1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng dạy và học Tiếng Việt ở các trường đại học Thái Lan : Luận văn Ths. Ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam: 602201

118 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Siriwong Hongsawan, Sommai Chinnak [34 : 320] nói rằng “Sau khi tướng quân đội Chatichai Choonhavan giữ chức thủ tướng Thái Lan thứ 17 từ năm 1988 đến năm 1989 - thời điểm sau khi s

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

CHIMBANLANG PARINYA

THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT Ở

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI LAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

CHIMBANLANG PARINYA

THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT Ở

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI LAN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học

Mã số: 60220113

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THIỆN NAM

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trong luận văn này, các kết quả đưa ra là hoàn toàn trung thực và chưa hề được công

bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bằng tất cả tình cảm của tôi, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thiện Nam, người hướng dẫn luận văn cho tôi và giúp đỡ chính luôn tận tâm trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Việt Nam học và tiếng Việt, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại Học Quốc gia Hà Nội những người đã tận tình truyền đạt các kiến thức quý báu cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và nhiên cứu tại Việt Nam

Đồng thời, Tôi xin chân thành cám ơn tới các thầy cô giáo, cán bộ của một số trường đại học mà chúng tôi đã tiến hành khảo sát đã giúp tôi rất nhiều trong việc tìm hiểu những tư liêụ sử dụng trong luận văn này

Hơn nữa, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Nhân Văn của trường đại học Srinakharinwirot đã trao cơ hội và tạo điệu kiện để tôi được học tập và nhiêu cứu tại Việt Nam Cùng với đây, tôi xin bày tỏ lời tri ân sâu sắc tới các thầy cô dạy tiếng Việt đã giúp đỡ tôi trong suốt 4 năm trên giảng đường đại học

Cuối cùng tôi xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn bè đồng nghiệp, những người đã luôn động viên, giúp đỡ, và dõi theo tôi từng bước trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về mặt kiến thức, kinh nghiệm, thời gian tìm hiểu vậy nên luận văn của tôi còn nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, các bạn sinh viên và những người quan tâm đến văn đề nêu trong luận văn này để luận văn được hoàn thiện và có giá trị thực tiễn hơn Tôi xin chân thành cám ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm

Tác giả

Chimbanlang Parinya

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……….………., ….…4

1 Lý do chọn đề tài……….……….4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… ……… 6

3 Mục đích nghiên cứu……… ……… 7

4 Đối tượng nghiên cứu……… ……….8

5 Phạm vi nghiên cứu……….……….8

6 Nhiệm vụ nghiên cứu……… ………8

7 Phương pháp nghiên cứu……….……….8

8 Đóng góp của luận văn……….9

9 Bố cục của luận văn……… 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN……….……… …… ….…….…10

1.1 Khái niệm phương pháp dạy học……….…… ……….….….……10

1.1.2 Tổng quan về phương pháp dạy tiếng……… ….…… ………10

1.2 Lý thuyết về thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất……… … … 10

1.3 Lý thuyết về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai… 11

1.4 Lý thuyết nhận thức ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ……… … … ….12

1.4.1 Giả thuyết về việc học tập và việc nhận thức ngôn ngữ (The Acquisition Learning Hypothesis)………… ……….… …… ……12

1.4.2 Giả thuyết về quá trình học ngôn ngữ với một cách tự nhiên (The natural Order Hypothesis) ……… ……… 13

1.4.3 Giả thuyết về cơ chế kiểm tra ngôn ngữ (The monitor Hypothesis)… 13

1.4.4 Giả thuyết về việc nhận thức dữ liệu ngôn ngữ(The Input Hypothesis) 14

1.4.5 Giả thuyết về sự khác biệt giữa tâm lý(The Affective-Filler Hypothesis) 15

1.5 Quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (Second Language Acquisition)……….15

1.6 Lý thuyết về ngoại ngữ……….……… …….16

1.7 Các phương pháp dạy ngoại ngữ trên thế giới hiện nay……… … 17

Trang 6

1.7.1 Phương pháp ngữ pháp - dịch (Grammar-Translation Method)……….19

1.7.2 Phương pháp trực tiếp (Direct Method)……… ………… 19

1.7.3 Phương pháp nghe nhìn (The Audiovisuel Method)……… … 21

1.7.4 Phương pháp nghe - nói (The Audiolingual Method)………… … 21

1.7.5 Phương pháp giao tiếp (The Communicative Approach)…… ……….22

1.8 Lý thuyết Phân tích nhu cầu (Needs Analaysis)……… ….………….24

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT TẠI 14 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI LAN,……….……….…….… 26

2.1 Tổng quan về lịch sử dạy học tiếng Việt ở Thái Lan……… ……… 26

2.1.1 Sự phát triển về việc dạy học tiếng Việt ở Thái Lan trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh đến hiện nay……… …… ……… ….… 27

2.2 Thông tin về việc dạy học tiếng Việt các trường đại học Thái Lan…… 28

2.2.1 Những chương trình đào tạo tiếng Việt như là chuyên ngành chính 28

2.2.2 Những chương trình đào tạo tiếng Việt như là một môn phụ….…… 42

2.2.3 Những chương trình đào tạo tiếng Việt như là môn tự chọn.………… 45

2.3 Kết quả khảo sát……… ….……… … … 48

2.4 Thực trạng dạy học tiếng Việt và xu hướng dạy học tiếng Việt trong tương lai……….……… … ………… 55

2.5 Tiểu kết……….……… ……… 57

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG GIÁO TRÌNH ĐƯỢC CÔNG BỐ Ở THÁI LAN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI LIỆU……… …… ………….….58

3.1 Tổng quan về thực trang giáo trình tiếng Việt trong các trường đại học ở Thái Lan……… ……… ………… … …58

3.2 Thực trạng giáo trình tiếng Việt giao tiếp cơ sở được sử dụng trong các trường Đại học bậ cử nhân……….………… ….……… ….…58

3.3 Báo cáo, nhận xét kết quả khảo sát phân tích 4 giáo trình tiếng Việt cấp cơ sở trong các trượng đại học ở Thái Lan……… … 70

Trang 7

3.4 Kết luận kết quả phân tích từ 4 cuốn giáo trình……… ….84

3.5 Những nhược điểm được phát hiện từ 4 cuốn giáo trình…… 92

3.6 Phương hướng phát triển giáo trình học tiếng Việt và tài liệu học tiếng Việt tại Thái Lan……… … … ….….97

3.7 Kiến nghị……….……… … ………98

3.8 Tiểu kết……….…… … 102

KẾT LUẬN ……… ……… ……… 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….… … … 109

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cộng đồng kinh tế ASEAN là một khối kinh tế khu vực của 10 quốc gia thành viên ASEAN chính thức được thành lập từ ngày 31 tháng 12 năm 2015 và trở thành một trong ba cột trụ của Cộng đồng ASEAN bên canh Cộng đồng An ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN Đối với Thái Lan, Cộng đồng Kinh tế ASEAN đóng một vai trò rất quan trọng Các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội lẫn văn hoá đều mang tầm quan trọng và giúp cho đất nước phát triển mạnh mẽ, ổn định và không chỉ tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế mà còn thúc đẩy sự hợp tác với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Trong đó“Ngôn ngữ” là một công cụ rất quan trọng, tạo điều kiện giúp các nước trong cộng đồng ASEAN có sự hiểu biết chung về văn hóa

và điều quan trọng nhất là giảm bớt sự xung đột giữa các nước trong khối ASEAN

Không những vậy, các nhà đầu tư Thái Lan còn quan tâm đến việc đầu tư vào thị trường ASEAN Trong thời gian vừa qua, Việt Nam là một thị trường kinh tế thu hút các nhà đầu tư Thái Lan đến tìm hiểu và đầu tư trên nhiều lĩnh vực khác nhau Ngoài ra, ngành du lịch ở Thái Lan cũng là một yếu tố khác thu hút người Việt Nam đến Thái Lan

và lượng khách du lịch Việt Nam đang có xu hướng ngày một tăng lên và phát triển mạnh mẽ

Việt Nam là một quốc gia được Thái Lan đặt sự quan tâm lên hàng đầu Thái Lan

và Việt Nam là hai nước ASEAN đầu tiên thiết lập quan hệ đối tác chiến lược vào tháng

6 năm 1976 và mối quan hệ này đã không ngừng phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực

Để góp phần tăng cường sự gắn kết giữa các thành viên Công đồng ASEAN, chính phủ Thái Lan đã và đang thúc đẩy việc dạy và học các ngôn ngữ của các nước trong cộng đồng ASEAN, trong đó có tiếng Việt Việc dạy và học tiếng Việt được tổ chức tại các trường học, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp Thái dạy tiếng Việt cho nhân viên

để phục vụ cho việc đầu tư, kết nối kinh doanh cũng như tăng cường hợp tác kinh tế, du lịch

Trang 9

Hiện nay, tình hình mối quan hệ ngoại giao, văn hóa giữa Thái Lan và Việt Nam đang trong chiều hướng phát triển, việc trao đổi, nghiên cứu ngôn ngữ giữa tiếng Thái

và tiếng Việt ngày càng được mở rộng Ở Thái Lan, Tiếng Việt được coi như một ngoại ngữ và đã trở thành một chuyên ngành và nhận được sự quan tâm của các trường trung học và trường Đại học

Không thể phủ nhận một thực tế rằng, hiện nay nhu cầu học tiếng Việt ở Thái Lan ngày càng cao Số lượng người Thái học tiếng Việt ngày càng tăng Điều này tỷ lệ thuận với sự phát triển trên phương diện ngoại giao, kinh tế giữa hai nước Thái Lan - Việt Nam Việc học tiếng Việt không chỉ giới hạn trong các trường Đại học mà còn ở các trường trung học, mở rộng phạm vi từ khu vực thành phố như Bangkok đến các vùng nông thôn khác như vùng Đông Bắc Thái Lan

Trước xu thế hội nhập này, người Thái Lan học tiếng Việt ngày càng tăng và học tiếng Việt với nhiều mục đích khác nhau:

- Để giao tiếp trong cuộc sống: Người học là khách du lịch hoặc làm công tác trao đổi văn hóa giáo dục, làm việc nên họ cư trú ở Việt Nam trong thời gian ngắn

- Để giao tiếp trong sản xuất kinh doanh: Học viên thường là các doanh nhân, các nhà đầu tư nước ngoài, nghiên cứu thị trường hoặc đầu tư, làm kinh doanh ở Việt Nam ngắn hoặc dài hạn

- Để nghiên cứu lịch sử, văn hóa, văn học, ngôn ngữ, kinh tế Việt Nam… Học viên là những sinh viên, nghiên cứu sinh, nhân viên của các tổ chức Quốc Tế, Chính phủ

và Tư nhân đến từ nước ngoài như Úc, Nhật Bản, Mỹ, Anh… Tất cả các đối tượng trên đều có mục đích và nhu cầu riêng khi học tiếng Việt Chúng tôi thiết nghĩ, ngoại trừ những trường hợp quá cấp tốc thì mặc dù là tiếng Việt dùng trong giao tiếp, du lịch, kinh

tế hay khoa học cũng đều dựa trên cơ sở về ngôn ngữ tiếng Việt nên cần phải tuân theo những chuẩn mực nhất định

Trong bối cảnh hiện nay số lượng người hiểu biết và thông thạo tiếng Việt ở Thái Lan còn khá hạn chế vì vậy những sinh viên hoặc những người biết tiếng Việt sau khi ra

Trang 10

trường có thể dễ dàng tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực phiên

dịch, nhân viên hợp tác quốc tế và nhận được mức lương khá cao so với một số ngôn

Tuy nhiên việc phát triển các kỹ năng tiếng Việt cơ bản cho người học tiếng Việt

để đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày nay vẫn còn là một bài toán khá nan giải Một thực

tế không thể phủ nhận rằng tài liệu là một phần rất quan trọng trong việc phát triển tiềm năng và chất lượng cho người học trong quá trình học tiếng Việt để đạt được hiệu quả tốt nhất Nhiều nhà nghiên cứu đã khảo sát thực trạng dạy học tiếng Việt ở các trường Đại học có đào tạo chương trình giảng dạy tiếng Việt ở Thái Lan để góp phần cải thiện và phát triển việc giảng dạy với mục đích cung cấp một cái nhìn tổng thể và bao quát về thực trạng dạy học tiếng Việt ở Thái Lan, từ đó cải thiện và phát triển việc giảng dạy tiếng Việt ở Thái Lan và định hướng cho việc phát triển giáo trình và tài liệu tiếng Việt nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tiếng Việt ở Thái Lan Chúng tôi thực hiện đề tài: “THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI LAN” như một cuốn cẩm nang hỗ trợ cho việc nghiên cứu và phát triển tài liệu sau này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khi khảo sát thực trạng dạy và học tiếng Việt ở trong các trường đại học Thái Lan, Chúng tôi đã tham khảo một số nghiên cứu trước đó về thực trạng dạy và học

Trang 11

tiếng Việt ở Thái Lan cả trong tiếng Thái lẫn tiếng Việt Ở Thái Lan đã có một bài báo

nói về sự phát triển của việc dạy học tiếng Việt ở Thái Lan Trong thời gian vừa qua,

thực trang dạy và học Tiếng Việt ở Thái Lan đã nhận được sự quan tâm rất lớn Theo Siriwong Hongsawan, Sommai Chinnak [34 : 320] nói rằng “Sau khi tướng quân đội Chatichai Choonhavan giữ chức thủ tướng Thái Lan thứ 17 (từ năm 1988 đến năm 1989) - thời điểm sau khi sự chấm đứt cuộc chiến tranh Việt Nam, ông đã đưa ra một chính sách nổi bật là “Đổi chiến trường thành thương trường” và ông đã khuyến khích, tập trung vào việc dạy học các ngôn ngữ trong cộng đồng các quốc gia khối ASEAN như Campuchia, Lào, Việt Nam.” Kể từ đó, việc mở các chương trình giảng dạy tiếng Việt trong các Trường Đại học càng ngày càng tăng lên nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội phục vụ lĩnh vực kinh tế là chủ yếu Có thể thấy trong suốt quá trình kể từ giai đoạn đầu mở chương trình đào tạo tiếng Việt trong Trường Đại học Thái Lan, các cơ sở đào tạo đã cập nhật nội dung chương trình và tên chương trình đào tạo sao cho phù hợp để đáp ứng nhu cầu của xã hội theo từng xu hướng như việc đã xuất bản giáo trình dạy tiếng Việt cho người Thái Lan càng ngày càng tăng lên so với thời điểm trước đó

Tựu chung lại việc nghiên cứu thực trạng dạy và học tiếng Việt ở Thái Lan hiện nay giúp mọi người có thể hình dung và có cái nhìn tổng quan về sự phát triển, thay đổi và cách tân việc dạy và học tiếng Việt trong các Trường Đại học ở Thái Lan từ thời kỳ trước tới hiện nay bao gồm các xu hướng học tiếng Việt, giáo trình nhằm nghiên cứu và điều chỉnh nội dung đồng thời góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tiếng Việt ở Thái Lan

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Thực trạng dạy và học tiếng Việt ở các trường Đại học tại Thái Lan bao gồm;

số lượng giảng viên, số lượng sinh viên học tiếng Việt từng năm, nôi dung môn học của từng chương trình từ đó xếp loại chương trình

3.2 Tìm hiểu giáo trình được sử dụng trong các trường Đại học tại Thái Lan, đặc biệt là tiếng Việt giao tiếp cơ sở từ năm 2010 trở lên

Trang 12

3.3 Tìm hiểu nội dung giảng dạy trong giáo trình tiếng Việt cơ sở từ năm 2010 trở lên, phương pháp được sử dụng trong giáo trình, và những ngược điểm còn xuất hiện đồng thời đề xuất phương hướng phát triển giáo trình và tài liệu dạy tiếng Việt ở các trường Đại học ở Thái Lan

4 Đối tượng nghiên cứu

4.1 Thực trạng dạy và học tiếng Việt tại các trường Đại học ở Thái Lan

4.2 Các giáo trình giảng dạy tiếng Việt Nam ở các trường Đại học tại Thái Lan

5 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát thực trạng dạy và học tiếng Việt trong các trường Đại học ở Thái Lan

và giáo trình được sử dụng trong các trường Đại học, đặc biệt là tiếng Việt giao tiếp cơ

sở xuất bản từ năm 2010 trở đi

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài

6.2 Tìm hiểu thực trạng dạy và học tiếng Việt ở các Trường Đại học ở Thái Lan 6.3 Tìm hiểu giáo trình dạy tiếng Việt giao tiếp cơ sở được xuất bản ở Thái Lan

7.2 Phương pháp so sánh đối chiếu

- So sánh đối chiếu các chương trình giảng dạy tiếng Việt ở các trường Đại học tại Thái Lan

Trang 13

- So sánh phân tích đối chiếu về các giáo trình được sử dụng trong các trường Đại học tại Thái Lan

7.3 Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phân tích số lượng người học tiếng Việt như một chuyên ngành chính, các nội dung học trong chương trình, từ đó tổng hợp và đưa ra kết luận

- Phân tính giáo trình được sử dụng trong việc giảng dạy tiếng Việt từ năm

2010 trở đi, từ đó tổng hợp và đưa ra kết luận và một số nhận xét

7.4 Phương pháp nghiên cứu khu vực học

- Nghiên cứu số lượng người học và thực trạng dạy và học tiếng Việt tại một

số trường và khu vực trên lãnh thổ Thái Lan

7.5 Phương pháp ngôn ngữ học ứng dụng

- Nghiên cứu ngôn ngữ được thể hiện trong giáo trình tiếng Việt giao tiếp

cơ bản từ năm 2010 trở đi dành cho người Thái Lan

8 Đóng góp của luận văn

8.1 Luận văn đã khảo sát về thực trạng dạy và học tiếng Việt ở các trường đại

9 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Khảo sát thực trạng học tiếng Việt tại 14 trường đại học Thái Lan Chương 3: Thực trạng giáo trình được công bố ở Thái Lan và định hướng phát triển tài liệu

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm phương pháp dạy học

Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định Do đó, phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích

đã định Khái niệm trên cho thấy phương pháp có cấu trúc phức tạp, bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống những hành động (hoạt động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ), quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt được) Khi sử dụng đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự định, nếu mục đích không đạt được thì có nghĩa là

phương pháp không phù hợp với mục đích hoặc nó không được sử dụng đúng

1.1.2 Tổng quan về phương pháp dạy tiếng Việt

Theo Nguyễn Quang Ninh-Bùi Minh Toán [1 : 36-37] đã đưa ra quan niệm rằng

“Phương pháp dạy tiếng Việt là một hệ thống lý thuyết thuộc phạm trù ngôn ngữ học ứng dụng Khi nói đến phương pháp dạy tiếng cho người nước ngoài sẽ có nhiều phương pháp giảng dạy phổ biến trên thế giới được các giáo viên áp dụng.” Mỗi phương pháp ra đời sau đều kế thừa những ưu điểm và khắc phục những khuyết điểm của phương pháp

ra đời trước đó Các nhà ngôn ngữ cũng như các nhà giáo dục đều nhận thấy vai trò của việc lựa chọn lý thuyết nào để phù hợp nhất trong việc giảng dạy các ngoại ngữ nói chung và tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng Để đảm bảo cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tiếng cần tìm hiểu cấu trúc của hoạt động này Cụ thể, các yếu tố tham gia

vào quá trình này có thể hình dung như sau:

Trang 15

Người học là người tiếp thu môn học còn người dạy phải tuân theo những nguyên tắc chung, sử dụng các phương pháp, thủ pháp nhất định nhằm đạt mục tiêu giáo dục, cho nên hoạt động này có tính chất “giáo dục” Cả người dạy và người học đều có mối quan hệ với nhau qua một môn học nào đó, môn học này có tính chất “ngôn ngữ” Trong khoa học giáo dục và lý luận dạy học bộ môn chưa có một định nghĩa và cách giải thích hoàn toàn thống nhất về thuật ngữ phương pháp dạy học

Theo Nguyễn Quang Ninh-Bùi Minh Toán [1 : 36-37] đã đưa ra quan niệm cho rằng: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức và kỹ năng, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực” Có quan niệm coi phương pháp dạy học là “những hình thức kết hợp hoạt động của giáo viên và học sinh hướng vào việc đạt mục tiêu nào” Có thể nói tổng quan là

“phương pháp dạy học tiếng Việt là cách thức làm việc của thầy giáo và học sinh nhằm làm cho học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức, hình thành các kỹ năng và kỹ xảo tiếng Việt”

1.2 Lý thuyết về thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất (First Language or mother tongue)

Theo Bloomfield, Leonard (1933), một nhà ngôn ngữ có tiếng đã đưa ra khái niệm

về ngôn ngữ thứ nhất rằng ngôn ngữ thứ nhất là tiếng mẹ đẻ (mother tongue), là tiếng nói được sử dụng từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành mà trong xã hội của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó có thể không được giảng dạy chính thức trong trường học

Theo Rungrudee Plaengsorn [31: 10-12] đã nói rằng “Đặc trưng của người nói tiếng mẹ đẻ của một ngôn ngữ là trực giác về những gì họ có trong ngôn ngữ của họ nhạy bén hơn những người khác không thể nói được tiếng mẹ đẻ ví dụ : Với trẻ em ở Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất.”

Theo Khanungnid Chanthurat [27: 7-8] đã giải thích đặc điểm của ngôn ngữ thứ nhất hay tiếng mẹ đẻ là “người bản ngữ (Native Speaker) có kiến thức về ngôn ngữ của mình và có khả năng sử dụng ngôn ngữ của mình tốt nhưng người bản ngữ có lẽ không

Trang 16

thể giải thích được về cách học tiếng mẹ đẻ như thế nào vì người học đã được học tiếng

mẹ đẻ từ khi còn nhỏ hay là tương đương với tuổi tác của người học.”

1.3 Lý thuyết về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (Second Language)

Theo Rungrudee Plaengsorn [31: 10-12] đã đưa ra “Ngôn ngữ thứ hai là ngôn ngữ được học đứng ở vị trí thứ hai sau khi đã được học ngôn ngữ thứ nhất.” Một số nước sử dụng ngôn ngữ thứ hai và ngôn ngữ này đóng vai trò rất quan trọng và được sử dụng tương đương như ngôn ngữ chính như: tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai ở Malaysia, Philippin và là ngôn ngữ chính thức của giới công chức trong nước hay một số nước có nhiều ngôn ngữ địa phương vậy nên phải có ngôn ngữ chính để giao tiếp trong nước Ngoài Maylaysia và Philippin còn có Ấn Độ là quốc gia xác định lấy tiếng Anh là ngôn ngữ chính

Theo Stephen Krashen (1988) đã nói rằng “Ngôn ngữ thứ hai đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hằng ngày và giao tiếp xã hội Người trong xã hội đó cần phải sử dụng ngôn ngữ thứ hai như là người bản xứ vì có thể sẽ sử dụng nhiều hơn cả ngôn ngữ thứ nhất.” Đối với người ngoại quốc, nếu sống hẳn ở Việt Nam, tiếng Việt sẽ

là ngôn ngữ thứ hai, nếu chỉ ở Việt Nam một thời gian ngắn cũng như nếu chỉ học tiếng Việt ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, tiếng Việt được coi là một ngoại ngữ Đối với người

nước ngoài khi học một ngoại ngữ thì ngoại ngữ đó vẫn được gọi là ngôn ngữ thứ hai Ở

một số nước sử dụng đa ngôn ngữ, ngôn ngữ phổ thông được gọi là ngôn ngữ thứ nhất, còn ngôn ngữ của một cộng đồng được gọi là ngôn ngữ thứ hai, ví dụ : ở Pháp, tiếng Pháp là ngôn ngữ thứ nhất, tiếng Anh của cộng đồng người Anh ở Pháp là ngôn ngữ thứ hai ; ở Úc , tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất, các ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc còn

lại được gọi là ngôn ngữ thứ hai (Languages other than English - LOTE)

1.4 Lý thuyết nhận thức ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ

Rungrudee Plaengsorn [31 : 12] đã nói rằng “Con người đều có cơ thể và bộ não bình thường nhằm tương tác với mọi người xung quanh, con người có thể dễ dàng học ngôn ngữ bản địa hoặc tiếng mẹ đẻ một cách dễ dàng.” Tuy nhiên, việc học ngôn ngữ

Trang 17

thứ hai hoặc ngoại ngữ có lẽ không dễ dàng như cách học tập tiếng mẹ đẻ bởi có nhiều nhân tố quan trọng về tuổi tác và tính cách ảnh hưởng đến cách tiếp nhận ngôn ngữ Có thể nói rằng người học trẻ tuổi sẽ có khả năng học ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ nhanh hơn người học lớn tuổi Ngoài ra tính cách của người học ngoại ngữ sẽ quyết định năng suất của việc học, những người tự tin, chăm chỉ sẽ đạt hiệu quả hơn so với người học không tự tin

Rungrudee Plaengsorn [31 : 12] đã nói tớ lý thuyết học về ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ được biết đến nhiều nhất và có ảnh hưởng mạnh nhất là lý thuyết của “Stephen Krashen” rằng “Ông đã đưa ra 5 giả thuyết về cách học ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ là”

(1) Giả thuyết về việc học tập và nhận thức ngôn ngữ

(2) Giả thuyết về quá trình học ngôn ngữ với một cách tự nhiên

(3) Giả thuyết về cơ chế kiểm tra ngôn ngữ

(4) Giả thuyết về việc nhận thức dữ liệu ngôn ngữ

(5) Giả thuyết về sự khác biệt giữa tâm lý và thái độ

1.4.1 Giả thuyết về việc học tập và việc nhận thức ngôn ngữ (The Acquisition Learning Hypothesis)

Khái niệm giả định này là quá trình học tập ngôn ngữ thứ hai của con người Giả định được chia làm hai cách thức đó là việc nhận thức ngôn ngữ (Language Acquistion) và việc học tập ngôn ngữ (Language Learning) Việc nhận thức ngôn ngữ là một quá trình học tập ngôn ngữ tương tự với việc học tập tiếng mẹ đẻ Ngôn ngữ đi vào tiềm thức của người học một cách tự nhiên (Subconscious) qua các hoạt động giao tiếp hàng ngày Cách học này làm cho người học thường không biết là mình đã học về quy tắc của ngôn ngữ nhưng người học cảm nhận được về việc sử dụng đúng hay sai ngôn ngữ, cách học này là một quá trình học ngôn ngữ như một cách phản xạ tự nhiên

1.4.2 Giả thuyết về quá trình học ngôn ngữ với một cách tự nhiên (The natural Order Hypothesis)

Trang 18

Khái niệm giả thuyết này nói rằng đây là một quá trình học tập theo các bước quy tắc tự nhiên, bất cứ là người lớn tuổi hay người trẻ tuổi khi được học ngôn ngữ thứ hai, ngoại ngữ hay tiếng mẹ đẻ thì người học phải học các quy tắc sử dụng những nguyên âm đôi trước mới bắt đầu viết được đúng từ Tuy nhiên, trong quá trình dạy và học, người dạy sẽ đạt được hiệu quả tốt nếu bắt đầu dạy theo các bước nhận thức những quy tắc tự nhiên từ dễ đến khó.

1.4.3 Giả thuyết về cơ chế kiểm tra ngôn ngữ (The monitor Hypothesis)

Khái niệm của giả thuyết này nói rằng việc nhận thức ngôn ngữ (Acquisition) và việc học tập ngôn ngữ (Learning) là hai phạm trù đều được sử dụng để có thể thu được những lợi ích khác nhau Việc nhận thức ngôn ngữ khiến cho người học có thể sử dụng ngôn ngữ rất thành thạo để giao tiếp trong tình huống thực tế còn việc học tập ngôn ngữ nhằm mục đích để kiểm tra độ chính xác của ngôn ngữ

Tuy nhiên những quy tắc của ngôn ngữ thường không giúp cho người học nói thành thạo nhưng nó đóng vai trò kiểm tra độ chính xác theo quy tắc của ngôn ngữ Việc kiểm tra ngôn ngữ thường có 3 điều kiện như sau:

(1) Người sử dùng ngôn ngữ phải có đủ thời gian Trong quá trình giao tiếp thực

tế, người học thường không đủ thời gian để kiểm tra độ chính xác của ngôn ngữ bởi việc này sẽ khiến cho người nói nói chậm hơn, nói không thành thạo và giao tiếp bất tự nhiên

(2) Người sử dụng ngôn ngữ phải luôn luôn nghĩ đến độ chính xác hay hình thức của ngôn ngữ đã được học Trong quá trình giao tiếp hằng ngày, người nói sẽ quan tâm đến nội dung nói hơn hình thức chính xác của ngôn ngữ

(3) Người sử dụng ngôn ngữ phải nắm được những quy tắc của ngôn ngữ

1.4.4 Giả thuyết về việc nhận thức dữ liệu ngôn ngữ (The Input Hypothesis)

Khái niệm giả thuyết này được tóm tắt lại là yếu tố quan trọng nhất đối với việc học ngôn ngữ là dữ liệu ngôn ngữ (Input) người học có lẽ nhận thức bằng cách nghe và đọc, người học phải có kiến thức về dữ liệu

Trang 19

1.4.5 Giả thuyết về sự khác biệt giữa tâm lý (The Affective-Filler Hypothesis)

Bản chất của giả thuyết này là thái độ, thái độ được coi như một yếu tố rất quan trọng luôn có ảnh hưởng đến sự thành công trong quá trình học tập ngôn ngữ ví dụ: động lực của người học để học một ngôn ngữ với một mục đích nào đó chắc chắn sẽ khiến cho người học thực hiện một cách nghiêm túc và thành công Ngược lại nếu người học lo lắng và cảm thấy khó chịu, không mở mang tâm trí để học một ngôn ngữ khác, nó có thể làm cho người học mất tinh thần, không sẵn sàng để học, cuối cùng việc học này sẽ

không thành công

Từ năm giả thuyết của “Krashen” như trên có thể khái quát lại là việc học ngôn ngữ có hai hình thức một là sự thụ đắc của ngôn ngữ (Acquisition) hai là việc học tập ngôn ngữ (Learning) Việc học ngôn ngữ qua quá trình thụ đắc ngôn ngữ là một quá trình học tập một cách tự nhiên, người học phải học về quy tắc của ngôn ngữ qua việc sử dùng ngôn ngữ đó, còn việc học tập ngôn ngữ bình thường là việc học tập quy tắc của ngôn ngữ, điều này có lẽ làm cho người học không thể sử dùng ngôn ngữ để giao tiếp nhưng người học có thể sẽ hiểu hơn về những quy tắc của ngôn ngữ Ngoài ra, còn có những yếu tố khác có ảnh hưởng đến việc học ngôn ngữ như là dữ liệu ngôn ngữ của người học và thái độ của người học đối với ngôn ngữ đó

1.5 Quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (Second Language Acquisition)

Thụ đắc ngôn ngữ là quá trình mà con người đạt được khả năng nhận thức và sử dụng ngôn ngữ từ ngữ để hiểu và giao tiếp Việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là quá trình

mà người học học ngôn ngữ thứ hai ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, quá trình này điễn ra sau quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất tức là khi ngôn ngữ thứ nhất đã ổn định

Rungrudee Plaengsorn [31 : 12] đã nói rằng “Quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai này khác với tiếng mẹ đẻ Khi trẻ em đến tuổi đi học dù chưa có kiến thức về ngôn ngữ nhưng đã có sẵn các khả năng sử dụng ngôn ngữ bởi đã quen thuộc với khả năng nghe, nói và hiểu Những người học ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai có xu hướng đi theo quá trình học ngược lại Họ đã biết một ngôn ngữ, đã nắm được các khái niệm chung như

Trang 20

ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… và bắt đầu học các hệ thống đó để có khả năng sử dụng ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai này “

Theo Krashen and Terrel (1983) đã nói rằng “Trong qua trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai có sự tiếp xúc và tương tác giữa hai ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai Các học viên trong giai đoạn đầu cần phải sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ để nhận biết những sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, đó là nguyên tắc đối chiếu tương phản Do

đó, khi dạy và học một ngoại ngữ cần lưu ý đến việc đối chiếu giữa ngôn ngữ mẹ đẻ của người học và ngôn ngữ đích để tìm ra những điểm giống và khác nhau qua đó tìm ra phương pháp dạy hiệu quả nhất.”

1.6 Lý thuyết về ngoại ngữ

Ngoại ngữ là ngôn ngữ không được sử dụng ở trong nước Người học học với mục đích để giao tiếp với người nước ngoài hoặc với mục đích để làm việc, nghiên cứu

trong lĩnh vực giáo dục, du lịch, chính trị, làm kinh doanh… Việc học ngoại ngữ, người

học có lẽ bắt đầu học từ khi còn trẻ hoặc khi đã trưởng thành hoặc vào độ tuổi trung niên và được mô tả thông qua ví dụ về việc người Việt Nam học tiếng Anh : Người Việt Nam được học tiếng Anh như ngoại ngữ từ khi học ở trường trung học cơ sở hoặc một số người Việt Nam được học tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc, tiếng Trung Quốc như một

ngoại ngữ bắt buộc từ khi còn học tại trường trung học phổ thông

Tóm lại, việc thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ có phần giống bởi lẽ người học phải học cả cấu trúc ngữ pháp lẫn cách sử dụng ngôn ngữ Meechai Eiamjinda [28 : 57] đã đưa ra 3 yếu tố quan trọng về việc học ngôn ngữ như sau:

(1) Người học (Learner): là người muốn học ngôn ngữ

(2) Người bản ngữ (Speaker of target language): là người làm mẫu đầu tiên (Prototype) trong việc sử dụng ngôn ngữ và sẵn sàng giúp đỡ người học ngôn ngữ từ việc giao tiếp với người bản ngữ

Trang 21

(3) Bối cảnh sử dụng ngôn ngữ (Social setting): điều này có mối liên kết giữa người học và người bản ngữ tạo điều kiện cho người học có cơ hội sử dụng ngôn ngữ như là công cụ chính

Ba yếu tố như trên điều hỗ trợ lẫn nhau Nếu thiếu một yếu tố nào đó, việc nhận thức ngôn ngữ sẽ có vấn đề hoặc sẽ không thành công Việc học ngôn ngữ thành công hay không dựa vào sự sẵn sàng về cách sử dụng ngôn ngữ cá nhân để phù hợp với 3 yếu

tố trên

1.7 Các phương pháp dạy ngoại ngữ trên thế giới hiện nay

Việc dạy thành công một ngôn ngữ nào đó phải luôn gắn liền giữa hai bên người học và người dạy Đó là: người học phải có ý thức học không nản lòng, còn người dạy phải chuẩn bị kế hoạch giảng dạy thích hợp với việc đứng lớp, hai mối quan hệ này phải

bổ sung cho nhau mới có thể trở thành yếu tố quan trọng để giúp cho việc học ngoại ngữ thành công

Trong lịch sử phương pháp giảng dạy ngoại ngữ, giảng dạy tiếng luôn gắn liền với các trào lưu trong ngôn ngữ học, tâm lý học và giáo dục học Theo Celce-Murcia (1991), phương pháp giảng dạy ngoại ngữ luôn dựa vào 3 yếu tố cơ bản Đó là: bản chất ngôn ngữ (giảng dạy tiếng và ngôn ngữ học), bản chất người học (giảng dạy tiếng và tâm

lí học), và mục đích giảng dạy và học tập (mục đích của cá nhân và nhu cầu xã hội)

Theo ông Edward Anthony (1972) ông đã đưa ra 3 từ cơ bản quan trọng của việc học ngôn ngữ đó là nguyên tắc (Approach) phương pháp giảng dạy (Method) và kỹ thuật giảng dạy (Technique) cả 3 nguyên tắc này đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để giúp cho quá trình dạy học thành công, trong đó các phương pháp phải phù hợp với nguyên tắc của người dạy với người học Nguyên tắc, phương pháp giảng dạy và kỹ thuật giảng dạy như trên có thể tóm tắt lại như sau:

(1) Nguyên tắc: Lý thuyết hay niềm tin bản chất của ngôn ngữ Nguyên tắc là con đường nhằm giúp người dạy quyết định và đạt mục đích nội dung trong quá trình học cho đến việc lựa chọn phương pháp giảng dạy và học trên lớp Nguyên tắc là một yếu tố

Trang 22

cơ bản xong rất quan trọng giúp cho người dạy tiếp cận với người học một cách phù hợp nhất

(2) Phương pháp giảng dạy: Hệ thống của quá trình giảng dạy trong việc thuyết trình nội dung giảng dạy dựa vào một nguyên tắc cơ bản mà người dạy đã quyết định chọn Hệ thống này bao gồm mục đích của việc giảng dạy, việc lựa chọn nội dung và sắp xếp nội dung dạy cũng như hình thức của việc thuyết trình nội dung dạy vì vai trò giữa người dạy và người học bao gồm không chỉ trong phạm vi sử dụng tài liệu mà còn liên quan tới thiết bị giảng dạy song những yếu tố trên phải phù hợp với mục đích đã định

(3) Kỹ thuật giảng dạy: chiến thuật và những hoạt động đi cùng với những phương pháp giảng dạy hoặc cùng với quá trình học tập Kỹ thuật giảng dạy phải phù hợp với phương pháp và mục đích đã định

Có thể thấy rằng trước khi bắt đầu dạy ngoại ngữ, người dạy nên đặt mục tiêu trong mỗi buổi dạy như: Dạy đề tài nào và dạy như thế nào Vì vậy người dạy phải phải

có nguyên tắc hay lý thuyết trong việc giảng dạy để hình thành một con đường riêng trong việc hướng dẫn giảng dạy sau đó áp dụng nguyên tắc đó vào phương pháp dạy hoặc đặt ra từng bước kế hoạch của người dạy đã định từ mở đầu, thuyết trình nội dung dạy, tóm lược giảng dạy bao gồm cả việc đánh giá học tập

Phương pháp giảng dạy và việc đạt kế hoạch giảng dạy tốt phải đi cùng với kỹ thuật giảng dạy và lựa chọn một cách phù hợp như vậy sẽ khiến cho việc giảng dạy thành công và có hiệu quả nhất Trong quá trình phát triển hơn một thế kỷ qua, ngành phương pháp giảng dạy ngoại ngữ được biết đến với các phương pháp phổ biến như :

- Phương pháp dịch ngữ pháp (Grammar-Translation Method)

- Phương pháp trực tiếp (Direct Method)

- Phương pháp nghe - nhìn (The Audiovisuel Method)

- Phương pháp nghe - nói (The Audiolingual Method)

- Phương pháp giao tiếp (The Communicative )

Trang 23

1.7.1 Phương pháp ngữ pháp - dịch (Grammar-Translation Method)

Phương pháp ngữ pháp - dịch là một phương pháp dạy ngoại ngữ được sử dụng trong việc dịch và học ngữ pháp như là hoạt động dạy chủ yếu Phương pháp này đã xuất hiện từ khoảng thế kỷ XVI, XVII và được phổ biến trong việc dạy tiếng Hy Lạp và Latin trước, sau đó được sử dụng trong việc dạy tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Pháp sau này Phương pháp này nhìn nhận ngôn ngữ như một hệ thống, bởi việc sử dụng lối tiếp cận nhận thức trong giảng dạy, người dạy sẽ dạy bằng tiếng mẹ đẻ là chủ yếu Người học làm theo lời khuyên của người dạy Phương pháp này chú trọng vào văn viết Ngữ pháp được học theo phương pháp diễn dịch và mang tính hệ thống, có sử dụng rộng rãi các quy tắc, đồng thời so sánh đối chiếu với tiếng mẹ đẻ có thể thấy rằng phương pháp này không hề thiên về kỹ năng nghe và nói mà thiên về kỹ năng đọc và viết Người học sẽ nắm được cấu trúc ngữ pháp và cách dịch Vì vậy việc học sẽ được học bằng cách học thuộc theo quy tắc và những từ vựng đồng thời dịch các từ đó sang tiếng mẹ đẻ

• Ưu điểm của phương pháp ngữ pháp - dịch (Grammar-Translation Method)

- Phù hợp với lớp học có nhiều người bởi tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ giảng dạy và là đối tượng so sánh đối chiếu học viên, điều này sẽ giúp tiết kiệm thời gian dạy

- Phương pháp này phù hợp với người học có khả năng đọc và dịch tốt Người học chủ yếu nghiên cứu các cấu trúc ngữ pháp và tập trung vào việc đọc hiểu tài liệu và địch

Trang 24

Phương pháp này xuất hiện đầu tiên ở Châu Âu vào cuối thế kỷ XIX Có thể nói, phương pháp trực tiếp là một phương pháp giảng dạy ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ, người học được học giống như quá trình nhận thức tiếng mẹ đẻ Phương pháp này được

xem như là một sự phản ứng lại phương pháp ngữ pháp - dịch

Với phương pháp này người học không cần phải học thuộc nguyên tắc hay nhiều

từ vựng vì từ vựng sẽ được học trong câu qua các bài hội thoại với chủ đề sinh hoạt hàng ngày và được coi trọng hơn ngữ pháp, giáo viên hoàn toàn không sử dụng tiếng mẹ đẻ trên lớp Giáo viên là người bản ngữ hoặc có năng lực ngoại ngữ cao, ngôn ngữ được học phần lớn là ngôn ngữ nói Giáo viên thường sử dụng tranh ảnh hoặc hành động để giải nghĩa từ mới Người học sẽ được học trong bối cảnh thực tế Bài học được thực hiện

từ các cuộc đối thoại hay những mẩu chuyện vui liên quan đến những tình huống sinh hoạt cụ thể hàng ngày Ở phương pháp này, kỹ năng phát âm được chú ý hơn cả và được học 4 kỹ năng nghe, nói, đọc và viết nhưng kỹ năng nghe nói được coi là cơ sở và được dạy trước

• Ưu điểm của phương pháp trực tiếp (Direct Method)

- Học viên có thể sử dụng được ngoại ngữ vào các tình huống thực tế theo lối

tư duy tự nhiên

- Học viên sẽ được học qua cách tư duy bằng ngôn ngữ đích và học viên sẽ làm quen với ngôn ngữ một cách rất nhanh chóng vì được sử dụng trong bối cảnh

thực tế

- Phương pháp này thiên về khả năng nghe và nói khá nhiều, hai khả năng này

là khả năng cơ bản để phát triển khả năng đọc và viết trong tương lai

• Nhược điểm của phương pháp trực tiếp (Direct Method)

- Ngữ pháp trong phương pháp này cũng được giảng dạy nhưng không chuyên sâu và phân tích ngữ pháp chi tiết như ở phương pháp ngữ

- Không phù hợp với lớp học có nhiều sinh viên

- Sinh viên bị hạn chế của tài liệu giảng dạy nên không thể tiến xa

Trang 25

1.7.3 Phương pháp nghe nhìn (The Audiovisuel Method)

Phương pháp này xuất hiện ở Pháp vào năm 1950 với mục đích là cải tiến việc học do Giáo sư Gougenheim tìm tòi tại trung tâm nghiên cứu Mục đích của phương pháp này là việc sử dụng các kênh nghe nhìn để tăng khả năng học nhằm đạt hiệu quả nhanh chóng Phương pháp này chú trọng về khẩu ngữ Giáo viên là trung tâm nhưng nguyên tắc, tính giao tiếp, khẩu ngữ, chức năng, tình huống được chú ý Giáo viên giới thiệu hình ảnh kèm phụ đề, giải thích, đặt câu hỏi và học viên trả lời câu hỏi; sinh viên luyện tập, củng cố bằng cách nhắc lại nhiều lần, sau đó luyện tập nói tự do theo chủ đề của hình ảnh đã được học Còn ngữ pháp sẽ được học qua mô hình ngôn ngữ và thực

hành

• Ưu điểm của phương pháp nghe nhìn (The Audiovisuel Method)

- Nhờ kết hợp giữa thính giác đi kèm thị giác nên giờ học sinh động hơn và người học có thể đạt kết quả tốt hơn

- Tính giao tiếp và khẩu ngữ sẽ được chú ý nên khả năng nói được cải thiện

• Nhược điểm của phương pháp nghe nhìn (The Audiovisuel Method)

- Nhiều tình huống được mô phỏng, không tự nhiên; nguyên tắc tính bao quát

bị lạm dụng vì vậy dữ liệu nhiều khi không được tách thành những thành phần cụ thể để giải thích, dẫn đến việc khó tiếp thu Việc cường điệu vai trò giải thích ý nghĩa bằng trực quan và loại trừ tiếng mẹ đẻ đã gây khó khăn cho giai đoạn đầu của lớp học

1.7.4 Phương pháp nghe – nói (The Audiolingual Method)

Phương pháp này ra đời do nhu cầu đào tạo phiên dịch cấp tốc của quân đội Mỹ, vì vậy lúc đó có tên gọi là Chương trình huấn luyện dành riêng cho quân đội (Army Specialized Training Program - ASTP) Phương pháp này chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận trong ngôn ngữ học và hành vi luận trong tâm lý học Những nhà ngôn ngữ học nổi tiếng góp phần đến phương pháp này là L Bloomfield, C Fries Nhà tâm lý học F.B Skinner với công trình nổi tiếng: Hành vi ngôn ngữ - Virbal Behavior đã đưa ra nhận

Trang 26

định: “Việc học chính là việc tạo lập thói quen Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trên thế giới và được coi là một cuộc cách mạng trong việc dạy tiếng”

Phương pháp này học sinh có thể sử dụng ngôn ngữ đích để giao tiếp Học sinh cần học thật nhiều ngôn ngữ đích, sử dụng một cách tự động mà không dừng lại suy nghĩ Học sinh sẽ đạt được điều này bằng cách tạo những thói quen mới trong ngôn ngữ đích và bỏ qua những thói quen cũ trong tiếng mẹ đẻ Tiếng mẹ đẻ sử dụng để đối chiếu

2 ngôn ngữ với mục đích khắc phục, giao thoa hoặc dịch để kiểm tra sự hiểu của học sinh Giáo viên là trung tâm, điều khiển và hướng dẫn những hành vi ngôn ngữ của sinh viên Giáo viên cung cấp những mẫu câu để cho học sinh bắt chước các mẫu câu của giáo viên hoặc của đoạn băng ghi âm mà giáo viên cho nghe Lớp học bắt đầu bằng các bài hội thoại và nhấn mạnh kỹ năng nghe và nói, từ vừng được học trong các ngữ cảnh khác nhau, qua các mẫu câu được lặp lại nhiều lần Ngữ pháp sẽ được dạy qua con đường quy nạp Học viên sẽ được luyện tập phần lớn là cách luyện lập máy móc: Luyện nghe, nghe nhớ bằng cách bắt chước, học thuộc, thay thế, biến đối, trả lời câu hỏi, điền vào chỗ trống, mở rộng câu, hợp nhất các câu, đàm thoại tự do, tập làm văn

• Ưu điểm của phương pháp nghe - nói (The Audiolingual Method)

- Khả năng nghe nói được cải thiện, học viên hình thành được thói quen về việc

sử dụng ngôn ngữ trong bối cảnh thực tế

• Nhược điểm của phương pháp nghe - nói (The Audiolingual Method)

- Khả năng nghe nói có được cải thiện, tuy nhiên, việc bắt chước một cách máy móc, việc học thuộc không giúp người học hình thành được khả năng giao tiếp hiệu quả Trên thực tế những nhược điểm này không thể tránh được và không cần thiết tránh bằng mọi giá

1.7.5 Phương pháp giao tiếp (The Communicative Approach)

Phương pháp này ra đời ở Anh vào cuối năm 1960, và trở nên phổ biến vào cuối năm 1970 ở Mỹ và nhiều nước sau này Mục đích học và giảng dạy của phương pháp này là đạt được ngữ năng giao tiếp (Communicative Competence), tức là đạt được khả

Trang 27

năng không chỉ sử dụng đúng cấu trúc ngữ pháp để hình thành câu đúng mà còn biết dùng câu đó đúng lúc, đúng bối cảnh và phù hợp với đối tượng Hơn nữa, khi giao tiếp, chúng ta sử dụng ngôn ngữ để thực hiện một số chức năng (Function) nào đó như thuyết phục, tranh luận hoặc là hứa hẹn

Phương pháp này nhấn mạnh tới năng lực giao tiếp Học viên đóng vai trò trung tâm Giáo viên đóng vai trò như người tổ chức, hướng dẫn hoạt động giao tiếp Giáo viên vừa là người tư vấn vừa là bạn (Counselor and friend) và là người cùng giao tiếp, người tạo điều kiện dễ dàng (Faciliter) cho hoạt động giao tiếp trong lớp học của học viên hơn nữa giao giáo viên thường thiết kế chương trình dựa trên việc phân tích nhu cầu người học Các hoạt động trên lớp gắn liền với việc sử dụng ngôn ngữ đích, thông qua đó, học viên sử dụng thành thạo cách thức giao tiếp như: biết hỏi lại khi chưa rõ một vấn đề nào

đó, biết yêu cầu nhắc lại để đáp ứng nhu cầu của mình, biết tranh luận và trao đổi thông tin, biết phát triển và thuyết phục với một cách tự nhiên nhất Học viên học tiếng bằng việc sử dụng chính ngôn ngữ đích thông qua các hoạt động giao tiếp, các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết được tiến hành đồng thời chứ không tách biệt Ngữ dữ liệu giảng dạy là ngữ dữ liệu nguyên gốc, có nghĩa, được lấy từ cuộc sống thực tế hàng ngày

• Ưu điểm của phương pháp giao tiếp (The Communicative Approach)

- Ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp trong các tình huống thực và chú ý đến bối cảnh xã hội của ngôn ngữ

- Học viên được học với bốn kỹ năng ngay từ đầu, ngay từ khi việc giao tiếp bằng lời nói diễn ra giữa người nói và người nghe

- Không khí lớp học thoải mái,vphương pháp này lấy học viên làm trung tâm (Learner center), được làm việc theo nhóm, cặp

- Tài liệu giảng dạy chú ý đến các chức năng giao tiếp (đề nghị, khuyên bảo, thích hay không thích)

- Lỗi của học viên được sửa đổi và kĩ năng giao tiếp trôi chảy quan trọng hơn việc nắm vững ngữ pháp

Trang 28

• Nhược điểm của phương pháp giao tiếp (The Communicative Approach)

- Phương pháp này tạo ra nhiều lỗi trong sản phẩm ngôn ngữ trung gian của người học, nhất là sự gia tăng các hóa thạch (fossilizations) sinh viên khó đạt đến trình độ hoàn thiện do thiếu kiến thức ngữ pháp

1.8 Lý thuyết Phân tích nhu cầu (Needs Analaysis)

Phân tích nhu cầu là một yếu tố trong việc thiết kế (hoặc đánh giá) chương trình giảng dạy Thêo Hutchinson Walters (1987) đã nói rằng “Mục đích của phân tích nhu cầu là lập ra các kết quả đầu ra và những yêu cầu chủ yếu trong việc thiết kế cũng như đưa ra khóa học hoặc hoạt động học tập.” Các nhu cầu liên quan đến đặc điểm, lợi ích cũng như những hạn chế có thể có của học sinh (hoặc bất kì đối tượng liên quan nào khác) Phân tích này nhằm liên kết các phương pháp, tài liệu đã có hoặc được đề xuất với các nhu cầu trên từ đó xác định, thiết kế chương trình giảng dạy có phù hợp với mục tiêu hướng tới hay không

Quy trình phân tích nhu cầu trong giảng dạy ngôn ngữ được Michael West giới thiệu và sử dụng lần đầu tiên vào năm 1920, nhưng sau đó lại xuất hiện vào năm 1970 và là kết quả của các nghiên cứu chuyên sâu được tiến hành bởi hội đồng châu Âu Phân tích nhu cầu đã được phát triển và nhấn mạnh trong ESP (Tiếng Anh chuyên ngành), người ta tranh luận rằng nó không thể xác định được nhu cầu của người học tiếng Anh nói chung

Hutchinson và Walters [19, 5-8] đã mô tả phân tích nhu cầu như là điểm đặc trưng nhất trong việc thiết kế khóa học Tiếng Anh chuyên ngành Nên chú ý rằng phân tích nhu cầu là xuất phát điểm trong việc thiết kế chương trình học hay khóa học Đó cũng là một phần bắt buộc trong việc phát triển chương trình giáo dục cũng như trước khi phát triển một chương trình học nào đó Vì vậy những thông tin thu thập được có thể được sử dụng để xác định mục tiêu chương trình hoặc để lựa chọn học liệu phù hợp nhất cho chương trình học ngôn ngữ Theo ông Johnson K (2008) đã chỉ ra rằng: “Để lên kế hoạch giảng dạy ngoại ngữ chúng ta cần phải tìm cách phân tích nhu cầu của người học

Trang 29

Điều đó sẽ cho chúng ta biết người học cần bao nhiêu, vì mục đích gì và cần đến ngôn ngữ nào, đó chính là quá trình phân tích nhu cầu."

Phân tích nhu cầu trong thiết kế giảng dạy và thiết kế chương trình ngôn ngữ có thể được định nghĩa như một quy trình có hệ thống giúp giáo viên thu thập thông tin và

có được bức tranh cụ thể, chính xác, đầy đủ về nhu cầu và sở thích của học sinh Sau đó giải thích thông tin thu thập được và quyết định những gì cần đưa vào trong chương trình

để đáp ứng nhu cầu của học sinh Quá trình này có thể được sử dụng để đáp ứng nhu cầu học tập của tất cả học sinh, cải thiện thành tích của họ và đáp ứng các tiêu chuẩn học tập được kiểm chứng Tuy nhiên, quá trình này đôi khi không bao gồm các nhu cầu cá nhân của người học nhưng lại bao gồm yêu cầu và nguyện vọng của các đối tượng khác ví dụ như người lao động, phụ huynh, giáo viên và người hỗ trợ tài chính

Thông tin có thể được thu thập từ các nguồn sau: bảng câu hỏi, khảo sát, kiểm tra, quan sát và phỏng vấn cá nhân Nhìn chung, phân tích nhu cầu là cố gắng thu thập thông tin trong các trường hợp mà ngôn ngữ sẽ được sử dụng, mục đích mà ngôn ngữ sẽ được dùng đến, loại giao tiếp sẽ được sử dụng trong khóa học và mức độ thành thạo được yêu cầu để xây dựng một chương trình học

Phân tích nhu cầu được sử dụng như một phần thông dụng trong giảng dạy, phản ánh được quá trình học tập, xác định nhu cầu của người học và đồng thời kiểm soát quá trình học tập Hơn thế nữa thông tin được thu thập từ phân tích nhu cầu có thể được sử dụng để xác định các mục tiêu của chương trình Những mục tiêu này cũng có thể được xem như mục tiêu giảng dạy cụ thể, hoạt động như một nền tảng để giáo viên phát triển

kế hoạch bài học, tài liệu, bài kiểm tra, bài tập và các hoạt động học tập ''Vì vậy, phân tích nhu cầu giúp bạn làm sáng tỏ mục đích của chương trình học

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở 14 TRƯỜNG ĐẠI HỌC

THÁI LAN

2.1 Tổng quan về lịch sử dạy học tiếng Việt ở Thái Lan

Trước đây, mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Thái Lan khá lạnh nhạt, đặc biệt trong giai đoạn chiến tranh lạnh (1954-1986) Thời điểm đó, chính phủ Thái Lan tuyên bố chính sách cấm vận với các nước Xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam Song nguyên nhân sâu xa châm ngòi cho mối quan hệ Việt Nam- Thái Lan rơi vào mức độ khủng hoảng nhất chính là cuộc xung đột rất lớn trong thời gian chiến tranh giữa Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam nổ ra từ năm 1954 đến năm 1975 Khi đó chính phủ Thái lan đứng phe Tư bản chủ nghĩa và đã ủng hộ quân đội Hoa Kỳ bằng cách cho phép xây đựng căn cứ quân sự và sân bay để tiện cho quân đội Hoà kỳ tấn công Bắc Việt Nam

bằng cả đường không, đường thủy lẫn đường bộ

Theo Siriwong Hongsawan, Sommai Chinnak [34 : 320] nói rằng “sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, cả hai nước đều hy vọng cải thiện và phát triển mối quan hệ ngoại giao song lại phải đối mặt với thực trạng khủng hoảng nhiều hơn trước vì chưa thực sự tin tưởng và mạnh dạn hợp tác Hơn thế nữa giữa 2 quốc gia còn nảy sinh nhiều vấn đề nổi cộm và cấp thiết đòi hỏi phải có phương án giải quyết mau lẹ như: Vấn đề di cư của nhân dân Việt Nam, vấn đề căn cứ quân sự và quân đội Hoa Kỳ, vấn đề Việt Nam - Campuchia (Giai đoạn Khơ- me đỏ) Hơn nữa sự khác biệt về tư tưởng chính trị giữa nước Cộng Sản với nước Tư Bản Chủ Nghĩa cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến góc nhìn của cả hai nước Người Thái có cái nhìn khá tiêu cực đối với các nước Cộng Sản Thời

kỳ trước, phần lớn người Thái Lan hiểu nhầm về ý nghĩa của tư tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa, với họ khi nói đến XHCN thường xuất hiện những thuật ngữ như: Phiến quân, Kẻ khủng

bố, nhóm giết người (Theo tư tưởng của Khơ-me đỏ) Chế độ độc tài (Quan trị theo chủ nghĩa phát xít), cai trị đất nước bằng quyền lực của một nhà lãnh đạo và không được hỏi

ý kiến của nhân dân trong nước Và dĩ nhiên tiếng Việt trong thời đó cũng bị người Thái

Trang 31

bỏ qua Chính phủ Thái Lan lúc đó đã đưa ra chính sách cấm dạy cấm học tiếng Việt và

cả những ngôn ngữ của các nước Cộng sản chẳng hạn tiếng Nga, tiếng Trung quốc v.v…bởi cái cớ rằng e ngại sự xâm nhập của tư tưởng Cộng Sản vào đất nước bằng cách lấy ngôn ngữ làm công cụ truyền bá tư tưởng Còn những người Việt Nam di cư tới miền Đông Bắc Thái Lan trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam cũng bị chính phủ Thái Lan hạn chế các quyền như cấm làm một số nghề nghiệp ví dụ : buôn bán, thợ tóc v.v…Người Việt chỉ được sống tạm thời ở Thái Lan và chờ ngày hồi hương ngay sau khi chiến tranh kết thúc Trong thời gian ấy, việc dạy tiếng Việt ở Thái Lan đã xuất hiện lần đầu tiên

trong các thế hệ gia đình của kiểu bào người Việt.”

Tuy nhên những lý do như trên đã ảnh hưởng đến việc dạy học tiếng Việt ở Thái Lan không được coi trọng Điều này khiến cho người Thái không những thiếu kinh nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc về đất nước và con người Việt Nam mà còn là một rào cản

vô cùng khó khăn để người Thái có thể tiếp cận văn hóa, kiến thức, giao tiếp với người Việt bởi ngôn ngữ chính là cầu nối, là nền móng cho mọi hoạt động giao lưu và trao đổi giữa 2 quốc gia

2.1.1 Sự phát triển về việc dạy học tiếng Việt ở Thái Lan trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh đến hiện nay

Theo lý do như trên, sự khác biệt về tư tưởng chính trị giữa hai nước Thái Lan Việt Nam đã ảnh hưởng đến việc học tiếng Việt ở Thái Lan bị cấm trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh

Theo Siriwong Hongsawan, Sommai Chinnak [34 : 321] đã nói rằng “Việc dạy

học tiếng Việt ở Thái Lan đã được bắt đầu sau khi tướng quân đội Chatichai Choonhavan

giữ chức thủ tưởng Thái Lan thứ 17 (từ năm 1988 đến năm 1989) chính là thời điểm sau khi sự chấm đứt cuộc chiến tranh Việt Nam Ông đã đưa ra một chính sách nổi bật là

“Đổi chiến trường thành thương trường” Trong giai đoạn đó: việc dạy học các ngôn ngữ trong cộng đồng các quốc gia khối ASEAN như Campuchia, Lào, Việt Nam được coi trọng và được xếp thứ 2 sau tiếng Anh Trong khi đó tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật được

Trang 32

xếp thứ 3 ; tiếng Pháp, tiếng Đức được xếp thứ 4 còn tiếng Tây-Ban-Nha, tiếng Ý được

xếp thứ 5 theo thứ tự các ngoại ngữ được coi trong trong giai đoạn ấy.”

Hơn nữa, theo Siriwong Hongsawan và Sommai Chinnak [34 : 321] đã nói rằng

“Sau khi sự chấm dứt chiến tranh lạnh, lúc đó tiếng Việt đã được coi trọng xếp thứ 2 sau tiếng Anh nhưng số lượng người học tiếng Việt vẫn còn ít so với tiếng Nhật, tiếng Trung quốc Sau khi năm 1995 trở đi: có thể gọi là năm khai mạc của việc dạy học tiếng Việt trong xã hội Thái Lan Sau đó đã có những trường đại học mở các chương trình đào tạo tiếng Việt cấp cơ sở dành cho những người khác như: Trường đại học Chulalongkorn và Trường đại học Mahidol Trước đó trường đại học Mahidol cũng mở chương trình đào tạo tiếng Việt dành cho sinh viên sau đại học dựa vào ngành ngôn ngữ Đông Nam Á; Viện ngôn ngữ và văn hóa Đông Nam Á như là môn tự chọn Không bao lâu sau đó đã

có các trường đại học mở khóa đào tạo tiếng Việt như là môn phủ và môn tự chọn chẳng hạn như: Trường đại học Chulalongkorn, Trường đại học Thammasat, Trường đại học Ubonratchathani, Trường đại học Mahasarakham, Trường đại học KhonKaen v.v…”

2.2 Thông tin về việc dạy học tiếng Việt của các trường đại học Thái Lan

Theo khảo sát việc dạy học tiếng Việt trong các trường đại học của Thái lan hiện nay cho thấy rằng chương trình đào tạo tiếng Việt trong các trường đại học của Thái lan được chia thành 3 chương trình chính, đó là:

1) Chương trình đào tạo tiếng Việt như chuyên ngành chính

2) Chương trình đào tạo tiếng Việt như môn phụ

3) Chương trình đào tạo tiếng Việt như môn tự chọn

2.2.1 Những Chương trình đào tạo tiếng Việt như một chuyên ngành

Theo công báo chính phủ của Bộ giáo dục và đào tạo: Chương trình như là chuyên ngành là môn học bắt buộc của chuyên ngành để cho sinh viên có tri thức chuyên gia về khoa học của chuyên ngành đó Tuy nhiên do các quy chế Chương trình như là chuyên ngành là sinh viên phải tích lũy không dưới (54 tín chỉ) hoặc theo điệu kiện của từng

Trang 33

khối chuyên ngành đó Theo tôi đã thống kê, có 5 trường đại học công lập đã mở chương trình đào tạo tiếng Việt như là chuyên ngành chính như sau:

1) Trường đại học Mahasarakham

2) Trường đại học Ubonratchathani

3) Trường đại học Srinakharinwirot

4) Trường đại học Ratchaphat Udonthani

5) Trường đại học Silpakorn

1) Trường Đại Học Mahasarakham

Chương trình cử nhân: Khoa học Xã hội và Nhân văn

Tên chương trình:

Tiếng Việt: Cử nhân xã hội chuyên ngành (Ngôn ngữ và Văn hóa ASEAN) Tiếng Anh: Bachelor of Arts Program in ASEAN Languages and Cultures

Đội ngũ chuyên gia;

1) TS.Pimsen Buarapha (Chủ nhiệm chuyên ngành): Ph.D.Linguistics: Vietnamese Phonetics and Phonology

Vietnam Academy of Social Sciences and Literature,(2006) 2) TS.Nungruthai Chantharakhami: Tiến sĩ xã hội; Tai học; Trường Đại Học Mahasarakham,(2018)

3) Malada Akkhamphan: Cử nhân xã hội; ngôn ngữ và văn hóa ASEAN (tiếng Việt),(2015)

4) Mời giảng viên người Việt Nam (3 người)

Thông tin về chương trình: Trường đại học Mahasarakham là trường đại học

công lập và là 1 trong 10 trường đại học của Thái lan với sứ mạnh phát triển công đồng và xã hội đứng thứ nhất của miền Đông Bắc Thái Lan Nằm ở tỉnh Mahasarakham, đây là trường đại học đầu tiên đào tạo tiếng Việt như là chuyên ngành ở Thái Lan được bắt đầu từ năm 2004 Được thành lập từ năm 2004 với tên chuyên ngành tiếng Việt giao tiếp

Trang 34

sau đó được cập nhật chương trình và đổi tên thành chuyên ngành ngôn ngữ và văn hóa ASEAN; chuyên ngành tiếng Việt được đưa vào giảng dạy tại Khoa xã hội và nhân văn Chương trình này trước hết sử dụng tiếng Thái trên lớp học để truyền đạt cho sinh viên tại các lớp tiếng Việt cơ sở, sau đó giáo viên mới dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt trên lớp cao cấp hơn Mục đích chương trình: Sau khi tốt nghiệp sinh viên sẽ có tri thức và khả năng như sau:

- Sinh viên có kỹ năng tri thức về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam

- Sinh viên có khả năng áp dụng tri thức và khả năng về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam để xây đựng nghề nghiệp trong tương lai và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước

- Sinh viên có đạo đức và chịu trách nhiệm xã hội

Những đặc điểm nổi bật của chương trình học này là thiên về tri thức văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam Sinh viên chuyên ngành này sẽ được học các môn về Tiếng Việt, văn hóa, lịch sử, kinh kế, văn học, tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam Ngoài ra còn có các môn học về khả năng nghề nghiêp chuyên môn như; tiếng Việt pháp luật, Môn kỹ năng giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, Phương thức và nghệ thuật dịch, tiếng Việt

trong ngành du lịch v.v Hơn nữa người học phải bắt buộc chọn một trong những ngôn

ngữ Phương Đông như là môn phụ (không bao gồm tiếng Anh) Ví dụ sinh viên học tiếng Việt như là môn chính sau đó chọn một tiếng nữa như là môn phụ ví dụ tiếng Khơ

me, tiếng Myanmar, Lào, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc

Ngoài ra trường đại học Mahasarakham còn có các chương trình gửi sinh viên đi

du học ở các trường đại học đã ký văn bản hợp tác ở Việt Nam tối thiểu khoảng 3 tháng Hơn nữa đã có sự hợp tác với các trường đại học ở Việt Nam để trao đổi và tạo nguồn các giáo viên dạy tiếng Việt Sau đây là trường đại học đã được hợp tác:

• Trường Đại Học Hà Nội

Trang 35

Trước khi tốt nghiệp những sinh viên năm cuối phải tham gia thực tập nghiệp vụ Sinh viên có thể chọn một nơi thực tập cả trong nước hoặc nước ngoài (Việt Nam) tuy nhiên sinh viên phải là người tự chọn nơi thực tập nhưng phải liên quan đến Việt Nam và phải là nơi sinh viên có thể phát triển bản thân bằng việc áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, suy nghĩ có hệ thống, quan sát, đưa ra quyết định và phân tích, đánh giá theo các đặc điểm yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường; các kĩ năng thuyết trình, kinh nghiệm thực tập, kĩ năng nghiên cứu và thực hiện dự án độc lập Thời gian thực tập kéo dài ít nhất 4 tháng

Cấu trúc chương trình: Thời gian học kéo dài 4 năm Cấu trúc chương trình này

sinh viên bắt buộc phải học không dưới 120 tín chỉ bao gồm các môn học chung của trường không dưới 30 tín chỉ các môn chuyên ngành không dưới 84 tín chỉ, và các môn

tự chọn không dưới 6 tín chỉ

Các môn chuyên ngành này chia thành 3 phần: Học phần bắt buộc, học phần tự chọn và các môn phụ Các nôi dung của học phần bắt buộc bao gồm 3 lĩnh vực : Kiến thức về ngôn ngữ Việt nam, Việt nam học và Kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn Vì vậy theo cấu trúc môn học phần bắt buộc sẽ thấy rằng sinh viên được học các môn liên quan đến kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và giao tiếp (7 môn) Các môn liên quan đến Việt Nam học (5 môn) Môn học về kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn (4 môn) còn lại là môn về nghiên cứu và thực tập (3 môn) Ngoài ra còn có các môn học phần tự chọn mà sinh viên phải tích lũy được 15 tín chỉ Nội dung môn học phần này được chia ra 4 lĩnh vực cho sinh viên tự chọn : Các môn học tự chọn về kỹ năng nghề nghiệp Các môn tự chọn về ngôn ngữ tiếng Việt Các môn học tự chọn về văn học Việt Nam Các môn tự chọn liên quan đến văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam

2) Trường đại học Ubonratchathani

Chương cử nhân: Khoa Nghệ thuật tự do

Tên chương trình:

Trang 36

Tiếng Việt: Cử nhân xã hội chuyên ngành (Tiếng Việt và giao tiếp)

Tiếng Anh: Bachelor of Arts Program in Vietnamese and Communication

Đội ngũ chuyên gia:

1) TS.Rujiwan Laophairoj; (Chủ nhiệm chuyên ngành) Tiến sĩ ngôn ngữ học : Trường đại học Mahidol,(2012)

2) TS.Watcharee Srikham; Tiến sĩ khoa học phát triển; Trường đại học Ubonratchathani, (2013)

3) Ths.Sroysuda Suwanna; Thạc sĩ xã hội; Khoa ngôn ngữ; Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội,(2016)

4) Mời giảng viên người Việt Nam (1 người)

Thông tin về chương trình: Trường đại học Ubonratchathani là trường đại học công

lập và là trường đại học hàng đầu về nhiệm vụ cải thiện chất lượng cuộc sống nằm ở tỉnh Ubonratchathani miền Đông Bắc của Thái Lan Đây là trường đại học thứ hai của Thái lan mở chương trình đào tạo cử nhân xã hội chuyên ngành tiếng Việt giao tiếp Tiền thân

là chương trình: Ngôn ngữ và Văn học Việt Nam sau đó được đổi tên thành chuyên

ngành tiếng Việt giao tiếp nằm trong hệ đào tạo của khoa Nghệ thuật tự do ngành ngôn

ngữ và văn học Phương Đông Chương trình mới này được mở từ năm 2013 với mục đích chính của chương trình đó là sau khi tốt nghiệp sinh viên sẽ có tri thức và khả năng như sau:

- Sinh viên có tri thức về việc sử dụng tiếng Việt để liên hệ và giao tiếp Sinh viên

có thể áp dụng trong nghề nghiệp tương lai chẳng hạn như : phiên dịch, hướng dẫn viên du lịch và giáo viên dạy tiếng Việt

- Sinh viên có tri thức hiểu biết hiện trạng xã hội, văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế và chính trị Việt Nam bao gồm nhận thức được tầm quan trọng và giá trì của ngôn ngữ và văn học,

- Sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của các nước hàng xóm đặc biệt là các nước Đông Dương

Trang 37

- Sinh viên có thể phân tích và tổng hợp các chủ đề về Việt Nam từng hệ thống và sinh viên có thể tự tìm hiểu tri thức thêm liên quan đến Việt Nam và các hàng xóm

- Sinh viên có đạo đức, hiểu về chính mình, hiểu về xã hội nước mình và các nước láng giềng đặc biệt là Việt Nam

- Sinh viên nâng cao ý thức về giá trị của con người, thẩm mỹ học và sự sáng tạo Những đặc điểm nổi bật khác biệt so với chương trình khác là “Chương trình học

3 + 1” tức là sinh viên chương trình này sẽ được học tiếng Việt ở Thái Lan từ năm thứ nhất đến năm thứ ba sau khi sang đến năm thứ tư mọi sinh viên phải đi du học ở các

trường đại học hay các học viện ở Việt Nam đã được hợp tác để sinh viên có cơ hội tìm hiểu về Việt Nam và được tiếp xúc với người Việt Nam giúp cho sinh viên có những trải

nghiệm thực tế về tri thức tiếng Việt bám sát các nội dung mình đã học ở trên lớp Hơn nữa sinh viên sẽ được làm tiểu luận (Independent Study) với các đề tài liên quan đến Việt Nam do sinh viên tự chọn Sinh viên là người tự suy nghĩ đề tài mình muốn làm trước rồi đưa cho các giáo viên ở bên Thái Lan xem xét và đồng ý trước khi làm sau đó chọn một trong 3 các trường đại học đã ký hợp tác với mục đích lựa chọn trường đại học

có các thầy cô giảng viên chuyên sâu về đề tài, hoặc lĩnh vực tương tự với đề tài mình đang nghiên cứu để chọn thầy cô đó là giảng viên hướng dẫn Sau đây là tên các trường

đại học đã hợp tác:

• Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

• Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

• Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia thành phố

Hồ Chí Mình

Nội dung chương trình này thiên về tri thức tiếng Việt giao tiếp; tức là 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tích hợp với tri thức về văn hóa, lịch sử , con người, kinh kế, văn học, tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam Ngoài ra còn có các môn học tự chọn chia ra 4

Trang 38

lĩnh vực là; 1) kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn 2) ngôn ngữ học, 3) văn học 4) văn hóa Việt Nam dành cho sinh viên muốn tìm hiểu sâu sắc hơn Hơn nữa trường đại học Ubonratchathani đã đào tạo tiếng Việt như là môn phụ và môn tự chọn cho những sinh viên quan tâm học

Cấu trúc chương trình: Cấu trúc chương trình này sinh viên bắt buộc phải học

không dưới 135 tín chỉ bao gồm các môn học chung của trường không dưới 31 tín chỉ, các môn chuyên ngành không dưới 98 tín chỉ, và các môn tự chọn không dưới 6 tín chỉ

Các môn chuyên ngành này chia thành 3 phần: Học phần bắt buộc, học phần tự chọn và các môn phụ Các nôi dung của học phần bắt buộc được bao gồm 3 lĩnh vực: Kiến thức về ngôn ngữ Việt nam Việt nam học Kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn Vì vậy theo cấu trúc môn học phần bắt buộc sẽ thấy rằng sinh viên được học các môn liên quan đến kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và giao tiếp (7 môn) Các môn liên quan đến Việt Nam học (5 môn) Môn học về kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn (4 môn) còn lại là môn

về nghên cứu và thực tập (3 môn) Ngoại ra còn có các môn học phần tự chọn mà sinh viên phải tích lũy được (15 tín chỉ) Nội dung môn học phần này được chia ra 4 lĩnh vực cho sinh viên tự chọn: Các môn học tự chọn về kỹ năng nghề nghiệp Các môn tự chọn

về ngôn ngữ tiếng Việt Các môn học tự chọn về văn học Việt Nam Các môn tự chọn liên quan đến văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam Thời gian học kéo dài 4 năm

3) Trường đại học Srinakharinwirot

Chương cử nhân: Khoa Nhân văn

Tên chương trình:

Tiếng Việt: Cử nhân xã hội chương trình quốc tế chuyên ngành ngôn ngữ

để giao tiếp Tiếng Anh: The Bachelor of Arts program in Language for Communication

(International Program)

Đội ngũ chuyên gia:

Trang 39

1) TS.Wassana Namphong (Chủ nhiệm chuyên ngành): Tiến sĩ ngôn ngữ so sánh đối chiếu ; Trường Đại học Khoa Học Xã hội Và Nhân văn, thành phố Hồ Chí Mình

2) Painya Chimbanlang: Cử nhân xã hội; Ngôn ngữ Phương Đông (chuyên ngành Tiếng Việt)

3) Mời giảng viên người Việt Nam (2 người)

Thông tin về chương trình: Trường đại học Srinakharinwirot là trường đại học

công lập hàng đầu về lĩnh vực giáo dục và sự phạm nằm ở trung tâm Băng CốcThành phố Băng Cốc, miền Trung Thái Lan Đây là trường đại học thứ ba có chương trình cử nhân xã hội đào tạo tiếng Việt thuộc khoa nhân văn Trước khi được tách ra và thuộc chương trình quốc tế ngành ngôn ngữ trong giao tiếp chuyên ngành tiếng Việt năm 2017, chương trình đào tạo này thuộc ngành Ngôn ngữ Phương Đông chuyên ngành tiếng Việt Thời gian học kéo dài 4 năm Mục đích chính của chương trình là đào tạo sinh viên có đặc điểm như sau:

- Sinh viên có kỹ năng giao tiếp về tiếng Việ một cách hiệu quả cùng với đạo đức

- Sinh viên có thể áp dụng tri thức về ngôn ngữ và văn hóa với khoa học khác

- Sinh viên có thể sử dụng tri thức về ngôn ngữ và văn hóa trong, tự học tìm hiểu thêm và học tiếp trong bậc sau đại học

- Sinh viên có thể chuyển giao tri thức, sự hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa Việt nam với tư cách đúng và phù hợp với xã hội để đem lại mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước

Những đặc điểm nổi bật khác biệt so với chương trình khác là: Đây là chương trình mới và duy nhất ở Thái Lan được đào tạo bằng chương trình quốc tế (International Program) Nội dung chương trình này coi trọng về tri thức việc học tiếng Anh tương đương với một ngoại ngữ khác với mục đích là ủng hộ cho sinh viên có tri thức và tiềm năng làm việc trong thị trường lao động bao gồm tạo sinh viên có kinh nghiệm và đủ khả

Trang 40

năng cho sẵn để có hiệu quả làm việc trong tương lai Những môn học và nội dung học

sẽ thiên về bốn kỹ năng cơ bản nghe, nói, đọc, viết và kỹ năng giao tiếp được coi trọng

nhiều nhất Ngoài ra còn có những môn học về các khả năng nghề nghiệp chuyên môn

như môn tiếng Việt thương mai, môn tiếng Việt du lịch, môn biên dịch tiếng Việt, môn khả năng dịch đồng thời tiếng Việt, môn phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ và v.v… còn văn hóa, văn học, đất nước, lịch sử và con người Việt Nam sinh viên sẽ được học qua bài đọc, bài báo trên lớp và chia nhóm cho sinh viên thuyết trình từng nhóm Hơn nữa chương trình này khuyến kích cho sinh viên đi du học với các trường đại học và viện học đã ký văn bản hợp tác ít nhất 1 học kỳ Sau đây là các trường đại học đối tác:

• Trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh

• Trường Đại Học Hà Nội

• Trường Đại Học Thái Nguyên

Cấu trúc chương trình: Sinh viên phải tích lũy môn học không đưới (153 tín chỉ) bao gồm các môn học trung của trường không dưới 30 tín chỉ, các môn chuyên

ngành không dưới 117 tín chỉ chia ra chuyên nghành tiếng Việt 54 tín chỉ, và các môn

tự chọn không dưới 6 tín chỉ Thời gian học kéo dài 4 năm

Các môn chuyên ngành này bắt buộc sinh viên phải học 2 thứ tiếng bao gồm tiếng Anh và tiếng Việt Còn các môn học phần tiếng Việt được chia ra 2 phần là ; các môn học phần bắt buộc, các môn học phần tự chọn Vì vậy theo cấu trúc chương trình sẽ thấy rằng các môn học phần bắt buộc sinh viên sẽ được học (6 môn) về giao tiếp, (5 môn) liên quan đến kỹ năng nghe nói đọc viết và (1 môn) về ngữ pháp Ngoài ra còn có các môn học phần tư chọn Sinh viên bắt buộc phải tích lũy được (18 tín chỉ = 6 môn) Các nôi dung học phần này hấu hết là thiên về kiến thức tiếng Việt ứng dụng với kỹ năng chuyên

môn như: tiếng Việt thương mại, tiếng Việt du lịch Ngoài ra còn có 1 môn tổng quan

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w