CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .... PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
**********
NGUYỄN DUY QUỲNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU:……… 2 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN
DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 10
1.1 Quan niệm chung về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa……… 10 2.1 Quan niệm chung về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân……… 17
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ MỐI QUAN
HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 34
2.1 Những điểm mạnh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ở Việt Nam
hiện nay ……… 34 2.2 Những hạn chế về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ở Việt Nam hiện
nay ……… 42 2.3 Những vấn đề đặt ra về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ở Việt Nam
hiện nay ……… 51
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG
CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 61
3.1 Phương hướng tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay…… 61 3.2 Một số giải pháp chủ yếu tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay ……… 71
KẾT LUẬN 104 TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 3MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xoá bỏ hoàn toàn chế độ thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước theo còn đường xã hội chủ nghĩa
Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phấn đấu hy sinh
vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc, ngoài ra không có lợi ích nào khác Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ đặc biệt, không thể tách rời Đây là một trong những quy luật tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề phải xây dựng một Đảng sao cho gắn bó máu thịt với nhân dân Nếu khi nào đảng viên cộng sản, nhất là những người giữ trọng trách trong các cơ quan Đảng và chính quyền xa rời quần chúng, không sống với cuộc sống của nhân dân thì khi ấy Đảng sẽ đứng trước một nguy
cơ là mất ngay những điều kiện sống của chính bản thân mình Điều ấy đã được minh chứng qua sự tan rã của các Đảng Cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu kéo theo sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa Bởi thế, muốn gắn bó máu thịt với nhân dân, đòi hỏi Đảng phải thường xuyên nỗ lực, tự đổi mới và chỉnh đốn, tự phê bình và phê bình, nghĩa là bản thân Đảng phải có đủ lương tri và trí tuệ những điều kiện để nhân dân tin yêu và kính trọng Theo Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được hình thành và phát triển cùng với quá trình cách mạng Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, Đảng chỉ là người hướng dẫn, tổ chức và lãnh đạo mọi hoạt động của phong trào cách mạng Người còn nhắc nhở chúng ta phải hiểu sâu sắc ý nghĩa, vai trò của nhân dân trong mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
Trang 4Trong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc, do nhu cầu phải lãnh đạo kịp thời cho kháng chiến, các chủ trương chính sách của Đảng được nhân dân thực hiện trực tiếp Sau khi hòa bình lập lại trên cả nước, những chủ trương của Đảng về cơ bản đã dần được thể chế hóa thành pháp luật, người dân thực hiện các chủ trương của Đảng thông qua các chính sách pháp luật của Nhà nước Đến thời kỳ chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, việc thể chế hóa chủ trương của Đảng bằng pháp luật được thể hiện ngày càng đậm nét hơn, đặc biệt kể từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX khi Đảng ta chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì vai trò của pháp luật ngày càng được coi trọng
Trong hơn 23 năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Ðảng, toàn dân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Ðến nay, mặc dù còn không ít khó khăn, hạn chế, đất nước ta đã có sự thay đổi
cơ bản và toàn diện Kinh tế có sự tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh Ðời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng
cố và tăng cường Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những thành quả to lớn đó là Đảng tin dân, dân tin Đảng Nhiều cán bộ, đảng viên, nhiều tổ chức đảng đã phát huy và thực hiện tốt đường lối quần chúng của Đảng nên ở những nơi đó mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ngày càng gắn bó chặt chẽ
Trong những năm qua, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định Luật pháp đang dần dần giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng thông qua việc thực thi pháp luật Tuy nhiên, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay vẫn đang bộc lộ những khó khăn nhất định Tình trạng mất dân chủ còn tồn tại, việc thực thi luật pháp ở nơi này, nơi khác vẫn chưa nghiêm Một số cán bộ đã lợi dụng chức quyền, nhân
Trang 5danh Đảng, luật pháp để làm điều sai trái đã gây bất bình trong nhân dân Kỷ cương phép nước đôi lúc bị coi nhẹ Chức năng của Đảng và Nhà nước đôi lúc chưa được xác định rõ, nhiệm vụ còn chồng chéo Tình trạng dân khiếu kiện
“biểu tình”, chống lại chính quyền, cán bộ, đảng viên ở một số nơi trong thời gian qua là tiếng chuông cảnh tỉnh về nguy cơ Đảng và chính quyền nơi đó đã mất chỗ dựa ở dân, cũng như dân ở nơi đó không còn tin vào những con người nhân danh đại diện cho Đảng Thực tế đó nếu không được khắc phục kịp thời thì hậu quả khôn lường Bởi vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo rằng, một Đảng, một dân tộc và mỗi cá nhân ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, nhưng không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến
và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân Thực trạng đó đặt ra yêu cầu bức thiết là phải tiếp tục tăng cường và củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng nhanh chóng và sâu rộng thì mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân càng được coi trọng, càng cần phải được củng cố và tăng cường hơn bao giờ hết Đảng phải ra sức chăm lo đến lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới, với tình hình thế giới đang diễn ra phức tạp trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Ðảng Dựa vào nhân dân, xuất phát từ thực tiễn phong phú của nhân dân, thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật các mặt của cuộc sống để đi lên
Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, góp phần tìm ra những giải pháp để tăng cường mối quan hệ, gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong điều kiện nước ta đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, vừa cấp thiết trước mắt,
vừa cơ bản lâu dài Với tất cả những lý do đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Mối quan
Trang 6hệ giữa Đảng với nhân dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Chính trị
học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân cũng như nghiên cứu về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đó là những kết quả bước đầu đáng trân trọng của các nhà khoa học
Mối quan hệ Đảng với nhân dân đã được đề cập trong các công trình
nghiên cứu của nhiều học giả, trong đó có một số cuốn sách như: Phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong sạch vững mạnh (Đỗ Mười, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng (Nxb Quân
đội nhân dân, Hà Nội, 2006); Mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân trong thời kỳ
đổi mới đất nước - Vấn đề và kinh nghiệm (Nguyễn Văn Sáu, Trần Xuân Sầm,
Lê Doãn Tá - đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); Xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân (Nxb Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 2003); Xây dựng Nhà nước Pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay (Lê Minh
Quân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003); Mối quan hệ giữa Đảng và Dân
trong tư tưởng Hồ Chí Minh, (Đàm Văn Thọ, Vũ Hùng, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội 1997); Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng (Nguyễn Quốc Bảo, Nxb
Lao Động, Hà Nội 2001)
Đó là những công trình tiêu biểu viết về mối quan hệ Đảng với nhân dân Ngoài ra, còn một số bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành có đề cặp đến vấn
đề này như là: Nâng cao sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng: tăng
cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân, Đảng – dân một ý chí (Lê Khả Phiêu,
Sinh hoạt lý luận, 1999, số 2, tr.7 - 12); Đảng gắn bó máu thịt với dân (Võ Văn
Trang 7Kiệt, Xây dựng Đảng, 2005, số 4, tr.11- 14); Dân tộc Việt Nam, con người Việt
Nam, nguồn sức mạnh, trí tuệ, sức sống của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nguyễn
Văn Hồng, Thông tin lý luận, 2000, số 2, tr.13 -16); Đảng vừa là người lãnh đạo
vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân (Mạch Quang Thắng, Tư
tưởng văn hoá, 2000, số 1, tr.16 – 18); Đổi mới nhận thức về mối quan hệ giữa
Đảng và quần chúng (Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1/1991)…
Bên cạnh đó, vấn đề về nhà nước pháp quyền cũng như xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu Trong số những cuốn sách nghiên cứu về vấn đề này, có một số tác
phẩm tiêu biểu như: Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân (Nguyễn Trọng Thóc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005); Cơ sở lý luận và
thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (Trần Hậu Thành, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 2005); Xây dựng Nhà nước Pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay (LêMinh Quân, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội 2003; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2003); Xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng (Nguyễn Văn Thảo, Nxb Tư
pháp, Hà Nội 2006; Triết học Chính trị Montesquieu với việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam (Lê Tuấn Huy, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh,
2006)
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã khái quát, đề cập tương đối rộng và phản ánh được nhiều khía cạnh của mối quan hệ Đảng với nhân dân cũng như những lý thuyết về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, cụ thể là:
Thứ nhất, đã cơ bản thấy rõ được tầm quan trọng của Đảng trong việc
lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc, thống nhất nước nhà và thực hiện công cuộc
Trang 8đổi mới xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa Từ ngày có Đảng, nhân dân ta một lòng theo Đảng, đưa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước tiến bước vững chắc, viết nên những trang sử vẻ vang của dân tộc Đảng vì dân, dựa vào dân, dân tin vào sự lãnh đạo của Đảng, đi theo Đảng, đoàn kết xung quanh Đảng làm cách mạng
Thứ hai, đã cơ bản làm rõ được vai trò quan trọng của mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thứ ba, đã nhận thức được mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân
dân là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam Gắn bó mật thiết với nhân dân là bản chất của Đảng Ngoài việc phục vụ nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác Dân gắn bó mật thiết với Đảng vì Đảng là lực lượng tinh hoa, là trí tuệ lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu lý tưởng của mình
Thứ tư, các tác giả còn đề cập đến cơ sở khoa học của mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân; tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; những điều kiện đảm bảo giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân; về phương thức lãnh đạo của Đảng để tăng cường mối quan
hệ giữa Đảng với nhân dân…
Thư năm, đã bước đầu làm sáng tỏ hơn trên phương diện lý luận về nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam…
Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào đề cập một cách
có hệ thống về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra vấn đề gì cho mối quan hệ Đảng - nhân dân hay ảnh hưởng của việc xây dựng nhà nước pháp quyền đối với mối quan hệ Đảng – nhân dân Trong khi, nghiên cứu mối quan hệ này sẽ góp phần tìm ra những giải pháp để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và dân trong điều kiện mới, trong điều kiện mà Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện việc xây dựng
Trang 9Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng như hội nhập sâu rộng với thế giới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Trên cơ sở làm rõ quan niệm chung về mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân, phân tích thực trạng và vấn đề đặt ra hiện nay về mối quan
hệ giữa Đảng với nhân dân, luận văn đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ
thể sau đây:
+ Làm rõ quan niệm chung về Đảng Cộng sản, về nhân dân, về mối quan
hệ giữa Đảng với nhân dân, quan niệm chung về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
+ Phân tích những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và những vấn đề đặt ra về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ở nước ta hiện nay
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn xác định giới hạn nghiên cứu là mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong điệu kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ khi đổi mới (1986) đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản về Đảng kiểu mới của
Trang 10giai cấp công nhân, về vai trò của quần chúng nhân dân, về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu
biện chứng duy vật Mác xít và kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chính trị học như: phương pháp lịch sử, so sách, lôgíc, hệ thống, cấu trúc, quan sát thực tiễn …
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm những quan điểm và nội dung chủ yếu về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu rộng với quốc tế
- Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ở nước ta kể từ khi bắt đầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đến nay
- Góp phần đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy Chính trị học và Xây dựng Đảng; đồng thời làm tài liệu tham khảo cho các nhà lãnh đạo, quản lý trong việc nghiên cứu đổi mới
hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 3 chương, 7 tiết
Trang 11sử dụng pháp luật vẫn chưa đủ để có nhà nước pháp quyền Khi nào nhà nước được thiết lập như một tổ chức pháp lý nhằm thực hiện công quyền thì khi đó tư tưởng nhà nước pháp quyền mới trở thành hiện thực
Điều cốt yếu khi xây dựng nhà nước pháp quyền là cần phải giải quyết trên thực tế: quan hệ nhà nước và pháp luật; quan hệ nhà nước với dân cư; tạo được các bảo đảm pháp lý, các tiền đề, điều kiện cho xây dựng nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền thực chất là việc nhận thức đúng mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật Hoặc là nhà nước đứng trên pháp luật hoặc là nhà nước hoạt động tuyệt đối tuân theo pháp luật Nội dung quan trọng của vấn đề nhà nước pháp quyền là tính tối cao của hiến pháp, sự bảo vệ chặt chẽ, triệt để các quyền công dân, bất cứ một quyết định nào của cơ quan nhà nước cũng đều bị đưa ra xét xử tại tòa án, nếu nó vi phạm hiến pháp và pháp luật Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải thiết lập sự kiểm tra và phán quyết tính hợp hiến của các đạo luật và kiểm tra tính hợp pháp của các hành vi hành chính
Ở những nước theo chủ nghĩa xã hội, người ta không nói đến nhà nước pháp quyền mà chỉ nói đến nhà nước chuyên chính vô sản, cho đến 1988, trong
Trang 12quá trình thực hiện kế hoạch cải tổ đất nước, Đảng Cộng sản Liên Xô đã bắt đầu nói đến khái niệm "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" để chỉ một nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Ở nước ta, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập rất sớm tư tưởng về nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, trong các Văn kiện của Đảng từ khi giành được chính quyền đến Đại hội VII (1991), vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa được chính thức đặt ra Phải đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta mới chính thức đưa vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vào văn kiện của Đảng Phần thứ hai của Văn kiện Hội nghị đã nêu ra nhiệm vụ: "Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" với nội dung chủ yếu là: "Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [5, tr.56] Có thể khẳng định, đây là lần đầu tiên trong Văn kiện quan trọng của Đảng chính thức sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền và nêu cụ thể, toàn diện những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Với cách thể hiện này trong Văn kiện này, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền Việt Nam đã có bước phát triển rõ nét và toàn diện Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam trở thành chủ trương có tầm chiết lược, bao trùm toàn bộ tổ chức, hoạt động của nhà nước, trở thành định hướng cho toàn bộ quá trình và nội dung đổi mới tổ chức, hoạt động của nhà nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh Tiếp tục phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, và vì dân” [6, tr.40] Nghị quyêt chỉ rõ: “Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn
Trang 13ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm” [6, tr.42] Như vậy, Đại hội VIII đã khẳng định một bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng
về xây dựng Nhà nước pháp quyền Đảng đã xác định rõ đây là một nhiệm vụ mới mẻ cần phải được tập trung nghiên cứu một cách nghiêm túc để áp dụng một cách phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định và nhấn mạnh thêm: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có
sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật" [7, tr.131] Như thế, từ khi ra đời cho đến nay, trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật - phương tiện quan trọng trong quản lý nhà nước
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã tiếp tục khẳng định:
“Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Cần xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp" [8, tr.45]
Như vậy, có thể nói, kết quả nhận thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng ta là quá trình không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, không sao chép, rập khuôn, giáo điều, mà luôn sáng tạo để vận dụng một cách linh hoạt vào thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam Chỉ có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng mới là công cụ có đầy đủ hiệu lực để quản lý sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 14Khi đề cập tới Nhà nước pháp quyền tức là nói về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân phải dựa trên cơ sở pháp luật, những giá trị bảo đảm sự bình đẳng, dân chủ Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dựa trên tiền đề rất quan trọng là: Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực nhân dân là một yếu tố quan trọng trong nhà nước pháp quyền Quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân đỏi hỏi phải có những thiết chế nhằm đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình Nguyên tắc tổ chức ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp chính là sản phẩm của nhà nước pháp quyền, khẳng định giá trị của pháp luật và xác lập được những giá trị đó trên thực tế, cũng như mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân,
tổ chức Thiết chế nhà nước là những mặt khác nhau của vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hình thành ở Việt Nam là tất yếu
và khách quan Tính tất yếu và khách quan xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đảng và nhân dân ta ý thức sâu sắc rằng,
để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với
xu thế toàn cầu hóa Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách Nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế
Từ những phân tích nêu trên, có thể nêu lên một số đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt nam, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nhà nước
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
Trang 15nhân dân, khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và thiết lập cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân Lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hoạt động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
là nhà nước đảm bảo mọi lợi ích và quyền hành đều thuộc về nhân dân Để làm được điều này, nhất thiết phải giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y tế… tất cả các yếu tố đó phải tiến hành đồng thời, nhưng phải ưu tiên cho những vấn đề kinh tế, chăm lo tốt hơn đến cuộc sống hạnh phúc và mọi nhu cầu phong phú, đa dạng của con người Tất cả những điều đó phải dựa trên cơ sở của sự phát triển kinh tế Bởi vậy, nếu thoát
ly sự tăng trưởng kinh tế, đặt ra những yêu cầu quá cao đối với các lĩnh vực văn hoá – xã hội là không thực tế Nhưng cũng sẽ là sai lầm, nếu chỉ coi trọng phát triển kinh tế mà không quan tâm đến lợi ích về văn hoá – xã hội của nhân dân Thực tiễn những năm qua cho thấy, nếu không chú trọng xây dựng và phát triển giáo dục, văn hoá, y tế, phúc lợi công cộng, để cho những mặt này yếu kém và xuống cấp thì chẳng những ảnh hưởng xấu tới việc chăm lo bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người, mà còn kìm hãm nguồn lực thúc đẩy kinh tế phát triển
Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước được tổ chức
và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và thể hiện địa vị tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội; là nhà nước trong đó mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân;
là nhà nước ở đó nhà nước và công dân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức nhà nước, cán bộ công chức nhà nước và các thành viên khác của xã hội phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh, tự giác Nhà nước phải quản lý xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật Mọi vi phạm pháp luật phải được pháp luật xử lý nghiêm minh, kịp thời, thực hiện nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật Việc đề cao pháp luật
Trang 16cũng là đề cao đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng Đảng luôn luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên của mình phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp
và pháp luật Sau khi Hiến pháp và pháp luật ra đời, đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành, phải tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, chấp hành pháp luật cũng tức là chấp hành đường lối của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng
Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí cao nhất trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Hiến pháp và pháp luật phải thể hiện đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội Pháp luật phải được chính Nhà nước, cán bộ, công chức trong các
cơ quan nhà nước và mọi người, mọi tổ chức trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta, đặc biệt Hiến pháp - đạo luật cơ bản đã xác định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật” (Điều 12 Hiến pháp 1992) Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật không loại trừ đối với bất cứ ai
Thứ ba, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước mà
ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy nhà nước Quán triệt quan điểm quyền lực nhà nước thống nhất sẽ tác động trực tiếp đến việc tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ cấu thực hiện quyền lực của bộ máy nhà nước, bảo đảm cho bộ máy nhà nước vận hành đồng bộ, thống nhất và có hiệu lực, hiệu quả Mặt khác, tăng cường việc phân công, phân nhiệm rành mạch, hợp lý, rõ ràng và chú trọng phối hợp chặt chẽ trên tinh thần “vì nhân dân, do nhân dân” giữa các cơ quan trong việc
Trang 17thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp chính là điều kiện để phát huy tốt hiệu lực của quyền lực nhà nước
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam- đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và của cả dân tộc Đây là những vấn đề mang tính nguyên tắc có tính chính trị- xã hội định hướng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam trên thực tế Khi nói rằng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì ở đó đã bao hàm sự thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước pháp quyền, bởi vì nếu không có sự lãnh đạo, không dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì Nhà nước không phải là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, không phải là Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Vì đây cũng chính là một đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật; bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và sự giám sát của nhân dân
Qua bốn đặc trưng nêu trên, có thể thấy rằng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân Đó là nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp,
pháp luật và thể hiện địa vị tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội Mọi cơ quan, tổ chức nhà nước, cán bộ công chức nhà nước và các thành viên khác của xã hội phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh tự giác Mọi vi phạm pháp luật phải được pháp luật xử lý nghiêm minh, kịp thời, thực hiện nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật Trong giai đoạn trước đây, các cơ quan nhà nước có thói quen sử dụng chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong quản lý kinh tế - xã hội và do đó không có cơ sở pháp lý cần thiết để xử lý những hệ quả của việc quản lý này Các cấp ủy đảng có thói quen quyết định trực tiếp hầu hết các vấn đề mà không có cơ sở để chịu tránh nhiệm pháp lý về những quyết định mà mình đưa ra Những tồn tại đó đã dần được
Trang 18khắc phục kể từ khi nước ta xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đến nay, việc sử dụng nghị quyết của Đảng trong quản lý kinh tế - xã hội đã dần được thay bằng chính sách pháp luật của Nhà nước Mọi tổ chức, cá nhân trong
xã hội được bình đẳng trước pháp luật, không khí dân chủ trong quan hệ giữa Đảng với nhân dân ngày càng được khẳng định
1.2 Quan niệm chung về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
1.2.1 Quan niệm chung về Đảng Cộng sản Việt Nam
Hiến pháp năm 1992 có ghi “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”[29, tr.137] Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập năm 1930 (Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930) Sau khi thành lập được ít lâu, lấy tên là Đảng Cộng sản Đông Dương; từ 1951, đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam; đến tháng 12 năm 1976, đổi lại là Đảng Cộng sản Việt Nam
Mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây dựng đất nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là thực hiện
lý tưởng cộng sản chủ nghĩa Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn và phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân Đảng kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, ủng hộ
sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân trên toàn thế giới Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ và chịu sự giám sát của nhân dân, đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành độc lập tự do và tổ chức nhân dân thành lực lượng cách mạng, hoàn thành nhiệm vụ từng giai đoạn
Trang 19để đi tới chủ nghĩa xã hội Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống chính trị Đảng tôn trọng vai trò của Nhà nước, của Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Đảng là một khối thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách,
tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ đầy đủ và kỷ luật chặt chẽ trong sinh hoạt đảng; giữ vững đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng Tổ chức đảng và đảng viên là tấm gương, là ngọn cờ chiến đấu để nhân dân noi theo
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, giải phóng đất nước, xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc, đưa cả nước chuyển sang thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn
để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng Việt Nam và góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân tin yêu kính trọng Điều này được thể hiện rất rõ qua hai luận điểm của Người: Một là, “Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên” Trong điều kiện Đảng cầm quyền, thì việc Đảng trực tiếp lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác là tất yếu Sự lãnh đạo ấy bao gồm hầu hết các vấn đề quan trọng nhất của đời sống nhân dân, sự sinh tồn, hưng vong của quốc gia, nói một cách khác là toàn bộ những vấn đề thuộc về quyền làm chủ của nhân dân Do đó, còn có cơ chế và phương pháp để nhân dân góp ý xây dựng đối với tổ chức đảng cũng như đối với
Trang 20từng đảng viên Sự đóng góp của nhân dân sẽ làm cho bản thân Đảng trong sạch vững mạnh, đồng thời tạo ra sự đồng cảm giữa Đảng với nhân dân Qua đó nhân dân luôn thấy Đảng là của chính mình, vì mình, nhờ vậy Đảng ngày càng gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân tin yêu, kính trọng; hai là Đảng cũng ở trong xã hội Đây là một chân lý lớn, sâu sắc, Đảng không phải “ở trên trời rơi xuống” Mỗi một đảng viên đều là con em của nhân dân, đều sinh ra và lớn lên, đều chịu sự chi phối về tất cả các mặt tâm lý, kinh tế - xã hội, thói quen… trong những điều kiện lịch sử nhất định
Xét về mặt khách quan, thì điều kiện ra đời và tồn tại của Đảng là do nhu cầu của xã hội, do nhân dân Đảng cũng là một hiện tượng lịch sử và được sinh
ra trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, nó bị những điều kiện lịch sử chế định
Xã hội vận động, phát triển đòi hỏi Đảng với tư cách là đội tiên phong chính trị của nhân dân, phải biết vượt lên trước, biết đoán định xu thế phát triển của lịch
sử để dẫn dắt nhân dân Nói sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu lịch sử nghĩa là tất yếu Đảng phải là một đội tiên phong chính trị Bất cứ giai đoạn nào, Đảng cũng chỉ có thể tồn tại khi Đảng là đội tiên phong chính trị không những của giai cấp tiên tiến nhất (giai cấp công nhân) mà còn phải là đội tiên phong chính trị của toàn thể dân tộc Theo Hồ Chí Minh thì “Đảng phải trở thành hình thức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc” [20, tr.517]
Có thể khẳng định rằng, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã bắt nhịp hài hòa với chủ nghĩa Mác-Lênin thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam Sự ra đời của Đảng với mục đích, tôn chỉ rõ ràng, với nguyện vọng thiết tha muốn giành độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân đã kêu gọi được hàng triệu người dân Việt Nam đi theo Với tư cách là một Đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ tập hợp những lực lượng ưu
tú nhất của dân tộc vì sự nghiệp chung Trong Đảng, có mặt hầu hết những danh nhân ưu tú của đất nước, đó là những nhà quân sự tài ba, những nhà chính trị lỗi lạc, những nhà khoa học uyên thâm và những chiến sĩ dũng cảm nhất trong cuộc
Trang 21đấu tranh vì sự phồn vinh của đất nước Họ đến với Đảng theo con đường của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và trở thành những người chiến sĩ kiên định, chính vì vậy mà mỗi khi đất nước lâm nguy thì những người đảng viên của Đảng
lại thể hiện rõ nhất bản chất cách mạng của mình
Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện vài trò lãnh đạo chính trị thông qua việc đưa ra những đường lối, chiến lược và định hướng phát triển của xã hội về lâu dài cũng như từng giai đoạn cụ thể Sứ mệnh của Đảng là vạch ra những đường lối đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn nhân dân chấp nhận, cũng như cùng thực hiện Khi giành được quyền lãnh đạo, Đảng Cộng sản luôn luôn hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, vì Đảng cũng là một bộ phận của xã hội Các đảng viên trước hết phải là một mẫu mực sống và làm việc theo pháp luật, phải là một tấm gương sáng để mọi tầng lớp trong xã hội noi theo Mọi chủ trương, chính sách của Đảng khó đi vào cuộc sống và khó được nhân dân chấp nhận, nếu đội ngũ đảng viên non yếu về năng lực, suy thoái đạo đức, không chấp hành pháp luật Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng đã lập ra chính quyền cách mạng, lập ra các tổ chức chính trị khác và cùng các tổ chức ấy hình thành nên hệ thống chính trị Do vậy, Đảng cũng là một bộ phận của hệ thống chính trị Đảng không phải là một tổ chức đứng trên hay đứng ngoài hệ thống chính trị
mà ở bên trong hệ thống chính trị Hơn nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị Trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay, không có một chính đảng nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo xã hội, lãnh đạo hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị bằng cương lĩnh, đường lối chiến lược, các định hướng về chủ trương, chính sách đúng đắn,
có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân
Hồ Chí Minh khẳng định rằng, cán bộ Đảng viên không phải là người làm quan cách mạng, vì Đảng không phải là tổ chức làm quan phát tài Cần phải có thái độ kính yêu nhân dân, học hỏi nhân dân, thật thà, ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, phải gần gũi nhân dân Với trách nhiệm cầm quyền, đảng phải chăm lo đến đời sống nhân dân
Trang 221.2.2 Quan niệm chung về nhân dân
Dân là một khái niệm mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, nó tồn tại trong xã hội đã có giai cấp và có nhà nước Đó là khái niệm chỉ những người lao động bình thường, đông đảo, đối diện những người cầm quyền cai trị ở các địa bàn lãnh thổ, các nghề nghiệp khác nhau trong các lĩnh vực sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần của một xã hội nhất định Dân không đồng nhất với dân cư, nó bao gồm những người thuộc giai cấp và tầng lớp lao động không bóc lột, trực tiếp sản xuất ra của cải trong xã hội Trong tiến trình phát triển nhân loại, đã có nhiều quan niệm về dân, mỗi quan niệm đều có cách nhìn khác nhau về dân
Khổng Tử, nhà triết học lớn thời Xuân Thu của Trung Quốc, một người
có trí tuệ và học vấn uyên bác, được tôn là bậc thánh nhân của Nho giáo đã có tư tưởng đề cao vai trò của nhân dân Ông cho rằng, dân là gốc của đất nước Điều quan trọng nhất đối với nhà cầm quyền là phải thu phục được lòng dân Nếu nhân dân ủng hộ thì làm việc gì cũng được, ngược lại nếu nhân dân không ủng
hộ thì làm việc gì cũng sẽ thất bại Theo Khổng Tử, để có được lòng dân, nhà cầm quyền cần phải lo việc dưỡng dân, có nghĩa là phải biết định hướng, giáo dục, dạy dỗ cho nhân dân biết việc gì phải làm là hợp thời, việc gì không nên làm Mặt khác, cũng cần phải đảm bảo cho người dân có cuộc sống no đủ, có như vậy thì nhà cầm quyền mới có thể nắm và giữ quyền lực của mình một cách lâu dài
Mạnh Tử, một đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời Chiến Quốc đã bàn rất nhiều về nhân dân Ông cho rằng mọi chế độ đều phải nhằm vào lợi ích của nhân dân; vì lợi ích của nhân dân cũng là lý do tồn tại của thiên tử, chư hầu Mạnh tử đã khẳng định vị trí hàng đầu của nhân dân trong mối quan hệ giữa nhân dân với xã tắc và vua quan: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” – nghĩa là dân là quý nhất, xã tắc thu hai, vua là thường Chính Mạnh Tử đã giải thích vua là thường hơn xã tắc vì có thể thay đổi vua; quan trọng nhất là được dân hay mất dân, mà sở dĩ được dân là vì được lòng dân và mất dân vì mất lòng dân Ông so sánh và giải thích: “Được lòng dân thì làm đến ngôi thiên tử; được
Trang 23lòng thiên tử chẳng qua làm đến chư hầu; được lòng chư hầu chẳng qua làm đến quan đại phu”[38, tr.852]
Trong lịch sử chính trị Việt Nam, nhiều triều đại phong kiến đã có quan điểm trọng dân, tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với nhân dân, chăm lo đến lợi ích của nhân dân nên đã được nhân dân ủng hộ, tập trung sức mạnh, đánh thắng được giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước, đồng thời củng cố được vương triều vững mạnh Nhà Trần thế kỷ XIII đã ba lần đại thắng quân xâm lược Nguyên – Mông hung hãn Nguyên nhân cơ bản của thắng lợi đó là do vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, nhân dân ủng hộ Mặt khác cũng do Vua quan nhà Trần biết quan tâm đến lợi ích của nhân dân, coi trọng nhân dân Điều này phần nào được thể hiện qua lời khuyên tấu của Trần Quốc Tuấn đối với vua Trần rằng khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước Bên cạnh đó, cũng có những triều đại đã không thu phục được lòng dân, không biết chăm lo đến lợi ích của nhân dân, dẫn đến những kết cục không mấy tốt đẹp Đầu thế kỷ XIV, Hồ Quý Ly chuẩn bị kháng chiến chống quân Minh xâm lược, xây dựng lực lượng quân thường trực khá đông, có súng thần công, có nhiều chiến thuyền, nhưng không đoàn kết được toàn dân, lòng dân ly tán, nên
đã thất bại, cha con Hồ Quý Ly đều bị giặc Minh bắt Nhà Hồ mất nước bởi vì Nhà Hồ mất dân
Nguyễn Trãi, một nhà văn hóa lớn, một anh hùng của dân tộc ta thể kỷ
XV, đã nêu ra những tư tưởng sâu sắc về vai trò và sức mạnh của nhân dân Sau khi cùng Lê Lợi lãnh đạo cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh thắng lợi, ông viết bài “Bình Ngô đại cáo” hùng tráng với hai câu mở đầu nói về tư tưởng
an dân; muốn an dân thì trước hết phải trừ bạo ngược:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Nói về sức mạnh của nhân dân, Nguyễn Trãi đã tiếp thu và nêu lên tư tưởng tiến bộ, ví dân như nước, các triều đại phong kiến như những còn thuyền;
Trang 24thuyền nổi được là nhờ nước Nước có tác dụng chở thuyền nhưng cũng có sức mạnh lật thuyền: “Chở thuyền là dân và lật thuyền cũng là dân”[37, tr.203]
Đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nước ta, phong trào yêu nước của nhân dân ta bùng lên mạnh mẽ, như phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, khởi nghĩa Yên Thế, đặc biệt là phong trào vận động cách mạng của Phan Châu Trinh Ông đã đưa ra bản “ Thất điều trần” nổi tiếng, gồm bẩy điều kết tội vua Khải Định, và nêu cao tư tưởng “Trọng dân”, đề xướng
tư tưởng dân chủ, quy kết trách nhiệm đối với giới cầm quyền
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định, nhân dân là người sáng tạo và quyết định sự phát triển của lịch sử Nhân dân là những người trực tiếp lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất trong xã hội Bằng lao động cần cù, sáng tạo của mình, nhân dân đã làm cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn Ngoài việc tạo ra của cải vật chất, nhân dân còn là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, đóng vai trò quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội Đối với tất cả các cuộc cách mạng, nhân dân luôn luôn là lực lượng nòng cốt, tham gia đông đảo, tự giác tích cực dẫn đến sự thắng lợi cuối cùng; nhân dân còn là người sáng tạo ra các hoạt động chính trị xã hội, giá trị văn hoá tinh thần của nhân loại Nhân dân là lực lượng làm hiện thực hoá tư tưởng, chuyển sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất nhằm cải biến lịch sử và thúc đẩy tiến trình lịch sử
Hồ Chí Minh đã có một quan niệm về nhân dân với nội hàm rộng rãi và phong phú hơn, phù hợp với đặc điểm, truyền thống yêu nước, sự gắn bó cộng đồng và tinh thần cách mạng của dân tộc Việt Nam Trong quan niệm của mình
về nhân dân, Hồ Chí Minh luôn đề cao vài trò của nhân dân Người nói: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân" [21, tr.276] Đây là một tư tưởng tổng quát, có tính triết lý sâu sắc, thể hiện một quan niệm đúng đắn về nhân dân Cũng giống như các vị tiền bối của mình, Hồ Chí Minh luôn coi con người là yếu tố quan trọng nhất "Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là: thiên thời,
Trang 25địa lợi, nhân hòa Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa Nhân hòa
là thế nào? Nhân hòa là tất cả mọi người đều nhất trí Nhân hòa là quan trọng hơn hết" [21, tr.479]
Người còn đề cao vấn đề dân chủ, dân là chủ, mọi quyền hành, lực lượng, lợi ích đều ở nơi dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân bầu
cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã, do dân tổ chức Dân bầu ra người đại diện và có quyền kiểm sát, giám sát và bãi miễn khi không làm tròn sự uỷ thác Nhà nước muốn điều hành, quản lý xã hội có hiệu lực, hiệu quả nhất định phải dựa vào dân Người cũng chỉ ra rằng nhân dân có quyền làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân
Hồ Chí Minh đề cao vài trò của nhân dân Người khẳng định cách mạng
là sự nghiệp của nhân dân chứ không phải sự nghiệp của một cá nhân anh hùng nào Nhưng cách mạng muốn bảo đảm thắng lợi phải tập hợp nhân dân thành một khối thống nhất và tổ chức lãnh đạo nhân dân đi theo cách mạng Chỉ có đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân mới đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân làm cách mạng Từ niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của nhân dân, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên gần gũi với nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân Người khẳng định cán bộ phải giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của nhân dân, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà giành được thắng lợi
Nhân dân trong tư tưởng của Người còn là nhân nghĩa Người đã từng nói nhân nghĩa là nhân dân Nắm vững quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng,
Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề nhân dân một cách rõ ràng, có sức thuyết phục, thu phục lòng người, xây dựng mặt trận đoàn kết thống nhất dân tộc rộng rãi, một trong những nhân tố đảm bảo thắng lợi cách mạng Hồ Chí Minh không coi nhân dân là một khối đồng nhất, mà là một cộng đồng, bao gồm nhiều dân tộc, giai cấp, tầng lớp Các nhóm xã hội ấy có lợi ích chung và lợi ích riêng, có vai trò và
Trang 26thái độ khác nhau đối với sự phát triển xã hội và cách mạng Công nhân, nông dân và trí thức luôn luôn được Hồ Chí Minh coi là lực lượng cách mạng to lớn nhất, là nền tảng của khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân Người đã quan niệm nhân dân là người cùng trong một cộng đồng, một quốc gia, một lãnh thổ thống nhất, cùng chung một cội nguồn, đều chung một tổ tiên, đều là anh em ruột thịt Vì vậy, nhân dân phải biết nương tựa vào nhau, sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, giúp đỡ lẫn nhau Người còn cho rằng, nhân dân còn là các tầng lớp, các thế hệ, các giới, các đoàn thể; là người yêu nước, xây dựng đất nước, là lực lượng cách mạng; là bạn bè năm châu bốn biển đang đấu tranh chống lại sự nô dịch, bất công để giành độc lập, tự do, tiến bộ và hoà bình chung trên hành tinh chúng ta
Người còn khẳng định lực lượng của nhân dân rất lớn, họ rất hăng hái, rất anh hùng Có lực lượng dân chúng thì việc to đến mấy, khó khăn đến mấy cũng làm được Người nhiều lần căn dặn cán bộ, đảng viên phải tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, dân chúng mà không ủng hộ thì làm việc gì cũng khó Trong quá trình trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định vai trò quyết định của dân chúng: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ việc gì làm cũng không nên”, “Nước lấy dân làm gốc” và “gốc có vững thì cây mới bền” [15, tr.409]
Tiếp nhận văn hóa chính trị truyền thống và của thời đại, Hồ Chí Minh đã nâng "quan niệm về nhân dân" lên một tầm cao mới Người, không chỉ đánh giá đúng vai trò của nhân dân, tôn trọng nhân dân, tin tưởng nhân dân, thương yêu nhân dân mà cao hơn, còn là tư tưởng "vì dân" Người nói: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" [25, tr.517] Theo Người, trong quan hệ giữa nhà nước với nhân dân thì nhà nước là bộ máy thừa hành của nhân dân, tất thảy mọi nhân viên nhà nước là
Trang 27"đầy tớ của nhân dân", "công bộc của nhân dân", chứ không thể là "phụ mẫu chi dân" (cha mẹ dân)
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, "dân là chủ", "dân làm chủ" Quan niệm như trên, về thực chất, không chỉ thể hiện được những tinh hoa của văn hóa chính trị truyền thống mà còn kết tinh được những tinh hoa của thời đại Bởi vì, trong quan niệm truyền thống, mặc dù vai trò của nhân dân có lúc được đề cao, song suy cho cùng, vua vẫn là người chủ Vua không chỉ sở hữu giang sơn, xã tắc, mà còn là chủ sở hữu nhân dân, đứng trên nhân dân Vì vậy, nhân dân chỉ là "thần dân", "thảo dân" Văn hóa chính trị truyền thống cũng có đề cập đến tư tưởng
"khoan dân", "dưỡng dân", "giáo dân" song mục đích cuối cùng là để "an dân",
để xã hội mà vua là chủ duy nhất thái bình thịnh trị, để nghiệp đế "ngàn năm bền vững" mà thôi Với Hồ Chí Minh, mục tiêu cuối cùng là nhân dân được sung sướng, tự do, hạnh phúc Vì vậy cán bộ cách mạng phải vì nhân dân, phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân
Việc mở rộng nhận thức về nhân dân, làm tăng nội hàm của khái niệm nhân dân của Hồ Chí Minh hoàn toàn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, ngoài ra còn góp phần làm cho phạm trù đó trở nên phong phú, đa dạng, vừa mang tính cách mạng, tính giai cấp vừa mang tính dân tộc, càng làm nổi bật chỉnh thể của phạm trù nhân dân Có thể nói, quan niệm về nhân dân của
Hồ Chí Minh, một mặt thể hiện quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng của chủ nghĩa Mác – Lênin, mặt khác lại mang tính sáng tạo, tính thực tiễn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảch và bản sắc của dân tộc ta Điều đó đã dẫn đến khả năng
to lớn trong việc thuyết phục, thu phục mọi lực lượng, mọi khả năng của cả dân tộc vào khối đại đoàn kết toàn dân, nhằm hướng lực lượng toàn dân vào mục tiêu giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, hạnh phúc cho nhân dân Vì vậy tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất trong các thời kỳ cách mạng Việt Nam
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, vị trí của người dân trong xã hội ngày càng được nâng cao, tình hình dân
Trang 28chủ ngày càng được cải thiện Nhân dân vẫn là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, lực lượng đó bao gồm cả lao động chân tay và trí óc Nhân dân là lực lượng làm ra mọi của cải của xã hội Bằng lao động cần cù, sáng tạo của mình, họ đã tạo ra của cải vật chất cho mình cũng như cho toàn xã hội Thông qua lao động sản xuất của nhân dân, những thành tựu khoa học kỹ thuật nảy sinh Điều này giúp cho năng suất lao động không ngừng được tăng lên Trong xã hội có áp bức giai cấp, nhân dân tuy không có điều kiện nghiên cứu, phát minh khoa học, song vẫn có không ít nhà khoa học tài năng xuât thân từ nhân dân lao động Khoa học
tự nhiên và khoa học xã hội là khái quát thực tiễn lao động sản xuất, chế ngự thiên nhiên và đấu tranh xã hội của nhân dân
Ngày nay, nhân dân, trước hết là giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức là lực lượng cơ bản của nền sản xuất hiện đại, họ cần được phát huy tài năng và trí tuệ, để những tài năng ấy trở thành sức sống của mỗi quốc gia, dân tộc, để vươn tới một xã hội văn minh, tiến bộ và hạnh phúc Nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, đóng vai trò quyết định thắng lợi của các cuộc cách mạng Nhân dân là người sáng tạo ra mọi giá trị tinh thần của nhân loại Những nền văn học – nghệ thuật lớn đều bắt nguồn từ văn học nghệ thuật dân gian Nhân dân đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp phát triển của lịch sử Vai trò ấy được phát huy cao độ một khi đông đảo quần chúng thoát khỏi sự trói buộc của những tư tưởng phản động, phản khoa học và được giác ngộ tư tưởng khoa học, cách mạng
2.2.3 Quan niệm chung về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ đặc biệt và không thể thiếu trong bất kỳ nhà nước hay hệ thống chính trị nào Mác – Ăngghen đã từng nói Đảng Cộng sản là Đảng của giai cấp công nhân, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng mình khi giải phóng cho các giai cấp khác Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ hai chiều Nhân dân cần có Đảng lãnh đạo để làm cách mạng thành công Đảng cần có nhân dân để có sức mạnh Trong mối quan hệ
Trang 29này, Đảng giữ vai trò là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đảng kiên trì thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, củng cố và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giáo dục đảng viên gương mẫu về đạo đức và lối sống, tham gia sinh hoạt và làm nòng cốt trong các tổ chức nhân dân
Trên cơ sở những tư tưởng của Mác – Ăngghen về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, Lênin quan niệm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Đảng là tổ chức tự nguyện đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng quần chúng khỏi ách áp bức bóc lột Nhân dân cần có Đảng với tư cách là người lãnh đạo, dẫn đường cho họ, tạo điều kiện cho họ phát triển Còn Đảng thì cần nhân dân để thực thi, hiện thực hoá các chính sách, đường lối của Đảng Lênin còn cho rằng, những người cộng sản chỉ như những giọt nước trong lòng đại dương nhân dân mênh mông và chỉ riêng bàn tay những người cộng sản thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Ông còn cho biết thêm rằng sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, từ sự đồng tình, ủng
hộ của nhân dân đối với Đảng Thiếu điều kiện đó, không những không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mà còn có thể dẫn tới tình trạng mất chính quyền Trường hợp Đảng không nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, không đưa ra những giải pháp kinh tế - xã hội đáp ứng nhu cầu đang ngày càng gia tăng thì vai trò của Đảng sẽ ngày càng giảm và như vậy sẽ dẫn đến nguy cơ mất quyền lãnh đạo
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định vai trò quyết định của nhân dân trong lịch sử, đồng thời còn chỉ ra mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong sự phát triển xã hội, trong cách mạng xã hội Đảng, trên một ý nghĩa nào đó, là con đẻ của nhân dân Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, là cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định nhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển của lịch sử Sự nghiệp cách mạng
là sự nghiệp của nhân dân Tư tưởng chỉ trở thành nội dung tinh thần của các
Trang 30biến đổi lịch sử, khi nó phản ánh đúng nguyện vọng, lợi ích của nhân dân Nội dung tinh thần ấy, sức mạnh của tư tưởng ấy chuyển biến thành sức mạnh vật chất khi nó được quần chúng hưởng ứng nhiệt thành, khi nó thâm nhập vào nhân dân Như chúng ta đã biết, tư tưởng tự nó không biến đổi được thực tiễn xã hội
Tư tưởng chỉ có giá trị khi nó dẫn đến hành động làm biến đổi lịch sử mà điều
đó chỉ có thể xảy ra khi nhân dân đồng lòng, nhiệt tình, quyết tâm hành động Mác – Lênin đã chỉ ra rằng lực lượng sản xuất là cái quyết định sự biến đổi lịch
sử, sự chuyển biến cách mạng xã hội, trong đó nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản nhất Chính nhân dân lao động là người sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội
Kế thừa và phát triển tinh hoa của nhân loại và dân tộc, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm sâu sắc về về mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của tổ chức chính trị tiên tiến là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định dân là gốc của nước mà còn đặt vị trí của nhân dân rất cao: “Mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [18, tr.698] Nhu cầu và ý chí của nhân dân phải được định hướng lãnh đạo và tuân theo sự lãnh đạo của Đảng, mới tạo nên được sức mạnh, mới đạt kết quả trong thực tiễn xã hội, có nghĩa là nhân dân cần có sự lãnh đạo của Đảng để thực hiện được ý chí và nguyện vọng của mình
Hồ Chí Minh cho rằng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân còn thể hiện lòng tin của Đảng vào sức mạnh của nhân dân và hết lòng phục vụ nhân dân Theo Người, sức mạnh của nhân dân là khối đại đoàn kết toàn dân tộc Chỉ có đoàn kết, tập hợp lực lượng đông đảo của quần chúng nhân dân mới tạo nên một sức mạnh tổng hợp, mới có thể chiến thắng được kẻ thù, giành lại độc lập dân tộc cho nhân dân Hồ Chí Minh quan niệm dân là quý nhất, là quan trọng nhất Dân là gốc của đất nước, của cách mạng; dân làm chủ tất cả Đảng muốn hết lòng phục vụ nhân dân thì vấn đề xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh phải gắn liền với xây dựng Nhà nước, phải làm cho Nhà nước thực sự trở thành Nhà nước của dân, do dân và vì dân Lợi ích của Đảng, của giai cấp cũng là lợi ích
Trang 31của các tầng lớp nhân dân, của dân tộc Việt Nam Vì vậy, trong suốt quá trình xây dựng và củng cố Nhà nước, Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định Nhà nước ta
là Nhà nước của dân, thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, bầu ra Nhà nước
và chính quyền các cấp Nhà nước và chính quyền các cấp đó đều do dân kiểm soát, giám sát và bãi miễn
Hồ Chí Minh quan niệm về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trước hết là vì quyền lợi của nhân dân Người cho rằng, mọi đường lối, chính sách của Đảng chỉ nhằm mục đích duy nhất là nâng cao đời sống cho nhân dân Đây là quan điểm nhất quán của Người, coi nhân dân là động lực, mục đích của cách mạng Sự nghiệp cách mạng xuất phát từ nhân dân, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân Chính mục đích ấy chi phối toàn bộ quá trình của Đảng Cộng sản cầm quyền Do vậy, Đảng ta ra đời, tồn tại và phát triển không phải vì mục đích tự thân mà là vi nhân dân Đảng phải biết dựa vào nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giáo dục và nâng cao giác ngộ của quần chúng, tạo nên sức mạnh vĩ đại làm cho quần chúng có khả năng tiến hành đấu tranh để tự giải phóng và xây dựng cuộc sống mới Tin tưởng, học hỏi, kính trọng, phục vụ và
đề cao nhân dân là tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân để xây dựng Đảng thành một tổ chức chính trị gắn bó máu thịt với nhân dân
Trong công tác xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh rất coi trọng xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân Đảng ta là Đảng của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân Vì vậy, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ đặc biệt, không thể tách rời Đây là một trong những quy luật tồn tại và phát triển của Đảng ta Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được hình thành và phát triển cùng với quá trình cách mạng Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, Đảng chỉ là người hướng dẫn, tổ chức và lãnh đạo mọi hoạt động của phong trào cách mạng Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hiểu sâu sắc ý nghĩa, vai trò của nhân dân trong mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
Quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một phạm trù lịch sử Trong mối quan
hệ giữa Đảng với nhân dân thì Đảng là một thực thể chính trị, dân là một thực
Trang 32thể xã hội, không đồng nhất Giữa hai thực thể đó có mối quan hệ biện chứng ràng buộc, phụ thuộc, tác động qua lại lẫn nhau, cái này lấy cái kia làm tiền đề tồn tại của mình Để thoát khỏi thân phận nô lệ thành người chủ của đất nước, nhân dân ta chỉ có con đường duy nhất là đứng lên làm cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng chân chính Còn Đảng muốn tồn tại, muốn khẳng định vai trò trách nhiệm của mình đối với xã hội, muốn làm nên sự nghiệp vẻ vang lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đổ ách thống trị hay xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp, đem lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thì Đảng phải dựa vào nhân dân Có dựa vào nhân dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân thì Đảng mới có cơ sở xã hội, mới có sinh khí
và sức mạnh, mới hoàn thành được sứ mệnh của mình Vì vậy, giữa hai thực thể Đảng và nhân dân, vừa có tính thống nhất, vừa có mâu thuẫn biện chứng Tính thống nhất thể hiện ở chỗ: Đảng không có mục đích tự thân Đảng ra đời là do đòi hỏi khách quan, đòi hỏi tự nhiên của cuộc sống, do nhu cầu được giải phóng của nhân dân; sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân có cơ sở sâu xa ở sự thống nhất
về những lợi ích căn bản Mục tiêu lý tưởng của Đảng là phụng sự những lợi ích của giai cấp, của dân tộc như Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định; Đảng cũng
ở trong xã hội, từ nhân dân mà ra, từ Trung ương đến xã đều do nhân dân tổ chức nên Vì vậy, Đảng mạnh hay yếu là ở nhân dân, Đảng anh hùng vì có nhân dân anh hùng; nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng, là nguồn gốc tạo nên thắng lợi của cách mạng “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thi thắng lợi hoàn toàn” [19, tr.366] Vì vậy Đảng phải dựa vào nhân dân, không được xa rời dân; Đảng chính là bộ phận ưu tú nhất của giai cấp công nhân, người đại diện cho trí tuệ của nhân dân Sự gắn bó trong quan hệ giữa Đảng với nhân dân là sự cộng lực của trí tuệ và lực lượng Hồ Chí Minh ví quan hệ giữa Đảng với nhân dân như quan hệ “người chèo” và “người lái” trên con thuyền cách mạng Nếu chỉ có người chèo mà không có người lái thì con thuyền không chạy được Cho nên người chèo và người lái phải đoàn kết với nhau Bên cạnh tính thống nhất, giữa Đảng và nhân dân còn có những khác biệt: Đảng là chủ thể lãnh đạo, dân là đối
Trang 33tượng lãnh đạo Đảng bao gồm những người ưu tú, giác ngộ có kỷ luật và có tổ chức chặt chẽ nhất Đảng viên là những người tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, trí tuệ và tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân Còn nhân dân là một thực thể
xã hội, không đồng nhất và thuần nhất Trong nhân dân có nhiều tầng lớp, nhiều trình độ và sự giác ngộ khác nhau
Quan hệ giữa Đảng với nhân dân còn biểu hiện qua hiệu quả công tác, phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ của Đảng Bởi cán
bộ, đảng viên là những thành viên, là nhân tố biểu hiện và tác động đến quần chúng Do đó, một đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng tham gia hoạch định đường lối, chính sách, tổ chức thực hiện đường lối có hiệu quả, sẽ là cơ sở để củng cố quan
hệ giữa Đảng với nhân dân
Như vậy, có thể nói rằng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ hai chiều Một mặt, Đảng đề ra những chủ trương, chính sách và vận động, hướng dẫn nhân dân thực hiện và chấp hành, qua đó xác định vai trò lãnh đạo xã hội Mặt khác, Đảng là một bộ phận của nhân dân, trong quá trình tổ chức, lãnh đạo nhân dân thành lực lượng cách mạng thì Đảng được bổ sung lực lượng từ các nhân tố tiên tiến của quần chúng nhân dân Đảng tiếp thu trí tuệ của nhân dân để định ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, đồng thời dựa vào sự kiểm tra, giám sát của nhân dân mà Đảng giáo dục, rèn luyện đảng viên, cán bộ Trong quan hệ đó chứa đựng cơ sở khoa học và thực tiễn, nó là cơ sở để ngày càng tăng cường và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân
* Tiểu kết chương 1
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Nhân dân là những người trực tiếp lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất trong xã hội và là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã
Trang 34hội, đóng vai trò quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội Kể từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một đảng cách mạng chân chính, một đảng tiên phong lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Đảng luôn là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân và được nhân dân yêu mến Trong mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân thì Đảng là một thực thể chính trị, nhân dân là một thực thể xã hội và có mối quan hệ biện chứng ràng buộc, phụ thuộc, tác động qua lại lẫn nhau, cái này lấy cái kia làm tiền đề tồn tại của mình Hiện nay, chúng ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đó là nhà được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Mọi tổ chức cá nhân trong xã hội đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh và tự giác Mọi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời, thực hiện nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tính chất chia rẽ xã hội Đây là một trong những điều kiện để bảo đảm ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì mục tiêu chung của sự phát triển Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân
cư trong việc thực hiện dân chủ
Trang 35Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Những điểm mạnh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ở Việt Nam hiện nay
Trong tiến trình phát triển của lịch sử cách mạng Việt Nam, có thể thấy rằng những thắng lợi vĩ đại và huy hoàng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản với nhân dân là mối quan hệ gắn bó trong một chỉnh thể thống nhất Quá trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng khẳng định sức mạnh vượt lên mọi khó khăn gian khổ để giành lại độc lập dân tộc Sự thống nhất giữa ý Đảng lòng dân, thống nhất giữa lý tưởng của Đảng với nhân dân trong khát vọng độc lập, tự do đối với dân tộc Việt Nam trong mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Hình thành và phát triển trong phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, ngay từ đầu, Đảng ta luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm to lớn đối với nhân dân, đối với vận mệnh của dân tộc Đảng đã tìm thấy sức mạnh to lớn từ trong nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng vì dân, vì nước Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn thể hiện là người chiến sĩ tiên phong, hoàn thành sứ mệnh lịch sử cao cả mà dân tộc, nhân dân giao phó, đó là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ và chăm lo lợi ích của nhân dân Sự gắn bó máu thịt với nhân dân
là nguồn gốc tạo nên sức mạnh vô địch của Đảng Trong thời kỳ Đảng chưa giành chính quyền, cán bộ, đảng viên luôn đi tiên phong trong các cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân; nhân dân gắn bó với Đảng, đi theo Đảng làm cách mạng, dũng cảm chịu đựng mọi hy sinh để bảo vệ Đảng
Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích huy hoàng, được nhân dân tin yêu, nể phục Những
Trang 36thành tựu to lớn đó đều bắt nguồn từ nhân dân, vì Đảng là của nhân dân, vì nhân dân một lòng một dạ theo Đảng, Đảng quan tâm chăm lo đến nhân dân, nhân dân sống chết chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng Điều đó có được bởi sự lãnh đạo tài tình của Đảng, sự hy sinh quên mình của một bộ phận đảng viên, đã được thể hiện cụ thể sinh động trong thực tiễn cách mạng Việt Nam Đó là nhân
tố cơ bản, sức mạnh chủ yếu và động lực quyết định những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam
Trong mọi hoàn cảnh, Đảng luôn gắn bó máu thịt với nhân dân và được nhân dân thừa nhận Toàn bộ nghị lực của Đảng, toàn bộ sự phấn đấu, hy sinh của các thế hệ đảng viên đều hướng vào mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân, giành tự do, độc lập, hạnh phúc cho nhân dân Chiến công mà Đảng
và nhân dân ta giành được trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong
sự nghiệp giải phóng đất nước là kết tinh cao nhất, là biểu hiện sinh động nhất của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân Nhờ có những đảng viên tận tụy trung thành vì lợi ích nhân dân, không quản ngại hy sinh bản thân mình để bảo vệ nhân dân Từ đó, nhân dân đã tin yêu và cùng với Đảng tham gia các phong trào cách mạng Nhiều gương chiến sĩ cộng sản trong lao tù, khi bị kẻ thù tra tấn rất dã man nhưng vẫn không chịu khai các đồng chí của mình, không phản bội Tổ quốc Chính nhờ những tấm gương anh dũng quên mình đó mà nhân dân đã bảo vệ, thậm chí hy sinh bản thân, gia đình, của cải để bảo vệ mạng sống cho cán bộ cách mạng trước kẻ thù Những người dân coi việc bảo vệ cán
bộ, đảng viên là bảo vệ Đảng, bảo vệ chính mình Nhân dân luôn ý thức rằng trách nhiệm cao cả của mình là phải thương yêu, đùm bọc và bảo vệ các cán bộ cách mạng, đảng viên Nhân dân cần có Đảng dẫn đường để đấu tranh thắng lợi Đảng tồn tại được là nhờ ở sự đùm bọc, che chở, nuôi nấng, bảo vệ của nhân dân Những lúc hiểm nguy, nhân dân xả thân để bảo vệ Đảng Đảng cần có nhân dân mới tồn tại và phát triển Còn nhân dân cần Đảng để được giải phóng, được
tự do và có hạnh phúc thực sự Vì vậy, Đảng với nhân dân gắn bó tự nhiên với nhau Sự gắn bó đó xuất phát từ sự thống nhất về lợi ích cơ bản giữa giai cấp vô sản và nhân dân lao động Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định ngoài
Trang 37lợi ích của giai cấp và dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức, lãnh đạo nhân dân để nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị cho nhân dân vì toàn đân dược giải phóng thì Đảng được giải phóng
Trong giai đoạn đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng đã thực sự ở trong lòng dân, được nhân dân đùm bọc, che chở, nên dù quân thù có dùng nhiều thủ đoạn thâm độc nhằm tách nhân dân khỏi Đảng, khỏi cách mạng, nhưng đã bị thất bại Có nơi địch tổ chức càn quét rất gắt gao, trong một thời gian ngắn có tới hàng chục lượt bí thư chi bộ, đảng viên bị giết hại, nhưng nhờ tấm lòng và trí tuệ của nhân dân đối với cách mạng, tổ chức Đảng vẫn tồn tại, đảng viên, cán bộ vẫn có nơi, có chỗ hoạt động, để gây dựng lại phong trào Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được thể hiện rõ hơn, sâu sắc hơn, bền chặt hơn khi cách mạng lâm vào thời kỳ thoái trào, thời kỳ bị tổn thất nặng nề, đó là lúc bộc lộ rõ nhất mối quan hệ keo sơn, nó thể hiện lòng trung thành, tin tưởng của Đảng với nhân dân, gắn bó với nhân dân; còn nhân dân thì thể hiện lòng son sắt với Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân có cơ sở khách quan quy định từ nền tảng cốt lõi của nó, đó là sự thống nhất giữa mục tiêu và lợi ích Mục tiêu của Đảng và của dân tộc, của nhân dân là thống nhất Đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Khao khát ngàn đời của dân tộc là độc lập dân tộc và chỉ thực hiện được độc lập dân tộc thì mới
có điều kiện để đem lại ấm no, hạnh phúc và công bằng cho nhân dân
Trong công cuộc xây dựng đất nước, có những lúc Đảng đã mắc sai lầm khuyết điểm như chủ quan, duy ý chí, tình trạng mất dân chủ trong Đảng, trong
xã hội diễn ra ở nhiều nơi, song Đảng ta thẳng thắn nhận lấy sai lầm thiếu sót về mình, đã kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, quyết tâm lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn thử thách và đưa đất nước đi lên Đường lối đổi mới toàn diện đất nước ta do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đã đánh dấu một bước phát triển mới về chất trong việc định ra đường lối xây dựng
Trang 38chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong tư duy của Đảng ta về thời kỳ quá độ, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về vai trò của quần chúng nhân dân Do vậy đường lối đó đã được nhân dân đồng tình ủng hộ
Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, Đảng tiếp tục củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, thực hiện đại đoàn kết toàn dân, thống nhất giữa đường lối đúng đắn của Đảng với ý nguyện và hành động của nhân dân Chính những ý kiến, nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử Công cuộc đổi mới đất nước bắt nguồn từ thực tế và sáng kiến của nhân dân Từ thực tiễn của quần chúng nhân dân, Đảng đã tiếp thu, tổng kết và đề ra những chủ trương, chính sách của Đảng và điển hình nhất là chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân, phát triển kinh tế hộ gia đình, ban hành quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Thành tựu 23 năm đổi mới vừa qua là một bằng chứng sống động, Đảng
ta thực sự là lực lượng tiên phong của nhân dân, của dân tộc Đảng quyết tâm đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định lướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Từ khi có con đường đổi mới đúng đắn, sáng tạo, hợp quy luận khách quan, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, công cuộc đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, đồng thời tạo đà cho cách mạng nước ta chuyển sang một thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng đã đạt được những thành tựu quan
Trang 39trọng trên các mặt của đời sống kinh tế - xã hội Bộ mặt của đất nước đã khởi sắc rõ rệt Những thành tựu ấy có nhiều nguyên nhân tạo nên, trong đó nguyên nhân hết sức quan trọng, mang tính quyết định là đường lối độc lập tự chủ đúng đắn của Đảng ta, đường lối xuất phát từ lợi ích của nhân dân, của dân tộc, đường lối của một Đảng gắn bó máu thịt với nhân dân Do vậy, Đảng luôn tin dân và dân luôn tin vào sự lãnh đạo của Đảng Có nhiều cán bộ, đảng viên, nhiều cơ sở đảng đã phát huy và thực hiện tốt đường lối quần chúng của Đảng nên ở những nơi đó phong trào cách mạng được quần chúng nhiệt thành hưởng ứng, đời sống nhân dân được cải thiện, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được củng cố và phát triển
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được đặt trong một hoàn cảnh mới với nhiều thách thức và nguy cơ mới Tuy nhiên, Đảng đã từng bước điều chỉnh mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân cho phù hợp với tính hình mới Đảng luôn quan tâm đến lợi ích của nhân dân, luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân tự giác thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; các cán bộ đảng viên đã kịp thời phản ánh những vấn đề liên quan tới lợi ích chính đáng của nhân dân với Đảng; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với
hệ thống chính trị về công tác vận động quần chúng có nhiều chuyển biến rõ nét; chính quyền Nhà nước các cấp cũng đã quan tâm nhiều hơn đến đời sống của nhân dân Sự phối hợp giữa Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân đã từng bước được củng cố, gắn bó chặt chẽ hơn, đem lại những kết quả thiết thực Tổ chức Đảng các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở đã được củng cố, kiện toàn và có nhiều đổi mới trong phương thức hoạt động, cũng như tác phong công tác; các tổ chức Đảng đã đề xuất nhiều chủ trương, giải pháp đúng đắn, phù hợp, giải quyết kịp thời những bức xúc của nhân dân; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng liên quan đến công tác vận động quần chúng; phát huy vai trò công tác vận động nhân dân tham gia xây dựng, củng cố
tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế
Trang 40xã hội, quốc phòng an ninh ở địa phương theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng: “Với vị trí nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, vai trò của tổ chức cơ sở đảng rất quan trọng Phải dồn sức xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức này thực
sự trong sạch, vững mạnh” [8, tr.298] Nhiều nơi đã chú ý hơn tới công tác vận động quần chúng nhân dân, đã gắn công tác xây dựng Đảng với củng cố mặt trận và các đoàn thể nhân dân, đã làm tốt việc phân công đảng viên làm công tác quần chúng; nhiều cấp ủy và tổ chức Đảng đã biết dựa vào các cấp chính quyền
và đoàn thể nhân dân để tổ chức, lãnh đạo nhân dân tham gia ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, chỉ đạo việc tiến hành Đại hội các đoàn thể, cử nhiều cán bộ, đảng viên của Đảng tham gia các đoàn thể nhân dân Nhiều nơi cấp ủy đã lãnh đạo tốt phong trào xóa đói giảm nghèo, hoạt động từ thiện, chăm sóc gia đình có công với cách mạng, với đất nước, hướng dẫn quần chúng làm tốt các cuộc vận động trật tự an ninh, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, hướng dẫn và giúp đỡ quần chúng phát triển sản xuất… ; Đảng đã quan tâm đến việc định hướng và động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn, thực hiện xoá đói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng, xây dựng đời sống văn hóa ; phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sự đồng thuận xã hội, tương thân, tương ái, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững ổn định chinh trị, trật tự an toàn xã hội Điều này đã góp phần quan trọng vào công tác xây dựng Đảng, làm cho mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân ngày càng bền chặt
Bên cạnh đó, nhân dân cũng đã dần phát huy được vai trò làm chủ của mình trong xã hội Người dân đã quan tâm hơn đến chính trị, trực tiếp bày tỏ ý kiến hoặc tham gia vào những công việc quan trọng của đất nước Nhiều chủ trương chính sách được ban hành và triển khai đạt kết quả đều xuất phát từ ý kiến, sáng kiến của nhân dân Nhiều trường hợp tham ô, tham nhũng của một bộ phận đảng viên thoái hóa biến chất đã được phát hiện và ngăn chặn nhờ sự tố