Kỷ yếu bao gồm hệ thống các báo cáo tổng kết và báo cáo tham luận của các đại biểu cơ sở trên địa bàn tỉnh, nêu rõ những mặt đã làm được, những tồn tại-hạn chế của việc thực hiện phong t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG THỊ THÙY GIANG
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LÀNG VĂN HÓA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG THỊ THÙY GIANG
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LÀNG VĂN HÓA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Xanh
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lương Thị Thùy Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp cao học được hoàn thành tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội Có được bản luận văn tốt nghiệp này, cùng với sự nỗ lực của bản thân Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và rèn luyện tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS.Phạm Xanh người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ và chỉ bảo những kiến thức về chuyên môn thiết thực, những chỉ dẫn khoa học quí báu trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng làng văn hóa từ năm 2001 đến năm 2011”
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Nam, ban tuyên giáo của tỉnh Hà Nam ….và các cơ quan liên quan, các cá nhân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi thu thập số liệu cũng như những tài liệu cần thiết liên quan tới đề tài
Cuối cùng, một lần nữa một lần nữa xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, các đơn vị và cá nhân đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 13 tháng 04 năm 2015
Học viên
Lương Thị Thùy Giang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 9
Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LÀNG VĂN HÓA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 9
1.1 Một số nhân tố tác động đến công tác xây dựng làng văn hóa ở tỉnh Hà Nam 9
1.1.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam 9
1.1.2 Tình hình xây dựng làng văn hóa ở tỉnh Hà Nam trước năm 2001 12
1.1.3 Chủ trương xây dựng làng văn hóa của Đảng 21
1.2 Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh dạo xây dựng làng văn hóa từ năm 2001 đến năm 2005 34
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Nam 34
1.2.2 Quá trình thực hiện và kết quả đạt được 37
Tiều ết Chương 1 44
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG LÀNG VĂN HÓA TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2011 49
2.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng làng văn hóa và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam 49
2.1.1 Chủ trương xây dựng làng văn hóa của Đảng 49
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Nam 56
2.2 Đảng bộ tỉnh Hà Nam tăng cường chỉ đạo xây dựng làng văn hóa 67
Tiểu ết Chương 2 80
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 84
3.1 Một số nhận xét 84
3.1.1 Ưu điểm 84
3.1.2 Hạn chế 87
Trang 63.2 Kinh nghiệm lịch sử 90
3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, quản lý điều hành của chính quyền, sự phối hợp với các tổ chức trong hệ thống chính trị tỉnh 90
3.2.2 Xây dựng làng văn hóa trên cơ sở tiến hành xây dựng mô hình điểm, từ đó rút ra kinh nghiệm nhân ra diện rộngError! Bookmark not defined 3.2.3 Kiện toàn các Ban chỉ đạo, Ban vận động xây dựng làng văn hóa 93
3.2.4 Xã hội hoá phong trào xây dựng làng văn hóa Phát huy tính chủ động sáng tạo cũng như tính tự quản của nhân dân trong xây dựng đời sống văn hóa 91
3.2.5 Đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ làm công tác văn hóa 93
3.2.6 Kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm và nêu gương điển hình tiên tiến trong xây dựng làng văn hoá 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 107
Trang 7Ban chấ phành Câu lạc bộ Công nghiệp hóa Hội đồng nhân dân Hiện đại hóa
Thanh niên cộng sản
Ủy ban nhân dân Văn hóa thông tin
Xã hội chủ nghĩa
Trang 8BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH HÀ NAM
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong chiến lược phát triển của đất nước, vấn đề nông nghiệp - nông thôn - nông dân có vị trí đặc biệt Các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX của Đảng đều xác định quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước phụ thuộc rất lớn vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn Giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp - nông thôn
và nông dân đã, đang và sẽ là bài toán then chốt tạo tiền đề cơ bản cho chúng
ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH Với khoảng 75% dân số sinh sống trên địa bàn nông thôn, các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia hay từng khu vực đều phải đặt nông nghiệp - nông thôn như một khu vực kinh tế - xã hội trọng điểm và giàu tiềm năng, có tính quyết định đối với sự phát triển Trong bối cảnh này, nếu giải quyết tốt các vấn đề văn hóa ở nông thôn chúng ta sẽ có những tiền đề và điều kiện cơ bản để giải quyết các vấn
đề về phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa khu vực, bởi phát triển văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương, khu vực và cả nước
Làng là đơn vị cơ bản ở nông thôn nước ta, có vai trò vô cùng quan trọng, có tính độc lập tương đối, tính tự quản, có tín ngưỡng, tập quán riêng,
có bản sắc văn hóa riêng gọi là “văn hóa làng” Chính bản sắc văn hóa làng là
cơ sở để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong nội bộ làng, tạo sự ổn định,
sự gắn bó trong cộng đồng làng xã, là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự
cố kết nhà-làng-nước trong tiến trình lịch sử nước nhà
Từ trước tới nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp trong đời sống cộng đồng làng xã, nâng cao đời sống văn háo cho nhân dân, tạo nên một cuộc sống tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở cơ sở, góp phần trực tiếp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Lần đầu tiên, việc xây dựng làng văn hóa được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội
Trang 10VIII (1996) của Đảng: “Tiếp tục thực hiện chương trình quốc gia về xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở, trong đó chú trọng vấn đề gia đình văn hóa, làng bản văn hóa” Đến Nghị quyết Trung ương 5 (tháng 7-1998) (Khóa VIII) vấn đề
xây dựng làng văn hóa được khẳng định: “Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa” Việc xây dựng làng văn hóa là một nội dung rất quan trọng nhằm thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, bởi vì hiện nay, vẫn còn khoảng 75% dân số nước ta ở địa bàn nông thôn, sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế quốc dân, vì vậy xây dựng văn hóa ở nông thôn là vấn đề hệ trọng không chỉ với hoạt động văn hóa mà còn có vai trò quan trọng cả trong hoạt động kinh tế xã hội của cả nước nói chung và Hà Nam nói riêng trong giai đoạn CNH, HĐH
Xây dựng làng văn hóa là sự kế thừa và phát triển làng - xã Việt Nam trong điều kiện mới phù hợp với sự tiến bộ văn hóa xã hội Làng là cái nôi văn hóa được ví như tấm gương phản chiếu sinh động nhất truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng, thuần phong mỹ tục, mối quan hệ xóm giềng, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình tất cả kết thành tinh hoa văn hóa và bản lĩnh văn hóa Việt Nam không bị đồng hóa bởi các thế lực xâm lược đô hộ Tinh hoa ấy cần được phát huy mạnh mẽ biến thành động lực tinh thần cho công cuộc xây dựng làng văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh ở nông thôn, làm nền tảng cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Mặt trái của kinh tế thị trường đang có nguy cơ phá vỡ những giá trị văn hóa truyền thống Bản sắc văn hóa dân tộc có những lúc, những nơi bị xâm hại bởi các sức mạnh ghê gớm của nó như: chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng Kinh tế thị trường phát triển, lũy tre làng không còn là vành đai cát cứ Nhưng tính cục bộ, địa phương chủ nghĩa, "phép vua thua lệ làng", tệ cường hào ở nông thôn lại trỗi dậy Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự xáo trộn các mối quan hệ trong làng và giữa các làng, làm nảy sinh hàng loạt vấn
Trang 11đề về ý thức đoàn kết cộng đồng, diện mạo văn hóa, an ninh chính trị và trật
Hà Nam cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước đã và đang thực hiện chủ trương xây dựng làng văn hóa Cuộc vận động xây dựng làng văn hóa ở Hà Nam tuy mới được chú trọng từ khi tái lập tỉnh (1997), song đã đóng góp một phần tích cực vào nhiệm vụ chính trị của địa phương, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình hưởng ứng Sau khi tỉnh được tái lập, mặc dù còn nhiều khó khăn, công việc bộn bề; trong khi coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, phong trào xây dựng “ àng văn hóa”, “Gia đình văn hóa” ở Hà Nam cũng được Đảng bộ tỉnh rất quan tâm chỉ đạo Phong trào này đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, góp phần củng cố , giữ gìn và phát huy nền tảng đạo đức, tinh thần truyền thống văn hóa của dân tộc, quê hương; ngăn chặn, đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực trong đời sống hàng ngày ngay từ trong mỗi gia đình, thôn xóm [1, Tr.50]
Việc đánh giá đầy đủ, khách quan, khoa học quá trình lãnh đạo thực hiện phong trào xây dựng “ àng văn hóa” của Đảng bộ tỉnh Hà Nam và việc khẳng định tính đúng đắn của chủ trương xây dựng làng văn hóa của Đảng ta,
là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược để xây dựng và phát triển nền kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Nam Mặt khác, thành tựu, khuyết điểm, thuận lợi và khó khăn, kinh nghiệm thành công và chưa thành công… trong sự lãnh đạo của
Trang 12Đảng bộ Hà Nam về phong trào xây dựng “ àng văn hóa”, cũng là những vấn
đề của một số tỉnh, thành phố khác có đặc điểm, vị trí, điều kiện tương tự, cần được nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm, để thực hiện thành công phong trào này Từ đó tổng kết kinh nghiệm, hoàn chỉnh về lý luận, phát triển về thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện hơn nữa việc cụ thể hoá đường lối của Đảng đối với từng địa phương, trong đó có tỉnh Hà Nam
Vì thế, tôi chọn đề tài "Đảng bộ Tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng
làng văn hóa từ năm 2001 đến năm 2011" làm đề tài luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành ịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
"Làng xã Việt Nam - một số vấn đề kinh tế - xã hội" của GS Phan Đại Doãn;
"Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay" của Tô Duy Hợp; "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" của tập thể tác giả Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh; "Mô hình làng văn hóa ở nông thôn hiện nay" của Thu Linh;
"Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng" và
“Định hướng phát triển làng xã Đồng bằng sông Hồng ngày nay” của Tô Duy Hợp; "Tín ngưỡng làng xã" của PGS Vũ Ngọc Khánh; "Nếp cũ - Làng xóm Việt Nam" của Toan Ánh; "Hương ước hồn quê" của Toan Ánh; "Bản sắc văn hóa làng trong xây dựng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ" của TS Lê Quý Đức; “Xây dựng làng văn hóa ở Đồng bằng Bắc Bộ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của PGS TS Đinh Xuân Dũng; “Một số vấn đề về xây dựng làng-ấp văn hóa hiện nay” của Bộ Văn hóa-Thông tin, Cục Văn hóa- Thông tin cơ sở; “Xây dựng làng văn hóa mới ở Hà Bắc” của Sở Văn hóa
thông tin Hà Bắc xuất bản
Trang 13Ở Trung ương và địa phương có nhiều đề tài nghiên cứu về phong trào
xây dựng làng văn hóa: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “làng văn hóa Thanh Hóa” mang ký hiệu KX01-15 do Trung tâm Khoa học xã hội và
Nhân văn quốc gia thực hiện; Sở văn hóa Hà Bắc cũ(gồm hai tỉnh Bắc Ninh
và Bắc Giang hiện nay) đã biên soạn cuốn sách “Một số vấn đề xây dựng làng văn hóa mới ở Hà Bắc”; Sở Văn hóa-Thông tin Thanh Hóa đã tổ chức hội thảo khoa học “Văn hóa làng Thanh Hóa”; Sở Văn hóa-Thông tin Thái Bình tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học cấp tỉnh “Định hướng xây dựng làng văn hóa ở Thái Bình”; Các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh tổ chức hội nghị, hội thảo
về “Văn hóa làng và xây dựng làng văn hóa”; Sở Văn hóa-Thông tin các tỉnh
Cần Thơ, Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa…tổ chức các hội nghị chuyên
đề về xây dựng ấp văn hóa, gia đình văn hóa
Ngoài ra cũng có nhiều bài viết về phong trào xây dựng làng văn hóa đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Tuy nhiên, đối với tỉnh Hà Nam chưa có một công trình chuyên khảo nào trình bày về Phong trào này iên quan đến phong trào xây dựng làng văn hóa có một số Kỷ yếu hội thảo và báo cáo đáng chú ý như: “Kỷ yếu Hội nghị tổng kết 20 năm phong trào xây dựng làng văn hóa (1989-2009)” Kỷ yếu bao gồm hệ thống các báo cáo tổng kết và báo cáo tham luận của các đại biểu cơ
sở trên địa bàn tỉnh, nêu rõ những mặt đã làm được, những tồn tại-hạn chế của việc thực hiện phong trào xây dựng làng, bản, khu dân cư văn hóa trong 20 năm đầu sự nghiệp đổi mới Ngoài ra, khi tìm hiểu về phong trào xây dựng làng văn hóa của tỉnh Hà Nam từ năm 2001 đến năm 2011 cũng có rất nhiều những Báo cáo tổng kết 10 năm, 5 năm và báo cáo hàng năm về vấn đề này
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên bước đầu đưa ra những đánh giá góp phần làm rõ hơn những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn đối với việc xây dựng làng văn hoá Những công trình, bài viết trên là nguồn tài liệu quý giá để giúp tác giả có cái nhìn toàn diện, so sánh và đưa ra những đánh giá sát thực Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào
Trang 14nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong việc xây dựng làng văn hóa, cũng như đánh giá vai trò của xây dựng làng văn hóa đối với sự phát triển của kinh tế xã hội, chính trị ở địa phương từ năm 2001 đến năm 2011
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ nội dung, phương thức lãnh đạo thực hiện xây dựng làng văn hóa của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 2001 đến 2011 Nêu bật tính chủ động, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong quá trình vận dụng đường lối, vận động nhân dân trong tỉnh xây dựng làng văn hóa vào điều kiện cụ thể ở địa phương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp đầy đủ các tài liệu có liên quan đến đề tài, hệ thống hóa các
tư liệu khai thác được từ các công trình nghiên cứu, các tài liệu lưu trữ ở địa phương và cả những tài liệu khảo sát thực tế
- Quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng làng văn hóa từ năm 2001 đến năm 2011
- Làm rõ quá trình thực hiện và những kết quả mà Đảng bộ tỉnh Hà Nam đạt được trong việc lãnh đạo xây dựng làng văn hóa trên một số lĩnh vực
cụ thể như: Xây dựng làng, khu phố văn hoá; Xây dựng gia đình văn hóa, Xây dựng và thực hiện hương ước quy ước, … góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng làng văn hóa phát triển bền vững
- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong quá trình thực hiện xây dựng làng văn hóa từ năm 2001 đến năm 2011
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu
- Những quan điểm, chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hà Nam về xây dựng xây dựng làng văn hoá
Trang 15- Quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam chỉ đạo xây dựng làng văn hóa từ năm 2001 đến năm 2011
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo và thực hiện phong trào xây dựng làng văn hóa trên địa bàn tỉnh Từ đó chỉ ra những tác dụng cụ thể của việc thực hiện phong trào đối với tình hình kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội của tỉnh Hà Nam
Giới hạn không gian: Địa bàn tỉnh Hà Nam bao gồm 6 huyện và thành phố
Giới hạn thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2011
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghi n cứu đề tài
Nguồn tài liệu:
- Các văn kiện Đảng và nhà nước có liên quan đến xây dựng làng văn hóa
-Các văn kiện của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hà Nam bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, quyết định, báo cáo…có liên quan đến việc thực hiện phong trào xây dựng làng văn hóa đang lưu giữ tại đại phương
- Các sách báo đã xuất bản, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, luận văn, luận án có liên quan tới đề tài
- Khảo sát thực tế
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp liên ngành và phương pháp khảo sát thực tế trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu
6 Đóng góp của Luận văn
- Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong việc chỉ đạo
và thực hiện xây dựng làng văn hóa ở địa phương Những kết quả đã đạt được của địa phương góp phần định hướng trong bảo tồn, phát huy những giá trị
Trang 16văn hóa truyền thống dân tộc đồng thời là một trong những nội dung quan trọng trong mục tiêu chiến lược của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
- Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng làng văn hoá của Đảng bộ tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng công tác này ở địa phương
- Luận văn cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho công tác tuyên truyền vận động xây dựng làng văn hóa ở địa phương, có thể dùng tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy, học tập lịch sử địa phương trên địa bàn tỉnh Hà Nam
7 Kết c u của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng làng văn hóa từ năm 2001 đến 2005
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng làng văn hóa từ năm 2006 đến 2011
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
Trang 171.1.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam
a Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
Hà Nam nằm ở tọa độ địa lý trên 20o vĩ độ Bắc và giữa 105o - 110o kinh
độ Đông, phía Tây - Nam châu thổ sông Hồng, trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ Tỉnh Hà Nam cách thủ đô Hà Nội hơn 50 km (là cửa ngõ phía Nam của thủ đô), phía Bắc giáp với Hà Nội, phía Đông giáp với Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp Hòa Bình Vị trí địa lý này tạo rất nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh Tỉnh Hà Nam bao gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện và thành phố: thành phố Phủ Lý (tỉnh lỵ của tỉnh), huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng, huyện Lý Nhân, huyện Thanh Liêm và huyện Bình Lục
Nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc - Nam, trên địa bàn tỉnh có Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam chạy qua với chiều dài gần 50km
và các tuyến đường giao thông quan trọng khác như: Quốc lộ 21, Quốc lộ 21B, Quốc lộ 38 Từ thành phố Phủ Lý có thể đi tới các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng một cách nhanh chóng và thuận tiện Với vị trí chiến lược quan trọng cùng hệ thống giao thông thủy, bộ, sắt tạo cho Hà Nam lợi thế rất lớn trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật với các tỉnh trong vùng và cả nước, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội và vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc bộ
Trang 18Về đất đai và địa hình:
Hà Nam là một tỉnh đồng bằng giáp núi nên địa hình có sự tương phản giữa địa hình đồng bằng và địa hình đồi núi Mật độ và độ sâu chia cắt địa hình so với các vùng núi khác trong cả nước hầu như không đáng kể Hướng địa hình đơn giản, duy nhất chỉ có hướng Tây Bắc - Đông nam, phù hợp với hướng phổ biến nhất của núi, sông Việt Nam Hướng dốc của địa hình cũng là hướng Tây Bắc - Đông Nam theo thung lũng lũng sông Hồng, sông Đáy và dãy núi đá vôi Hòa Bình - Ninh Bình, phản ánh tính chất đơn giản của cấu trúc địa chất
Khí hậu và thủy văn:
Hà Nam cũng như các tỉnh đồng bằng sông Hồng có khí hậu mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, mùa đông lạnh hơn nhiều với điều kiện trung bình cùng vĩ tuyến
Chảy qua lãnh thổ Hà Nam là các sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Châu và các sông do con người đào đắp như sông Nhuệ, sông Sắt, Nông
Giang, v.v Sông Hồng là ranh giới phía đông của tỉnh với các tỉnh Hưng Yên
và Thái Bình
b Điều kiện kinh tế - xã hội
Từ khi tái lập tỉnh (1997), kinh tế xã hội Hà Nam đã có những bước tiến vượt bậc và đạt được những thành tựu quan trọng Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) của tỉnh bình quân 11%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của cả nước và một số tỉnh trong vùng Tổng sản phẩm nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,1%/năm, công nghiệp và xây dựng tăng 14,3%/năm
và các ngành dịch vụ tăng 7,3%/năm Việc chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, chuyển dịch cây trồng, vật nuôi, giống mới, trồng cây xuất khẩu, sản xuất lúa giống và nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi như sản xuất trên vùng đất trũng, kinh tế trang trại, kinh tế vườn đồi…đang tạo cho kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa
Trang 19Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ: ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 18,6% năm
1996 lên 34,6% năm 2003, dịch vụ tăng từ 31,6% năm 1996 lên 31,8% năm
2003, nông lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 49,6% năm 1996 giảm còn 33,7% năm 2003 [39, tr 233-236]
Cơ cấu các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh cũng có những thay đổi đáng kể Tỷ trọng của khu vực kinh tế nhà nước trong cơ cấu tổng sản phẩm tăng từ 17,56% (giai đoạn 1991-1996) tới 30,29% năm 2003
Hà Nam đã quy hoạch 5 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 800ha tại các vị trí thuận lợi giao thông, hiện đang xây dựng cơ sở hạ tầng theo hướng đồng bộ ở 3 khu công nghiệp, cùng với các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư khá hấp dẫn sẵn sàng mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Vị trí địa lý, sự đa dạng về đất đai, địa hình và thổ nhưỡng, điều kiện khí hậu thuỷ văn thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ văn hóa, có khả năng tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật-công nghệ,hạ tầng kinh tế - xã hội đã phát triển của Hà Nam là những yếu tố tích cực để phát triển một nền công nghiệp hiện đại, nông nghiệp tiên tiến và đa dạng, cả về chăn nuôi và trồng trọt, lâm nghiệp và thủy sản Tiềm năng về phát triển kinh tế của tỉnh còn rất lớn, với sự đầu tư mạnh mẽ, khai thác và sử dụng một cách hợp lý sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội trong tương lai
c Lịch sử và văn hóa Hà Nam:
Hà Nam có lịch sử hình thành từ lâu đời, được coi là vùng đất nối nguồn địa lịch sử - văn hóa Thăng ong
Hà Nam là một tỉnh có nhiều di tích lịch sử văn hóa, gồm đủ các loại hình, phân bố rộng khắp trên toàn địa bàn Nhiều di tích có kiến trúc quy mô, nghệ thuật chạm khắc độc đáo: Chùa ong Đọi Sơn - nơi phát tích Vua ê Đại Hành cày Tịch điền, đền Trần Thương- dấu tích một kho lương thời Trần, đình Văn Xá, đình An Hòa, đình Chảy, đình Vị Hạ, đình Ngò…
Trang 20Bên cạnh những giá trị văn hóa vật thể, Hà Nam còn là quê hương của những làng nghề thủ công truyền thống, hiện có hơn 30 làng nghề đang tồn tại
và phát triển mạnh Trong đó có nhiều làng nghề nổi tiếng như: ụa Nha Xá, mây giang đan - Ngọc Động, sừng mỹ nghệ Đô Hai, thêu ren An Hòa, Hòa Ngãi, giũa cưa Đại Phu- An Đổ, mộc Cao Đà, gốm Đanh Xá, trống Đọi Tam…
Hà Nam là một trong những cái nôi của nền nghệ thuật truyền thống đang được kế thừa và phát huy như các chiếu chèo sân đình tiêu biểu: Chiếu chèo làng Ngò, chiếu chèo làng Thọ Chương, chiếu chèo làng Trương, chiếu chèo Xuân Khê ( ý Nhân), chiếu chèo Đồng Hóa (Kim Bảng), chiếu chèo Châu Giang (Duy Tiên), hát tuồng Bạch Thượng (Duy Tiên), An Thái (Bình ục) Bên cạnh đó Hà Nam còn có vốn dân ca mang đậm những nét riêng như: Hát dậm Quyển Sơn - Kim Bảng, múa hát ải èn - Lý Nhân, Dân ca giao duyên vùng ngã ba sông Móng …
Trong tương lai Hà Nam sẽ là tỉnh công nghiệp, là điểm giao lưu giữa các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng và cả nước, trên địa bàn sẽ xuất hiện nhiều khu công nghiệp lớn, nhiều khu trung tâm thương mại, dịch vụ, nhiều trung tâm đào tạo nguồn lao động, khu đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao cho khu vực và cả nước
1.1.2 Tình hình xây dựng làng văn hóa ở tỉnh Hà Nam trước năm 2001
Trong hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 2000), dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Hà Nam đã đoàn kết một lòng vượt qua thử thách, giành được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực Kinh tế phát triển tương đối toàn diện và đạt mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
có xu hướng tăng lên, nông lâm nghiệp giảm xuống; cơ chế kinh tế mới được khẳng định và đem lại hiệu quả rõ rệt Một số công trình quan trọng được xây dựng và đưa vào sử dụng phục vụ cho sự phát triển nền kinh tế - xã hội của tỉnh Đặc biệt, trong lĩnh vực văn hoá, xã hội đã có chuyển biến tích cực, nhất
là trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Đảng bộ tỉnh đã tập trung chỉ đạo
Trang 21các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị
xã hội tập trung vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn hoá và xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 5 tháng 4 năm 1988 về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” với các tiêu chí:
- Quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng, khu dân cư, nhà ở, mạng lưới dịch vụ sản xuất và thương nghiệp, quy hoạch hệ thống các công trình văn hoá xã hội và phúc lợi công cộng (như: trường học, bệnh xá, trạm xá, nhà trẻ, mẫu giáo, nhà văn hoá thông tin, công trình thể dục, thể thao…) phù hợp với điều kiện của từng xã, phường, thị trấn, gắn chặt với công tác quốc phòng, an ninh
- Tổ chức thực hiện mục tiêu no ấm, đoàn kết, văn minh, tiến bộ Tích cực thực hiện sinh đẻ có kế hoạch và bố trí dân cư hợp lý; phát triển hệ thống truyền thông và hệ thống giáo dục phổ thông, xây dựng nếp sống văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, phát huy truyền thống yêu quê hương đất nước, thực hành sống lành mạnh, tiết kiệm, loại bỏ những hủ tục mê tín, dị đoan (như ma chay, cưới xin lãng phí, rượu chè, cờ bạc,…)
- Dân chủ hoá và công khai hoá công tác quản lý kinh tế, quản lý xã hội, làm cho nhân dân được thực sự làm chủ về kinh tế, chính trị và xã hội, đề cao kỷ luật, pháp luật, kỷ cương
Đặc biệt, khi tỉnh Hà Nam được tái lập vào ngày 01/01/1997, sau 32 năm hợp nhất với tỉnh Ninh Bình và tỉnh Nam Định, với bộn bề khó khăn và thử thách, Hội đồng nhân dân tỉnh đã cùng với Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh ra sức xây dựng, củng cố và phát triển tình hình kinh tế-xã hội Trong những năm từ 1998, 1999, 2000 HĐND tỉnh Hà Nam đã lần
lượt ban hành các Nghi quyết: Nghị quyết 04/1998/NQ-HĐ về mức hoạt động phí đối với Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, phó các đoàn thể xã, phường, thị trấn; Nghị quyết 05/1998/NQ-HĐND về mức thu học phí, tiền xây dựng; và lệ phí tuyển sinh trong nhà trường; Nghị quyết 07/1999/NQ-HĐ về phân cấp một số nguồn thu cho ngân sách cấp tỉnh; ngân sách huyện, thị xã; ngân sách
Trang 22xã, phường, thị trấn; Nghị quyết 15/2000/NQ-HĐND thành lập quỹ xoá đói giảm nghèo; Nghị quyết 16/2000/NQ-HĐND về việc thành lập quỹ hỗ trợ việc làm; Nghị quyết số 13/2000/NQ-HĐND ngày 20 tháng 7 năm 2000 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Nam về tổ chức, chế độ chính sách đảm bảo cho hoạt động của lực lượng Công an xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Nam… Các
nghị quyết nhằm ổn định tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Chính bởi vậy, kinh tế của tỉnh có tôc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, cơ sở kĩ thuật hạ tầng được đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới, an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững, đời sống nhân dân được cải thiện, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong
sự nghiệp đổi mới được củng cố và nâng cao.(Phụ lục 2)
Trong 4 năm: 1997,1998,1999,2000 tốc độ tăng trưởng GDP của Hà Nam đều tăng vượt cao hơn so với cả nước, đặc biệt là năm 1999 Trong khi coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nói chung và phong trào xây dựng “làng văn hóa”, “Gia đình văn hóa” nói riêng thường xuyên được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các cấp ủy Đảng, chính quyến
có sự chỉ đạo sâu sát các Sở, ban, ngành, đoàn thể, đặc biệt là sự hưởng ứng, ủng hộ tích cực của nhân dân trong tỉnh, góp phần củng cố, giữ gìn và phát huy nền tảng đạo đức, tinh thần, truyền thống văn hóa của dân tộc, quê hương; ngăn chặn, đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực trong đời sống hàng ngày ngay từ trong mỗi gia đình, thôn xóm
Cụ thể hóa Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, công tác xây dựng làng văn hoá trở thành một trong những nhiệm vụ và chỉ tiêu công tác, thể hiện trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân,
Ủy ban Nhân dân tỉnh Từ năm 1997 đến 2000, vấn đề xây dựng làng văn hoá tiếp tục được Đảng bộ quan tâm, chú trọng Với chủ trương tiếp tục xây dựng nếp sống văn hoá cơ sở, lấy xóm, thôn, tổ dân phố làm địa bàn thực hiện các hoạt động văn hoá ở khu dân cư, từ giữa năm 1998 công tác xây dựng đời
Trang 23sống văn hoá mà trọng tâm là xây dựng làng, xã, phường, thị trấn văn hoá có bước phát triển vượt bậc so với các giai đoạn trước đó Tháng 9/1998 Ủy ban
Nhân dân tỉnh Hà Nam đã ban hành Quyết định số 66/QĐ-VH về ban hành quy chế xây dựng Làng văn hóa-Gia đình văn hóa Sau khi có Quyết định, các
ngành, các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương đã quán triệt sâu sắc tinh thần của Quyết định và đã đưa vào chương trình kế hoạch hàng năm bằng các chỉ tiêu, biện pháp cụ thể cho việc thực hiện cuộc vận động xây dựng làng văn hóa Sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương thông qua những kế hoạch cụ thể phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ của mình là điều kiện tiên quyết trong quá trình xây dựng làng văn hóa Điều này thể hiện rất rõ trong các văn bản của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ủy ban dân số -kế hoạch hóa gia đình, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, iên đoàn lao động, Sở văn hóa thông tin, Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân Tiếp
sau đó, Kế hoạch 02-KH/TU của Tỉnh ủy Hà Nam ngày 09-09-1998 nhằm tổ chưc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV
Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng kế hoạch , tổ chức nghiên cứu, quán triệt
và thực hiện Nghị quyết với mục đích yêu cầu: Trên cơ sở của việc nâng cao nhận thức và kết quả của việc thực hiện các nhiệm vụ được cụ thê hóa ở từng địa phương đơn vị mà sơ kết, tổng kết để nêu gương các điển hình tiên tiến khơi dậy phong trào thi đua “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nói chung và phong trào thi đua xây dựng “làng văn hóa”, “gia đình văn hóa”… Sau khi xây dựng kế hoạch học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương
5 (khóa VIII), các huyện, thị ủy, đảng ủy trực thuộc, các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh đã tổ chức mở hội nghị cán bộ chủ chốt để quán triệt và triển khai kế hoạch học tập, thực hiện Nghị quyết ở cơ sở, gắn với thực hiện chương trình hành động theo đúng kế hoạch của Ban thường vụ Tỉnh ủy Đến hết tháng 10/1998, tất cả các đảng bộ trực thuộc tỉnh đã tổ chức hội nghị quán triệt và
Trang 24triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) tới toàn thể cán bộ, đảng viên Các cơ quan thông tấn, báo chí, đài phát thanh-truyền hình, hệ thống phát thanh, truyền thanh từ tỉnh đến cơ sở đã tuyên truyền giới thiệu những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) tới quần chúng nhân dân
Mặt khác, để thực hiện Quyết định số 66/QĐ-VH của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam, Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị 02-CT/TU ngày 12-09-1998 "Về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mê tín dị đoan" với 4 điều khoản cụ thể thực hiện; mà nội dung của các quy định thể hiện đúng theo tinh thần của Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12-01-1998 của Bộ Chính Trị (khóa VIII):
Lễ cưới phải tổ chức gọn nhẹ, vui tươi lành mạnh, chống phô trương lãng phí, gây phiền phức, tốn kém cho bản than và mọi người Chỉ nên tổ chức ăn uống trong nội bộ gia đình và họ hàng Đối với những người thân quen thì áp dụng hình thức báo hỷ Kiên quyết xử lý nghiêm những người vi phạm luật hôn nhân và gia đình
Lễ tang phải thực hiện đúng quy định đã ban hành như: vệ sinh phòng dịch, mai tang, bảo đảm trật tự nơi công cộng, loại bỏ những tập quán, hủ tục lạc hậu Việc thăm hỏi và phúng viếng cần thiết thực Các cơ quan, tập thể chủ trì tang lễ cần hạn chế số lượng vòng hoa, trướng Chỉ nên có vòng hoa của cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể nơi người qua đời ở trong các tổ chức đó hoặc trước khi về hưu ở trong tổ chức đó Xử lý nghiêm những người vi phạm quy chế đã ban hành
Hoạt động lễ hội trên địa bàn tỉnh phải tuyệt đối theo đúng quy chế lễ hội, không kéo dài ngày mở hội gây lãng phí và tốn kem Kiên quyết xử lý nghiêm minh những người lợi dụng lễ hội để kinh doanh thu tiền bất chính, hành nghề mê tín dị đoan, cờ bạc, xâm phạm di tích văn hóa và gây rối trật tự trị an Tổ chức lễ mừng thọ hoặc sinh nhật phải đảm bảo gọn nhẹ, trang trọng, không phô trương, lãng phí
Trang 25 Tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống của các cơ quan, ban ngành, đơn
vị cũng như đón nhận những phần thưởng cao quý, dnah hiệu thi đua, huân chương…không tổ chức riêng mà kết hợp vào những dịp sơ, tổng kết Những trường hợp đặc biệt, cần tổ chức riêng phải được cơ quan quản lý cấp trên đồng ý
Cán bộ, công nhân viên không được phép lập bàn thờ, lập bát hương trong cơ quan đơn vị Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên ác đoàn thể chính trị, xã hội, không được hành nghề mê tín dị đoan dưới bất kỳ hình thức nào
Trong đó, về biện pháp tổ chức thực hiện thì Chỉ thị đặc biệt yêu cầu: Ngành văn hóa thông tin chủ động phối hợp với các ngành, các đoàn thể, tổ chức xây dựng thí điểm các mô hình mẫu đám cưới, đám tang, lễ hội, đưa vào tiêu thức tiêu chuẩn xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, từng bước nhân điển hình để triển khai rộng rãi trong toàn tỉnh
Thực hiện Chỉ thị 02/CT-TU của Ban thường vụ Tỉnh ủy về việc thực hiện nếp sống văn hóa, thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội, đồng thời xét đề nghị của Ban chỉ đạo đời sống văn hóa tỉnh Hà Nam, Ủy ban
Nhân dân tỉnh đã đưa ra Quyết định số 89/2000/QĐ-UB ngày 21-01-2000 về tiêu chuẩn công nhận các danh hiệu văn hóa Quyết định này của UBND tỉnh
Hà Nam bao gồm 4 quy định về lễ hội, việc tang, việc cưới, bài trừ mê tín dị đoan theo nếp sống văn hóa và 5 tiêu chuẩn: làng văn hóa; cơ quan, doanh nghiệp văn hóa; bệnh viện,phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế văn hóa; gia đình văn hóa Quyết định 89/2000/QĐ-UB đã quy định cụ thể về nếp sống
văn hóa, thay cho Quyết định 156-1999/QĐ-UB của Ủy ban Nhân dân tỉnh
Hà Nam về việc ban hành bản quy định tạm thời về tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội Tiêu chuẩn làng văn hóa theo Quyết định số 89/2000/QĐ-UB
bao gồm 4 tiêu chuẩn: Kinh tế ngày một phát triển, xóa hộ đói, giảm hộ nghèo, tăng hộ giàu; Nếp sống văn hóa và sinh hoạt trong làng thực sự văn minh, tiến bộ, không có những tập tục lạc hậu, không có tệ nạn xã hội; Xây
Trang 26dựng cảnh quan và môi trường sống trong lành, giữ gìn, tôn tạo những danh lam thắng cảnh di tích lịch sử, văn hóa truyền thống của làng quê; Xây dựng
nề nếp việc thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước, không có người vi phạm pháp luật Xây dựng và thực hiện hương ước phù hợp với truyền thống văn hóa địa phương và pháp luật của Nhà nước, đạt tiêu chuẩn an ninh trật tự, thôn xòm bình yên Có trên 50% hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa
Để cụ thể hóa tiêu chuẩn thứ 4, đồng thời cũng giúp chính quyền địa phương xây dựng những thỏa thuận cộng đồng, theo đó người dân sẽ tự giác thực hiện những thỏa thuận để xây dựng làng văn hóa thì Sở Văn hóa Thông
tin Hà Nam đã ban hành Hướng dẫn 73/HD-VHTT về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước làng văn hóa ngày 20-02-2000
Theo Hướng dẫn 73/HD-VHTT, khi biên soạn hương ước, quy ước cần tiến hành các bước cụ thể như:
- Thành lập ban biên soạn hương ước, quy ước gồm đại diện các ngành, giới như: Mặt trận, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi…do ông trưởng thôn làm trưởng ban
- Biên soạn tổ chức sưu tầm, nghiên cứu các hương ước cũ (nếu có) để kế thừa, chọn các nội dung tích cực và soạn thảo các nội dung mới phù hợp yêu cầu hiện tại của địa phương
- Tổ chức nhân dân góp ý kiến, bổ sung vào nội dung hương ước một cách dân chủ và công khai
- Phê duyệt hương ước, quy ước: Huyện, thị thành lập một tổ giúp việc HĐND và UBND để xét duyệt hương ước Thành phần gồm ngành VHTT, Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc, Tuyên giáo Sau khi thống nhất nội dung sẽ trình HĐND và UBND huyện phê chuẩn
- Hương ước làng văn hóa khi được phê duyệt cần được tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin của địa phương, được gửi đến mỗi người dân, gia đình, dòng họ…để quán triệt và thực hiện
Trang 27- Mỗi năm một lần, cần tổ chức họp dân lấy ý kiến đóng góp,
bổ sung của nhân dân để sửa đổi các điều quy định trong hương ước cho phù hợp yêu cấu phát triển của địa phương
- Thực hiện hương ước lấy phương châm vận động giáo dục nhân dân tự giác là chính, tạo dư luận quần chúng trong thôn ủng hộ mọi sự tiến bộ, phê phán những hành vi tiêu cực, kèm theo các biện pháp khen, chê kịp thời
[33, tr 63-67] Việc tổ chức thực hiện xây dựng làng văn hóa trên trong địa bàn tỉnh
Hà Nam đã kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, của địa phương, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại, nhiều hủ tục, mê tín dị đoan trong việc cưới, việc tang, lễ hội bước đầu bị loại trừ, nhiều loại văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ từng bước bị đẩy lùi Đời sống văn hoá có nhiều khởi sắc Thực tế cho thấy, phong trào xây dựng làng văn hóa được tỉnh triển khai từ những năm 80 với mô hình làng Quang sán, xã Mỹ Hà, huyện Bình Lục Khi tỉnh chưa có văn bản chỉ đạo cụ thể về nội dung xây dựng làng văn hóa, huyện Bình Lục vẫn kiên trì vận động nhân dân xây dựng làng Quang Sán thành một làng văn hóa Xã Mỹ Hà giữ vững được hệ thống nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học, trạm xá; xây dựng điện, đường và hệ thống truyền thanh về các xóm nhỏ Mỹ Hà cũng là nơi xây dựng mỗi xóm có một điểm sinh hoạt văn hóa thể thao Sau đó, tỉnh tập trung chỉ đạo xây dựng điểm tại làng Quang Sán(Mỹ Hà) Bên cạnh sự giúp đỡ về chuyên môn, nghiệp vụ, ngành văn hóa – thông tin còn trích kinh phí hơn 30 triệu đồng để Mỹ Hà xây dựng trung tâm
văn hóa thể thao tại làng Quang Sán.[ 64, Tr.191-193]
Từ thực tế ở Mỹ Hà cho thấy, cuộc vận động xây dựng làng văn hóa đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân.Các huyện trong tỉnh đã chủ động đi tham quan, học tập mô hình xây dựng làng văn hóa xã Mỹ Hà và vận dụng trong toàn huyện Năm 1997, khi mới tách tỉnh, Hà Nam có 6 làng được
Trang 28công nhận làng văn hóa Năm 1998 có 23 làng văn hóa Năm 1999 có 45 làng văn hóa Năm 2000, có 70 làng văn hóa, 5 tổ dân phố, 75 đơn vị được công nhận làng, đơn vị văn hóa.[9, tr 53]
Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam bên cạnh những thành công bước đầu trong công tác xây dựng làng văn hóa vẫn còn nhiều khó khăn hạn chế: Dưới tác động của nền kinh tế thị trường cùng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng giao lưu trên các lĩnh vực đã làm cho sự thâm nhập của văn hoá với lối sống phương Tây vào xã hội Việt Nam nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng, với những tác động đa chiều, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc nhìn nhận các giá trị truyền thống, nhất là thuần phong mỹ tục trong đời sống của các tầng lớp nhân dân như lối sống chạy theo đồng tiền, thị hiếu không lành mạnh Nhiều gia đình cán bộ có chức, có quyền tổ chức đám tang, đám giỗ, đám cưới linh đình Phong trào xây dựng gia đình, làng, xã văn hoá phát triển còn chậm, chưa thật vững chắc, số làng, xã, gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá còn thấp Ở hầu hết các huyện, phong trào xây dựng làng văn hóa chỉ nổi lên ở một vài làng, xã tiêu biểu Số còn lại do đời sống kinh tế gặp khó khăn nên “lực bất tòng tâm” Nhiều nơi kinh phí tu sửa đường giao thông, sửa chữa bệnh viện, trạm xá, hệ thống thông tin, hoạt động văn hóa – thể thao vẫn còn chờ vào vụ lúa Ở một số địa phương, kinh tế phát triển thì các
tệ nạn xã hội như: Cờ bạc, nghiện hút đã làm tan nát không ít các gia đình nông dân Các hủ tục mê tín dị đoan nảy sinh và phát triển làm cho ý thức, tư tưởng người nông dân vốn gắn bó máu thịt với họ hàng, làng xóm trở nên phức tạp Một số nơi phục hồi lại đình, chùa, miếu mạo và tục lệ cưới xin, ma chay lạc hậu đã bị dứt bỏ từ trước Đặc biệt, đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá còn thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác
Trong thời kỳ đất nước đang trên con đường đổi mới, quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam đã tạo ra những điều kiện thuận lợi, những cơ hội lớn đối với việc giao lưu và kế thừa phát huy bản sắc
Trang 29văn hoá dân tộc Tuy nhiên, trong dòng chảy hội nhập quốc tế cũng gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ đối với việc bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc cũng như trong xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh mang nét riêng của đất nước nói chung của tỉnh Hà Nam nói riêng; nhất là trong việc cưới, việc tang và lễ hội, cũng như trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật truyền thống của các làng quê
Do vậy, đòi hỏi công tác xây dựng làng văn hóa của tỉnh trong thời gian tới cần có sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Đảng bộ tỉnh Hà Nam, sự phối kết hợp giữa các sở, ban, ngành, các địa phương tập trung xây dựng làng văn hóa theo hướng phát huy các giá trị văn hóa làng truyền thống để xây dựng làng văn hóa có kinh tế ngày một phát triển, nếp sống văn hóa và sinh hoạt trong làng thực sự văn minh, tiến bộ
1.1.3 Chủ trương xây dựng làng văn hóa của Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết quan điểm của mình về văn hoá trong Mục đọc sách của tác phẩm "Nhật ký trong tù": “ý nghĩa của văn hoá: vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra Nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn; 5 điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc : Xây dựng tâm lý, tinh thần độc lập, tự cường; Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng; Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội ; Xây dựng chính trị: dân quyền;
Trang 30thấy, để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì trước hết phải bắt đầu từ văn hóa chính trị Một nền văn hóa lành mạnh chỉ có thể khi được đặt trong một hệ thống xã hội lành mạnh Cũng xuất phát từ quan điểm cho rằng sự phát triển của văn hoá gắn liền với sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác- ênin, Người cho rằng: “Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin bao nhiêu thì càng phải coi trọng những truyền
thống văn hoá tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu”[45, tr.554] Người đòi hỏi phải
biết giữ gìn vốn văn hoá quý báu của dân tộc, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hoá dân tộc Tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện cụ thể trong sắc lệnh về bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam ký ngày 23/11/1945, tức là ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời Trong đó quy định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Đông phương Bắc cổ học viện Hồ Chí Minh rất quan tâm đến những di sản văn hoá dân tộc Người cho rằng: “Văn hoá Việt Nam ảnh hưởng lẫn nhau của văn hoá Đông phương và Tây phương chung đúc lại…Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt ta phải học lấy để phải tạo ra một nền văn hoá Việt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam đề hợp với tinh thần dân chủ” [46, tr.30].Trong từng giai đoạn nhất định, gắn với những nhiệm vụ cụ thể, Người đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hoá là: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng” [47, tr 173]
Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Văn hóa luôn được Đảng và Nhà nước ta nghiên cứu, quán triệt và thực hiện Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp
Trang 31hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Quan điểm này đánh dấu sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, đồng thời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6-1991) đã xác định nền văn hóa
tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Như vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được bổ sung, phát triển đầy đủ và phong phú hơn trong các văn kiện của Đảng sau này Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
VII đã chỉ rõ: "Nền văn hóa mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc" [20, tr.54-55] Đặc biệt, đến
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra nghị
quyết riêng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: "Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là
Tháng 7-2004, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã
ra Kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm sắp tới
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) (16/7/1998),về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 nhóm giải pháp lớn để xây dựng
và phát triển văn hóa, trong đó nhóm giải pháp số 1 có ý nghĩa then chốt là
Trang 32"Mở cuộc vận động giáo dục Chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" Từ trước đó, chủ trương xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đã từng được Trung ương Đảng chỉ
ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V: “phải đưa văn hoá
thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy, công trường, nông trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã phường đều có đời sống văn hoá”[59, tr.101] Quán triệt tinh thần trên Bộ Văn hoá thông tin khi đó đã chủ trương phát động trong cả nước phong trào mạnh
mẽ xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở (1981 - 1985) có những nội dung, chỉ tiêu rõ ràng với 6 mặt công tác chuyên ngành theo chức năng nhiệm vụ của
Bộ được xác định là : thông tin cổ động, văn nghệ quần chúng, đọc sách báo
và thư viện, nếp sống văn hoá, giáo dục truyền thống, hoạt động nhà văn hoá - câu lạc bộ Trong công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, một trong những cái được nhất, cái đáng kể nhất, cũng là tâm đắc nhất của những người
làm công tác văn hoá cơ sở là xây dựng Làng văn hoá Phong trào này thực
sự phát triển từ cơ sở lên, đi từ không đến có, bởi lúc đầu là tự phát, làm
“chui’’ ở một số địa phương, chủ yếu là ở một số tỉnh khu vực đồng bằng Bắc
bộ như Nam Định, Hà Tây, Hà Bắc…
Chủ trương về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của Đảng ta cũng là sự
kế thừa tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh Năm 1947, Ủy ban Trung ương
vận động đời sống mới đã xuất bản tác phẩm Đời sống mới dưới dạng hỏi-đáp
của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh Tân Sinh Xuất phát từ tầm nhìn và tư duy thiết thực, cụ thể, Bác Hồ đã chỉ ra một cách tỉ mỉ việc xây dựng đời sống mới ở trong một nhà, một làng, một trường học, một đơn vị bộ đội, một công
sở hoặc nhà máy Đối với Làng, theo chỉ dẫn của Bác: " Do nhiều người nhóm
lại mà thành Làng, do nhiều Làng nhóm lại mà thành Nước Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành Làng xấu, Nước hèn; nếu mỗi người
cá nhân tốt, thì Làng tốt, Nước mạnh Người là gốc của àng, Nước, nếu mỗi
Trang 33người cố gắng làm đúng đời sống mới thì Dân tộc nhất định phú cường" [9,
tr.335-336] Qua đó, chúng ta thấy Bác xác định rõ vị trí, vai trò của làng
trong sự nghiệp xây dựng đất nước Và theo Người các làng xã cần phải làm những việc sau: “Về văn hóa phải làm cho cả làng đều biết chữ, biết đạo đức
và trách nhiệm của công dân Về phong tục, phải cấm hẳn say sưa cờ bạc, hút sách, trộm cắp, đĩ điếm Tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau Làm cho làng mình trở thành một làng " thuần phong mỹ tục" Làng phải vệ sinh, đường sá sạch sẽ Cán bộ của làng phải là người trong sạch, công bằng, thạo việc, làm gương cho mọi người, hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung” [48, tr.338]
Đó là những chỉ dẫn cực kỳ quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng làng kiểu mới, “thuần phong mỹ tục” và đó cũng là những ý kiến vô cúng sáng suốt của Bác về vị trí của văn hóa cơ sở trong nền văn hóa chung của dân tộc, đất nước
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới, Đảng và Nhà nước
ta đã khởi xướng và tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là xây dựng đời sống mới, lối sống mới, là thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính bằng chương trình mục tiêu quốc gia; nhằm CNH, HĐH nông thôn, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Xuất phát từ nhận thức sâu sắc về bản chất, vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội, khẳng định sự nghiệp văn hóa là của dân, do dân và vì dân, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở luôn xuyên suốt trong các kỳ Đại hội Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã mở đường cho quá trình đổi mới đất nước; cũng đồng thời là quá trình đổi mới trong sự nghiệp văn hóa Thời gian này, mặc dù công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở nói riêng, trong sự nghiệp văn hóa nói chung còn chậm, nhưng sự nghiệp văn hóa - thông tin ở cơ sở đã có sự chuyển động mới, đời sống văn hóa đã xuất hiện nhiều nhân tố mới
Trang 34Nghị quyết Trung ương 10 của Bộ Chính Trị (khóa VI), năm 1988, đã đánh dầu cái gốc của sự phục hưng làng Chính sách khoán trong nông nghiệp
đã tạo ra sự thay đổi về cơ chế quản lý và tổ chức sản xuất ở khu vực nông thôn Hộ gia đình trở thành đơn vị cơ sở trong sản xuất và cũng từ đó, trở thành một dạng đơn vị cơ sở của hoạt động văn hóa Với việc khoán đất, khoán ruộng cho hộ nông dân, nông dân bây giờ đã chủ động làm ăn trên mảnh đất nhận khoán, thì vai trò của đội không còn nữa Thực tế sau khi chính sách Khoán 10 được ban hành, cơ chế quản lý và mô hình tổ chức sản xuất theo đơn vị tập thể hợp tác xã cũng thay đổi Chế độ bao cấp về văn hóa
vì vậy cũng mất dần Do điều kiện bao cấp không còn, ở hầu hết các xã, hệ thống thiết chế văn hóa như nhà văn hóa, thư viện, câu lạc bộ, đội văn nghệ quần chúng ngừng hoạt động hoặc hoạt động hết sức khó khăn Trong khi đó, các đơn vị như làng (thôn, ấp, bản…) dần dần được trở lại vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội và cũng là địa bàn diễn ra các hoạt động văn hóa
tự phát của nhân dân xuất phát từ nhu cầu về văn hóa tinh thần của họ Cũng
vì vậy, nhiều hoạt động văn hóa làng, thôn được khôi phục khá đa dạng như lễ hội, văn nghệ quần chúng…
Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã vạch ra phương hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới và những quan niệm mới Đó là sự trở mình tất yếu của đất nước để vươn lên giàu mạnh Cùng với khẳng định đường lối CNH, HĐH, Đại hội VIII của Đảng đã đặt công tác văn hóa văn nghệ lên một vị trí mới, trước đây chưa có được Văn kiện Đại hội đã chỉ rõ: Văn hóa, văn nghệ
là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của quá trình phát triển; đã coi văn hóa là bộ phận không thể tách rời trong kết cấu hạ tầng xã hội - bên cạnh giao thông, điện nước, bệnh xá…và đòi hỏi có “chính sách đầu
tư thích đáng” cho văn hóa để tăng cường nguồn lực cho văn hóa; và xác lập một chiến lược thông tin cho thời kỳ mới Lần đầu tiên Văn kiện Đảng đã dành một phần riêng để làm sáng tỏ vị trí của văn hóa sau khi đề cập nhiệm
Trang 35vụ kinh tế Như vậy, văn hóa đã được coi là nhân tố cấu thành, yếu tố nội sinh của sự phát triển “Văn hóa vừa có trách nhiệm phục vụ cho CNH, HĐH, vừa
là bộ phận cấu thành làm ra sức mạnh nội tại của sự nghiệp CNH, HĐH - là
sự sáng suốt từ bên trong của CNH-HĐH”[64, tr.8-9] Vai trò của việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở từng bước được chú trọng, nâng cao, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh
Đặc biệt, lần đầu tiên tên gọi “làng văn hóa” đã được nêu lên chính thức trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII(1996): “ Tiếp tục thực hiện
ba chương trình quốc gia về văn hóa – thông tin:…xây dựng đời sống văn hóa
cơ sở, trong đó chú trọng vấn đề gia đình văn hóa, làng bản văn hóa, nếp sống văn minh đô thị” [26, tr.205]
Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp trong đời sống cộng đồng nhân dân, tạo nên một cuộc sống tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở cơ sở, góp phần trực tiếp xây dựng nến văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Từ thực trạng văn hóa nước ta, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) (7-1998) đã khẳng định: “ Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống vǎn minh ”[78, tr.42] Hiện nay, vẫn còn khoảng gần 80% dân số nước ta sống ở địa bàn nông thôn, sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế quốc dân, vì vậy, xây dựng làng văn hóa là một nội dung rất quan trọng nhằm thực hiện phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) xác định các chỉ tiêu cụ thể trong định hướng phát triển văn hóa thời kỳ 2001-2005, trong đó:
“Phấn đấu 80% gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa; 50% làng, xóm, khu phố đạt chuẩn văn hóa quốc gia; 78% xã, phường có nhà văn hóa; bình quân mỗi người dân có 4 bản sách/năm” [25, tr.297]
Trang 36Bộ Văn hóa - Thông tin đã ban hành một số văn bản pháp quy trong đó
có Quy chế công nhận danh hiệu gia đình văn hóa, làng văn hóa, khu phố văn
hóa (Ban hành kèm theo Quyết định số 01/2002/QĐ-BVHTT ngày 02-01-2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin) nhằm hướng dẫn cụ thể các sở ban
ngành, các đoàn thể, tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng về văn hóa thời
kỳ 2001-2005 Trong đó, tiêu chuẩn, thủ tục công nhận làng văn hóa thuộc
Mục 2 của Quy chế này, bao gồm 5 nội dung: Điều 7.Tiêu chuẩn chung công
nhận danh hiệu làng văn hóa; Điều 8 àng văn hóa do Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã thành phố trực thuộc tỉnh công nhận; Điều 9 àng văn
hoa do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận;
Điều 10 Tiêu chuẩn công nhận danh hiệu làng văn hóa ở các tỉnh miền núi; Điều 11 Công nhận làng văn hóa ở các tỉnh miền núi Ngoài ra Quy chế của
Bộ Văn hóa – Thông tin cũng đã dành riêng Mục 4 để quy đinh khen thưởng
làng văn hóa, khu phố văn hóa xuất sắc [9, tr.299-308]
Kết quả của phong trào xây dựng làng (thôn, ấp, bản…) văn hóa trên toàn quốc đã khẳng định tính sáng tạo, tính đúng đắn trong các chủ trương của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Trước tiên, phong trào xây dựng làng (thôn, ấp, bản…) văn hóa đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội Ở những địa phương có nhiều làng đạt danh hiệu văn hóa, đời sống kinh tế của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao,
hộ đói không còn, số hộ nghèo giảm hẳn, số hộ giàu tăng lên Cở sở vật chất
hạ tầng và các thiết chế văn hóa được xây dựng khang trang Cảnh quan môi trường sạch đẹp Các chỉ tiêu xã hội như y tế, giáo dục được thực hiện tốt, không có tệ nạn xã hội Tình làng nghĩa xóm được củng cố Nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội được thực hiện An ninh chính trị được đảm bảo Tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh Người dân có ý thức tốt trong việc chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trang 37Nếu như trước đây phương thức quản lý, tổ chức các hoạt động văn hóa
ở cơ sở nặng về đơn chiều, mang tính hành chính, bao cấp, không phát huy được tiềm năng cũng như vai trò của nhân dân trong các hoạt động văn hóa ở
cơ sở thì việc tổ chức xây dựng làng văn hóa đã khắc phục được những hạn chế đó Trong xây dựng làng văn hóa, người dân được tham gia bàn bạc xây dựng Quy chế văn hóa, đồng thời cũng là người trực tiếp thực hiện các nội dung của Quy chế văn hóa
Phong trào xây dựng làng văn hóa đã góp phần tích cực trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” do Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, Phong trào “Xây dựng gia đình nông dân văn hóa” của Hội Nông dân Việt Nam, phong trào “ Phụ nữ giúp nhau xóa đói, giảm nghèo” của Hội Phụ nữ, phong trào “Thanh niên lập nghiệp” của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường thì công tác chỉ đạo, quản lý trên một số lĩnh vực văn hoá - xã hội có phần bị buông lỏng, việc giáo dục nếp sống và lối sống bị xem nhẹ, phát sinh nhiều hiện tượng không lành mạnh trong xã hội như: tổ chức đám cưới, đám tang linh đình, phô trương, có những trường hợp thực chất là "bán cỗ thu tiền" Mê tín dị đoan cùng nhiều hủ tục, kể cả một số hủ tục mới hình thành
do thói đua đòi, và do cách học theo nước ngoài thiếu sự phê phán, chọn lọc, đang có khuynh hướng phục hồi và phát triển khá phổ biến ở nhiều nơi
Trang 38vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong việc cưới, việc tang,
lễ hội
- Lành mạnh, tiết kiệm, tránh xa hoa lãng phí, phiền nhiễu
- Chống khuynh hướng kinh doanh, vụ lợi
- Xoá bỏ hủ tục, bài trừ mê tín dị đoan
Để thực hiện nghiêm chỉnh ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính Trị, này
28-03-1998, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 14/1998/CT-TTg về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Trong đó, yêu cầu
các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động phối hợp với Ủy ban mặt trận tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức xã hội các cấp, theo chức trách và thẩm quyền của mình, xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, phù hợp với thực tế của địa phương và triển khai thực hiện tới tận cơ sở; coi đây là công tác trọng tâm trong nhiều năm nhằm xây dựng nếp sống văn minh, tiến bộ, giàu bản sắc văn hóa dân tộc
Đây cũng chính là tinh thần và mục đích xây dựng “Đời sống mới” mà Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng
bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ Thí dụ:
ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm…cái gì mới mà hay, thì ta phải làm… àm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy
đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn.” [48, tr.331-332] Như vậy, theo Bác
đời sống mới không phải cao xa gì, khó khăn gì, mà đời sống mới là phải bỏ
đi những hủ tục lạc hậu trong nhân dân, đồng thời sửa đổi cho hợp lý và phát triển thêm những truyền thống văn hóa tốt đẹp Tất cả nhằm làm cho đời sống
vật chất của nhân dân được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn
Thực hiên Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12-01-1998 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 14/1998/CT-TTg ngày 28-03-1998 của Thủ tường Chính phủ, ngày 11-07-
Trang 391998, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin đã ban hành Thông tư
04/1998/TT-BVHTT Hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang,
lễ hội… Với Thông tư 04/1998/TT-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa –
Thông tin sẽ giúp các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ chủ động phối hợp với UB Mặt trận các cấp các đoàn thể nhân dân xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai cuộc vận động Đặc biệt, Thông tư đã nhấn mạnh: Các Sở Văn hóa – Thông tin phải đặc biệt chú trọng hướng dẫn xây dựng các quy ước việc cưới, việc tang, lễ hội phù hợp với phong tục tập quán từng vùng, từng dân tộc(…)Gắn liền việc thực hiện quy ước việc cưới, việc tang, lễ hội với xây dựng gia đình văn hóa, làng, ấp, bản…văn hóa, cơ quan xí
nghiệp, trường học văn minh [78, tr.287-288]
Một nội dung quan trọng gắn liền với phong trào xây dựng làng văn hóa theo chủ trương chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta, đó là việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư Hương ước, quy ước được coi là một công cụ quan trọng góp phần quản lý xã hội trong phạm vi thôn, làng Việt Nam từ nhiều thế kỷ qua Xét về mặt lịch sử ra đời, hương ước, quy ước ở Việt Nam xuất hiện từ thế kỷ XV, được củng cố qua các thế kỷ XVI, XVII, XVIII và đầu thế kỷ XX Trong chế độ phong kiến, hương ước, quy ước tồn tại song song với pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam, góp phần giữ gìn bản sắc và sự phát triển của dân tộc Trong suốt chiều dài lịch sử xã hội phong kiến hương ước luôn giữ vị trí quan trọng trong việc ổn định cuộc sống của dân làng, là công cụ đắc lực để Nhà nước điều chỉnh và quản lý làng xã Và từ chỗ là quy ước về lối sống, hương ước đóng vai trò là “Cương lĩnh tinh thần” điều chỉnh các hoạt động của mọi
tổ chức và cá nhân trong làng xã Hương ước là một thành tố không thể thiếu được trong bức tranh toàn cảnh của văn hóa làng Mỗi làng - xã Việt Nam có một bản sắc riêng làm nên tính đa dạng phong phú, nên hương ước cho chúng
ta một bức tranh nhiều màu vẻ về sinh hoạt tại các làng xã Việt Nam cổ Một đặc trưng hiếm thấy là, trong số lượng lớn hương ước (một số đã xuất bản
Trang 40thành sách, lưu trữ ở Viện Hán Nôm và Viện Thông tin khoa học xã hội) thì hương ước của mỗi làng xã không bao giờ trùng lặp nhau về nội dung Mỗi hương ước đều ẩn chứa tính đa dạng, tính linh hoạt, tính đặc trưng trong tâm tính người Việt ở mỗi vùng đất khác nhau GS Đinh Gia Khánh cho rằng, hương ước "là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến tổ chức xã hội cũng như đến đời sống xã hội trong làng, các điều lệ hình thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết" [41, tr.62]
Tuy nhiên, sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam không chủ trương xây dựng hương ước ở nông thôn Thời gian này, người
ta quan niệm rằng, hương ước là biểu hiện tập trung của những tư tưởng cổ hủ, lối sống lạc hậu, không có cơ sở để tồn tại trong môi trường xã hội mới Chính
vì vậy, vào năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi tiếp đoàn cán bộ tỉnh Thái Bình tại Phủ Chủ tịch đã phê bình các cán bộ địa phương đã "quá tả", xóa bỏ quỹ nghĩa thương và hương ước Người khẳng định: "Hương ước là những khoán ước trong làng, người ta quy định với nhau không được để trâu bò phá lúa, gà qué ăn mạ đó là những phong tục hay của nông thôn nước ta trước đây Từ sau cách mạng, các chú đem xóa bỏ cả, thế là không đúng Cách mạng
chỉ xóa cái xấu, cái dở còn giữ lại cái tốt, cái hay” [32, tr.48]
Ý kiến sáng suốt trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp các cấp chính quyền và ngành Văn hoá - Thông tin ở một số địa phương trong quá trình đổi mới đề ra biện pháp quản lý, chỉ đạo là: Trên cơ sở hương ước cũ, tiếp thu có chọn lọc để xây dựng hương ước mới (Quy ước làng văn hóa)
Kết quả rút ra từ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: “Làng văn hoá Thanh Hoá” mang ký hiệu KX 01 - 15 do Trung tâm khoa học Xã hội và
Nhân văn Quốc gia thực hiện đã khẳng định: làng là mô hình tổ chức quản lý các hoạt động văn hoá, xã hội ở nông thôn phù hợp với giai đoạn chuyển biến sâu sắc của đất nước Đây là đơn vị cộng đồng dân cư có tính ổn định tương đối về thiết chế tổ chức và các mối quan hệ xã hội àng (thôn, ấp, bản ) còn
là nơi lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống đã được thử thách qua nhiều