Theo tác giả Luận văn, khái niệm “công nghệ” được nêu trong Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 và Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 của Việt Nam phù hợp với tinh thần chung của các đị
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐÀO THỊ THANH VÂN
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG CỦA TECHMART
(CHỢ CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ)
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CÔNG NGHỆ Ở NƯỚC TA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐÀO THỊ THANH VÂN
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG CỦA TECHMART
(CHỢ CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ)
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CÔNG NGHỆ Ở NƯỚC TA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: TS Tạ Bá Hưng
Hà Nội, 2014
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp bách của đề tài 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 11
9 Kết cấu của luận văn: 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ VÀ MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG TECHMART (CHỢ CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ) 12
1.1 Các khái niệm cơ bản 12
1.1.1 Khái niệm "khoa học và công nghệ" 12
1.1.2 Khái niệm thị trường công nghệ 14
1.1.3 Khái niệm về tổ chức trung gian của thị trường công nghệ 17
1.1.4 Khái niệm về sàn giao dịch công nghệ 17
1.1.5 Khái niệm về Techmart 19
1.2 Tổng quan về thị trường công nghệ 20
1.2.1 Đặc điểm của công nghệ 20
1.2.2 Đặc điểm thị trường công nghệ 21
1.2.3 Vai trò của thị trường công nghệ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội 22
1.3 Mô hình hoạt động của Techmart 25
1.3.1 Vài nét về mô hình các hội chợ 25
1.3.2 Các loại hình chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) 26
Kết luận Chương 1 28
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TECHMART Ở VIỆT NAM 29
2.1 Bối cảnh hoạt động Techmart ở Việt Nam 29
2.1.1 Chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển thị trường công nghệ 29
2.1.2 Hiện trạng hoạt động xúc tiến phát triển thị trường công nghệ 30
2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động Techmart 31
2.2.1 Một số kết quả nổi bật của Techmart 32
2.2.2 Số liệu thống kê về các kỳ Techmart 36
2.3 Phân tích những khó khăn của chợ công nghệ và thiết bị 41
2.3.1 Những khó khăn của bên cung công nghệ 41
2.3.2 Những hạn chế của nguồn cung trong thị trường công nghệ thiết bị 43
2.3.3 Những khó khăn của bên cầu công nghệ 46
2.3.4 Nhu cầu đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực của doanh nghiệp 48
2.4 Các hoạt động của tổ chức trung gian và môi giới công nghệ 66
* Kết luận chương 2 68
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN TECHMART Ở NƯỚC TA 69
3.1 Nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của Techmart đối với phát triển thị trường công nghệ 69
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Techmart 71
3.2.1 Đẩy mạnh cơ chế quản lý, hoạt động của chợ công nghệ và thiết bị 71
3.2.3 Hỗ trợ phát triển các SGDCN 73
3.3 Một số giải pháp phát triển bền vững Techmart ở nước ta 74
3.3.1 Giải pháp kích thích cung-cầu nhằm phát triển TTCN 74
3.3.2 Nâng cao chất lượng và khả năng thương mại hoá của các sản phẩm KH&CN 76
3.3.3 Kết nối giữa Sàn giao dịch công nghệ với doanh nghiệp 76
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số liệu thống kê của các kỳ Techmart khu vực,
quốc gia và quốc tế……… 36
Bảng 2.2 : Các kỳ Techmart Quốc gia……… 37
Bảng 2.3: Các kỳ Techmart Quốc tế………37
Bảng 2.4: Các kỳ Techmart Vùng - địa phương……… 38
Bảng 2.5: Đơn vị thực hiện đổi mới sản phẩm……… 57
Bảng 2.6: Tỷ lệ DN thực hiện sự đổi mới về quy trình tại các doanh nghiệp……….58
Bảng 2.7: Tỷ lệ các DN thực hiện các hoạt động đổi mới khác nhau……… 60
Biểu đồ 2.1: Chặng đường phát triển của Techmart Việt Nam……… 39
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ các loại hình đơn vị tham gia Techmart 42
Biểu đồ 2.3: Số liệu thống kê nhu cầu tìm mua CNTB của các lĩnh vực thông qua Techmart ảo và Sàn giao dịch công nghệ tại 24 Lý Thường Kiệt, Hà Nội………46
Hình 2.1: Mức độ tác động của đổi mới với các phương diện khác nhau của doanh nghiệp………55
Hình 2.2: Mức độ quan trọng của các yếu tố khác nhau đối với việc đổi mới trong DN………61
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp bách của đề tài
Trong xu thế phát triển và hội nhập của đất nước, một trong những quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước là xây dựng và phát triển thị trường công nghệ Đại hội Đảng X cũng đã chỉ rõ “khẩn trương tổ chức thị trường KH&CN, thực hiện tốt bảo hộ sở hữu trí tuệ, đẩy mạnh phát triển các dịch vụ về thông tin và chuyển giao công nghệ”
Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam cũng đã xác định phát triển thị trường công nghệ là một nội dung quan trọng cần được đẩy mạnh thông qua đổi mới cơ chế và chính sách kinh tế - xã hội, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, phát triển các tổ chức trung gian, môi giới công nghệ
Thực tế cho thấy: Techmart đã trở thành một “thương hiệu” mạnh của thị trường công nghệ Việt Nam, đang từng bước phát huy hiệu quả, thực hiện tốt nhiệm vụ kết nối giao dịch mua - bán công nghệ, thông tin công nghệ, góp phần hỗ trợ thúc đẩy thương mại hoá sản phẩm KH&CN và phát triển thị trường công nghệ Việt Nam Đồng thời thông qua hoạt động thực tiễn, các loại hình Techmart đã góp thêm luận cứ cho việc xây dựng và ban hành các chủ trương chính sách mới
Mô hình hoạt động Techmart được triển khai mới chỉ xuất phát từ nhu cầu xã hội và mới chỉ thực hiện theo tư duy kinh nghiệm thực tiễn, chưa có cơ sở luận
cứ khoa học đảm bảo cho sự phát triển hiệu quả và bền vững, cụ thể là:
Về cách tổ chức thực hiện: Chưa có hệ thống tổ chức chính thức từ Trung ương
đến địa phương, chưa có hạ tầng kỹ thuật, thiếu cán bộ chuyên môn…
Về các chủ thể tham gia Techmart: các sản phẩm công nghệ của bên cung chào
bán chưa phải là những công nghệ thích hợp, khả năng đáp ứng về yêu cầu đổi mới công nghệ không cao, đến 60% là công nghệ của nước ngoài Các lĩnh vực như thực phẩm, dệt may, nhựa, điện - điện tử, tin học - tự động hoá thì chủ yếu
Trang 8là từ nước ngoài Các đơn vị tham gia chủ yếu là các cơ quan nghiên cứu nên không có sự chủ động về tài chính Sản phẩm công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu đối với doanh nghiệp lớn Chất lượng sản phẩm hầu như chưa qua kiểm định đánh giá và định giá, chưa đăng ký bảo vệ quyền SHTT Bên cầu thì còn vướng mắc những khó khăn như nhu cầu đổi mới công nghệ và chuyển giao công nghệ chủ yếu tập trung vào khối doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, nhu cầu đổi mới thiết bị, công nghệ lại bị hạn chế bởi quy mô, năng lực và tài chính
Mặt khác bên cung cũng chưa làm thoả mãn nhu cầu về chất lượng, về quyền sở hữu trí tuệ nên phía cầu còn nghi ngại trong việc quyết định mua
Về phía hoạt động trung gian: chưa thực sự chuyên nghiệp trong lĩnh vực về
dịch vụ và tư vấn để giúp doanh nghiệp có nhu cầu về công nghệ có độ tin cậy: nhằm đánh giá và định giá công nghệ tương đối chuẩn xác
Cần thiết phải có giải pháp để nâng cao tính hướng đích của các hoạt động sau
kỳ Techmart
Với những lý do trên, tác giả luận văn mong muốn vận dụng những nghiên cứu của mình để áp dụng vào giải quyết vấn đề cụ thể, đó là nghiên cứu để đánh giá vai trò, hiệu quả hoạt động của Techmart (chợ công nghệ và thiết bị) trong việc phát triển thị trường công nghệ ở nước ta là thiết thực, có thể thực hiện được trong khuôn khổ luận văn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam đã có rất nhiều hội thảo, các công trình nghiên cứu, các bài báo cáo, của nhiều tác giả bàn đến những khía cạnh khác nhau về giá trị và ý nghĩa của Techmart đối với kinh tế - xã hội, tác động của Techmart đến sự phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam hiện nay
Bài Nghiên cứu - trao đổi " Chợ công nghệ và thiết bị - hoạt động xúc tiến hiệu quả để tạo lập và phát triển thị trường công nghệ" của Ths Lê Thị Khánh Vân - 2005; đã giới thiệu vai trò, tác dụng và ý nghĩa của chợ công nghệ và thiết bị (CNTB) đối với xã hội và nền kinh tế Nêu các giải pháp nhằm thúc đẩy và phát triển chợ CNTB ở Việt Nam
Trang 9Các đề tài về chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam:
Đề tài: “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định
trường KH&CN, kiến nghị giải pháp thúc đẩy sự phát triển thị trường công nghệ
Đề tài: “Nghiên cứu giải pháp, chính sách phát triển thị trường công nghệ ở nước ta” của Trần Đông Phong - Luận văn thạc sĩ, Hà Nội 2003, đã đề xuất được các giải pháp, chính sách phát triển thị trường công nghệ ở nước ta
Các nghiên cứu trên đã đề cập tới nhiều khía cạnh lý luận về phát triển thị trường công nghệ ở nước ta, tuy nhiên chưa có nghiên cứu cụ thể nào nhằm tổng hợp các vấn đề tồn tại của mô hình này Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu để tổng hợp, đánh giá vai trò, hiệu quả hoạt động của mô hình Techmart Việt Nam,
để từ đó đưa ra khuyến nghị về một số giải pháp nâng cao năng lực tổ chức và hiệu quả hoạt động nhằm thúc đẩy và phát triển bền vững mô hình Techmart Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Đánh giá vai trò hoạt động của Techmart trong việc phát triển thị trường công nghệ ở nước ta từ đó đưa ra khuyến nghị về giải pháp nâng cao năng lực tổ chức và hiệu quả hoạt động
Về nội dung: Đánh giá vai trò, phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến
hoạt động của Chợ công nghệ và thiết bị Việt Nam, từ những kinh nghiệm thực
Trang 10tiễn này để đề xuất giải pháp cho sự phát triển bền vững mô hình Techmart Việt Nam
Về không gian: Các loại hình tổ chức và hoạt động Techmart, các doanh
7 Giả thuyết nghiên cứu
Techmart đã đẩy mạnh việc gắn kết giữa tổ chức chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất và kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức KH&CN và các doanh nghiệp gặp gỡ, trao đổi, thoả thuận hợp tác và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy thương mại hoá tri thức công nghệ; Techmart đã kết nối được giữa “cung” và “cầu” công nghệ Bên cung công nghệ có cơ hội hiểu rõ nhu cầu, xác định khách hàng tiềm năng, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, chủ động phát triển giải pháp công nghệ mới Bên cầu công nghệ có điều kiện để đánh giá đúng năng lực nhà cung cấp, đặt hàng, tạo liên kết và đối tác bền vững, nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm hàng hóa của mình;
Trang 11Mô hình Techmart hiện nay còn yếu, chưa bền vững… do thiếu sự đồng bộ (thông tin về nhận dạng, nhu cầu, giá cả) Sẽ khó duy trì và phát triển nếu thiếu sự tác động và cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chính sách về đầu tư, thuế, phí, dịch vụ tài chính, xây dựng trật tự thị trường, lưu thông và mở cửa thị trường, cung cấp thông tin hỗ trợ hậu Techmart
Các đề xuất giải pháp sẽ hướng đến:
Đẩy mạnh hoạt động liên kết “cung - cầu”;
Hoàn thiện về hình thức và chất lượng sản phẩm chào bán về sở hữu trí tuệ;
Về tư vấn pháp lý, đánh giá trình độ công nghệ, định giá công nghệ và đàm phán thực hiện hợp đồng, bản ghi nhớ đã ký
8 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Các hướng tiếp cận chủ yếu: Tiếp cận lý thuyết;
Các phương pháp chính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu gồm:
Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu; Phương pháp phân tích,
thống kê, so sánh; Phương pháp chuyên gia, các nhà quản lý để có đánh giá về các vấn đề tồn tại
9 Kết cấu của luận văn:
Chương 1 Cơ sở lý luận về thị trường công nghệ và mô hình hoạt động Techmart
(chợ công nghệ và thiết bị)
Chương 2 Thực trạng hoạt động Techmart ở Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển Techmart
ở nước ta
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ VÀ MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG TECHMART (CHỢ CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ)
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm "khoa học và công nghệ"
* Khái niệm "khoa học"
Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, đa dạng tuỳ theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận mà biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau
Định nghĩa 1: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng, tự nhiên, xã hội và tư duy" "Khoản 1, Điều 3 - Luật Khoa học
và công nghệ năm 2013"
Định nghĩa 2: “Khoa học là một tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định” (Từ điển Larousse (2002) của Pháp)
Định nghĩa 3: “Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và
hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan” (Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986)
Định nghĩa 4: “Khoa học là một hoạt động nghiên cứu và kiến thức về thế giới vật lý
và hành vi của nó, dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện được kiểm chứng và được
tổ chức thành hệ thống” (Từ điển MacMillan English Dictionary for Advanced Learners (2006)
- Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm “khoa học” với nội hàm được nêu trong Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 (định nghĩa 1 nêu trên) vì tính khái quát
và phù hợp với quan niệm chính thống ở nước ta hiện nay
* Khái niệm " công nghệ"
Công nghệ (tiếng Anh: technology) là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng, và
kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể Công nghệ cũng có thể chỉ
Trang 13đến một tập hợp những công cụ như vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quy trình Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình Thuật ngữ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể,
ví dụ như "công nghệ xây dựng", "công nghệ thông tin"
Thuật ngữ công nghệ xuất phát từ tiếng Hy Lạp “techne” có nghĩa là một nghệ thuật hay kỹ năng, và “logia” có nghĩa là một khoa học hay sự nghiên cứu
Định nghĩa 1: Theo tác giả F R Root, "công nghệ là dạng kiến thức có thể áp
dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới" Trong định nghĩa này, bản chất của công nghệ là dạng kiến thức và mục tiêu sử dụng công nghệ là áp dụng vào sản xuất và tạo ra các sản phẩm mới
Định nghĩa 2: do tác giả R Jones (1970) đưa ra, cho rằng "công nghệ là cách
thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa" Như vậy về bản chất, công nghệ là cách thức (cũng là kiến thức); và mục tiêu sử dụng công nghệ
là để chuyển hóa nguồn lực thành hàng hóa
Định nghĩa 3: "Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các
kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh" Đây là định nghĩa của tác giả J Baranson (1976), theo
đó, bản chất của công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm
Định nghĩa 4: "Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để
nâng cao hiệu quả sản xuất và marketing những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới" theo J R Dunning (1982) Trong định nghĩa này công nghệ về bản chất cũng là kiến thức và có mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất và đưa được sản phẩm ra thị trường
Các định nghĩa về công nghệ trên đây phản ánh những cách nhìn khác nhau về công nghệ của các cá nhân hoặc tổ chức khác nhau, và thường là nhằm phục vụ cho công việc và dựa vào kinh nghiệm của các tác giả/ tổ chức này Do vậy, tuỳ theo mục đích công việc khác nhau và hoàn cảnh khác nhau mà người ta có thể
Trang 14thấy một định nghĩa này là phù hợp hơn một định nghĩa khác Điều này cũng hàm nghĩa là chúng ta không nên bám theo một định nghĩa nào đó về công nghệ, được xây dựng nhằm đáp ứng cho một loại công việc và hoàn cảnh cụ thể, để phục vụ cho mục đích khác và trong hoàn cảnh khác
Về bản chất các định nghĩa trên đây đều đề cập tới công nghệ với tư cách là tri thức cần có để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Sự khác biệt giữa các định nghĩa nằm ở chổ có coi những vật mang tri thức công nghệ như con người, tài liệu, máy móc thiết bị, sản phẩm trung gian, lao động khoa học và công nghệ nằm trong phạm trù công nghệ hay không
Ở nước ta, Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam, năm 2013 đã đưa ra
định nghĩa khái quát: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm
theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực
thành sản phẩm (Khoản 2 Điều 3 Luật Khoa học và công nghệ năm 2013) Định nghĩa về công nghệ này cũng phù hợp với định nghĩa được nêu trong Luật chuyển
giao công nghệ, năm 2006: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có
kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Theo tác giả Luận văn, khái niệm “công nghệ” được nêu trong Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 và Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 của Việt Nam phù hợp với tinh thần chung của các định nghĩa đã được các nhà khoa học và các tổ chức quốc tế nêu trên, đồng thời sát hợp với thực tiễn ở nước
ta trong giai đoạn phát triển thị trường công nghệ hiện nay khi công nghệ ngày càng được coi như một hàng hóa được giao dịch, mua bán trên thị trường
1.1.2 Khái niệm thị trường công nghệ
Hiện nay, trong những tài liệu khác nhau, có thể thấy việc sử dụng các cụm từ
khác nhau để chỉ thị trường công nghệ Nhiều văn bản sử dụng cụm từ "Thị trường
khoa học và công nghệ", trong khi một số tài liệu khác lại dùng cụm từ "Thị trường công nghệ" Quyết định 214/2005/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Đề
Trang 15án phát triển thị trường công nghệ" sử dụng cụm từ "thị trường công nghệ" Có một
số quan điểm cho rằng chỉ nên sử dụng khái niệm "Thị trường công nghệ" mà không nên dùng khái niệm "Thị trường khoa học và công nghệ", bởi trên thực tế không tồn tại thị trường khoa học Theo quan niệm này, "Thị trường công nghệ" có thể được
hiểu là những thể chế đảm bảo việc mua bán công nghệ được thực hiện trên cơ sở lợi
ích các bên tham gia Có tác giả cho rằng, theo nghĩa hẹp, thị trường công nghệ là
nơi giao dịch hàng hoá công nghệ Còn theo nghĩa rộng thì thị trường là tổng hoà các mối quan hệ trao đổi mua bán, môi giới, giám định, thưởng phạt, khiếu kiện giữa các bên giao dịch công nghệ Có thể thấy rằng, trong thị trường công nghệ theo
nghĩa rộng, không chỉ có công nghệ là hàng hoá để trao đổi mua bán mà có thể có cả tri thức, thông tin KH&CN cũng có thể được trao đổi như những hàng hoá công nghệ đặc biệt Như vậy, khái niệm "Thị trường công nghệ" sẽ bao quát rộng hơn Nó bao quát cả thị trường thông tin, tri thức, dịch vụ và lao động KH&CN chứ không chỉ thuần tuý là việc mua bán, chuyển giao công nghệ
Từ những lý giải trên, khái niệm "Thị trường công nghệ" có thể được hiểu là
những thể chế đảm bảo việc mua bán sản phẩm, kết quả, dịch vụ, tri thức và thông tin KH&CN trên cơ sở lợi ích của các bên tham gia
TTCN là nơi thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi hàng hoá "đặc biệt" là các sản phẩm công nghệ để phát triển KT-XH TTCN được hình thành trên cơ sở các
điều kiện: Có hàng hoá công nghệ; Có quan hệ cung - cầu về hàng hoá công nghệ;
Có phương tiện thanh toán; Có các quy định, quy chế, thể thức điều tiết các quá trình mua - bán hàng hoá công nghệ TTCN là một phân khúc của hệ thống thị
trường chung
* Thành phần của thị trường công nghệ
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, để thị trường công nghệ vận hành được cần có
ít nhất bốn thành phần cơ bản là: (1) Hàng hoá công nghệ, (2) Bên cung và bên cầu, (3) Các tổ chức môi giới, trung gian, dịch vụ, tài chính và (4) Khuôn khổ pháp lý
Trang 16Một số nghiên cứu về thị trường công nghệ cho thấy trong thị trường công nghệ
có những dạng hàng hoá cơ bản được lưu thông như : Sáng chế và giải pháp hữu ích, Thiết bị có chứa đựng công nghệ, công nghệ thuần tuý (như quy trình, bí quyết bản
vẽ, mô tả, ), dịch vụ kỹ thuật nói chung, dịch vụ nghiên cứu và phát triển thị trường thương mại, thông tin KHCN và tri thức, hàng hoá công nghệ khác" [1]
Hàng hoá trong thị trường công nghệ được coi là hàng hoá đặc biệt Do những đặc điểm của hàng hoá công nghệ nên thị trường công nghệ không thể vận hành đơn giản và tương tự như thị trường hàng hoá nói chung Để hàng hoá trên thị trường công nghệ lưu thông một cách thuận lợi cần có sự tham gia tích cực của bên cung, bên cầu và các bên trung gian, môi giới
Thành phần quan trọng thứ hai trong thị trường công nghệ là bên cung và bên cầu Các nhà cung cấp hàng hoá công nghệ có thể là Nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức KHCN (bao gồm các tổ chức nghiên cứu và phát triển - NC&PT, các trường đại học - học viện, các tổ chức dịch vụ KH&CN, các nhà phát triển công nghệ độc lập ) Có những nhà cung cấp công nghệ thực hiện việc phát triển công nghệ để phục vụ cho chính nhu cầu phát triển của mình và bán các hàng hoá công nghệ đó như một dẫn xuất của việc tạo ra các hàng hoá công nghệ để bán Bên có nhu cầu về công nghệ có thể là Nhà nước, các doanh nghiệp, các trường đại học, các
cá nhân, nông dân, Doanh nghiệp có nhu cầu công nghệ để đổi mới, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, tăng cường năng lực cạnh tranh và phát triển Nhà nước cần công nghệ để thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, đảm bảo phát triển các dịch
vụ công, đáp ứng một số yêu cầu của xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường,
Ngoài ra, một bên "cầu" đông đảo khác rất quan trọng là các cá nhân, nông dân
có nhu cầu về ứng dụng KH&CN để nâng cao năng suất lao động, tạo sản phẩm mới, mở rộng ngành nghề sản xuất
1 Trần Văn Minh, Nghiên cứu phát triển thị trường công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2012
Trang 17Một thành phần quan trọng khác của thị trường công nghệ là các tổ chức trung gian, môi giới Hoạt động mua bán trong thị trường công nghệ có thể xảy ra một cách trực tiếp (không qua môi giới) giữa bên cung và bên cầu công nghệ; hoặc gián tiếp (qua tổ chức môi giới); vật lý (mặt đối mặt) hay ảo (thông qua phương tiện truyền thông) Các tổ chức trung gian, môi giới có vai trò đảm bảo thông tin, kết nối các bên cung cầu, hỗ trợ các hoạt động giao dịch công nghệ
Để thị trường công nghệ vận hành tốt, cần thiết phải có hệ thống pháp luật phù hợp Những pháp luật cơ bản cần có đối với thị trường công nghệ bao gồm pháp luật
về sở hữu trí tuệ, pháp luật về chuyển giao công nghệ, pháp luật về hoạt động tư vấn, thẩm định, giám định công nghệ, pháp luật về lao động
1.1.3 Khái niệm về tổ chức trung gian của thị trường công nghệ
Tổ chức trung gian của thị trường công nghệ là tổ chức kết nối giữa cung
và cầu công nghệ gồm: cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trung tâm, sàn giao dịch công nghệ, tổ chức dịch vụ đánh giá, định giá, giám định, tư vấn chuyển giao công nghệ, trung tâm xúc tiến và hỗ trợ chuyển giao công nghệ, trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo và các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ khác liên quan đến thị trường công nghệ
1.1.4 Khái niệm về sàn giao dịch công nghệ
Sàn giao dịch công nghệ (SGDCN) được hiểu như một mô hình hay phương thức tổ chức hoạt động thường xuyên của thị trường công nghệ, nơi có
đủ phương tiện vật chất và kỹ thuật để cung cấp thông tin, dịch vụ chuyên nghiệp và hỗ trợ các bên chào bán, tìm mua, đàm phán ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán, chuyển giao công nghệ theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị và các quy luật khác của nền kinh tế thị trường
Theo Thông tư số 16 /2014/TT-BKHCN ngày 13 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, quy định về điều kiện thành lập, hoạt động
của tổ chức trung gian của thị trường công nghệ, thì SGDCN được định nghĩa:
SGDCN là loại hình tổ chức trung gian có khả năng thực hiện tất cả các dịch vụ
hỗ trợ các bên có nhu cầu giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ từ chào mua, chào
Trang 18bán, giới thiệu, đại diện, đại lý, tư vấn, môi giới, hỗ trợ định giá, hỗ trợ kỹ thuật,
hỗ trợ đàm phán, ký kết, thực hiện giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ
Khác với các hình thức tổ chức thị trường khác, SGDCN được nhận diện bởi một số yếu tố đặc thù sau:
SGDCN là mô hình hoạt động của thị trường công nghệ theo phương thức tập trung, thường xuyên, có đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật, có đội ngũ nhân viên được trang bị kiến thức, kỹ năng để tập hợp và cung cấp thông tin công nghệ:
SGDCN là hình thức tổ chức hoạt động chuyên nghiệp theo phương thức niêm yết tập trung các sản phẩm, quy trình công nghệ; thông số kỹ thuật; tình trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, giá trị thương mại của công nghệ; nhu cầu, năng lực các bên chào bán, chào mua, Bên cạnh đó, SGDCN có khả năng cung cấp hệ thống các gói dịch vụ chuyên nghiệp như tư vấn lựa chọn công nghệ thích hợp; giới thiệu đối tác và xúc tiến giao dịch; dịch vụ đánh giá, định giá công nghệ; dịch vụ đăng ký, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ phân tích thị trường, đàm phán, ký kết và thực hiện giao dịch công nghệ
Thực tế có rất nhiều mô hình, phương thức khác nhau để hỗ trợ thúc đẩy giao dịch công nghệ Tùy theo điều kiện cụ thể, mỗi quốc gia, vùng, địa phương
có thể lựa chọn áp dụng một hoặc kết hợp một số phương thức, giải pháp tổ chức và hoạt động khác nhau để phát triển thị trường công nghệ Không nhất thiết nước nào, khu vực, địa phương nào có nhu cầu và mong muốn phát triển thị trường công nghệ thì đều cần phải thành lập SGDCN
Do công nghệ là một loại hàng hóa đặc biệt, điểm khác biệt cơ bản thể hiện
ở vai trò của công nghệ không phải là hàng hóa có khả năng tiêu dùng trực tiếp
mà là công cụ, phương tiện để sản xuất ra hàng hóa khác Bản chất của công nghệ mang tính mới, tính bí mật và tính chuyên môn kỹ thuật sâu Giá trị thương mại của công nghệ phụ thuộc nhiều vào khả năng bảo mật, tình trạng bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, khả năng bị sao chép, phổ biến và lợi thế so sánh của các bên trong đàm phán giao dịch Vì thế, Nhà nước cần có vai trò chủ động
Trang 19hơn và đầu tư lớn hơn trong xây dựng, duy trì và đảm bảo hoạt động của SGDCN, vì sự phát triển bền vững của cộng đồng doanh nghiệp trong nước
Chức năng của SGDCN:Xây dựng và phát triển thị trường công nghệ
thông qua các hoạt động giao dịch công nghệ; gắn kết nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất kinh doanh; hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển của địa phương, vùng và quốc gia
Vai trò của SGDCN: Đảm bảo cho quá trình thương mại hóa kết quả
nghiên cứu KH&CN và thực hiện chuyển giao công nghệ được tiến hành thuận lợi Tiến tới xây dựng hệ thống mạng lưới tổ chức liên kết hỗ trợ chuyển giao công nghệ với các biện pháp đồng bộ
Bảo vệ được lợi ích của các bên tham gia giao dịch công nghệ thông qua sàn vì cơ chế hoạt động minh bạch, bài bản và có sự hỗ trợ, quản lý của Nhà nước, đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện các chủ trương chính sách, cơ chế thích hợp cho phát triển thị trường công nghệ theo từng giai đoạn
1.1.5 Khái niệm về Techmart
Khái niệm Techmart đã xuất hiện ở nước ta ngay khi Thị trường công nghệ Việt Nam bắt đầu hình thành Trong các công trình nghiên cứu, đã có rất nhiều tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau xung quanh khái niệm này
Techmart là hoạt động giao dịch được tiến hành tại một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định, tập trung triển lãm, trưng bày những thành quả nghiên cứu và phát triển, tổ chức các bên thương thảo với nhau và ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ".[2]
Techmart ( chợ công nghệ - thiết bị) là một loại hình "Chợ" diễn ra định kỳ nhằm mục đích giao thương trao đổi, chào bán công nghệ thiết bị, giới thiệu mô hình tiến bộ kỹ thuật giúp cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có cơ hội tìm hiểu đổi
2 Cao Minh Kiểm - Lê Thị Khánh Vân, Vai trò của các trung tâm thông tin khoa học và công nghệ trong việc hình thành
và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, tạp chí Thư viện Việt Nam, 2/2010
Trang 20mới công nghệ và thiết bị".[3]
Techmart (dịch nghĩa là chợ công nghệ - thiết bị) là nơi trưng bày, giới thiệu, giao dịch công nghệ, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, được tổ chức sau khi tiến hành xác lập được thông tin mô tả chi tiết về công nghệ và thiết bị của các tổ chức, cá nhân đăng kí tham gia giới thiệu, chào bán; khảo sát và xác định được thông tin về nhu cầu này giữ vai trò đặc biệt quan trọng mang tính quyết định cho sự thành công của Techmart Techmart là nơi kết nối các quan hệ cung - cầu, giao dịch, tìm hiểu đặt hàng, thương thảo mua bán công nghệ và thiết bị tại một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định".[4]
Nội dung giao dịch khoa học và công nghệ bao gồm: trưng bày và giao dịch các thành quả công nghệ; mời thầu các dự án công nghệ; công bố các thông tin công nghệ, bán các sản phẩm mới từ kết quả nghiên cứu khoa học; thương thảo; ký kết các hợp đồng công nghệ và các hoạt động khác liên quan đến khoa học và thị trường công nghệ
1.2 Tổng quan về thị trường công nghệ
1.2.1 Đặc điểm của công nghệ
Hàng hoá công nghệ rất đa dạng Có thể sắp xếp thành các nhóm:
Hàng hoá vật thể và hàng hoá phi vật thể Tuy nhiên, khi mua bán trên thị trường, người ta hay sắp xếp thành 5 nhóm theo mức độ tăng dần của hàm lượng chất xám, mức độ sáng tạo của công nghệ:
(1) Hàng hoá là kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, xuất xứ hàng hoá; (2) Hàng hoá dịch vụ đào tạo, dịch vụ kỹ thuật, tài liệu kỹ thuật, sáng kiến cải tiến kỹ thuật;
(3) Hàng hoá là dây chuyền, thiết bị công nghệ, phần mềm, chuyên gia kĩ thuật; (4) Hàng hoá là sáng chế, giải pháp hữu ích, bí quyết kỹ thuật;
(5) Hàng hoá là dịch vụ nghiên cứu và phát triển tạo công nghệ mới
3 Đề án tổ chức Chợ công nghệ và thiết bị Nghệ An năm 2010
4 Lê Thị Khánh Vân, Chợ công nghệ và thiết bị - hoạt động xúc tiến hiệu quả để tạo lập và phát triển thị trường công
nghệ, Hội nghị ngành thông tin KH&CN, Trung tâm Thông tin KH&CN
Trang 21Hàng hoá trong thị trường công nghệ được coi là hàng hoá đặc biệt thể hiện qua một số đặc điểm như sau:
Hàng hoá công nghệ hướng vào đáp ứng nhu cầu kế hoạch cho tương lai, dài hạn hơn, dự kiến phát huy tác dụng để giải quyết các vấn đề này trong khi hàng hoá thông thường được sử dụng để đáp ứng nhu cầu cụ thể trước mắt;
Độ tin cậy của hàng hoá công nghệ có thể chưa cao; giá trị hàng hoá công nghệ chỉ thực sự bộc lộ trong quá trình sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ
1.2.2 Đặc điểm thị trường công nghệ
Do những đặc điểm hàng hoá công nghệ như trên nên thị trường công nghệ không thể vận hành đơn giản và tương tự như thị trường hàng hoá nói chung
Thị trường công nghệ có những điểm đặc thù sau:
Thứ nhất, sự không cân xứng về thông tin giữa người mua và người bán Trên
thị trường, người bán luôn biết rõ hơn người mua những ưu, nhược điểm của công nghệ, những thông tin về công nghệ
Thứ hai, chi phí giao dịch cao Giá trị hàng hoá công nghệ rất khó xác định
chính xác Nếu các bên mua không phải là những nhà định giá chuyên nghiệp thì tất yếu sẽ cần đến các nhà môi giới, và khi đó chi phí giao dịch sẽ trở nên rất lớn, thậm chí có thể vượt quá giá trị thương mại của công nghệ
Thứ ba, tính rủi ro cao Việc mua bán công nghệ luôn chưa đựng tính rủi ro
Tính rủi ro nằm ngay ở chính bản chất của hàng hoá công nghệ, vì là sản phẩm của
sự sáng tạo nên tất yếu có tính rủi ro Rủi ro lớn nữa là bị rò rỉ thông tin trong quá trình nghiên cứu phát triển sản phẩm, làm mất đi tính mới, tính cạnh tranh của sản phẩm
Thứ tư, tính độc quyền Khác với hàng hoá thông thường, hàng hoá công nghệ
có tính độc quyền rất cao Cùng với các đặc tính trên, cơ chế định giá trên thị trường công nghệ cũng rất đặc biệt, nó cũng không phụ thuộc nhiều vào chi phí tạo ra công nghệ mà chủ yếu dựa trên khả năng sinh lợi trực tiếp từ hàng hoá công nghệ Đồng
Trang 22thời, thị trường công nghệ là một thị trường mang tính chuyển đổi cao, người mua rất
dễ chuyển đổi sang tư cách của người bán hoặc ngược lại
1.2.3 Vai trò của thị trường công nghệ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội
Phát triển dựa trên công nghệ là vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn hiện nay Đối với mỗi quốc gia, năng lực tạo ra, tiếp nhận, triển khai ứng dụng công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Việc duy trì một nền KH&CN mạnh là yếu tố cần thiết cho tăng trưởng kinh tế, cho lành mạnh hoá xã hội và nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế Trong cơ chế thị trường, TTCN là con đường chủ yếu để KH&CN trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp TTCN là nơi bán - mua các loại hàng hoá và dịch vụ công nghệ - loại hàng hoá đặc biệt hàm chứa nhiều trí tuệ TTCN là một bộ phận của hệ thống các loại thị trường đặc trưng cho nền kinh tế hàng hoá Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020
được thông qua Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011 chỉ rõ: "Phát triển mạnh
thị trường khoa học, công nghệ chuyển các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Phát triển các doanh nghiệp khoa học, công nghệ các quỹ đổi mới công nghệ và quỹ đầu tư mạo hiểm"
Vai trò của công nghệ thể hiện ở những mặt sau đây:
Công nghệ là biện pháp để con người khắc phục các hạn chế của mình trong công cuộc cải tạo và chinh phục giới tự nhiên Mọi của cải vật chất mà con người tiêu dùng đều có nguồn gốc từ giới tự nhiên Nhưng khả năng tác động trực tiếp của con người có hạn nên phải nhờ đến công cụ lao động là các phương tiện kỹ thuật, các dây chuyền công nghệ để khắc phục những hạn chế
Công nghệ là biện pháp căn bản để con người tăng năng suất lao động của mình Ý nghĩa của tăng năng suất lao động đã được V.I Lê Nin đề cập đến trong một câu nói nổi tiếng: “Năng suất lao động, suy cho cùng là cái quan trọng, căn bản nhất, quyết định mọi trật tự xã hội” Thực chất của việc tăng năng suất lao động là tăng kết quả sáng tạo ra của cải vật chất của mỗi đơn vị sức lao động bị tiêu hao Quá trình đó cũng có nghĩa là, con người tạo ra cho mình nhiều của cải hơn, nhờ đó mà đời sống sung túc hơn Có nhiều nhân tố làm tăng năng
Trang 23suất lao động, song suy cho cùng có hai nhân tố chủ yếu là: hợp lý hoá, khoa học hoá tổ chức lao động và hiện đại hoá phương tiện, phương pháp lao động, hoặc hiện đại hoá KH&CN Trong đó, hiện đại hoá công nghệ là con đường có khả năng vô biên trong việc tăng năng suất lao động Thực chất làm tăng năng suất lao động là ở chỗ mỗi bước phát triển của tri thức khoa học và hiện đại hoá công nghệ là một bước tiến tới của con người trong việc “dùng sức mạnh tự nhiên cải tạo và chinh phục chính nó”, thay cho sức mạnh của chính con người
Công nghệ là nhân tố củng cố từng bước tiến bộ của tổ chức lao động xã hội Tổ chức tốt quá trình lao động xã hội đó là một biện pháp tạo ra năng suất lao động cao mà không tốn chi phí đáng kể Tuy vậy, các thành công về tổ chức
sẽ không giữ được, nếu không có các “then”, kỹ thuật “chốt” lại Vì vậy, Đảng
ta mới nói “ Cách mạng khoa học- kỹ thuật là then chốt” Trong thực tiễn, mỗi bước đổi mới về tổ chức lao động thường được củng cố bằng một cơ sở lý luận mới và công nghệ mới
Công nghệ là động lực thúc đẩy quá trình phát triển xã hội như:
Nâng cao dân trí, từ đó tạo nên động lực phát triển trong xã hội;
Tạo nên sự đổi mới căn bản của lực lượng sản xuất xã hội, thúc đẩy xã hội hoá lao động, xoá bỏ nguồn gốc của bất công và bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới nhân đạo, tiến bộ;
Tạo nên những tiền đề căn bản để xoá bỏ cách biệt giữa lao động trí óc và chân tay, giữa nông thôn và thành thị, miền xuôi và miền núi, đưa lại chất lượng cuộc sống cho con người và cộng đồng tốt hơn
Công nghệ là cơ sở làm tăng hiệu lực và hiệu quả quản lý; đường lối, chính sách kinh tế, kế hoạch, các quyết định quản lý nói chung được chính xác, đúng đắn hơn, có sức thuyết phục hơn Sự đúng đắn của các quyết định rất có ý nghĩa trong việc tạo nên lòng tin và uy tín cho các chủ thể quản lý Bằng sự tiến
bộ của sáng tạo công nghệ, công nghệ được vận dụng trong quản lý làm tăng năng suất lao động Đó là cách cơ bản để có bộ máy quản lý hữu hiệu, giảm chi phí quản lý mà không làm giảm khả năng quản lý
Trang 24Tri thức khoa học và thành tựu công nghệ đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Sự gắn bó mật thiết giữa nghiên cứu khoa học với ứng dụng vào sản xuất, sáng tạo ra công nghệ trở thành yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của mọi nước trên thế giới Các nước đều ý thức được rằng đầu tư vào KH&CN là đầu tư mang lại nhiều lợi nhuận và vì vậy đã có nhiều cố gắng dành
ưu tiên phát triển KH&CN và nâng cao hiệu quả hoạt động của KH&CN phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội
Sự phát triển của một số lĩnh vực công nghệ cao: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hoá, công nghệ chế tạo vật liệu, năng lượng mới… đang tạo ra hệ thống sản xuất, hệ thống liên lạc hoàn toàn mới
Để có thể theo kịp bước tiến của KH&CN, để có thể tạo dựng nền kinh tế tri thức, mỗi người lao động và toàn bộ xã hội phải học tập thường xuyên Nền giáo dục cần được xây dựng thành hệ thống mở, đa dạng, linh hoạt, hiện đại Tổ chức tốt việc kết hợp các hình thức đào tạo và giáo dục đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội có đủ điều kiện tiếp xúc với các kiến thức mới
Để có thể phát triển liên tục và bền vững, KH&CN cần gắn với sự phát triển của xã hội - nhân văn Những thành tựu của KH&CN cần đảm bảo nâng cao đời sống vật chất của con người Phát triển KH&CN cần đảm bảo công bằng
xã hội Các thành tựu của KH&CN cần tập trung cho mục tiêu đấu tranh vì hoà bình và dân chủ của nhân dân, cần góp phần loại trừ nguy cơ chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội loài người Mặt khác, những nỗ lực sáng tạo của KH&CN cần hướng tới việc khai thác có hiệu quả và tiết kiệm các nguồn tài nguyên, vận dụng tốt các quy luật của tự nhiên và xã hội để tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người mà không gây
ra những hậu quả tiêu cực lên thiên nhiên, không làm ô nhiễm môi trường, làm cho thiên nhiên ngày càng giàu thêm, phong phú thêm nhằm đảm bảo cho sự phát triển không ngừng và bền vững của thế hệ hiện tại và mai sau
Trang 251.3 Mô hình hoạt động của Techmart
1.3.1 Vài nét về mô hình các hội chợ - triển lãm [5]
Hội chợ - triển lãm đã được tổ chức thường xuyên và chuyên nghiệp ở nước ta từ rất lâu Cùng với quá trình hội nhập và phát triển, các hội chợ được tổ chức khá thường xuyên với sự tham gia của nhiều đơn vị, tổ chức trong nước và nước ngoài, sản phẩm và hàng hoá tham gia cũng ngày càng phong phú và đa dạng Hội chợ - triển lãm có thể được coi là loại sự kiện được tổ chức trong một thời gian ngắn hạn bởi một hoặc nhiều tổ chức nhằm xúc tiến một số hoạt động nhất định, tạo không gian mua bán, trao đổi, tìm hiểu lẫn nhau giữa các đơn vị,
cá nhân có sản phẩm, dịch vụ được trưng bày, giới thiệu, chào bán với những đơn vị, cá nhân quan tâm, có nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ đó Hoạt động hội chợ mang lại nhiều lợi ích khác nhau cho nhiều đối tượng khác nhau Nhiều hội chợ trong một số lĩnh vực được tổ chức định kỳ vào ngày giờ xác định, thực
sự trở thành ngày hội của các đơn vị, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tương ứng
Các hội chợ chuyên ngành, không chỉ là dịp để các đơn vị tham gia hội chợ quảng bá sản phẩm, dịch vụ của mình mà còn là kênh quan trọng để khách đến hội chợ tìm hiểu thông tin công nghệ - thiết bị, mua sắm công nghệ-thiết bị, hoạt động chuyển giao công nghệ dưới nhiều hình thức Tuy nhiên, công nghệ-thiết bị được giới thiệu tại các hội chợ truyền thống thường là những công nghệ-thiết bị ổn định do các hãng lớn phát triển Phần lớn các cơ quan KH&CN trong nước với quy mô nhỏ bé, tiềm lực tài chính hạn hẹp, ít có khả năng tham gia các hội chợ như vậy Thiết bị-công nghệ của các tổ chức KH&CN ở giai đoạn này thường là đơn chiếc, tính thương phẩm chưa cao, độ ổn định và độ tin cậy chưa được khẳng định
Ngoài ra còn phải kể đến nguyên nhân là do thiếu kinh nghiệm và kinh phí, thậm chí cả động lực để tham gia thị trường
5 Báo cáo kết quả nghiên cứu nhánh 7, đề tài "Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính sách và giải pháp xây
dựng phát triển TTKH&CN ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN"
Trang 26Thực tế cho thấy, để các tổ chức KH&CN có thể tham gia các hội chợ truyền thống thì hoạt động thị trường của các tổ chức này phải được cải thiện Bên cạnh nỗ lực của bản thân các tổ chức KH&CN, những cơ chế, chính sách hữu hiệu hướng hoạt động của các đơn vị này phải gắn kết với thị trường
Trong thời gian qua, những nỗ lực tổ chức các kỳ Techmart nhằm tạo điều kiện thuận lợi để giới thiệu, quảng bá các kết quả nghiên cứu và phát triển của các tổ chức KH&CN trong nước đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về thị trường của các tổ chức này Techmart có thể coi là một loại hội chợ đặc biệt; với hình thức này, các tổ chức KH&CN tránh được những rào cản thường thấy ở các hội chợ truyền thống Sự khác nhau giữa Techmart so với hội chợ truyền thống cho tới nay chủ yếu là loại hoạt động được xúc tiến (liên kết KH&CN với sản xuất), hướng chủ yếu vào sản phẩm: công nghệ và thiết bị từ kết quả nghiên cứu tạo ra, đối tượng tham gia phần lớn là các viện, trung tâm nghiên cứu, các trường đại học - cao đẳng và một số đặc thù trong công tác chuẩn bị với sự tham gia hỗ trợ của Nhà nước để trợ cấp cho chi phí tổ chức
1.3.2 Các loại hình chợ công nghệ và thiết bị (Techmart)
Mô hình hoạt động của Techmart được chia theo những loại hình chợ
công nghệ và thiết bị như sau:
Chợ công nghệ và thiết bị quốc gia và quốc tế: Tổ chức định kỳ 2 năm
một lần; mô hình này vừa huy động, tập hợp được rộng rãi lực lượng KH&CN tham gia, vừa là dịp để cổ động, khuyến khích tôn vinh các thành quả của hoạt động khoa học, thu hút được sự quan tâm của nhiều đối tượng khách hàng
Chợ công nghệ và thiết bị vùng: Tổ chức hàng năm tại các địa phương
Với mục đích hỗ trợ thúc đẩy phát triển có trọng tâm, trọng điểm cả hai đối tượng bên cung và bên cầu công nghệ, thiết bị thuộc một lĩnh vực hoặc một chuyên ngành đang được quan tâm đầu tư phát triển; thiết thực huy động nguồn nội lực KH&CN, nhanh chóng đưa vào phục vụ phát triển một lĩnh vực hoặc một chuyên ngành cụ thể, phát huy lợi thế của mô hình này để tổ chức triển khai thực hiện một cách linh hoạt và hiệu quả nhất
Trang 27Chợ công nghệ và thiết bị trên mạng (Techmart ảo): Đây là mô hình phát
triển tất yếu, phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin và xu thế hội nhập Đây là một kênh thông tin công nghệ và tuyên truyền phổ biến, rất thiết thực Ưu điểm của loại hình này là có thể tạo ra khả năng phục vụ, hỗ trợ đáp ứng các yêu cầu từ hai phía chào bán và tìm mua một cách sáng tạo, linh động, nhanh chóng và kịp thời ở mọi lúc, mọi nơi Loại hình này còn là một kênh trực tuyến – tuyên truyền phổ biến thông tin về hoạt động KH&CN, tăng cường năng lực quản lý nhà nước về hoạt động mua-bán sản phẩm KH&CN, thúc đẩy ứng dụng triển khai tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống xã hội Mô hình này
sẽ hướng tới tương lai hoà nhập với sự phát triển hệ thống thương mại điện tử quốc gia và hội nhập quốc tế
Để duy trì thường xuyên giao dịch công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hỗ trợ các hoạt động hậu Techmart, tháng 6/2006, Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia (nay là Cục Thông tin KH&CN quốc gia) đã khai trương Sàn giao dịch điện tử về công nghệ (Trung tâm giao dịch công nghệ (Techmart ảo hay còn gọi là Techmart trực tuyến), đồng thời với việc khai trương Chợ công nghệ thường xuyên tại 24
Lý Thường Kiệt gọi là Techmart trực tiếp
Đây là nơi để các đối tác, các doanh nghiệp, các cá nhân có nhu cầu đến giao dịch để nhận được sự tư vấn trực tiếp của các chuyên gia tại sàn về thông tin công nghệ cũng như những thông tin về thị trường, về thuế, về pháp lý…
Hiện tại, mô hình Chợ công nghệ và thiết bị online đã và đang được triển khai hoạt động tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh và Nghệ An
Trang 28Kết luận Chương 1
Nội dung chủ yếu của Chương I được tập trung vào phân tích các khái niệm cơ bản liên quan tới Techmart nói riêng và thị trường công nghệ, nói chung Việc giới thiệu mô hình hoạt động của Techmart, vai trò và ý nghĩa của Techmart trong phát triển thị trường công nghệ cũng như đề cập tới các tiêu chí đánh giá hiệu của hoạt động Techmart có thể được xem như những cơ sở phương pháp luận và thực tiễn để tác giả tiến hành khảo sát hiện trạng cũng như
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của Techmart trong các chương tiếp theo của Luận văn
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TECHMART Ở VIỆT NAM
2.1 Bối cảnh hoạt động Techmart ở Việt Nam
2.1.1 Chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển thị trường công nghệ
Khuyến khích phát triển thị trường công nghệ là định hướng và mục tiêu của Nhà nước ta hiện nay Thị trường công nghệ là một trong các yếu tố cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường Đó là thị trường của những mặt hàng có hàm lượng chất xám cao, không như những mặt hàng thông thường khác Mặt hàng đặc biệt này
sẽ hỗ trợ cho các nhà sản xuất kinh doanh nâng cao sức cạnh tranh, giải quyết tận gốc về chất lượng sản phẩm Có thể khẳng định rằng, chính sự phát triển thị trường công nghệ là một trong những công cụ cho sự phát triển kinh tế nước nhà trong quá trình hoà nhập Việt Nam với thế giới
Mục tiêu của Đề án phát triển thị trường công nghệ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 214/QĐ-TTg ngày 30/8/2005 là xây dựng và hoàn thiện các thể chế cơ bản của thị trường công nghệ, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, phấn đấu mức tăng trưởng giá trị giao dịch mua bán công nghệ đạt bình quân 10%/ năm giai đoạn 2006-2010
Rất nhiều hoạt động xúc tiến kết nối cung và cầu, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kết quả nghiên cứu vào sản xuất đã được tổ chức từ Trung ương đến địa phương Chính phủ cũng đã ban hành một loạt chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy nhu cầu công nghệ của các doanh nghiệp như Nghị định số 119/1999/NĐ-CP về một số
cơ chế, chính sách tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động khoa học và công nghệ; Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ; Chính sách thúc đẩy nguồn cung công nghệ như Nghị định số 115/2005/NĐ-CP về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập
Nhằm thực hiện Đề án phát triển thị trường công nghệ đã được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 214/2005/QĐ-TTg, nhiều hoạt động xúc tiến đã được triển khai Đáng chú ý nhất là việc tổ chức các kỳ Chợ công nghệ và thiết bị - Techmart
Trang 30Việt Nam và chợ vùng ngày một nhiều và có hiệu quả hơn Đây là hoạt động thường xuyên được Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với các bộ, ngành và các tỉnh, thành phố tổ chức triển khai nhằm tăng cường khả năng liên kết giữa khoa học và đời sống, tạo lập môi trường liên kết KH-CN với sản xuất kinh doanh thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ
Để thúc đẩy thị trường công nghệ phát triển nhanh hơn nữa, việc phát triển thông tin công nghệ và tăng cường giao dịch công nghệ cũng được chú trọng Hiệu quả của công tác này đã và đang giúp cho cả 4 nhà: quản lý, khoa học, doanh nghiệp
và tư vấn có thể tiếp cận những thông tin mới nhất về công nghệ cũng như đường lối,
cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển công nghệ trong nước và của thế giới để xác định và hiệu chỉnh phương hướng phát triển của mình cho phù hợp với điều kiện cũng như hoàn cảnh kinh tế - xã hội, tạo ra những bước đột phá đi tắt đón đầu
2.1.2 Hiện trạng hoạt động xúc tiến phát triển thị trường công nghệ
Trước đây, các kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu được chuyển giao vào sản xuất một cách tự phát Chủ trì các đề tài nghiên cứu phải tự tìm kiếm nơi áp dụng kết quả nghiên cứu của mình Thực tế này đã làm cho kết quả nghiên cứu không được ứng dụng nhiều, không được sản xuất kiểm chứng kết quả nghiên cứu, giúp công tác nghiên cứu được hoàn thiện hơn cả về tính thực tiễn và giá trị của nó Ngược lại, các doanh nghiệp phải mất nhiều thời gian tìm kiếm công nghệ thích hợp
để giải quyết các vấn đề của sản xuất
Thị trường công nghệ dù đã được manh nha hình thành nhưng vẫn là một lĩnh vực mới mẻ cả với bên cung và bên cầu công nghệ Bên cung là những tổ chức nghiên cứu KH&CN không có thói quen tiếp thị, trau chuốt hàng hoá chất xám của mình Bên cầu rất lúng túng trong việc lựa chọn công nghệ thích hợp cho mình vì không có thói quen tìm kiếm thông tin trước khi quyết định, không biết cách định giá, đánh giá công nghệ cần mua
Để phát triển thị trường công nghệ, nhiều hoạt động xúc tiến đã được triển khai Đáng chú ý nhất phải kể đến chợ công nghệ và thiết bị (gọi là tắt Techmart) Đây được xem là một trong những giải pháp cần thiết (một trong những giải pháp
Trang 31của nhóm giải pháp thứ 4 trong Đề án phát triển thị trường công nghệ) với mục đích tạo môi trường gắn kết nhà khoa học (viện, trường, trung tâm nghiên cứu - phát triển), nhà quản lý (các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các cấp) với nhà kinh doanh, sản xuất, trong đó cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò hỗ trợ tạo lập và thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ
Tổ chức Chợ công nghệ và thiết bị là một nội dung hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, trên cơ sở tiến hành xác lập thông tin về cung và cầu công nghệ của các tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch mua bán công nghệ
Nội dung giao dịch KH&CN bao gồm: trưng bày và giao dịch các thành quả công nghệ: mời thầu các dự án công nghệ; công bố các thông tin công nghệ, bán các sản phẩm mới từ kết quả nghiên cứu khoa học; thương thảo, ký kết các hợp đồng KH&CN; hợp đồng NC&PT và các hoạt động khác liên quan đến thị trường công nghệ
Ngoài Techmart, còn có nhiều hoạt động xúc tiến thông qua các hình thức khác nhau như: các hoạt động chuyển giao công nghệ của các trung tâm ứng dụng công nghệ, phổ biến thông tin công nghệ, tư vấn lựa chọn thông tin công nghệ thích hợp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các diễn đàn công nghệ, hội thảo công nghệ
Do đáp ứng nhu cầu thực tiễn, chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) được phát triển không ngừng về tổ chức, quy mô và phạm vi hoạt động
2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động Techmart
Đánh giá hoạt động Techmart để tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động Techmart Kết quả đánh giá là căn cứ xây dựng, phê duyệt Đề án tổ chức Techmart tiếp theo, khen thưởng hoạt động tổ chức Techmart; kiến nghị,
đề xuất các phương thức tổ chức, biện pháp thực hiện để hoạt động Techmart đem lại hiệu quả nhất Hiệu quả hoạt động Techmart được đánh giá dựa trên các
tiêu chí sau:
Một là, sự phù hợp của hoạt động Techmart so với mục tiêu đã được phê
duyệt, cụ thể như sau: Số lượng đơn vị tham gia Techmart; Số lượng gian hàng tham gia Techmart; Số lượng công nghệ và thiết bị tham gia giới thiệu, trưng
Trang 32bày tại Techmart; Số lượng công nghệ lần đầu được giới thiệu tại Techmart; Tỷ
lệ tham gia của các tổ chức khoa học và công nghệ so với tổng số đơn vị tham gia Techmart
Hai là, kết quả các hoạt động diễn ra trong Techmart: Số lượng hợp đồng
và biên bản ghi nhớ được ký kết tại Techmart; Tổng giá trị hợp đồng và biên bản ghi nhớ được ký kết tại Techmart; Số lượng khách tham quan Techmart; Chất lượng Hội thảo khoa học tại Techmart; Chi phí đầu tư tổ chức Techmart so với tổng giá trị giao dịch công nghệ và thiết bị trong thời gian diễn ra Techmart
Ba là, hiệu quả của Techmart được đánh giá sau thời gian tổ chức
Techmart (hậu Techmart): Tỷ lệ hợp đồng, biên bản ghi nhớ ký kết tại Techmart được triển khai thực hiện sau Techmart 01- 02 năm so với tổng số hợp đồng đã
ký kết trong Techmart; Hiệu quả áp dụng công nghệ, thiết bị mua tại Techmart
so với trước khi tham gia Techmart, cụ thể như sau: Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu của các đơn vị mua công nghệ, thiết bị (bên cầu) tại Techmart; Tỷ lệ nâng cao chất lượng sản phẩm sau khi áp dụng công nghệ, thiết bị đã mua tại Techmart
2.2.1 Một số kết quả nổi bật của Techmart
Để thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ và gắn kết nhà khoa học với doanh nghiệp và nông dân, trong giai đoạn (2003 – 2013), Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố tổ chức thành công 05 kỳ Techmart Quốc gia (năm 2003, 2005, 2007), Quốc tế (2009, 2012) ở Việt Nam và gần 30 kỳ Techmart Vùng Kết quả của các kỳ Techmart đã khẳng định đây là một trong những hoạt động xúc tiến phát triển thị trường công nghệ hiệu quả và thiết thực
Các kỳ Techmart Quốc gia ( năm 2003, 2005, 2007)
Techmart Việt Nam 2003 được tổ chức tại Hà Nội Đây là Chợ công nghệ và thiết bị quy mô toàn quốc đầu tiên được tổ chức: có 319 đơn vị tham gia (285 đơn vị trong nước, 34 đơn vị nước ngoài), trong đó có gần 100 Viện, phân Viện và Trung tâm nghiên cứu; 50 đơn vị thuộc 11 trường đại học; hơn 100 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau; có 49 tỉnh và thành phố
Trang 33trực thuộc trung ương tham gia, 34 đơn vị nước ngoài đến từ Hàn Quốc, Mỹ, CHLB Đức, Israel, Ấn Độ, Singapore, Rumani với gần 400 gian hàng (vượt gần 150 gian hàng so với chỉ tiêu đề ra của Ban tổ chức)
Tại Techmart Việt Nam 2003 này, đã có trên 2.000 công nghệ, thiết bị và dịch vụ được giới thiệu và chào bán, trong đó đại đa số (95%) công nghệ và thiết
bị trong nước, 676 hợp đồng và bản ghi nhớ đã được ký kết, trong đó có 334 hợp đồng mua bán công nghệ, thiết bị với giá trị trên 1.000 tỷ đồng Có nhiều hợp đồng đạt giá trị rất lớn (11,19 triệu USD); có nhiều đơn vị đã ký kết tới hơn 50 hợp đồng mua bán công nghệ với giá trị hàng chục tỷ đồng; các đơn vị nước ngoài được nhiều người quan tâm tìm hiểu Các gian hàng của Hàn quốc đã ký kết 70 hợp đồng mua bán công nghệ với tổng giá trị trên 2 triệu USD; chợ đã đón 180.000 lượt khách đến thăm; cũng trong thời gian diễn ra Techmart 3 hội thảo khoa học và một buổi giao lưu đã được tổ chức và thu hút trên 500 đại biểu tham dự
Techmart Việt Nam năm 2005 được tổ chức tại Tp Hồ Chí Minh: có trên
475 đơn vị tham gia, bao gồm: 190 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế;
225 các tổ chức KH&CN; 10 chương trình KH&CN cấp Nhà nước, 20 Sở KH&CN và 40 đơn vị nước ngoài; gần 600 gian hàng được dàn dựng để giới thiệu chào bán 2.200 công nghệ và thiết bị
Tại Techmart này, đã có hơn 220.000 lượt người đến thăm các gian hàng; trên 5.000 cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, tìm hiểu trực tiếp đã diễn ra tại các gian hàng; gần 1.037 bản ghi nhớ, hợp đồng đã được ký kết, trong đó có 159 hợp đồng với tổng giá trị lên đến 1.600,8 tỷ đồng được ký kết chính thức có sự chứng kiến của Ban tổ chức Trong số 159 hợp đồng nói trên, 6 hợp đồng có giá trị trên 100 tỷ đồng và 50 % là hợp đồng kinh tế với giá trị gần 700 tỷ đồng
Techmart Việt Nam năm 2007 được tổ chức tại Đà Nẵng: với gần 400 đơn vị tham gia, trong đó có 35 viện, 21 trường đại học, 67 trung tâm nghiên cứu phát triển, 142 doanh nghiệp, 32 hội và cá nhân, 23 Sở KH&CN và 70 đơn
Trang 34vị nước ngoài của 4 nước: Israel, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc tham gia, có
425 gian hàng giới thiệu, chào bán hơn 2.000 công nghệ và thiết bị
Hơn 100.000 lượt người đã đến tham quan Chợ công nghệ và thiết bị Việt Nam 2007; gần 1.000 bản ghi nhớ và hợp đồng đã được ký kết trong đó có 235 bản ghi nhớ và hợp đồng được ký kết chính thức với tổng giá trị gần 700
Trang 35Techmart Việt Nam Quốc tế 2012 đã diễn ra tại Trung tâm Triển lãm Quốc tế (91 Trần Hưng Đạo, Hà Nội) với chủ đề Liên kết cùng hội nhập và phát triển bền vững, đã thu hút sự tham gia tích cực của hơn 500 tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN), doanh nghiệp, cá nhân Việt Nam và nước ngoài với 550 gian hàng, giới thiệu chào bán hơn 3.000 công nghệ và thiết bị; hơn 200.000 lượt người đến tham quan, hơn 1.200 hợp đồng và bản ghi nhớ đã được ký kết cùng hàng ngàn giao dịch mua bán công nghệ, thiết bị sản phẩm với tổng trị giá trên 1.526 tỷ đồng
Trong số các hợp đồng được ký kết tại Techmart lần này, có thể kể tới một số hợp đồng và và bản ghi nhớ tiêu biểu, thiết thực, đáp ứng nhu cầu của xã hội như hợp đồng nghiên cứu chế tạo và chuyển giao công nghệ thiết bị Vật lý trị liệu tổ hợp của Viện Vật lý sinh học, Viện KH&CN Quân sự với giá trị hợp đồng là 5,1 tỷ đồng; Hợp đồng chế tạo hệ thống thiết bị tự động điều khiển hòa điện mặt trời vào điện lưới của Công ty TNHH sản xuất và thương mại Cơ điện – Điện tử Việt Linh trị giá
12 tỷ đồng; Hợp đồng Cung cấp các tàu công tác đa năng được sản xuất bằng công nghệ và vật liệu mới PPC với giá trị 11 tỷ đồng; Hợp đồng chuyển giao công nghệ
xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ giữa Công ty Cổ phần Sinh học và Sở KH&CN Bạc Liêu với giá trị 6 tỷ đồng
Techmart ảo và Sàn giao dịch công nghệ
Chợ công nghệ và thiết bị trên mạng hay còn được gọi là Techmart ảo được Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạo phát triển để đáp ứng nhu cầu của thị trường Cùng với loại hình Techmart theo phiên tại một số địa điểm và vào thời gian nhất định, các Chợ công nghệ và thiết bị trên mạng Internet, Techmart ảo được thiết lập dựa trên sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại cho phép mở rộng giới hạn về không gian và thời gian giao dịch Techmart ảo tại địa chỉ http://www.techmartvietnam.vn của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, http://www.techmart.cesti.gov.vn của Trung tâm Thông tin KH&CN Tp Hồ Chí Minh và các Techmart ảo của các địa phương như Hải Phòng, Bình Định, Nghệ
An, Lâm Đồng, Thái Bình, Đồng Nai, Hải Phòng, Quảng Ninh cung cấp các thông tin về cung và cầu công nghệ thiết bị đã trở thành kênh thông tin phong
Trang 36phú, tích cực phục vụ cho việc đổi mới công nghệ, thiết bị cho cộng đồng doanh nghiệp và cũng là kênh giao dịch thường xuyên, xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN và thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hỗ trợ cho các đơn
vị có công nghệ, thiết bị chào bán cũng như các đơn vị có nhu cầu tìm mua công nghệ, thiết bị, gặp gỡ trao đổi trực tuyến, không hạn chế về không gian và thời gian
Theo thống kê tại sàn giao dịch của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, năm 2013: Số lượt truy cập và tìm kiếm giao dịch mua bán công nghệ trên
Techmart ảo (www.techmartvietnam.com) là 1.646.748 lượt tăng 38,7% so với
năm 2012), trong đó có hơn 450 giao dịch được thực hiện qua Techmart ảo và
giao dịch trực tiếp qua sàn giao dịch.Tổng giá trị ký kết hợp đồng tại hai kỳ trình
diễn công nghệ (Techdemo) và Techmart Hà Nội năm 2013 là 470 tỷ đồng
2.2.2 Số liệu thống kê về các kỳ Techmart
Trong năm 2013, Trung tâm giao dịch thông tin công nghệ Việt Nam đã chủ trì tổ chức và tham gia các Techmart vùng như sau:
Trang 37Bảng 2.1: Số liệu thống kê của các kỳ Techmart vùng trong năm 2013
Nguồn: Báo cáo Techmart của Cục Thông tin KH&CN QG, 2013
Bảng 2.2: Các kỳ Techmart Quốc gia
Số gian hàng
SL CNTB, GPPM,
DV chào bán
SL HĐ biên bản ghi nhớ
Tổng giá trị đã ký kết (tỷ đồng)
1 Techmart Vietnam
2003
Quốc gia
2 Techmart Vietnam
2005
Quốc gia
3 Techmart Vietnam
2007
Quốc gia
Nguồn: Báo cáo Techmart của Cục Thông tin KH&CN QG
Trang 38Số gian hàng
SL CNTB, GPPM,
DV chào bán
SL HĐ biên bản ghi nhớ
Tổng giá trị đã ký kết (tỷ đồng)
1 Techmart Vietnam
ASEAN+3 2009
Quốc gia và quốc tế
2 Techmart Viẹt Nam
2012
Quốc gia và quốc tế
vị tha
m gia
Số gian hàng
SL CNTB, GPPM,
DV chào bán
SL
HĐ biên bản ghi nhớ
Tổng giá trị
đã ký kết (tỷ đồng)
Binh
Vùng núi phía Bắc
Trang 396 T11/07 Techmart
Binh Duong
Vùng Đông Nam bộ
Thainguyen
Vùng núi phía Bắc
Nguyen
Vùng Tây nguyên
Nam
Vùng Đồng bằng Bắc
Quang Ninh
Vùng ĐBSCL
Trang 4018 T10/2013 Techmart
DakNong
Vùng Nam Trung bộ
Nguyên
Nguồn: Báo cáo Techmart của Cục Thông tin KH&CN QG
Qua số liệu thống kê trên cho thấy sự quan tâm của xã hội đối với KH&CN và nhu cầu của xã hội về sự liên kết giữa các nhà khoa học và sản xuất
là rất lớn Chính sự quan tâm và nhu cầu đã thu hút sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học, doanh nghiệp
Số lượng hợp đồng ký kết tại các kỳ Techmart Vietnam tăng lên thấy rõ, đã khẳng
định công nghệ trong nước có tính cạnh tranh và thực sự trở thành hàng hoá
Biểu đồ 2.1: Chặng đường phát triển của Techmart Việt Nam
Nguồn: Báo cáo Techmart của Cục Thông tin KH&CN QG
Số liệu thống kê trong 9 năm (2003 - 20012) cho thấy Techmart đã trở thành hoạt động không thể thiếu trong quá trình tạo lập và phát triển thị trường công nghệ Việc tổ chức Chợ công nghệ và thiết bị là để thực hiện nhiệm vụ tạo lập và phát triển thị trường KH&CN trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện kết luận của Hội nghị Trung ương VI (khoá IX) về KH&CN; đẩy mạnh việc gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất và kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức KH&CN và các doanh nghiệp gặp gỡ, trao đổi, thoả thuận hợp tác và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy thương mại hoá tri thức công nghệ; là nơi gắn kết giữa “cung” và “cầu”