

Đây là đề tài luận văn đầu tiên nghiên cứu truyền thông về ATTP trên truyền hình Việt Nam

6.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần bổ sung thêm cơ sở khoa học cho việc

phân tích nội dung tác phẩm báo chí truyền hình.Luận văn chỉ ra ưu, nhược điểm của báo chí truyền hình trong hoạt động thông tin, tuyên truyền về vấn đề

an toàn thực phẩm cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, người tiêu dùng

Trong xu thế phát triển của báo chí hiện đại, với nền kinh tế thị trường, luận vănchỉ ra sự cần thiết và những giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông

về an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham

khảo cho việc thay đổi phản ánh tin, bài trên sóng truyền hình Đồng thời, sử dụng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy các vấn đề liên quan

Luận văn cung cấp cho cơ quan báo chí trong lĩnh vực truyền hình góc nhìn tổng thể về thực trạng công tác thông tin tuyên truyền các vấn đề về an toàn thực phẩm Từ đó, luận văn đưa ra khuyến nghị, giải pháp giúp cơ quan báo chí truyền hình nói chung nâng cao chất lượng bài viết, hình thức, chủ đề

về vấn đề an toàn thực phẩm giúp cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, người dân có kiến thức, kinh nghiệm trong việc sản xuất và tiêu dùng thực phẩm

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Nội

dung của luận văn kết cấu gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về an toàn thực phẩm và vai trò của truyền hình trong truyền thông về an toàn thực phẩm

Chương 2: Nội dung và hình thức thông điệp truyền thông về an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam

Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao thông điệp về

an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam

Trang 21

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ VAI TRÕ CỦA TRUYỀN HÌNH TRONG TRUYỀN THÔNG

VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1.Lý luận chung về truyền thông và truyền hình

1.1.1.Khái niệm “Truyền thông”

Truyền thông theo thuật ngữ tiếng Anh là “Communication”, đây được

coi là một hoạt động trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người Truyền thông thường để chỉ sự chia sẻ thông tin và giao lưu giữa người với người thông qua những hình thức nhất định

Về cụm từ “ Truyền thông” trên thế giới cũng có hơn 200 cách dịch nghĩa khác nhau.Hiện tại “Truyền thông” được hiểu theo nghĩa chung nhất là: Truyền thông là một hành vi truyền tải thông tin mang tính chất xã hội, là sự giao hoan giữa không gian của tập thể và không gian cá nhân;quá trình truyền tải thông tin, ý kiến và sự việc Đơn giản hơn, truyền thông là quá trình do con người tạo ra, tiếp nhận và lưu trữ thông tin Quá trình truyền đạt, tiếp nhận, giao lưu và chia sẻ thông tin hai chiều giữa con người , tổ chức và xã hội; họ sử dụng các hình thức tuyên truyền để đưa thông tin và thực hiện hoạt động giao lưu qua lại

Tùy theo lĩnh vực nghiên cứu mà các học giả đưa ra những định nghĩa

về truyền thông khác nhau, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng khái niệm

của PGS TS Nguyễn Văn Dững như sau: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của

cá nhân, của nhóm, của cộng đồng xã hội.” [18, tr.10]

Khái niệm này chỉ ra bản chất truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi thông tin một cách liên tục giữa đối tượng chủ thể truyền thông và đối tượng tiếp nhận Hoạt động truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thông tin

Trang 22

giữa hai đối tượng này Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau khi ta chuyển tải nội dung cần thiết mà còn tiếp diễn sau đó

Về mục đích, truyền thông hướng đến những sự hiểu biết chung nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng tiếp nhận và định hướng dư luận xã hội theo hướng phù hợp với nhu cầu của đối tượng chủ thể truyền thông và của xã hội Nói cách khác, đối tượng chủ thể của hoạt động truyền thông khi chuyển thông điệp cho người tiếp nhận luôn mong muốn những thông tin mà mình cung cấp ảnh hưởng đến thái độ và cách xử sự của người tiếp nhận

1.1.2 Mô hình truyền thông và thông điệp truyền thông

Một quá trình truyền thông bao gồm các yếu tố sau: Nguồn tin, thông điệp, kênh truyền và đối tượng tiếp nhận Rất nhiều học giả khi nghiên cứu về truyền thông đã đưa ra nhiều mô hình truyền thông khác nhau Tuy nhiên mô hình truyền thông của Harold Lasswell cùng với sự bổ sung của Claude Shannon vẫn được mọi người chấp nhận vì nó đơn giản và thông dụng Các yếu tố của một hoạt động truyền thông được hai học giả thể hiện như sau:

Hình 2.1 Mô hình truyền thông của Lasswell và Shannon [41, tr.18]

Từ mô hình trên cho phép chúng ta nghiên cứu, đánh giá được vai trò, ý nghĩa của từng yếu tố, mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố tham gia quá trình truyền thông Đó là điều kiện để không chỉ nhận thức mà còn tìm ra phương pháp, cách thức tác động hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông

Trang 23

Theo GS TS Tạ Ngọc Tấn [43, tr.34], chủ thể xây dựng các thông điệp hàm chứa nội dung thông tin để thông qua các phương tiện truyền thông truyền tải đến công chúng xã hội rộng rãi Quá trình tạo dựng thông điệp bao giờ cũng mang tính khuynh hướng Nói cách khác, mục đích, quan điểm của chủ thể phát thông điệp bao giờ cũng ảnh hưởng, quy định khuynh hướng của nội dung thông tin Tính khuynh hướng trong nội dung thông tin được biểu hiện thông qua cách lựa chọn, xử lý chi tiết, số liệu, trình độ nhận thức, phương pháp phân tích đánh giá vấn đề và chính kiến phát biểu trực tiếp

Tuy nhiên, giới hạn của mô hình này là thể hiện hoạt động truyền thông như một quá trình tuyến tính, người tiếp nhận thông tin giống như một đối tác thụ động Về sau, các nhà nghiên cứu thường quan niệm quá trình truyền thông theo mô hình truyền thông với dạng đường vòng tròn khép kín

Cũng theo nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang thì quá trình truyền thông còn phải lưu ý đến các công việc cần thiết của người cung cấp, khởi xướng thông tin là mã hóa (encode) thông điệp bằng các tín hiệu của mình và người tiếp nhận muốn nhận thông điệp phải có quá trình giải mã (decode) Như vậy quá trình truyền thông sẽ được chia làm hai giai đoạn theo mô hình sau:

Hình 2.2 Mô hình truyền thông [41, tr.20]

Trong đó, Quá trình A-nguồn (source) có thể là một người, một tổ chức,

một cơ quan chuyển một thông điệp cho đối tượng trong đó chứa đựng những thông tin mã hóa (encode) là tìm tòi một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào

đó diễn đạt nội dung thông điệp Thông điệp (message), là những thông tin thực

sự được chuyển theo một mạch truyền (kênh) này hay kênh khác đến đối tượng

Trang 24

Quá trình B: Giải mã (decode), là quá trình từng cá nhân bằng con

đường riêng của mình làm rõ ràng, rành mạch thông điệp được chuyển đến Mỗi thông điệp chuyển đến có thể được chấp nhận và hiểu biết theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào kiến thức, thái độ của người tiếp nhận và cũng tùy thuộc vào người cung cấp và nội dung thông điệp

Nơi nhận (destination), người nhận (receiver) là điểm cuối cùng giải

mã thông điệp, có quá trình và sự tích lũy của người tiếp nhận

Phản hồi (feedback), là dòng chảy thông tin mà những bước đi từ thông

tin gốc đến nơi tiếp nhận và ngược lại Nhưng nó chỉ được thực hiện với điều kiện người tiếp nhận giải mã được thông tin và người cung cấp thông tin có những thông tin thích hợp với hiện tại Phản hồi là khía cạnh quan trọng nhất của quá trình truyền thông, là công cụ mạnh mẽ cho phép nối hai đường truyền thông lại với nhau Nó sẽ không còn tồn tại hoặc bị cản trở khi một trong hai bộ phận truyền thông bị vô hiệu hóa hoặc với sự chống lại của bộ phận tiếp nhận Một hạn chế của truyền thông là có thể xảy ra hiện tượng không phản hồi

Đây là một chu trình khép kín của quá trình truyền thông Ở đây cần chú ý tới các khía cạnh sau:

- Quá trình truyền thông giữa con người bao giờ cũng diễn ra trong môi trường xã hội, xác định rõ những kinh nghiệm chung giữa người khởi xướng

- Mỗi thông điệp được người tiếp nhận nghiên cứu và chỉ biết được sức mạnh, hiệu quả khi người tiếp nhận có thông tin phản hồi [41, tr.21]

Trang 25

“Truyền thông (Communication) có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông, Thuật ngữ "truyền thông” có nguồn gốc từ tiếng Latinh "Commune" với nghĩa là "chung” hay "cộng đồng” Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa những cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng xã hội.” [44, tr.5]

Thông qua khái niệm cùng những mô hình truyền thông có thể thấy rằng việc đánh giá phương thức cũng như hiệu quả của một hoạt động truyền thông liên quan tới quá trình mã hóa thông điệp của nguồn phát và giải mã thông điệp của đối tượng tiếp nhận Để đạt được hiệu quả cuối cùng là một quy trình khép kín thì cần phải giải quyết được những yếu tố nhiễu tác động tới hoạt động truyền thông

Để làm căn cứ cho quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả hiểu truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi, chia sẻ thông tin, thông điệp, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức của công chúng Nói cách khác, truyền thông là quá trình truyền tải và phổ biến thông tin xã hội đến số lượng công chúng lớn, phân tán về không gian và thời gian Quá trình này được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử

Khi phân tích về truyền thông, tác giả nhận thấy có ba đặc điểm chính sau:

Thứ nhất, truyền thông là một quá trình – có nghĩa là nó không phải

là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà diễn ra trong một khoảng thời gian lớn Quá trình này mang tính liên tục vì

nó không thể kết thúc ngay khi chuyển tải một nội dung cần thiết, mà có tiếp diễn sau đó Đó là quá trình trao đổi và chia sẻ, có nghĩa là hai bên cho

và nhận

Trang 26

Thứ hai, truyền thông phải dẫn tới sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông

Thứ ba, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong hành vi và nhận thức của công chúng

1.1.3.Khái niệm “Truyền hình” và đặc điểm của truyền hình

Truyền hình (Television) là một từ ghép, trong tiếng La tinh “tele” có nghĩa là “xa”, còn “vision” nghĩa là “nhìn” Sự kết hợp của hai từ này cho ra cụm từ “television” mang ý nghĩa: nhìn được từ xa Truyền hình ra đời đánh dấu mốc quan trọng khi mong muốn “nhìn được từ xa của con người trở thành hiện thực

Hiện nay có nhiều khái niệm, quan niệm khác nhau về truyền hình

Trong “Thuật ngữ Báo chí – Truyền thông” của Phạm Thành Hưng,

“Truyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng phát thông tin đi xa bằng

cả âm thanh và hình ảnh động Khác với phương tiện truyền thông nghe nhìn khác như điện ảnh, CD-ROM, truyền hình có thể phản ánh sự kiện một cách trực tiếp, đưa thông tin ở thời điểm hiện tại.” [30, tr.219] Cũng theo Phạm Thành Hưng, có thể định nghĩa đơn giản: Truyền hình là hệ thống kỹ thuật chuyển hình ảnh, tiếng động đi xa qua tín hiệu truyên hình và được tiếp nhận trực tiếp qua mà huỳnh quang

Theo PGS.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn "Truyền thông đại chúng” chỉ

rõ: TH là một loại hình phương tiện TT đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật vô tuyến truyền hình ( television) bắt nguồn từ hai từ tele có nghĩa là: ở xa và vision: thấy được Tức là " thấy được ở xa" [36, tr.127]

Theo cuốn "Truyền thông- lý thuyết và kĩ năng cơ bản” của PGS.TS

Nguyễn Văn Dững thì: "Truyền hình là kênh truyền thông truyền tải thông điệp bằng hình ảnh động với hầu như đầy đủ sắc màu vốn có của cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công

Trang 27

chúng bức tranh sinh động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ" [18, tr.168]

Theo Giáo trình “Báo chí truyền hình” của PGS.TS Dương Xuân Sơn:

“Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng truyền tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điên" [43, tr.13]

Trong cuốn Đường vào nghề phát thanh truyền hình của tác giả Nhật

An – Nhà xuất bản Trẻ có đề cập “Thuật ngữ “Vô tuyến truyền hình” có nguồn gốc từ hai từ ghép của tiếng latin và Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp,

“tele”có nghĩa là xa, còn “Vedre” có nghĩa là “xem” Ghép hai từ đó lại có nghĩa là xem ở xa” [1, tr.84]

Xét trên phương diện kỹ thuật thì truyền hình là quá trình biến đổi từ năng lượng ánh sáng tác động qua ống kính máy thu hình thành năng lượng điện, nguồn tín hiệu điện tử được phát sóng truyền đến máy thu hình và lại biến đổi thành năng lượng ánh sáng tác động vào thị giác, người xem nhận được hình ảnh thông qua màn hình

Xét theo nội dung: Truyền hình là loại hình truyền thông mà thông điệp được truyền trong không gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo cho người xem cảm giác sống động của hiện thực cuộc sống

Như vậy, tựu chung lại thì truyền hình là thấy được từ xa, được chuyển tải bằng âm thanh và hình ảnh động Hay nói cách khác, truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về

vật thể hoặc cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện

Truyền hình là một loại hình báo chí, bên cạnh những đặc điểm chung của báo chí, nó còn có những đặc điểm riêng biệt

Trang 28

Hình 2.3: Sơ đồđặc điểm của truyền hình

Tính thời sự

Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí Nhưng truyền hình với tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng hơn so với một số loại phương tiện khác Với truyền hình, sự kiện được phản ánh tức thời khi nó vừa diễn ra thậm chí khi nó đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình

Truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24h/ngày, mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi về các sự kiện, cập nhật những tin tức mới nhất Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại truyền hình có đặc trưng cơ bản là truyền trực tiếp cả hình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc “khi sự kiện diễn ra phát thanh báo tin, truyền hình trình bày và báo in giảng giải nó”

Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh

Ngôn ngữ truyền hình là "loại" ngôn ngữ tổng hợp, có ngôn ngữ viết cho độc giả báo in, có ngôn ngữ nói cho thính giả phát thanh Hơn thế nữa, có ngôn ngữ hình ảnh cho khán giả truyền hình

Đặc trưng của truyền hình

Khả năng tác động dư luận mạnh mẽ

Trang 29

Ưu thế của truyền hình là truyền tải cả hình ảnh và âm thanh cùng một lúc Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận bằng con đường thị giác, phát thanh bằng con đường thính giác, người xem truyền hình tiếp cận sự kiện bằng cả thị giác và thính giác Qua các cuộc nghiên cứu người ta thấy 70% lượng thông tin con người thu được là qua thị giác và 20% qua thính giác Do vậy, truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện

Tính phổ cập và quảng bá

Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ được nhiều đối tượng khán giả ở vùng sâu, vùng xa Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ, một sự kiện xảy ra ở bất kì đâu được đưa lên vệ tinh sẽ truyền đi khắp mọi nơi Ngày nay, ngồi tại nhà nhưng người ta vẫn có thể nắm bắt được sự kiện diễn ra trên thế giới

Khả năng thuyết phục công chúng

Truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là hình ảnh và âm thanh Nhờ đó, truyền hình đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của con người Truyền hình có khả năng truyền tải chân thực hình ảnh của sự kiện nên đáp ứng yêu cầu chứng kiến tận mắt của công chúng “Trăm nghe không bằng mắt thấy”, truyền hình đã cung cấp những hình ảnh về sự kiện thỏa mãn nhu cầu

“thấy” của người xem Đây là lợi thế lớn của truyền hình so với loại hình báo

Trang 30

truyền hình có khả năng tác động vào dư luận mạnh mẽ Hiện nay, công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo, nên sự tác động của nội dung chương trình truyền hình đến dư luận ngày càng rộng rãi Chính vì thế,truyền hình có khả năng trở thành diễn đàn của nhân dân Ví dụ : Các chuyên mục

“Ý kiến bạn xem truyền hình”, “Với khán giả VTV3”, “Hộp thư truyền hình”

… đã trở thành cầu nối giữa người xem và những người làm truyền hình Qua đó,công chúng có thể đưa ra những ý kiến khen chê, ủng hộ, phản đối, góp ý phê bình về các chương trình hoặc gửi đi những thắc mắc, bất cập… trong mọi vấn đề

Hình 2.4: Những yếu tố cơ bản trong truyền hình

- Lượng thông tin

Trong truyền hình, lượng thông tin mang tính cụ thể, dễ hiểu, được mô

tả bằng hình ảnh, âm thanh tự nhiên, mang tính thuyết phục cao

- Hình ảnh

Hình ảnh trong truyền hình là phương tiện thể hiện ý đồ nội dung, tư tưởng của tác giả, tác phẩm Mỗi một hình ảnh, mỗi một góc quay phải bao hàm một ý nghĩa nhất định, một nội dung nào đó, hoặc là nguyên nhân, diễn biến hoặc là kết quả của quá trình phát triển sự kiện trong cuộc sống

Hình ảnh

Âm thanh

Tiếng động hiện trường

Âm nhạcLượng

thông tin

Trang 31

Các cỡ ảnh trong truyền hình bao gồm: Toàn cảnh – trung cảnh – cận cảnh Qua đó, cho phép tác giả bộc lộ thái độ, tâm lý của nhân vật trong sự kiện, thỏa mãn nhu cầu “xem” của khán giả

- Âm thanh

Âm thanh là yêu tố tồn tại khách quan trong đời sống xã hội Trong truyền hình, âm thanh đóng vai trò chủ chốt của tác phẩm truyền hình, âm thanh được sử dụng giúp cho tác phẩm truyền hình trở nên sống động, chân thật hơn

Tính xác thực của âm thanh giúp cho truyền hình hấp dẫn hơn, ghi lại hơi thở, động thái của cuộc sống Đó là sức mạnh của truyền hình

- Tiếng động hiện trường

Bao gồm âm thanh của thiên nhiên (mưa, gió…), âm thanh từ sinh hoạt đời thường của con người, tiếng động nhân tạo

Tiếng động làm tăng tính gợi cảm và chân thực của tác phẩm truyền hình Tuy nhiên phải sư dụng đúng lúc, đúng cường độ để tác động sau vào nhận thức người xem Tránh để tiếng động to hơn lời bình, gây khó chịu, ức chế cho khán giả

- Âm nhạc

Trong truyền hình, âm nhạc đóng vai trò làm tôn thêm hình ảnh sự việc Mỗi bản nhạc phải phù hợp với kết cấu, ý đồ, nội dung chủ đề tư tưởng của tác phẩm truyền hình Âm nhạc thường xem kẽ với tiếng động hiện trường

Khi đề cập đến đặc điểm của truyền hình, tác giả cuốn sách Lý luận truyền hình đã đưa ra những nhận xét: “Truyền hình mặc dù là một loại hình báo chí nhưng bên cạnh những đặc điểm chung của báo chí, nó còn có những đặc điểm riêng biệt mang đặc trưng của truyền hình [35, tr.15]

Đặc điểm thông tin trên truyền hình là tính thời sự, tính phổ cập và quảng bá; truyền hình có khả năng thuyết phục công chúng, khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân Đặc trưng làm nên sự khác biệt của truyền hình chính là ngôn ngữ hình ảnh kết hợp với

âm thanh sống động, hấp dẫn,

Trang 32

Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng xa Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ một sự kiện xảy ra ở bất kì đâu được đưa lên vệ tinh

sẽ truyền đi khắp cả thế giới, được hàng tỉ người biết đến Ngày nay ngồi tại phòng nhưng người ta vẫn có thể nắm bắt được sự kiện diễn ra trên thế giới

Truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là hình ảnh và âm thanh đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của con người Truyền hình có khả năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng yêu cầu chứng kiến tận mắt của công chúng “Trăm nghe không bằng mắt thấy”, chính truyền hình đã cung cấp những hình ảnh về sự kiện thỏa mãn nhu cầu “thấy” của người xem Đây là lợi thế lớn của truyền hình so với các loại hình báo in và phát thanh

Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hổi, hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem thấy được thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng Vì vậy, truyền hình có khả năng tác động vào dư luận mạnh mẽ Các chương trình của Đài truyền hình Việt Nam như các chuyên mục “Sự kiện và bình luận”, “Đối thoại trực tiếp”, “Chào buổi sáng” của ban Thời sự VTV1 không chỉ tác động dư luận mà còn định hướng dư luận, hướng dẫn dư luận phù hợp với sự phát triển của xã hội và các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Trong các loại hình truyền thông đại chúng, truyền hình là phương tiện

ra đời muộn hơn, tuy nhiên nó là sản phẩm của nền văn minh khoa học công nghệ phát triển Truyền hình đã thừa hưởng kinh nghiệm và phương pháp tạo hình, tiếng của điện ảnh và phát thanh Ở truyền hình có sự khái quát triết lý của báo in, tính chuẩn xác cụ thể bằng hình ảnh, âm thanh của điện ảnh, phát

Trang 33

thanh, tính hình tượng của hội họa, cảm xúc tư duy của âm nhạc Sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật công nghệ giúp truyền hình tạo ra phương pháp mới trong truyền đạt thông tin Truyền hình là loại hình truyền thông có cac yếu tố kỹ thuật hiện đại, là sự kết hợp giữa: Kỹ thuật + mỹ thuật + nghệ thuật + kinh tế + báo chí

Mỗi loại hình truyền thông đại chúng đều có những đặc thù riêng Nếu chỉ xét trên phương diện quá trình làm ra một sản phẩm, ở báo in mỗi tác phẩm, mỗi bài báo có thể là sản phẩm riêng, là sự sáng tạo riêng của mỗi cá nhân, mỗi nhà báo Nhưng để sáng tạo một tác phẩm truyền hình còn công phu hơn nhiều, đó là đứa con tinh thần của cả một tập thể, đạo diễn, biên kịch

và những người làm kỹ thuật Sản phẩm đó thể hiện ý kiến thống nhất của từng thành viên trong đoàn làm phim, giữa người biên tập và người quay phim Vì vậy đối với báo in, nhà báo có thể viết đề cương rồi viết luôn thành bài, còn ở truyền hình do tính chất đặc thù quy định, đề cương đó được thể hiện ở kịch bản Kịch bản là xương sống cho một tác phẩm truyền hình, đồng thời tạo ra sự thống nhất giữa đạo diễn và quay phim trong quá trình làm phim, sự ăn ý giữa hình ảnh và lời bình

Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí Tất cả các loại hình báo chí đều phải đảm bảo yếu tố thời sự, cung cấp kịp thời thông tin về các sự kiện, hiện tượng đang diễn ra hoặc vừa xảy ra, liên quan đến cuộc sống của phần lớn công chúng hoặc một bộ phận công chúng nào đó Tuy nhiên, truyền hình với tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại, có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời, phát sóng 24/24 giờ trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất và người xem như được chứng kiến, cập nhật từng diễn biến của sự việc Đặc biệt, với các thiết bị kỹ thuật hiện đại, truyền hình trực tiếp có thể giúp người xem chứng kiến toàn bộ chương trình như diễn biến ngoài đời thực, tạo sự chân thực và thú vị cho khán giả

Tính phổ cập và quảng bá của truyền hình được hình thành do truyền hình có khả năng thu hút nhiều người xem cùng một lúc Sự phát triển của

Trang 34

khoa học công nghệ đã giúp cho truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng, phục vụ được nhiều đối tượng người xem

Xét về khả năng thuyết phục công chúng, truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là hình ảnh và âm thanh, đem lại thông tin cao và độ tin cậy cho công chúng, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức con người Truyền hình còn có khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân Các chương trình truyền hình hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem thấy được thực tế của vấn đề, vừa tác động vào nhận thức của công chúng Vì vậy, truyền hình có khả năng tác động vào dư luận mạnh mẽ Những đặc điểm nói trên của truyền hình có được là nhờ ngôn ngữ đặc trưng của nó là hình ảnh và âm thanh sống động

Cùng lúc, hình ảnh và âm thanh được truyền đến khán giả qua màn hình ti vi Nếu như với báo in, người đọc chỉ tiếp cận bằng con đường thị giác, phát thanh bằng con đường thính giác, thì người xem truyền hình tiếp cận sự kiện bằng cả thị giác và thính giác Do vậy, truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người rất lớn

1.1.4 Vai trò của truyền hình trong vấn đề ATTP

Để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và nhà nước đã xác định: “Báo chí nhằm tuyên truyền cho đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa báo chí góp phần tuyên truyền, làm sáng tỏ đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề này” [29,tr.21]

Là một loại hình báo chí có sức hấp dẫn và thu hút công chúng, truyền hình có nhiều ưu thế trong việc tuyên truyền những chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước đến với đông đảo công chúng bởi những đặc trưng riêng Báo chí truyền hình là một trong những phương tiện tuyên truyền sắc bén, góp phần cải thiện chất lượng an toàn thực phẩm

Các nghiên cứu về phương tiện báo chí hiện nay cho kết quả, mỗi một phương tiện báo chí có một thế mạnh riêng Song dưới góc độ truyền thông,

Trang 35

truyền hình có nhiều ưu điểm khiến nó là loại hình được công chúng đón nhận phổ biến bởi khả năng tương thích với mặt bằng trình độ dân trí, mật độ thông tin phủ sóng rộng khắp và chất lượng hình ảnh sinh động, hấp dẫn Yếu tố hình ảnh và âm thanh có tác động lớn khi tuyên truyền về vấn đề an toàn thực phẩm

Truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là âm thanh và hình ảnh động, đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức con người Mọi đối tượng đều có thể xem và hiểu những thông tin truyền hình cung cấp Ngoại trừ một số đối tượng bị khiếm khuyết về 1 trong 2 giác quan : Thính giác và thị giác

Tác giả Dương Xuân Sơn trong cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình” nêu rõ: “ Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc Cùng với sự phát triển của khoa học

và công nghệ truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng xa [35,tr11]

Đặc trưng của truyền hình được nhấn mạnh trước hết ở việc thông tin

về hiện thực thông qua hình ảnh Nhờ khả năng này hình ảnh truyền hình được cảm thụ trực tiếp bằng cảm giác vì vậy tiếp cận được với số đông công chúng Truyền hình cho phép người ta nhìn thấy cuộc sống thực, không bị khuấy động, không phải sự kiện của nhà báo hay người chứng kiến mà chính bản thân sự kiện đang diễn ra

Đặc trưng của truyền hình đã đánh vào tâm lý về tư duy trực quan, nhìn

và tin vào những điều cụ thể của công chúng Truyền hình phát huy thế mạnh trong công tác truyền thông ở chỗcho thấy hình ảnh cụ thể về các vấn đề an toàn thực phẩm, từ thực phẩm bẩn, thực phẩm sạch Từ đó, khán giả cảm nhận, ghi nhớ hình ảnh, thông điệp truyền thông mà nhờ những hình ảnh của truyền hình mang lại

Một điều nữa, đó là đặc trưng về công chúng truyền hình thường là số đông Đây cũng là một trong những thế mạnh của truyền hình so với các phương tiện truyền thông khác khi định hướng công chúng hướng tới chất

Trang 36

lượng an toàn thực phẩm Cũng do đặc trưng này nên quá trình xem truyền hình cũng là quá trình trao đổi, phân tích để tái nhận thức thông tin.Điều này tạo nên một tính chất đặc thù, một sức mạnh to lớn mà không mộtphương tiện truyền thông đại chúng nào khác có thế so sánh

Chất lượng và sức mạnh ấy đảm bảo cho truyền hình trở thành một nhân tố có ảnh hưởng to lớn đến dư luận xã hội cũng như những tư tưởng ở chiều sâu bên trong nó Khi công chúng hiểu được vai trò, tầm quan trọng của thương hiệu, họ sẽ thay đổi từ nhận thức dẫn đến hành động Cơ sở sản xuất, doanh nghiệp sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, qua đó tạo uy tín đối với người tiêu dùng Mặt khác, người tiêu dùng cũng ý thức hơn về việc lựa chọn sản phẩm tốt, đạt chất lượng

Trên cơ sở lý luận báo chí cho thấy, với chức năng của mình, báo chí truyền hình đóng vai trò quan trọng trong truyền thông, góp phần tạo thành công luận đấu tranh với những hành vi vi phạm, ủng hộ những đóng góp tích cực những tập thể, cá nhân đi đầu trong cuộc chiến nói không với thực phẩm bẩn Ngoài ra, còn phổ biến thông tin những vấn đề thuộc chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn thực phẩm thông qua các chương trình

Từ những sự kiện, vụ việc xảy ra trong đời sống, qua sự phản ánh của các tác phẩm báo chí, những góc nhìn, phân tích đánh giá khác nhau, truyền hình đã chỉ ra bất cập, những hành vi vi phạm của doanh nghiệp

1.2.Thực tiễn về ATTP ở Việt Nam hiện nay

1.2.1.Khái niệm “Thực phẩm” và “An toàn thực phẩm”

Khái niệm “Thực phẩm”

WHO coi ATTP là một khái niệm bao quát hơn, trong đó vệ sinh thực phẩm là một yếu tố cần thiết nhằm đạt được ATTP, nói cách khác, an toàn thực phẩm là mục tiêu mà việc thực hiện các điều kiện vệ sinh thực phẩm hướng đến Tuy nhiên, Luật ATTP năm 2010 không đề cập tới khái niệm VSTP

Theo tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế, khái niệm thực phẩm được định nghĩa “ là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con người

Trang 37

bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút và các chất được sử dụng để sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ được dùng như dược phẩm [5, tr 130]

Luật An toàn thực phẩm được Quốc Hội ban hành theo nghị quyết số 55/2010/QH12 ghi: Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm

mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm Các nhóm chất dinh dưỡng chính mà thực phẩm cung cấp bao gồm protein, lipid, glucid, các vitamin, khoáng chất, nước và chất xơ Có vô số loại thực phẩm khác nhau, mỗi thực phẩm có thể cung cấp đồng thời nhiều chất dinh dưỡng cùng một lúc Tuy nhiên, mỗi thực phẩm thường có xu hướng cung cấp một nhóm chất dinh dưỡng chủ đạo trong số các nhóm chất vừa kể trên Chính vì thế, thực phẩm thường có thành phần và cấu trúc hóa học rất khác nhau

Thực phẩm được ăn vào dưới nhiều dạng: Dạng tươi sống tự nhiên như trái cây, rau sống hoặc dưới dạng phải nấu chín như thịt, cá và vô số thực phẩm được sử dụng sau các quá trình gia công công nghệ như thịt hộp, cá hộp, bánh, mứt, kẹo, bơ Trong suốt quá trình từ sản xuất, chế biến, phân phối, vận chuyển, bảo quản và sử dụng thực phẩm đều có nguy cơ bị ô nhiễm bởi các tác nhân sinh học, hóa học và lý học nếu thực hành sản xuất không tuân thủ các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm Khi ấy, thực phẩm trở nên nguy hại cho sức khỏe và là nguyên nhân của các vụ ngộ độc thực phẩm cho người sử dụng

Ngoài ra theo điều 2, Luật ATTP năm 2010 quy định: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm.”

Theo quy định tại khoản 2, luật ATTP thì thực phẩm được chia làm 7

nhóm như sau: Thực phẩm tươi sống; Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng; Thực phẩm chức năng; Thực phẩm biến đổi gen; Thực phẩm đã qua chiếu xạ; Thức ăn đường phố; Thực phẩm bao gói sẵn

Trang 38

Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng,

cá, thủy hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến

Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng là thực phẩm được bổ sung

vitamin, chất khoáng, chất vi lượng nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các chất đó đối với sức khỏe cộng đồng hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng

Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ

thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ mắc bệnh, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học

Thực phẩm biến đổi gen là thực phẩm có một hoặc nhiều thành phần

nguyên liệu có gen bị biến đổi bằng công nghệ gen

Thực phẩm đã qua chiếu xạ là thực phẩm đã được chiếu xạ bằng nguồn

phóng xạ để xử lý, ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm

Thực phẩm bao gói sẵn là thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh,

sẵn sàng bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn ngay

Ngoài ra, thức ăn đường phố là thực phẩm được chế biến dùng để ăn,

uống ngay Trong thực tế, người ta thường bày bán rong trên đường phố, nơi công cộng Thực phẩm có nguy cơ cao là thực phẩm có nhiều khả năng bị các tác nhân sinh học, lý học xâm nhập gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Phụ gia thực phẩm là chất được chủ định đưa vào thực phẩm trong quá trình sản xuất, có hoặc không có giá trị dinh dưỡng nhằm giữ hoặc cải thiện đặc tính của thực phẩm Chất hỗ trợ chế biến thực phẩm là chất được chủ định

sử dụng trong quá trình chế biến nguyên liệu thực phẩm hay các thành phần của thực phẩm nhằm thực hiện mục đích công nghệ, có thể được tách ra hoặc còn lại trong thực phẩm

Khái niệm “an toàn thực phẩm”

Trên thế giới, khái niệm “an toàn thực phẩm” có nhiều cách định nghĩa khác nhau Theo định nghĩa của tổ chức Nông – lương thế giới (FAO) và tổ

Trang 39

chức Y tế thế giới (WHO) thì “ An toàn thực phẩm là việc đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chưa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật

bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng”

Theo đó, thực phẩm an toàn là sự chắc chắn rằng thực phẩm sẽ không nguy hiểm đến người tiêu dùng khi thực phẩm đó được chế biến hoặc sử dụng

Cơ quan Dịch vụ y tế nhân đạo Mỹ lại định nghĩa về ATTP như sau: “ATTP

đề cập tới các điều kiện và hành động để bảo đảm chất lượng thực phẩm nhằm ngăn chặn các bệnh về tiêu hóa và ngộ độc thực phẩm”

Trường Đại học University of Rhode Island Cooperative Extension đưa

ra khái niệm như sau: ATTP là “bảo vệ nguồn cung thực phẩm khỏi các rủi ro

về vi sinh vật, hóa học và vật lý hoặc sự nhiễm bệnh có thể xảy ra trong suốt các công đoạn của quá trinh sản xuất thực phẩm và tiến hành trồng trọt, thu hoạch, chế biến, vận chuyển, chuẩn bị, phân phối và bảo quản thực phẩm.”

Khái niệm “an toàn thực phẩm” theo pháp luật của Nhật Bản được hiểu

là “điều kiện vệ sinh liên quan tới việc tiêu dùng thực phẩm của con người bao gồm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, dụng cụ chế biến và bao bì” (Khoản

6, Điều 4, Luật Vệ sinh thực phẩm Nhật Bản) Định nghĩa này có nhắc tới việc tiêu dùng thực phẩm của con người nhưng vẫn chưa nêu rõ việc đảm bảo

an toàn sức khỏe cho con người khi tiêu dùng thực phẩm Một số hạn chế khác là ATTP chỉ được định nghĩa là điều kiện vệ sinh của thực phẩm, phụ gia thực phẩm, dụng cụ chế biến và bao bì, chứ không được hiểu là các hoạt động hoặc các biện pháp bảo đảm vệ sinh cho thực phẩm

Theo điều 2, luật ATTP của Việt Nam năm 2010 quy định: “ATTP là việc đảm bảo thực phẩm không gây độc hại, vô hại và tuân thủ với các yêu cầu dinh dưỡng hợp lý, và đảm bảo thực phẩm không gây ra bất cứ mối nguy hiểm cấp tính, tạm thời hoặc kinh niên nào cho sức khỏe con người.”

Theo Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam năm 2003,

“vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo

Trang 40

thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng con người” (Khoản 2, Điều

3, Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm)

Bên cạnh đó, Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội ban hành theo nghị quyết số 55/2010/QH12 định nghĩa về an toàn thực phẩm: “An toàn thực phẩm là việc đảm bảo để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người” Cách định nghĩa mới trong Luật An toàn thực phẩm ngắn gọn hơn so với Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003, thay thế cụm từ

“vệ sinh an toàn thực phẩm” bằng cụm từ “ an toàn thực phẩm”, nhưng đã bao hàm trong đó đầy đủ các khía cạnh của khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm, dụng cụ chế biến hay bao bì, mà còn là các biện pháp cần thiết để đảm bảo thực phẩm không xảy ra các rủi ro do các loại vi khuẩn, hóa chất Tình trạng vật lý hay nhiễm bệnh gây ra trong quá trình sản xuất, chế biến nhằm đảm bảo sức khỏe, tính mạng của con người

Hiện nay, có một số cách hiểu chưa thông nhất về cụm từ ATVSTP Qua một số ít định nghĩa ở các cuốn sách, văn bản quy phạm pháp luật có quy định :“An toàn vệ sinh thực phẩm” là những điều kiện và yêu cầu bắt buộc đặt

ra để đề phòng sự ô nhiễm về sinh học, hóa học hoặc ô nhiễm từ các nguồn khác có thể gây độc, nguy hiểm tới sức khỏe con người.”

Hay “Vệ sinh thực phẩm” được hiểu là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn và phù hợp của thực phẩm ở mỗi khâu thuộc chu trình thực phẩm Cũng trong cuốn “Vệ sinh an toàn thực phẩm”, một định nghĩa khác về an toàn thực phẩm dưới góc độ khác cũng được các chuyên gia

về thực phẩm đưa ra như sau: “An toàn thực phẩm được hiểu là chất lượng thực phẩm đảm bảo rằng không gây hại cho người tiêu dùng khi nó được chuẩn bị và ăn theo mục đích sử dụng của nó” [tr.5]

Có sự khác biệt giữa hai khái niệm “an toàn thực phẩm” và “vệ sinh thực phẩm” Theo tổ chức Y tế Thế giới WHO, vệ sinh thực phẩm là các điều kiện và phương pháp đo lường cần thiết để đảm bảo sự an toàn của thực phẩm từ khâu sản xuất tới tiêu thụ Thực phẩm có thể bị ô nhiễm bất kì khâu

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w