ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN GIAO VÀ TIẾP NHẬN CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC Y TẾ GIỮA C
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN GIAO
VÀ TIẾP NHẬN CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC Y TẾ GIỮA CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP, NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BỆNH VIỆN BẠCH MAI VÀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN GIAO
VÀ TIẾP NHẬN CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC Y TẾ GIỮA CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP, NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BỆNH VIỆN BẠCH MAI VÀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60 34 04 12
Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Thanh Trường
Hà Nội, 2014
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do nghiên cứu 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Mẫu khảo sát 5
6 Câu hỏi nghiên cứu 6
7 Giả thuyết nghiên cứu 6
8 Phương pháp nghiên cứu 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY CHUYỂN GIAO VÀ TIẾP NHẬN CÔNG NGHỆ 8
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách 8
1.1.1 Khái niệm chính sách 8
1.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ 11
1.2 Công nghệ và công nghệ y tế 12
1.2.1 Khái niệm công nghệ 12
1.2.2 Vai trò của công nghệ 15
1.2.3 Công nghệ y tế 16
1.3 Chuyển giao công nghệ 18
1.3.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ 18
1.3.2 Quy trình chuyển giao công nghệ 20
1.3.3 Các loại hình chuyển giao công nghệ 21
1.3.4 Các quy định về chuyển giao công nghệ 23
1.4 Chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực y tế ……… 24
1.4.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực y tế 24
1.4.2 Các loại hình chuyển giao công nghệ y tế 25
Trang 4Kết luận chương 1 31
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH CHUYỂN GIAO VÀ TIẾP NHẬN CÔNG NGHỆ GIỮA CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 33
2.1 Tổng quan về hệ thống bệnh viện công lập 33
2.1.1 Mạng lưới bệnh viện công lập 33
2.1.2 Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế 34
2.1.3 Năng lực công nghệ 35
2.2 Thực trạng chuyển giao và tiếp nhận công nghệ y tế 38
2.2.1 Chủ thể chuyển giao công nghệ 38
2.2.2 Chủ thể nhận chuyển giao công nghệ: 41
2.3 Khảo sát trường hợp chuyển giao công nghệ 43
2.3.1 Chuyển giao công nghệ điều trị bệnh tim bằng công nghệ can thiệp qua da (công nghệ stent) 43
2.3.2 Chuyển giao công nghệ tạo hình bàng quang bằng ruột, tạo hình niệu đạo, tạo hình niệu quản 48
2.4 Đánh giá nguyên nhân chuyển giao công nghệ 53
2.4.2 Bất cập của mô hình tổ chức hệ thống bệnh viện 54
2.4.3 Bất cập của mô hình hệ thống chuyển tuyến 55
2.4.4 Bất cập của hệ thống quản lý 55
2.4.5 Đánh giá bất cập trong chuyển giao công nghệ qua ý kiến chuyên gia 56
Kết luận chương 2 67
CHƯƠNG 3 CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY CHUYỂN GIAO VÀ TIẾP NHẬN CÔNG NGHỆ Y TẾ GIỮA CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 70
3.1 Chính sách chuyển giao công nghệ y tế giữa các bệnh viên công lập 70 3.1.1 Triết lý của chính sách chuyển giao và tiếp nhận công nghệ y tế 70
3.1.2 Kịch bản của chính sách chuyển giao công nghệ y tế 71
3.2 Đánh giá tác động của chính sách đối với việc thúc đẩy chuyển giao và tiếp nhận công nghệ giữa các bệnh viện công lập 75
Trang 53.2.1 Đánh giá tác động dương tính 75
3.2.2 Đánh giá tác động âm tính 76
3.3 Điều kiện cần và đủ của chính sách cải cách tài chính đi vào thực tiễn 76
3.3.1 Các hoạt động ngắn hạn 76
3.3.2 Các hoạt động trung và dài hạn 77
3.4 Khảo sát trường hợp chuyển giao công nghệ thành công 78
Kết luận Chương 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 89
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Trong thời gian qua, ngành y tế đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các bệnh viện được đầu tư, phát triển, nhiều công nghệ và kỹ thuật y tế được áp dụng trong khám, chữa bệnh đã làm tăng khả năng tiếp cận với dịch
vụ y tế hiện đại của người dân, góp phần cứu chữa được nhiều bệnh nhân mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hệ thống khám, chữa bệnh của nước ta vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập, thách thức trong đó có sự phân bố nhân lực y tế không đồng đều, nhân lực có tay nghề thường tập trung chủ yếu ở các thành thị, vùng kinh tế, xã hội phát triển, tình trạng thiếu nhân lực y tế phổ biến ở nhiều địa phương; tại các bệnh viện nhiều công nghệ và kỹ thuật y tế đã triển khai nhưng chưa hiệu quả, nơi có công nghệ không muốn chuyển giao, nơi nhận công nghệ lại không có điều kiện để tiếp nhận, hoạt động này mới chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn
và ở các bệnh viện tuyến Trung ương; ở tuyến dưới, vùng sâu, vùng xa có chất lượng dịch vụ y tế thấp hơn hẳn so với vùng kinh tế phát triển, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao của người dân hạn chế, dẫn đến sự mất công bằng trong chăm sóc sức khỏe, người dân không tin tưởng chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tuyến dưới
Việc vượt tuyến khám bệnh, chữa bệnh xảy ra khá phổ biến, nhiều người bệnh đến cơ sở khám chữa bệnh tuyến Trung ương để khám, chữa các bệnh mà đáng lẽ có thể được điều trị hiệu quả ngay ở tuyến tỉnh, tuyến huyện, gây quá tải tại các bệnh viện tuyến trên đặc biệt là các bệnh viện Trung ương
Để giải quyết những khó khăn, thách thức nêu trên, trong nhiều năm qua Bộ Y tế đã thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao năng lực y tế tuyến
Trang 7dưới thông qua việc đẩy mạnh hoạt động chỉ đạo tuyến, hoạt động chuyển giao công nghệ, luân phiên cán bộ Nhiều bệnh viện tuyến tỉnh và hầu hết bệnh viện tuyến huyện đã được đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, các bệnh viện này còn thiếu nhân lực chuyên môn có trình độ phù hợp để sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế đã được đầu tư
Thực tiễn cho thấy, mặc dù Bộ Y tế đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ Y tế trong các bệnh viện công lập nhưng hiệu quả chuyển giao và tiếp nhận công nghệ y tế từ bệnh viện tuyến trên về bệnh viện tuyến dưới mới đạt được kết quả thấp Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là do các chính sách tài chính hiện có chưa phát huy hết vai trò là động lực thúc đẩy quá trình chuyển giao
và tiếp nhận công nghệ giữa các bệnh viện công lập
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, học viên mong muốn được nghiên cứu, phân tích thực trạng chính sách hiện hành liên quan tới việc chuyển giao và tiếp nhận công nghệ giữa các bệnh viện công lập, tìm ra những tác động không mong muốn khi áp dụng những chính sách hiện hành,
đề xuất chính sách mới nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ trong lĩnh vực y tế
Với những lý do vừa nêu, tôi chọn đề tài Chính sách thúc đẩy quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ trong lĩnh vực y tế giữa các bệnh viện công lập (Nghiên cứu trường hợp bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ) làm Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý
KH&CN
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu trong nước có liên quan đến chủ đề quản lý bệnh viện, bao gồm:
- Đề tài Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công
Trang 8Nguyễn Văn Dự, thực hiện năm 2001; nội dung chủ yếu nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên và các bác sĩ trẻ mới ra trường, các sản phẩm là các sáng kiến, sáng chế mang tính mới áp dụng vào ngành Y – sinh học
- Luận văn cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN của Nguyễn Thái
Ngọc: Đề xuất các giải pháp trong quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học Y - Dược học (Nghiên cứu trường hợp Học viện Quân y)
đã đánh giá thực trạng quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và công tác quản
lý nghiên cứu khoa học lĩnh vực y - dược học, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xây dựng, tổ chức thực hiện và công tác quản lý nghiên cứu khoa học lĩnh vực y - dược học tại Học viện Quân y;
- Luận văn cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN của Nguyễn Thị Thu Hà Tạo môi trường làm việc thân thiện nhằm thu hút nguồn nhân lực KH&CN về công nghệ sinh học trong y học (nghiên cứu trường hợp Học viện Quân y) đã khảo sát thực trạng thu hút nguồn nhân lực KH&CN về công nghệ
sinh học tại Học viện Quân y và đưa ra một số giải pháp tạo môi trường làm việc thân thiện;
- Lê Bá Toàn (2014), Luận văn cao học chuyên ngành Quản lý
KH&CN: Kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ thông qua các tổ chức trung gian để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu (Nghiên cứu trường hợp ngành Y tế) đã khảo sát thực trạng kết nối giữa bên cung và bên cầu công
nghệ y tế trong quá trình thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, đồng thời đề xuất giải pháp kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ y tế trong quá trình thương mại hóa các kết quả nghiên cứu
- Nghiên cứu của Trần Khánh Đức (2003) đã xây dựng cơ sở lý luận về quản lý nghiên cứu khoa học theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể và
đề xuất hệ tiêu chí đánh giá các đề tài, đánh giá hiệu quả hoạt động, đồng thời
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN ở các trường đại
Trang 9học, đổi mới tổ chức quản lý, phát triển tiềm lực, từng bước thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hướng tới thị trường công nghệ
Trong các nghiên cứu về quản lý bệnh viện thì chỉ có đề tài của Nguyễn
Khắc Thế (2014), Luận văn cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN Áp dụng
mô hình trình diễn để khắc phục rào cản trong việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ y tế ở miền núi (Nghiên cứu trường tỉnh Lạng Sơn) đã chứng minh
áp dụng mô hình trình diễn là giải pháp có thể khắc phục rào cản trong việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ y tế ở miền núi, đề tài này đã đưa ra hệ thống khái niệm có liên quan đến đề tài, bao gồm: chuyển giao công nghệ, năng lực tiếp nhận công nghệ, các rào cản trong chuyển giao công nghệ, đặc điểm của chuyển giao công nghệ trong ngành y tế ở miền núi, mô hình trình diễn; Khảo sát, phân tích, tìm ra nguyên nhân của thực trạng việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ y tế ở miền núi; Đề xuất giải pháp chủ đạo áp dụng
mô hình trình diễn và các giải pháp khác để khắc phục rào cản trong việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ y tế ở miền núi
Bộ Y tế chưa có nghiên cứu toàn diện nào liên quan tới nội dung đề tài đưa ra, tuy nhiên đã có các báo cáo phân tích việc thực hiện Chính sách tự chủ bệnh viện trên thế giới và thực tế ở Việt Nam năm 2011 qua khảo sát đánh giá kết quả thực hiện quyền tự chủ tại 18 bệnh viện công Báo cáo đánh giá thực tiễn hoạt động của các bệnh viện để xây dựng đề án phát triển Bệnh viện vệ tinh đến năm 2020
Nhưng có thể nói chưa có nghiên cứu nào đề xuất chính sách thúc đẩy quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ trong lĩnh vực y tế giữa các bệnh viện công lập
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng chính sách y tế nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao và tiếp
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
1 Phân tích hệ thống khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của Luận văn;
2 Phân tích một số chính sách y tế hiện hành có tác động đến việc chuyển giao tiếp nhận công nghệ y tế giữa các bệnh viện công lập qua nghiên cứu trường hợp Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ;
3 Xây dựng chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ trong lĩnh vực y tế giữa các bệnh viện công lập
- Xây dựng Chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ trong lĩnh vực y tế giữa các bệnh viện công lập, cụ thể như sau:
Dùng chính sách tài chính làm đòn bẩy thúc đẩy quá trình chuyển giao
và tiếp nhận công nghệ giữa các bệnh viện công lập: chính sách phân bổ tài chính hàng năm cho các bệnh viện theo hiệu quả khám chữa bệnh và số bệnh nhân tới khám; cho phép các bệnh viện công lập được ký các hợp đồng chuyển giao công nghệ
Về thời gian: nghiên cứu đánh giá phát sinh trong giai đoạn từ năm
2010 - 2013
5 Mẫu khảo sát
- Bệnh viện Bạch Mai (đơn vị chuyển giao)
- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ (đơn vị tiếp nhận chuyển giao)
Trang 116 Câu hỏi nghiên cứu
Cần xây dựng chính sách như thế nào để thúc đẩy quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ trong lĩnh vực y tế giữa các bệnh viện công lập?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Việc thay đổi chính sách phân bổ và giao dự toán ngân sách hàng năm cho các bệnh viện theo số giường bệnh bằng việc phân bổ theo hiệu quả khám chữa bệnh và số lượt bệnh nhân để tăng năng lực cạnh tranh giữa các bệnh viện sẽ thúc đẩy việc chuyển giao và tiếp nhận công nghệ y tế giữa các bệnh viện công lập
8 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng những phương pháp chính sau đây:
- Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, học viên sử dụng các tài liệu sau để phục vụ cho việc nghiên cứu:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu có liên quan tới đề tài (theo danh mục tài liệu của luận văn);
+ Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu khảo sát từ bệnh viện Bạch Mai
và bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ (theo phụ lục của luận văn)
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn sâu đối với bệnh viện chuyển giao (bệnh viện Bạch Mai): 01 đại diện Ban giám đốc, 05 bác sĩ,
05 kỹ thuật viên, 02 nhân viên phòng KH-TC, 01 nhân viên phòng Tổ Hành chính Phỏng vấn sâu đối với bệnh viện tiếp nhận chuyển giao (bệnh viện đa khoa Phú Thọ): 01 đại diện Ban giám đốc, 05 bác sĩ, 05 kỹ thuật viên,
chức-02 nhân viên phòng KH-TC, 01 nhân viên phòng Tổ chức-Hành chính
+ Trưng cầu ý kiến chuyên gia: Bộ câu hỏi phỏng vấn định tính tiến hành trên 20 nhân lực làm công tác xây dựng Chính sách tại Bộ Y tế và đại diện lãnh đạo các Vụ, đơn vị liên quan 20 nhân lực cụ thể: 01 lãnh đạo Cục Quản lý Khám chữa bệnh; 03 chuyên viên phòng nghiệp vụ Cục Quản lý
Trang 12Đào tạo; 03 chuyên viên phòng Công nghệ cục KHCN&ĐT, 01 Lãnh đạo Văn phòng Bộ, 01 lãnh đạo vụ TCCB; 01 lãnh đạo cục KH-TC, 03 chuyên viên phòng Ngân sách và Kế hoạch vụ KH-TC, 03 chuyên gia về Chính sách của
Bộ Y tế.
9 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương, bao gồm:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy chuyển giao và tiếp nhận công nghệ;
- Chương 2 Phân tích thực trạng chính sách chuyển giao và tiếp nhận công nghệ giữa các bệnh viện công lập;
- Chương 3 Xây dựng chính sách thúc đẩy chuyển giao và tiếp nhận công nghệ giữa các bệnh viện công lập
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY CHUYỂN GIAO
CÔNG NGHỆ 1.1 Cơ sở lý luận về chính sách
1.1.1 Khái niệm chính sách
Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách,1
trong đó có: tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp
Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà
chủ thể quyền lực mong đợi
- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể
quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó
- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động
của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra
- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời
khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối
1
Trong mục 1.1.1., tác giả Luận văn sử dụng tài liệu số 10 trong Danh mục Tài liệu tham khảo, Vũ Cao Đàm
Trang 14thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)
- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một
đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ
thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý
Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa:
Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một
ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích
thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các
đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của Chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và
nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo
Trang 15động cơ cho đối tượng chính sách
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói
trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh
doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:
- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn
thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau
- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo
tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển
- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những
biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm
“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ”
Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ
có thể một vài cách tiếp cận trong đó
Trang 16là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội [10; tr.29]
1.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ
Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Công nghệ của Liên Hợp Quốc
(UNESCO): "Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực hiện để nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia".2
Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN
Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là những phương châm, điều
lệ, qui định Đó là những nguyên tắc và qui tắc do một Nhà nước, một ngành, một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định, đặt ra nhằm phát triển KH&CN
Định nghĩa của Luận văn:
Trên cơ sở chính sách mà Vũ Cao Đàm đã định nghĩa [10;31], Luận văn xin sử dụng định nghĩa về chính sách KH&CN như sau:
Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp
2
UNESCO (2006), Science and technology policies developed during the 54th week (18-24/09/2006) of the
60th anniversary of UNESCO
Trang 17Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp
Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới
dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN
- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá
nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN
- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã
hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế -
xã hội nói chung
1.2 Công nghệ và công nghệ y tế
1.2.1 Khái niệm công nghệ
Trên thế giới hiện nay việc đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về công nghệ lại chưa có được sự thống nhất, các công nghệ hiện có trên toàn cầu nhiều đến mức không thể thống kê được Công nghệ lại hết sức đa dạng, khiến những người sử dụng một công nghệ cụ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ dẫn đến sự khái quát của họ về công nghệ sẽ khác nhau Bên cạnh đó, sự phát triển như mạnh vũ bão của KH&CN làm thay đổi nhiều quan niệm cũ tưởng như vĩnh cửu, cũng là nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất trên Tuy nhiên, xét trên góc độ khoa học quản lý, việc đưa ra được định nghĩa khái quát về công nghệ là một việc làm mang tính cần thiết, bởi vì không thể quản lý được công nghệ khi chưa biết rõ công nghệ là gì Hiện nay, công nghệ có rất nhiều khái niệm khác nhau tùy ở mỗi tổ chức mà công nghệ được định nghĩa ở một dạng khác nhau chẳng hạn như:
Trang 18Công nghệ có nguồn gốc từ technologia 3
, trong tiếng Hy Lạp; techne
có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là "châm ngôn"
- Là một hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề hoặc một lớp vấn đề công nghệ
- Công nghệ là một cơ thể kiến thức:
+ Một hoặc một số giải pháp để quyết một số vấn đề công nghệ + Con đường để giải quyết một số vấn đề công nghệ
+ Toàn bộ kiến thức được chuyển vào hệ thống, bất kể từ nguồn nào để luận cứ cho sự phát triển
- Công nghệ là một phương tiện
- Công nghệ gồm bốn phần:
+ Phần công nghệ + Phần thông tin + Phần con người + Phần tổ chức Khái niệm công nghệ hiện được dùng không chỉ trong công nghiệp mà
đã thâm nhập vào hàng loạt bộ môn khoa học và lĩnh vực hoạt động khác nhau như: công nghệ dạy học, công nghệ quản lý, công nghệ kiểm tra
Theo luật KH&CN (2000) của Việt Nam đưa ra khái niệm công nghệ:
“Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công
cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”
Để phù hợp với quy định của Luật Chuyển giao công nghệ (2006),
Theo luật KH&CN (2013) của Việt Nam đưa ra khái niệm công nghệ: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết công nghệ có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [14;
Trang 19+ Thành phần thiết bị (Technoware): bao gồm các công cụ, các phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm mong muốn Thành phần thiết bị gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu và hệ thống
(Technoware) bởi thành phần con người (Humanware) nó có thể được thể
hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ công việc
+ Thành phần thông tin (Inforware): Biểu thị việc nhạy bén nắm bắt thông tin, tích lũy kiến thức bởi con người Dù có tổ chức tốt, “con người” cũng không thể sử dụng “máy móc” hiệu quả nếu không có cơ sở “thông tin, tài liệu”
Định nghĩa này đã được ESCAP mở rộng thêm: “bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất chế tạo, dịch
vụ, quản lý, thông tin”
Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể, mà mở rộng khái niệm công nghệ ra các lĩnh vực dịch vụ và quản lý Và do vậy, nó được coi là một bước ngoặt trong lịch sử quan niệm về công nghệ
Ở Việt Nam, trước đây thường có quan niệm cho rằng: “Công nghệ là kiến thức, kết quả của khoa học ứng dụng nhằm biến đổi các nguồn lực thành các mục tiêu sinh lợi” Tuy nhiên, cách hiểu phổ biến nhất hiện nay, phù hợp với các quan điểm, chính sách phát triển và quản lý công nghệ
4
Nawaz Sharif and K Ramanathan (1988), Measured Contribution of Technology for Policy Analysis,
Trang 20Tùy theo mục đích, người ta phân loại các công nghệ như sau:
- Theo tính chất: Công nghệ sản xuất, công nghệ biên tập, công nghệ
dịch vụ, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ đào tạo
- Theo ngành nghề: Công nghệ công nghiệp, công nghệ nông nghiệp;
công nghệ sản xuất hàng tiêu dùng, công nghệ vật liệu
- Theo đặc tính công nghệ: Công nghệ đơn chiếc, công nghệ hàng loạt,
công nghệ liên tục
- Theo sản phẩm: Phân theo sản phẩm mà công nghệ sản xuất ra; Ví
dụ: công nghệ xi măng, năng lượng, ô tô, xe đạp,
- Theo mức độ hiện đại: Cổ điển, trung gian, tiên tiến
- Theo mục tiêu: Dẫn dắt, thúc đẩy, phát triển
- Theo sự ổn định công nghệ: Công nghệ cứng, công nghệ mềm, công
nghệ Nano
Định nghĩa của Luận văn
Tổng hợp các quan niệm được nêu trên về công nghệ, trong luận văn,
học viên sử dụng định nghĩa: công nghệ là tập hợp của bốn thành phần thiết
bị, con người, thông tin và tổ chức Bốn thành phần này là một tập hợp không
thể thiếu của một công nghệ bất kỳ nào dù là đơn giản hay phức tạp Chúng tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đổi mong muốn
1.2.2 Vai trò của công nghệ
Nhiều nhà kinh tế đồng ý rằng sự tiến bộ về công nghệ là nhân tố chính cho tăng trưởng kinh tế và đến lượt nó, các họat động nghiên cứu và chuyển giao là động lực chủ yếu cho các tiến bộ về công nghệ Mặt khác, nhiều nhà kinh tế còn nhấn mạnh hơn và cho rằng các lí thuyết về tăng trưởng cổ điển với việc khẳng định lao động và vốn thì chưa đủ để đóng góp cho sự tăng trưởng của nền kinh tế
Một số lý thuyết kinh tế đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa tiến bộ về công nghệ và phát triển kinh tế Lý thuyết tăng trưởng mới nhấn mạnh tốc độ tăng trưởng do nguồn vốn con người, bao gồm các tri thức hay các ý tưởng
Trang 21sáng tạo từ khu vực doanh nghiệp, trường học và chính phủ Cách tiếp cận này như thế cho rằng các ý tưởng mới là nguồn gốc dẫn đến sự cải tiến về công nghệ và do đó dẫn đến sự cải thiện về năng suất
Một đặc điểm nổi bật của thế giới ngày nay là sự phân chia giàu nghèo ngày càng lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển Một số nước đang phát triển ở Châu Á, đặc biệt là tại các nước Đông Nam Á đã vươn lên rút ngắn thời gian và đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng, giảm khoảng cách giàu nghèo trong khuôn khổ của phát triển bền vững bằng con đường CNH Trong đó, vai trò thúc đẩy của công nghệ đóng vai trò cốt lõi của mọi quá trình Có thể hiểu công nghệ là tổng hợp các giải pháp cũng như công cụ để chuyển đổi các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của con người thành sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội Chính công nghệ là yếu tố quyết định mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên, làm nên sự thay đổi xã hội Lịch sử phát triển của xã hội loài người
đã chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa công nghệ và phát triển bằng việc tăng cường áp dụng công nghệ, xã hội loài người đã từng bước chuyển dịch vị thế của mình từ thế giới tự nhiên sang xã hội… Công nghệ cũng chính
là yếu tố quyết định sự thịnh vượng hay suy vong của một quốc gia
Trong xã hội hiện đại, vai trò của công nghệ ngày càng tăng lên Nó đã
và đang trở thành hàng hoá được chuyển giao trên thị trường và được bảo hộ bằng pháp luật Những tiến bộ như vũ bão của KH&CN trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ Nano, tự động hoá đã làm đảo lộn tư duy và chiến lược của nhiều nước Không ai còn có thể hoài nghi về vai trò của công nghệ trong phát triển kinh
tế toàn cầu và của mỗi quốc gia
1.2.3 Công nghệ y tế
Y tế là một ngành khoa học có vai trò, nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ
Trang 22công tác y tế dự phòng, sản xuất dược phẩm - vật tư y tế Công nghệ siêu âm mầu 4D đã đưa chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh lên một vị thế mới, giúp bác sĩ quan sát được hình ảnh các cơ quan trong cơ thể ở dạng không gian 3 chiều với thời gian thực, cho phép phân tích chính xác quá trình phát triển bào thai, phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh của thai nhi trong thời kỳ mang thai để
có hướng xử trí tích cực và nhiều ứng dụng chẩn đoán khác; Siêu âm Doppler
đã trở thành công nghệ thăm dò không thể thiếu được đối với chuyên khoa tim mạch Các thành tựu mới trong công nghệ Laser được ứng dụng mạnh mẽ trong phẫu thuật, điều trị các bệnh da liễu, Y học cổ truyền, Phục hồi chức năng, Với sự trợ giúp của các thiết bị quang học hiện đại, công nghệ nội soi chẩn đoán, nội soi phẫu thuật đã được các bệnh viện ứng dụng nâng cao chất lượng chẩn đoán, giảm thiểu tổn thương trong phẫu thuật, rút ngắn thời gian điều trị, sớm phục hồi sức khoẻ cho người bệnh Máy chụp mạch số hoá xóa nền, máy chúp cộng hưởng từ là kết quả của thành tựu khoa học công nghệ trong nhiều lĩnh vực: Vật lý, Công nghệ thông tin đã hỗ trợ đắc lực cho việc chẩn đoán, điều trị nhiều bệnh lý về xương khớp, sọ não, tim mạch - lồng ngực
Với sự hỗ trợ của máy cộng hưởng từ, CT-Scanner, máy điều trị thoát
vị đĩa đệm bằng sóng radio, đã triển khai thành công các phương pháp phẫu thuật điều trị thoát vị đĩa đệm, thay khớp háng nhân tạo, phẫu thuật nội soi khớp, phẫu thuật sọ não lấy máu tụ dưới màng cứng trong các trường hợp chấn thương, phẫu thuật lấy máu tụ nội sọ
Trong chuyên khoa Mắt, với việc ra đời của hệ thống máy phaco đã thay thế phương pháp mổ đục thuỷ tinh thể truyền thống bằng phương pháp phaco với nhiều ưu điểm: Thời gian mổ và phục hồi sau mổ ngắn, thị lực sau
mổ tốt hơn
Ứng dụng công nghệ thông tin cũng là một trong những giải pháp được ngành y tế quan tâm trú trọng Nhiều phần mềm tin học hỗ trợ cho công tác quản lý đã được ứng dụng trọng quản lý tổng thể hoặc quản lý từng phần hoạt động bệnh viện: Quản lý bệnh nhân khám bệnh, điều trị nội trú, ngoại trú,
Trang 23quản lý cận lâm sàng, quản lý dược - vật tư, quản lý bảo hiểm y tế, quản lý tài chính bệnh viện, quản lý nhân lực,
Cũng tương tự như công nghệ nói chung, công nghệ y tế có 4 thành phần chính sau đây:
- Công nghệ (T): bao gồm các máy móc, trang thiết bị y tế, phục vụ việc khám chữa bệnh
- Con người (H): nhân lực y tế, những người trực tiếp chuyển giao và tiếp nhận chuyển giao công nghệ y tế
- Thông tin (I): Bao gồm các dữ liệu về phần công nghệ y tế, về nhân lực y tế và tổ chức y tế
- Tổ chức (O): tổ chức y tế bao gồm cơ quan quản lý y tế, đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế như bệnh viện các tuyến từ xã đến trung ương
Từ các phân tích trên, học viên hiểu về công nghệ y tế:
Công nghệ y tế là giải pháp, quy trình, bí quyết công nghệ có kèm theo công cụ, phương tiện dùng để phục vụ việc khám chữa bệnh
Trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố: trang thiết bị y tế, nhân lực y tế, thông tin y tế và tổ chức y tế
1.3 Chuyển giao công nghệ
1.3.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ
Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam ngày 05/12/1988 cho đến Nghị định số 49/HĐBT ngày 04/03/1991 chi tiết việc thi hành Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam đã bắt đầu
sử dụng thuật ngữ chuyển giao công nghệ (technology transfer) Các văn bản gần đây nhất là Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 01/07/1998 và Nghị định
Trang 24bản pháp luật này chưa xác định được đúng nghĩa của việc chuyển giao công nghệ nhưng ít ra cũng không làm cho người đọc hiểu sai về bản chất của chuyển giao công nghệ Các văn bản này mới dừng lại ở cách hiểu về chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ
Cho đến khi Luật Chuyển giao công nghệ được ban hành thì khái niệm
về chuyển giao công nghệ đã bắt đầu được hiểu khác đi Khái niệm chuyển giao công nghệ không những được hiểu là chuyển quyền sử dụng công nghệ
mà còn được hiểu là chuyển quyền sở hữu công nghệ Cách hiểu như vậy sẽ khiến cho việc xây dựng các khái niệm, các quy định khác dựa trên khái niệm chuyển giao công nghệ không được chính xác Việc thực thi các quy định sẽ dẫn đến không thực hiện
Theo Luật Chuyển giao công nghệ thì “chuyển giao công nghệ” là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ Chuyển giao công nghệ tại Việt Nam là việc chuyển giao công nghệ giữa các
tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam Chuyển giao công nghệ
từ nước ngoài vào Việt Nam là việc tổ chức, cá nhân hoạt động ở nước ngoài chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam chuyển giao công nghệ cho tổ chức,
cá nhân hoạt động ở nước ngoài
Trong luận văn, học viên sử dụng khái niệm chuyển giao công nghệ:
Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ
Trong đó nhấn mạnh đến việc chỉ khảo sát công nghệ có thể được
Trang 25chuyển giao như đã phân tích
1.3.2 Quy trình chuyển giao công nghệ
Có thể tóm tắt các bước chuyển giao công nghệ như sau:
- Xác định nhu cầu chuyển giao công nghệ;
- Chuẩn bị các điều kiện tiếp nhận và vận hành công nghệ;
- Chuyển giao và tiếp nhận chuyển giao công nghệ;
- Sử dụng và vận hành công nghệ;
- Đánh giá kết quả chuyển giao công nghệ;
- Nhân rộng, phát triển công nghệ phù hợp và hiệu quả
a Trước khi ký Hợp đồng chuyển giao:
- Người trực tiếp thực hiện hợp đồng đàm phán với đối tác về nội dung hợp đồng, thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng như: giá cả, phương thức thanh toán, thời gian thực hiện, thời gian bảo hành v.v
- Người thực hiện hợp đồng đến Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học công nghệ làm việc về nội dung hợp đồng sẽ thực hiện, soạn thảo hợp đồng (Trung tâm cung cấp mẫu đúng quy định) đưa đối tác ký trước sau
đó đưa về Trung tâm ký
- Trung tâm tiến hành lập hợp đồng ủy thác
- Người nhận ủy thác nghiên cứu kỹ các quy định trong hợp đồng ủy thác, trình Khoa, Phòng (đơn vị quản lý trực tiếp người nhận ủy thác) có ý kiến về năng lực thực hiện hợp đồng của người nhận ủy thác
- Tiến hành ký kết hợp đồng ủy thác giữa Trung tâm và người thực hiện hợp đồng
b Quá trình thực hiện Hợp đồng chuyển giao:
- Người nhận uỷ thác cần lập kế hoạch để thực hiện hợp đồng đúng tiến độ
- Mọi thủ tục thu chi theo tiến độ phải được thực hiện tại phòng kế toán Trung tâm theo đúng thời gian đã ghi trong hợp đồng
Trang 26- Người nhận ủy thác được tạm ứng theo tiến độ để thực hiện hợp đồng,
và có trách nhiệm thanh toán tạm ứng đúng thời hạn (trên nguyên tắc hoàn đợt trước mới ứng tiếp đợt sau), phòng kế toán Trung tâm có quyền từ chối những chứng từ thanh toán không đúng quy định
- Trong trường hợp có thay đổi về thời gian thực hiện hợp đồng, hoặc có những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện… người ủy thác có trách nhiệm lập các biên bản ghi rõ lý do để làm minh chứng cho sự chậm trễ hoặc thay đổi
- Đối với những hợp đồng có giá trị lớn và thời gian thực hiện dài, bên nhận ủy thác có trách nhiệm báo cáo tiến độ thực hiện và cung cấp cho trung tâm những văn bản minh chứng như biên bản nghiệm thu, biên bản giao nhận sản phẩm của từng đợt, nếu thấy cần thiết trung tâm sẽ tham gia kiểm tra việc thực hiện hợp đồng
c Kết thúc Hợp đồng chuyển giao:
Khi hợp đồng đã thực hiện xong người nhận ủy thác lập biên bản minh chứng cho việc đã hoàn tất hợp đồng như:
- Biên bản nghiệm thu, giao nhận đối với các hợp đồng thiết kế lắp đặt
- Quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền đối với các hợp đồng lập báo đầu tư môi trường, đánh giá tác động môi trường
- Người nhận ủy thác nộp đầy đủ các khoản thu như: các khoản thuế theo quy định, phí quản lý…
- Người nhận ủy thác thanh toán các khoản đã tạm ứng để thực hiện hợp đồng
- Trung tâm xuất hoá đơn trên cơ sở nghiệm thu, và thanh lý hợp đồng đã được lập
1.3.3 Các loại hình chuyển giao công nghệ
a Hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập
Hợp đồng chuyển giao công nghệ:
a Hình thức của hợp đồng chuyển giao công nghệ: là bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương văn bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Trang 27b Hợp đồng chuyển giao công nghệ bao gồm những nội dung chính sau đây:
- Tên hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong đó ghi rõ tên công nghệ được chuyển giao;
- Đối tượng công nghệ được chuyển giao, sản phẩm do công nghệ tạo ra;
- Chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ;
- Phương thức chuyển giao công nghệ;
- Quyền và nghĩa vụ của các bên;
- Giá, phương thức thanh toán;
- Thời điểm, thời hạn hiệu lực của hợp đồng;
- Khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong hợp đồng (nếu có);
- Kế hoạch, tiến độ chuyển giao công nghệ, địa điểm thực hiện chuyển giao công nghệ;
- Trách nhiệm bảo hành công nghệ được chuyển giao;
- Phạt vi phạm hợp đồng;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
- Pháp luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp;
- Cơ quan giải quyết tranh chấp;
- Các thoả thuận khác không trái với quy định của pháp luật Việt Nam
c Đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ
Các bên tham gia giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ có quyền đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ tại cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có thẩm quyền làm cơ sở để được hưởng các ưu đãi theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ các quy định khác của pháp luật có liên quan
Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ bao gồm:
- Đơn đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ;
- Bản gốc hoặc bản sao hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trang 28Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có thẩm quyền xem xét, quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký Hợp đồng chuyển giao công nghệ
b Phần chuyển giao công nghệ trong dự án hoặc hợp đồng
Trong mục này gồm có:
- Dự án đầu tư;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền thương mại;
- Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ
1.3.4 Các quy định về chuyển giao công nghệ
a Luật Khoa học và Công nghệ
Điều 2.3 Luật KH&CN quy định công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến công nghệ , hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN
b Luật Chuyển giao công nghệ
Luật này quy định về hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam,
từ Việt Nam ra nước ngoài, từ nước ngoài vào Việt Nam; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ; thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước; các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ Trong đó công nghệ được quy định là giải pháp, quy trình, bí quyết công nghệ có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Để hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, ngày 31/12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 133/2008/NĐ-CP Theo đó, trường hợp sử dụng vốn nhà nước để nhận chuyển giao công nghệ trong dự án đầu tư, bên nhận công nghệ phải lập phương án nhận chuyển giao công nghệ, trong đó nêu rõ nội dung chuyển giao công nghệ và giá ước tính
Trang 29của công nghệ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư (kể cả trường hợp sử dụng nhiều nguồn vốn để nhận chuyển giao công nghệ, trong
đó nguồn vốn nhà nước chiếm tỷ lệ từ 51% trở lên)
Hợp đồng chuyển giao công nghệ không bắt buộc phải đăng ký, nhưng các bên tham gia giao kết hợp đồng có quyền đăng ký nếu có nhu cầu Đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ là cơ sở để được hưởng các ưu đãi theo quy định
Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ, Bộ KH&CN có thẩm quyền cấp đối với công nghệ thuộc dự án đầu tư do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đầu tư và các trường hợp còn lại
do Sở KH&CN cấp
Đối với công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao thì việc đăng ký được thực hiện thành 2 bước: chấp thuận chuyển giao công nghệ và cấp phép chuyển giao công nghệ (do Bộ KH&CN cấp)
Nghị định cũng quy định về việc chuyển giao công nghệ trong dự án hoặc hợp đồng nhượng quyền thương mại, hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ Theo đó, khi lập dự án hoặc hợp đồng phải tách nội dung và chi phí chuyển giao công nghệ thành một phần riêng trong dự án, hợp đồng
Để khuyến khích và thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, các trường hợp miễn, giảm thuế liên quan đến hoạt động này Theo đó, tổ chức góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh bằng công nghệ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập được tạo ra từ công nghệ; miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ…
Trang 30Từ sự phân tích trên, học viên xin đưa ra cách hiểu về chuyển giao
công nghệ trong lĩnh vực y tế như sau: “Chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực y tế là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn
bộ giải pháp, quy trình, bí quyết công nghệ có kèm theo công cụ, phương tiện dùng để phục vụ việc khám chữa bệnh”
a) Công nghệ y tế dạng vật thể
Công nghệ dạng vật thể được định hình dưới một dạng vật chất cụ thể,
mà con người có thể nhận biết bằng cảm giác, thị giác
Công nghệ dưới dạng vật thể (dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện, mạch điện ) được thể hiện bằng một tập hợp thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về kết cấu, sản phẩm đó có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của con người; hoặc sản phẩm dưới dạng chất thể (vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm ) được thể hiện bằng một tập hợp thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm)
về sự hiện diện, tỉ lệ và trạng thái của các phần tử, có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của con người
Công nghệ là chi tiết hoặc tập hợp các chi tiết liên kết với nhau tạo thành một thể thống nhất về kết cấu và chức năng Công nghệ chủ yếu là các sản phẩm của quy trình sản xuất, dụng cụ lao động, các công trình xây dựng hay vật liệu để tạo ra chúng và có thể được thể hiện bởi một trong các dạng sau:
- Một hay một cụm chi tiết máy: các loại trục, khớp nối trục, ốc, vít, thanh, ống
- Các thiết bị bao gồm tổng thể các máy móc, ví dụ máy phát điện, ắc quy, nồi cơm điện, nồi hơi ; - Các sơ đồ điện; - Các máy móc, thiết bị y tế;
- Các đồ dùng dân dụng: chậu, bể tắm, mắc quần áo, dao cạo;
5
Khi biên soạn mục toàn bộ mục 1.5.2, tác giả Luận văn đã sử dụng tài liệu số 2 trong Danh mục Tài liệu
tham khảo, Phạm Phi Anh, Trần Văn Hải (2011), Bài giảng Sáng chế và Mẫu hữu ích, Trường Đại học
KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 31- Các sản phẩm khác được đặc trưng bởi kết cấu hay sơ đồ bố trí (các loại vật liệu đa lớp, dây cáp )
Công nghệ là đối tượng dạng “cơ cấu ” thường được đặc trưng bởi các dấu hiệu :
- Các thành phần cấu thành cơ cấu, tức là các chi tiết, các cụm chi tiết;
- Mối liên quan giữa các thành phần của cơ cấu (mối liên quan cơ học, vật lý, kết cấu, chức năng);
- Hình thức thể hiện trong bất kỳ thành phần nào, bất kỳ mối liên quan nào, cụ thể là hình hình học, nếu hình dạng này thể hiện bản chất công nghệ chứ không phải là hình thức thẩm mỹ của cơ cấu;
- Sự phân bố tương hỗ các chi tiết, cụm chi tiết trong không gian;
- Vật liệu chế tạo chi tiết hay cụm chi tiết của cơ cấu hoặc vật liệu chế tạo cơ cấu nói chung;
- Tỷ lệ kích thước và các thông số khác của các bộ phận hay mối liên
kết [2;35]
Ví dụ công nghệ y tế dạng vật thể: Máy tập mắt phục hồi chức năng, Máy điện tim 12 cần, Máy tạo oxy di động 5l/p, Sinh hiển vi khám mắt, Nồi hấp ngang một cửa chạy điện 196 lít, Multiplex-PCR phát hiện vi khuẩn than và vi khuẩn dịch hạch …
-
b Công nghệ y tế dạng chất thể
Công nghê dạng chất thể là tập hợp các phần tử, các nguyên tố tương
hỗ đáp ứng một nhu cầu cụ thể Chất có thể là dung dịch, hợp kim, huyền phù, chất kết tủa, hợp chất hóa học Chất có thể thuộc một trong các dạng sau:
- Các chất thu được không bằng phương pháp hóa học:
Chúng thu được bằng phương pháp pha trộn đơn giản hoặc cơ khí, ví dụ: bê tông, bột nhào làm bánh Các chất dạng này được đặc trưng bởi các
Trang 32+ Tỷ lệ định lượng giữa các hợp phần
- Các chất thu được bằng cách biến đổi hóa lý:
Chúng thu được có sự biến đổi hóa lý mà trong thực tế khó giải thích được bản chất cũng như điều khiển được các quá trình biến đổi đó Các chất này có thể là các hợp kim, các vật liệu chịu lửa,… Đối với các chất này không thể biểu thị chúng bằng công thức hóa học được nên chúng không thuộc các chất thu được bằng phương pháp hoá học
Các dấu hiệu đặc trưng cho các chất này là:
+ Thành phần định tính;
+ Tỷ lệ định lượng của các thành phần, cấu trúc vật lý của chất, các tính chất lý học và hóa học nếu chúng cần để nhận dạng chất
- Các chất thu được bằng phương pháp hóa học:
Các hợp chất hoá học, kể cả các hợp chất cao phân tử Các dấu hiệu đặc trưng cho các chất dạng này là:
+ Công thức cấu tạo của phân tử;
+ Đối với nhóm hợp chất – công thức cấu tạo và thành phần của các gốc; + Đối với các hợp chất cao phân tử – công thức cấu tạo của phân tử nói chung thông qua công thức cấu tạo của một mắt xích hoặc các mắt xích của phân tử, tính chu kỳ của các mắt xích, các nhóm cuối cùng và các nhóm phụ, hình thể và lập thể, khối lượng phân tử;
+ Đối với các chất có cấu trúc chưa biết – các chỉ số hóa học, vật lý, các chỉ số xác định bằng giác quan và các chỉ số khác đủ để nhận biết các chất này và đảm bảo tái tạo được các chất đó;
+ Các tính chất lý hóa đặc biệt cơ bản (đối với tất cả các loại chất hoá học được liệt kê)
- Các chất thu được bằng cách biến đổi hạt nhân nguyên tử:
Đó là các chất đồng vị của các nguyên tố hoá học mới; các chất đồng
vị của các chất hoá học đã biết
Các dấu hiệu đặc trưng cho các chất này là:
Trang 33+ Năng lượng của các hạt hoặc năng lượng của các tia
- Các chất thu được bằng phương pháp sinh hóa:
Trong quá trình thu được các chất này, có sử dụng các biện pháp sinh học, đó là các sản phẩm thu được nhờ quá trình vi sinh học, là kết quả của các quá trình hoạt động sống của các vi sinh, có thể thu được bằng quá trình biến đổi gen, trong thành phần của chúng bao gồm chính vi sinh này hoặc kháng gen của nó
Trang 34trộn cơ học thì các dấu hiệu của chúng giống như các dấu hiệu của các chất thu được bằng phương pháp trộn cơ học, còn nếu là chất hóa học thì các dấu
hiệu đặc trưng cho chúng sẽ là các dấu hiệu của một chất hoá học [2;37]
Ví dụ công nghệ y tế dạng chất thể: Cimetidin có tác dụng bảo vệ gan, dịch tễ học nhiễm helicobacter pylori ở trẻ em, cốm "Tiền liệt HC" trong điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt,
c Công nghệ y tế dạng quy trình/phương pháp
Phương pháp là trình tự tiến hành các công đoạn hoặc một loạt công đoạn diễn ra đồng thời hoặc diễn ra theo trình tự thời gian, trong các điều kiện công nghệ xác định có sử dụng các phương tiện vật chất
Quy trình (quy trình công nghệ; phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý ) được thể hiện bằng một tập hợp thông tin xác định cách thức tiến hành một công đoạn, một công việc cụ thể được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện pháp, phương tiện thực hiện các thao tác nhằm đạt được một mục đích nhất định
Do đó, phương pháp bất kỳ được đặc trưng bởi sự hiện diện của đối tượng cần được tác động vào bởi các phương tiện và bởi tính chất của tác động, cũng như bởi kết quả của tác động
Các dấu hiệu đặc trưng cho phương pháp này có thể là:
Phương pháp có thể thuộc các loại sau:
- Các phương pháp trong đó trạng thái của các đối tượng vật chất được xác định hoặc thay đổi mà không tạo ra một sản phẩm cụ thể, đó là các
Trang 35phương pháp đo đạc, thử nghiệm, kiểm tra chất lượng, kiểm tra độ vững chắc, tính phù hợp với các thông số cần thiết cho các sản phẩm hay phù hợp với các quy luật, hiện tượng tự nhiên;
- Các quá trình làm thay đổi trạng thái của các đối tượng vật chất (ví dụ: phương pháp chẩn đoán bệnh, quy trình chữa bệnh, quy trình chống sock kháng sinh…);
- Các phương pháp thu các chất hóa học mới, ví dụ phương pháp bào chế để thu được bài thuốc đông y chữa đau thắt động mạch vành chứa các
thành phần đan sâm, tam thất, huyết kiệt, băng phiến tổng hợp (boméon) và
polyetylen glycol
- Các phương pháp vi sinh dựa trên cơ sở biến đổi sinh học, ví dụ
phương pháp bào chế chế phẩm sinh học (biological product) như vaccine, máu hoặc thành phần máu, dị ứng, tế bào soma (somatic cell), liệu pháp gen,
mô, protein tái tổ hợp hoặc tế bào sống được sử dụng như liệu pháp để điều trị
bệnh [2;41]
Ví dụ công nghệ y tế dạng quy trình: quy trình chẩn đoán một số bệnh
di truyền trước chuyển phôi để sàng lọc phôi thụ tinh trong ống nghiệm, công nghệ cắt lưỡng cực bốc, hơi tổ chức để điều trị u lành tính tiền liệt tuyến, ung thư bàng quang, quy trình công nghệ sản xuất viên nang cứng Auflulyson, quy trình tách tế bào gốc trung mô mỡ để chế tạo sinh phẩm y tế dùng trong điều trị vết thương, vết bỏng, …
Do tình hình thực tế việc chuyển giao công nghệ Y tế ở Việt Nam, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, học viên chỉ tập trung nghiên cứu việc chuyển giao công nghệ giữa các bệnh viện ở dạng quy trình
1.4.3 Khái niệm “Chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ y tế”
Tình trạng quá tải trong việc khám, chữa bệnh tại các bệnh viện tuyến trung ương đã được các cấp quản lý và cả xã hội đề cập rất nhiều, nhưng tình
Trang 36dưới, đồng thời từ tình trạng quá tải cũng kéo theo chất lượng giảm trong việc khám chữa bệnh của các bệnh viện tuyến trung ương
Nhằm khắc phục tình trạng này, điều cốt yếu nhất là nâng cao năng lực công nghệ cho các bệnh viện tuyến tỉnh, mà chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa các bệnh viện công lập là một trong những biện pháp để nâng cao năng lực công nghệ cho các bệnh viện tuyến tỉnh
Chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa các bệnh viện công lập với mục tiêu để tạo nên một môi trường phát triển, liên kết chặt chẽ giữa
các bệnh viện công lập thông qua việc cải cách chính sách tài chính nhằm
thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ
Từ đó, học viên xin đưa ra cách hiểu về Chính sách thúc đẩy chuyển
giao công nghệ giữa các bệnh viện công lập như sau: “Chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa các bệnh viện công lập là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa bằng các văn bản pháp quy do Bộ y tế ban hành nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ giữa các bệnh viện công lập’
Việc đánh giá chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa các bệnh viện công lập được dựa trên cơ sở lý thuyết đánh giá tác động dương tính, tác động âm tính, kiến tạo xã hội của chính sách
Chương 3 của Luận văn sẽ tập trung phân tích chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa các bệnh viện công lập thông qua chính sách tài chính thích hợp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ y tế giữa các bệnh viện công lập
Kết luận chương 1
Trong Chương 1, Luận văn đã khảo sát các khái niệm có liên quan đến chủ đề Luận văn bao gồm: khái niệm chính sách; Chính sách khoa học & Công nghệ; Công nghệ; Công nghệ y tế; chuyển giao công nghệ; Phân loại công nghệ y tế Luận văn đã nêu lên sự khác biệt giữa việc chuyển giao công nghệ nói chung và công nghệ y tế nói riêng, trong đó cho thấy có mối quan hệ
Trang 37giữa chính sách tài chính với việc thúc đẩy quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ Dựa trên việc phân tích các khái niệm cơ bản, học viên cũng đưa
ra cách hiểu của học viên về “Chính sách thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ giữa các bệnh viện” làm cơ sở để xây dựng chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao và tiếp nhận y tế giữa các bệnh viện công lập Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, học viên chỉ xin tập trung nghiên cứu việc chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực y tế ở dạng quy trinh
Trang 38CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH CHUYỂN GIAO VÀ TIẾP NHẬN CÔNG NGHỆ GIỮA CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 2.1 Tổng quan về hệ thống bệnh viện công lập
2.1.1 Mạng lưới bệnh viện công lập
Sự phát triển hệ thống bệnh viện gắn liền với quá trình phát triển của hệ thống y tế, bệnh viện giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân Hệ thống bệnh viện Việt Nam gồm chủ yếu là các bệnh viện công (chiếm 93,3%) Các bệnh viện tư bao gồm cả bệnh viện bán công và bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài mới chỉ chiếm 3,7% bệnh viện và 2,2% giường bệnh trong cả nước Ngoài ra còn có 22 bệnh viện đã được cấp phép đang tiến hành xây dựng Số lượng các cơ sở y tế ngoài công lập nhiều nhưng quy mô còn nhỏ Tỷ lệ bệnh viện tư và giường bệnh tư của Việt Nam là rất thấp so với các nước trong khu vực như Thái Lan (30% và 22,5%), Indonesia (42% và 32%), Malaysia (62,4% và 164,4%), Philippin (67% và 50%)
Song song với bệnh viện thuộc Bộ Y tế, còn có bệnh viện do các bộ, ngành khác quản lý như Quân đội, Công an, Bưu điện, Giao thông, Gang thép, May mặc Các bệnh viện này thường là bệnh viện đa khoa và điều dưỡng phục hồi chức năng, chủ yếu phục vụ cho cán bộ công nhân viên của
bộ, ngành đó Quy mô của bệnh viện thường ở mức trung bình và nhỏ
Việt Nam có 1.024 bệnh viện công lập với 126 772 giường bệnh, được đầu tư nhiều trang thiết bị nhưng so với nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế thì hầu hết cơ sở vật chất, nhà cửa, điện nước, thiết bị thông dụng của các bệnh viện vẫn chưa đạt tiêu chuẩn tối thiểu
Các bệnh viện Việt Nam có quy mô nhỏ Số bệnh viện dưới 100 giường chiếm gần 70% (570 bệnh viện) Số bệnh viện có quy mô 101 - 300 giường chiếm 20% (165 bệnh viện); số giường từ 300 - 500 giường chiếm 7,2%; số
từ 501 - 700 giường chiếm 2,4% (20 bệnh viện) Có 8 bệnh viện trên 700
Trang 39giường, khoảng 1%, trong đó có 3 bệnh viện có quy mô trên 1.000 giường là Bạch Mai, Trung ương Huế và Chợ Rẫy So với quy mô giường bệnh của các bệnh viện của một số nước trong khu vực cũng rất khác nhau: số giường bình quân của bệnh viện Malaysia là 288 giường, của Trung Quốc là 138,7
2.1.2 Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế
Trong những năm gần đây, mặc dù chưa tương xứng với nhu cầu thực
tế nhưng hệ thống bệnh viện đã được nâng cấp và đầu tư tương đối đồng đều
ở tất cả các tuyến, về cơ sở hạ tầng và công nghệ Nhiều bệnh viện được cải tạo và xây dựng mới bằng cả nguồn trong nước và nguồn từ nước ngoài vào khoảng 1.472 tỷ đồng/năm, cho cả tuyến trung ương và địa phương Hệ thống sấy, hấp tiệt trùng, giặt là được củng cố Hệ thống xử lý nước thải, chất thải bệnh viện đã được chú ý đầu tư
Nhiều bệnh viện đã phục hồi hệ thống cấp thoát nước và xây dựng các
lò đốt chất thải rắn, góp phần đảm bảo vệ sinh môi trường và chống nhiễm khuẩn trong bệnh viện
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân, nhiều loại thiết chuyên ngành hiện đại như: Máy chụp cộng hưởng
từ (MRI), chụp cắt lớp điện toán (CT - Scanner), chụp mạch máu, chụp vú, máy tán sỏi ngoài cơ thể, siêu âm, các thiết bị hồi sức, phẫu thuật, xạ trị mổ nội soi đã được đầu tư, tạo điều kiện để các bệnh viện đảm bảo hoạt động
và phát triển công nghệ
Nguồn vốn để đầu tư thiết bị y tế tại các bệnh viện được huy động từ nhiều nguồn: Ngân sách nhà nước, viện trợ quốc tế và cả vốn tư nhân và thực hiện tự chủ Mỗi nguồn đầu tư có yếu tố khuyến khích khác nhau ảnh hưởng tới loại thiết bị được đầu tư, công suất sử dụng thiết bị và mức độ bảo dưỡng thiết bị
Mặt khác, một nghiên cứu đánh giá về tình hình thiết bị y tế tại các
Trang 40cứu (xấp xỉ 20%) Điều này cho thấy hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn xã hội hoá chưa cao, đầu tư máy không đồng bộ với đào tạo nhân lực sử dụng
Trên thực tế, việc huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển các cơ
sở y tế công lập đang được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu:
- Liên doanh, liên kết đầu tư thiết bị y tế tại các bệnh viện công
- Phát triển các dịch vụ theo yêu cầu tại các bệnh viện công
Thực tế cho thấy các hoạt động liên doanh, liên kết tại bệnh viện công
đã mang lại nhiều kết quả tích cực, đáp ứng nhu cầu cấp thiết về đổi mới trang
bị công nghệ y tế, đặc biệt những thiết bị công nghệ cao Kết quả từ một nghiên cứu cho thấy tại hầu hết các bệnh viện, số các thiết bị có giá trị trên 10 triệu đồng được đầu tư nhiều hơn một cách đáng kể so với trước khi bệnh viện thực hiện tự chủ Mức độ và hình thức đầu tư rất khác nhau giữa các bệnh viện Các bệnh viện có mức tự chủ cao thường dựa vào liên doanh liên kết qua hình thức đặt máy hoặc hình thức BOT để phát triển thiết bị công nghệ mới
Bên cạnh đó, việc liên doanh liên kết đầu tư thiết bị y tế tại các bệnh viện công trong điều kiện thiếu quy định của Bộ Y tế về tiêu chuẩn xét nghiệm như hiện nay có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng xét nghiệm ở nhiều
cơ sở y tế với mục tiêu thu hồi vốn, gây khó khăn cho người dân trong KCB
về chi phí y tế
2.1.3 Năng lực công nghệ
Mặc dù đã đạt được những thành tựu về chuyên môn công nghệ nhưng
so với các nước trong khu vực và các nước phát triển thì các bệnh viện Việt Nam còn ở mức độ thấp
Xét về công suất sử dụng thiết bị y tế cho thấy công suất sử dụng máy
ở Việt Nam rất thấp Chỉ so sánh công suất sử dụng máy cắt lớp, công suất sử dụng trung bình tại bệnh viện công chỉ khoảng một nửa so với Canada và 70% so với Mỹ Ngay cả trong nước cũng có sự khác nhau rất lớn trong công suất sử dụng thiết bị y tế giữa các bệnh viện Số lần thực hiện bình quân một