Điều này là một sự thiếu hụt về lý luận và thực tiễn so với các nước trên thế giới và trong khu vực bởi đã từ lâu, việc hình thành các dự án trong lưu trữ trong việc thu thập thông tin t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LƯU TRỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Đào Xuân Chúc
2 TS Nguyễn Liên Hương
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
PGS.TS Đào Xuân Chúc PGS.TS Vũ Thị Phụng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Hồng Duy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án “Lưu trữ tài liệu truyền miệng qua nghiên
cứu hồi ức của các cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975” tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các cơ
quan, tổ chức và cá nhân Đặc biệt của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng là những nơi tôi đang theo học và công tác
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Đào Xuân Chúc,
TS Nguyễn Liên Hương là hai giảng viên hướng dẫn trực tiếp trong suốt quá trình thực hiện luận án
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các cơ quan, tổ chức, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã hỗ trợ tôi cả về thời gian, công việc, tinh thần trong quá trình nghiên cứu Đặc biêt là lời tri ân của cá nhân tôi với các nhân chứng là những cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 đã giúp tôi có được nhiều tư liệu quý phục vụ luận án Luận án chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các học giả và những người quan tâm tới vấn đề này
Tác giả Nguyễn Hồng Duy
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SƯU TẦM TÀI LIỆU TRUYỀN MIỆNG Ở CÁC NƯỚC 12
1.1 Nghiên cứu chung về tài liệu truyền miệng- tài liệu khẩu vấn 12
1.1.1 Định nghĩa “tài liệu” 12
1.1.2 Khái niệm “Tài liệu truyền miệng” và các thuật ngữ liên quan 14
1.1.3 Các nghiên cứu về phương pháp tạo lập và lưu trữ tài liệu truyền miệng (tài liệu khẩu vấn) 22
1.2 Tình hình nghiên cứu và hoạt động sưu tầm tài liệu truyền miệng
(tài liệu khẩu vấn) ở một số quốc gia và Việt Nam 25
1.2.1 Nghiên cứu của Hoa Kỳ 25
1.2.2 Nghiên cứu của Canada 28
1.2.3 Nghiên cứu của Anh 29
1.2.4 Nghiên cứu của Australia 31
1.2.5 Nghiên cứu của Singapore 33
1.2.6 Nghiên cứu của Việt Nam 36
1.3 Khái niệm “hồi ức” và hồi ức của các cựu chiến binh trong giai đoạn
chiến tranh Việt Nam 1954-1975 39
1.3.1 Khái niệm “Hồi ức” 39
1.3.2 Khái niệm “cựu chiến binh” 40
1.3.3 Vấn đề tái hiện hồi ức của các cựu chiến binh trong giai đoạn
Chiến tranh Việt Nam 1954-1975 41
1.4 Tiểu kết 43
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP TẠO LẬP TÀI LIỆU KHẨU VẤN - VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 45
2.1 Khái quát về phương pháp khẩu vấn trong nghiên cứu lịch sử 45
2.1.1 Định nghĩa phương pháp khẩu vấn 45
2.1.2 Ý nghĩa của phương pháp khẩu vấn đối với việc hình thành tài liệu truyền miệng trong lưu trữ 47
2.1.3 Yêu cầu tạo lập tài liệu khẩu vấn 48
2.1.4 Nội dung cơ bản của phương pháp khẩu vấn 49
2.2 Vận dụng phương pháp khẩu vấn trong nghiên cứu về hồi ức của các
cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 59
2.2.1 Đối tượng phỏng vấn 60
2.2.2 Bảng hỏi 60
Trang 62.2.3 Tiến hành phỏng vấn 63
2.2.4 Gỡ băng 64
2.3 Giá trị tài liệu từ phương pháp khẩu vấn trong luận án 65
2.4 Tiểu kết 73
Chương 3 TÀI LIỆU KHẨU VẤN TỪ HỒI ỨC CỦA CÁC CỰU CHIẾN BINH TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975 75
3.1 Khái quát Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 75
3.2 Hồi ức cựu chiến binh tham chiến trong giai đoạn 1954-1975 79
3.2.1 Hồi ức về giai đoạn nhập ngũ 81
3.2.2 Hồi ức về những trận đánh 87
3.2.3 Hồi ức về những kỷ niệm vui, buồn trong chiến tranh 92
3.2.4 Động lực của người lính 97
3.2.5 Ký ức ngày thống nhất đất nước 99
3.3 Phê phán sử liệu đối với tài liệu khẩu vấn từ các hồi ức của các cựu chiến binh 100
3.4 Tiểu kết 104
Chương 4 GIẢI PHÁP LƯU TRỮ TÀI LIỆU KHẨU VẤN TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HIỆN NAY 107
4.1 Kinh nghiệm lưu trữ và phát huy tài liệu khẩu vấn của nước ngoài 107
4.1.1 Tổ chức khoa học các bộ sưu tập tài liệu khẩu vấn 107
4.1.2 Bảo quản tài liệu khẩu vấn 113
4.1.3 Xây dựng công cụ tra cứu 116
4.1.4 Phục vụ khai thác sử dụng và phát huy giá trị tài liệu khẩu vấn 119
4.2 Các vấn đề đặt ra cho lưu trữ tài liệu khẩu vấn ở Việt Nam 125
4.2.1 Các vấn đề đặt ra cho lý luận khoa học lưu trữ 125
4.2.2 Các vấn đề đặt ra cho thực tiễn công tác lưu trữ 131
4.2.3 Vấn đề đặt ra cho pháp lý về lưu trữ 135
4.3 Một số giải pháp thực hiện lưu trữ tài liệu khẩu vấn đối với Việt Nam 140
4.3.1 Giải pháp chung cho công tác lưu trữ 140
4.3.2 Các giải pháp cụ thể về nghiệp vụ đối với lưu trữ tài liệu khẩu vấn 143
4.4 Tiểu kết 150
KẾT LUẬN 152
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 156
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tài liệu truyền miệng được coi là một trong những nguồn sử liệu quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử Đó là việc lưu giữ lại những thông tin thông qua việc truyền khẩu từ người này qua người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Giá trị của chúng không chỉ dừng lại ở việc góp phần phục dựng lại những sự kiện trong quá khứ mà còn là biểu hiện cho sự thay đổi về nhận thức của con người trước sự biến chuyển của tự nhiên và xã hội Ở thời kỳ nào cũng vậy, chúng
có vị trí nhất định trong việc hình thành và duy trì bản sắc của từng cộng đồng người và ngay cả ở thế kỷ 21, khi công nghệ thông tin đã làm cho những giới hạn
về không gian bị mờ đi thì một xã hội thông tin vẫn luôn tồn tại những di sản của tài liệu truyền miệng, đặc biệt trong việc xem xét những trường hợp trải nghiệm
cụ thể của các nhân chứng Với sự giúp sức của công nghệ, thông tin từ những cuộc phỏng vấn nhân chứng lịch sử có thể được thu thập, lưu giữ và bảo quản bằng các thiết bị điện tử, việc đánh giá giá trị sử liệu của chúng vì thế cũng được thuận lợi hơn Tuy nhiên, đây còn là một vấn đề mới, đặc biệt với lưu trữ học Hiện các nghiên cứu về sử liệu từ các ghi chép hồi ức của các nhân chứng ở nước
ta dưới góc độ như là một tài liệu lưu trữ còn hết sức hạn chế Điều này là một sự thiếu hụt về lý luận và thực tiễn so với các nước trên thế giới và trong khu vực bởi
đã từ lâu, việc hình thành các dự án trong lưu trữ trong việc thu thập thông tin từ việc ghi lại hồi ức của các nhân chứng đã trở thành một trong những mảng quan trọng của các lưu trữ nhằm tái hiện lịch sử từ những dữ liệu truyền khẩu mang tính
cá nhân nhưng vẫn có tính chính xác và giá trị khác biệt ở một mức độ nào đó Nhất là trong bối cảnh sự đa dạng của các nguồn tin luôn kèm theo tính phức tạp trong việc thẩm định tính chính xác thì thời gian cũng không cho phép chúng ta chậm trễ hơn trong việc tiếp cận thông tin từ phía các nhân chứng bằng cách này hay cách khác Chính vì vậy, tiến hành phỏng vấn để ghi lại hồi ức của nhân chứnglà một trong những phương pháp mà lưu trữ cần thực hiện để bù đắp những thiếu hụt này trong nghiên cứu, cũng như tạo ra được các tài liệu có giá trị để bảo quản trong các phòng, kho lưu trữ phục vụ cho những nhu cầu các nhau
Trang 8Chiến tranh Việt Nam từ 1954-1975 là một trong những giai đoạn lịch sử nhiều biến động với dân tộc Việt Nam Chiến tranh đã kết thúc hơn 40 năm nhưng những di chứng của nó để lại cũng như nhiều vấn đề của lịch sử còn đặt ra cho đến ngày nay cần được lý giải một cách thấu đáo Bên cạnh các công trình nghiên cứu công phu của các nhà sử học thì trách nhiệm của ngành lưu trữ cũng không nhỏ khi phải lưu giữ và bảo quản các minh chứng có giá trị liên quan tới cuộc chiến Trong đó, hồi ức của các nhân chứng đã từng tham gia chiến đấu trên chiến trường là một trong những nguồn tư liệu cần được xem xét một cách đúng mức Điều này không chỉ góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu cho lưu trữ mà xét về mặt lý luận cũng là sự bổ sung cần thiết trong xu thế phát triển chung của lưu trữ học ngày nay
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Lưu trữ tài liệu
truyền miệng qua nghiên cứu hồi ức của các cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975” làm hướng nghiên cứu cho luận án tiến
sỹ của mình Qua thực tiễn tìm hiểu của cá nhân tôi thì đây là một đề tài hoàn toàn mới trong nghiên cứu về lưu trữ học ở Việt Nam Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể sẽ tạo ra những cơ sở ban đầu cho việc hiện thực hóa những dự án về tài liệu truyền miệng trong thực tế
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tôi tập trung vào các mục tiêu chính sau đây:
- Đánh giá được vị trí, tầm quan trọng và giá trị lưu trữ của tài liệu truyền miệng được hình thành từ việc ghi lại hồi ức của các nhân chứng lịch sử mà cụ thể ở đây là của các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-
1975 Đây được coi là mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất trên cơ sở tích hợp các kết quả nghiên cứu từ nước ngoài cũng như khảo sát thực tế từ những phỏng vấn trực tiếp một số nhân chứng được lựa chọn Mặt khác, luận án không đi sâu vào việc tìm kiếm và lý giải các vấn đề của lịch sử mà muốn qua việc tiếp cận các nhân chứng, các dữ liệu từ những hồi ức cá nhân về cuộc chiến để chứng minh rằng chúng là những nguồn tài liệu có giá trị, cần được thực hiện thu thập nhằm
Trang 9cung cấp các cơ sở dữ liệu cho các mục tiêu nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là đối với lưu trữ học và nghiên cứu lịch sử
- Nghiên cứu và xây dựng lý thuyết cơ bản cho phương pháp khoa học trong việc tạo lập, thu thập và lưu trữ tài liệu truyền miệng như một nguồn tài liệu sưu tập vào các lưu trữ Đây được coi là mục tiêu cần thiết trong bối cảnh chúng ta còn chưa có nhiều các nghiên cứu về vấn đề này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Luận giải về nội hàm của khái niệm “tài liệu truyền miệng” với các đặc trưng cơ bản của chúng Trong đó cần xem xét các khía cạnh về nội dung cũng như hình thức tài liệu để làm rõ đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Vận dụng các phương pháp nghiên cứu để định hình rõ giá trị của tài liệu truyền miệng trong mối tương quan với các tài liệu khác trong lưu trữ Từ đó làm
rõ sự cần thiết phải tiến hành bổ sung các tài liệu này trong các lưu trữ ở Việt Nam hiện nay
- Tìm hiểu về phương pháp tạo lập tài liệu truyền miệng trong lưu trữ với những nguyên tắc cơ bản thông qua việc tiến hành nghiên cứu thực nghiệm từ việc sưu tầm hồi ức của các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Qua đó, đề tài định hình được rõ những yêu cầu đối với việc triển khai sưu tầm các tài liệu này trong lưu trữ ở nước ta hiện nay, đặc biệt là các vấn
đề về pháp lý, bản quyền
- Luận án có nhiệm vụ quan trọng trong việc xác định rõ những vấn đề đặt
ra về lý luận cũng như thực tiễn đối với công tác lưu trữ nếu thừa nhận tài liệu truyền miệng như một đối tượng cần bổ sung như các tài liệu khác Từ đó chỉ rõ những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện lý luận công tác lưu trữ
- Thực hiện luận án, tác giả có trách nhiệm trong việc đề xuất các giải pháp không chỉ với các cơ quan quản lý, các phòng kho lưu trữ còn có những đóng góp thiết thực cho công tác đào tạo về lưu trữ mà nhất là tại nơi tác giả đang công tác
Trang 103 Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận, thực hiện tốt các mục tiêu trên là cơ sở để bổ sung các khoảng trống trong nghiên cứu trong lưu trữ về tài liệu truyền miệng ở nước ta hiện nay Tuy mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu song nếu thành công, đề tài
sẽ là cơ sở quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo để hoàn thiện hơn lý luận
về lưu trữ của Việt Nam
- Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng như một tài liệu phục vụ cho việc tiến hành sưu tập tài liệu khẩu vấn của các cơ quan lưu trữ trong thời gian tới Từ đó có những bước đi cụ thể để hoạt động này được diễn ra một cách bài bản và có hệ thống như đối với các tài liệu truyền thống khác Bên cạnh đó, các vấn đề lý luận trong luận án có thể được sử dụng trong việc bổ sung nội dung giảng dạy về lưu trữ học ở một số cơ sở đào tạo
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Là một vấn đề nghiên cứu mới trong lưu trữ học, có nhiều vấn đề đặt ra cho tác giả cần giải đáp trong quá trình nghiên cứu:
- Câu hỏi thứ nhất: Tài liệu khẩu vấn được hình thành qua phỏng vấn nhân chứng lịch sử (lịch sử qua lời kể) có phải là một loại hình tài liệu truyền miệng? Đây là một vấn đề cần phải làm rõ bởi có sự khác biệt nhất định trong cách tư duy về tài liệu truyền miệng dưới góc độ sử liệu của Việt Nam và các nước trên thế giới Mặt khác, việc làm rõ khái niệm này là một trong những cơ sở khoa học quan trọng cho các bước tiếp theo của luận án
- Câu hỏi thứ hai: Tài liệu khẩu vấn có giá trị lưu trữ? Đây là điều cần được chứng minh xuyên suốt đề tài bởi nó có giá trị quyết định tới tính khoa học không chỉ của luận án mà còn liên quan tới hệ thống lý thuyết về lưu trữ nói chung
- Câu hỏi thứ 3: Hồi ức của các cựu chiến binh trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 có giá trị lưu trữ? Với nhiều vấn đề trong quá khứ đã được lịch sử ghi lại thì hồi ức của các nhân chứng sau hơn 40 năm chiến tranh kết thúc cũng là một nguồn thông tin cần có sự phê phán và đánh giá đúng mức
Trang 11về giá trị của nó trong nghiên cứu, từ đó mới định hình được vị trí của chúng trong lưu trữ
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, tôi đã đặt ra một số giả thuyết cần chứng minh sau:
- Giả thuyết thứ nhất: Tài liệu khẩu vấn là một trong những loại hình tài liệu truyền miệng có giá trị lưu trữ cần được thu thập và phát huy giá trị trong thực tiễn Đây là vấn đề cốt lõi của dự án, nếu được chứng minh sẽ tạo ra cơ sở khoa học không chỉ đối với luận án mà còn góp phần định hình một số lý thuyết mới trong lưu trữ học
- Giả thuyết thứ hai: Hồi ức của các nhân chứng là cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 có giá trị sử liệu nhất định, có thể được sử dụng vào các mục đích nghiên cứu Từ đó giúp cho việc khẳng định giá trị lưu trữ của các lài liệu được hình thành từ các cuộc phỏng vấn trực tiếp nhân chứng nhằm ghi lại các thông tin qua trải nghiệm của họ trong quá khứ
- Giả thuyết thứ 3: Tài liệu khẩu vấn đang được các lưu trữ lịch sử Việt Nam quan tâm, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển Điều này để chứng minh cho những thay đổi về nhận thức của các lưu trữ Việt Nam đối với một đối tượng tài liệu mới
Việc chứng minh sự tồn tại của hai giả thuyết nói trên có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc hiện thực hóa các mục tiêu nghiên cứu nói trên Song cũng cần nhận thấy đây cũng là những thách thức không nhỏ đối với tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện những mục tiêu trên, tôi tập trung nghiên cứu các đối tượng chính sau đây:
- Lý luận tài liệu truyền miệng, trong đó chỉ giới hạn ở loại hình tài liệu khẩu vấn (lịch sử qua lời kể),nói cách khác là loại tài liệu hình thành từ phỏng vấn và ghi lại hồi ức của các nhân chứng lịch sử Đối tượng nghiên cứu này chủ yếu được tiếp cận từ các tài liệu nước ngoài
Trang 12- Lý thuyết lưu trữ qua đó khẳng định giá trị của tài liệu khẩu vấn đối với lưu trữ học nói chung
- Nghiên cứu về hồi ức của các cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Đây là đối tượng khảo sát chính thông qua việc tiếp cận phỏng vấn các nhân chứng nhằm xem xét giá trị lưu trữ của các dữ liệu được thu thập và lưu giữ bằng các thiết bị điện tử Từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu về phương pháp tạo lập tài liệu khẩu vấn
6 Phương pháp nghiên cứu
Việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp là yếu tố quyết định tới sản phẩm của luận án Quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng chủ yếu một số phương pháp sau đây:
- Phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đây được coi là định hướng cơ bản về phương pháp luận trong nghiên cứu, đặc biệt là các đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Với đề tài liên quan nhiều tới yếu tố lịch sử, có sự nhạy cảm nhất định mang yếu tố chính trị cũng như những vấn đề thuộc cá nhân của các nhân chứng như luận án đang triển khai thì việc tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc tôn trọng hiện thực khách quan
và tư duy một cách có hệ thống, có phê phán trên một lập trường khoa học, có tính xây dựng và cầu thị là vô cùng cần thiết
Trang 13- Phương pháp luận của lưu trữ học: Để đánh giá chính xác giá trị của tài liệu khẩu vấn, tôi đã sử dụng các phương pháp luận của lưu trữ học trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc cơ bản trong việc phân định tài liệu, thu thập và xử lý thông tin Điều này giúp người nghiên cứu có xem xét một cách thấu đáo và lý giải về vai trò của các lưu trữ trong việc thực hiện các sưu tập tài liệu khẩu vấn Đồng thời có thể đưa ra được các khuyến nghị và giải pháp cho vấn đề này trong thực tiễn
- Phương pháp khẩu vấn: Đây được coi là phương pháp chính trong quá trình nghiên cứu của tác giả Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong việc tiếp cận các nhân chứng, tiến hành phỏng vấn, xử lý thông tin để tạo ra các nguồn dữ liệu có giá trị phục vụ nghiên cứu Trong quá trình tiến hành, tôi đã tiếp cận và phỏng vấn 50 nhân chứng của các sự kiện lớn nhỏ, khác nhau trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Việc sử dụng phương pháp này như thế nào sẽ được tôi trình bày chi tiết trong phần nội dung của Luận án
- Phương pháp phê phán của sử liệu học: Nếu sử dụng phương pháp lịch
sử khẩu vấn giúp tôi định hình và khởi tạo được những nguồn tài liệu nhất định thì phương pháp phê phán sử liệu là cơ sở để tác giả đánh giá một cách tương đối chính xác giá trị của chúng như một loại hình sử liệu Tuy gặp nhiều khó khăn
do những hạn chế của bản thân người nghiên cứu do sự hạn chế kiến thức về các phương pháp của sử học nhưng với nỗ lực của bản thân cũng giúp tôi phần nào
lý giải được một số vấn đề mang tính nguyên tắc
- Phương pháp hệ thống: Đây cũng là một phương pháp vô cùng quan trọng đối với tác giả trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt, việc tiếp cận với lý thuyết của các nước liên quan tới tài liệu khẩu vấn không phải lúc nào cũng hoàn toàn đồng nhất thì phương pháp hệ thống giúp người nghiên cứu có khả năng phân tích và xâu chuỗi chúng thành một tổng thể có tính biện chứng và khoa học Mặt khác, việc sử dụng phương pháp này cùng các phương pháp khác cũng giúp tôi có được khả năng hệ thống hóa các thông tin từ những chi tiết trong cuộc phỏng vấn của các nhân chứng đôi khi khá vụn vặt do những khó khăn nhất định trong trí nhớ của các nhân chứng
Trang 14- Ngoài ra, quá trình nghiên cứu tôi còn sử dụng một số phương pháp như:
so sánh, phân tích, tổng hợp, quy nạp để từ đó có thể sử dụng các kết quả khảo sát, phỏng vấn một cách tốt nhất cho việc thực hiện các mục tiêu nghiên cứu
7 Nguồn tài liệu tham khảo
Trong quá trình nghiên cứu, tôi tiếp cận một số nguồn tài liệu tham khảo sau:
- Các công trình nghiên cứu của Việt Nam về tài liệu truyền miệng như: luận án tiến sỹ, báo cáo khoa học…đang được lưu giữ tại Thư viện quốc gia, Viện Khoa học xã hội, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học quốc gia Hà Nội Nguồn tư liệu này chủ yếu cho tôi cách tiếp cận tài liệu truyền miệng như một di sản văn hóa dân gian Song cũng góp phần giúp tác giả lý giải
về nội hàm của thuật ngữ ở một góc độ nhất định;
- Nguồn tài liệu về tài liệu khẩu vấn, phương pháp lịch sử khẩu vấn từ nước ngoài, chủ yếu là các bài viết trên các trang web của các tổ chức chuyên về nghiên cứu tài liệu khẩu vấn cũng như một số bản dịch đang lưu giữ tại Trung tâm Khoa học và Công nghệ văn thư lưu trữ của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước Đây là khối tài liệu chính giúp tôi có cái nhìn tương đối có chiều sâu về hệ thống lý thuyết về loại hình tài liệu khẩu vấn cũng như phương pháp luận của nó;
- Nguồn tài liệu là các sản phẩm của một số dự án Tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III liên quan tới phỏng vấn các nhân chứng lịch sử trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn chống Pháp và chống Mỹ Các nguồn tài liệu này tuy không nhiều nhưng giúp tôi có được cách hình dung phần nào về việc triển khai dự án, song so với lý thuyết thì vẫn còn có một khoảng cách trong thực tế;
- Nguồn tài liệu là các xuất bản phẩm như: sách, phim tư liệu, ảnh về Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Nguồn tài liệu này rất đa dạng và phong phú, giúp tác giả có những thông tin tương đối đầy đủ và có hệ thống về diễn biến của cuộc chiến, qua đó làm sáng tỏ hơn nhiều nội dung khi tiến hành phỏng vấn
Nhìn chung, nguồn tài liệu phục vụ luận án là khá phong phú song tập trung chủ yếu vào hệ thống lý thuyết của nước ngoài là chính, nguồn tài liệu trong nước chủ yếu là về các sự kiện của cuộc chiến Sự phức tạp trong việc thẩm định và hệ thống hóa các tư liệu cũng là một rào cản không nhỏ đối với người nghiên cứu
Trang 158 Bố cục của luận án
Bố cục của Luận án ngoài phần Dẫn luận và kết luận, nội dung gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp tạo lập tài liệu khẩu vấn - vận dụng trong nghiên cứu
của luận án
Chương 3: Giá trị tài liệu khẩu vấn từ hồi ức của các cựu chiến binh trong chiến
tranh Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Chương 4: Giải pháp lưu trữ tài liệu khẩu vấn trong bối cảnh Việt Nam hiện nay
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SƯU TẦM
TÀI LIỆU TRUYỀN MIỆNG Ở CÁC NƯỚC
1.1 Nghiên cứu chung về tài liệu truyền miệng- tài liệu khẩu vấn
1.1.1 Định nghĩa “tài liệu”
Việc định nghĩa khái niệm “tài liệu” thường được gắn liền với các vật mang tin để ghi lại các thông tin liên quan tới các vấn đề của đời sống xã hội Nó gắn liền với sự ra đời của chữ viết Trong xã hội nô lệ, khi nhà nước đầu tiên của giai cấp chủ nô ra đời, lúc đó giai cấp chủ nô cần chữ viết để ghi chép những số liệu đơn giản đầu tiên, như thống kê số lượng nông nô, ghi sản phẩm thừa, ghi
nợ, ghi quyền sở hữu Thực ra, sự ghi chép đó đã có từ cuối thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ để ghi chép số thú săn bắt được và hoa quả dư thừa mà cả bộ lạc dùng không hết trong ngày và ghi chép các nhu cầu tính toán khác Đến khi nghề chăn nuôi và nghề trồng trọt xuất hiện thì nhu cầu ghi chép ngày càng lớn, trồng trọt xuất hiện thì nhu cầu ghi chép ngày càng lớn, vì lẽ của cải trong xã hội tăng thêm đã đưa lại sự giàu có cho xã hội, và qua đó xuất hiện một nền văn minh cổ xưa là chữ viết, sau đó tài liệu được hình thành Việc ghi chép của xã hội loài người nối tiếp vào các thời kỳ sau, phát triển cùng với sự phân ngành sản xuất trong xã hội và cải tiến kỹ thuật văn phòng Những ký tự ban đầu thưởng được thể hiện dưới dạng biểu tượng trên cát, trên vỏ, lá cây Dần dần, loài người sản xuất ra các vật mang tin mới, như thạch cao, đất nung .Hiện nay, loài người còn lưu giữ được các kho tài liệu đất nung khổng lồ tại các triền sông Lưỡng Hà vùng Trung Cận Đông Nhưng nói chung, ngoài tài liệu có vật mang tin như vậy, hiện nay hầu như các nước không còn lưu giữ được tài liệu thời kỳ nô lệ, mà phổ biến chỉ còn tài liệu thời kỳ phong kiến
Tài liệu (trong tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga ,…) đều bắt nguồn từ tiếng Latinh “documentum” có nghĩa là chứng cứ Tài liệu là dạng vật chất nhìn thấy được, hiện hữu cụ thể Qua đó tài liệu được hiểu là dạng vật chất ghi nhận thông tin
Trang 17Ở nước Nga, theo tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về thuật ngữ GOST 16487-70 “Văn thư và công tác lưu trữ Các thuật ngữ và định nghĩa”, khái niệm “tài liệu” đã được định nghĩa là “phương tiện để giữ lại các tin tức về những sự việc, sự kiện, hiện tượng của thực tiễn khách quan và hoạt động tư duy của con người”1
Trong tham luận tại Hội thảo “Quản lý tài liệu điện tử và lưu trữ tài liệu điện tử”, tác giả Nguyễn Cảnh Đương-Hoàng Văn Thanh đã đưa ra định nghĩa
“Tài liệu là đơn vị thông tin được ghi lại không phụ thuộc vào hình thức và vật mang tin”2
Tại khoản 2 Luật Lưu trữ năm 2011, tài liệu được định nghĩa: “Tài liệu
là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức,
cá nhân”
Như vậy, có thể thấy “tài liệu” được hiểu như một vật mang tin có chứa thông tin và các thông tin có trong tài liệu được mã hoá dưới dạng vật chất nhất định Hai yếu tố vật mang tin và thông tin trong tài liệu có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó nội dung của thông tin có trong tài liệu đó đóng vai trò quyết định tới giá trị của tài liệu Về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn công tác lưu trữ, người ta chia giá trị tài liệu ra làm hai nhóm chính là: Giá trị thực tiễn và giá trị lịch sử
Giá trị thực tiễn của tài liệu là khả năng phục vụ sử dụng thông tin của tài liệu cho các hoạt động hiện hành trong xã hội như: hoạt động về chính trị, quân
sự, kinh tế văn hoá, giáo dục, khoa học, kỹ thuật ở nhiều nước, giá trị thực tiễn của tài liệu được gọi là giá trị hiện hành, tức giá trị phục vụ thông tin cho các hoạt động đang diễn ra trong xã hội
Giá trị lịch sử của tài liệu là khả năng đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin tài liệu cho việc nghiên cứu quá khứ, nghiên cứu lịch sử Để xem xét đánh giá những vấn đề của xã hội đã qua, đương nhiên các nhà nghiên cứu phải sử dụng nhiều tư liệu, như khai thác thông tin trong các sách ở thư viện, đọc sách báo, hồi ký
1
Nguyễn Lệ Nhung, Vài nét về khái niệm “tài liệu”,”tài liệu điện tử”, nguồn:
http://www.archives.gov.vn/content/Lists/Tin%20nghin%20cu%20trao%20i/DispForm.aspx?ID=17 (21/9/2-15)
2 Nguyễn Cảnh Đương-Hoàng Văn Thanh, Bàn về khái niệm “Tài liệu”, “Văn bản”, “Tài liệu lưu trữ”, “Tài
liệu điện tử”, “Văn bản điện tử” và “Tài liệu lưu trữ điện tử”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quản lý tài liệu
điện tử và lưu trữ tài liệu điện tử, Bộ Nội vụ
Trang 18Như vậy chúng ta thấy rõ rằng bản chất của tài liệu chính là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của con người tạo ra Nó là nhân tố quan trọng để thúc đẩy xã hội tiến lên thông qua sự kế thừa những tri thức hay kinh nghiệm từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này, sang thế hệ khác Và con người muốn xây dựng xã hội mới phải biết tiếp thu những tri thức đã tích luỹ trong nhiều nguồn tài liệu khác nhau, áp dụng một cách sáng tạo vào thực tại
1.1.2 Khái niệm “Tài liệu truyền miệng” và các thuật ngữ liên quan
Khi nói tới “tài liệu truyền miệng” bản thân tên gọi đã cho thấy nguồn gốc hình thành thông tin được nói đến trong vật mang tin Đó là những tài liệu ghi lại các thông tin mang tính truyền khẩu Tuy nhiên, cần phân biệt rõ nội hàm của thuật ngữ “tài liệu truyền miệng” được sử dụng trong luận án bởi trong thực tiễn nghiên cứu, tài liệu truyền miệng được coi là một nguồn sử liệu quan trọng Chính vì vậy, thuật ngữ “tài liệu truyền miệng” trong luận án cần được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu Chúng tôi muốn nhận mạnh tới nội hàm thuật ngữ này
ở hai góc độ về nội dung và hình thức tạo ra tài liệu:
truyền miệng trong nghiên cứu luôn gắn liền với sử học Giáo sư Hà Văn Tấn
trong cuốn “Một số vấn đề lý luận Sử học” có viết: “lịch sử là khách quan
Sự kiện lịch sử là những sự thật được tồn tại độc lập ngoài ý thức chúng ta Nhưng sự nhận thức lịch sử lại là chủ quan Và người ta chép sử vì những
- Ghi lại những việc diễn ra trong quá khứ: con người muốn nắm bắt quá khứ, diễn đạt theo sự kiện theo từ ngữ và giải thích ý nghĩa của sự kiện, mang tính chất tương đối và chủ quan của người ghi lại bằng những câu chuyện kể
3
Hà Văn Tấn (2007), Một số vấn đề lý luận sử học, NXB Đại học Quốc gia,Hà Nội,tr13
Trang 19- Làm thành tài liệu của việc diễn ra trong quá khứ: cách làm hoặc quá trình tập hợp những sự việc diễn ra trong quá khứ thành tài liệu cũng chính là
Từ những nhận định trên, cần tiếp cận lịch sử thông qua các phương pháp ghi lại lịch sử của các sử gia Người thường được kể đến đầu tiên chính là Herodotus5 (sống vào thế kỷ V TCN), trong tác phẩm “The Histories”6 ghi nhận những lời kể, câu chuyện nào đáng tin cậy hay kém tin cậy Ông đi đến nhiều nơi
để xác minh những ghi nhận tìm ra được câu chuyện lịch sử trung thực của vùng Địa Trung Hải, trong sách của ông không có một ghi chép bình luận nào về các câu chuyện được nêu ra Theo cách này, lịch sử là câu chuyện kể và phương pháp kể lại câu chuyện được biết như phương pháp đầu tiên trong viết sử, được nhiều nhà nghiên cứu đề cao vì cho rằng sự kiện lịch sử mang tính chất khách quan nhất, trung thực nhất Hình thức nghiên cứu này đặt trọng tâm thông qua tường thuật, tức là bắt đầu với các trải nghiệm, được bộc lộ qua các câu chuyện
mà cá nhân đã từng sống và được họ kể lại Người nghiên cứu sẽ cố gắng tạo dựng các sự kiện trong quá khứ sao cho càng hoàn thiện và chính xác càng tốt
Từ góc độ “ai cũng có những câu chuyện để kể”, các nhà nghiên cứu lịch sử sẵn sàng lắng nghe tường thuật của tất cả các nhân chứng chứ không chỉ riêng những người nổi tiếng bởi việc tìm hiểu quan điểm về một sự kiện của lịch sử thì
sự đa dạng trong ký ức của nhiều đối tượng là cần thiết Nếu chúng ta không tiến hành thu thập thì một ngày nào đó chúng sẽ biến mất mãi mãi và vĩnh viễn không hiểu được vấn đề một cách toàn diện Từ phương diện này, “tài liệu
truyền miệng” có thuật ngữ phái sinh “lịch sử qua lời kể” mà trong nhiều công
trình nghiên cứu, các nhà sử học đã sử dụng
Judith Moyer trong tài liệu Step-by-step Guide to Oral History7 cho rằng:
“Lịch sử qua lời kể là việc sưu tầm một cách có hệ thống bằng chứng về trải nghiệm riêng của những người còn sống Lịch sử qua lời kể không phải là truyện
4
Trần Thị Bích Ngọc (2007), Lịch sử và phương pháp lịch sử, Tạp chí Khoa học xã hội, (số 9-10), tr 59 - 80
5 Herodotos: Nhà sử học người Hy Lạp sống ở thế kỷ 5 trước Công nguyên (Khoảng 484- 425 TCN)
6 Guy Bourde’ – Herve’ Martin (2001), Các trường phái sử học, Viện Sử học Việt Nam, Hà Nội
7Judith Moyer (revised Essay) (1999), Step-by-step Guide to Oral History
source:http://dohistory.org/on_your_own/toolkit/oralHistory.html (12/12/2016)
Trang 20kể dân gian,các câu chuyện phiếm, lời đồn đại hay tin đồn Các sử gia chuyên nghiên cứu về lịch sử qua lời kể cố gắng kiểm tra những điều họ phát hiện, phân tích chúng và đặt chúng vào một bối cảnh lịch sử chính xác Các sử gia này cũng quan tâm đến việc lưu trữ lại những kết quả phỏng vấn của họ cho những người nghiên cứu sau này sử dụng”
Trong cuốn “The oral history”, tác giả Barbara W Sommer và Mary
Kay Quinlan đã chỉ rõ “Lịch sử qua lời kể là tài liệu cấp 1 được tạo ra thông qua phỏng vấn với một nhân chứng đã từng tham gia trong một sự kiện hoặc giai đoạn lịch sử vì mục đích bảo tồn thông tin làm cơ sở phục vụ khai thác,
Còn tác giả Valerie Yow trong cuốn “Recording Oral History: A Practical Guide for Social Scientists”9
cho rằng thuật ngữ “lịch sử qua lời kể” đề cập đến
cả các cuộc phỏng vấn được ghi băng, các bản gỡ băng phỏng vấn và phương pháp nghiên cứu có liên quan tới phỏng vấn sâu
Hiệp hội nghiên cứu lịch sử qua lời kể (Oral history Association) của Hoa
Kỳ đưa ra định nghĩa: “Lịch sử qua lời kể là một lĩnh vực nghiên cứu và là một phương pháp sưu tầm, giữ gìn và giải thích những tiếng nói và ký ức của con người, những cộng đồng và những người đã tham gia vào các sự kiện đã xảy ra [events] trong quá khứ Lịch sử qua lời kể bao gồm cả tìm hiểu lịch sử xưa cũ nhất, khởi đầu bằng những thiết bị ghi âm ở thập niên 1940 và bây giờ là những
Tài liệu hướng dẫn Fundametals of Oral History của Ủy ban Lịch sử
Texas [Texas Historical Commission] cho rằng: “Lịch sử qua lời kể là sự thu thập thông tin thông qua thu âm tiếng nói về ký ức cá nhân như một tài liệu lịch
sử Lịch sử qua lời kể chứng minh lịch sử bằng những tài liệu tường thuật về các
Trang 21sự kiện trong quá khứ mà thường không được ghi chép lại thành tài liệu và nó
Một định nghĩa khác được đưa ra từ bài viết về lịch sử qua lời kể từ trang Encyclopedia.com (Trang chuyên cung cấp hơn 100 nguồn tin cậy về bách khoa
toàn thư các thuật ngữ, sự kiện…) : “Lịch sử qua lời kể là việc biên soạn các dữ liệu lịch sử thông qua các cuộc phỏng vấn, thường là ghi âm và đôi khi quay phim với những nhân chứng đã tham gia các sự kiện lớn trong lịch sử Xã hội nguyên thủy từ lâu đã dựa vào truyền miệng để bảo tồn các dữ liệu của quá khứ
2 Lịch sử qua lời kể là việc thu thập và bảo quản những dữ liệu đó
Từ các định nghĩa trên có thể nhận thấy, tài liệu truyền miệng trong nghiên cứu của luận án gắn liền với cách hiểu về lịch sử qua lời kể Song cũng cần phải phân biệt rõ giữa “lịch sử qua lời kể” với “truyền miệng dân gian” Thực tế cho thấy, khoảng cách giữa sự khác biệt của “lịch sử qua lời kể” và
“truyền miệng dân gian” rất mong manh Thuật ngữ “Lịch sử qua lời kể” đôi lúc được sử dụng như một hình thức thông thường trong việc kể lại các thông tin từ người này sang người khác về một sự kiện lịch sử,vì vậy, nhiều sử gia lại cho rằng đây là “truyền miệng dân gian” Tuy nhiên, điều này có những khía cạnh rất khác Đối với Việt Nam cũng như một số quốc gia khác, trước khi có chữ viết, lịch sử chủ yếu được hiểu qua những câu chuyện truyền khẩu Những câu chuyện giải thích về nguồn gốc dân tộc, về các nhân vật lịch sử, các sự kiện
Trang 22được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác pha lẫn huyền thoại đã tạo nên một phần bản sắc trong văn hóa của một dân tộc Ví dụ như truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu cơ, truyền thuyết về 18 đời vua Hùng, nhà nước Âu Lạc với truyền thuyết nỏ thần của An Dương Vương, truyền thuyết Thánh Gióng Tuy nhiên chúng không phải là lịch sử qua lời kể Truyền miệng dân gian là những câu chuyện được truyền qua nhiều thế hệ bằng lời nói, vượt qua giới hạn cuộc đời của một con người Ngược lại, lịch sử qua lời kể là những lời tường thuật
về những điều đã chứng kiến, những hồi tưởng về các sự kiện đã qua và những kinh nghiệm xảy ra trong quãng đời của người được phỏng vấn.Lịch sử qua lời
kể là việc tập hợp và nghiên cứu về những thông tin lịch sử về các cá nhân, gia đình, sự kiện quan trọng hay cuộc sống thường ngày được ghi lại trong các băng ghi âm, ghi hình hay việc ghi chép lại những chương trình phỏng vấn Các cuộc phỏng vấn được tiến hành với những người đã từng tham gia hoặc chứng kiến những sự kiện trong quá khứ, hoặc ký ức, nhận định của họ về sự kiện đó
và chúng được lưu giữ lại để phục vụ cho các mục đích trong tương lai Lịch sử qua lời kể cố gắng để có những thông tin từ nhiều quan điểm khác nhau và hầu hết chúng không thể được tìm thấy ở nguồn sử liệu viết Lịch sử qua lời kể cũng đề cập tới việc thu thập thông tin bằng cách này và để làm việc như một văn bản, dựa trên những dữ liệu đó và thường được bảo quản trong các lưu trữ hoặc các thư viện lớn
Trong cuốn sách “Tiếng nói của quá khứ”, Paul Thompson đã nhấn mạnh
“Khi tôi nói tới truyền miệng dân gian,chính là nói tới truyền thống quốc gia, được lưu truyền rải rác một cách chung chung bởi người dân , những gì mà mọi người -những người nông dân, dân thành thị, người già, phụ nữ , thậm chí cả trẻ
em nói và lặp lại ; là những gì bạn có thể nghe thấy khi bạn bước vào một tửu quán ở làng quê vào buổi tối; là những thứ bạn tập hợp được khi bắt chuyện cùng một người qua đường lúc rảnh rỗi, cùng nhau nói về cơn mưa, mùa , giá lương
14
Paul Thompson,The Voice of the Past, Third edition, Oxford University Press, page 25
Trang 23Nhìn dưới góc độ sử liệu học, chúng tôi cho rằng lịch sử qua lời kể có những đặc điểm nhất định như:
- Thứ nhất, lịch sử qua lời kể là phương pháp khai thác những thông tin có giá trị lịch sử nằm trong trí nhớ của người quan sát hoặc những người tham gia vào sự kiện nào đó trong quá khứ mà những tài liệu thành văn không thể đề cập tới được Nó có thể giúp các sử gia kiểm tra, thẩm định lại các thông tin lịch sử trong các tài liệu thành văn Thông qua lời kể của nhân chứng, sử gia
có thể kiểm chứng các thông tin về một sự kiện qua lời kể và so sánh, đối chiếu với các nguồn tài liệu khác.Vì vậy, nó được coi là một trong những nguồn sử liệu cơ bản xét theo tính chất của chúng
- Thứ hai, lịch sử qua lời kể có thể là kênh để đối chứng với các thông tin chính sử đã được đưa ra từ góc độ quản lý nhà nước hoặc lịch sử vĩ mô, ví dụ như đưa tiếng nói của các cá nhân, những cộng đồng bị coi là yếu thế trong
xã hội như phụ nữ, người dân tộc thiểu số, những người công nhân, những người lao động… đến công chúng
- Thứ ba, lịch sử qua lời kể là một phương pháp hỗ trợ tốt cho nghiên cứu lịch
sử vi mô Bên trong những nghiên cứu của lịch sử vi mô, lịch sử qua lời kể
có giá trị rất lớn và nó giúp cho những người nghiên cứu hiểu và phân tích những tiếng nói mà họ từng mang trách nhiệm là xây dựng lại lịch sử từ hiện đại
- Thứ tư, lịch sử qua lời kể có thể giúp cho sử gia và người đọc có một cách nhìn mới về sự kiện và con người, phát hiện thêm khía cạnh mới mà trước đây không được nghiên cứu, tìm hiểu hay do thành kiến mà có cách nhìn nhận khác
- Thứ năm, lịch sử qua lời kể làm bức tranh lịch sử thêm sinh động, tác động mạnh đến cảm xúc của người nghe và người đọc vì nó là những câu chuyện
đã thực sự xảy ra trong cuộc đời của một cá nhân Điều đó giúp ích cho việc tái hiện lịch sử và tăng thêm sự hiểu biết về các sự kiện lịch sử trong suy nghĩ của chúng ta
Trang 24Bên cạnh đó, lịch sử qua lời kể cũng có một số vấn đề cần lưu ý như:
- Thứ nhất, thông tin do những người quan sát hoặc những người tham gia cung cấp được xem như là một sử liệu trực tiếp Nhưng do ảnh hưởng của thời gian, trí nhớ của con người bị suy giảm cộng với sự nhận thức lại sau các
sự việc đã xảy ra Điều đó làm cho lịch sử qua lời kể có độ tin cậy thấp
- Thứ hai, lịch sử là những câu chuyện được diễn đạt chủ yếu bằng lời tường thuật của nhân chứng nên sự việc có thể cắt bớt hoặc thêm chi tiết làm cho sự việc có thể khác đi nhiều so với những điều đã xảy ra Điều này rất dễ hiểu vì ngay chính những người có học vấn cao cũng ít khi diễn đạt tốt và đầy đủ ý kiến mà họ muốn trình bày Thêm vào đó một số người lại không có khả năng diễn đạt bằng lời nói nên thông tin thường bị “méo” đi rất nhiều
- Thứ ba lịch sử qua lời kể chứa nhiều yếu tố chủ quan trong quan điểm và kinh nghiệm của người kể Nó không đại diện cho số đông Vì thế, những thông tin thu thập được từ cuộc phỏng vấn phải được xem xét cẩn thận khi nghiên cứu và tham khảo
Từ những nhận định trên, chúng tôi cho rằng, cách hiểu về tài liệu truyền miệng trong luận án gắn liền với cách sử dụng thuật ngữ “lịch sử qua lời kể” Cách hiểu này giúp làm rõ hơn mục đích của việc hình thành tài liệu truyền miệng trong nghiên cứu
Về phương diện hình thức tạo ra: Như đã phân tích ở trên, tài liệu truyền miệng phục vụ nghiên cứu lịch sử được hình thành từ sự thu thập và sự thu
âm tiếng nói về ký ức cá nhân như một tài liệu lịch sử thông qua hình thức phỏng vấn nhân chứng Xét ở khía cạnh nội hàm này, tài liệu truyền miệng có
thuật ngữ tương đương là “tài liệu khẩu vấn”
“Tài liệu truyền miệng” hay “tài liệu khẩu vấn” là vật mang tin chứa đựng những thông tin có được từ các cuộc phỏng vấn, ghi âm của những nhân chứng
về những thông tin trong lịch sử như các sự kiện, các nhân vật mà những người được phỏng vấn đã từng tham gia hoặc chứng kiến chúng Hầu hết các dự án
Trang 25công trình lịch sử qua lời kể đều sử dụng dạng thức ghi âm lại cuộc phỏng vấn
do đó những thông tin đó được chuyển thể thành dạng tài liệu ghi âm, sau đó tùy mục đích nghiên cứu hoặc xuất bản mà người ta chuyển thể thành tài liệu chữ viết để có thể lưu trữ hoặc phổ biến rộng trong công chúng
Theo cách định nghĩa này, tài liệu khẩu vấn cần đáp ứng được các tiêu chí như:
• Thứ nhất đó là sự nỗ lực của người nghiên cứu nhằm khai thác những lời tường thuật của các nhân chứng mà chúng có thể không được ghi chép trong các nguồn sử liệu thành văn
• Thứ hai, phương thức thực hiện đòi hỏi phải có mặt của những thiết bị mang tin như ghi âm hay sự ghi chép vì mục đích lưu trữ và làm sử liệu cho các nghiên cứu sâu
• Thứ ba, nội dung tài liệu khẩu vấn là lời tường thuật của những người còn sống về trải nghiệm của họ trong quá khứ
• Thứ tư, tài liệu truyền miệng thực chất là sản phẩm được ghi lại qua lời kể của nhân chứng Nó không phải là những câu chuyện dân gian, những chuỵện tán gẫu hay là những tin đồn
Như vậy, có thể thấy dù hiểu theo góc độ nào, tầm quan trọng của những thông tin lịch sử từ tài liệu truyền miệng nằm ở chỗ, nếu chúng ta không tiến hành thu thập một cách kịp thời thì cùng với sự già và mất đi của các nhân chứng thì những thông tin lịch sử đó cũng mãi mãi biến mất, trong khi những thông tin này sẽ không thể tìm thấy ở bất kỳ tài liệu nào khác Do đó, việc tiến hành các công trình tìm hiểu các sự kiện, nhân vật lịch sử qua lời kể rất cần thiết và phải được tiến hành ngay, cùng với những cuộc phỏng vấn là những tài liệu ghi lại những thông tin từ lời kể của nhân chứng Những di sản thông tin đó có thể trở thành những tài liệu vô giá cho hoạt động nghiên cứu Mặt khác, việc gắn các thông tin đó với vật mang tin và có những phương pháp bảo quản đồng thời nhằm khai thác sử dụng rộng rãi các thông tin lịch sử có được cần tiến hành song hành với nhau
Trang 261.1.3 Các nghiên cứu về phương pháp tạo lập và lưu trữ tài liệu truyền miệng (tài liệu khẩu vấn)
Các công trình nghiên cứu về tài liệu khẩu vấn đều ít nhiều đề cập tới phương pháp tạo lập tài liệu này trong quá trình thực hiện Các vấn đề được đưa ra trong các nghiên cứu đều cố gắng mô tả những nội dung công việc cần làm trong quá trình tiến hành thu thập tài liệu khẩu vấn Đặc biệt, những vấn đề xem xét về giá trị tài liệu khẩu vấn luôn được đặt trong mối tương quan với cách thức tạo ra
nó Bên cạnh đó, các vấn đề về pháp lý, bản quyền cũng được mô tả khá cụ thể
Kể từ giữa những năm 1960, việc nghiên cứu lịch sử đã có sự gia tăng đáng kể chủ yếu của các nhóm và cá nhân không liên quan đến giới học thuật Lịch sử truyền miệng được cho là đặc biệt hữu ích trong việc ghi chép lại lịch sử địa phương và kinh nghiệm của các nhóm thiểu số, nhóm di dân, lao động, và đa số những con người bị bỏ qua trong các nghiên cứu truyền thống Nhiều cá nhân tiến hành "lịch sử khẩu vấn"; các hiệp hội lịch sử, thư viện, trường trung học và cao đẳng cũng có các dự án lịch sử khẩu vấn
Trên cơ sở đó Edward D Ives đã viết một cuốn cẩm nang hữu ích bao gồm các chương ngắn gọn và có tính thông tin về phỏng vấn và xử lý các cuộc phỏng
vấn trong cuốn “The Tape-Recorded Interview: A Manual for Field Workers in
(Phỏng vấn ghi âm bằng băng từ: Cuốn sổ tay cho
nghiên cứu điền dã trong văn hoá dân gian và lịch sử khẩu vấn) Đặc biệt đáng giá
là đề xuất của ông rằng cuộc phỏng vấn hiệu quả nhất là một bên phỏng vấn cần ý thức tiến hành như là một phiên tòa, với việc ghi như bên thứ ba
Trong khi Ives giải quyết các vấn đề và tiềm năng của cuộc phỏng vấn ghi băng, Allen và Montell mở rộng phạm vi quan tâm của họ bao gồm bất kỳ dấu
hiệu truyền khẩu nào, dù là có ghi âm hay không Từ bộ nhớ đến lịch sửlà một
lý do cho việc thu thập "lịch sử truyền khẩu được ghi lại" ở cấp địa phương, kèm theo những gợi ý để xác định và phân tích các thông tin thu thập được Ngay từ
15
Ives, Edward D (1980), The Tape-Recorded Interview: A Manual for Field Workers in Folklore and Oral History Knoxville: University of Tennessee Press
Trang 27trang ba, các tác giả đã nói rõ rằng chúng thực sự có ý nghĩa khi họ đề cập đến lịch truyền khẩu được ghi lại
Trong cuốn “Oral History for the Local Historical Society” 16 (lịch sử
khẩu vấn cho cộng đồng lịch sử địa phương) của tác giả Willa K Baum hướng dẫn độc giả của mình tiến hành qua các bước: lập kế hoạch dự án lịch sử truyền miệng, liên hệ và phỏng vấn nhân chứng, xử lý băng, và bảo quản tất cả các tài liệu cho nghiên cứu Tác giả trao đổi các vấn đề liên quan tới pháp lý, đưa ra những dẫn chứng về các tài liệu cần có Bà đề xuất các khả năng sử dụng tối ưu tài liệu và thư mục được lựa chọn để phục vụ cho việc tiến hành Hầu hết, tác giả tập trung vào cuộc phỏng vấn là chủ yếu vì lịch sử truyền khẩu bắt nguồn từ hành động ghi âm cuộc phỏng vấn với nhân chứng cùng câu chuyện của họ Đối với những người mới bắt đầu thực hiện nên đọc kỹ phần này trước khi phỏng vấn Lịch sử khẩu vấn cũng như trong các lĩnh vực khác không phải lúc nào cũng theo kịp với những thay đổi công nghệ Một số vấn đề trao đổi liên quan tới thiết
bị có thể đã lỗi thời nhưng những lời khuyên cơ bản về cách sử dụng thiết bị trong tình huống phỏng vấn vẫn còn giá trị đối với người thực hiện
Trong cuốn “Using Oral History in Community History Projects” (Sử
dụng lịch sử khẩu vấn trong cá dự án lịch sử cộng đồng) của Laurie Mercier and Madeline Buckendorf đã đưa ra những gợi ý cụ thể cho việc lập kế hoạch, tổ chức
và thực hiện lịch sử khẩu vấn trong môi trường cộng đồng Cung cấp hướng dẫn từng bước về lập kế hoạch dự án và thiết lập các mục tiêu của dự án với các đề xuất để xác định các nguồn lực và đảm bảo nguồn tài chính Ngoài ra, Mercier vạch ra một số vấn đề quan trọng như sự tham gia của cộng đồng, các vấn đề tài trợ, cam kết thời gian và nhiều hơn nữa Cuốn sách có giá trị tham khảo nhất định đối với các dự án tài liệu khẩu vấn trong nghiên cứu lịch sử địa phương
Không chỉ là một phương thức thu thập thông tin về quá khứ, lịch sử khẩu vấn đã trở thành một trào lưu mang tính quốc tế Các nhà sử học, văn hóa dân
16
Willa K Baum (1989),Oral History for the Local Historical Society,Indiana Magazine of History, Volume
85, Issue 2, pp 189-190
Trang 28gian,và các nhóm nghiên cứu và tôn giáo khác nhận ra tầm quan trọng của việc giữ lại hồi ức của người dân về quá khứ Những kỷ niệm được ghi lại của dân gian nổi tiếng và phổ biến,bổ sung quan trọng cho lịch sử trong sách giáo khoa, đưa quá khứ vào cuộc sống thông qua những câu chuyện của những người đã trải nghiệm qua nó
Cuốn sách “Oral History: A Guide for Teachers (and Others)”17 (lịch sử khẩu vấn: hướng dẫn cho những giáo viên và những người khác) của Sitton, Thad, George L Mehaffy, and O.L Davis, J được thiết kế để giới thiệu giáo viên, học sinh, và cá nhân quan tâm đến các kỹ thuật, vấn đề và kích thích niềm vui thu thập lịch sử truyền miệng Tác giả là các nhà giáo dục giàu kinh nghiệm, kiểm tra việc sử dụng lịch sử khẩu vấn trong lớp học, xem xét một loạt các dự án
đã được xây dựng và tập trung vào những người đã thành công nhất
Bên cạnh việc đề xuất nhiều dự án có thể, họ thảo luận về những phương tiện cần thiết và cách sử dụng chúng như: thiết bị ghi chép và thủ tục hành chính, bảng phỏng vấn và nghiên cứu ban đầu, các bức ảnh và ghi chép trong lĩnh vực này, sao chép và lưu trữ thông tin, các biểu mẫu pháp lý và nhiều hơn nữa Đối với giáo viên, các tác giả đưa ra lời khuyên hữu ích về đào tạo sinh viên để trở thành những người phỏng vấn nhạy bén trong cả hai tình huống chính thức và không chính thức
Làm thế nào có thể lịch sử miệng thu thập trong lớp học được đưa vào sử dụng? Các tác giả thảo luận về việc sử dụng chúng trong chương trình giảng dạy; trong các dự án như lưu trữ lịch sử truyền miệng, các ấn phẩm như tạp
chí Foxfire (tạp chí của sinh viên) phổ biến và các sản phẩm truyền thông
khác; và trong việc nghiên cứu những vấn đề hiện tại của cộng đồng Các phụ lục hữu ích cung cấp nhiều công cụ tham khảo cho nhà sử học và mô tả chi tiết
về cách một tạp chí chính thức về Foxfire có thể được phát triển
17
Sitton, Thad, George L Mehaffy, and O.L Davis, Jr (1983), Oral History: A Guide for Teachers (and Others) Austin: University of Austin Press
Trang 291.2 Tình hình nghiên cứu và hoạt động sưu tầm tài liệu truyền miệng (tài liệu khẩu vấn) ở một số quốc gia và Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu của Hoa Kỳ
Nước Mỹ là một trong những cái nôi đầu tiên của nghiên cứu về lịch sử truyền miệng, với sự ra đời của Trung tâm Lịch sử truyền miệng (The Colombia Center for Oral History) trong Đại học Columbia năm 1948 Chính vì sự xuất hiện tương đối sớm của Trung tâm nên hệ thống lý thuyết về lịch sử truyền miệng và lưu trữ tài liệu cũng đã hình thành ngay sau đó Cho tới bây giờ, hệ thống lý thuyết đó đã tương đối hoàn chỉnh, mà các nước trên thế giới có thể tham khảo và học tập được
Bắt đầu từ giữa những năm 1950, các nhà sử học đẩy mạnh việc đưa tài liệu truyền miệng vào các bộ sưu tập, giữa thư viện và lưu trữ đã hợp tác trong lĩnh vực này với một số thành công nhất định Vào cuối những năm 1960 và
1970, lịch sử truyền miệng trở thành một phương tiện phổ biến rộng rãi để nghiên cứu "lịch sử vi mô”, đó như là một phương thức lưu trữ tài liệu để bổ sung hồ sơ của nhân vật lịch sử
Hiệp hội lịch sử truyền miệng OHA (Oral History Association) được thành lập năm 1967, tập trung vào việc sử dụng lưu trữ tài liệu truyền miệng để xây dựng nên bộ sưu tập chứ không chỉ là những tài liệu phản ánh lịch sử một cách riêng lẻ Mặt khác, nghiên cứu về cách chúng có thể được sử dụng như một phương thức mới trong nghiên cứu lịch sử Bộ sưu tập lưu trữ như Lila Goff, James Fogerty, James Mink, và William Moss là ví dụ dẫn đầu trong các bộ sưu tập của OHA và trong xã hội Mỹ
Năm 1969, Hiệp hội lưu trữ Hoa kỳ SAA (Society of American Archivists) thành lập một ủy ban lịch sử truyền miệng bắt buộc để làm rõ điểm quan tâm chung trong việc lưu trữ và lịch sử truyền miệng như bản thảo, các băng tài liệu truyền miệng hay bản ghi chép “Có một số lượng lớn các thành viên của SAA (khoảng 20%) có liên quan tới lịch sử truyền miệng Chỉ có khoảng 20% trong số đó là người phỏng vấn, phần lớn số còn lại là các giám đốc của những dự án lớn mà ở đó tài liệu khẩu vấn là một phần, hoặc họ là những
Trang 30nhà quản lý lưu trữ chịu trách nhiệm trong việc nghiên cứu sử dụng các băng và bản dịch Hơn 70% các dự án đã trả lời cho một nghiên cứu được tiến hành từ
1966 Hầu hết (73%) tin rằng lịch sử truyền miệng nên được xem như là một đối tượng của hoạt động lưu trữ thường xuyên (tức là những người tham gia vào lịch
sử truyền miệng nên tự coi mình là nhân viên lưu trữ chuyên nghiệp.) 72% cho rằng các cuộc phỏng vấn của họ không được các nhà nghiên cứu xem xét một cách tốt nhất có thể"18
Các tài liệu truyền miệng đã xuất hiện trong thư viện và lưu trữ trong những năm 1960, những năm 1970, và nhiều hơn cả trong những năm 1980 Các nhà nghiên cứu tranh luận về giá trị của cuộc phỏng vấn lịch sử truyền miệng, sự phù hợp của khả năng sáng tạo trong cuộc phỏng vấn lịch sử truyền miệng của nhân viên lưu trữ, cũng như thủ tục và sử dụng các tài liệu đó như thế nào Họ cũng phân tích những tác động của phong trào lịch sử xã hội mới của năm 1970 cho các chiến lược tài liệu lưu trữ, nhấn mạnh sự cần thiết của lịch sử truyền miệng để lấp đầy" khoảng trống trong nghiên cứu
Trong The Oral History Reader 19 cho thấy lịch sử truyền miệng đã có một tác động đáng kể vào các phương pháp nghiên cứu lịch sử nửa sau của thế kỷ XX
Nó đã “dân chủ hóa” việc nghiên cứu quá khứ bằng cách ghi lại những kinh
nghiệm của những người đã được "giấu từ lịch sử” Oral History Reader, do
Robert Perks và Alistair Thomson tổng hợp, là một tuyển tập các các nghiên cứu quốc tế quan trọng về lý thuyết,phương pháp và cách sử dụng lịch sử truyền miệng Bộ tuyển tập này nghiên cứu lịch sử truyền miệng cũng đã tạo ra những thách thức với các phương pháp nghiên cứu lịch sử, đồng thời tạo ra sự phát triển bùng nổ và các cuộc tranh luận trong giới nghiên cứu Các nội dung được sắp xếp
theo chuyên đề, Oral History Reader, trình bày chi tiết lý thuyết và thực hành của
lịch sử truyền miệng, từ việc tạo ra các bằng chứng bằng phương pháp khẩu vấn
18 Committee on Oral history of the Society of American Archivists (1973), Oral History and Archivists:
Some Questions to Ask, source: http://americanarchivist.org/doi/pdf/10.17723/aarc.36.3.244u5541t8h2066q
(12/9/2015)
19Robert Perks and Alistair Thomson (1998), The oral history reader, source:
http://eclass.uth.gr/eclass/modules/document/file.php/SEAD240/arthra/Perks%20Thomson%20The_Oral_Hi story_Reader.pdf (29/10/2015)
Trang 31thông qua phân tích dữ liệu Bộ sưu tập này bao gồm các cuộc tranh luận chính trong giai đoạn phát triển về sau của lịch sử truyền miệng bao gồm: những vấn đề phỏng vấn, các vấn đề về đạo đức, pháp lý, phân tích sâu để giải thích những hồi
ức, những mối quan tâm của lưu trữ và xuất bản ấn phẩm lịch sử
Trong bài viết Filling the Gap: Oral History in the Archives Fogerty 20trên tạp chí American Archivist số 2/1983, Bruce Bruemmer nhắc lại rằng "bản chất của tài liệu hiện đại đòi hỏi lịch sử qua lời kể như là một thành phần của nghiên cứu lịch sử "vì nó có thể điền vào những khoảng trống và là một móc nối tốt với các nguồn tài liệu trước đó” Nếu không có cuộc phỏng vấn được thực hiện đúng cách, các tài liệu của một chính trị gia hoặc nhà kinh doanh có thể thiếu những quan điểm có ý nghĩa mà thường chúng không xuất hiện trên giấy
tờ Khẩu vấn trong lịch sử truyền miệng có thể tài liệu hóa các sự kiện hiện tại theo cách mà lưu trữ truyền thống không thể làm
Năm 2003, trong bài viết “Oral History in the Archives: Its Documentary Role in the Twenty-first Century”21 ( lịch sử qua lời kể trong lưu trữ: vai trò của tài liệu truyền miệng trong thế kỷ 21) trên tạp chí The American Archivist, Ellen
D Swain đã nhấn mạnh “Trong khi nhiều nhà lưu trữ và thư viện đã nghiên cứu tiềm năng của tài liệu truyền miệng thì nhiều người khác đã đặt câu hỏi về sự phụ thuộc trí nhớ có thể bị lỗi và chủ quan người được phỏng vấn Vì thế , xem xét vai trò của các nhà lưu trữ như người phụ trách các bộ sưu tập hoặc người sáng tạo của các hồ sơ, một vấn đề đã phát sinh trong những năm gần đây, và là trung tâm của tranh luận về lịch sử truyền miệng” Bài báo lập luận rằng sự
đóng góp lịch sử truyền miệng và tác động trong thế kỷ XXI sẽ phụ thuộc vào nhà lưu trữ và thư viện 'khả năng và sẵn sàng làm việc với nhau, phối hợp với những nguyên tắc nhất định,tạo tài liệu và cung cấp di sản tài liệu truyền miệng trong thời đại kỹ thuật số
Trang 32Như vậy, đánh giá tổng quát thì hệ thống lý thuyết của Mỹ về lưu trữ tài liệu truyền miệng đã đề cập tới các phương pháp liên quan tới việc khởi tạo, lưu trữ chúng và được xem xét từ nhiều góc độ (pháp lý, bản quyền, các nguyên tắc
sử dụng) cũng như dự báo các chiều hướng phát triển của chúng trong tương lai Các nghiên cứu này ncó thể coi là nền tảng ban đầu cho nhiều nghiên cứu của các quốc gia khác
1.2.2 Nghiên cứu của Canada
Tại Canada, Hiệp hội lịch sử truyền miệng(COHA) đã thiết lập diễn đàn
“d'histoire orale”22 Diễn đàn đã được phổ biến ở định dạng xuất bản phẩm từ năm 1975 đến năm 2006 Từ năm 2007, nó đã được xuất bản như một tạp chí trực tuyến Kể từ năm 2010, nó đã được công bố bởi Athabasca University Press Diễn đàn và trang web này phổ biến các thông tin về tất cả các khía cạnh của lịch
sử truyền miệng và cố gắng đẩy mạnh nghiên cứu về chất lượng cũng như khuyến khích nâng cao tiêu chuẩn cho việc xây dựng, bảo quản và sử dụng tài liệu lịch sử truyền miệng Hiệp hội cũng tài trợ cho các hội nghị quốc gia để giúp các hội viên trao đổi thông tin và kinh nghiệm, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử truyền miệng trong các khu vực khác nhau của Canada
Là một tổ chức phi lợi nhuận, COHA được thành lập để:
Khuyến khích và hỗ trợ việc tạo và bảo tồn các bản ghi âm có tài liệu về lịch sử và văn hóa của Canada
Phát triển các tiêu chuẩn xuất sắc và tăng thẩm quyền trong lĩnh vực lịch
sử truyền miệng thông qua nghiên cứu, giáo dục và nghiên cứu
Làm việc và hỗ trợ bất cứ tổ chức khác hoặc tổ chức có mục tiêu phù hợp với những thành viên của hiệp hội
Khi khả năng cho việc sử dụng băng từ như một bằng chứng tin cậy, càng nhiều người bắt đầu sử dụng máy ghi âm băng từ trong nghiên cứu lịch sử và các lĩnh vực khác Tuy vậy, ít người có nhiều hiểu biết về các công nghệ liên quan hoặc những vấn đề phát sinh trong vô số phỏng vấn và tình huống ghi âm Thiếu
22
http://canoha.ca/about/ (01/11/2015)
Trang 33liên lạc khiến một số cá nhân và các nhóm phải nhân đôi nỗ lực Hơn nữa, kết quả hiển thị một sự thay đổi lớn về chất lượng cả về âm thanh và nội dung Việc bảo quản các bản ghi âm cũng yêu cầu các thủ tục lưu trữ mới, loại mới của việc tìm kiếm sự trợ giúp, một cách giải thích mới về quyền tác giả, và một bộ đạo đức để chi phối việc thực hành và sử dụng lịch sử truyền miệng Vì thế The Canadian Association Oral History (COHA) được thành lập để giúp các cá nhân khác nhau và các nhóm người bày tỏ sự quan tâm trong lịch sử truyền miệng và
để đối phó với những vấn đề này bằng cách cung cấp hoán đổi thông tin và liên kết giữa các dự án đang được tiến hành trên khắp Canada
1.2.3 Nghiên cứu của Anh
Kể từ những năm 1970 lịch sử khẩu vấn ở Anh đã phát triển từ một phương pháp trong các nghiên cứu văn hoá dân gian để trở thành một thành phần quan trọng trong lịch sử cộng đồng Tài liệu khẩu vấn tiếp tục là một phương tiện quan trọng mà ngay cả các nghiên cứu viên không phải là những học giả cũng có thể tham gia vào việc "tạo ra lịch sử" Tuy nhiên, những người làm chuyên môn trên nhiều lĩnh vực học thuật cũng đã phát triển phương pháp này thành một cách để ghi lại, nghiên cứu và lưu trữ những hồi ức được kể lại ở lĩnh vực của mình
Vào năm 1969, một cuộc họp không chính thức ở Viện Ghi âm của Anh BIRS (The British Institute of Recorded Sound) đã quyết định việc thành lập một
ủy ban vào năm 1973 có tên là Hiệp Hội Lịch sử khẩu vấn (The Oral History Society)
Các nhà sử học và nhà lưu trữ quan tâm đến các vấn đề của lịch sử địa phương có thể đã có những tuyên bố sớm nhất về lịch sử khẩu vấn trong thế kỷ
20 Điều này được ghi nhận trong một ấn phẩm “Nhà sử học không chuyên” năm
1957, ví dụ như "việc thu thập thông tin từ người già không có trong sách giáo khoa, nhưng nó là một quá trình thiết yếu trong việc biên soạn lịch sử địa phương"
Một ảnh hưởng quan trọng khác trong việc làm lịch sử khẩu vấn là từ những người quan tâm đến việc sưu tầm các truyền thống đã không còn ở những
Trang 34vùng nông thôn Trong những năm 1950, Trường Nghiên cứu Xcốt-len tại Đại học Edinburgh và Bảo tàng Dân gian Welsh đãthành lập các chương trình ghi
âm Một đặc điểm phổ biến của những bộ sưu tập 'cuộc sống dân gian' ban đầu này là ghi chép các nhóm thiểu số, như những người nói tiếng Gaelic Trong khi Eric Cregeen đã chứng tỏ một hình ảnh đầy cảm hứng ở Scotland, ở Anh đó là tác phẩm của George Ewart Evans cung cấp một đóng góp quan trọng và lâu dài.Ngoài các nghiên cứu văn học dân gian, có một số sáng kiến quan tâm đến các khía cạnh ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói, bao gồm cả Trường Anh ngữ tại Đại học Leeds và Trung tâm Truyền thống Văn hoá Anh tại Sheffield Sự phát triển của lịch sử khẩu vấn vào cuối những năm 1960 đã thu hút được nhiều lợi ích đáng kể Các nhà nghiên cứu xã hội học, các lưu trữ viên và phát thanh viên, cũng như nhân viên bảo tàng và thư viện, đã trở nên quan tâm đến việc sử dụng tiềm năng của lịch sử khẩu vấn Sự đa dạng này được phản ánh trong sự phát triển của Hiệp hội Lịch sử Khẩu vấn vào đầu những năm 1970
Trong vòng 20 năm, với số lượng ngày càng tăng của các nghiên cứu viên
đã giúp phát triển một loạt các chủ đề mới bao gồm lịch sử nghệ thuật, khoa học, quyền sử dụng đất, kinh doanh và thậm chí thiết kế sân vườn Bị ảnh hưởng bởi
sự phát triển của lịch sử phụ nữ , đặc biệt là những năm 1970 và 1980, các nhà
sử học tại Anh cũng bắt đầu khám phá cấu trúc lịch sử và các đặc tính Vì vậy, vào những năm 1990, các nhà sử học đã từng tham gia vào nghiên cứu lịch sử người da màu và dân tộc thiểu số , đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính, chuyển đổi giới tính và lịch sử y khoa
Hội Lịch sử khẩu vấn, thông qua các hoạt động của nó, tiếp tục nhấn mạnh tới sự ảnh hưởng rộng rãi từ các vấn đề riêng tư của cá nhân Mặc dù điều này đã dẫn đến những điểm căng thẳng giữa các nhà sử học và cộng đồng các nhà nghiên cứu về tài liệu khẩu vấn, Hiệp hội vẫn duy trì cam kết về tính phổ quát và từ chối sự giới hạn ở một phạm vi hẹp Trên hết tất cả, Hiệp hội cũng tiếp tục khuyến khích mọi người tham gia vào việc đưa ra lịch sử thông qua sử dụng tài liệu khẩu vấn
Trang 351.2.4 Nghiên cứu của Australia
Tại Australia, Hiệp hội lịch sử truyền miệng Australia (Oral History Association of Australia) được thành lập năm 1978 và năm 2013 được đổi tên lịch sử truyền miệng Australia (Oral History Australia).23
Nó vẫn còn là một tổ chức phi lợi nhuận, trong đó các thành viên thực hiện và thúc đẩy nghiên cứu lịch sử truyền miệng Mục tiêu của tổ chức hướng tới là:
Thúc đẩy thảo luận và đào tạo trên tất cả các khía cạnh của phương pháp luận
và thực hành đạo đức của lịch sử truyền miệng như một nguyên tắc và phương tiện thu thập và bảo tồn lịch sử xã hội và văn hóa;
Duy trì bảo quản, tiếp cận và sử dụng các bộ sưu tập lịch sử truyền miệng;
Hỗ trợ các hội lịch sử truyền miệng của Nhà nước và các bang
Cung cấp một tiếng nói chính thống trên tất cả các khía cạnh của lịch sử truyền miệng; và kết nối sự phát triển của lịch sử truyền miệng Australia với quốc tế
Hiệp hội đã cung cấp một định nghĩa gồm hai phần về lịch sử truyền miệng: “Lịch sử truyền miệng như là một thông lệ hay phương pháp cho việc ghi
âm, xử lý và lưu giữ các bản miêu tả bằng lời nói về quá khứ” Định nghĩa này
đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của các kiến thức cơ bản hay sự chuẩn bị sẵn sàng của người phỏng vấn và người được phỏng vấn có trải nghiệm trực tiếp về chủ đề phỏng vấn Nó cũng bao gồm các khía cạnh chức năng và cho rằng “Lịch
sử khẩu vấn là cuộc phỏng vấn được ghi băng lại ở dạng câu hỏi và trả lời…về các chủ đề mà lịch sử quan tâm…và các nhà nghiên cứu có thể tiếp cận được.”24Tại Australia, khi tiến hành các dự án liên quan tới tài liệu truyền miệng đều cần phải lưu ý tới các vấn đề về quy định nhà nước, thông lệ trước đó mà cụ thể nằm trong các chính sách và hướng dẫn của Cục Môi trường và bảo tồn (DEC), trong
đó họ đặc biệt lưu tâm tới các vấn đề cá nhân và riêng tư, vấn đề đạo đức và bản quyền, phương pháp như:
23 http://www.oralhistoryaustralia.org.au/ (29/10/2015)
24 Trung tâm Khoa học và Công nghệ Văn thư-Lưu trữ, Lịch sử biết nói-Bản hướng dẫn về lịch sử khẩu vấn,
Hà Nội, 2015
Trang 36 Phải sưu tầm thông tin cá nhân từ trực tiếp người đó
Phải cho cá nhân biết đang sưu tầm những thông tin gì, mục đích, người sẽ tiếp nhận thông tin, họ có quyền tiếp cận và chỉnh sửa thông tin cá nhân của bản thân sau khi được sưu tầm
Phải tiến hành các bước đi hợp lý để đảm bảo thông tin cá nhân sưu tầm phù hợp với mục đích của dự án, không thừa, chính xác, mới nhất và hoàn chỉnh
Tất cả các thông tin cá nhân thu thập được phải phù hợp với các nguyên tắc
sử dụng, bảo quản và công bố, không phụ thuộc thời điểm sưu tầm Điều này
có nghĩa là:
o Chỉ giữ thông tin theo thời hạn cần thiết đối với các mục đích sưu tầm
và sử dụng ban đầu
o Bảo vệ thông tin, tránh bị lạm dụng hoặc tiếp cận không được phép
o Loại hủy thông tin một cách an toàn theo các yêu cầu về việc xác định giá trị và loại hủy thông tin
o Cho phép cá nhân tìm hiểu liệu có giữ các thông tin về họ hay không, thông tin đó là gì và mục đích sử dụng thông tin
o Cho phép cá nhân tiếp cận thông tin về họ ngay lập tức và không mất phí
o Kiểm tra đảm bảo các thông tin cá nhân thu thập được là chính xác, mới nhất, phù hợp, hoàn chỉnh và không gây hiểu nhầm
o Không để lộ thông tin trừ khi có lý do trực tiếp liên quan tới mục đích sưu tầm và cá nhân có liên quan nhận biết được công việc công khai này thường vẫn được tiến hành hoặc để giảm bớt các mối đe dọa đến cuộc sống, sức khỏe của bất cứ cá nhân nào
o Không công bố thông tin liên quan tới sắc tộc, quan điểm chính trị, tín ngưỡng thành viên công đoàn, sức khỏe hoặc các hoạt động giới tính trừ khi nhằm mục đích phòng ngừa chết chóc hoặc thương tật
Ngoài ra, Hiệp hội lưu trữ truyền miệng của các bang cũng được thành lập khá sớm và có nhiều dự án đã và đang được được tiến hành
Trang 37Ví dụ: Hội lịch sử truyền miệng bang Queensland đã tiến hành và công
- Forgotten Australians: Ghi lại câu chuyện của bốn người tự nhận mình là Những người Úc bị lãng quên
- History: entwining truth and narrative aesthetics:Phỏng vấn một gia đình Sri Lanka nhập cư vào Úc trong thập niên 1960
- The Artful Life Story: Fictionalising Oral History: tiến hành mười cuộc phỏng vấn với một phạm vi đa dạng của người dân về những kỷ niệm và những câu chuyện về Brisbane của họ
Như vậy, về cơ bản, lý thuyết về tài liệu truyền miệng của Australia đã đề cập tới nhiều vấn đề cơ bản như: khái niệm, nguyên tắc loại hình tài liệu, vấn đề bản quyền được quy định khá chi tiết trong các điều luật của quốc gia Điểm nổi bật của Australia so với Hoa Kỳ và Canada có lẽ là sự phát triển của các hội lịch
sử truyền miệng của các bang Điều này cho thấy, tài liệu truyền miệng thực sự
đã được quan tâm và thực hiện khá rộng rãi tại đất nước này
1.2.5 Nghiên cứu của Singapore
Ở Singapore thực sự bắt đầu sử dụng những phương pháp và kỹ thuật lịch
sử truyền miệng muộn hơn các nước Đông Nam Á khác Sớm nhất là ở các cơ quan chuyên nghiên cứu về Đông Nam Á Ban Lịch sử truyền miệng ở Singapore được thành lập năm 1979 dựa trên chương trình lịch sử truyền miệng Bảo tàng chiến tranh đế quốc của Vương quốc Anh Mục tiêu của Ban là ghi âm, lập hồ sơ, bảo quản và phổ biến thông tin về lịch sử đất nước thông qua phương pháp luận của lịch sử qua lời kể
Trang 38Giống như nhiều quốc gia khác, tại Singapore, các nhà học thuật và những người làm chuyên môn hay nghi ngờ và vội vàng bỏ qua giá trị của các ký ức do người được phỏng vấn nhớ lại như là nguồn sử liệu tin cậy và chân thực vì cho rằng trí nhớ con người là đối tượng có thể nhầm lẫn, sai sót và bịa đặt Tuy nhiên không thể phủ nhận giá trị của lịch sử qua lời kể và nó cần có chỗ đứng nhất định vì những điểm sau:
Tất cả các nguồn sử liệu đều có thể có những sai số nhất định Lịch sử khẩu vấn cũng không kém phần tin cậy so với sách báo, thư từ cá nhân, biên bản hay báo cáo
Dù có sai sót, lịch sử qua lời kể vẫn cung cấp một tư liệu chính xác về những điều con người nói đến và cách họ nói ra như thế nào Ngay cả khi chúng ta
có thể nghi ngờ một thông tin nào đó, chúng ta vẫn có thể hiểu thấu được con người cảm nhận như thế nào về quá khứ
Lịch sử qua lời kể có thể cho thấy một bức tranh chính xác hơn về quá khứ khi thiếu các hình thức chứng cứ khác
Lịch sử qua lời kể có thể được thẩm tra lại bằng cách tiếp cận linh hoạt của người phỏng vấn Ví dụ, trong một cuộc phỏng vấn, người được phỏng vấn
có thể được hỏi cùng một vấn đề theo nhiều góc độ khác nhau Có thể phỏng vấn nhiều người một cách riêng rẽ rồi sau đó có thể so sánh kết quả
Không thể đòi hỏi lịch sử qua lời kể là một tư liệu lịch sử hoàn chỉnh Nó là
sự bổ sung cho các nguồn tư liệu khác và khi không có thông tin nào khác thì tài liệu này nên được coi là chưa đầy đủ
Có nhiều lý do để xem xét lịch sử qua lời kể một cách nghiêm túc nhằm giúp chúng ta hiểu được quá khứ nếu lịch sử qua lời kể được thu thập một cách tận tâm, lập hồ sơ tốt và được đánh giá một cách có phê phán
Đánh giá về lịch sử truyền miệng được lưu trữ có nghĩa là nó được sử dụng như kỹ thuật thu thập thông tin, bổ sung cho tài liệu lưu trữ khác Từ rất sớm nó đã được công nhận rằng băng ghi âm quan trọng và nó không chỉ là công
cụ thu thập thông tin Mặc dù không chắc chắc chắn về việc hỗ trợ cho các thiết
Trang 39bị tương tự trong tương lai gần nhưng Trung tâm lưu trữ lịch sử truyền miệng OHC đã xoay quan công nghệ số kể từ tháng 9 năm 2004 Tất cả các nhân viên văn phòng được giới thiệu và tiến hành mở rộng một loạt các nghiên cứu về nguồn chữ viết Chất lượng của cuộc phỏng vấn lịch sử truyền miệng phụ thuộc rất nhiều vào sự tận tâm của nghiên cứu này nên việc chuẩn bị những câu hỏi để hỏi có thể khám phá thêm những thông tin nằm sâu trong ký ức con người Thiết lập mối quan hệ của những người phỏng vấn là vô cùng quan trọng để đảm bảo
sự tự tin là cần thiết Vai trò của những người phỏng vấn chủ yếu là thu thập thông tin chứ không phải ở vị trí phán xét, những người phỏng vấn được khuyến khích để thêm các chỉ dẫn nếu có ở cuối trang
Việc ghi chép lại của các băng ghi âm lịch sử truyền miệng là một quá trình tẻ nhạt, nó mất khoảng 6 giời để dịch nửa cuốn băng, do đó người gỡ băng phải chọn lựa việc chỉ ghi chép 30% bộ sưu tập Như Singapore, quốc gia đa sắc tộc, ngôn ngữ sử dụng cho cuộc phỏng vấn từ tiếng Anh sang tiếng Malay, Tamil sang phương ngữ Trung Quốc Để đảm bảo phổ biến rộng rãi thông tin hơn thông tin cuộc phỏng vẫn có thể đăng tải lên www.a2o.com.sg Tất cả các cuộc phỏng vấn lịch sử truyền miệng thì được kèm theo với 100 từ khái niệm trong nửa tiếng của cuộc phỏng vấn
Một số dự án lịch sử truyền miệng của Singapo:
Các nhà tiên phong của Singapo [ The Pioneers of Singapore]
Sự phát triển của chính trị Singapo 1945-1965 [The political Development
of Singapore 1945-65]
Sự chiếm đóng của người Nhật Bản [ The Japanese Occupation]
Tính đến nay họ có khoảng 18 dự án và tổng số bộ sưu tập 28000 cuốn băng ghi âm hay 14000 giờ ghi âm Những viện hàn lâm và những nhà sử học tranh luận về chiều sâu giá trị của các bản ghi âm lịch sử truyền miệng, đó có phản ánh chính xác sự thực hay chỉ là sự phục vụ cho ký ức những người được phỏng vấn Các học giả cũng đã tranh luận rằng những báo cáo lịch sử truyền miệng bị ảnh hượng cực lớn bởi những câu hỏi của người phỏng vấn và do đó
Trang 40có thể bị thiên vị hoặc loại trừ Những phê bình khác thì cho rằng những âm thanh nghe được phải chăng là của những ngưởi điển hình hay những người đàn ông bình thường trên đường phố, nên bị nhìn với sự nghi ngờ nhất định
Tuy tiếp cận với lịch sử truyền miệng muộn hơn so với một số nước trong khu vực nhưng hiện Singapore là một trong những quốc gia có nhiều dự án về tài liệu khẩu vấn được thực hiện một cách khá bài bản Ban Lịch sử khẩu vấn cũng
đã ban hành các tài liệu hướng dẫn việc thực hiện các dự án tài liệu truyền miệng trên cơ sở đúc kết thực tiễn của việc làm tài liệu khẩu vấn cũng như kế thừa lý thuyết từ các nước phát triển như Hoa Kỳ, các nước Châu Âu
1.2.6 Nghiên cứu của Việt Nam
Tại Việt Nam, nghiên cứu tài liệu truyền miệng hiện chủ yếu gắn liền với các nghiên cứu văn hóa dân gian (folklore) Đó là các sáng tạo của nhân dân qua các thời đại, vốn được sáng tác và lưu truyền bằng miệng Đến một thời kỳ lịch
sử nào đó, khi dân tộc có chữ viết thì chúng mới bắt đầu được ghi chép thành văn bản
Điển hình cho các hình thái này gồm có như:
- Truyền thuyết: Là những truyện truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân Biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại,đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư cấu, thần kỳ như cổ tích và thần thoại
Trong luận án “Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian
truyền thuyết dân gian Việt Nam trong một số loại hình văn bản, từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa chất dân gian của các truyền thuyết được ghi chép và dấu ấn, vai trò của các tác gia thời kỳ trung đại Đặc biệt, tác giả đã cố gắng tìm hiểu và làm
rõ việc vận dụng truyền thuyết dân gian trong nghiên cứu lịch sử của các tác gia qua các thời kỳ
25 Trần Thị An (2011), Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, LATS , Thư
viện Quốc gia Việt Nam, Hà Nội