60 CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ HÁN VIỆT CHỈ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG VIỆT VÀ CÁC TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG TRUNG .... Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
VƯƠNG DI GIẢO (WANG YI JIAO)
ĐỐI CHIẾU NHÓM TỪ HÁN VIỆT CHỈ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội -2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
VƯƠNG DI GIẢO (WANG YI JIAO)
ĐỐI CHIẾU NHÓM TỪ HÁN VIỆT CHỈ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “ĐỐI CHIẾU NHÓM TỪ HÁN VIỆT CHỈ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Học viên cao học: Vương Di Giảo
Trang 4Cuối cùng em xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên em, động viên
em hoàn thành khoá học và bài luận văn này
Trân Trọng cảm ơn!
Học viên cao học: Vương Di Giảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Tình hình nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Khái niệm từ Hán Việt trong tiếng Việt 11
1.1.1 Khái niệm yếu tố gốc Hán 11
1.1.2 Khái niệm cách đọc Hán Việt 12
1.1.3 Khái niệm từ Hán Việt 13
1.2 Đặc điểm của từ Hán Việt 16
1.2.1 Đặc điểm cấu tạo của từ Hán Việt 16
1.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ Hán Việt 21
1.3 Từ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt 23
1.3.1 Khái niệm tâm lý tình cảm 23
1.3.2 Các từ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt 25
1.3.3 Đặc điểm ngữ nghĩa các từ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt 29
1.4 Một số vấn đề đối chiếu song ngữ Việt Hán và Hán Việt 32
1.5 Tiểu kết 36
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ HÁN VIỆT CHỈ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG VIỆT 38
2.1 Đặc điểm cấu tạo của các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt 38
2.1.1 Đặc điểm các kiểu từ của từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếngViệt 38
2.1.2 Đặc điểm từ loại của các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt 48
Trang 62.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong
tiếng Việt 55
2.2.1 Nhóm các từ Hán Việt chỉ trạng thái tâm lý tình cảm tích cực 55
2.2.2 Nhóm các từ Hán Việt chỉ trạng thái tâm lý tình cảm trung gian 57
2.2.3 Nhóm các từ Hán Việt chỉ trạng thái tâm lý tình cảm tiêu cực 57
2.3 Tiểu kết 60
CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ HÁN VIỆT CHỈ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG VIỆT VÀ CÁC TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG TRUNG 61
3.1 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Trung 61
3.1.1 Đối chiếu các kiểu từ của từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Trung 61
3.1.2 Đối chiếu từ loại của từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Trung 65
3.2 Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Trung 72
3.2.1 Sự tương đồng về mặt ngữ nghĩa 72
3.2.2 Sự khác biệt về mặt ngữ nghĩa 76
3.3 Tiểu kết 85
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Tỷ lệ của các nhóm từ đơn âm tiết Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt 39 Bảng 2.2 Các từ đa tiết Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt 47 Bảng 2.3 Các kiểu từ loại Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt 55 Bảng 3.1 Sự thay đổi về nghĩa giữa các từ Hán Việt chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt với các từ tiếng Trung tương ứng 78
Sơ đồ 2.1 Sự phân bố các kiểu từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm 48
Sơ đồ 3.1 Sự phân bố các kiểu từ loại Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt
và các từ tương đương trong tiếng Trung 72
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Do vị trí địa lý và những diễn biến lịch sự đặc biệt, Trung Quốc và Việt Nam
đã có sự giao lưu và tiếp biến văn hóa liên tục qua hàng ngàn năm, đặc biệt có sự tiếp xúc sâu sắc giữa hai ngôn ngữ tiếng Hán và tiếng Việt Trong quá trình phát triển lâu dài của tiếng Việt, Tiếng Hán có ảnh hưởng khá sâu rộng đến mặt ngữ âm hay ngữ nghĩa của tiếng Việt Đối với người Việt Nam, từ Hán Việt không phải là một khái niệm xa lạ Theo PGS.TS Hoàng Thị Ngọ, tạp chí Hán Nôm, số 6, 2006:
“ Khoảng hơn 60% số từ của tiếng Việt là từ vay mượn của tiếng Hán Tuy nhiên, các từ tiếng Hán khi đi vào tiếng Việt đã được Việt hóa về cách đọc cho phù hợp với
hệ thống ngữ âm của tiếng Việt Đó gọi là cách đọc Hán Viểt Cách đọc này đã được hoàn thiện từ khoảng thế kỉ X- XI và được sử dụng ổn định cho đến nay Điều
đó có nghĩa là các từ vay mượn của tiếng Hán được người Việt đọc theo âm cổ – âm tiếng Hán đời Đường – có sự Việt hóa ít nhiều cho phù hợp với hệ thống ngữ âm tiếng Việt Trong khi đó tại Trung Quốc, trải qua các thời kì khác nhau, cách phát
âm của các từ đã thay đổi nhiều Điều này giải thích tại sao từ tiếng Trung hiện đại
và từ Hán Việt có cách đọc không giống nhau”
Từ Hán Việt đã và đang là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều luận văn Mỗi công trình nghiên cứu đều phân tích một góc độ riêng, trong đó có một số nghiên cứu về diễn biến ngữ nghĩa của từ Hán Việt và một số nghiên cứu về tính quan trọng của từ Hán Việt
Nhìn từ các góc độ kinh tế - văn hoá hay lịch sử, từ Hán Việt đều có địa vị quan trọng không thể thay thế trong hệ thống tiếng Việt Đối tượng nghiên cứu trong bài luận văn này là nhóm từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm Đây cũng là nhóm
từ quan trọng mà gần gũi trong tiếng Việt Nhóm từ chỉ tâm lý tình cảm thuộc trường từ vựng quan trọng trong đời sống, và là một trong những nhóm từ quen thuộc của con người Tâm lý tình cảm có thể biểu đạt thông qua những cách phi ngôn ngữ như nét mặt, ánh mặt, cử chỉ hay hành động… và được phản ánh bằng
Trang 9ngôn từ một cách trừu tượng nhưng vẫn dễ hiểu hoặc phức tạp hóa bằng cách nói giảm nói tránh
Trong quá trình phát triển lịch sử của tiếng Việt, việc vay mượn từ gốc tiếng Hán làm thành lớp từ Hán Việt chiếm một vị trí khá đặc biệt Từ Hán Việt có những đặc điểm riêng về cấu tạo từ, ngữ pháp, ngữ nghĩa và phong cách Luận văn của chúng tôi tập trung nghiên cứu về từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt
và các từ tương đương trong tiếng Trung Chúng tôi chọn đề tài ĐỐI CHIẾU
NHÓM TỪ HÁN VIỆT CHỈ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG với mong muốn thông qua việc thống kê, phân tích để tìm ra sự tương
đương và khác biệt về cấu tạo từ và ngữ nghĩa của trường từ vựng Hán Việt chỉ tâm
lý tình cảm trong tiếng Việt và nhóm từ tương đương trong tiếng Trung Qua đó, có thể làm giàu vốn từ tiếng Hán và tiếng Việt của bản thân về nhóm từ vựng thuộc trường từ vựng tâm lý tình cảm Đồng thời, chúng tôi hy vọng thông qua kết quả thống kê phân tích, có thể góp một phần nào đó giúp cho những người Việt học tiếng Trung hay người Trung học tiếng Việt có được một tài liệu để tham khảo trong quá trình học tiếng Từ đó, giúp người học tránh được những sai sót hay nhầm lẫn khi dùng các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đối chiếu tiếng Trung và tiếng Việt cũng như nghiên cứu đối chiếu từ Hán Việt trong tiếng Việt và nhóm từ tương đương trong tiếng Trung Tuy nhiên, ít có công trình nghiên cứu về từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và nhóm từ tương đương trong tiếng Trung
Mục đích nghiên cứu đề tài “ĐỐI CHIẾU NHÓM TỪ HÁN VIỆT CHỈ TÂM
LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG” là:
- Làm rõ sự tương đồng của từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm giữa tiếng Việt
và nhóm từ tương đương trong tiếng Trung về mặt đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa
- Làm rõ sự khác biệt của từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm giữa tiếng Việt và
Trang 10nhóm từ tương đương trong tiếng Trung về mặt đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đặt ra, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Thống kê các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt
- Đối chiếu sự tương đồng của từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt
và nhóm từ tương đương trong tiếng Trung về mặt đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa
- Đối chiếu sự khác nhau của từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm giữa tiếng Việt
và nhóm từ tương đương trong tiếng Trung về mặt đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa
- Rút ra kết luận về việc sử dụng các từ thuộc trường từ vựng tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Trung
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi giới hạn khảo sát các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt đối chiếu với các từ tương đương trong tiếng Trung Đây là các từ Hán Việt mô tả các sắc thái cảm xúc và tâm trạng cũng như các hiện tượng tâm lý diễn ra của do sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con người Những từ này được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của người Việt và người Trung, trong các sách và từ điển tiếng Việt và tiếng Trung
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nhóm từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Trung được thu thập từ các từ điển sau:
- Hán Việt từ điển giản yếu, Đào Duy Anh, NXB Văn hóa Thông tin, 2004
- Từ điển từ Hán Việt, Lại Cao Nguyện, NXB Khoa học Xã hội, 2005
- Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên), NXB Đà
Nẵng, 2003
- 现代汉越词典(Từ điển tiếng Việt hiện đại), 雷航 李宝红 (Lôi Hàng, Lý
Bảo Hồng), NXB Nghiên cứu và Dạy học ngoại ngữ, 2013
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong khi nghiên cứu gồm:
- Phương pháp phân loại: phân loại nhóm từ thành 2 phần chính: loại 1 là nhóm từ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt, loại thứ 2 là nhóm từ chỉ tâm lý tình cảm tương đương trong tiếng Trung
- Phương pháp khảo sát và thống kê: được vận dụng trong việc thu thập các
từ về nhóm từ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Trung
- Phương pháp so sánh đối chiếu: dựa trên việc miêu tả, tiến hành đối chiếu
sự tương đồng và sự khác nhau về đặc điểm từ loại và đặc điểm cú pháp của nhóm
từ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ đương tương trong tiếng Trung
Các phương pháp trên không thực hiện riêng lẻ, biệt lập mà phối hợp với nhau trong suốt quá trình nghiên cứu, khảo sát
5 Tình hình nghiên cứu
5.1 Tình hình nghiên cứu về đối chiếu hai ngôn ngữ Hán và Việt
Những công trình nghiên cứu đối chiếu hai ngôn ngữ Hán và Việt đã xuất hiện từ lâu, nội dung của các công trình nghiên cứu đối chiếu này càng ngày càng phong phú và đa dạng
Trong bài关于汉语与越南语对比的若干问题 (Một số vấn đề về đối chiếu song ngữ Hán Việt), NXB Ulis 2010, tác giả Nguyễn Văn Khang đã khái quát nguồn
gốc và sự phát triển của ngôn ngữ học, tìm hiểu nội dung cụ thể của nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu từ góc độ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của hai ngôn ngữ Hán và Việt, chủ yếu khảo sát các từ Hán Việt và từ mượn Việt, nêu ra tính hai mặt của từ Hán Việt, và luận chứng tính quan trọng của từ Hán Việt trong việc đối chiếu hai ngôn ngữ Hán và Việt
Trong luận văn thạc sĩ汉语越南语量词对比研究 (Đối chiếu nghiên cứu lượng từ trong tiếng Hán và tiếng Việt), NXB Đại học Sư phạm Đông Bắc, 2013,
tác giả Trịnh Thị Dũng Hạnh đối chiếu phân tích kết cấu ngữ pháp và chức năng
Trang 12ngữ pháp của tiếng Hán và tiếng Việt Mục đích của nghiên cứu này là để giải quyết những vấn đề khi sinh viên Việt Nam học lượng từ tiếng Hán thường gặp
phương pháp tạo hình và phương pháp tạo ngữ của danh từ và lượng từ trong tiếng Trung và tiếng Việt), NXB Báo chí đọc sách, kỳ số 18, 2015, tác giả Tiệu Tuyết
Diễm so sánh đối chiếu sự tương đồng và sự khác biệt về phương pháp tạo hình và phương pháp tạo ngữ của danh từ và lượng từ trong tiếng Trung và tiếng Việt
Trong bài 20世纪 90 年代以来汉越语言对比研究综述 (Khái quát công trình đối chiếu nghiên cứu ngôn ngữ Hán Việt từ những năm 90 của thế kỷ 20 đến nay), NXB Báo chí nghiên cứu truyền bá Hán ngữ quốc tế, kỳ số 1, 2013, tác giả
Lưu Hán Võ và Đính Sùng Minh cho rằng số lượng tác phẩm nghiên cứu về đối chiếu ngôn ngữ Hán và Việt không nhiều, các tác phẩm đối chiếu nghiên cứu ngôn ngữ đều có liên quan đến 3 yếu tố: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Các tác phẩm
nghiên cứu đối chiếu về mặt ngữ âm chủ yếu tập trung ở mặt “âm Hán Việt” Về
mặt đối chiếu từ vựng, đa số tác phẩm đều là đối chiếu từ Hán Việt và từ xưng hô giữa hai ngôn ngữ, còn mặt khác thì chưa có tác phẩm nào đi sâu vào Tuy có không
ít các tác phẩm nghiên cứu về mặt ngữ pháp, nhưng các nghiên cứu này chưa nghiên cứu thông suốt, mà chỉ so sánh hiện tượng bề ngoài
Trong bài 双音节汉越词与现代汉语词汇的对比研究 (Đối chiếu nghiên cứu đôi âm tiết từ Hán Việt với từ vựng tiếng Hán hiện đại), NXB Báo chí ứng dụng
văn từ ngôn ngữ Đại học Sư phạm Bắc Kinh, kỳ số 4 năm 2005, tác giả Vương Tiểu Huy đã vận dụng phương pháp so sánh, phân loại, phân tích, lấy ví dụ vv; lấy 7810
đơn vị từ đôi âm tiết trong quyển Từ điển từ Hán Việt, Phan Văn Các, NXB Thành
phố Hồ Chí Minh, 2001) làm kho ngữ liệu, nghiên cứu đối chiếu 5274 đơn vị từ ghép đôi âm tiết với từ Hán Việt hiện đại Trong đó, bộ phận trung tâm của luận văn
là đối chiếu ngữ nghĩa của từ Hán Việt với tiếng Hán Tác giả cho rằng có ba loại
mối quan hệ của ngữ nghĩa giữa từ Hán Việt với tiếng Hán tương đối: ngữ nghĩa
Trang 13tương đồng, chiếm 62.8% kho ngữ liệu; ngữ nghĩa khác nhau, chiếm 8.5% kho ngữ
liệu; ngữ nghĩa có điểm tương đồng, cũng có điểm khác nhau, chiếm 28.7% kho
ngữ liệu
Từ đó có thể thấy, đây là những bài nghiên cứu đối chiếu hai ngôn ngữ gồm các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ vựng theo phương pháp tạo hình và phương pháp tạo ngữ
5.2 Tình hình nghiên cứu về từ Hán Việt trong tiếng Trung và tiếng Việt
Do chịu ảnh hưởng các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, khi nghiên cứu sự khác biệt của từ Hán Việt trong tiếng Trung và tiếng Hán, đa số nhà ngôn ngữ học đều lấy so sánh ngữ âm của từ Hán Việt làm tiêu chuẩn vào những năm 70 thế kỷ 20 Trong 20 năm gần đây, sự di biến của từ Hán Việt thu hút được
nhiều người quan tâm Điều này có thể thấy qua các công trình như: Từ vựng học
tiếng Việt, của tác giả Nguyễn Thiện Giáp (trong đó có hai chương đã trình bày về
sự di biến của ngữ nghĩa từ vựng tiếng Hán); Phương pháp giải thích ngữ nghĩa từ
Hán Việt, 1992 của tác giả Phan Ngọc (trong đó phân tích về việc làm thế nào để
nắm được ý nghĩa của từ Hán Việt và tránh nhầm lẫn ý nghĩa của nhóm từ này)
Trong Phát triển của ngôn ngữ và văn hoá xã hội, tác giả Trần Chí Thành cho
rằng tìm hiểu văn hoá Hán để làm rõ ảnh hưởng của văn hoá Hán đối với từ Hán Việt Cuốn sách này tập trung viết về các từ Hán Việt thuộc phạm vi văn hoá xã hội
Trong quá trình nghiên cứu chữ Nôm, tác phẩm Từ chữ Hán đến chữ Nôm
của tác giả Lê Nguyễn Lưu đã có góp phần to lớn trong việc làm rõ vấn đề này Trong đó, tác giả cũng nhắc đến sự hình thành và sự thay đổi của từ Hán Việt
Về mặt dạy học từ Hán Việt, sách Sử dụng từ vựng tiếng Việt và mở rộng số
lượng từ Hán Việt được sáng tạo ra với nỗ lực của bốn tác giả Trong đó, tác giả Lê
Xuân Thái nghiên cứu về bộ phận từ Hán Việt Ngoài nghiên cứu khái niệm, kết cấu
và tính chất của từ Hán Việt ra, tác giả cũng nghiên cứu ngữ nghĩa của nhóm từ này Qua đó, giúp học sinh nắm được ý nghĩa chính xác của bộ phận từ Hán Việt
Từ Hán Việt và dạy học từ Hán Việt, Ngoại lai từ trong tiếng Việt, Từ điển
Trang 14thành ngữ Hán Việt, là những công trình của GS TS Nguyễn Văn Khang – nhà
nghiên cứu đã đóng vai trò rất lớn trong nghiên cứu hệ thống từ Hán Việt
6 Đóng góp của luận văn
Phạm vi và đối tượng của đề tài tập trung vào việc so sánh các từ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Trung Từ đó, đưa ra những so sánh nhận xét giúp người học tránh được những nhầm lẫn không đáng có khi học ngoại ngữ Đồng thời luận văn cũng góp phần thêm tư liệu cho việc nghiên cứu hệ thống từ Hán Việt – một nhóm từ vốn có những đặc điểm riêng - của các nhà nghiên cứu sau này
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương với nội dung sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt
Chương 3: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếngTrung
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm từ Hán Việt trong tiếng Việt
Căn cứ vào nguồn gốc hình thành và phát triển, vốn từ tiếng Việt có thể được phân chia thành hai bộ phận: các từ thuần Việt và các từ vay mượn (từ ngoại lai) Các từ vay mượn du nhập vào tiếng Việt do sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Sự tiếp xúc văn hóa và ngôn ngữ Hán Việt đã hình thành nên những từ mượn
có nguồn gốc từ tiếng Hán, trong đó có lớp từ Hán Việt
Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều khái niệm liên quan đến từ Hán Việt trong
tiếng Việt, đó là các khái niệm: cách đọc Hán Việt, yếu tố gốc Hán, từ Hán Việt cổ,
từ Hán Việt Việt hóa, từ Hán Việt….Vì vậy, ở đây luận văn có nhiệm vụ phải làm rõ
những khái niệm này với mục đích: một mặt, hiểu đúng, xác định đúng từ Hán Việt chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt; mặt khác, xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài luận văn
1.1.1 Khái niệm yếu tố gốc Hán
Theo quan niệm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn, khái niệm yếu tố gốc Hán trong tiếng Việt dùng để chỉ “những yếu tố có nguồn gốc từ tiếng Hán” [15; tr.88]
Trong tiếng Hán, mỗi yếu tố này là một tự vuông, còn trong tiếng Việt là một chữ (một âm tiết) Số lượng yếu tố gốc Hán là có hạn trong tiếng Việt Như vậy, khi nói
về cách đọc là nói về ngữ âm, còn khi nói về yếu tố gốc Hán là nói về từ vựng Khái
niệm yếu tố gốc Hán được tác giả chia làm ba khu vực:
- Khu vực I: là những chữ có thể đọc theo cách đọc Hán Việt nhưng không
liên quan gì đến tiếng Việt như : chẩm, giá, ma
Cách nói “không liên quan gì đến tiếng Việt” có thể hiểu là những yếu tố này
không tham gia vào vốn từ của tiếng Việt Nói cách khác, nếu những yếu tố này xuất hiện thì người Việt có thể đọc nhưng không sử dụng như một yếu tố từ vựng trong ngôn ngữ của mình
- Khu vực II: là những yếu tố người Việt mượn từ tiếng Hán nhưng không
Trang 16trực tiếp liên quan đến cách đọc Hán Việt Những yếu tố này có thể có ba loại khác nhau:
+ Loại mượn trước cách đọc Hán Việt như: mùa, mùi, buồng, buồm…
+ Loại mượn từ đời Đường với cách đọc Hán Việt, nhưng sau có cách đọc
khác với cách đọc Hán Việt như: gan, gần, vốn, vẽ…
+ Loại mượn thông qua một phương ngữ tiếng Hán như: mì chính, ca la thầu,
vằn thắn, xá xíu…
- Khu vực III: là những yếu tố mượn từ tiếng Hán thông qua cách đọc Hán
Việt Đây chính là những yếu tố Hán Việt Khu vực này gồm hai loại: loại chỉ là
tiếng (tức chỉ tương đương với một âm tiết), nhưng không là từ, không dùng độc lập
như: quốc, gia, sơn, thủy…và loại vừa là tiếng vừa là từ, có thể dùng độc lập như:
cao, thành, học, xã…
Trong “Từ Hán Việt và việc giảng dạy từ Hán Việt trong sách giáo khoa Ngữ
văn Trung học cơ sở”, tác giả Lê Xuân Thại đã chỉ ra rằng có thể chia thành hai loại
yếu tố Hán Việt:
- Yếu tố Hán Việt được dùng độc lập với cương vị từ, mỗi yếu tố là một từ
của tiếng Việt như : hoa, quả, đông, tây, nam, bắc, bút, lợi, hại, thắng, bại…
- Yếu tố Hán Việt không được dùng độc lập với cương vị từ mà chỉ là một
thành tố cấu tạo từ như: sơn (núi), hải (biển), thiên (trời), địa (đất), mã (ngựa),
hoàng (vàng), hắc (đen), độc (đọc), tiếu (cười), khán (xem), thính (nghe)
Từ quan niệm của hai tác giả, chúng tôi thấy rằng yếu tố Hán Việt là những yếu tố mượn từ tiếng Hán thông qua cách đọc tiếng Việt Những yếu tố này có thể được dùng độc lập hoặc không độc lập trong tiếng Việt
1.1.2 Khái niệm cách đọc Hán Việt
Trong công trình Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, tác giả
Nguyễn Tài Cẩn cho rằng quá trình tiếp xúc Hán Việt có thể chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (từ khoảng đầu Công nguyên đến thế kỉ VI – VII): đây là giai
đoạn chỉ lưu lại lẻ tẻ một số cách đọc gọi là cổ Hán Việt mà không thành hệ thống,
Trang 17bởi vì cách đọc chữ Hán ở Việt Nam trong suốt 9 thế kỉ sau Công nguyên “luôn luôn gắn liền với những sự biến đổi xảy ra ở trong tiếng Hán”
- Giai đoạn 2 (giai đoạn cuối Đường, Ngũ đại): giai đoạn này để lại một cách
đọc Hán Việt hệ thống, lưu lại một ảnh hưởng sâu đậm, tồn tại mãi đến ngày nay
Chính vì thế, cách đọc Hán Việt nói đến cách đọc Hán Việt là sản phẩm tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán và nền văn tự Hán xảy ra vào đời Đường, theo hệ thống ngữ âm tiếng Hán (cụ thể là hệ thống Đường âm dạy ở Giao Châu, khoảng thế kỉ VIII – X) Theo tác giả, nói đến cái vỏ ngữ âm mà người Việt gán cho văn tự Hán, bất luận những chữ được đọc đó là những chữ như thế nào [15; tr.102] Đó có
thể là những chữ ghi những tiếng đã được du nhập vào trong tiếng Việt như: tuyết,
học, cao, tuy hay những chữ không liên quan gì với tiếng Việt
Tuy nhiên, từ thế kỉ X, do nhiều yếu tố chính trị và xã hội, những sự diễn biến của tiếng Hán ở bên kia biên giới không còn tác động đến tiếng Hán ở Việt Nam một cách trực tiếp với vai trò quyết định như trước nữa Tiếng Hán ở Việt Nam cũng chịu sự chi phối của tiếng Việt, nên cách đọc chữ Hán dựa trên hệ thống ngữ
âm tiếng Hán thời Đường dần dần biến dạng đi dưới tác động của ngữ âm và ngữ
âm lịch sử tiếng Việt, tách xa hẳn cách đọc của người Hán và trở thành một cách
đọc riêng của người Việt Vì thế, “cách đọc Hán Việt là cách đọc chữ Hán ở Việt
Nam của người Việt Nam Cách đọc đó phản ánh dạng ngữ âm của chữ Hán thời Đường được dạy và học ở Việt Nam lúc bấy giờ Tất nhiên, so với dạng ngữ âm của chữ Hán đời nhà Đường thì cách đọc Hán Việt cũng đã được Việt hóa ít nhiều cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt thời đó.” [12; tr.242]
Từ quan niệm trên, chúng tôi hiểu cách đọc Hán Việt là cách đọc chữ Hán của người Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường và là cách xử lí
về ngữ âm mà người Việt dùng để đọc mọi chữ Hán, bất kể là những chữ gì, có nghĩa hay không có nghĩa trong tiếng Việt
1.1.3 Khái niệm từ Hán Việt
Cho đến nay, đã có không ít quan niệm về khái niệm từ Hán Việt của các nhà
Trang 18nghiên cứu Chúng tôi xin dẫn quan niệm về từ Hán Việt của một số tác giả như sau:
Trong “Từ vựng học tiếng Việt”, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng từ gốc
Hán trong tiếng Việt gồm hai bộ phận chính: các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt (các từ Hán Việt) và các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt [12; tr.242] Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt, bao gồm ba loại: từ Hán
cổ (các từ Hán Việt vào Việt Nam trước đời Đường), các từ Hán Việt được Việt hóa
và các từ gốc Hán tiếp nhận bằng con đường khẩu ngữ, qua cách phát âm địa phương Có thể thấy, từ Hán Việt chính là các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt gồm có:
- Các từ ngữ Hán được chấp nhận từ đời Đường đến nay chiếm đa số: gồm
một loại là các từ tiếng Việt trực tiếp tiếp nhận từ tiếng Hán (ví dụ: triều đình, công
nghiệp, văn chương…) và một loại khác là các từ tiếng Việt tiếp nhận của các ngôn
ngữ khác nhưng thông qua tiếng Hán (ví dụ từ câu lạc bộ tiếp nhận từ tiếng Anh)
- Các từ ngữ Hán Việt được cấu tạo ở Việt Nam: đây là các từ ngữ do người Việt sử dụng các yếu tố gốc Hán để tạo ra các từ mới không có trong tiếng Hán, bao gồm hai loại:
+ Những đơn vị được tạo ra do kết hợp với các yếu tố gốc Hán, so sánh: an
trí (chữ Hán), náo động (chữ Hán), tiểu đoàn (chữ Hán), đại đội (chữ Hán)… Tuy
nhiên, trong số các ví dụ nêu trên có trường hợp không phản ánh đúng quan niệm
của tác giả, chẳng hạn hai từ an trí (chữ Hán), đại đội (chữ Hán) đều có trong tiếng
Hán, tức chúng thuộc loại những từ tiếng Việt tiếp nhận trực tiếp từ tiếng Hán như
các từ: anh hùng (chữ Hán), công nghiệp (chữ Hán), văn chương (chữ Hán… mà
tác giả đã nêu
+ Những đơn vị được tạo ra do một yếu tố gốc Hán kết hợp với một yếu tố
thuần Việt, ví dụ: binh (chữ Hán) lính, cướp đoạt (chữ Hán), đói khổ (chữ Hán),
súng trường (chữ Hán)…
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong “Cơ
sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” chỉ ra rằng từ Hán Việt là “những từ gốc Hán du nhập
Trang 19vào tiếng Việt trong giai đoạn hai (từ đời Đường trở về sau) mà người Việt đọc theo
âm chuẩn (Trường An) của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình.”[18; tr.214] Cách đọc này đã được duy trì (với những biến đổi ít nhiều) cho đến tận ngày nay
Theo tác giả Nguyễn Như Ý, từ Hán Việt hay từ Việt gốc Hán được định nghĩa là “từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt” [17; tr.369] Trong khi đó, các tác giả Hoàng Văn Hành và Hồ Lê trong
“Bàn về cách dùng thuật ngữ thuần Việt thay từ ngữ Hán Việt”, Vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt lại cho rằng theo cách hiểu thông thường từ ngữ Hán Việt
là những từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt Bên cạnh đó, hầu như tất cả các từ Hán Việt một âm tiết trong thực tế đều đã được Việt hóa hoàn toàn và được coi như
từ thuần Việt
Tác giả Huỳnh Thanh Xuân trong “Từ Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại”
cho rằng từ Hán Việt là những từ gốc Hán được thu nhập vào trong tiếng Việt Cách đọc từ Hán Việt, hay còn gọi là âm Hán Việt là đọc theo âm Việt những từ gốc Hán
Ví dụ: sơn, thủy, quốc, gia Hơn nữa, trong vốn từ vựng của tiếng Việt, từ Hán Việt chiếm một số lượng rất lớn (trên 70%) [6]
Trong “Từ ngoại lai trong tiếng Việt”, tác giả Nguyễn Văn Khang quan niệm
rằng tất cả những từ Hán có cách đọc Hán Việt đã có ít nhất một lần sử dụng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong văn cảnh giao tiếp thì đều được coi là từ Hán Việt Hơn nữa, chấp nhận là từ Hán Việt ở những biến thể khác nhau khi chúng đảm bảo được những điều kiện như: biến thể đó tuy có thể “đọc chệch phiên thiết” nhưng còn tồn tại trong một kết hợp Hán Việt hoặc bản thân nó đã có sự phân bố sử dụng (ngữ nghĩa) với các biến thể khác cùng gốc Ví dụ như chấp nhận là từ Hán
Việt trong các trường hợp: để (trong để kháng) và đề (trong đề kháng), chính (trong
chính phủ) với chánh (trong chánh văn phòng, chánh án) [15; tr.131]
Theo Nguyễn Văn Khang trong “Từ Hán Việt và vấn đề dạy – học từ Hán
Việt trong nhà trường phổ thông”, từ Hán Việt “trước hết là những từ Hán được
Trang 20đồng hóa về ngữ âm – chúng là những từ Hán có cách đọc Hán Việt được nhập vào tiếng Việt và trở thành yếu tố của hệ thống từ vựng tiếng Việt” Tác giả đã nhận diện
từ Hán Việt qua ba bước:
Bước 1: Tất cả các từ Hán có cách đọc Hán Việt được nhập vào tiếng Việt trở thành yếu tố của hệ thống từ vựng Hán Việt thì đều là từ Hán Việt
Bước 2: Những trường hợp mà một từ Hán nhập vào và hoạt động trong tiếng Việt còn có cách đọc khác, ngoài cách đọc phiên thiết thì phải xem xét từng trường hợp cụ thể Sẽ chấp nhận là từ Hán Việt nếu nó tồn tại ít nhất trong một tổ
hợp Hán Việt (với một yếu tố kia là Hán Việt), ví dụ như : ảo (chữ Hán), chánh
ở những biến thể khác nhau khi những biến thể đó đã có sự phân bố sử dụng (ngữ nghĩa) với các biến thể khác cùng gốc
1.2 Đặc điểm của từ Hán Việt
1.2.1 Đặc điểm cấu tạo của từ Hán Việt
Dựa vào số lượng âm tiết, có thể chia từ Hán Việt thành hai loại: từ đơn âm tiết (một yếu tố) và từ đa âm tiết (nhiều yếu tố)
1.2.1.1 Từ đơn âm tiết Hán Việt
Từ đơn tiết có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống từ vựng tiếng Việt Vì thế, theo tác giả Nguyễn Văn Khang, các từ Hán Việt đơn tiết là nguồn bổ
Trang 21sung quan trọng cho vốn từ tiếng Việt ở cả hai chức năng: chức năng từ và chức năng tạo từ [15;tr.175]
Xét về chức năng từ, các từ Hán Việt có thể được chia thành:
- Những đơn vị đơn tiết Hán Việt hoàn toàn đồng hóa giáng cấp về cương vị
ngữ pháp (từ cương vị từ xuống cương vị hình vị) Ví dụ: vô, phi, bất…
- Những đơn vị đơn tiết Hán Việt đồng hóa giáng cấp về cương vị ngữ pháp
(từ cương vị từ xuống cương vị hình vị) chỉ ở một nghĩa nào đó Ví dụ: bạc “mỏng”,
tạo ra các đơn vị đa tiết Hán Việt mới Ví dụ: hi, sinh (hi sinh), quắc (cân quắc), ai
(trần ai), ải (tự ải), ảm (ảm đạm), ảo (ảo não), ân (ân cần), hi (hi vọng)…
- Các đơn vị đơn tiết Hán Việt chiếm tuyệt đại đa số Chúng một mặt tồn tại trong các từ Hán Việt đa tiết nguyên khối, mặt khác có khả năng tạo ra hàng loạt các
từ đa tiết mới Ví dụ: bách, bản, bất, cố, đồng, liên, -hóa, -tính, -viên…
Trong công trình “Từ Hán Việt trong các văn bản chính luận của chủ tịch Hồ
Chí Minh”, tác giả Vũ Đình Tuấn đã chỉ ra rằng từ Hán Việt đơn âm tiết là những từ
được biểu thị bằng một từ (một văn tự bằng ngữ âm) chiếm một số lượng lớn trong
hệ thống từ Hán Việt Những từ này thường có nghĩa từ vựng gọi tên những sự vật, đặc điểm, tính chất mà tiếng Việt chưa có để gọi tên, nên khi đi vào kho từ vựng tiếng Việt, chúng vẫn giữ được khả năng hoạt động tự do [21]
Tác giả cũng chỉ ra đại bộ phận từ Hán Việt đơn tiết trong tiếng Việt là danh
từ: danh từ chỉ người (ông, bà, quan, dân…), danh từ chỉ động vật (hổ, báo,
phượng…), danh từ chỉ thực vật (tùng, trúc, cúc, mai…), danh từ chỉ đồ vật (quần, sách, bút…) Những danh từ này hoạt động tự do trong tiếng Việt và nhìn chung
chúng rất quen thuộc, cho nên cảm thức tự nhiên của người Việt thường cho các từ
Trang 22đó là từ thuần Việt Trong khi đó, những tính từ và động từ Hán Việt đơn tiết khi đi vào tiếng Việt, khả năng hoạt động độc lập rất ít
Tóm lại, từ đơn âm tiết Hán Việt là những từ được biểu thị bằng một từ (một văn tự bằng ngữ âm) và chiếm một số lượng lớn trong hệ thống từ Hán Việt Chúng một mặt tồn tại trong các từ Hán Việt đa tiết nguyên khối, mặt khác có khả năng tạo
ra hàng loạt các từ đa tiết mới Bên cạnh đó, phần lớn các từ Hán Việt đơn tiết trong tiếng Việt là danh từ vì những tính từ và động từ Hán Việt đơn tiết khi đi vào tiếng Việt, khả năng hoạt động độc lập rất ít
1.2.1.2 Từ đa âm tiết Hán Việt
Xét về mặt số lượng các yếu tố cấu tạo, từ đa âm tiết Hán Việt chiếm số lượng lớn hơn hẳn so với từ đơn tiết (mà phần lớn là từ song tiết) Dựa vào phương thức cấu tạo, từ đa âm tiết Hán Việt được chia thành hai loại là từ ghép và từ láy
Từ ghép:
Theo tác giả Nguyễn Văn Khang, khả năng đồng hóa thay đổi trật tự giữa các yếu tố trong từ đa tiết Hán Việt sẽ diễn ra với từ đa tiết Hán Việt vốn mượn nguyên khối [15;tr.177] Cụ thể:
- Về nguyên tắc, tất cả các từ ghép Hán Việt đẳng lập có thể đảo trật tự giữa
các thành tố: chi thu – thu chi, địch cừu – cừu địch, ẩn bí – bí ẩn, nhiệt náo – náo
nhiệt, phóng thích – thích phóng…
- Đặc điểm không đảo trật tự giữa các thành tố của từ ghép chính phụ tiếng
Việt diễn ra ở các từ Hán Việt chính phụ khi có sự Việt hóa Đặc điểm làm nên sự khác nhau cơ bản về mô hình cấu tạo của từ ghép chính phụ tiếng Việt và tiếng Hán là: trong tiếng Việt là chính + phụ còn trong tiếng Hán là phụ + chính Vì thế, Việt
hóa các từ ghép Hán Việt chính phụ là sự chuyển đổi mô hình cấu tạo Ví dụ: lệ
ngoại – ngoại lệ, cao độ - độ cao, chỉ huy sở - sở chỉ huy, thủy triều – triều thủy, chứng kiến – kiến chứng…
Trong khi đó, tác giả chỉ ra rằng thay yếu tố bằng phép thế từ vựng thường diễn ra đối với các đơn vị từ vựng đa tiết Hán Việt có một (thường là một) thành tố
Trang 23có đơn vị Việt tương đương (đồng nghĩa) hay chính bản thân thành tố đó đã được
Việt hóa (tạo ra biến thể tương đương) [15;tr.181] Ví dụ: hữu ích – có ích, công chủ
- công chúa, tử tô – tía tô, văn vũ – văn võ…
Tác giả Vũ Thị Kim Hoa trong “Từ ghép Hán Việt trong từ ghép tiếng Việt
hiện đại” cũng đã chỉ ra có hai dạng từ ghép tương tự như tác giả Nguyễn Văn
Khang [20] Cụ thể:
- Những từ ghép Hán Việt mượn nguyên khối Hán:
+ Đa số các từ Hán Việt được giữ nguyên về cấu tạo và ngữ nghĩa như các từ
nguyên gốc trong tiếng Hán dù là từ ghép chính phụ hay đẳng lập Ví dụ: cố đô, cố
Từ ghép đẳng lập Hán đã được mượn nguyên khối vào tiếng Việt nhưng lại
bị đảo trật tự để tạo thêm từ mới: cải hối và hối cải, vãng lai và lai vãng, húy kị và
kị húy
Từ ghép chính phụ Hán có trật tự ngược với trật tự tiếng Việt mà trong đó lại có một yếu tố vốn đã được đồng hóa ở mức độ cao để phù hợp với ngữ pháp
tiếng Việt: bộ tổng tư lệnh (tư lệnh tổng bộ), chất kháng sinh (kháng sinh chất)…
- Những từ ghép Hán Việt Việt tạo: là những từ ghép được người Việt cấu tạo bằng cách vay mượn yếu tố cấu tạo và mẫu cấu tạo của tiếng Hán, chúng không có
trong từ điển tiếng Hán Ví dụ: băng tuyết, tiểu đoàn, đại ngôn, đại họa, cao học…
Tác giả Vũ Đình Tuấn cho rằng có hai cách cấu tạo từ ghép Hán Việt:
- Từ ghép chính phụ (từ ghép phân nghĩa): loại từ ghép mà nghĩa của thành
tố này quy định, hạn chế, bổ sung nghĩa cho thành tố kia để tạo nên một nghĩa hoàn chỉnh Các nét nghĩa của hai thành tố gắn bó hữu cơ với nhau Những từ ghép này gồm hai loại:
Trang 24+ Từ ghép có yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau: đây là những từ
có số lượng ít, yếu tố chính đứng trước có thể là tính từ (nhiệt tình, yên thân, khổ
tâm, khốn cực…) hoặc động từ (tận tâm, tốt nghiệp, khai sinh, thưởng thức…)
+ Từ ghép có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau: số lượng các từ
ghép loại này rất lớn và yếu tố chính đứng sau có thể là danh từ (học sinh, nhân loại,
tác phẩm, quốc ca, quốc kỳ, hải quân…), tính từ (tối tân, tương phản, tàn nhẫn, bạo tàn, tương tự…) hoặc động từ (cao hứng, hoan nghênh, lợi dụng, bình phục, du kích…)
- Từ ghép đẳng lập (từ ghép hợp nghĩa): loại từ ghép mà nghĩa của thành tố này quy định, hạn chế, bổ sung nghĩa cho thành tố kia để tạo nên một nghĩa hoàn chỉnh Các nét nghĩa của hai thành tố gắn bó hữu cơ với nhau
+ Các từ có yếu tố trái nghĩa: sinh tử, động tĩnh, nam nữ, lợi hại…
+ Các từ có yếu tố đồng nghĩa, gần nghĩa, hoặc cùng trường nghĩa: cô độc, hưng
thịnh, gian ác, vĩ đại, cao thượng, phân phát, thịnh vượng, hân hoan, lương thiện…
Trật tự của các yếu tố trong từ ghép đẳng lập thường là cố định, những cũng
có một số từ có thể đảo trật tự các yếu tố mà nghĩa vẫn không thay đổi: chung thủy
– thủy chung, biệt li – li biệt, tha thiết – thiết tha…
Từ láy:
Trong “777 khái niệm ngôn ngữ học” của tác giả Nguyễn Thiện Giáp, từ láy
là những từ cấu tạo bằng cách lặp lại thành phần âm thanh của một hình vị hoặc một
từ Có thể phân ra từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận [13;tr 454] Tuy nhiên thực tế
có rất nhiều từ cũng có vẻ là từ láy vì “gây cảm tưởng có sự lặp lại về âm” nhưng không lặp lại bộ phận (hay toàn bộ) ngữ âm Từ láy Hán Việt cũng có những từ như vậy và cả những từ láy mà cả hai yếu tố đều có nghĩa trong thụ cảm của người hiểu biết tiếng Hán
Nhìn chung, từ láy Hán Việt là những từ có các thành tố tạo nên từ láy là yếu
tố Hán Việt Đó có thể là:
- Cả hai thành tố là Hán Việt: hầu hết đều là những từ mượn nguyên khối từ
tiếng Hán Ví du: đinh ninh, lâm li, độc đoán, đường hoàng, lam lũ, khang trang, tư
lự, do dự
Trang 25- Có thể chỉ có một thành tố là yếu tố Hán Việt: đều là những từ láy được tạo
ra trong tiếng Việt Đặc điểm bao trùm lên loại từ láy này là khi tham gia cấu tạo từ láy, các thành tố Hán Việt đóng vai trò là thành tố chính và “có nghĩa”, còn từ láy
được cấu tạo nên thì theo mô hình của từ láy tiếng Việt Ví dụ: khô khốc (khô), biền
biệt (biệt), bạc bẽo (bạc), hậu hĩ (hậu)
Tổng hợp các cách phân loại và giải thích như trên, chúng tôi nhận định rằng
có hai loại từ đa âm tiết Hán Việt: từ ghép và từ láy Trong từ ghép Hán Việt, có hai loại là từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập Từ ghép chính phụ Hán Việt có thể
có sự chuyển đổi mô hình cấu tạo từ phụ + chính sang chính + phụ, trong khi trật tự
từ ghép đẳng lập Hán Việt thường cố định, dù có một số từ có thể đảo trật tự các yếu tố mà nghĩa không thay đổi Bên cạnh đó, từ láy Hán Việt là những từ có các thành tố tạo nên từ láy là yếu tố Hán Việt Cả hai thành tố trong từ láy Hán Việt có thể đều là Hán Việt hoặc có thể chỉ có một thành tố là yếu tố Hán Việt
1.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ Hán Việt
Trong ngôn ngữ, nghĩa hay ý nghĩa có nội hàm rộng (nghĩa của hình vị, nghĩa của từ, nghĩa của câu hay phát ngôn, nghĩa của một văn bản, một diễn ngôn, vv.), và nói chung, nghĩa của ngôn ngữ Theo cách hiểu chung nhất, “nghĩa của từ là các mối quan hệ giữa từ với những cái/thứ mà từ đó chỉ ra Tuy nhiên, quan hệ ở đây không phải mang tính lôgic mà là quan hệ phản ánh và do quy ước của cộng đồng bản ngữ” [18] Đối với các từ mượn, nghĩa của từ còn là hệ quả của một quá trình chuyển di ngữ nghĩa từ ngôn ngữ cho mượn sang ngôn ngữ đi mượn Quá trình
đó diễn ra dưới tác động của hàng loạt các nhân tố trong và ngoài ngôn ngữ như những đặc điểm về mặt loại hình học giữa hai ngôn ngữ, tác động của sự đồng hóa
ở các bình diễn ngữ âm, hình thái học, quá trình tiếp xúc dẫn đến sự vay mượn… Những nhân tố này đều có tác động đến nghĩa của từ Hán Việt, vì thế có thể nhận thấy rằng “bất kì từ Hán Việt nào cũng tham gia vào quá trình đồng hóa ngữ nghĩa theo hướng (1) giữ nguyên nghĩa (bảo lưu ngữ nghĩa) và (2) thay đổi nghĩa (thu hẹp nghĩa hoặc mở rộng, phát triển nghĩa mới)” [15;tr.158]
Trang 261.2.2.1 Sự bảo lưu nghĩa của từ Hán Việt
Một từ Hán Việt được coi là giữ nguyên nghĩa khi từ đó mang nghĩa vốn có
ở trong tiếng Hán vào trong tiếng Việt Việc bảo lưu nghĩa này diễn ra theo nhiều hình thức:
- Các từ Hán Việt mang những khái niệm mới mà trong tiếng Việt chưa có từ tương đương (biểu thị), thì nói chung giữ nguyên nghĩa và hoạt động độc lập Ví dụ:
nghĩa gốc của các từ xuân, hạ, động, tuyết, bút, học…
- Các từ Hán Việt mang những khái niệm mà trong tiếng Việt đã có từ tương đương biểu thị mà chúng muốn bảo lưu về mặt ngữ nghĩa thì xảy ra hai khả năng:
+ Khả năng có sự giáng cấp về chức năng ngữ pháp: đây là khả năng thường gặp nhất, thường xảy ra đối với các từ Hán Việt đơn tiết từ cương vị từ phải chuyển xuống cương vị yếu tố cấu tạo từ Ví dụ: viên (người: nhân viên), phi (bay: phi cơ), bất (không: bất bình), trường (dài: trường cửu)…
+ Khả năng vừa bảo lưu ngữ nghĩa lại vừa bảo lưu cương vị ngữ pháp: khả năng này không nhiều, có hai trường hợp từ đơn tiết “đầu” và “quả” cùng các từ Hán Việt đa tiết được dùng trong các văn bản cũ (hay cổ)
- Các từ Hán Việt giữ nguyên nghĩa gốc, nghĩa ban đầu mà cho đến nay không còn dùng nữa
1.2.2.2 Sự thay đổi nghĩa của từ Hán Việt
Sự thay đổi nghĩa của từ Hán Việt diễn ra theo hai hướng là thu hẹp và mở rộng, phát triển nghĩa mới
độ” (với phạm vi khết hợp hạn chế) Các nghĩa khác như “tất cả”, “thống nhất”,
“cùng nhau”, “mỗi lần”, “mỗi một”… vốn có trong tiếng Hán đã không được sử
Trang 27dụng trong tiếng Việt
+ Việc bớt các nét nghĩa, cũng có khi là sự hạn chế phạm vi sử dụng từ Hán Việt với nghĩa cụ thể
Ví dụ: từ “bì” trong tiếng Hán có nghĩa là “tổ chức mặt bên ngoài của người
hay sinh thực vật” và tương đương với cách dùng trong tiếng Việt: “da của người” (nhân bì), “da của động vật” như lợn (trư bì), bò (ngưu bì), “vỏ của thực vật” như cây (thụ bì) Ngày nay, “bì” chuyển nghĩa trong tiếng Việt theo hướng thu hẹp: (1)
Da của lợn, bò… dùng làm thức ăn; (2) Mô bọc mặt ngoài cơ thể sinh vật (nghĩa chuyên môn); (3) Lớp vỏ ngoài của một số giống cây
- Mở rộng nghĩa: là việc các nét nghĩa cũng có khi được mở rộng cách dùng
hoặc thêm các nghĩa mới Ví dụ: từ “bì” ngoài ba nghĩa đã nêu ở phần thu hẹp nghĩa thì còn phát triển thêm nghĩa mới là “vật dùng làm bao, làm vỏ bọc ngoài của
hàng hóa”
1.3 Từ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt
1.3.1 Khái niệm tâm lý tình cảm
Con người là động vật cao cấp có tâm lí tình cảm và có tư duy, biết lao động và
có ngôn ngữ Các loài động vật khác cho đến nay được biết đều không có những đặc điểm này Những đặc điểm này phân biệt loài người với tất cả các loài động vật khác
Cho đến nay, tâm lí tình cảm của con người đã được nhiều ngành khoa học quan tâm, nghiên cứu và đạt được nhiều thành tựu Trong số này nổi bật lên là hai ngành tâm lí học và ngôn ngữ học
1.3.1.1 Khái niệm tình cảm
Theo tâm lí học, tình cảm, cảm xúc biểu thị thái độ chủ quan của con người đối với thế giới khách quan Tình cảm, cảm xúc không phản ánh bản thân sự vật khách quan như nhận thức mà phản ánh quan hệ giữa sự vật khách quan với nhu cầu
và động cơ hoạt động ở bên trong của con người Tuy nhiên, tình cảm phân biệt với cảm xúc
Cảm xúc là phản ứng trực tiếp của con người đối với sự vật và sự việc bên
Trang 28ngoài trong sự thỏa mãn nhu cầu cơ thể nào đó Cảm xúc là thuộc tính của con
người và cũng có ở cả động vật Hơn nữa, cảm xúc có tính nhất thời Trong khi đó,
tình cảm là thái độ của con người đối với thế giới bên ngoài trong việc thỏa mãn nhu cầu xã hội nào đó Tình cảm mang tính chất xã hội nên chỉ có ở con người Ở động vật không có tình cảm mà chỉ có cảm xúc Nếu như động vật có những biểu
hiện của cảm xúc như hài lòng, mừng rỡ, giận dữ, sợ… thì chúng hoàn toàn xa lạ với các loại tình cảm như yêu, nghi ngờ, kính trọng, xấu hổ… Tình cảm mang tính
bền vững, ổn định: đó là một thái độ chung hơn, khái quát hơn Một tình cảm có thể
biểu hiện bằng nhiều cảm xúc khác nhau, ở nhiều thời điểm khác nhau
Xuất phát từ đặc trưng hình thành của tình cảm, tâm lí học phân ra ba loại
tình cảm khác nhau: tình cảm của trí tuệ, tình cảm của đạo đức, tình cảm của thẩm
mĩ Tình cảm trí tuệ nảy sinh trong quá trình hoạt động nhận thức, như tò mò, tin tưởng, nghi ngờ, hoài nghi… Tình cảm đạo đức hình thành và phát triển trong quá
trình chung sống với nhau của con người, biểu hiện tình đồng loại, tình cảm tập thể,
tình cảm nghĩa vụ, lương tâm như thương, yêu, thông cảm, thông cảm, hổ thẹn, ân
hận, căm thù… Tình cảm thẩm mĩ lại hình thành và phát triển trong sự cảm thụ về
cái đẹp như yêu thích, ngưỡng mộ, say đắm, ghê tởm, kinh…
Ba cách phân loại trên của tâm lí học giúp tìm hiểu sâu ngữ nghĩa của lớp từ này
của ngôn ngữ học, đặc biệt là sự phân loại thành cảm xúc – trạng thái nhất thời (hay tình cảm – trạng thái) và tình cảm – trạng thái bền vững (hay tình cảm – quan hệ)
Theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê (chủ biên), tình cảm là “sự rung
động trong lòng trước một đối tượng nào đó” hoặc “sự yêu mến gắn bó giữa người với người” [5;tr.996] Tác giả Ly Lan đã chỉ ra rằng các nghiên cứu cho thấy, mặc
dù “tình cảm” là một thuật ngữ chung được sử dụng để chỉ những xúc cảm mang tính chủ quan của cá nhân, thể hiện các tâm trạng của con người, nhưng trong tư cách là những trạng thái xúc cảm tâm lí thuộc về thế giới nội tâm của con người [9]
1.3.1.2 Khái niệm tâm lý
Trong tâm lý học, các hiện tượng tâm lý là một hiện tượng tinh thần do thế
Trang 29giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, gọi chung là các hoạt động tâm
lý Về bản chất, tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan của não vì tất cả các quá trình tâm lý từ đơn giản đến phức tạp đều xuất hiện trên cơ sở hoạt động của não và tâm lý người có nguồn gốc là thế giới khách quan Tâm lý cũng mang tính chủ thể vì khi phản ánh cùng một đối tượng trong thế giới khách quan, mỗi cá nhân đều có các hình ảnh tâm lý khác nhau qua lăng kính chủ quan của mình Tâm lý người có bản chất xã hội – lịch sử vì tâm lý người được hình thành trong điều kiện môi trường xã hội, phản ánh các mối quan hệ xã hội và thay đổi theo sự vận động
và biến đổi không ngừng của xã hội
Trong “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê (chủ biên), tâm lý được định
nghĩa là “toàn bộ nói chung sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con người, bao gồm nhận thức, tình cảm, ý chí, v.v., biểu hiện trong hoạt động và cử chỉ của mỗi người” Đó cũng là những “nguyện vọng, ý thích, thị hiếu, v.v riêng của mỗi người, trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó” [5;tr.897]
Dựa trên các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học và tâm lí học, cũng như các phân tích của mình, chúng tôi thấy rằng các từ chỉ tâm lý tình cảm là các từ mô
tả các sắc thái cảm xúc và tâm trạng cũng như các hiện tượng tâm lý diễn ra của do
sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con người Đây cũng là cơ sở để chúng tôi phân loại các nhóm từ chỉ tâm lý tình cảm trong chương tiếp theo
1.3.2 Các từ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt
Trong ngôn ngữ học, cho đến nay đã có nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu
các từ chỉ tâm lí tình cảm (emotion): Séc – ba (1982), Z Vendler (1968), W.L
Chafe (1962), O.N Xelivrxtova (1982), J Lyons (1968), Hoàng Văn Hành (1977),
Vũ Thế Thạch (1985), Nguyễn Ngọc Trâm (1991)…
Trong tiếng Việt, nhóm từ biểu thị tâm lí tình cảm cho đến nay được đề cập đến trong các công trình ngữ pháp học tiếng Việt, từ vựng học tiếng Việt: (Nguyễn Tài Cẩn, 1975; Nguyễn Kim Thản, 1977; Hoàng Tuệ, 1962; Ngữ pháp tiếng Việt,
1983, Đinh Văn Đức, 1986.) Trong tiếng Việt, những từ này được xem là các động
Trang 30từ có khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ, giống tính từ (ss: rất vui, ghét
quá vs rất đẹp, to quá.) Hai lĩnh vực từ pháp học (morphology) và cú pháp học
(syntax) về các từ tâm lí tình cảm đã được nghiên cứu sâu và đã có nhiều thành tựu
Nguyễn Tài Cẩn (1975), dựa vào khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ
như hơi, rất, quá… để phân biệt những “động từ có khả năng tăng giảm mức độ” như yêu, ghét, lo, sợ, giận, cáu, tin, ngờ, nghi… với những động từ không có khả năng tăng giảm mức độ như đánh, ngồi
Nguyễn Kim Thản (1977) dựa vào “sự phân phối của các từ hư phục vụ động từ” để chia động từ tiếng Việt ra sáu nhóm trong đó hai nhóm 5 và 6 phần lớn là chỉ các từ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt
Hoàng Tuệ (1962) dựa vào từ chứng “rất”, “xong”, hình thức phản điệp có
giá trị giảm nghĩa và dựa vào ý nghĩa để chia phạm trù A (vị từ hay thuật từ) ra thành các phạm trù nhỏ tính từ, trạng từ, động từ Về mặt ngữ pháp, phạm trù tính
từ và trạng từ cùng có khả năng đứng sau từ chứng “rất” (rất đẹp, rất sợ), không có
khả năng đứng trực tiếp trước từ chứng “xong” và tạo thành hình thức phản điệp
song tiết có giá trị giảm nghĩa (đèm đẹp, sờ sợ) Ngược lại, phạm trù động từ không
có khả năng đứng sau từ chứng “rất” (*rất ăn, rất ngủ), có khả năng trực tiếp đứng trước từ chứng “xong” (ăn xong, ngủ xong) Dựa vào mặt ý nghĩa thì nên phân ra ba
phạm trù nhỏ: tính từ “có ý nghĩa tính chất”, trạng từ “có ý nghĩa trạng thái tâm lí, ý thức”, động từ “có ý nghĩa hoạt động” Trong bảng phân loại cuối cùng, trạng từ
được minh họa bằng yêu, mến, phục, sợ, biết, hiểu, nhớ…
Trong Ngữ pháp tiếng Việt (1983) cũng phân động từ thành nhiều tiểu loại trong đó có nhóm “động từ cảm nghĩ” Theo các tác giả, các động từ này (như nghe,
biết, tin, yêu, nhớ, nghi ngờ…) “khi dùng làm chính tố thì sau nó có phụ tố chỉ sự
vật đã tác động tới hoạt động mới đủ nghĩa” Hơn nữa, trước chính tố có thể dùng phụ từ chỉ mức độ
Tác giả Đinh Văn Đức (1986) lại xử lí các từ chỉ tâm lí tình cảm như các tính
từ Tác giả cho rằng “tính từ còn bao gồm những đặc trưng hình thành theo nhận
Trang 31thức chủ quan của con người trong quan hệ với đối tượng – những quan hệ của
trạng thái tình cảm (vui, buồn, thương, yêu, khinh, trọng)” cho nên đấy lại là những
từ mà “từ một phương diện khác còn có thể coi là động từ chỉ cảm xúc”
Như vậy, nói chung các từ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Việt được các nhà nghiên cứu tách riêng ra thành một nhóm mang đặc điểm riêng Phần lớn các tác giả coi đấy là những động từ: động từ tri giác, động từ cảm nghĩ Tác giả Hoàng Tuệ lại gọi chúng là “trạng từ”, một tiểu loại của vị từ, đứng giữa tính từ và động từ Trong khi đó, tác giả Đinh Văn Đức tuy coi các từ biểu thị tâm lí tình cảm là tính từ nhưng vẫn thừa nhận “có thể coi là động từ chỉ cảm xúc”
Một số ít từ biểu thị tâm lí tình cảm khác như vui, buồn… được các nhà
nghiên cứu coi là tính từ (Hoàng Tuệ, 1962; Nguyễn Kim Thản, 1963; Nguyễn Tài
Cẩn, 1975, Ngữ pháp tiếng Việt, 1983) Riêng Từ điển tiếng Việt (1988) coi vui,
buồn là “tính từ (và động từ).”
Tất cả những điều nói trên nói lên nói lên đặc điểm riêng về mặt từ loại của các từ chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt Phần lớn những từ này mang đặc điểm từ loại động từ, một số ít mang đặc trưng tính từ, hay có đặc trưng vừa của động từ, vừa của tính từ Như vậy, hiện tượng tâm lí tình cảm được biểu thị trong tiếng Việt
chủ yếu bằng từ loại động từ Điều này hợp lí và phù hợp với ý nghĩa từ loại của
động từ là lớp từ có ý nghĩa khái quát về hoạt động, trạng thái
Ở nhiều ngôn ngữ, ngoài việc dùng động từ biểu thị trạng thái hoạt động tâm
lí tình cảm, trạng thái của nội tâm vẫn song song tồn tại tính từ biểu thị tính chất và danh từ để gọi tính sự vật của trạng thái tình cảm đó, ví dụ: tiếng Nga
Khi nghiên cứu đặc điểm cú pháp của các từ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt, người ta đã chỉ ra rằng ngữ đoạn (phrase) có chứa từ tâm lí tình cảm có những đặc điểm sau đây:
Đối với các ngữ đoạn có động từ tâm lí tình cảm làm trung tâm, ở phần đầu
cũng xuất hiện những phụ từ đứng ở phần đầu như đã, đang, hãy, đừng… Tuy nhiên,
ở vị trí này cũng như ở phần sau của đoản ngữ còn có thể có các phụ từ chỉ mức độ
Trang 32rất, hơi, quá, lắm… khiến cho các đoản ngữ này khác hẳn các động ngữ thông
thường Nói chung, phần sau của động ngữ phức tạp hơn
Một số động từ thẹn, ngạc nhiên, vui, buồn… không có yếu tố chỉ đối tượng
trực tiếp Trường hợp này gần giống các động từ nội động biểu thị trạng thái như
ngủ, nằm, đi…
Một số động từ yêu, ghét, giận, sợ, thích, thương, tin, trọng… có yếu tố chỉ
đối tượng như những động từ ngoại động Nhưng đối tượng ở đây lại là sự vật có tác động tới hoạt động tâm lí tình cảm, ví dụ:
(1) Nó sợ chó
(2) Giận bố mẹ
(3) Tôi yêu Việt Nam
Khi nghiên cứu tâm lí tình cảm cũng như các từ chỉ tâm lí tình cảm trong ngôn ngữ, cả tâm lí học lẫn ngôn ngữ học đều tiến hành phân loại tâm lí tình cảm thành các phạm trù hay các lớp/nhóm khác nhau với mục đích hiểu rõ bản chất của chúng
Cho đến nay, trong tâm lí học đã có nhiều cách phân loại khác nhau như đã giới thiệu trong nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả: Plutchik (1962, 1994); Russel (1980), Desmes (2002), Turner (1996), Shaver (1987), Gerrod Parrott (2001) (chi tiết, xem Trần Mỹ Linh, 2017) Tâm lí tình cảm hay gọi chung là cảm xúc cũng được phân chia thành ba bậc: cảm xúc bậc 1, cảm xúc bậc 2, và thậm chí
cả cảm xúc bậc 3
Trong ngôn ngữ học tiếng Việt, cho đến nay có ít nhất hai bảng phân loại các
từ chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt, đó là: bảng phân loại của Nguyễn Ngọc Trâm (1991), và bảng phân loại của Trần Mỹ Linh (2017)
Nguyễn Ngọc Trâm (1991), sau khi trình bày các ý kiến của các nhà nghiên cứu như Séc – ba (1982), Z Vendler (1968), W.L Chafe (1962), O.N Xelivrxtova (1982), J Lyons (1968), Hoàng Văn Hành (1977), Vũ Thế Thạch (1985) về ngữ nghĩa các từ chỉ tâm lí tình cảm trong các ngôn ngữ như tiếng Nga, tiếng Anh, đã đưa ra một bảng phân loại các từ chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt với 19 nhóm
Trang 33nhỏ, dựa trên 3 tiêu chí tác động qua lại nhau là chủ thế, đối tượng, nguyên nhân 19 nhóm từ chỉ tâm lí tình cảm, theo Nguyễn Ngọc Trâm, là: nhóm 1: vui – buồn; nhóm 2: tự hào – xấu hổ; 3: thỏa mãn; 4: chán; 5: giận; nhóm 6: tiếc; nhóm 7: thương; nhóm 8: thích; nhóm 9: hi vọng – tuyệt vọng, vô vọng; nhóm 10: sợ; nhóm 11: tin – ngờ; nhóm 12: trọng – khinh; nhóm 13: yêu – ghét; nhóm 14: ngạc nhiên; nhóm 15: dửng dưng; nhóm 16: muốn; nhóm 17: đau; nhóm 18: nhớ - quên; nhóm 19: xúc động
1.3.3 Đặc điểm ngữ nghĩa các từ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt
Nguyễn Ngọc Trâm (1991) trong luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn Đặc
trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của nhóm từ biểu thị tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt
đã tiến hành nhận diện, phân loại, miêu tả, giải thích các đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của nhóm từ chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt Theo tác giả này, nghĩa của các từ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt có các đặc điểm sau:
Đặc điểm về cấu tạo: nghĩa từ biểu thị phản ứng tâm lí tình cảm gồm hai
cụ thể khác nhau Các nét nghĩa của thành tố A bao gồm:
+ Trạng thái tâm lí tình cảm dương tính/ âm tính/zero
+ Thái độ tình cảm kèm theo phản ứng tâm lí
+ Thời gian diễn biến của tâm lí tình cảm: thời gian xác định/thời gian không xác định
+ Mức độ của tâm lí tình cảm: mức độ cao/ thấp/ trung bình…
Các nét nghĩa của thành tố B bao gồm:
Trang 34Nguyên nhân của trạng thái tâm lí tình cảm được đánh giá về nhiều mặt và
có thể được khái quát lại thành bốn nội dung đánh giá chủ yếu sau đây:
- Z phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của chủ thể (vui
– buồn)
- Z nguy hiểm hay không nguy hiểm, có khả năng hay không có khả năng
gây tổn thất (sợ - yên tâm)
- Z là thật, đúng hay không thật, sai (tin – ngờ)
- Z có giá trị cao, có ý nghĩa quan trọng hay trái lại, có giá trị thấp, không có
a) Z đã xảy ra, đang xảy ra (tiếc, ngạc nhiên)
b) Z chưa xảy ra, nhưng có khả năng xảy ra (mong, hồi hộp)
c) Z chưa xảy ra và không có khả năng xảy ra (vô vọng)
Trên cơ sở phân tích cấu tạo nghĩa của các từ tâm lí tình cảm, tác giả đã chỉ
ra cấu trúc nghĩa tổng quát của chúng:
Cấu trúc nghĩa của từ bậc I
chuyển nghĩa đều đặn sang từ tâm lí tình cảm như: đau tay đau lòng, vết thương xót xót của xót con, say thuốc say công việc…
Trang 35Sự khác nhau giữa các từ tâm lí tình cảm và các từ biểu thị cảm giác được thể hiện ở các điểm sau:
- Cảm giác là phản ứng tại chỗ, cục bộ ở một bộ phận cơ thể (đau tay, nhức
đầu, đói bụng) còn tình cảm là phản ứng của con người với tư cách là một chỉnh thể
- Cảm giác là một phản ứng tiêu cực, chỉ gây ra biến đổi cho chính chủ thể; còn tình cảm thì bao gồm cả phản ứng tiêu cực, cả phản ứng tích cực, thể hiện một mong muốn mạnh mẽ với hiện thực
- Bộ phận đánh giá ở nghĩa từ cảm giác rất đơn giản: đó chỉ là một sự đánh giá tự phát, phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu cơ thể Trong khi đó, bộ phận đánh giá của nghĩa từ tâm lí tình cảm lại phức tạp có sự tham gia của lí trí
Cảm giác là phản ứng trực tiếp trước tác động của hiện thực không qua phân tích của tư duy, của lí trí Quá trình hình thành cảm giác gắn với quá trình cảm nhận hiện thực, còn quá trình hình thành tình cảm gắn với quá trình phân tích hiện thực
Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Ngọc Trâm (1991) còn chỉ ra sự phân biệt giữa trạng thái và tính chất Tác giả đã dẫn ra 7 đặc trưng của trạng thái mà O.N Xeliberxtova (1982) đã chỉ ra Trên cơ sở này, tác giả xác định tâm lí tình cảm mang đặc trưng của phạm trù trạng thái chứ không phải phạm trù hành động hay quá trình
Từ chứng mà tác giả dựa vào là cho các từ kết hợp với “xong” Trạng thái là hiện tượng trung gian giữa tính chất và hành động, quá trình: vừa có đặc trưng của tính chất (tĩnh), vừa có đặc trưng của hành động, quá trình (gắn với thời gian, xảy ra trong từng thời đoạn) Trạng thái tâm lí tình cảm cũng là hiện tượng trung gian, nhưng có nhiều đặc trưng động hơn Tính chất trên quy định đặc điểm ngữ nghĩa của từ biểu thị tâm lí tình cảm
Tóm lại, nói chung, vị từ tâm lí tình cảm biểu thị trạng thái, biểu thị một hiện tượng tĩnh Trong những vị từ biểu thị trạng thái, vị từ tâm lí tình cảm là nhóm đặc biệt: trạng thái biểu thị là trạng thái có mức độ Vị từ tâm lí tình cảm tiếng Việt còn
có một nhóm nhỏ biểu thị tình cảm quan hệ Chúng có đặc điểm của vị từ biểu thị quan hệ thường xuyên, khái quát, nhưng đồng thời cũng có khả năng biểu thị một
Trang 36trạng thái nhất thời, cụ thể
Trên cơ sở hai phân biệt nêu trên (phân biệt từ tâm lí tình cảm với từ biểu thị cảm giác, phân biệt từ chỉ trạng tâm lí tình cảm với các từ chỉ hành động, quá trình, tính chất), tác giả đã tiến hành phân loại các từ tâm lí tình cảm thành 19 nhóm khác nhau
1.4 Một số vấn đề đối chiếu song ngữ Việt Hán và Hán Việt
Bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới cũng có chuẩn mực riêng và có hệ thống văn tự riêng (đối với tiếng Việt có chữ quốc ngữ Việt Nam và tiếng Hán có chữ Hán) Mặt khác, cả tiếng Hán và tiếng Việt đều có nhiều phương ngữ Tiếng Việt có
ba phương ngữ lớn (phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam ứng với ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam) Trong khi đó phương ngữ tiếng Hán phong phú và phức tạp cả về số lượng các phương ngữ (theo đa số các ý kiến thì tiếng Hán hiện nay có 7 phương ngữ: phương ngữ Bắc, Ngô, Tương, Cán, Khách Gia [hakka], Mân, Việt) lẫn mối quan hệ giữa tiếng phổ thông và phương ngữ cũng như mối quan hệ giữa các phương ngữ với nhau
Hơn nữa, ở Việt Nam và ở Trung Quốc, khái niệm “tiếng phổ thông” trong tiếng Việt và khái niệm “phổ thông thoại” trong tiếng Hán cũng khác nhau về nội hàm
Ở Trung Quốc, khái niệm “phổ thông thoại” nằm trong mối quan hệ giữa các phương ngôn và phân biệt giữa các phương ngôn với nhau Còn ở Việt Nam, khái niệm “tiếng
phổ thông” là đặt trong mối quan hệ giữa “tiếng Việt toàn dân” và tiếng Việt ở các địa
phương/phương ngữ Ở Việt Nam, người ta nói khái niệm “tiếng phổ thông” với ý
nghĩa phân biệt hoặc nằm trong mối quan hệ giữa tiếng Kinh – dân tộc có dân số đông nhất Việt Nam và các ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam
Vì vậy, khi đối chiếu song ngữ Việt Hản, một nhiệm vụ cần phải chỉ rõ là đối
chiếu hai ngôn ngữ chuẩn hay đối chiếu một ngôn ngữ chuẩn mực với một phương
ngữ của ngôn ngữ kia
Xét về loại hình học ngôn ngữ, cả tiếng Việt và tiếng Hán đều là các ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính, có thanh điệu, từ không biến đổi hình thái, và có ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị bằng trật tự từ, hư từ, và ngữ điệu Những đặc điểm này của
Trang 37tiếng Hán và tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác ở châu Á có sự khác biệt với các ngôn ngữ Ấn Âu Chính những đặc điểm này đã gây khó khăn cho việc đối chiếu song ngữ Hán Việt do sự khác nhau giữa chúng
Chẳng hạn, về mặt ngữ âm, cấu trúc của âm tiết trong tiếng Hán và của âm tiết tiếng Việt nhìn chung giống nhau, đều có mô hình [C1wVC2] + thanh điệu (C: phụ âm; V: nguyên âm; w: âm đệm) Trong âm tiết tiếng Việt và tiếng Hán, thanh điệu bao trùm lên toàn bộ âm tiết Tuy nhiên, khi xem xét một cách cụ thể, chúng lại
có nhiều điểm khác nhau
Bên cạnh sự khác nhau một cách tường minh như số lượng nguyên âm, phụ
âm, âm cuối, thanh điệu hoặc ngôn ngữ này có âm này còn ngôn ngữ khi lại không, thì có rất nhiều sự khác nhau khác có thể gây nhầm lẫn là chúng giống nhau
Ví dụ, mức độ của các đường nét cao, gãy giữa thanh điệu của tiếng Hán và của
tiếng Việt có sự khác nhau rất rõ ràng (như giữa thanh ngang/ không dấu với bình
thanh; giữa thanh sắc với dương bình; giữa thanh hỏi, thanh ngã với thướng thanh,
giữa thanh nặng với khứ thanh) Các vận mẫu của tiếng Hán như ian, yan, iang,
yang, iao,yao, iong, yong… có đặc điểm rất khác với tiếng Việt Nếu chúng được
xem là tương ứng với cách phát âm tiếng Việt, dan, dang, dao, dung… là rất một
thách thức đối với việc dạy và học phát âm tiếng Hán Đối chiếu hai ngôn ngữ với nhau sẽ giúp tìm ra những khác biệt để phục vụ cho quá trình giảng dạy ngôn ngữ của cả hai ngôn ngữ Vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu âm tiếng Hán và Việt trở thành một nhiệm vụ quan trọng hơn bao giờ hết
Về bình diện ngữ pháp, cả tiếng Hán và tiếng Việt đều có ý nghĩa ngữ pháp biểu thị bằng trật tự từ, hư từ, và ngữ điệu, mặc dù có sự khác nhau giữa hai ngôn ngữ Sự khác biệt thường được nhắc đến là từ và câu của tiếng Hán, trật tự của các thành tố trong danh ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt Ngoài ra, còn có thể thấy hàng loạt những đặc điểm khác nhau khác nếu tiến hành đối chiếu một cách tỉ mỉ,
hệ thống, và toàn diện giữa hai ngôn ngữ với nhau Chẳng hạn, đối chiếu cách dùng
bổ ngữ chỉ mức độ của tiếng Hán khác và tiếng Việt, vị trí của thành phần trạng ngữ
Trang 38trong câu Xét về mặt cấu tạo từ, tiếng Việt và tiếng Hán đều giống nhau ở chỗ cả
hai ngôn ngữ đều có từ đơn và từ phức (từ hợp thành) theo cách phân loại truyền
thống Tuy nhiên, khi đi vào từng nội dung cụ thể lại xuất hiện nhiều vấn đề Ví dụ,
ở Trung Quốc, trong nhiều tài liệu về ngữ pháp của tiếng Hán, khái niệm phụ tố (bao gồm tiền tố, hậu tố) được chấp nhận Trong khi đó, ở Việt Nam, giới Việt ngữ học lại không quan tâm nhiều đến khái niệm này bởi vì tiếng Việt không có phụ tố Một ví dụ khác, một số từ phức tiếng Hán có cấu trúc động - tân có khả năng tách ra
để trở thành bổ ngữ hoặc thành phần khác, nhưng các động từ tiếng Việt lại không
có khả năng này
Ngôn ngữ học đối chiếu ra đời vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những phân môn có nhiều đóng góp nhất trong ứng dụng ngôn ngữ học vào trong việc dạy - học ngoại ngữ và dịch thuật
Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt sự khác nhau giữa ngôn ngữ học đối chiếu với ngôn ngữ học lịch sử hay so sánh lịch sử Sự khác nhau nằm ở chỗ ngôn ngữ học lịch sử có nhiệm vụ xác định quan hệ họ hàng thân thuộc giữa các ngôn ngữ,
tức là lịch sử của ngôn ngữ Ngôn ngữ học đối chiếu mặt khác chuyên nghiên cứu
đồng đại, chú ý tới các đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ mà thường là hai ngôn ngữ Một trong những mục đích của ngôn ngữ học đối chiếu là nhằm khắc phục các lỗi do những người nói bản ngữ gây ra và thông qua việc đối chiếu ở các bình diện như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, tu từ… giữa các ngôn ngữ để tìm ra các mối quan hệ như sự biến đổi, sự đối ứng, giao thoa giữa các ngôn ngữ, giúp cho việc dạy học ngôn ngữ nói chung và ngoại ngữ nói riêng
Cho đến nay, ngôn ngữ học đối chiếu, một mặt vẫn quen thuộc với nhiệm vụ vốn có là đối chiếu các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng- ngữ nghĩa trong cấu trúc - hệ thống của ngôn ngữ và mặt khác, đối chiếu ngữ dụng gắn với các nhân tố văn hoá - dân tộc - xã hội
Đối chiếu song ngữ Việt Hán và Hán Việt cũng không nằm ngoài những những vấn đề đối chiếu của ngôn ngữ học nói chung
Trang 39Một hướng mới trong đối chiếu song ngữ là đối chiếu ngữ dụng, tức là đối chiếu việc sử dụng ngôn ngữ Đối chiếu ngữ dụng gắn với giao tiếp ngôn ngữ trong đời sống, trong đó có cả những nhân tố ngôn ngữ và đặc biệt là những nhân tố
“ngoài ngôn ngữ” được chú trọng (như xã hội, văn hoá, dân tộc/tộc người…) Tuy nhiên, khác với đối chiếu cấu trúc - hệ thống ngôn ngữ, đối chiếu sử dụng ngữ dụng mang tính “mở”, bởi giao tiếp ngôn ngữ với các chiến lược giao tiếp vốn là một hoạt động xã hội của con người gắn với hàng loạt các hành vi xã hội khác
Trong việc đối chiếu ngữ dụng Việt Hản cũng như Hán Việt, nội dung đối chiếu là gì cũng như phương pháp tiếp cận và thủ pháp xử lí cho phù hợp cần được xác định và lựa chọn Chẳng hạn, từ góc nhìn ngôn ngữ trong hành chức với tư cách
là biến thể, có thể tiến hành đối chiếu cả một cuộc thoại hoàn chỉnh hoặc chỉ một
âm vị được sử dụng trong giao tiếp với các biến thể khác nhau Có những nội dung tưởng như đã biết nếu đối chiếu cấu trúc - hệ thống ngôn ngữ, nhưng nếu xem xét ở góc độ ngữ dụng có thể tìm ra những tương đồng – dị biệt trong cách sử dụng và giải thích lí do cho những tương đồng, dị biệt này Ví dụ, tại sao người Việt khi sử dụng tiếng Hán lại phải thêm từ xưng hô trong khi người Trung Quốc sử dụng tiếng Việt thì ngược lại (ít sử dụng từ xưng hô)? Tại sao người Việt trong giao tiếp bằng tiếng Hán và người Trung Quốc trong giao tiếp bằng tiếng Việt thường sử dụng các trợ từ/tiểu từ tình thái một cách nghèo nàn và thiếu chính xác? Phải chăng cách sử dụng lớp từ xưng hô, các tiểu từ tình thái này đã vượt ra ngoài tính cấu trúc - hệ thống của ngữ pháp truyền thống mà gắn chặt với các đặc điểm văn hoá, thói quen của người bản ngữ
Tiếp xúc ngôn ngữ Việt Hán đã diễn ra từ lâu và sâu đậm Hệ quả của sự tiếp xúc này là ảnh hưởng qua lại giữa hai ngôn ngữ, đặc biệt là ảnh hưởng của tiếng Hán đối tiếng Việt mà ảnh hưởng rõ ràng nhất là sự xuất hiện của các từ mượn Hán trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt hiện nay, có một số lượng lớn các từ gốc Hán; trong đó các
từ chiếm số lượng lớn nhất và dễ nhận ra nhất là các từ Hán Việt Lí do là vì thời
Trang 40gian tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt rất lâu dài với nhiều nhân tố ngôn ngữ – xã hội phức tạp đã làm cho từ mượn Hán trong tiếng Việt tồn tại thành tầng tầng lớp lớp Chính điều này đã làm cho từ mượn Hán nói chung và từ Hán Việt nói riêng trở thành một thách thức, một rào cản đối với những người nói song ngữ Việt Hán và Hán Việt, và vì thế chúng là một nội dung không thể thiếu khi tiến hành đối chiếu song ngữ Hán Việt Chẳng hạn:
Tại sao khi nghe cách đọc Hán Việt lại có cảm giác rất gần với âm đọc tiếng Hán phổ thông Hiện đại của các từ tương ứng? Sự tương ứng đó là như thế nào, có thể rút ra được quy luật không, đồng thời, thông qua mối tương ứng đó có thể đưa
ra những nhận xét gì về cả mối quan hệ đồng đại và lịch đại Ví dụ: bian- biên; guo-
quốc, kong- không, zhang-trưởng, an-an, lu-lộ
Các từ Hán Việt trong tiếng Việt trước hết mang theo ý nghĩa của cổ Hán ngữ Chính vì thế đã có tác giả cho rằng, muốn tìm ý nghĩa của từ Hán cổ hãy tìm trong
từ Hán Việt, từ Hán Triều và từ Hán Nhật, tức là những khu vực lân cận chịu ảnh hưởng của văn hóa và ngôn ngữ Hán Tiếp theo, dưới tác động của các nhân tố ngôn ngữ – xã hội, các từ Hán cổ đã có những biến động nghĩa rất khác nhau khi được sử dụng trong các ngôn ngữ khác nhau (cụ thể ở đây là trong tiếng Hán hiện đại và trong tiếng Việt hiện đại) Không chỉ có vậy, quá trình biến động về nghĩa từ đã làm cho không còn có sự tương đương (dù chỉ là sự tương đương “tối thiểu”) giữa từ Hán Việt với từ của tiếng Hán hiện đại
1.5 Tiểu kết
Từ những quan điểm, cách giải thích của các nhà nghiên cứu và những phân tích của mình, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
- Cần phân biệt rõ các khái niệm yếu tố gốc Hán, cách đọc Hán Việt để hiểu
rõ khái niệm từ Hán Việt Theo đó:
+ Yếu tố Hán Việt là những yếu tố mượn từ tiếng Hán thông qua cách đọc tiếng Việt Những yếu tố này có thể được dùng độc lập hoặc không độc lập trong tiếng Việt