Với mục tiêu liên tục củng cố hình ảnh tốt đẹp trước công chúng, ngoài các hoạt động chính trị, quan hệ đối nội, đối ngoại, một kênh truyền thông mà chính khách hết sức quan tâm đó là bá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thành Lợi
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những trích dẫn từ các tài liệu khác đều có trích nguồn đầy đủ Các số liệu khảo sát được đưa ra là do tôi nghiên cứu, tổng hợp, hoàn toàn chính xác và trung thực, không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã công bố trong và ngoài nước Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung thông tin mà luận văn trình bày
Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2016
Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Trang 4Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NYT New York Times
CNN The Cable News Network
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG HÌNH ẢNH CHÍNH KHÁCH TRÊN BÁO CHÍ 9
1.1 Một số khái niệm 9
1.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông hình ảnh chính khách 13
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến hình ảnh chính khách trên báo điện tử 16
1.4 Một số lý thuyết về truyền thông hình ảnh chính khách trên báo chí 19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HÌNH ẢNH CHÍNH KHÁCH MỸ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 28
2.1 Giới thiệu 3 tờ báo trong diện khảo sát 28
2.2 Phân tích hình ảnh chính khách Mỹ trên báo điện tử 42
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 96
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM 97 3.1 Một số bài học kinh nghiệm rút ra 97
3.2 Đề xuất kiến nghị cho Việt Nam 103
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 110
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 118
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Biểu đồ 1: Số lượng bài viết về chính trị gia trên The New York Times
2 Biểu đồ 2: Tỷ lệ nhóm đề tài trong Campain Stops
3 Biểu đồ 3: Hình ảnh Hillary Clinton trong Campain Stops, NYT
4 Biểu đồ 4: Các nhóm đề tài trong mục Election 2016 của Bloomberg
5 Biểu đồ 5: Hình ảnh Donald Trump trên Bloomberg
6 Biểu đồ 6: Hình ảnh Hillary Clinton trên Election 2016/ Bloomberg
7 Biểu đồ 7: Số lượng bài viết về các chính trị gia trên CNN
8 Biểu đồ 8: Hình ảnh Donald Trump trên CNN ( 10/2015-10/2016)
9 Biểu đồ 9: Hình ảnh Hillary trên CNN ( 10/2015-10/2016)
10 Biểu đồ 10: HÌnh ảnh Obama trên CNN ( 10/2015-10/2016)
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dù hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề nào, mỗi cá nhân đều cần tạo dựng hình
ảnh cá nhân cho mình, tạo được mối thiện cảm với đối tượng tiếp nhận Đặc biệt, với các chính trị gia- chính khách, những người thường xuyên tham gia hoạt động chính trị, tạo ra sức ảnh hưởng không nhỏ tới chính sách quốc gia và đòi hỏi đạt được lòng tin với đại đa số công chúng, thì càng cần phải chú ý tới hình ảnh của cá nhân Với mục tiêu liên tục củng cố hình ảnh tốt đẹp trước công chúng, ngoài các hoạt động chính trị, quan hệ đối nội, đối ngoại, một kênh truyền thông mà chính khách hết sức quan tâm đó là báo chí Báo chí chính là cầu nối để hình ảnh cá nhân chính khách phủ rộng đến từng người dân, mang lại cho họ sự thiện cảm và ủng hộ cho chính khách
Là một cường quốc trên thế giới, Mỹ đồng thời sở hữu một hệ thống báo chí truyền thông khổng lồ và giàu sức ảnh hưởng Nước Mỹ hiện tại có khoảng 1.600 tờ báo ra hàng ngày, 6.000 tờ cách nhật hoặc hàng tuần ; có khoảng 1.600 đài truyền hình, 13.000 đài phát thanh và gần 500 đài truyền hình cáp Tương đương với tổng
số cơ quan báo chí ấy là từng đó tờ báo điện tử tương ứng
Báo mạng điện tử tuy mới ra đời nhưng đã nhanh chóng phát triển về số lượng, chất lượng và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong đời sống báo chí, đặc biệt với nền báo chí phát triển như nước Mỹ Phải nói rằng, với sự dễ dàng truy cập ở bất cứ đâu, báo mạng điện tử chính là một công cụ tiện ích cho mọi nhu cầu thông tin của công chúng Khi đó, những thông tin về chính khách Mỹ trên báo mạng điện tử tất nhiên cũng được đến gần với công chúng nhanh hơn và đa chiều hơn Với tính đa phương tiện, khả năng đưa thông tin đầy đủ không giới hạn, báo mạng điện tử thực tế là kênh thông tin hữu hiệu để chính khách giới thiệu mình trước công chúng
Đặc biệt, trong các cuộc tranh cử tổng thống Mỹ, đặc tính nhanh chóng của báo mạng điện tử đã cung cấp cho công chúng lượng tin, bài khổng lồ để công chúng từ đó có thể so sánh, cân nhắc, chọn lựa ra vị tổng thống tương lai Trong
Trang 9suốt cuộc tranh cử tổng thống Mỹ vừa qua, báo mạng điện tử đã ghi điểm ở tính nhanh chóng tức thời, thông tin đầy đủ, cập nhật, tận dụng được lợi thế đa phương tiện, tính tương tác cao Tuy nhiên báo điện tử Mỹ cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm
“chết người” như sự thiên vị, tính định hướng sai Cách thức hoạt động của báo điện
tử Mỹ qua cuộc bầu cử tổng thống Mỹ như thế nào? Cách phản ánh chính khách ra sao? Cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào xem xét một cách đầy đủ
và toàn diện, đồng thời đánh giá đúng thực trạng hình ảnh truyền thông chính khách
này trên báo mạng điện tử Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: Hình ảnh chính
khách Mỹ trên báo điện tử ( khảo sát trên 3 tờ báo: The New York Times, Bloomberg, CNN) làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Báo chí học
Luận văn này, cùng với số liệu khách quan, cụ thể, những dẫn chứng chi tiết,
sẽ trả lời câu hỏi: báo chí Mỹ đã phản ánh chân dung, hình ảnh các chính khách như thế nào thông qua các tác phẩm báo mạng điện tử- loại hình báo chí nhanh nhạy, tức thời và có tính đa phương tiện cao Đánh giá những mặt ưu, khuyết điểm ở một nền báo chí luôn tự hào là dân chủ, khách quan
Với thời gian nghiên cứu một năm (đúng thời điểm tranh cử Tổng thống Mỹ)
về ba nhân vật tiêu biểu của chính trường Mỹ: Barack Obama, Hillary Clinton, Donald Trump từ những điểm nhìn khác nhau của 3 tờ báo khác nhau, luận văn sẽ cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho những học giả quan tâm đặc biệt đến chính trị Hoa Kỳ
Đối với những phóng viên, biên tập viên mảng thời sự quốc tế hoặc mảng chính trị có thể tìm được ở luận văn những thông tin hữu ích về cách báo chí nước bạn đưa tin/ khai thác về các chính khách nước họ như thế nào Điều gì chúng ta có thể học hỏi? Ví dụ cách chọn đề tài, cách khai thác, cách chọn ảnh… Ngoài ra, các phóng viên Việt Nam có thể rút kinh nghiệm từ những sai lầm của các đồng nghiệp nước bạn, sự thiên vị, thiếu khách quan trong đưa tin
Người nghiên cứu cũng hi vọng, nghiên cứu sẽ là gợi ý cho việc triển khai tiếp những nghiên cứu giải đáp rõ hơn những vấn đề mà nghiên cứu này chưa có điều kiện giải đáp rõ ràng
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Về mối quan hệ giữa báo chí truyền thông và chính trị, trên thế giới, nhiều nhà nghiên cứu đã bỏ công sức và thời gian tìm hiểu về sức mạnh của mối quan hệ này
Đó là các vấn đề truyền thông và chính trị nổi bật như:
- Alison Dagnes, ( 2010), Chính trị theo yêu cầu: Sự ảnh hưởng của Tin tức
24 giờ đến chính trị Mỹ ( Politics on Demand: The Effects of 24- Hour News
on American Politics)
- Kathleen E.Kendall, ( 2000), Truyền thông trong bầu cử sơ bộ Tổng thống:
Các ứng viên và giới truyền thông, 1912-2000 ( Communication in the Presidential Primaries: Candidates and the Media, 1912-2000)
- Sperry, Chris, Sox, (2007), Phương tiện truyền thông của chiến dịch tranh
cử tổng thống ( Media Construction of Presidential Campaigns), bài đăng
trên Tạp chí Giáo dục xã hội, số 7, tháng 10-12 năm 2007
Các nghiên cứu trên đã khái quát và chỉ ra được những vấn đề lý luận về chính trị và truyền thông, về vai trò của truyền thông trong các chiến dịch tranh cử tổng thống; mối quan hệ giữa truyền thông và chính trị Đó là những tiền đề quan trọng cho các công trình nghiên cứu trong nước về hình ảnh chính khách cũng như cho luận văn này
Tuy nhiên, các nghiên cứu về cách thức truyền thông hình ảnh chính khách trên báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng vẫn còn hạn chế, hoặc né tránh đề cập rõ ràng
Về ba nhân vật chính khách: Barack Obama, Hillary Clinton, Donald Trump, trên thế giới có rất nhiều cuốn sách, những tài liệu nghiên cứu, những bài báo viết
về Tuy nhiên, đó thường là những cuốn tiểu sử do chính nhân vật chắp bút – thiếu
đi sự khách quan Những cuốn sách của các nhà nghiên cứu thì thường đi theo hướng xây dựng một chân dung, một hình ảnh xuyên suốt: một đánh giá tổng thể trong một thời gian dài Những dữ liệu bài báo, những sự kiện mới xảy ra thì chưa
Trang 112.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Báo chí và các mối quan hệ với chính trị, chính khách ở nước chưa có nhiều công trình nghiên cứu Và đặc biệt, theo khảo sát của tác giả, hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào liên quan đến vấn đề hình ảnh truyền thông chính khách trên báo mạng điện tử Tuy vậy, những tiền đề của công trình này đã được thể hiện trong các nghiên cứu chung về chính khách, về báo mạng điện tử
Về nghiên cứu xây dựng hình ảnh chính khách, có các công trình nghiên cứu:
- Phạm Văn Hệ, ( 2016), Xây dựng thương hiệu cá nhân của một số chính trị
gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, luận văn thạc sỹ
ngành quan hệ công chúng
Về nghiên cứu cách thức truyền thông trên báo mạng điện tử, rất nhiều nhà báo, nhà nghiên cứu, học viên, sinh viên báo chí đã tích cực tìm hiểu cũng như giới thiệu các công trình mang tính chất lý luận và thực tiễn về loại hình truyền thông đa phương tiện này Tuy nhiên, vì báo mạng điện tử là vấn đề còn mới mẻ, đòi hỏi một
sự đào sâu công phu, nên hiện nay không có nhiều cuốn sách viết về loại hình truyền thông mới này Các nghiên cứu mới dừng lại ở các luận văn, khóa luận hay các bài báo cáo ngắn Tiêu biểu như:
- Phạm Thị Thành, (2004), Ảnh hưởng của Internet đói với công chúng Hà
Nội, Luận văn thạc sỹ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trần Hồng Vân,(2004), Thực trạng và giải pháp xử lý thông tin trong tòa
soạn báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay (Khảo sát Vietnamnet và VnExpress, Tuổi trẻ Online, Lao động điện tử), Luận văn thạc sỹ, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền
- Trần Quang Huy, (2006), Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử (Khảo
sát Vietnamnet và VnExpress từ tháng 5/2005-5/2006), Luận văn thạc sỹ Báo chí,
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Hoàng Thu Oanh, (2008), Độ tin cậy của thông tin trên báo mạng điện tử
Việt Nam (Khảo sát Vietnamnet, VnExpress và Dân trí), Khóa luận tốt nghiệp, Học
Trang 12viện Báo chí và Tuyên truyền
Vì lẽ đó, đề tài của luận văn này thực sự mới mẻ không những ở Việt Nam
mà còn cả trên thế giới Điều này thực sự là một thách thức lớn vì không có nhiều tài liệu tham khảo đối chiếu, nhưng đồng thời cũng đầy thú vị, hấp dẫn
3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích thực trạng phản ánh hình ảnh chính khách Mỹ: Tổng thống Mỹ Obama, Hillary Clinton, Donald Trump trên báo điện tử Luận văn phân tích cách thức thể hiện tác phẩm báo chí của các nhà báo, toà soạn Mỹ; từ
đó rút ra các ưu, nhược điểm, bài học kinh nghiệm và đề xuất 1 số điểm có thể học tập cho Việt Nam
Để giải quyết được mục đích trên của luận văn, cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ các khái niệm liên quan, xây dựng khung lý thuyết
- Khảo sát, phân tích hình ảnh chính khách Mỹ trên 3 tờ báo khảo sát: The New York Times, Bloomberg, CNN, cụ thể là qua nội dung, hình thức thể hiện
- Từ đó đề xuất một số gợi ý cho các tòa soạn; các nhà báo/ phóng viên Việt Nam khi đưa tin về vấn đề này
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hình ảnh truyền thông của các chính khách trên báo mạng điện tử Mỹ
Đối tượng khảo sát là 3 chính khách Mỹ: Tổng thống Mỹ Barack Obama, ứng
cử viên tổng thống Mỹ Hillary Clinton, ứng cử viên tổng thống Mỹ Donald Trump
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát các bài báo được đăng tải trên ba tờ báo mạng hàng đầu
của Mỹ: The New York Times , Bloomberg và CNN trong thời gian từ ngày 1/10/2015 đến ngày 1/10/2016 - thời điểm diễn ra cuộc vận động tranh cử nóng nhất
Trang 13trong lịch sử Mỹ Thông tin về cuộc vận động tranh cử, hình ảnh của các chính khách: Tổng thống Mỹ Barack Obama, ứng cử viên tổng thống Mỹ Hillary Clinton, ứng cử viên tổng thống Mỹ Donald Trump được đăng tải trên báo chí một cách rộng khắp Các tờ báo được chọn là những tờ báo tiêu biểu cho các cách thức thể hiện thông điệp về hình ảnh các chính khách Mỹ tới những đối tượng độc giả khác nhau
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn sử dụng các lý thuyết về báo chí truyền thông và lý thuyết về truyền thông như: các loại hình báo chí truyền thông, báo mạng điện tử, mô hình truyền thông xây dựng thương hiệu CBBE ( Customer- based Branding Equity), lý thuyết truyền thông về thiết lập chương trình nghị sự, lý thuyết truyền thông thiên vị, lý thuyết đóng khung
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu: xem xét tài liệu, tổng hợp, phân tích, so sánh về nội dung và hình thức các bài báo về Barack Obama, Hillary Clinton, Donald Trump trên 3 tờ báo điện tử Mỹ: The New York Times, Bloomberg, CNN trong thời gian từ tháng 10/2015 đến tháng 10/2016,
- Phương pháp nghiên cứu tài liê ̣u: Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản bổ sung hệ thống lý thuyết về nghiên cứu hình ảnh Chính khách trên báo chí Đây chính là những lý thuyết cơ sở cho việc đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và tìm kiếm những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh: dựa trên việc khảo sát 3 tờ báo điện tử: The New York Times, Bloomberg, CNN trong thời gian 1 năm, thống kê các bài báo liên quan đến Tổng thống Mỹ Barack Obama, ứng cử viên tổng thống Mỹ Hillary Clinton, ứng cử viên tổng thống Mỹ Donald Trump theo danh sách các từ khóa Sau đó, các bài báo đã chọn sẽ được xử lý qua việc mã hóa trên phần mềm thống kê xã hội học SPSS để phân tích định lượng cùng với các phương pháp phân tích định tính để đưa ra kết luận khách quan
Về cách lấy mẫu: Mẫu được chọn theo danh sách các từ khóa là tên các chính
Trang 14khách Mỹ gồm: Barack Obama, Hillary Cinton, Donald Trump Tại khoảng thời gian khảo sát từ ngày 1/10/2015 đến ngày 31/10/2016, với điều kiện từ khóa hiển thị ở mọi nơi trong văn bản, tìm kiếm nâng cao từ Google Advanced Search cho thấy gần 486.000.000 kết quả trên 3 tên miền nytimes.com , Bloomberg,com, cnn.com Tuy nhiên, nhiều trong số các kết quả này không phù hợp với nội dung tìm kiếm của nghiên cứu Lý do là:
+ Các từ khóa nằm trong bài không viết chính về nhân vật
+ Các từ khóa nằm trong tin liên quan dẫn tới hiển thị kết quả tìm kiếm ở những bài có nội dung hoàn toàn khác
+ Các từ khóa nằm trong phản hồi của độc giả
Với số lượng tin, bài khổng lồ như vậy, tác giả đã dùng lệnh lựa chọn ngẫu nhiên (randomize) của Excel để lựa chọn ra 10.000 tin, bài Sau đó loại bỏ các tin, bài không phù hợp thu được kết quả 667 tin, bài với nội dung về Barack Obama, Hillary Clinton, Donal Trump Một lần nữa sử dụng lệnh ngẫu nhiên của Excel chọn ra 500 bài báo điển hình để phân tích
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Chính khách và báo chí có mối quan hệ mật thiết với nhau Chính khách cần báo chí để xây dựng hình ảnh và tác động đến công chúng, nhất là ở những đất nước chính khách phụ thuộc kết quả bỏ phiếu của người dân Ngược lại báo chí cũng cần đến chính khách như một đối tượng thông tin quan trọng Vì vậy, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho các cơ quan báo chí cũng như các đồng nghiệp trên cơ sở khoa học và tác dụng thực tiễn của việc truyền thông hình ảnh chính khách trên báo chí
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần bổ sung và phát triển hệ thống lý thuyết về nghiên cứu lịch sử báo chí thế giới, lịch sử báo chí Mỹ Luận văn còn cung cấp thông tin cho những nghiên cứu quan tâm đến chính trường Mỹ
- Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu xuất phát từ lý luận và thực tiễn của luận văn sẽ có tác động đối với công tác làm báo về chính trị, nội chính
Trang 15Những chính khách Việt Nam có thể từ đó rút được những bài học hữu ích trong việc xây dựng hình ảnh trên báo chí
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về truyền thông hình ảnh chính khách trên báo chí Chương 2: Thực trạng hình ảnh chính khách Mỹ trên báo điện tử
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và đề xuất cho Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG HÌNH ẢNH
CHÍNH KHÁCH TRÊN BÁO CHÍ 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Hình ảnh & truyền thông hình ảnh
Theo từ điển Tiếng Việt, viện Ngôn ngữ học 2000 giải thích hình ảnh là “ hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học như máy ảnh hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong cách diễn đạt” Trong khuôn khổ luận văn, hình ảnh có thể hiểu là hình để lại
ấn tượng và tái hiện trong tâm trí người khác, đối tượng ở đây là chủ thể cá nhân
Philip Kotler cũng đã định nghĩa: “ Hình ảnh là một tập hợp những niềm tin,
ý tưởng và ấn tượng của một người về một sự vật” ( Philip Kotler, Quản trị Marketing, NXB Thống kê, 2006, trang 676) Chính niềm tin của một người về một
sự vật sẽ quyết định những suy nghĩ, hành động hay thái độ của họ về sự vật ấy
Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, tương tác thông tin với nhau giữa hai hoặc nhiều người với nhau tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức
Vậy, truyền thông hình ảnh có thể hiểu là quá trình thông tin để tạo ấn
tượng về chủ thể trong suy nghĩ, tâm trí người khác, tạo dựng niềm tin về chủ thể
đó
1.1.2 Hình ảnh chính khách
Trong nhiều tài liệu Tiếng Việt, các từ Hán Việt “ chính khách” và “ chính trị gia” ( hay “ nhà chính trị”) thường được dùng với ý nghĩa tương đương, dùng để chỉ những người hoạt động chính trị trong chế độ nghị viện
Trong Trung văn, từ “ chính khách” tương ứng với từ “ politician” trong Tiếng Anh, dùng để chỉ những người hoạt động chính trị nói chung
Trong thực tiễn, chính trị gia, chính khách tức là những người làm chính trị
là cách gọi dành cho những người vừa có tầm tư duy, vừa có tâm, đức mà gánh vác
Trang 17việc quản lý nhà nước, tham gia các hoạt động điều hành đất nước Tóm lại có thể
hiểu, chính khách, chính trị gia hay nhà chính trị, là một người tham gia trong việc
gây ảnh hưởng tới chính sách công và ra quyết định Trong đó bao gồm những người giữa những vị trí ra quyết định trong chính phủ và những người tìm kiếm những vị trí đó, dù theo phương thức bầu cử, bổ nhiệm, đảo chính, quyền thừa kế hay các phương thức khác
Đối tượng mà chính khách tiếp cận là công chúng, chính khách khác với nhân vật giải trí hay các hình ảnh cá nhân khác, bởi vậy cần xét hình ảnh chính khách và truyền thông hình ảnh chính khách trong mối quan hệ này
Với định nghĩa về hình ảnh của Philip Kotler như trên đã nói, chúng ta có thể thấy chính khách muốn công chúng có thiện cảm và ấn tượng về mình thì cần phải tạo ra niềm tin về bản thân, hay nói cách khác, đó là việc xây dựng hình ảnh chính khách trong tâm trí công chúng
Hình ảnh chính khách ( politican image) có thể được định nghĩa là niềm tin, ý tưởng, ấn tượng của công chúng, của Nhà nước, các tổ chức và toàn bộ các thành viên xã hội về người chính khách Hình ảnh của chính khách không
phải những gì họ tự nói về mình, hoặc muốn bên ngoài nhìn nhận mình thế nào, mà
nó là cách những đối tượng bên ngoài nhìn nhận về chính khách
Hình ảnh chính khách có thể là những yếu tố về ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, ứng xử hay nói cách khác là diện mạo người làm chính trị được hình thành thông qua các yếu tố thông tin cho phép người ngoài ( công chúng) phân biệt người chính khách này với người chính khách khác và mỗi đối tượng công chúng khác nhau lại có một cách nhìn nhận khác nhau về hình ảnh chính khách
Chính khách phải là nhưng người tiêu biểu cho lợi ích của quốc gia, dân tộc, chính đảng, đoàn thể nhât định Họ phải là những nhà chiến lược, chiến thuật, đề ra những chính sách đúng đắn nhằm phát triển xã hội, đem lại lợi ích cho đông đảo nhân dân Không chỉ vậy, họ cũng là người có tài tổ chức, nghệ thuật lãnh đạo chính trị, có khả năng điều khiển và chi phối hoạt động chính trị
Trang 181.1.3 Khái niệm truyền thông hình ảnh chính khách
Dù chính khách có chủ định hay không có chủ định xây dựng hình ảnh của mình thì ít hay nhiều, công chúng cũng có cái nhìn nhất định về người chính khách, bởi vì họ có sức ảnh hưởng nhất định Tuy nhiên, là người làm chính trị, để công chúng có niềm tin và thiện cảm tốt đẹp thì hẳn nhiên người chính khách cần được xây dựng với 1 hình ảnh đẹp
Hình ảnh truyền thông đại chúng là những ấn tượng được đưa đến công chúng, do vậy truyền thông bằng hình ảnh cần phải cân nhắc, chọn lọc trước khi đưa ra đại chúng thông qua các tác phẩm báo chí
Khác với hình ảnh sự kiện, hiện tượng mang nhiều yếu tố khách quan; với nhân vật, đó phải là những hình ảnh chọn lọc để khắc hoạ, gây ấn tượng đối với công chúng rộng rãi
Truyền thông hình ảnh chính khách khác với truyền thông hình ảnh cá nhân thông thường, vì có tính chính trị đi kèm, chính khách đại diện cho chính sách, những ý muốn thiết lập Nhà nước và xã hội theo trật tự số đông; do vậy cần được niềm tin, sự ủng hộ và tương tác của đông đảo công chúng
Bởi vậy, có thể hiểu khái niệm truyền thông hình ảnh chính khách như sau:
Truyền thông hình ảnh chính khách là quá trình thông tin để tạo ấn tượng
về chính khách trên các phương tiện truyền thông đại chúng
Nội hàm của khái niệm này chính là sự nhìn nhận của 3 đối tượng: truyền thông, công chúng và Nhà nước, Chính phủ về những thông tin mà chính khách thể hiện ra dù họ có hay không có chủ định
Trong xu thế bùng nổ của công nghệ, thông tin về hầu hết các chính khách, cả chính thống và tin bên lề, đều có thể tìm thấy trên internet chỉ sau vài click chuột Internet đã mở ra nhiều cơ hội đưa hình ảnh chính khách đến công chúng, nhưng kèm theo đó cũng có không ít những sự cố khó kiểm soát, thậm chí khủng hoảng uy tín nghiêm trọng Chính vì vậy, chính khách nước ngoài đã đầu tư cho việc xây dựng hình ảnh trên Internet nói chung và báo mạng điện tử nói riêng
Trang 19Thực tế, trên thế giới, loại hình báo chí này cũng có nhiều tên gọi khác nhau như "Online Newspaper" - báo chí trực tuyến, E-journal (Electronic journal) - báo chí điện tử, "e-zine" (Electronic magazine) - tạp chí điện tử Báo điện tử là khái niệm thông dụng nhất ở nước ta Ngay trong các văn bản pháp quy của Nhà nước cũng sử dụng thuật ngữ “báo điện tử”
Điều 3, Luật Báo chí (Luật báo chí năm 1989 được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa X từ ngày 4/5 đến 12/6/1999) quy định: Báo điện tử là loại
hình báo chí được thực hiện trên mạng thông tin máy tính Trong cuốn sách “Báo
mạng điện tử: Những vấn đề cơ bản”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Trường Giang đưa ra
khái niệm: “Báo mạng điện tử” Theo đó, báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet [8; tr49-54]
Ông Thang Đức Thắng, Tổng biên tập tờ VnExpress – tờ báo điện tử lớn
nhất Việt Nam hiện nay cho rằng: “Báo điện tử là tờ báo thực hiện chức năng báo
chí bằng phương tiện Internet”
Tuy nhiên, theo một cách hiểu rộng và phổ biến nhất, trong phạm vi Luận văn này, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ báo mạng điện tử Bởi, báo mạng điện tử là tên gọi cho phép hiểu rõ ràng đặc trưng của loại hình báo chí này Báo mạng điện tử
là sản phẩm của sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, hoạt động nhờ các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, số hóa, các máy tính nối mạng và các phần mềm ứng dụng Thêm vào đó, tên gọi này cũng cho thấy bản chất của loại hình báo chí này đó
là tính kết nối rộng, tính đa phương tiện, tính tương tác cao, tính tức thì, phi định
Trang 20kỳ, khả năng truyền tải thông tin không hạn chế, cách lưu thông tin dưới dạng siêu
văn bản, các trang báo được tổ chức thành từng lớp
Cũng từ các cách định nghĩa trên, trong luận văn này, báo mạng điện tử
được hiểu là loại hình báo chí chuyển tải thông tin trên mạng Internet thông qua các phương tiện kỹ thuật có kết nối
Với báo mạng điện tử, một sản phẩm báo chí đa phương tiện phải bao gồm ít nhất từ hai trong những thành phần sau trở lên Đó là: văn bản (text), hình ảnh tĩnh
và đồ họa (still image & graphic), âm thanh (audio), hình ảnh động (video & animation) và gần đây nhất là các chương trình tương tác (interactive program)
1.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông hình ảnh chính khách
Khi đánh giá hiệu quả truyền thông, các nhà chiến lược truyền thông chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn 1: đánh giá dựa trên các thông số đo lường khán giả có sẵn, giai đoạn 2 nghiên cứu sự tác động của chiến lược truyền thông đến sự nhận biết, thay đổi nhận thức và tác động về hành vi của khán giả mục tiêu
Đối với truyền thông trên báo chí, áp dụng vào đối tượng hình ảnh chính khách, hiệu quả truyền thông cũng được đánh giá dựa vào 2 giai đoạn: giai đoạn 1: chính khách-> tác phẩm báo chí ( công cụ truyền thông) và giai đoạn 2: tác phẩm báo chí-
> công chúng ( đối tượng truyền thông)
1.2.1 Cách thức truyền thông hình ảnh chính khách trên báo điện tử
Để đánh giá tác phẩm báo chí đạt hiệu quả truyền thông về hình ảnh chính khách, chúng ta đo lường dựa trên những yếu tố cấu thành nên một tác phẩm báo chí: đó là nội dung, hình thức và cách thức
Về nội dung
Một tác phẩm báo chí đúng và đủ là khi nó đảm bảo đúng thông điệp tiếp nhận từ nguồn phát, đối với hoạt động truyền thông hình ảnh chính khách thì thông điệp này hết sức quan trọng; sự sai lệch hoặc không rõ ràng sẽ khiến nội dung chuyển tải thất bại, thậm chí gây ngược tác dụng Bởi các phát ngôn và thông điệp
Trang 21của chính khách đại diện cho các chính sách, khi không được ủng hộ từ phía công
chúng, hệ quả tác dụng ngược sẽ rất tai hại
Vì lẽ đó, cách chọn lọc thông điệp, rút title rất quan trọng khi truyền thông hình ảnh chính khách; làm sao để thông điệp rõ ràng, ngắn gọn, đúng và đủ quả không dễ dàng, đòi hỏi phóng viên, nhà báo phải thấu hiểu và có được sự nhạy cảm riêng
Lựa chọn thể loại thể hiện tác phẩm báo chí cũng là 1 tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông hình ảnh chính khách Với mỗi tác phẩm và sự kiện, lựa chọn thể loại bình luận hay tin tức, hay phỏng vấn, có ảnh hay video hay không cũng đem lại hiệu quả thông tin khác nhau
Về hình thức
Báo mạng điện tử có sự tổng hợp của công nghệ đa phương tiện, nghĩa là không chỉ văn bản, hình ảnh mà cả âm thanh, video và các chương trình tương tác khác Không bị giới hạn bởi khuôn khổ, số trang, không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lý nên báo mạng điện tử có khả năng truyền tải thông tin đi khắp toàn cầu với số lượng không giới hạn Thông tin trên Internet nói chung và báo mạng điện tử nói riêng có tính thời sự rất cao Thông tin trên báo mạng được các phóng viên thu thập tại hiện trường đến khi thành bài lên trang với tốc độ vô cùng nhanh, cập nhật thường xuyên và liên tục, không như các loại hình báo chí khác phải chờ đầy đủ các tin, bài mới lên khuôn in hay lên chương trình phát sóng
Báo mạng điện tử có nhiều ưu thế vượt trội so với các phương tiện truyền thông đại chúng khác ở khả năng tương tác, tương tác qua lại giữa báo chí với công chúng và giữa công chúng với nhau qua nhiều kênh thu nhận Báo mạng điện tử chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc thiết lập các diễn đàn, các cuộc giao lưu, bàn tròn, phỏng vấn trực tuyến… nhằm tăng mối quan hệ giữa toà soạn với độc giả, độc giả với nhau, tạo cơ hội cho độc giả có thể giao lưu, trao đổi với nhân vật mình quan tâm, yêu thích
Cách trình bày tác phẩm báo chí phù hợp đem đến sự hấp dẫn cho độc giả, với lợi thế tích hợp đa phương tiện ở loại hình báo chí báo mạng điện tử, phóng
Trang 22viên, nhà báo có thể lựa chọn cách thức sao cho phù hợp nhất Đặc biệt, với các bài viết đề tài khô khan về chính trị, cách trình bày xen vào hình ảnh, video, infographic đem lại cái nhìn cụ thể cho những vấn đề vĩ mô
Tần suất xuất hiện các bài viết về hình ảnh chính khách như thế nào? Tương tác bình luận ra sao cũng là những tiêu chí đánh giá đối với việc truyền thông hình ảnh chính khách
Nghiên cứu, học hỏi cách thức trình bày tác phẩm báo chí của phương Tây là cách để các nhà báo Việt Nam rút ra được những cách làm mới, sáng tạo, đảm bảo tính hấp dẫn cho các tác phẩm của mình
Về cách thức
Để có được 1 tác phẩm báo chí truyền thông hiệu quả hình ảnh chính khách, các cơ quan báo chí cần có quy trình sản xuất tin, bài phù hợp, bài bản từ khâu lấy tin, xử lý thông tin đến việc trình bày văn bản, lên layout sản phẩm truyền thông Công việc của phóng viên, biên tập viên là hình thành và xử lý tin, bài, ảnh,
âm thanh, hình ảnh Đối với những tác phẩm báo chí đa phương tiện cần sự phối hợp của nhiều phóng viên (ảnh + viết + quay và dựng video, làm audio, infographic ) Người sửa lỗi có trách nhiệm đọc lại tin bài để phát hiện lỗi chính tả Trước khi “sản phẩm” được chuyển sang bộ phận kỹ thuật để đẩy lên mạng, tổng biên tập, thư ký toà soạn chịu trách nhiệm kiểm tra lại nội dung và duyệt tổng thể
1.2.2 Mức độ hài lòng của công chúng
Đối tượng truyền thông hình ảnh chính khách, chính là công chúng, để đo lường
và đánh giá hiệu quả, chúng ta xét trên các tiêu chí:
Mức độ tin cậy
Để hình ảnh chính khách đạt được ấn tượng, niềm tin của công chúng thì cần đo lường và đánh giá được mức độ tin cậy thông tin mà báo chí đưa đến công chúng đến đâu? Công chúng có tin tưởng tờ báo đó không? Điều này có thể đánh giá dựa trên mức độ truy cập của tờ báo, các bình luận dưới mỗi bài viết cũng cho ta thấy được ý kiến và mức độ tin tưởng của công chúng đến đâu
Trang 23Bên cạnh đó, sự ủng hộ đối với hình ảnh chính khách cũng là cách thức đánh giá hiệu quả truyền thông, nếu như ở Phương Tây, mức độ này được thể hiện qua những lá phiếu thì ở Việt Nam, sự ủng hộ thể hiện qua cảm xúc, thiện cảm của người dân đối với nhà Lãnh đạo
Mức độ tương tác
Với những tác phẩm báo chí có lượt truy cấp tốt, thông tin phản hồi, bình luận từ phía độc giả mang tính tích cực, đúng với thông điệp truyền thông đưa ra sẽ chứng
tỏ sự hài lòng và hiệu quả truyền thông về hình ảnh chính khách nói chung
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến hình ảnh chính khách trên báo điện tử
Có thể nói rằng, sự xuất hiện hình ảnh chính khách trên các phương tiện thông đại chúng nói chung và báo điện tử nói riêng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, trước hết là tính chất riêng biệt của loại hình báo mạng điện tử, bên cạnh
đó còn do chính bản thân hình ảnh chính khách và ngòi bút của nhà báo hay quan điểm của toà soạn
1.3.1 Tính chất của báo điện tử
Báo mạng điện tử không những là kênh cung cấp thông tin cho chính khách
mà còn là kênh đưa hình ảnh chính khách đến gần hơn với công chúng Với ưu thế
là phương tiện truyền thông chính thống, phổ biến được đông đảo công chúng chú ý nhất, báo mạng điện tử được xem là một trong những kênh truyền thông hữu hiệu cho chính khách trong quá trình hoạt động chính trí…Hơn thế, khả năng đa phương tiện của báo mạng điện tử giúp cho hình ảnh chính khách được đa dạng hóa hình thức như các bài phần tích sâu, ảnh, video, flash, audio, biểu đồ…Báo mạng điện tử giúp cho các hoạt động của chính khách được cập nhật nhanh chóng hơn, đưa hình
ảnh của chính khách đến với công chúng một cách sống động và chân thực hơn
Thêm vào đó, các vấn đề chính sách, chính trị luôn là mảng đề tài hết sức phong phú, mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận cho báo chí nói chung và báo mạng điện tử nói riêng Người ta có thể thấy, ở bất cứ những hội nghị, hội thảo, tọa đàm nào có nội dung về hoạt động, chính sách của Nhà nước đều có sự tham gia tích cực, đông đảo của báo chí Chuyển tải thông tin hình ảnh chính khách là báo
Trang 24mạng điện tử đã mang thông tin về chính sách, Nhà nước đến với công chúng trong nước và thế giới
Tuy nhiên, thông tin từ báo mạng điện tử luôn có tính hai mặt, nếu như đó là
sự phản ánh trung thực, tích cực thì nó sẽ có tác dụng hữu hiệu, thúc đẩy hình ảnh đẹp của chính khách đối vơi công chúng Ngược lại, nếu những thông tin thiếu căn
cứ, phản ánh không khách quan thì sẽ làm tổn hại đến hình ảnh, uy tín của chính khách Nhược điểm này thể hiện ở báo mạng điện tử khá rõ nét xuất phát từ chính
ưu điểm của báo mạng điện tử là tính tức thời, nhanh chóng Nhiều thông tin chưa kiểm duyệt chặt chẽ đã được tung lên mạng, chỉ nhằm mục đích cạnh tranh tính thời
sự với các tờ báo mạng khác Vì vậy, chính khách rất cần có sự hỗ trợ thông tin từ báo mạng điện tử với những bài viết khách quan, phản ánh chính xác sự việc Cũng như vậy, chính khách cần chủ động hợp tác cung cấp thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho báo mạng điện tử tác nghiệp
Việc cập nhật thường xuyên thông tin của chính khách đem lại hình ảnh liên tục đến công chúng độc giả, là phương pháp ghi nhớ và tạo ấn tượng hiệu quả trong quá trình truyền thông hình ảnh chính khách Với lợi thế thông tin nhanh, kịp thời của báo mạng điện tử so với các thể loại báo chí khác, các chính khách Mỹ đã tận dụng hiệu quả công cụ này trong quá trình tranh cử và trong quá trình đương nhiệm Nếu tần suất
và thông tin nhanh chóng, hiệu quả truyền thông hình ảnh người chính khách đó sẽ rất tốt và ngược lại, không đạt hiệu quả khi thông tin bị muộn, hay ít hơn so với các đối thủ trên chính trường
Trong thời đại công nghệ số hiện nay, nhu cầu thông tin của con người ngày càng cao, báo chí càng phải chạy đua nhanh hơn với thời gian và số lượng thông tin kịp phục vụ công chúng Vì vậy, xu hướng hiện nay của các trang báo điện tử là áp dụng tích hợp những tính năng đa phương tiện để thông tin vừa nhanh gọn, vừa sinh động, đa chiều Độc giả sẽ được mắt thấy, tai nghe, có được mọi thông tin cần thiết, nhanh nhất và đầy đủ nhất
Báo chí điện tử phương Tây làm rất tốt công việc này Họ sử dụng nhiều video
và hình ảnh hơn vì lượng phóng viên, cộng tác viên, công chúng của họ rộng khắp nên
Trang 25khách được thể hiện phong phú thông qua ảnh, video, các bài diễn thuyết; không chỉ bó buộc với hình ảnh nghiêm túc trong các buổi tranh cử, các hội nghị mà họ còn rất gần gũi trong những hình ảnh đời thường
Như vậy, báo mạng điện tử đóng một vai trò quan trọng không thể phủ nhận đối với sự truyền thông hình ảnh chính khách nói chung và xây dựng hình ảnh truyền thông của chính khách nói riêng Đó là lý do khiến mối quan hệ giữa hình ảnh truyền thông của và các báo mạng điện tử ngày càng bền chặt
1.3.2 Cá nhân chính khách
Trình độ, sự chuyên nghiệp của chính khách
Ở các nước phương Tây, chính khách đều có một thư ký báo chí đặc trách vấn
đề truyền thông cho riêng họ, thậm chí với những chính khách có vị trí cao, còn cần
cả trợ lý riêng về mặt hình ảnh cá nhân mỗi khi xuất hiện trước công chúng Người trợ lý có trách nhiệm giúp đỡ chính khách về trang phục, phong thái, trợ giúp họ những thông tin cơ bản về sự kiện và tư vấn cho họ cả trong vấn đề phát ngôn
Do đó, sự chuyên nghiệp và trình độ của chính khách là 1 trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hình ảnh trên báo chí
Quan hệ báo chí của chính khách
Song song với việc hình ảnh chính khách xuất hiện trước truyền thông như thế nào; mối quan hệ báo chí của chính khách cũng là 1 trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả truyền thông hình ảnh chính khách
Cả hai bên ( chính khách và nhà báo) nên có sự làm việc gần gũi, trao đổi thẳng thắn, cởi mở để thông tin cung cấp cho bạn đọc vừa nhanh, vừa chính xác, vừa đạt hiệu quả Điều đó mang lại lợi ích cho hình ảnh chính khách và cơ quan truyền thông Chính khách cần chủ động cung cấp thông tin cho báo chí, tránh được những thông tin ngoài luồng không chuẩn xác Các hoạt động của chính khách nên thường xuyên được nhắc đến trên báo mạng điện tử thông qua bộ phận PR và nhà báo Trước mỗi vấn đề, chính khách cần có những phát ngôn chính thức để thông tin được rõ ràng và kịp thời
Trang 261.3.3 Quan điểm của toà soạn
Trong chế độ chính trị Mỹ, vai trò của toà soạn/ nhà báo được cho là để thông báo về các cuộc tranh luận công khai giúp người dân có sự lựa chọn tốt nhất trong các cuộc bầu cử Các chính trị gia có vai trò đại diện cho những người bầu chọn họ
và đảm bảo rằng các mối quan tâm của cử tri sẽ được nghe, được xem, và khi thích hợp, sẽ được thực hiện Trong một hệ thống chính trị như vậy, các nhà báo nên hành động như một người giám sát thay mặt cho người dân để đảm bảo rằng các chính trị gia làm công việc của họ Các nhà báo cần khám phá các vấn đề đáng quan tâm nhất và có giá trị nhất với độc giả của họ Qua đó, họ cần có sự đa dạng trong tiếng nói và quan điểm chính trị để cung cấp thông tin đầy đủ nhất có thể Nếu họ đạt được điều đó, họ có nhiều khả năng để nâng cao nền báo chí, tăng cường sự hiểu biết, khuyến khích đối thoại và tranh luận
Do vậy, quan điểm chính trị của toà soạn hay nhà báo ảnh hưởng lớn đến việc khắc hoạ, phản ánh hình ảnh chính khách trên tác phẩm báo chí Khi phân tích
rõ các bài báo trên các tờ báo Mỹ qua quá trình vận động tranh cử, chúng ta sẽ thấy rất rõ điều này
1.4 Một số lý thuyết về truyền thông hình ảnh chính khách trên báo chí
1.4.1 Lý thuyết truyền thông về thiết lập chương trình nghị sự
Theo McCombs & Shaw’s study (1972), thuyết Agenda setting cho rằng các
cơ quan báo chí truyền thông (dựa vào giá trị quan và mục đích tôn chỉ, đồng thời căn cứ vào môi trường thực tế để) “lựa chọn” vấn đề hoặc nội dung mà họ coi là quan trọng để cung cấp cho công chúng, chứ không phải cung cấp những thông tin
mà công chúng cần
McCombs (1994) gần đây cho rằng hiệu ứng của thuyết này rất mạnh khi khán giả không biết hay không có kinh nghiệm trực tiếp về vấn đề, khi họ phụ thuộc nhiều hơn vào các phương tiện truyền thông để hiểu tình hình
Lý thuyết này mô tả khả năng ảnh hưởng của giới truyền thông đối với công
chúng thông qua các phương tiện truyền thông Điểm nổi bật của lý thuyết này là
Trang 27chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan báo chí truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của công chúng tới những sự kiện mang tính vĩ mô của thế giới xung quanh và tầm quan trọng của chúng bằng cách xây dựng các sự kiện xuất hiện trên truyền thong với những nét nổi bật khác nhau, từ đó có thể tác động và định hướng dư luận
Các cơ quan báo chí truyền thông dựa vào giá trị quan và mục đích tôn chỉ, đồng thời căn cứ vào môi trường thực tế để “lựa chọn” vấn đề hoặc nội dung mà họ cho rằng thích hợp để đưa tin, phản ánh
Từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỉ 20 Napoleon đã thành lập một đội ngũ báo chí
để thực hiện các ý tưởng kiểm soát suy nghĩ người dân vào thời điểm đó
Machiavelli là một người thực hiện một số đóng góp ban đầu trong lĩnh vực này Tiếp theo đó, thông qua các cuộc tranh cử Tổng thống, các nhà tư vấn truyền thông trực tiếp tham gia vào cuộc vận động hành lang đã hoạch định các chiến lược truyền thông trên các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm thu hút sự ủng hộ của công chúng, thu hút phiếu bầu cho các ứng viên tranh cử Vì lẽ đó, các cơ quan báo chí truyền thông đều “ thiết lập chương trình” trong suốt quá trình đưa tin, phản ánh về hình ảnh chính khách
1.4.2 Lý thuyết về truyền thông thiên vị
Trên thế giới, từ lâu vấn đề “truyền thông thiên vị” đã được các học giả đề cập đến và nghiên cứu Hình thức nghiên cứu bao gồm từ những bài báo đăng trên Forbes hay Business Insider … đến các nghiên cứu công phu của Trung tâm báo chí Pew hay các trung tâm nghiên cứu tại các trường đại học
Điểm qua một số bài viết học thuật về vấn đề này, chúng ta có: Framing bias: Media in Distribution of Power (Tạm dịch: Định nghĩa sự thiên vị: Truyền thông trong sự phân phối quyền lực) – RM Entmant, 2007; A measure of Media Bias ( Thước đo truyền thông thiên vị), T Groseclose, J Milyo, 2005, What liberal media: The truth about bias and the news (Truyền thông theo chủ nghĩa tự do nào: Sự thật
về sự thiên vị và tin tức), E Alterman, 2008… Ngoài ra còn phải kể đến nghiên cứu của Joan Shorenstein về đề tài Báo chí, Chính trị và Chính sách công tại đại học
Trang 28Havard và Dự án Excellence in Journalism; báo cáo hàng năm của Trung tâm nghiên cứu Pew
Tại Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào về “truyền thông thiên vị” của báo chí Việt Nam hay báo chí Hoa Kỳ hay báo chí thế giới nói chung Các đề tài của luận văn thường tập trung vào các tờ báo hoặc các vấn đề trong nước chứ ít khi mở rộng sang báo chí thế giới
Khái niệm “media bias” – “truyền thông thiên vị” đã từ lâu được đặt ra, dùng
để chỉ hiện tượng truyền thông nhấn mạnh vào một quan điểm nào đó theo một cách trái ngược với chuẩn mực của báo chí chuyên nghiệp “Truyền thông thiên vị” ở Mỹ bao gồm liberal bias (thiên vị cho chủ nghĩa tự do), conseravative bias (thiên vị cho chủ nghĩa bảo thủ), mainstream bias (thiên vị cho quan điểm dòng chính)…
Chúng ta có thể thấy rõ khái niệm này trong truyền thông hình ảnh chính khách trên báo chí, mỗi toà soạn có quan điểm chính trị khác nhau có cách đưa tin,
phản ánh hình ảnh chính khách khác nhau
Ví dụ như tờ The Wall Street Journal hiện tại thuộc sở hữu bởi công ty Dow Jones & Company, thuộc News Corporation Chủ tịch và Tổng giám đốc điều hành (CEO) hiện tại của News Corp là Rupert Murdoch, một người từng nhiều lần công khai ủng hộ Đảng Cộng hòa Nếu như Donald Trump bị “đánh” tơi bởi ở các báo khác thì với The Wall Street Journal, ít ra Trump còn được đưa tin khách quan và nhiều lần được bảo vệ Trong bài báo “Cậu bé gọi Trump” (chơi chữ từ câu chuyện câu bé nói dối về việc sói tấn công đàn cừu – chú thích của người làm luận văn), tác giả bài báo lên tiếng phản đối sự thiên vị trong đưa tin của các báo khác “Nếu bạn chịu khó đọc những bài báo bài Trump, bạn sẽ thấy tất cả đều tấn công cùng một chủ đề Như cách nói của Klein “phân biệt chủng tộc phân biệt giới tính, một kẻ mị dân” The Post: “Ông ta đã rất hân hoan bài trừ người gốc Tây Ban Nha, người Hồi giáo, người Do thái, người khuyết tật, người da đen và bất cứ người nào khác mà ông ta dán nhãn là “kẻ khác” Nicholas Kristof của tờ the New York Times gọi Trump là “ một kẻ chế nhạo phụ nữ, xúc pham người Latin, …một kẻ bài ngoại, phân biệt giới tính, thiếu kinh nghiệm, thiếu thông tin, hoàn toàn mù quáng” Còn theo cách đưa tin trên The Wall Street Journal thì Hillary Clinton có vẻ
Trang 29không được lòng tờ báo này The Wall Street Journal còn có những bài báo vạch trần những lời nói dối của Hillary Clinton trong vụ sử dụng email cá nhân
1.4.3 Lý thuyết đóng khung
Erving Goffman được cho là người đầu tiên đưa ra khái niệm “đóng khung”
vào năm 1974, trong cuốn Frame analysis: An essay on the organization of
experience Theo Goffman, “khung” chính là những giản đồ của sự diễn giải
(schemata of interpretation) cho phép con người “xác định, tiếp nhận, định dạng
và dán nhãn cho vô số những sự biến diễn ra trong cuộc sống của họ” Sự đóng khung này được hiểu là quá trình tổ chức các kinh nghiệm, tìm ra ý nghĩa của chúng trong sự tham chiếu tới những nhận thức sẵn có Sức mạnh của việc đóng khung chính là ở chỗ con người buộc phải viện tới các hệ thống quen thuộc, ví dụ như hệ thống biểu tượng, tri thức, huyền thoại v.v để có thể diễn giải về một hiện tượng bất kỳ trong đời sống xã hội
Sau khi Goffman áp dụng lý thuyết đóng khung vào phạm vi tổ chức kinh nghiệm của con người, nhiều nhà nghiên cứu đã phát triển lý thuyết này cho lĩnh vực hẹp hơn là truyền thông đại chúng Trong bài phân tích về di sản của Goffman, Gamson William cho rằng quá trình đóng khung của báo chí là “gần như hoàn toàn ngầm ẩn, và được thừa nhận như lẽ tất nhiên Cả nhà báo lẫn công chúng đều không nhận ra rằng đây thực chất là một quá trình kiến tạo mang tính
xã hội (social construction), mà chỉ đơn giản xem nó là việc phóng viên phản ánh lại sự kiện” Theo Gamson, việc đóng khung chính là quá trình “quyết định xem cái gì được chọn, cái gì bị loại bỏ, và cái gì được nhấn mạnh Nói tóm lại, tin tức cho chúng ta biết về một thế giới đã được đóng gói” Khung được Gamson định nghĩa là “ý tưởng tổ chức cốt lõi”, giúp “giải nghĩa về các sự kiện liên quan, cũng như gợi ý xem đâu mới là vấn đề cần xem xét”
Định nghĩa tường minh nhất về quá trình đóng khung của truyền thông đại chúng có lẽ được đưa ra bởi Robert Entman: “Quá trình đóng khung chủ yếu liên
quan tới việc lựa chọn (selection) và làm nổi bật (salience) Đóng khung có nghĩa
là lựa chọn một số khía cạnh trong cách hiểu về hiện thực, rồi làm cho nó nổi bật lên trên văn bản truyền thông bằng cách nhấn mạnh vào một cách đặt vấn đề, một
Trang 30cách lý giải, một cách đánh giá đạo đức, hoặc/và một cách xử lý nào đó”
Đối với việc phản ánh hình ảnh chính khách trên báo chí, đặc biệt là trong các cuộc tranh cử Tổng thống, lượng tin, bài như thế nào, bao nhiêu chính là quá trình lựa chọn lý thuyết này có thể lý giải các hiện tượng lien quan đến truyền thong về các chính khách: nhận thức của toà soạn, của tác giả bài báo, của công chúng
1.4.4 Mô hình CBBE
Việc xây dựng thương hiệu nói chung, thương hiệu cá nhân nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các mô hình, phương thức khác nhau Trong đó, mô hình CBBE ( Customer- based Branding Equity)- mô hình xây dựng giá trị thương hiệu dựa trên cảm nhận của khách hàng, được Kevin Lane Keller, một trong những học giả nổi tiếng nhất thế giới trong nghiên cứu thương hiệu giới thiệu năm 2001 và
đã nhận được sự ủng hộ, ứng dụng rộng rãi trong hoạt động xây dựng chiến lược thương hiệu Ưu điểm lớn nhất của mô hình này là sự rõ ràng và dễ hiểu, có thể ứng dụng tốt cho mọi thương hiệu dù là nhỏ nhất
Trang 31Mô hình CBBE Các cá nhân, đặc biệt là các cá nhân có tầm ảnh hưởng lớn như các chính khách, cũng nên coi thương hiệu cá nhân của mình như tài sản có giá trị Khi báo chí truyền thông hình ảnh chính khách cũng nên xem họ là 1 thương hiệu, vì vậy có thể áp dụng mô hình CBBE vào mô hình truyền thông hình ảnh cá nhân chính khách Từ mô hình này, có thể đưa ra mô hình lý thuyết truyền thông cho hình ảnh chính khách như sau:
- Bước 1: Nhận diện thương hiệu ( Tôi là ai): phần này thể hiện những đặc tính nổi bật, dễ nhận biết khi nói đến một cá nhân chính khách nào đó, chủ yếu là những yếu
tố đặc điểm mô tả nhận biết bằng các giác quan thông thường Đây là thời điểm tiếp nhận hình ảnh chính khách của nhà báo/ cơ quan báo chí
Trang 32- Bước 2: Gồm những tính chất, đặc điểm cốt lõi để giải nghĩa Tôi như thế nào Các đặc điểm lý tính như tôi đã có rất nhiều kinh nghiệm trên chính trường, tôi đã rất am hiểu về luật pháp, kinh tế, tôi rất đam mê thể thao Các đặc điểm cảm tính như tôi
có phong cách rất gần gũi, thân thiện, mạnh mẽ
- Bước 3: Phản hồi, đánh giá của những người đã từng làm việc, từng tiếp xúc với chính khách: “ Các bạn nghĩ gì về tôi, đánh giá như thế nào về những cống hiến của tôi”
- Bước 4: Đích đến cuối cùng của việc xây dựng thương hiệu là có được sự gắn kết, liên hệ giữa khách hàng và sản phẩm Chính khách là những người có sứ mệnh và tầm nhìn cá nhân lớn, vì vậy, “ khách hàng” của họ là công chúng Để tạo mối quan
hệ tốt với “ Khách hàng” của mình, các chính khách cần biết tận dụng các phương tiện truyền thông và các công cụ khác từ cá nhân chính khách
Dựa trên các bước này, có thể tóm gọn mô hình truyền thông hình ảnh chính khách gồm:
- Truyền thông hình ảnh khác biệt của chính khách này so với chính khách khác
- Sử dụng các công cụ truyền thông tạo mối quan hệ với công chúng
Trang 33H1.1 Quan điểm chính trị của các tờ báo
Trang 34TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1, tác giả tập trung lí giải các khái niệm trong luận văn: hình ảnh, truyền thông hình ảnh, chính khách, hình ảnh chính khách, truyền thông hình ảnh chính khách, báo điện tử; tạo cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu
Truyền thông hình ảnh chính khách là quá trình thông tin để tạo ấn tượng
về chính khách trên các phương tiện truyền thông đại chúng
Để đánh giá tác phẩm báo chí đạt hiệu quả truyền thông về hình ảnh chính khách, chúng ta đo lường dựa trên những yếu tố cấu thành nên một tác phẩm báo chí: đó là nội dung, hình thức và cách thức
Có thể nói rằng, sự xuất hiện hình ảnh chính khách trên các phương tiện thông đại chúng nói chung và báo điện tử nói riêng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, trước hết là tính chất riêng biệt của loại hình báo mạng điện tử, bên cạnh
đó còn do chính bản thân hình ảnh chính khách và ngòi bút của nhà báo hay quan điểm của toà soạn
Các lý thuyết truyền thông hình ảnh chính khách trên báo chí để làm cơ sở cho vấn đề nghiên cứu, đó là lý thuyết truyền thông hình ảnh cá nhân ( thương hiệu); truyền thông thiên vị, lý thuyết đóng khung và thiết lập chương trình nghị sự
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HÌNH ẢNH CHÍNH KHÁCH MỸ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 2.1 Giới thiệu 3 tờ báo trong diện khảo sát
2.1.1 The New York Times
Giới thiệu chung
The New York Times (http://www.nytimes.com/ ) hay còn gọi là Thời báo New York, viết tắt là NYT, là một nhật báo được xuất bản tại Thành phố New York và được phân phối ở Mỹ và nhiều nơi trên thế giới Báo được xuất bản liên tục từ 18/9/1851 bởi Công ty New York Times The New York Times đã thắng
117 giải Pulitzer, nhiều hơn bất cứ tờ báo/ hãng thông tấn nào
Giao diện điện tử của The New York Times
Bản in của tờ báo có lượng phát hành lớn thứ 2, chỉ sau The Wall Street Journal, và có lượng phát hành lớn nhất trong số những tờ báo thành thị ở nước Mỹ The New York Times xếp thứ 39 trên thế giới về lượng phát hành Cũng chịu ảnh hưởng bởi xu thế đi xuống của báo in, lượng phát hành các ngày trong tuần của The New York Times cũng giảm xuống hơn 1 triệu bản từ 1990
Được mệnh danh là “Quý bà xám”, The New York Times đã từ lâu được coi
là “tờ báo của những kỉ lục” The New York Times được sở hữu bởi công ty The New York Times Arthur Ochs Sulzberger, Jr., Nhà xuất bản và Chủ tịch hội đồng quản trị, là thành viên của gia tộc Ochs- Sulzberger đã quản lý tờ báo từ 1896
Trang 36Phương châm của tờ báo “All the News That’s Fit to Print” ( tạm dịch: Tất
cả những tin gì có thể đăng được đều xuất hiện ở đây) xuất hiện góc trên cùng bên tay trái, trang nhất của báo Từ giữa năm 1970, The New York Times đã mở rộng giao diện thiết kế và cách thức tổ chức Gần đây, The New York Times được tổ chức thành những mục sau: News (Tin), Editorials (Xã luận)/Opinions-Columns (Bình luận – Chuyên luận)/Op-Ed (Bình luận độc lập – mục này do các kí giả có tiếng viết nhưng không thuộc ban biên tập), New York (metropolitan), Business (Kinh doanh), Sports of The Times (Thể thao), Arts (Nghệ thuật), Science (Khoa học), Styles (Phong cách – Đời sống), Home (Nhà cửa), Travel (Du lịch), và các mục khác
The New York Times bắt đầu xuất hiện trên web từ 1996 và từ đó đến nay luôn được xếp hạng là một trong những website hàng đầu Việc truy cập một số bài báo đòi hỏi phải đăng kí mặc dù nó có thể bị bỏ qua trong vài trường hợp thông qua RSS Times feeds Trang web có 555 triệu lượt xem vào tháng 3, 2005 Địa chỉ nytimes.com thu hút được ít nhất 146 triệu lượt khách thăm vào năm 2008, theo nghiên cứu của Compete.com Tháng 1 năm 2016, The New York Times đã đánh bại The Washington Post ở lượng người xem qua máy tính và mobile lần đầu tiên
kể từ Tháng 9 2015, theo số liệu được cung cấp bởi ComScore The Times được 72,9 triệu lượt đăng kí so với 69,6 triệu của The Washington Post Từ tháng 12 năm
2015 đến tháng 1 2016, The Times tăng 2,7 triệu người xem trong khi The Post giảm 6,4 triệu người Tháng 1 năm 2016, tổng số page view của The Times là 649,2 triệu
Lịch sử tờ báo
Henry Javis Raymond và George Jones đã thành lập New York Times vào năm 1851 Những bài viết của thời báo đã vạch trần những hành động tham nhũng phổ biến của tổ chức dân chủ Tammany Hall, được điều hành bởi “ông chủ” William Marcy Tweed tại thành phố New York, các bài viết này đã góp phần kết thúc quyền lực của Tweed trong lĩnh vực chính trị của thành phố và thời báo trở nên nổi tiếng trong giới báo chí Mỹ
Trang 37Năm 1896, Adolph S Ochs, một chủ tòa báo đến từ Chattanooga, bangTennessee đã mua lại Times khi thời báo đang gặp phải những khó khăn nghiêm trọng về tài chính Ông đã cải tiến Times với những thành công đáng kể, biến Times thành một tờ báo có tính nghiêm túc và cân bằng với khẩu hiệu”All the News that’s Fit to Print) Tương tự với công việc xuất bản, ông còn sáng tạo khẩu hiệu “without fear or favour” (không sợ hãi hay thiên vị) Ngài Ochs đã cho xuất bản những ấn phầm như tạp chí New York Times và Book Review
Khi Adolph S Ochs qua đời vào năm 1935, sự nghiệp của ông được kế thừa bởi người con rể, ông Arthur Hays Sulzberger và bây giờ là người cháu cố, Arthur Sulzberger Jr, là chủ thời báo Times hiện tại Với nhiều tin tức trên qui mô rộng về các sự kiện thế giới trong suốt thế kỉ 20, Times đã được biết đến như là “tờ báo của các kỉ lục” Năm 1971, Tòa án tối cáo đã phán quyết ủng hộ cho quyền của Times
để xuất bản những tài liệu của Lầu Năm Góc, của chính phủ liên quan đến chiến tranh tại Việt Nam Năm 1996, Times bước vào thời đại kĩ thuật số với việc cho ra mắt trang Web được chào đón nồng nhiệt: NYTimes com Mười năm sau, Trang web đã phát triển mạnh mẽ đáng kể với một lọat chuyên mục được mở rộng và nhiều video, blog, và còn nhiều hơn nữa Năm 2005, Times cho ra mắt TimeSelect - một dịch vụ chất lượng cao của NYTimes com và hàng trăm ngàn độc giả đã đăng
kí dịch vụ này nhằm có cơ hội tiếp cận với những nội dung mở rộng và các bộ sưu tập của Times
New York Times cung cấp tin tức hằng ngày diễn ra trên thế giới, trong nước
và các tin tức về New York, kinh doanh và thể thao, thời tiết hằng ngày, tóm lược tin tức và dĩ nhiên có cả mục đố ô chữ Nội dung của Times luôn có sẵn trên các ấn phấm in, web và gần đây là dịch vụ Times Reader, một cách thức mới để đọc Times qua việc mang đến một cái nhìn và cảm nhận tờ báo như thật với những chức năng của một trang web Times được miêu tả như là ”tốt nhất, tờ báo quan trọng nhất trong nước” bởi tạp chí Time Và tờ U.S.News & World Report đã viết về Times:
“If it’s in The New York Times, it’s news” (Nếu nó nằm trong New York Times, thì
nó chính là tin tức)
Trang 38Times bao gồm các tin tức đặc biệt về truyền thông vào các ngày thứ 2, mục Khoa Học vào các ngày thứ 3, những bài liên quan đến Ẩm Thực vào thứ 4, mục Phong Cách, Nội Thất vào thứ 5, mục Cuối Tuần và Du Lịch vào thứ 6 và mục Kinh Doanh vào thứ 7 Sunday Times bao gồm mục Nghệ Thuật và Giải Trí, tạp chí New York Times, mục Điểm Sách, tóm lược tin tức cuối tuần, Du lịch, mục Sunday Business và các mục khác
New York Times tại NYTimes com bao gồm blog, video, và bộ sưu tập các bài báo trước đây; Learning Network, một chuyên mục đặc biệt đối với những nhà giáo dục, sinh viên và phụ huynh tại NYTimes com/learning; Một chuyên mục Du Lịch được mở rộng giúp độc giả lên kế hoạch cho một chuyến đi xa, mục Theater (Nhà Hát) giúp độc giả mua được vé và dịch vụ TimesSelect cung cấp các nội dung độc quyền của Times, và độc giả có cơ hội nhận được các bộ sưu tập tài liệu, bài viết của Times và các nguồn như gửi email khuyến cáo thay đổi dành cho khách hàng Dịch vụ này thì miễn phí trả tiền dành cho những thuê bao đặt báo Times giấy, còn những thuê bao khác phải trả $49 95 mỗi năm Times Reader là bản báo điện tử của thời báo
Quan điểm chính trị
Thời gian gần đây, uy tín của The New York Times bị giảm sút Từ những báo cáo bịa đặt “nổi tiếng” liên quan đến “vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq”, cho đến những chiến dịch tuyên truyền thêu dệt bài Nga , NYT đã bị gắn với biệt hiệu công
cụ truyền thông của nhà nước
Báo mất đi một lượng độc giả, vì không còn duy trì được niềm tin của công chúng Cựu phóng viên Daniel Simpson, người rời khỏi NYT hồi năm 2012, đã tiết
lộ rằng, tờ báo này là “loa tuyên truyền” cho tầng lớp tinh hoa cai trị, vì suy nghĩ của các nhân trong tòa soạn cũng y hệt như những gì mà giới cầm quyền quyền nghĩ
Ngày 23/7/2016, The New York Times đăng bài “Why Readers See The Times as Liberal?” (Tại sao độc giả lại nghĩ tờ Times theo chủ nghĩa tự do?) Trong
đó, chính biên tập viên của Times cũng phải thừa tờ báo đang bị độc giả nghi ngờ là
Trang 39thiên vị cho Đảng dân chủ, Chủ nghĩa tự do và cánh tả : “Một độc giả từ California
giấu tên tin rằng các phóng viên và biên tập viên của Times đang cố gắng lái dư luận theo quan điểm của tờ báo “Tôi chưa bao giờ nghĩ lại có ngày, tôi, một người theo chủ nghĩa tự do lại có thể bực mình với cách đưa tin một chiều đến mức tôi bắt đầu nhảy sang trang web của Fox News để đọc báo và biết được phần còn lại của câu chuyện mà tờ NYT đã từ chối đăng tải”
James, một độc giả đến từ Arizona bày tỏ sự thất vọng: “Các bạn đã đánh mất một độc giả vì sự thiên vị không ngừng nghỉ của tờ báo chống lại Trump – Tôi thậm chí còn không thuộc đảng Cộng hòa đấy nhé”
Các bạn có thể tưởng tượng những lá thư từ những người chủ nghĩa bảo thủ thì còn khủng khiếp đến mức nào
Những lá thư như vậy được gửi đến văn phòng hàng ngày Suy nghĩ rằng tờ Times đưa tin thiên vị là một trong những lời than phiền nhiều nhất từ độc giả Chúng đến quá thường xuyên, quá nhiều đến mức sự phản đối chẳng có nghĩa lí gì nữa.”
Lý giải cho điều này, biên tập viên của Times bày tỏ quan điểm: “Trang chủ
là một nơi tốt để bắt đầu Ngay góc phải trên cùng là mục Opinion, nơi hầu hết những nhà bình luận đều theo chủ nghĩa tự do Chưa kể quảng cáo cho chiến dịch tranh cử của Hillary Cliton lại xuất hiện ngay trên cùng của website Ngay cả tôi, một người hoàn toàn phân biệt được quảng cáo với bài báo, nhìn thấy khuôn mặt tươi cười của Clinton khi mở trang web ra cũng cảm thấy hơi chối.”
The New York Times cũng là tờ nghiêm cấm các nhân viên của mình thể hiện quan điểm chính trị trên mạng xã hội, đặc biệt là trên facebook
2.1.2 Bloomberg
Giới thiệu chung
Bloomberg L.P là một công ty tư nhân chuyên về phần mềm, dữ liệu, truyền thông về lĩnh vực tài chính, có trụ sở tại Midtown Manhattan, thành phố New York Bloomberg L.P được thành lập bởi Michael Bloomberg vào năm 1981 với sự giúp
đỡ của Thomas Secunda, Duncan MacMillan, Charles Zegar, và đầu tư sở hữu 30% của Merrill Lynch
Trang 40Giao diện điện tử của Bloomberg
Bloomberg L.P cung cấp những công cụ phần mềm tài chính như dịch vụ dữ liệu, các bản phân tích và tin tức cho các công ty và tổ chức tài chính thông qua Bloomberg Terminal ( Dịch vụ Bloomberg chuyên nghiệp), sản phẩm đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho họ Bloomberg L.P còn bao gồm hãng thông tấn (Bloomberg News), kênh truyền hình quốc tế (Bloomberg Television), trang web điện tử, kênh phát thanh (WBBR), bản tin trả tiền và ba tạp chí: Bloomberg Bussinessweek, Bloomberg Markets và Bloomberg Pursuits Năm 2014, Bloomberg L.P ra mắt Bloomberg Politics, một chuyên trang đa nền tảng được sát nhập từ các đội tin tức chính trị của công ty và tuyển dụng hai nhà báo chính trị kì cựu, Mark Halperin và John Heilemann về điều hành nó
Năm 2016, Bloomberg Polictics bắt đầu sản xuất một bộ phim tài liệu về cuộc tranh cử tổng thống Mỹ có tên: The Circus: Inside the Greatest Political Show on Earth (Rạp xiếc: bên trong show chính trị lớn nhất hành tinh)
Lịch sử tờ báo
Cha đẻ của Bloomberg L.P là Michael Bloomberg Ông sinh năm 1942 trong một gia đình trung lưu tại bang Massachusetts (Mỹ) Cha ông làm kế toán cho một công ty sữa tại quê nhà Ông tốt nghiệp Đại học Johns Hopkins chuyên ngành kỹ thuật điện, sau đó lấy bằng MBA tại Đại học Harvard Năm 1966, Bloomberg làm việc cho hãng dịch vụ tài chính Salomon Brothers với lương khởi điểm $US 9,000