Trong bối cảnh đó, để góp phần tìm hiểu về làng Việt ở đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đô thị hóa đã và đang diễn ra ở cả khu vực nội đô và các làng ven đô, tôi nghiên cứu biến đổi là
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-◊ -
NGÔ THỊ CHANG
ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN LÀNG NGỌC THAN,
XÃ NGỌC MỸ, HUYỆN QUỐC OAI, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ NHÂN HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-◊ -
NGÔ THỊ CHANG
ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN LÀNG NGỌC THAN,
XÃ NGỌC MỸ, HUYỆN QUỐC OAI, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ NHÂN HỌC CHUYÊN NGÀNH NHÂN HỌC
MÃ SỐ: 60.31.03.02
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Văn Sửu
HÀ NỘI - 2016
Trang 3Lời cam đoan
Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng.Tôi chịu trách nhiệm về chất lượng của công trình nghiên cứu này
Tác giả luận văn
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Ngô Thị Chang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn với đề tài “Đô thị hóa và biến đổi không gian làng Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Nội”, tôi xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Sửu, người thầy đã hướng dẫn, góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn tập thể các thầy cô giáo Khoa Nhân học đã dạy dỗ và chỉ bảo tôi về mặt tri thức Cảm ơn Trung tâm Thông tin Văn hóa các dân tộc và lãnh đạo trung tâm
đã tạo điều kiện, hỗ trợ và động viên tôi về mọi mặt trong quá trình tôi theo học chương trình thạc sĩ và thực hiện luận văn này
Đặc biệt, tôi không thể hoàn thành luận văn này nếu không có lòng hiếu khách,
sự giúp đỡ và cung cấp thông tin của của lãnh đạo địa phương và nhiều người dân ở làng Ngọc Than đã nhiệt tình cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý báu trong thời gian điền dã dân tộc học ở làng
Cuối cùng, tôi xin dành tình cảm đặc biệt cho gia đình và bạn bè, những người
đã động viên, khuyến khích và tạo những điều kiện cần thiết để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Ngô Thị Chang
Trang 5MỤC LỤC
Trang
1.2.2 Sự thay đổi đơn vị hành chính làng Ngọc Than trong lịch sử 18
Trang 63.2 Biến đổi không gian công làng Ngọc Than 51
3.2.1 Sự biến đổi trong không gian công truyền thống 51
4.1 Không gian tư qua ngôi nhà truyền thống làng Ngọc Than 62
5.2.1 Sự biến đổi trong không gian thiêng truyền thống 94
Trang 7Bảng 1: Dân số các xóm làng Ngọc Than tháng 7 - 2011 16
Bản vẽ 1: Mặt bằng hiện trạng tổng thể đình Ngọc Than năm 2005 82
Bản đồ 1: Hệ thống không gian công truyền thống làng Ngọc Than trước 1954 44 Bản đồ 2 : Không gian mặt nước làng Ngọc Than trước năm 1970 54
Bản đồ 4 : Hệ thống không gian công làng Ngọc Than năm 2016 94
Sơ đồ 3: Biến đổi tổng thể không gian nhà của ông Đề từ năm 1978 đến 2016 70
Sơ đồ 4: Biến đổi không gian nhà bà Nguyên từ năm 1953 đến 2016 72
Sơ đồ 5: Bên trong không gian nhà hiện đại của ông Đỗ Văn Minh, xóm Quán 76
Sơ đồ 6: Bên trong không gian nhà hiện đại của ông Đỗ Nhất Nghê, x Bến Rước 79
Sơ đồ 7: Vị trí, thứ bậc tế lễ của các thành phần ở làng 83
Sơ đồ 12: Bút ngọc nghiên than làng Ngọc Than từ trước năm 1954 đến năm
Sơ đồ 15: Biến đổi không gian điếm xóm Ngánh từ năm 1980 - 2016 103
Trang 8QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 9xã hội, lối sống, phong tục, tôn giáo,… Trong đó, làng ở đồng bằng sông Hồng từ lâu
đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Theo dòng thời gian, hiểu biết
và các lý giải về làng ở đồng bằng sông Hồng ngày càng được tăng cường và trở nên khá phong phú với nhiều góc nhìn và các cách lý giải khác nhau Đặt vùng ven đô của
Hà Nội vào không gian đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đổi mới, công nghiệp hóa và đô thị hóa, chúng ta càng thấy làng ở khu vực này có nhiều tiền đề, cơ sở và động năng thúc đẩy sự biến đổi từ bên trong lẫn bên ngoài Trong bối cảnh đó, để góp phần tìm hiểu về làng Việt ở đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đô thị hóa đã và đang diễn ra ở cả khu vực nội đô và các làng ven đô, tôi nghiên cứu biến đổi làng từ góc độ không gian và chọn một làng cụ thể, làng Ngọc Than, để khảo sát tiến trình đô thị hóa và đặc biệt là những biến đổi về ba loại hình không gian, với mong muốn có thêm đóng góp vào hiểu biết của chúng ta về những vận động của làng trong xã hội đương đại nói chung và trong bối cảnh đô thị hóa ở khu vực ven đô Hà Nội nói riêng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn có các mục tiêu chính: (i) Phác họa bức tranh về làng Ngọc Than trong truyền thống, khái quát quá trình độ thị hóa ở làng trong những năm vừa qua; (ii) Tìm hiểu những biến đổi của ba loại hình không gian ở làng trong bối cảnh của đô thị hóa; và (iii) Lý giải các chiều kích biến đổi và những nhân tố dẫn tới sự biến đổi không gian làng trong bối cảnh đô thị hóa
3 Cách tiếp cận và các khái niệm công cụ
Về cách tiếp cận không gian: Tiếp cận không gian có một vị trí quan trọng
trong các ngành Khoa học Xã hội và nhân văn Sử dụng khái khái niệm “không gian” làm đơn vị phân tích, hướng tiếp cận không gian có nhiều cách phân loại và gọi tên không gian Ví dụ, Setha Low và Denise Lawrence-Zunuga phân chia không gian thành sáu loại1 trong khi đó Condominas chỉ tập trung vào không gian xã hội tộc người
1 Bao gồm: embodied spaces, gendered spaces, inscribed spaces, contested spaces, trannational spaces, spatial tactics; dẫn theo [71, tr 45 - 46]
Trang 10ở khu vực Đông Nam Á “Không gian xã hội” chứa đựng các quan hệ xã hội, các vấn
đề và những thực hành của các xã hội tộc người ở khu vực Đông Nam Á, vì thế, nó rộng lớn hơn cả không gian địa lý cư trú (Georges Codominas, 1997) Do vậy, ngoài những chiều kích vốn có là mang tính không gian và thời gian, không gian xã hội còn mang tính lịch sử và tộc người Không gian xã hội quan hệ mật thiết, thay đổi tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, đặc điểm kinh tế, xã hội của một cộng đồng [77, tr 49] Trong luận văn này, tôi sử dụng hướng tiếp cận không gian và tập trung vào ba loại không gian cụ thể: Không gian công, không gian tư, không gian thiêng để phân tích sự biến đổi của chúng trong bối cảnh đô thị hóa
Một số khái niệm công cụ: Có các khái niệm công cụ quan trọng của luận văn
được xác định nội hàm ở đây
Đô thị hóa được hiểu là một quá trình gia tăng tính đô thị, phát triển kinh tế và
xã hội, biến một vùng dân cư không có cuộc sống đô thị thành một vùng dân cư thuộc tính của xã hội đô thị Đô thị hóa còn là một quá trình biến đổi văn hóa và ứng xử Văn hóa và cách cư xử đô thị dần dần bao trùm lên và làm tan biến dần văn hóa và ứng xử trong truyền thống nông thôn [27, tr 115]
Đô thị hóa có tác động mạnh mẽ đến khu vực ven đô Khái niệm Ven đô
(periurban) được các nhà nghiên cứu phát triển đô thị tóm lược như sau: về mặt địa lý ven đô có thể hiểu là khu vực cận kề thành phố Về tổng thể, vùng ven đô là nơi vừa
có hoạt động nông thôn vừa có hoạt động đô thị, nghĩa là không hoàn toàn là đô thị, cũng không thuần túy là nông thôn và chịu tác động mạnh của đô thị hóa Nó là sự pha trộn của hệ thái sinh thái nông nghiệp và đô thị Do đó, khó có thể xác định được ranh giới của một vùng ven đô với các tiêu chuẩn cụ thể Thông thường, người ta xác định ranh giới của vùng ven đô dựa vào các chính sách đô thị và các biện pháp quản lý hành chính [80, tr 80] Tuy nhiên, từ tiếp cận Nhân học, khu vực ven đô được hiểu và đặt trong những bối cảnh, không gian gắn liền với đặc thù của mỗi địa phương, không thể đồng nhất Như Michael Leef (2016) cho rằng có ba phương diện tạo nên ranh giới của khu vực ven đô (gắn liền với chức năng đô thị; chịu tác động của toàn cầu hóa; là ranh giới hành chính) John Friedmann (2011) nhấn mạnh thêm tính giao thoa giữa khu vực thành phố và nông thôn ở khu vực đô thị Điểm chung giữa các nhà nghiên cứu khi định nghĩa về khu vực ven đô chính là cùng khẳng định đặc tính địa phương, xét cả về không gian và thời gian Từ những phân tích và thảo luận trên, khu vực ven đô được xem là không gian quan trọng của quá trình phát triển của thành phố và vùng đô thị vì
Trang 113
đây chính là không gian của sự chuyển đổi, mâu thuẫn và giao thoa Sự chuyển đổi ở khu vực này chủ yếu diễn ra theo hướng từ nông thôn sang đô thị, từ truyền thống sang hiện đại, một quá trình phát triển được gọi là hiện đại hóa [71, tr 71-74]
Ở khu vực ven đô, làng xã trong quá trình đô thị hóa đã biến đổi về mọi mặt
Đặc biệt là biến đổi không gian Vậy biến đổi được hiểu là gì? Các nhà nhân học văn hóa xã hội, đặc biệt là những người đã quan sát và báo cáo về biến đổi trong một quá trình nghiên cứu dân tộc học lâu dài, từng có xu hướng nước đôi khi đề cập đến lý thuyết đối với các quá trình có khả năng dẫn tới biến đổi xã hội Nhiều báo cáo đã quan sát các biến đổi - các kết quả của biến đổi - song lại không hề nhắc đến các quá trình đã làm cơ sở nền tảng cho những biến đổi đó Nhìn nhận biến đổi theo những viễn cảnh lũy tiến và mang tính hình học tuyến tính sẽ không giúp ích gì cho việc nhận thức về biến đổi xã hội con người với nhau
Nhưng tựu chung sự biến đổi đó được nhìn nhận trên bối cảnh từ truyền thống
đến hiện đại Vậy truyền thống được hiểu là gì? Nội hàm khái niệm này cho đến nay vẫn được bàn luận rất nhiều Từ “truyền thống” tiếng Latin là tradition, “hành vi lưu truyền”, là động từ tradere, “chuyển sang cho người khác, giao, trao lại” Tuy nhiên, cần tránh lẫn lộn giữa hai động từ hàm ẩn trong khái niệm truyền thống: “trao” và
“truyền” Sự thực, khái niệm này không thể tự khuôn mình bảo thủ, duy trì các yếu tố
của một nền văn hóa ở mãi một trạng thái, bởi trong chính bản chất cái được gọi là truyền thống đã mang trong mình yếu tố làm mới và tích hợp các văn hóa [63, tr 19] Nhận diện truyền thống sẽ góp phần định hình sự biến chuyển trong quá trình đô thị hóa và đưa ra những ý tưởng mang tính kiến giải
Hiện nay, các nhà Nhân học đặt biến đổi không gian khu vực ven đô trong sự ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa và công nghiệp hóa Trong khi các khái niệm trên đã được thảo luận phổ biến trong nghiên cứu về đô thị hóa ở Việt Nam thì các khái niệm liên quan đến không gian có nội hàm cần phải thảo luận nhiều hơn Ba loại không gian cơ bản được phân tích ở làng Ngọc Than ở ven đô Hà Nội là “không gian công”, “không gian tư”, và “không gian thiêng” Có thể nói, sự phân chia cặp đối lập là “không gian công” và “không gian tư” là một cách phân loại phổ biến trong tài liệu nghiên cứu, và chúng đã trở thành các khái niệm phân tích quan trọng để tìm hiểu về thực tiễn đời sống xã hội (S.I Benn and G.P Gaus, 1983) Dù vậy, ở đây tôi vẫn xác định cụ thể hơn nội hàm của từng khái niệm không gian, vì
Trang 12“công” ở đây là công cộng hay chung? Tương tự, “tư” ở đây là tư nhân hay riêng Như vậy, sự phân loại và xác định nội hàm của loại hình không gian được cụ thể hóa cho luận văn này là một nhiệm vụ luôn được đặt ra trong từng trường hợp nghiên cứu cụ thể, như McDowell nhấn mạnh “sự phân chia giữa cộng và tư nhân là xem xét quá trình mà nó được hình thành ở những thời điểm, địa điểm cụ thể” [98, tr 149]
“Không gian công” trong luận văn của tôi được hình dung theo cách Mitchell hiểu về không gian công, đó là nơi tương tác xã hội và chính trị (trong khi không gian
tư là địa hạt riêng trong gia đình) [93, tr 116] Vậy, không gian công được hiểu là không gian sinh hoạt chung thuộc về tập thể Một điểm quan trọng liên quan đến không gian công là sự phân định giữa không gian công mang tính thế tục và không gian công mang tính thiêng Trong luận văn này, không gian công là không gian công cộng nhưng không mang tính thiêng, nghĩa là không gian công được phân biệt với không gian thiêng [Mircea Eliade (Huyền Giang dịch, 2016)] “Không gian thiêng” dù
có tính thiêng vẫn có tính công trong đó (Phạm Quỳnh Phương, 2010; Đỗ Quang Hưng, 2010) Thực tiễn cho thấy, không gian thiêng là một loại hình không gian quan trọng trong đời sống làng Việt ở đồng bằng sông Hồng, cần được tách riêng thành một loại hình không gian để quan sát và phân tích
Bên cạnh hai loại hình không gian công và không gian thiêng, không gian tư có một vị trí quan trọng trong nhiều xã hội và nền văn hóa Không gian tư được hiểu là không gian thuộc về mỗi cá nhân hay mở rộng ra là gia đình (và rộng hơn nữa là dòng
họ, tùy từng hoàn cảnh và cách định nghĩa) Không giống với không gian công, không gian tư ít chịu sự kiểm soát của nhà nước [100, tr 2379] Đặt trong bối cảnh của làng ở đồng bằng sông Hồng, không gian tư là nơi thuộc về gia đình, nơi con người có nhiều
sự riêng tư dành cho bản thân
Ở Việt Nam, ba loại hình không gian trên (không gian công, không gian tư, không gian thiêng) đã được các nhà nghiên cứu sử dụng trong một số công trình nghiên cứu Ví dụ, Lisa Drummond đã sử dụng hai phạm trù không gian công (public space) và không gian riêng (private space) để phân tích và lý giải về thực tiễn sử dụng hai không gian này ở đô thị Hà Nội đương đại Tác giả phát hiện và lập luận rằng không gian tư tưởng chừng như ít chịu sự kiểm soát bởi lực lượng bên ngoài như nhà nước thì lại bị nhà nước kiểm soát, và ngược lại, không gian công là không gian thuộc
về cộng đồng, nhà nước, thường bị quy định bởi các chuẩn mực xã hội và pháp luật
Trang 135
của nhà nước, song lại luôn bị chiếm hữu, biến thành cái riêng Trong bối cảnh đó, biên giới giữa không gian công và không gian tư mang tính lỏng, có thể thay đổi và thường vượt quá giới hạn giống như trong các xã hội phương Tây, nhưng lại có nguyên nhân và diễn ra theo cách riêng của Việt Nam [71, tr 58 - 59]
Đặt trong bối cảnh của vùng đồng bằng sông Hồng, không gian thiêng có thể được nhận diện với một loạt các công trình và không gian bao quanh như đình, chùa, đền, miếu và các nơi chốn có tính thiêng trong làng, song không thuộc về không gian
tư Không gian thiêng, như tác giả Phạm Quỳnh Phương (2010) xác định, là việc con người gắn tính thiêng vào một nơi chốn cụ thể Trong trường hợp nghiên cứu của tác giả, đó chính là các di tích thờ Đức thánh Trần Theo tác giả thì các di tích này vốn ban đầu xuất hiện ở một số làng vùng đồng bằng sông Hồng, rồi lan toả ra các khu vực khác ở Việt Nam và cả bên ngoài biên giới Việt Nam (ở nước ngoài) gắn với sự di dân của con người
Có thể nói, ba loại không gian này, không gian công, không gian tư và không gian thiêng vừa là các đối tượng nghiên cứu, vừa là các đơn vị phân tích Trong luận văn này, chúng được đặt trong bối cảnh của đô thị hóa ở một làng cụ thể, đó là làng Ngọc Than ở ven đô Hà Nội để quan sát, phân tích và lý giải Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, sự phân chia và biên giới giữa chúng không mang tính tuyệt đối, bất biến,
vì khó có thể xác định được ranh giới rạch ròi giữa các loại hình không gian
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình điền dã dân tộc học để thu thập tài liệu nghiên cứu cho luận văn, tôi sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu như quan sát tham gia, phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố Ngoài ra, tôi còn thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài được lưu trữ và tại địa bàn nghiên cứu
Cụ thể, tôi đã quan sát toàn bộ không gian gian và tập trung vào ba loại không gian được phân tích trong luận văn để xem các loại không gian cụ thể và toàn bộ không giang làng nói chung đã biến đổi như thế nào, không gian nào được phục hồi, không gian nào mở rộng, không gian nào mất đi, không gian nào có những yếu tố mới xuất hiện Đặc biệt, tôi quan sát tham gia ở từng không gian trong những bối cảnh cụ thể, như các nghi lễ cúng ở điếm, các hoạt động ở đình, chùa
Từ những quan sát nêu trên, tôi có được các thông tin định tính, định lượng liên quan đến những biến đổi trong đời sống của người dân khi có sự tác động của đô thị
Trang 14hóa Từ đó, tôi phỏng vấn, trao đổi, nói chuyện với người dân và cán bộ địa phương để làm rõ những gì tôi cần cho nghiên cứu này Giới tính được chia đều trong các độ tuổi
để thông tin thu được khách quan từ nhiều góc độ Trong các cuộc phỏng vấn sâu, tôi thường có những câu hỏi mang tính hồi cố để hiểu được những gì đã diễn ra không chỉ hôm nay mà còn trước đây Những câu hỏi hồi cố đặc biệt hữu ích đối với những người cao tuổi, có sự am hiểu về những biến đổi ở làng qua thời gian, ở từng không gian
Một cách thu thập tài liệu nữa là khai thác các tài liệu thành văn Đây vừa là một phương tiện nhằm có được cái nhìn lịch đại và mở rộng nhãn giới về bối cảnh và quy mô của vấn đề, vừa giúp tôi đối chiếu so sánh với các tài liệu thu được thông qua quan sát, phỏng vấn, từ đó làm sáng tỏ hơn sự biến đổi của các loại không gian, của tiến trình đô thị hóa ở làng và khu vực rộng lớn hơn của địa bàn nghiên cứu
Ngoài ra, một số kỹ thuật thu thập tài liệu khác như chụp ảnh, vẽ sơ đồ, bản đồ, v.v., cũng góp phần giúp tôi có thêm thông tin và hiểu rõ hơn những biến đổi ở làng được nghiên cứu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như được xác định ở trên, đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào biến đổi của ba loại hình không gian trong tiến trình đô thị hóa ở một làng cụ thể Như vậy, dù tên luận văn có hai vế là đô thị hóa và biến đổi không gian, tôi muốn tập trung vào tìm hiểu, phân tích và lý giải về sự biến đổi của ba loại không gian Đô thị hóa ở đây được hiểu vừa là tiền đề, vừa là bối cảnh của những biến đổi ba loại không gian nêu trên
Địa bàn nghiên cứu của luận văn là làng Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Nội Đây là một làng cổ truyền, có các thiết chế không gian khá đặc trưng cho làng Việt ở đồng bằng sông Hồng, song đang có nhiều biến đổi dưới ảnh hưởng của đô thị hóa ở chính tại làng và trong không gian vùng ven đô thành phố Hà Nội Như vậy, làng Ngọc Than không chỉ tiện cho việc điền dã dân tộc học của tôi (cách trung tâm
Hà Nội khoảng 16 km), mà còn chứa đựng nhiều yếu tố có tính truyền thống để có thể quan sát, tìm hiểu và đặc biệt, là một làng ven đô đang chịu những tác động có thể quan sát được từ đô thị hóa
6 Đóng góp của luận văn
Trang 157
Qua việc tìm hiểu về những biến đổi của không gian làng và quá trình đô thị hóa tác động đến sự thay đổi của ba loại không gian, luận văn mong muốn góp thêm hiểu biết của chúng ta về những biến đổi ở làng Việt thuộc khu vực ven đô nói riêng,
ở đồng bằng sông Hồng nói chung trong quá trình đổi mới và đặc biệt là trong tiến trình đô thị hóa Đặc biệt, những phân tích về biến đổi từ góc độ không gian, nhất là ở các không gian cụ thể, sẽ góp thêm một cách nhìn, một sự phân tích và lý giải về làng
và những vận động, biến đổi của nó qua một trường hợp cụ thể trong tiến trình đô thị hóa ở ven đô thành phố
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có cấu
trúc gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan tài liệu và địa bàn nghiên cứu; Chương 2:
Đô thị hóa ở làng Ngọc Than; Chương 3: Biến đổi không gian công; Chương 4: Biến đổi không gian tư; Chương 5: Biến đổi không gian thiêng
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Thứ nhất, cho đến nay có một số lượng lớn công trình nghiên cứu về làng Việt Nam nói chung và làng ở đồng bằng sông Hồng nói riêng Trong gian đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã có những công trình nghiên cứu đáng chú ý về làng của các nhà khoa học nước ngoài, như Rouilly (1929), Malot (1903), Gourou (1936) 1và các học giả Việt Nam, gồm Phan Kế Bính2, Trần Trọng Kim3, Nguyễn Văn Huyên (1939), Nguyễn Văn Khoan (1930)… Trên nền tảng học thuật đó, ở giai đoạn nửa sau thế kỷ
XX, các nghiên cứu làng Việt và nhất là làng Việt ở đồng bằng sông Hồng có những bước tiến mới ở các góc độ khác nhau Một loạt các công trình nghiên cứu về làng, hay có liên quan đến làng của các tác giả Phan Huy Lê (1959), J.Scott (1976), S.Popkin (1979), Trương Hữu Quýnh (1982-1983), Trần Từ (1984), Bùi Xuân Đính (1985), Nguyễn Đức Nghinh - Ngô Kim Chung (1987), Nguyễn Đình Đầu (1992), Lương Văn Hy (1992), Nguyễn Quang Ngọc (1993), Nguyễn Duy Hinh (1996), Đào Thế Tuấn (1997), Lâm Bá Nam (2000), F.Hutart-G.Lemercinier (2001)], Trương Huyền Chi (2001), Phan Đại Doãn (2001)], J Kleinen (2007),… cho thấy một khối lượng khác lớn các công trình nghiên cứu về làng ở đồng bằng sông Hồng từ truyền
thống đến hiện đại
Thứ hai, các nghiên cứu về bản chất làng coi làng là một cộng đồng cư dân, biến đổi không ngừng cùng với biến đổi trong quy ước xã hội theo thời gian [66, tr 25] Làng có vị trí quan trọng, được tìm hiểu nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn các khía cạnh văn hóa, chính trị, tôn giáo, kinh tế, nghệ thuật… trong cấu trúc tổng thể cấu trúc của làng nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung Như vậy, trong nghiên cứu về làng
đã có những cách tiếp cận khác nhau, trong đó, các chiều cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch sử làng Việt đã được quan tâm phân tích và thảo luận trong nhiều tài liệu nghiên cứu4
Để có một cái nhìn bao quát về sự phong phú của lịch sử vấn đề, xem Thư mục về nghiên cứu làng Việt, bước
đầu được đưa ra trong công trình của Nhiều tác giả (2006), Làng Việt Nam, đa nguyên và chặt, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 17“Làng có thể định nghĩa là một tập hợp nhiều gia đình thành một nhóm dân cư, hay tách thành nhiều nhóm Làng không phải chỉ gồm những người cư trú tại đây, mà cả mọi người gốc tích ở làng và có thể chỉ về làng một hai lần trong đời Nhưng những người này có mồ mả tổ tiên, nhà thờ do một người trong “họ” trông nom Dù thế nào thì đối với một người Việt Nam, bao giờ cũng là vinh dự khi có một làng quê ở tỉnh lẻ
Nếu không, dưới mắt dân làng, họ bị gọi bằng cái từ khá khinh thị là người tứ xứ” [38,
tr 817] Như vậy, làng Việt đã được nhận biết với các đặc tính khác nhau, tùy thuộc vào góc quan sát, sự quan tâm của nhà nghiên cứu Những tri thức và cách lý giải về làng bổ sung cho nhau, giúp chúng ta hiểu rõ hơn, nhiều chiều hơn về làng Việt
Thứ tư, một điểm quan trọng khác mà tổng luận tài liệu nghiên cứu của tôi cho thấy, có ít nhất hai thái độ khoa học cơ bản tồn tại trong các quan sát và nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu Việt Nam thế kỷ XX về làng Việt truyền thống nói chung
và làng ở đồng bằng sông Hồng nói riêng [66, tr 21 - 23] Đại điện từ những cái nhìn
từ nền học vấn Đông Dương, thời Pháp thuộc là quan điểm phê phán Quan điểm phê phán nhìn thực thể làng như là một bước cản trở đối với sự phát triển đất nước, cho dù
có nhiều điều hay, nhưng làng vẫn là nơi mà rất nhiều hủ tục còn tồn tại Làng là nơi chứa đựng sự bè phái, mê tín dị đoan, cường hào sách nhiễu, trọng danh vô lối, tiểu nông tủn mủn… cho nên cần “cải lương hương chính” Quan điểm phê phán này hiện
rõ trong các nghiên cứu làng qua phong tục, tập quán và các thực hành văn hóa Đại diện cho quan điểm này có tiếng nói phê phán mạnh mẽ nhất chính là Phan Kế Bính, ông nhận xét về làng như sau: “Từ ngày nước Đại Pháp bảo hộ, đem những thói văn minh Âu Tây mà rải rác sang nước ta Ta ngoảnh lại mà xem những tục cũ thì tỏ ra nhiều điều ngày trước là hay mà bây giờ hóa ra hủ bại lắm rồi”[13, tr 8]1
Quan điểm tích cực nhìn làng với những ưu điểm Nếu đặt trong bối cảnh đầu thế kỷ XX, khi Việt Nam còn bị thực dân đô hộ, cả dân tộc đang đứng trước yêu cầu
1 Một cách sinh động hơn nữa, xem sự đả phá của các nhà văn, báo chí đương thời như tuần báo Phong hóa, hay Ngô Tất Tố viết Tập án cái đình và Việc làng, Lều chõng
Trang 18canh tân, tìm đường giành lại độc lập dân tộc như một mục tiêu tối thượng, thì quan điểm phê phán rõ ràng có tác dụng thức tỉnh đối với những gì là lực cản cho cuộc chấn hưng dân trí của đất nước hay ít nhất là một nhóm ưu tú trong xã hội Việt Nam đương thời Khi lịch sử đã chuyển đổi, Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, thì một thế
hệ các nhà khoa học và ngay cả các nhà quản lý chính sách bắt đầu thấy ở làng, trong không gian mới, những thực hành có các giá trị đáng được phát huy Bên cạnh những nguyên nhân khác, đây là yếu tố góp phần hình thành và nuôi dưỡng những cái nhìn và thái độ có thiện cảm hơn, hay thậm chí là đánh giá cao sự hợp lý, tính tích cực của thực thể làng ở các góc độ khác nhau trong xã hội đương đại
Trong số các nhà khoa học có quan điểm tích cực đối với thực thể làng thì Từ Chi nổi lên là một trong những học giả tiêu biểu cho quan điểm này ở Việt Nam Từ Chi thấy ở làng những tổ chức linh hoạt, duy trì một thứ dân chủ kiểu làng xã Tiếp đó, trong bối cảnh đổi mới và nhất là khi mục tiêu phát triển bền vững được đề cao, nhiều giá trị văn hóa và một số thiết chế của làng được ca ngợi, tìm cách bảo tồn, phát huy, như các di tích, các nghi lễ, lễ hội,…
Như vậy, qua thời gian, các quan điểm về làng chuyền từ cái nhìn với những mặt hạn chế đến những yếu tố tích cực đã và đang tồn tại Thực tiễn này khẳng định thời điểm, bối cảnh và góc nhìn của chúng ta đối với thực thể làng Một tổng quan các nghiên cứu về làng cho thấy làng là một thực thể có những mặt ưu điểm và nhược điểm Trong bối cảnh đó, nghiên cứu làng không nhấn mạnh thái quá vào một quan điểm nào mà cần nhìn nhận làng với những chiều cạnh khác nhau Trong đó, một cái nhìn hiểu được sự tồn tại hợp lý của làng trong bối cảnh lịch sử và đương đại sẽ giúp chúng ta hiểu rõ và tìm được cách phát huy các thế mạnh của văn hóa làng phục vụ sự phát triển Việt Nam hiện tại và tương lai
Thứ năm là tính đóng hay mở của làng Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, các công trình nghiên cứu đã chú trọng hơn tới những biến đổi xã hội của làng Việt Từ đó, những nghiên cứu khảo tả hay nghiên cứu cộng đồng đã dần dần được thay thế bằng những nghiên cứu về mối liên kết giữa địa phương và các cấp cao hơn với giả định ngầm hiểu rằng làng là một bộ phận của xã hội rộng lớn hơn [46, tr 14]
Sự thực, làng không bất biến mà thường biến Điều này không trái ngược với tính tự trị của làng, mà chính là biểu hiện sự hoàn chỉnh của thực thể làng Bởi hoàn toàn chủ
Trang 19nó ở miền Bắc Việt Nam còn thường được phản ảnh trong sự can thiệp của nhà nước, nhằm kiểm soát nguồn lực của làng như đất đai và lao động
Thực tế cho thấy càng nhìn gần với hiện tại thì quan điểm về tính mở của làng càng có nhiều cơ sở thực tiễn hơn Nghiên cứu có tính hệ thống về di cư nội địa, sự xáo trộn các khối cư dân của làng là thú vị bởi tính linh động và phức tạp của vấn đề (Li Tana, 1996; Nguyễn Văn Chính, 1997) Di dân là một trong những yếu tố không phải là một sự phản kháng của nông dân, mà là con đường tìm kiếm mưu sinh, kết nối làng với xã hội ngoài làng, làm biến chuyển làng, tăng cường sự kết nối liên làng trong
xã hội đương đại
1.1.2 Làng Việt từ góc độ tiếp cận từ không gian
Nếu phần trên, tôi tập trung làm rõ một số điểm quan trọng đáng lưu ý trong nghiên cứu về làng Việt thì ở phần này tôi muốn phác họa hướng tiếp cận làng Việt từ góc độ không gian trong tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu về không gian của con người
đề cập đến hai lĩnh vực quan trọng, đó là ký ức và địa lý Edward W Said (2000) với nghiên cứu nổi tiếng của mình đã đưa ra những luận điểm độc đáo về mối tương tác
giữa sáng tạo, ký ức và không gian trong đó con người tồn tại Theo tác giả, sáng tạo
truyền thống là phương pháp sử dụng ký ức tập thể một cách có lựa chọn, tính toán kiểu trưng dụng các biểu tượng tập thể để nhào nặn văn hóa mới phục vụ cho cái hiện tại, mà bề ngoài thì được che đậy bởi vỏ bọc “truyền thống” [94, tr 179] Minh chứng trong nghiên cứu của mình, Said cho rằng người Palestin và Israel giờ đây có mối liên
hệ về lịch sử, địa lý mật thiết đến không tưởng Họ sống cùng nhau - như Said ví von, một sự kết hợp giữa cây thông của dự án trồng với các cây khác sinh trưởng bốn thập niên qua trong một cách thức khiến ta cứ tưởng như thể tất cả chúng đã từng ở đó Cách tiếp cận của Said, phức tạp và tinh tế, đã mở ra một viễn cảnh phân tích các cơ chế “sáng tạo không gian” của kẻ mạnh, tạo dựng diễn ngôn không gian theo hướng có lợi cho mình Said đã dẫn các phân tích về không gian vào bối cảnh mới có sự chồng
Trang 20lấn giữa địa lý vật chất và địa lý tưởng tượng Áp dụng cách phân tích của Said vào làng Việt trong bối cảnh xã hội có nhiều biến đổi cho thấy sự cần thiết phải nắm bắt được các diễn ngôn về không gian làng với những điều ẩn chứa đằng sau các “động cơ” đưa ra hình ảnh đại diện cho các không gian
Trong các nghiên cứu về làng Việt, tiếp cận không gian đã xuất hiện như một cách nhìn và tư duy chủ đạo của các học giả Đông Dương, nhất là nhà địa lý nhân văn Pierre Gourou Sử dụng cách tiếp cận cơ bản của ngành học, nghiên cứu của Gourou cho thấy làng Việt ở đồng bằng sông Hồng hiện lên thật cụ thể, sống động và rõ nét Chương IV trong nghiên cứu được trích dẫn nhiều của ông viết về làng châu thổ Bắc
Kỳ tiết lộ các không gian như lũy tre, hệ thống đường làng, cổng làng, ao làng, giếng làng, đình và điếm, mà tác giả coi như những thành tố cơ bản tạo lên hình hài, dáng vẻ
mà ta có thể quan sát được về làng Theo ông, một vấn đề quan trọng đó chính là yếu
tố phong thủy có vai trò quan trọng chi phối diện mạo của làng Việt Dù chưa thực sự
có đủ am hiểu về lĩnh vực này để có thể nói vị trí của một số làng được chọn vì lý do phong thủy nhưng tác giả cũng đã đưa ra nhận định rằng các làng thường được xác định hình dáng hiện tại vì những lý do đó [29, tr 241] Nhưng, liệu rằng vấn đề phong thủy chỉ gắn với xác định hình dáng, vị trí của làng hay còn gắn với những không gian bên trong, đó là vấn đề mà những nghiên cứu sau có thể khai thác và đào sâu
Cũng với các nhà khoa học Pháp, hay theo truyền thống học thuật Pháp, nghiên cứu về làng Việt theo hướng tiếp cận không gian được tiếp tục với các nhà khoa học
thuộc thế hệ sau, nổi bật là qua công trình Làng Việt ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn
đề còn bỏ ngỏ? do Philippe Papin và Olivier Tessier chủ biên (2002) Cũng theo mạch này, một ấn phẩm của tác giả Nguyễn Tùng chủ biên mang tên Mông Phụ - một làng ở Đồng bằng sông Hồng củng cố hướng tiếp cận không gian trong nghiên cứu về làng ở đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đương đại Cụ thể hơn, hướng tiếp cận không
gian được thể hiện rõ nét qua hai bài viết của Nguyễn Tùng [66, tr 97 - 138] và Olivier Tessier [66, tr 139 - 179] Quan điểm của Nguyễn Tùng về làng trong bối cảnh đương đại nhấn mạnh, làng chỉ là đơn vị cư trú cơ sở mà người dân gắn bó về tình cảm nhưng hoàn toàn không có bộ máy hành chính riêng biệt [66, tr 99], nên không thể đánh đồng làng với xã như một số quan điểm trước đó Làng bao gồm các không gian bao gồm:
xứ và xứ đồng, không gian cư trú, không gian canh tác Trong không gian cư trú, nổi bật là kiến trúc công cộng mang đậm những đặc trưng làng xã Bắc Bộ Tổ chức không
Trang 21TRÚC CÔNG CỘNG thuộc mục 2.2 Không gian cư trú, ta nhận thấy trong sự liệt kê của ông thiếu: đường làng, điếm canh Sự phân chia mục 2.1 Xứ và xứ đồng có sự chồng lấn lên mục 2.3 Không gian canh tác, bởi thực chất, xứ đồng chính là thuộc không gian canh tác, vì thế, phần 2.3, ông chỉ phân chia không gian canh tác gồm: sông đào, đất đai manh mún Cách phân chia này, vừa thiếu, vừa có phần
không chính xác Ví dụ, sông đào thực chất thuộc hệ thống thủy lợi gồm nhiều hạng mục khác ngoài sông đào (như kênh mương, ao trữ nước trong đồng, ), còn “đất đai manh mún” là tính chất của không gian canh tác chứ không phải là một không gian riêng để đứng thành một mục
Trong khi đó, cách phân loại của Tessier là sâu sắc, và dựa trên một làng trung
du - làng Hay (Phú Thọ) để chứng minh một điều, nhìn từ trung du, làng xã có tổ chức không gian khác với vùng đồng bằng châu thổ Điều ấy thể hiện rõ nhất ở không gian hình thể làng trung du là đa dạng hơn không gian hình thể làng châu thổ
Gần đây, một số nghiên cứu về làng trong bối cảnh đô thị hóa từ góc độ tiếp cận không gian đã được công bố Trong số đó, tác giả Nguyễn Công Thảo (2012) phân tích
sự biến đổi không gian thiêng trong kí ức người dân khi có sự tác động của đô thị hóa
đã khiến các không gian ấy dần biến mất, kéo theo tâm thức của người dân về cái thiêng cũng bị phai mờ Dưới chiều cạnh văn hóa, tôn giáo, quá trình “giải thiêng” là một quá trình nổi bật, là lí do quan trọng dẫn đến sự biến đổi của các không gian sinh thái làng Việt theo hướng gia tăng tính thế tục Bên cạnh đó, từ cái nhìn rộng, văn hóa nhìn từ không gian, Lương Văn Hy cho rằng văn hóa trước hết có những tác động đến môi trường sống, đặc biệt, không gian chung Tác động của mạng lưới xã hội tới ý thức gìn giữ không gian như sau: khi mạng lưới xã hội chằng chịt như không gian làng
xã thì không gian chung ít bị ô nhiễm hơn vì áp lực cộng đồng hiệu quả hơn, còn khi mạng lưới xã hội lỏng hơn như trong không gian đô thị thì không gian chung bị ô nhiễm nặng hơn [44, tr 17]
Trang 22Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Sửu và Chu Thu Hường (2015) một mặt phác họa các hướng tiếp trong nghiên cứu làng Việt (tiếp cận lịch sử, tiếp cận chủ thể và tiếp cận không gian làng), một mặt sử dụng tiếp cận không gian để làm rõ sự biến đổi của một số không gian ở một làng ven đô cụ thể ở đồng bằng sông Hồng Các tác giả đã phân loại và tập trung vào một số không gian chủ đạo của làng như không gian cư trú, không gian thiêng, không gian sản xuất, không gian công… Sự biến đổi của các không gian này qua thời gian ở làng Đồng Kỵ được phác họa song còn chưa sâu Theo các tác giả, các động năng của sự biển đổi bao gồm cả các yếu tố nội tại và các yếu tố bên ngoài như các tác động của chính sách công nghiệp hóa, đô thị hóa Trong bối cảnh đó, sự biến đổi không gian làng ở Đồng Kỵ là một kết quả tất yếu, song điểm nhấn của các tác giả chính là sự ứng phó linh hoạt của các chủ thể làng trước những phát triển công nghiệp, đô thị và sự thâm nhập của thị trường Trước đó, nghiên cứu của Chu Thu Hường (2010) đóng góp đáng kể về mặt tư liệu thực địa vào việc hiểu rõ hơn, cụ thể hơn sự biến đổi của không gian làng Đồng Kỵ
Góp phần mở rộng bối cảnh nghiên cứu đô thị hóa ở làng Việt, nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thanh và cộng sự (2015) cho thấy sự biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống bao gồm không gian truyền thống của làng Việt nói chung và các làng ở Thái Bình nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật tác động của đô thị hóa gắn liền với chương trình nông thôn mới Nghiên cứu đi vào phân tích những biến đổi trong kiến trúc dân gian từ kiến trúc nhà ở đến kiến trúc công cộng; văn hóa xã hội; văn hóa tinh thần ở Thái Bình để nhận diện được sự thay đổi từ truyền thống đến hiện đại Từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn mới hướng tới sự phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong bối cảnh đó, các nghiên cứu nêu trên không chỉ gợi mở ý tưởng cho nghiên cứu của tôi mà còn cung cấp thêm nhiều dữ liệu so sánh ở những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, với nghiên cứu về Ngọc Than, một làng mà tính chất không gian hình thể rơi chủ yếu vào những đặc điểm của làng châu thổ Bắc Bộ và đặt trong bối cảnh có nhiều tác động của đô thị hóa thì mô hình của hai nhà nghiên cứu trên đều không tương thích dù nghiên cứu của cả Nguyễn Tùng và Tessier có giá trị tham khảo đặc biệt hữu ích cho nghiên cứu của tôi ở làng Ngọc Than, song lại không thể kế thừa
y nguyên vào phân tích làng Ngọc Than Chính vì thế, tôi tập trung vào ba loại không gian và phân tích sự biến đổi của chúng trong bối cảnh đô thị hóa ở làng Ngọc Than
Trang 2315
1.2.1 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm dân cư
Vị trí địa lý
Làng Ngọc Than ngày nay là một thôn1 thuộc xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai,
Hà Nội Vị trí của làng nằm cách trung tâm thị trấn Quốc Oai 1,5 km về phía Tây Nam Phía bắc giáp với hai xã Phùng Xá, Bình Phú của huyện Thạch Thất Phía nam giáp hai xã Nghĩa Hương, Cấn Hữu Phía đông giáp thôn Phú Mỹ Phía tây giáp thôn Đồng Bụt của xã Ngọc Liệp Ngọc Than trước kia vốn chỉ là một làng nhỏ, nằm dọc hai bờ sông Ngọc Con sông từng là tuyến đường thủy quan trọng của làng vì nối liền sông Tích với sông Đáy đổ ra sông Hồng, và cả vùng phên dậu phía Tây với kinh thành Thăng Long Cái tên làng Than cũng bắt nguồn từ đây, chỉ làng ở ven bờ sông Ngọc2
Ngọc Than là vùng đồng chiêm trũng “chiêm khê mùa thối” Bù lại, thiên nhiên
đã ban cho làng một cảnh quan thật đẹp “phong cảnh tự nhiên thành, nhất đái sơn khê chung tú khí” như các nhà phong thủy xưa đã nói rằng: thế đất làng Than là thế đất
“ngư phục, mã hồi” có thể dựng lên được nghiệp vương bá hoặc chí ít cũng làm lên
được võ công, văn nghiệp Lời tán thưởng này có thể hơi quá nhưng phải thừa nhận,
vị trí địa lý của làng đã hội tụ được nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển trên những lĩnh vực khác, nhất là về văn hóa, xã hội
Nằm ở trung tâm của một vùng đất cổ có bề dày nghìn năm văn vật, làng có điều kiện để xây dựng, bảo tồn một truyền thống văn hóa dân gian phong phú đặc sắc Đồng thời, do gần kề với kinh thành, giao thông thủy bộ đều thuận tiện, người làng có thể giao lưu kinh tế, văn hóa với các vùng lân cận [61, tr 104 - 105]
Năm 2010, hoàn thành tuyến đường cao tốc Láng - Hòa Lạc đi qua địa bàn các huyện Từ Liêm, Hoài Đức, Quốc Oai, Thạch Thất (Hà Nội), trong đó xuyên qua xứ đồng làng của làng Ngọc Than Tuyến đường cao tốc đã rút ngắn khoảng cách từ làng tới trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 16 km, khiến cho việc đi lại càng trở nên thuận tiện Như vậy, với vị trí của một làng ven đô, cách trung tâm Hà Nội không xa, Ngọc
1
Lý giải của tác giả Nguyễn Văn Vĩnh về “thôn” phù hợp với trường hợp Ngọc Than: Thôn chỉ một làng nhỏ, ít
ra là trên nguyên tắc, với tất các các chức năng của đơn vị hành chính cơ sở Nhưng đồng thời, thôn cũng là một đơn vị địa vực nằm bên trong xã Khác với xóm, thôn thường có đình, cũng như một số tập tục riêng, nên có bản sắc đôi khi khá đậm nét so với các thôn khác cùng xã Trường hợp đó, thôn cũng tự xem như một làng, với nghĩa kèm theo đầy cảm xúc của từ này (xem Nguyễn Văn Vĩnh, 2013)
2
Than 灘 trong Ngọc Than 玉灘 chữ Hán, chỉ đất ven nước sông hợp với Ngọc, thành nghĩa đất ven sông Ngọc
Trang 24Than không nằm ngoài sự ảnh hưởng và tác động của xu thế đô thị hóa trong một kế hoạch tổng thể mở rộng địa vực đô thị của Hà Nội
Khí hậu
Làng Ngọc Than nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm đặc trưng cho khu vực đồng bằng Bắc Bộ Khí hậu trong năm chia hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa nhiệt độ cao có thể lên tới 37 - 38oC Mùa khô tương ứng với mùa đông lạnh giá, nhiệt độ có thể xuống tới 10oC Độ ẩm trung bình cả năm khoảng 72 - 82% Lượng mưa trung bình cả năm xấp xỉ 1.700 mm Cả năm trung bình có gần 1.400 giờ nắng Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 23,3 - 23,5oC Lượng bức xạ trung bình cả năm là 122,8kcal/cm2, cán cân bức xạ luôn dương [8, tr
30 - 31] Nhìn chung, khí hậu tương đối thuận lợi cho sản xuất đời sống của người dân nơi đây
Đặc điểm dân cư
Trước đây, làng Ngọc Than tổ chức thành xóm Ngọc Than ban đầu có 9 xóm là Đông Trại, Phú Thứ (tức xóm Miếu hay xóm Quán), xóm Cống, Đông Trù, Tây Trù (tức xóm Ô), xóm Giữa (còn gọi là xóm Đình), Tây Phú (tức xóm Ngánh), Thượng Khê và Hạ Khê Năm 1968, với sự gia tăng dân số, làng giãn dân ra khu vực xóm Bến Rước và xóm Trại Mới
Năm 2010 làng có 11 xóm Kể theo vị trí địa lý, bắt đầu từ xóm tiếp giáp với thôn Phú Mỹ là xóm Ngánh; xóm Thượng Khê, xóm Hạ Khê, xóm Giữa, xóm Ô, xóm Chùa, xóm Cống, xóm Quán, xóm Trại, xóm Bến Rước, xóm Trại Mới Số hộ và số dân từng xóm được thể hiện qua bảng 1 dưới đây
Trang 2517
Nguồn: Ban văn hóa xã hội - CLB Văn hóa Thể thao Thôn Ngọc Than (2011)
Điều đặc biệt cần nhấn mạnh đó chính là sự gia tăng dân số nhanh của làng Ngọc Than trong khoàng thời gian hơn nửa thế kỷ qua, như được thể hiện ở bảng 2
Nguồn: Ban văn hóa xã hội - CLB Văn hóa Thể thao Thôn Ngọc Than (2011)
Tính đến năm 2015, làng Ngọc Than có tổng cộng 1.902 hộ, 7.300 nhân khẩu1 Dân cư cư trúc thành 5 cụm dân cư, mỗi cụm gồm một số xóm
+ Cụm số 1: xóm Cống, xóm Quán, xóm Trại
+ Cụm số 2: xóm Trại Mới, xóm Bến Rước
+ Cụm số 3: xóm Chùa, khu vực Gốc Gạo
+ Cụm số 4: xóm Giữa, xóm Ô
+ Cụm số 5: xóm Ngánh, xóm Thượng Khê, xóm Hạ Khê
Trong đó, cụm số 2 với hai xóm mới hình thành từ những năm 1968 cho những người từng ở làng đi theo chính sách xây dựng các vùng kinh tế mới những năm 1961
- 1962 tại Hà Giang vì không phát triển được nên quay trở về Cho đến nay, số dân lên tới 400 - 500 hộ sinh sống, trở thành cụm đông dân cư nhất ở làng Cụm ít dân cư nhất có trên 180 hộ, như cụm số 5 Còn lại dao động từ 200 - 300 hộ ở ba cụm 2, 3, 4
1
Số liệu được cung cấp bởi trưởng thôn Đỗ Doanh Lực, 58 tuổi
Trang 26Với tổng diện tích1 đất tự nhiên 2,248 km2, trong đó đất thổ cư 0,198 km2 và đất canh tác 2,05 km2 thì mật độ dân số làng Ngọc Than ở thời điểm năm 2015 lên tới 3.247 người/km2, gấp 11,7 lần so với mật độ dân số trung bình của Việt Nam năm
2015 (theo Tổng cục Thống kê năm 2015 là 277 người/km2) Điều đó chứng tỏ Ngọc Than là một làng có mật độ dân cư rất đông ở khu vực Bắc Bộ, mà như cách nói của Pierre Gourou2, đó là nơi cư trú tập trung một số lượng dân đông hiếm thấy trên một không gian nhỏ, có thể gọi là đất chật người đông
1.2.2 Sự thay đổi đơn vị hành chính làng Ngọc Than trong lịch sử
Tìm hiểu về sự thay đổi đơn vị hành chính hay nói cách khác là không gian hành chính của bất kì một làng truyền thống nào ở Bắc bộ trong lịch sử cũng gặp rất nhiều khó khăn bởi sự thiếu vắng tư liệu, Ngọc Than không là ngoại lệ Để có một hình dung bao quát về sự thay đổi hành chính làng, tôi cố gắng tiếp cận các nguồn tư liệu chính sử và đối chiếu với tư liệu của địa phương Điều đáng chú ý là khi khảo các nguồn chính sử thì hầu như địa danh làng Ngọc Than không được nhắc đến, vì vậy, chỉ có thể gắn Ngọc Than với địa danh Sơn Tây, Hà Đông, hay gần hơn là Quốc Oai trong từng thời kỳ lịch sử3
Về thời điểm bắt đầu xuất hiện đơn vị hành chính tỉnh Sơn Tây cũng có những ghi chép khác nhau Theo Đào Duy Anh, Sơn Tây tỉnh được đặt năm Minh Mệnh thứ
12 với chức Sơn Hưng Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang) tổng đốc, tục gọi
là tam tuyên tổng đốc [1, tr 1498] Trong Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ, Ngô
và ước tính có 295 làng vượt quá mật độ không thể tưởng tượng được [29, tr 138 - 144]
3
So sánh với nguồn sử liệu địa phương “Văn hóa làng Ngọc Than” của Ban văn hóa xã hội - CLB Văn hóa Thể thao Thôn Ngọc Than biên soạn năm 2011, tôi có thêm cứ liệu nghi vấn: “Làng Ngọc Than là làng cổ có lịch sử hàng nghìn năm Ngay từ thời thành lập nhà nước Văn Lang với 15 bộ, trong đó có Châu Diên (sau này là Sơn
Tây) Châu Diên chia thành nhiều vùng trong đó kẻ là khái niệm chỉ địa danh có quy mô lớn Những nơi có từ kẻ
ghép với tên làng đều thuộc vùng Đông Mông Lịch sử vùng Đông Mông - Chu Diên được xác định là trong
khoảng thời gian 2879 - 206 TCN Thời đó, Đông Mông bao quát một vùng rộng lớn từ kẻ Noi (nay là Cổ Nhuế,
Từ Liêm); kẻ Trôi, kẻ Sấu (Hoài Đức); kẻ Hiệp (Phúc Thọ); kẻ Nủa (Thạch Thất); còn khu vực hiện nay thuộc Quốc Oai có kẻ Than, kẻ So, kẻ Xếp,… Như vậy, kẻ Than đã ra đời cách đây trên 2100 năm Đến thế kỉ I SCN,
tên gọi của làng Ngọc Than là Thạch Cầu Trang” chưa đủ tính khả tín
Khảo sát thực tế tại địa bàn cho thấy họ Vương được coi là dòng họ lập làng Ngọc Than, gia phả ghi lại
có 26 đời, ước chừng gần 8 thế kỷ (26 đời x 30 năm = 780 năm) Vậy, khó thể nói làng đã có lịch sử hơn 2000 năm! Từ đó, chỉ có thể đưa ra những cứ liệu lịch sử chính thống để qua đó, phần nào nắm bắt được sự thay đổi đơn vị hành chính của làng Chúng ta hiểu, sự tự hào với quá khứ ngàn đời ở làng xã Việt Nam là phổ biến, vì thế những con số mang tính phóng đại về lịch sử lâu đời của làng là sự kiện mà nhà nghiên cứu thường xuyên gặp trên thực địa và trong các tư liệu ở địa phương
Trang 2719
Vi Liễn lại viết rằng: “Về cuối thế kỷ XV mới gọi là tỉnh Sơn Tây và mãi đến năm
1830 mới đặt quan Tổng đốc cai trị, gồm cả Hưng Hóa và Tuyên Quang Tỉnh phía bắc giáp Vĩnh Yên và sông Hồng Hà, tây giáp núi Ba Vì và Phú Thọ, đông giáp Hà Đông và nam giáp Hòa Bình” [53, tr 662]
Về phủ Quốc Oai, trong Lịch triều hiến chương loại chí có ghi: “Phủ Quốc Oai
ở phía đông Sơn Tây Huyện Từ Liêm, Đan Phượng đều ở đồng bằng, tiếp giáp với đất Kinh Bắc và Sơn Nam Huyện Thạch Thất, huyện Yên Sơn, Mỹ Lương thì gần
dãy núi” [16, tr 129-130] Trong Đại Nam nhất thống chí thì chép rằng: “Phủ Quốc
Oai ở về phía đông nam cách thành tỉnh 37 dặm Phủ thành đặt ở địa phận ba xã thôn Hoàng Xá, Yên Nội, Thạch Thán thuộc huyện Yên Sơn Đời Hán là đất quận Giao Chỉ Đời Lý là châu Quốc Oai Đời Trần đặt làm lộ, sau đổi làm trấn Đời Lê Quang Thuận đổi làm phủ Đời Cảnh Hưng, đem huyện Phúc Lộc lệ vào phủ Quảng Oai và trích lấy huyện Mỹ Lương, thuộc phủ Quảng Oai cho lệ vào phủ này Bản triều đầu đời Gia Long vẫn theo như thế, phủ này kiêm lý huyện Đan Phượng và thống hạt các huyện Từ Liêm, Yên Sơn, Thạch Thất và Mỹ Lương Năm Minh Mệnh thứ 12 đổi làm kiêm lý huyện Yên Sơn, lại trích lấy từ huyện Từ Liêm cho lệ vào tỉnh Hà Nội Năm thứ 13 (1832), tách hai huyện Đan Phượng và Thạch Thất đặt làm phân thủ Năm Tự Đức thứ năm bỏ phân phủ, nay lãnh bốn huyện [22, tr 220]
Huyện Yên Sơn1do phủ Quốc Oai kiêm lý, gồm 9 tổng, 63 xã, thôn, trại, phường: 1 Tổng Thượng Hiệp; 2 Tổng Hạ Hiệp; 3 Tổng Lật Sài; 4 Tổng Hoàng Xá; 5 Tổng Tiên Lữ; 6 Tổng Bất Lạm; 7 Tổng Thạch Thán; 8 Tổng Cấn Xá; 9 Tổng Lạp Thượng Ba huyện thống hạt: Mỹ Lương, Đan Phượng, Thạch Thất [24, tr 917] Riêng tổng Thạch Thán gồm 6 xã, thôn: 1 Thôn Thạch Thán; 2 Thôn Ngọc Than; 3 Thôn Phú Mỹ; 4 Xã Nghĩa Hương; 5 Xã Hữu Quang; 6 Xã Lạp Cốc Như thế, ở đây thôn Ngọc Than đã được nhắc đến thuộc tổng Thạch Thán Dựa vào các
thư tịch cổ như Các trấn tổng xã danh bị lãm, Đại Nam nhất thống chí, Sơn Tây tỉnh chí,… Sách Làng mỹ tục Hà Tây đã thống kê làng xã Hà Tây thế kỷ XVIII, trong đó,
xã Ngọc Than thuộc tổng Thạch Thán, huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây [60, tr 61]
1
“Huyện Yên Sơn: Tên đặt từ năm Quang Thuận 10 (1469) là huyện Ninh Sơn, một trong 5 huyện thuộc phủ Quốc Oai đời Lê Thánh Tông Đầu đời Lê Trung hưng, kiêng tên huý của Trang Tông (1533-1548) Lê Duy Ninh, đổi là huyện Yên Sơn Năm Minh Mệnh 13 (1832) trích hai tổng Thượng Hiệp và Hạ Hiệp trước thuộc huyện Đan Phượng sang huyện này Năm Tự Đức 2 (1849) tách thôn Đồng Trữ (trước thuộc tổng Cao Bộ huyện
Mỹ Lương) nhập vào tổng Tiên Lữ huyện này, năm Tự Đức 7 (1854) lại trích cả tổng Yên Kiện (trước thuộc Mỹ Lương) nhập vào huyện này Nay thuộc huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây [25, tr 919]
Trang 28Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, năm 1949, tỉnh Sơn Tây bao gồm 6 huyện: Thạch Thất, Tùng Thiện, Phúc Thọ, Bất Bạt, Quốc Oai, Quảng Oai và
87 xã [5, tr 183] Ngày 25-5-1950 xếp quận Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây vào quận hạng nhất [5, tr 197] Ngày 18-7-1950, tỉnh Sơn Tây chia ra làm bốn quận hành chính: Quốc Oai, Thạch Thất, Phúc Thọ và Tùng Thiện Quận Quốc Oai gồm các làng ở 7 tổng: Thượng Hiệp, Hạ Hiệp, Hoàng Xá, Lật Sài, Thạch Thán, Tiên Lữ và Bất Lãm Trong đó, tổng Thạch Thán có các làng như Dương Cốc, Hữu Quang, Nghĩa Hương, Ngọc Than, Phú Mỹ, Thạch Thán [5, tr 200] Vào tháng 7 - 1947, hợp nhất ba xã Ngọc Than, Phú Mỹ, và Thạch Thán thành xã Bình Than, thuộc huyện Quốc Oai của tỉnh Sơn Tây Ngày 22-4-1955, xã Bình Than tách thành hai xã: xã Thạch Thán và xã Bình Than [5, tr 249] Ngọc Than là một thôn của xã Bình Than, thuộc huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây Các xã khác trong huyện, trong đó có xã Đồng Quang và xã Nghĩa Hương cũng được thành lập với các thôn như hiện nay Riêng với hai xã trước kia thuộc tổng Thạch Thán thì Bương Chợ chuyển về xã Nghĩa Hương, còn Dương Cốc chuyển về xã Đồng Quang
Năm 1964, đổi tên xã Bình Than thành xã Ngọc Mỹ Từ đó, Ngọc Than là một thôn của xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây Từ ngày 21-4-1965, hợp nhất hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông thành một đơn vi hành chính mới, lấy tên là tỉnh Hà Tây [5, tr 383] thì Ngọc Than là một thôn của xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây Năm 27-12-1975, hợp nhất tỉnh Sơn Tây và tỉnh Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình [5,
tr 447] thì Ngọc Than là một thôn của xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Sơn Bình
Từ ngày 12-8-1991, chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình, trong đó, Hà Tây có diện tích tự nhiên 2.169 km2, số dân 670.000 người gồm 14 đơn
vị hành chính là thị xã Hà Đông, thị xã Sơn Tây và 12 huyện: Thanh Oai, Phú Xuyên,
Mỹ Đức, Thường Tín, Ứng Hòa, Chương Mỹ, Quốc Oai, Ba Vì, Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ, Thạch Thất [5, tr 773] Như vậy, lúc bấy giờ Ngọc Than là một thôn của xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây
Từ ngày 1-8-2008, khi sáp nhập tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội thành đơn
vị hành chính mới thì Ngọc Than là một thôn của xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Trang 2921
1.2.3 Điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội
Điều kiện kinh tế
Nằm trong địa vực Sơn Tây - xứ Đoài với cảnh quan thiên nhiên và các hệ sinh thái đa dạng, Ngọc Than vì thế thuộc nơi gần núi, gần rừng, có đồi gò, sông, ao, có vùng bán sơn địa Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế của Ngọc Than
từ xưa Tuy nhiên, cũng như điều kiện chung của xứ Đoài cũng là nơi có nhiều đồi núi, đất bạc màu và đá sỏi, đá ong, cấy trồng có nhiều khó khăn, vất vả [34, tr 21] Vì thế, làng ở Sơn Tây nói chung và Ngọc Than nói riêng thường không thuận lợi trong canh tác lúa nước với sự chênh lệch độ cao các khu đồng khá lớn, việc làm ruộng trở nên rất vất vả Ở Ngọc Than, khu đồng trên như đồng Môi, đồng Da, đồng Vường, đồng Cửa Đình thì cao, đất tốt nhưng khó giữ nước Khu đồng dưới như đồng Sộp, đồng Tép, đồng Sính,… thì thường xuyên ngập úng, có cánh đồng chỉ một năm cấy được một vụ
Về chăn nuôi, vật nuôi chủ yếu ở làng là lợn và gia cầm như gà, vịt,… từ năm
1996 cũng được đẩy mạnh Năm 2013, người làng bắt đầu có xu hướng mở trang trại, kết hợp cấy lúa và chăn nuôi, trồng cây ăn quả Toàn xã có hơn 150 mẫu đất cho mô hình trang trại này Giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm đến 70% giá trị kinh tế chung của cả làng Cho đến nay đã có 161 hộ chung phiếu làm trang trại dựa trên tiêu chuẩn mỗi hộ sử dụng 1.800 m2 mới có thể làm trang trại, đào ao, trồng cây kết hợp chăn nuôi lợn, vịt Tuy nhiên, các hộ vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất nên hầu như chưa manh dạn đầu tư quy mô lớn Cho đến thời điểm tháng 9 năm 2016, việc tiến hành cấp giấy chứng nhận sở hữu đất mới được thực hiện và tiêu chí hoàn thành vào nửa đầu năm 2017 Trường hợp hơn 10 hộ đã làm trang trại cách đây 20 - 30 năm do sử dụng đất công ích của xã, đầu tư trồng bưởi, nhãn, đu đủ, ổi và chăn nuôi có thể cho thu nhập 200 - 300 triệu/năm Năm 2015, Ngọc Than có tổng diện tích đất canh tác là 205 ha, chiếm 91% diện tích tự nhiên của làng, thế nhưng sự khó khăn trong canh tác và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế dưới tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa, nông nghiệp không còn giữ được vị trí cốt yếu trong chiến lược sinh kế của người dân nơi đây mà thay vào đó là các nghề thủ công, làm công nhân tại các khu công nghiệp lớn như khu công nghiệp 72 ha Thạch Thất, Quốc Oai với đa dạng các công việc như làm bánh kẹo, điện lạnh, may mặc, trang thiết bị dân dụng,…
Nghề thủ công ở làng khá phát triển Trong ghi chép của Ngô Vi Liễn về Sơn Tây, tỉnh chỗ nào có thổ sản gì thì dân làm nghề đấy, như ở bờ sông Hồng Hà và sông
Trang 30Bờ lắm dâu thì nuôi tằm Làng Cổ Đô và Chu Quyến dệt lụa tốt có tiếng Làng Phượng
Xá và làng Hiệp Cát dệt lượt gọi là lượt Bùng… Phủ Quốc Oai có nghề làm đồ đan có tiếng [53, tr 665] Ở làng Ngọc Than, phụ nữ thường ở nhà đan lát các dụng cụ như giỏ, bu, nơm và sau này có thêm nghề đan nón học từ làng Phú Mỹ
Ngày nay, nghề làm nón trở nên phổ biến hơn Thậm chí, trẻ em gái lớp một trong làng đã biết cách đan nón bán lấy tiền Giá nón có nhiều loại theo chất lượng sản phẩm Nón giá thấp khoảng 22.000 đồng/nón, một ngày có thể làm 4 nón Nón giá cao nhất là 100.000 đồng/nón, một ngày thợ cao tay chỉ có thể làm được một nón Bên cạnh đó, nghề mộc cũng rất phát triển Ban đầu với trên dưới chục nhóm thợ hộ gia đình, ngoài ra làm nhỏ lẻ với công việc chính là làm nhà gỗ mái chảy, lợp ngói hay lợp gianh; đóng bàn ghế, tủ, giường đơn giản bằng những loại gỗ thông thường Từ sau năm 1995, xuất hiện các loại máy tiện, máy bào, cưa nên quy mô sản xuất được mở rộng và chuyên môn hóa với các công việc như làm nhà, đóng bàn ghế, giường, tủ
Nghề mộc trong làng phát triển thêm đóng đồ gỗ cao cấp và năm 2000 trở lại đây, phát triển thêm nghề đục chạm đồ thờ cao cấp Các mặt hàng chính được các xưởng mộc Ngọc Than sản xuất gồm hoành phi, câu đối, cửa võng, tượng phật Ngoài ra, còn nhận làm nhà cổ, đình chùa Ở làng phát triển hai quy mô sản xuất nghề mộc, người không có điều kiện chỉ hình thành tổ thợ từ 5 - 7 người làm việc trực tiếp tại nhà của thợ chính Không gian được tận dụng là hiên nhà, sân nhà phục vụ cho các công việc Điển hình như anh Đỗ Văn Nam, xóm Quán, năm nay mới 28 tuổi nhưng đã có tới 9 năm làm nghề mộc dân dụng, trong đó 6 năm làm ông chủ Khuôn viên xưởng sản xuất chỉ vẻn vẹn 48 m2 nhưng thường xuyên giải quyết việc làm cho hơn 10 lao động trẻ Từ nghề mộc, doanh thu bình quân mỗi năm của gia đình anh đạt 1,5 tỷ đồng Ông Đỗ Đình Thường, xóm Giữa, không chỉ là thợ giỏi, người thiết kế, sáng tạo mẫu mà còn là thầy dạy và truyền nghề cho hàng chục lao động trong và ngoài xã Hiện xưởng mộc của gia đình ông đang thu hút trên 10 lao động Doanh thu mỗi năm đạt 3 tỷ đồng, trừ chi phí lãi 400 triệu đồng/năm Không chỉ có anh Nam, ông Thường, Ngọc Than hiện có gần 120 xưởng mộc lớn, nhỏ, giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 700 lao động với thu nhập bình quân 3 triệu đồng/lao động/tháng Thậm chí, trẻ em nam 15, 16 tuổi không tiếp tục học lên cũng đi đục, chạm với thu nhập 200 - 250.000 đồng/ngày Khi tay nghề cao có thể kiếm 500 - 600.000 đồng/ngày Theo báo cáo của UBND xã Ngọc Mỹ, doanh thu từ nghề mộc ở Ngọc
Trang 3123
Than đạt bình quân 50 tỷ đồng/năm Nghề mộc phát triển đã giúp không ít hộ dân Ngọc Than giàu lên Tỷ lệ hộ khá, giàu chiếm trên 80%, số hộ nghèo chỉ còn 8% Cuối năm 2011, Ngọc Than là một trong ba làng nghề được UBND Thành phố Hà Nội công nhận Làng nghề truyền thống Điều đó đã tiếp thêm sức mạnh để nghề mộc ngày càng phát triển
Bên cạnh nghề mộc, ở làng Ngọc Than còn nghề đóng cối xay mang nét đặc trưng riêng của làng như câu tục ngữ “Thợ cối Ngọc Than còn hơn làm quan nơi khác” Tuy thợ làm cối xay ở làng không nhiều nhưng lại có tiếng khắp xứ Đoài vì trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao Mỗi thợ ghép cối chỉ có bộ đồ nghề đơn giản, đôi quang gánh chứa dao, đục móng, đục tràng, dăm gỗ, con vồ đập đất, vỏ cối đan sẵn Cối xay do thợ làng đóng vừa nhẹ, thanh thoát, vừa hiệu quả Cho đến năm 1990, hầu như không còn ai làm thợ đóng cối do máy xay xát phát triển
Năm 2005, làng Ngọc Than có một bước ngoặt lớn về sự phát triển kinh tế Cao tốc Láng - Hòa Lạc chạy qua làng là một nhân tố lớn khiến đời sống kinh tế làng đổi thay Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một làng thuần nông thành một làng thủ công nghiệp với tiềm lực kinh tế mạnh mẽ xuất phát từ các đợt đền bù của Nhà nước Luồng gió mới của đô thị hóa thổi vào khiến làng Ngọc Than đang thay da đổi thịt cả về đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần Nếu trước năm 2005, mức tăng trưởng kinh tế của làng hàng năm đạt trên 11%, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 4.000.000 đồng/người/năm thì đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người đạt tới 25 triệu đồng/người/năm1
Điều kiện văn hóa, xã hội
Xứ Đoài vốn đã đi vào tâm thức dân gian từ lâu đời và thường xuất hiện như một không gian văn hóa trong các câu ca dao - tục ngữ quen thuộc thời Hậu Lê:
“Tiếng ai như tiếng xứ Đoài - Ăn cơm thì ít ăn khoai thì nhiều” Nên xét về mặt địa lý
- lịch sử thì xứ Đoài vốn là một vùng đất cổ trải qua biết bao biến thiên lịch sử [34, tr 9
- 10] Ngọc Than vì thế cũng là nơi chứa đựng nhiều giá trị văn hóa mà tóm lại phong khí và nhân vật gần giống như đời cổ; thói quen theo tính thật thà Thực là một khu có hình thế tốt đẹp và là chỗ đất có khí thế hùng hậu [16, tr 130]
Văn hóa truyền thống làng Ngọc Than được thể hiện rõ nét qua phong tục tập quán đậm đà bản sắc địa phương Mà ở đây, tôi chỉ xin đề cập đến những nét tiêu biểu,
1
Số liệu được cung cấp bởi trưởng thôn Đỗ Danh Lực, 58 tuổi
Trang 32đặc trưng của làng Thứ nhất là giọng nói đặc trưng mang âm điệu nặng của người dân
Ngọc Than Thoáng nghe giống một số làng huyện Thạch Thất, Ba Vì nhưng cách phát âm rất độc đáo Việc kéo dài nguyên âm và hay sử dụng âm điệu nặng, thanh
huyền đã tạo nên sự khác lạ với các vùng khác Thứ hai, Ngọc Than cho đến nay vẫn
lưu giữ được hầu hết các phong tục trong các dịp lễ, tết của làng Không kể các ngày sóc, vọng (mùng Một và 15 Âm lịch hàng tháng) và các ngày tết trong năm, ở làng còn
có thêm nhiều lễ hoặc tiết khác thường, gọi là tiệc làng Có thể liệt kê như Lễ Kỳ phúc
của phụ lão (Ngày 6 tháng Giêng); Ngày Kỳ phúc của toàn dân (Ngày 15 tháng Giêng); Mừng ngày sinh của Phạm Tu (Ngày 6 tháng Hai); Xuân tế (Ngày 13 tháng Hai); Lễ Kỳ an (Ngày 1 tháng Tư); Ngày Kỳ phúc mãi mã chiêu quân (Ngày 13 tháng Năm); Lễ xuống đồng (Ngày 1 tháng Sáu); Kỷ niệm ngày mất của Phạm Tu (Ngày 6 tháng Sáu); Kỷ niệm ngày mất của Lý Bí (Ngày 11 tháng Tám); Phú gia tiết hay lễ cơm mới (Ngày 19 tháng Chín); Tiền kỳ phúc tiết (Ngày 13 tháng Mười); Hạ điền tiết (Ngày 1 tháng Mười Một); Cáo yết (Ngày 1 tháng Mười Hai); Chính tế (Ngày 2 tháng Mười Hai); Lễ Trừ tịch (Ngày 30 tháng Mười Hai),… Vào các ngày lễ hội, các trò chơi, diễn xướng dân gian như hát cửa đình, chọi gà, đánh cờ người, kéo chữ Vạn Xuân, bắt vịt,… diễn ra hết sức sôi nổi và đặc sắc Đây được coi như một kho bảo tàng lưu giữ những giá trị văn hóa dân gian mà nhờ đó làm nên được nét sống động, độc đáo của làng Ngọc Than
Thứ ba, Ngọc Than còn là một làng được biết đến là đất danh hương, có truyền
thống hiếu học và làng khoa bảng Người làng Ngọc Than xưa nay đều có xu hướng thiên về văn chương, trọng tín nghĩa “Bút Ngọc - Nghiên Than” chính là biểu tượng cho sự hiếu học ấy Người làng Ngọc Than đi học vì quý chữ nghĩa nên cái tính quý trọng ham thích chữ nghĩa đã thấm vào mỗi người và biểu hiện ra ngoài qua cách ứng
xử hằng ngày Trong các đám hiếu, đám hỷ, lễ mừng thọ, tân gia,… người mang câu đối, bài thơ tự sáng tác đến phúng hoặc chúc mừng Đức tính hiếu học của làng luôn được khuyến khích Trong hương ước làng năm 1942 có hẳn một khoản về sự giáo dục của làng Các vị khoa bảng ngoài nhận được phần thưởng là tiền, hiện vật còn được lưu danh vào bảng vàng, bia đá của làng Sự hiếu học của dân làng cùng chính sách khuyến học được duy trì liên tục đã tạo nên nền móng vững chắc cho sự phát triển không ngừng và bền lâu trong truyền thống giáo dục làng Ngọc Than Minh chứng ghi
chép trong cuốn Ngọc Than đăng khoa lục với 100 người đỗ đạt thời phong kiến và 81
Trang 3325
lượt đỗ Tú tài, 23 lượt đỗ Cử nhân, 1 Tiến sĩ thời cận hiện đại và hiện đại [7, tr 8] Tuy nhiên, con số ngày nay đã có sự thay đổi, thậm chí có những người mới chỉ được ghi trong gia phả của các dòng họ Ở làng, những dòng họ vượt trội có số người đỗ đạt nhiều như Nguyễn Đình, Đỗ, Doãn,… với các nhận vật tiêu biểu như Đặng Trần Toản, Đặng Trần Chuyên, Doãn Kế Thiện,… Đến nay, truyền thống học hành của Ngọc Than rực rỡ hơn thể hiện truyền thống khoa bảng ngày càng được gìn giữ và phát huy
Nét đặc sắc trong đời sống xã hội làng Ngọc Than, giống như Từ Chi đã nghiên cứu về tổ cức làng xã cổ truyền, dù làng nhiều hình thức như phường, hội nhưng giáp mới là tổ chức quan trọng nhất Làng Ngọc Than dưới thời phong kiến cũng được
tổ chức dưới dạng phe/giáp để tiện quản lý khi có việc làng Ngọc Than có 4 giáp tồn tại kéo dài cho đến thời kỳ cải cách ruộng đất năm 1955 mới thực sự chấm dứt Trong
đó, giáp Yên Mỹ là giáp đông nhất, có thế mạnh trong quyết định các công việc của làng Đứng đầu giáp là trưởng hay trùm giáp là người cao tuổi và biết các công việc trong giáp để quản lý
Trang 34Tiểu kết chương 1
Tổng quan tài liệu nghiên cứu cho thấy làng là một thực thể có nhiều biến đổi trong hơn một thế kỷ vừa qua Cách hiểu vể làng, các quan niệm về làng xuất hiện trong tài liệu nghiên cứu là những cơ sở quan trọng góp phần tăng cường tri thức của chúng ta về làng ở đồng bằng sông Hồng
Làng không chỉ là một chủ đề nghiên cứu hay và quan trọng, mà còn có nhiều hướng tiếp cận khác nhau Trong đó, hướng tiếp cận không gian làng ở đồng bằng sông Hồng không hề mới, được sử dụng từ đầu thế kỷ XX Trong nghiên cứu về làng, các quan điểm được nhìn nhận ở góc độ mang tính chất bổ sung, làm sáng tỏ và đặc biệt càng minh chứng cho tính phức tạp của làng Việt
Soi chiếu vào Ngọc Than, với quá trình hình thành và phát triển lâu đời, Ngọc Than là một trong những làng có bề dày lịch sử Đây từng là một làng quê thuần nông chứa đựng nhiều nét văn hóa đặc sắc với những không gian truyền thống đấm chất làng xã đồng bằng Bắc Bộ Mảnh đất danh hương, làng khoa bảng có truyền thống hiếu học được gìn giữ và phát huy từ xưa cho đến nay Bên cạnh đó, với cư trú mật tập, theo xóm và bản chất là quan hệ thân tộc, trong họ ngoài làng cũng là một nét đặc trưng của cư trú châu thổ Bắc Kỳ Làng đã và đang trải qua khá nhiều biến đổi, như sẽ được phân tích trong các chương tiếp theo
Trang 3527
CHƯƠNG 2: ĐÔ THỊ HÓA Ở LÀNG NGỌC THAN
2.1 Đô thị hóa ở ven đô Hà Nội
Sự phát triển của các thành phố là một trong những hiện tượng đáng chú ý nhất của thế kỷ XX Không gian đô thị trên thế giới, quá trình đô thị hóa và những tác động của nó cũng được giới nghiên cứu rất quan tâm trong nhiều năm trở lại đây Đặc biệt, sự phát triển của đô thị hóa vùng ven, nơi đô thị tiến vào khu vực nông thôn, nhưng cần nhìn nhận rằng, đó là sự chuyển hóa thay vì xóa bỏ, và theo quy định thông thường, đây là kết quả của một sự tăng trưởng tự phát hơn là có kế hoạch Đó là điều kiện cho ra đời một xã hội nửa đô thị, nửa nông thôn [51, tr 278
- 281] Nghiên cứu về đô thị hóa ở nhiều nơi trên thế giới còn mở ra một cái nhìn trên diện rộng về sự vận hành của một vùng đô thị và làm thế nào để có thể đáp ứng được hàng loạt các “thách thức của vùng đô thị lớn” Một trong những thách thức trong việc quy hoạch vùng đô thị liên quan đến “khu vực vành đai của vùng
đô thị lớn”, theo nghĩa rộng của cụm từ này, từ những vùng rìa ven đô cho đến tận địa bàn chủ yếu là nông thôn Bên cạnh các vấn đề về giao thông, dịch vụ đô thị, môi trường, các nguy cơ, hạn chế về kinh tế, tài chính thì vấn đề nghiêm trọng nhất các nhà lãnh đạo tại các vùng đô thị, đặc biệt tại các nước đang phát triển như Việt Nam phải đối mặt đó chính là những khó khăn lớn trong tiếp cận với đất ở và nhà
ở Người nghèo hay các đối tượng yếu thế bị gạt ra ngoài lề, hiện tượng này đang gia tăng một cách rõ rệt và tiếp tục làm phức tạp thêm tình hình các đô thị đang phát triển bằng những biểu hiện tiêu cực như nhà ở đô thị bỏ không hay các cộng đồng khép kín [4, tr 198]
Đối chiếu với đô thị hóa ở Hà Nội, ta thấy có những nét tương đồng, đặc biệt là đô thị hóa các vùng ven, hướng đến khu vực nông thôn, mà cụ thể chính là làng xã Đô thị hóa ở làng xã ven đô hiểu là sự chuyển dịch dân cư từ lĩnh vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp và đi kèm với nó là sự hình thành các điểm dân
cư đô thị mới hoặc sự mở rộng các đô thị mới ra vùng nông thôn Cùng với sự len lỏi của kinh tế thị trường đến từng ngõ xóm của thôn làng, nguồn đất nông nghiệp
bị thu hẹp, từng bước làm thay đổi không gian xã hội và không gian kiến trúc làng
xã [74, tr 230-231] Đồng thời, đó là sự chuyển dịch về vật chất, kinh tế mà còn là lối sống, văn hóa Nó được xem như những dấu hiệu nổi bật của hiện đại hóa và là tác nhân quan trọng trong sự chuyển đổi kinh tế, văn hóa, xã hội và không gian
Trang 36Vấn đề đô thị hóa ở ven đô còn được nhấn mạnh là sự hình thành, lan tỏa và phát triển ngày càng mạnh mẽ của tính đô thị thay thế cho những đặc tính nông dân, nông nghiệp và nông thôn vốn là những đặc tính nổi trội ở không gian sống trước khi bị đô thị hóa [71, tr 76]
Để hiểu quá trình này, trước hết, cần nắm được sự hình thành ban đầu của
Hà Nội Thành phố Hà Nội hình thành vào năm 1010 khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Đại La Vua Lý Thái Tổ đặt tên kinh đô lúc bấy giờ là Thăng Long “Rồng bay lên” Thăng Long bắt đầu phát triển kể từ thế kỷ 14 với tên gọi dân gian là Kẻ Chợ Thăng Long trở thành một thị trường lớn tiêu thụ các mặt hàng thủ công của đồng bằng sông Hồng Kẻ Chợ có 5 đến 6 bến tàu và mạng lưới gồm 8 chợ vào thế kỷ thứ XVI và 4 chợ mới vào thế kỷ thứ XIX ở tất cả các cửa ngõ ra vào thành Thăng Long được chia thành nhiều Phường, mỗi Phường phát triển một nghề thủ công Vào thế kỷ thứ XIII, thành phố có 61 phường, nhưng đến thế kỷ thứ XVI chỉ còn lại 36 Phường Các phường sau đó được chuyển thành Phố, và ngày nay, mỗi phố mang tên một nghề thủ công Mỗi phố của Thăng Long đều có các mối quan hệ với một vài làng nghề ở đồng bằng sông Hồng, hỗ trợ sự phát triển của các làng nghề này vốn rất cần thiết trong việc tạo việc làm và cải thiện thu nhập của người nông dân Người dân ở các phố của Hà Nội là những thợ thủ công đến từ các làng nghề
mà hiện nay họ vẫn còn giữ các mối quan hệ với làng quê của mình Sản phẩm của một số làng nghề được hoàn thiện tại Hà Nội trước khi đưa ra thị trường Mô hình
đô thị hóa này đã làm cho Hà Nội trở thành trung tâm kinh tế của đồng bằng sông Hồng và đã kết nối, hỗ trợ sự phát triển của khu vực này Tuy nhiên, ngày nay, Hà Nội và các thành phố khác của Việt Nam đang áp dụng mô hình công nghiệp hóa
và đô thị hóa dựa trên thu hút đầu tư nước ngoài, mở ngõ thị trường nội địa cho các công ty nước ngoài Trong thế kỷ XX, và nhất là trong thời kỳ Đổi mới, Hà Nội có ảnh hưởng lớn đến quá trình đô thị hóa vùng ven
Nghiên cứu về sự mở rộng của các vùng ven Hà Nội trong khuôn khổ dự án RURBASIE do Liên minh Châu Âu tài trợ đã cho thấy trong hai thập kỷ gần đây, xung quanh Hà Nội đã hình thành ít nhất ba vành đai chính
Vành đai 1: gồm các làng gần sát trung tâm Hà Nội đã và đang đô thị hóa
Trong vành đai này, người nông dân nếu còn làm nông nghiệp, thì hầu hết mục đích chính là để giữ quyền sử dụng đất của mình hơn là vì kế sinh nhai lâu dài
Trang 3729
Chính vì thế, đầu cơ đất ở đây là hoạt động có nhiều ngụ ý cho việc giữ đất nông nghiệp
Vành đai 2: gồm các làng ở xa trung tâm thành phố hơn, chưa có điều kiện
đô thị hóa mạnh mẽ, song đang trong giai đoạn có sự phát triển các hoạt động phi nông nghiệp khá nhanh, nhất là ở các làng nghề truyền thống Nhiều làng nghề kết hợp với các làng lân cận lập thành các cụm ngành nghề nhằm tạo việc làm, cải thiện thu nhập của người dân và giữ người nông dân ở lại với nông thôn Những cụm ngành nghề này đang bị đô thị hóa tự phát mà không có quy hoạch cũng như
hỗ trợ của nhà nước, tạo nên quá trình đô thị hóa phi tập trung ở vùng ven Hà Nội với vành đai cụm công nghiệp và nông nghiệp rất năng động tạo thành một hệ thống mới như ở các nước Đông Á Quá trình này đã dẫn đến nhưng thay đổi về cơ cấu trong vùng dựa trên nội lực
Vành đai 3: gồm các làng ở xa trung tâm đô thị của thủ đô, có mối quan hệ
kinh tế vừa trực tiếp vừa không trực tiếp với trung tâm thủ đô Hoạt động chính ở đây là nông nghiệp và thu nhập của người dân còn chưa cao như ở khu vực vành đai 2 Nam giới và phụ nữ trẻ di dân lên thành phố tìm việc, để lại nhiều hoạt động nông nghiệp cho phụ nữ trung tuổi và người già Nền nông nghiệp ở đây bắt đầu mang tính quãng canh và ít dần các hoạt động chăn nuôi Điều này dẫn đến có nguy cơ suy giảm các hoạt động nông nghiệp Như vậy, điều quan trọng được nhận
ra, đó chính là sự phát triển của đô thị cần phải kéo theo sự phát triển của vùng nông thôn xung quanh, nơi có rất nhiều tiềm năng sản xuất nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 2009)
Từ việc xem xét về “sự lan ra của đô thị”1 (“urban sprawl”) ở ven đô Hà Nội, có thể nhận ra một số điểm cơ bản của đô thị hóa làng xã ven đô như sau2
Thứ nhất, là những biến đổi về biến giới hành chính dẫn đến sự mở rộng thành phố, cùng với đó là mở rộng khu vực ven đô Quá trình đô thị hoá ở Hà Nội thời kỳ
đổi mới được diễn ra trong khung cảnh kinh tế - xã hội trong nước đầy biến động Đây cũng chính là thời kỳ bộ mặt đô thị Hà Nội, đặc biệt là khu vực ven đô biến đổi nhanh và mạnh, không những có tác động mạnh mẽ đối với đời sống kinh tế -
xã hội mà còn để lại nhiều dấu ấn rõ nét trên bộ mặt kiến trúc đô thị Hà Nội hiện
Trang 38nay Các điểm dân cư ven đô, những khu vực có khả năng tạo động lực phát triển
đô thị, những quỹ đất thuận lợi đã liên tục được khoác lên mình những chiếc áo đô thị ngày một rộng hơn Năm 2008, Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 5 đã thông qua nghị quyết số 15 điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội “Hà Nội mở rộng” chính thức có hiệu lực vào ngày 1-8-2008, bao gồm thành phố thủ đô và 219.000 ha thuộc tỉnh Hà Tây cũ, quận Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình Sự mở rộng này đã tăng tổng diện tích lãnh thổ của thủ đô Hà Nội từ 92.000 ha lên gần 334.500 ha Có thể thấy, đây là một sự chuyển đổi mạnh mẽ mang tính cách mạng về diện tích tự nhiên của Hà Nội so với trước khi mở rộng Việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố cùng với việc chuyển đổi một số huyện thuộc vùng đô thị mở rộng lên thành quận sẽ càng làm gia tăng sức ép của đô thị hóa lên các làng xã nông thôn tại các khu vực này Rất nhiều vùng nông thôn đang đứng trước nguy cơ bị đô thị hóa hoàn toàn
Thứ hai, quá trình đô thị hóa ở khu vực ven đô đã dẫn đến sự chuyển đổi quan trọng từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Từ thời kỳ nền kinh tế kế
hoạch tập trung, việc quy hoạch, xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới
đã có Tuy nhiên, cho đến năm 2011, Hà Nội đã có 19 khu công nghiệp mới sử dụng 7.526 ha đất [12, tr 213], một khu công nghệ cao, 45 cụm công nghiệp vừa và nhỏ và nhiều khi đô thị mới ở khu vực ven đô Việc thu hồi đất khu vực ven đô Hà Nội hầu như tập trung vào loại đất nông nghiệp, đó là một phần nguyên nhân dẫn đến sự song hành và trộn lẫn giữa các khu đô thị mới với các cộng đồng làng hay nói rộng hơn là giữa đô thị và nông thôn
Thứ ba, sự gia tăng dân số ở khu vực ven đô do di cư Năm 2008, Hà Nội
mở rộng không chỉ tăng vọt diện tích đất tự nhiên mà dân số chính thức tăng từ 3,5 triệu lên hơn 6,2 triệu người Như vậy, trong khi mức độ và tốc độ đô thị hóa trên phạm vi toàn quốc ở Việt Nam chậm hơn so với các nước khác trên thế giới và trong khu vực, thì Hà Nội, đã có tốc độ đô thị hóa nhanh hơn nếu so sánh với chính bản thân thành phố qua các thời điểm, nó đã đạt được tương đương với tỷ lệ đô thị hóa ở các thành phố của các nước phát triển trong khu vực Châu Á và đang phấn đấu gia nhập hàng ngũ các thành phố có dân số lớn hơn 10 triệu người của thế giới
Ở ven đô, các ngành nghề phi nông nghiệp, dịch vụ buôn bán đã thu hút một phần lực lượng lao động tại chỗ là người nông dân bị mất đất canh tác Tuy nhiên, các
Trang 3931
hoạt động sản xuất công nghiệp đòi hỏi người lao động phải có trình độ học vấn nhất định và những kĩ năng cần thiết thì lực lượng lao động tại chỗ lại không đáp ứng được, hoặc chỉ đáp ứng được một phần Do đó, người lao động có tay nghề từ nơi khác được tuyển đến Đây là một nghịch lý đang xảy ra ở các vùng ven đô Hà Nội cũng như ở các khu công nghiệp mới hiện nay [80, tr 85 - 86]
Thứ tư là biến đổi sinh kế của các hộ gia đình vùng ven đô Hà Nội Gắn liền
với việc thu hồi đất nông nghiệp - một trong những phương tiện sản xuất truyền thống của người nông dân đồng nghĩa với việc họ phải đối mặt với những thách thức lớn trong việc chuyển đổi sinh kế Tuy nhiên, để có thể hội nhập được vào cuộc sống đô thị, những người dân vùng ven cần phải có thời gian chuẩn bị về mặt tâm lý để tránh bị sốc khi phải đối mặt với những vấn đề của đô thị hóa Hơn nữa,
họ cũng cần có thời gian để trang bị cho mình một vài hành trang kiến thức, kỹ năng, tay nghề và cả vốn xã hội để có thể hòa nhập vào các hoạt động kinh tế thị trường đô thị với sự cạnh tranh khốc liệt Thực tế, đã có một bộ phận dân cư giàu lên nhanh chóng do bán đất hay bắt nhịp được với tốc độ chuyển đổi, đồng thời cũng làm cho một số khác nghèo đi do mất đất và không thể hội nhập Hệ quả là sự phân hóa giàu nghèo, những mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhóm xã hội nảy sinh
Tuy nhiên, đi sâu và phân tích quá trình đô thị hóa ở ven đô Hà Nội, đó không chỉ dừng lại ở những biến đổi về sinh kế, dân số, đất đai, địa vực hành chính
mà còn là những biến đổi trong chính không gian làng xã cổ truyền, nơi chịu tác động trực tiếp từ “tham vọng” mở rộng Hà Nội trong tổng thể và “giấc mơ ven đô” (Michael Leaf, 2016) Vậy, đô thị hóa đã có tác động thế nào đến sự biến đổi không gian của một làng ven đô? Đây phải chăng là nguyên nhân chính đang làm mất đi hay biến dạng những không gian truyền thống của làng Việt Đô thị hóa tạo lên những cơn sốt đất, tác động mạnh đến cấu trúc cảnh quan làng truyền thống bằng hiện tượng bán đất, lấp ao xây nhà, quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất thổ cư hay xây dựng các dự án phát triển đô thị Ngoài ra còn có những yếu tố nội tại tác động đến sự chuyển đổi thành phần dân cư, lao động của làng như việc phát triển sản xuất ngành nghề thủ công nghiệp, dịch vụ,… cũng là những nhân tố lớn dẫn đến sự biến đổi không gian làng Bên cạnh đó là những chính sách đổi mới, quy hoạch của Đảng và nhà nước trong những năm gần đây cũng đã làm thay đổi không gian nông thôn, làng xã Bằng cách tiếp cận không gian trong mối
Trang 40liên hệ với thời gian, cần tiến hành nghiên cứu để làm rõ sự biến đổi của không gian làng dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa những năm gần đây
Là một làng nằm trong vùng ven đô Hà Nội, trong bối cảnh đổi mới, nhất là dưới tác động của đô thị hóa, một Ngọc Than vốn thuần nông, đậm chất làng truyền thống vùng Bắc Bộ với nhà ngói, tường đá ong, đường gạch quanh co đã và đang đổi thay nhanh chóng
Một điểm nổi bật của sự thay đổi này là sự suy giảm đất nông nghiệp của làng vì các dự án phát triển đô thị, kinh tế và cơ sở hạ tầng trong vòng hơn 10 năm qua Kể từ năm 2005 đến 2011, Ngọc Than đã trải qua bốn đợt thu hồi đất nông nghiệp để phát triển đô thị với các dự án như xây dựng đường cao tốc, chung cư,
các doanh nghiệp phi nông nghiệp, Cụ thể, năm 2005, làng Ngọc Than bàn giao
4.600 m2 ruộng để làm đường cao tốc Láng Hòa Lạc; năm 2008, bàn giao trên
9.300m2 để làm trục kinh tế Bắc Nam và đường gom, hành lang hai bên đường cao tốc Láng Hòa Lạc chạy qua đồng làng Nhiều hộ có ruộng nằm trong quy hoạch đường Láng Hòa Lạc thuộc các xứ đồng Môi 1+2+3, đồng Dạnh 1+2+3, đồng Da 1+2+3 đã nhận tiền đền bù mức thấp nhất 7 triệu/sào Bắc Bộ đến cao nhất là 27
triệu đồng/sào Bắc Bộ Năm 2010, bàn giao trên 9.300m2 (thuộc đất ở đồng Bói 1, đồng Dạnh 1, đồng Môi 1) cho doanh nghiệp ô tô Trung Thượng, mức đền bù cao
nhất lên tới 294 triệu đồng/sào Bắc Bộ Tháng 7 năm 2011, bàn giao 444.036m2
(thuộc ở khu đồng Gạo 1+2, đồng Môi 1+2) cho doanh nghiệp Công ty cổ phần tài chính và phát triển doanh nghiệp (xây dựng khu đô thị Tây Quốc Oai) với giá đền
bù là 295 triệu đồng/sào Bắc Bộ1
Theo đó, trong tổng diện tích đất nông nghiệp 205 ha thì có khoảng 47 ha đất đã bị thu hồi cho các dự án, làm cho làng Ngọc Than mất đi ¼ diện tích đất canh tác nông nghiệp Đô thị hóa ở Ngọc Than như thế diễn ra trong một khoảng thời gian dù không quá “đột ngột”, nhưng đã làm cho nhiều hộ gia đình trải qua những chuyển đổi không chỉ ở việc nắm giữ đất nông nghiệp, mà quan trọng hơn là không gian sống của họ đã bị xâm nhập bởi tính đô thị được thể hiệm đậm nét ở cơ
sở hạ tầng có tính đô thị, lối sống đô thị, sự suy giảm sản xuất nông nghiệp, sự phát
1
Tư liệu thực địa, kết hợp với số liệu trong [8, tr 37]