1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay: Luận án TS. Nhân văn khác: 62 22 03

170 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoa học xã hội, tác giả Trương Thị Minh Sâm đã nêu lên khái niệm, những đặc trưng cơ bản về nguồn nhân lực, vai trò của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn Chủ tịch hội đồng

PGS.TS Đặng Hữu Toàn PGS.TS Nguyễn Thúy Vân

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu đưa ra trong luận án là dựa trên kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu của riêng tôi không sao chép kết quả nghiên cứu của người khác Nội dung của luận án có sự tham khảo và sử dụng một số thông tin, tài liệu từ các nguồn sách, tạp chí, đề án, quyết định đã được tác giả ghi rõ nguồn gốc và liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo

Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2017

Tác giả luận án

NCS Nguyễn Thị Quyết

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 6

1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 10

1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay 18

1.4 Khái quát những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 24

1.4.1 Giá trị của các công trình luận án cần tham khảo 24

1.4.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 27

Chương 2 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở QUẢNG NGÃI HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 29

2.1 Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 29

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 29

2.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao 32

2.1.3 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 40

2.2 Tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay 50

2.3 Một số yếu tố tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay 56

2.3.1 Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cách mạng khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức 56

2.3.2 Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế 57

Trang 5

2.3.3 Tác động của điều kiện kinh tế - xã hội 59 2.3.4 Tác động của chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng

cao của Việt Nam và Quảng Ngãi 65

Chương 3 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG

CAO Ở QUẢNG NGÃI HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ

VẤN ĐỀ ĐẶT RA 68 3.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng

Ngãi hiện nay 68

3.1.1.Thực trạng phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu 68 3.1.2 Thực trạng phát triển giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực chất

lượng cao 79 3.1.3 Thực trạng thu hút, đãi ngộ và sử dụng nguồn nhân lực chất

lượng cao 89 3.1.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay 94

3.2 Một số vấn đề đặt ra trong việc phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay 101 Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN

NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở QUẢNG NGÃI HIỆN NAY 112 4.1 Một số quan điểm cơ bản về phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay 112 4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay 117

4.2.1 Nâng cao nhận thức của lãnh đạo, của cộng đồng và của người

lao động về vai trò, vị trí của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với

sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương 117 4.2.2 Đẩy mạnh đổi mới giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng đào

tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 120

Trang 6

4.2.3 Xây dựng chiến lược quy hoạch phát triển nguồn nhân lực

chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

đến năm 2030 127 4.2.4 Phân bổ hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực

chất lượng cao theo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 131 4.2.5 Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ngoài tỉnh Quảng Ngãi 136 4.2.6 Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở khu kinh

tế Dung Quất, từ đó tạo đòn bẩy cho sự phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao ở Quảng Ngãi 140

KẾT LUẬN 148 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 7

Việt Nam đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn

ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới Đây là điều kiện, là cơ hội thuận lợi cho chúng ta có thể tận dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo con đường rút ngắn, đi tắt, đón đầu Để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức do toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tạo ra, thì cần có nguồn nội lực mạnh, mà trước hết là nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao với bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng nắm bắt và vận dụng một cách sáng tạo những thành tựu của khoa học - công nghệ vào điều kiện cụ thể của nước ta

Là một tỉnh ven biển nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung với

130 km bờ biển, Quảng Ngãi có nhiều lợi thế và tiềm năng trong phát triển

Trang 8

kinh tế biển Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của khu kinh tế Dung Quất và các cụm công nghiệp của tỉnh đã và đang tạo ra giá trị sản lượng công nghiệp rất lớn, nhất là công nghiệp nặng - một ngành mũi nhọn quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tạo sức bật thúc đẩy các ngành công nghiệp - dịch vụ của cả tỉnh cùng phát triển và có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực phát triển cho khu vực duyên hải miền trung Để đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp với công nghệ hiện đại, đòi hỏi Quảng Ngãi cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao

Nhận thức rõ điều này, thời gian qua, tỉnh Quảng Ngãi rất quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và bước đầu đã đạt được những thành tựu nhất định Nhận thức của các cấp, các ngành và của toàn xã hội về vai trò, vị trí của nguồn nhân lực chất lượng cao được nâng lên một bước Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao được tăng lên hàng năm Việc xây dựng và áp dụng các cơ chế, chính sách đào tạo, thu hút, sử dụng, đãi ngộ nhân lực chất lượng cao đã góp phần thu hút được một số cán bộ có trình độ cao về làm việc tại tỉnh

Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của tỉnh Số lượng nhân lực chất lượng cao có tăng lên hàng năm nhưng tốc độ gia tăng còn chậm; tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp đã gây nên tình trạng thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao, đặc biệt ở một

số ngành được xem là thế mạnh của tỉnh như các ngành kinh tế biển, lọc hóa dầu, cơ khí, tự động hóa Cùng với sự thiếu hụt về số lượng, chất lượng của nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề đáng lo ngại hơn cả Sự hạn chế về chất lượng biểu hiện ở chỗ: Trình độ tay nghề, chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, kỷ luật, tác phong công nghiệp, sự năng động, sáng tạo, trình độ hiểu biết pháp luật và thể lực kém; khả năng thích nghi , thích ứng với môi trường làm việc đầy biến động như hiện nay chưa tốt Bên cạnh đó là sự suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ của nguồn nhân

Trang 9

lực chất lượng cao đó là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Cơ cấu, sắp xếp nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiê ̣n nay chưa thâ ̣t h ợp lý, tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” còn diễn ra ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều bất cập; các chính sách về thu hút, đãi ngộ sử dụng đội ngũ nhân lực này chưa đạt được kết quả như mong muốn; tình trạng "chảy máu chất xám" sang các nước phát triển và các địa phương khác trong cả nước còn khá phổ biến

Với nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế biển và sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng, tiềm năng của Quảng Ngãi còn rất lớn, nơi đây đã và đang trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu

tư cả trong và ngoài nước Trong thời gian tới, với sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh sẽ diễn ra nhanh hơn, việc thực hiện các cam kết quốc tế sẽ nghiêm túc hơn, yêu cầu về chất nguồn nhân lực cũng cao hơn Vì vậy, hơn lúc nào hết, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh trở nên vô cùng bức thiết trong bối cảnh hiện nay

Để đáp ứng yêu cầu này, Quảng Ngãi cần có sự đánh giá một cách đúng đắn, khách quan thực trạng phát triển nguồn nhân lực nhân lực chất lượng cao của tỉnh thời gian qua, đúc rút được những điểm mạnh và hạn chế, tổng kết được những bài học về cơ chế, chính sách để từ đó đưa ra những phương hướng và giải pháp thiết thực nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách có hiệu quả

Xuất phát từ yêu cầu bức thiết này, là một công dân đang sinh sống và làm

việc ở Quảng Ngãi, tôi lựa chọn đề tài: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

ở Quảng Ngãi hiện nay làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận chung về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, luận án phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay

Trang 10

Nhiệm vụ:

Thứ nhất, nghiên cứu tổng quan những vấn đề liên quan đến đề tài luận

án Trên cơ sở kế thừa một số kết quả của các công trình nghiên cứu trước, luận án chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Thứ hai, hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về nguồn nhân lực

và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Thứ ba, phân tích thực trạng và một số vấn đề đặt ra từ thực trạng phát

triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay

Thứ tư, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân

lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng

Ngãi hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở

Quảng Ngãi từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO (2006) đến nay trên một số lĩnh vực: số lượng, chất lượng, cơ cấu dưới góc độ triết học

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Ngoài ra, tác giả cũng kế thừa có chọn lọc những thành quả của các công trình khoa học của các nhà khoa học về một số vấn

đề liên quan đến nội dung luận án

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng tổng hợp những nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgic, nguyên tắc thống nhất lý luận với thực tiễn, đối chiếu và so sánh, xử lý các số liệu thống kê

Trang 11

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án góp phần làm rõ thêm về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tầm quan trọng và những yếu tố tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay

- Luận án làm rõ thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trên cơ sở đó đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần bổ xung, hoàn thiện những nội dung

lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay ở Việt Nam nói chung và Quảng Ngãi nói riêng

Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho

những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập những vấn đề có liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Đồng thời, luận án còn có thể làm tài liệu tham khảo cho những nhà quản lý, những nhà hoạch định chính sách và những người làm công tác quản lý nhân

sự trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 11 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

Xuất phát điểm của đổi mới là gì nếu không phải là từ con người, bởi

vì, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới Trong quá trình đổi mới đất nước, hàng loạt các vấn đề về con người, về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực cần phải được tiếp tục đi sâu nghiên cứu Thời gian qua, có rất công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, trong số đó, tiêu biểu là mô ̣t số công trình sau đây:

Tài liệu nước ngoài

Năm 1997, Nxb Manak New Delhi xuất bản cuốn sách Human

resource planing: Aproach needs assessments and priorities in manpower planing của Stivastava Trong cuốn sách này, tác giả đã xem nguồn nhân lực

là nguồn vốn đặc biệt trong quá trình sản xuất, nó có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai, do đó, nếu đầu tư càng nhiều vào nguồn lực này thì giá trị gia tăng càng lớn Không giống như các nguồn vốn khác, nguồn vốn này có trình độ, có kỹ năng, có kinh nghiệm và sự sáng tạo

Năm 1998, Nxb Lao động, Hà Nội đã xuất bản cuốn sách: “Tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong sự phát triển Đông Nam Á của các tác giả

Xavier, Oudin, Nguyễn Thị Cành, Bernard Haudville Trong cuốn sách này, các tác giả đã chỉ ra tác động to lớn của những biến đổi kinh tế - xã hội đến nguồn nhân lực; đặc điểm và xu hướng phát triển của nguồn nhân lực; các vấn

đề về quan hệ lao động, về việc làm ở Việt Nam nói riêng và các nước Đông Nam Á nói chung

Trong cuốn Lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm

đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Năm 2001, các tác giả Nolwen,

Henaff, Jean – Yves Martin, Geoffrey B.Hainworth đã khái quát thực tiễn phát

Trang 13

triển nguồn nhân lực Việt Nam những năm đầu của thời kỳ đổi mới, từ đó chỉ

ra những hạn chế trong giáo dục đào tạo làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam đó là mức học phí, sự thiếu hụt kinh niên số giáo viên mới vào nghề ở mỗi cấp học, tiền lương thấp so với các ngành nghề khác Vì vậy, cần phải cải cách chương trình đào tạo và các cải cách giáo dục khác bao gồm tăng số lượng phòng học, tăng số lượng giáo viên, nâng cấp trang thiết bị phục vụ giảng dạy, tăng tiền lương Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến một số vấn đề về việc làm, vấn đề tổ chức lại nền kinh tế và cơ cấu lại

xã hội, chiến lược cá nhân và gia đình, chiến lược của doanh nghiệp

Năm 2010, nhà xuất bản Kinh tế quốc dân đã dịch cuốn sách Chuyển

hóa nguồn nhân lực của các tác gi ả William J.Rothwell, Robert K.Prescott và

Maria W.Taylor Cuốn sách được kết cấu thành 3 phần: Phần mô ̣t nói về “chuyển hóa nguồn nhân lực”; phần hai các tác giả khẳng định sự cần thiết phải “quan tâm đến các xu hướng tương lai”; phần ba đề cập đến vấn đề “thiết lâ ̣p vai trò mới của lãnh đạo nguồn nhân lực”

Các tác giả kh ẳng định rằng: “Để tối đa hóa thành tố con người , phải thiết kế cơ cấu của tổ chức , hê ̣ thống kế hoa ̣ch và kiểm soát , quản lý nguồn nhân lực và văn hóa… hê ̣ thống và các chính sách được xây dựng cho viê ̣c tuyển du ̣ng, duy trì, đào ta ̣o và phát triển nghề nghiê ̣p” [94, tr.56] Bên cạnh đó, các tác giả cũng nh ấn mạnh tầm quan tro ̣ng của vốn tri thức đ ối với nguồn nhân lực khi cho rằng: “Tăng trưởng kinh tế có thể chỉ đến từ sự gia tăng liên tục và mạnh mẽ năng suất lao động của nguồn nhân lực trong đó các quốc gia phát triển vẫn có thể cạnh tranh (và họ sẽ tiếp tục duy trì được vị thế này trong vài thập kỷ nữa), tri thức và nhân công có tri thức” [94, tr.72] Quan niê ̣m này

có một số điểm tương đồng với chủ trương phát triển nguồn nhân lực nói chung

và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng ở Việt Nam hiện nay

Tài liệu trong nước

Năm 2001, Tạp chí Lao động và Xã hội số 3 có đăng bài "Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa" của các tác giả Đinh Trọng Thắng và Ngô Văn Giang Trong bài viết này, các tác giả đã tập trung

Trang 14

phân tích vai trò của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời chỉ ra những những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình hội nhập đối với sự phát triển nguồn nhân lực ở nước ta Bên cạnh đó, các tác giả cũng đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, từ đó đề ra những định hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay Trong các giải pháp, giải pháp về giáo dục và đào tạo được các tác giả tập trung phân tích

Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của tiến sĩ Nguyễn Thanh, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2002 Cuốn sách đã đưa ra quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực; mục tiêu tổng quát của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tính tất yếu của việc phát triển nguồn nhân lực trên cở sở khẳng định phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích thực trạng nguồn nhân lực; từ đó tìm ra những định hướng trong việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó nhấn mạnh phải lấy giáo dục và đào tạo làm quốc sách hàng đầu

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con

người ở Việt Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Cuốn sách đã trình bày hệ

thống một số vấn đề cơ bản về nguồn lực con người; những yêu cầu cơ bản về phát triển, phân bổ và sử dụng nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay; giới thiệu kinh nghiệm của một số nước như Mỹ, Nhật, Trung Quốc về vấn đề này Bên cạnh đó, tác giả cũng đánh giá thực trạng phát triển, phân bổ và sử dụng nguồn lực con người ở Việt Nam trong những năm đổi mới; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực này trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta

Năm 2003, trong cuốn Những luận cứ khoa học của việc phát triển

nguồn nhân lực công nghiệp cho vùng kinh tế trọng điểm phía nam (NXB

Trang 15

Khoa học xã hội), tác giả Trương Thị Minh Sâm đã nêu lên khái niệm, những đặc trưng cơ bản về nguồn nhân lực, vai trò của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nêu lên kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản phân tích thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm phía nam, từ đó đề xuất một số chính sách và giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực của vùng kinh tế trọng điểm này

Trong bài viết: Cơ hội và thách thức về nguồn nhân lực khi gia nhập

WTO, Tạp chí Lao động và xã hội số 324, năm 2007, tác giả Hồng Minh đã chỉ

ra những cơ hội cho lao động Việt Nam khi gia nhập WTO đó là: "Việc làm được tạo ra nhiều hơn, tham gia phân công lao động quốc tế sâu hơn và tiếp cận nhiều hơn với trang thiết bị hiện đại, trình độ quản lý, tổ chức sản xuất tiên tiến" [78; tr.16] Bên cạnh những cơ hội, Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức to lớn về nguồn nhân lực trong bối cảnh hội nhập Đó là, chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế cả về trí lực và thể lực, lao động qua đào tạo mới đạt 31,5% và hầu hết còn mang thói quen, tập quán sản xuất nhỏ, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp kém, kỹ năng làm việc theo nhóm hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của doanh nghiệp cũng như phát triển kinh tế, xã hội Bên cạnh đó, với trên 50% lao động làm nông nghiệp, phần đông chưa qua đào tạo, hội nhập thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực kéo theo nguy cơ mất việc làm lớn của lao động nông nghiệp trong khi việc đào tạo chuyển đổi nghề khó khăn Trên cơ sở phân tích cơ hội

và thách thức, tác giả nêu lên một số kinh nghiệm và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực nước ta đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Năm 2008, với đề tài Giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam

sau 20 năm đổi mới (1986 - 2006), tác giả Phạm Công Nhất đã phân tích khái

niệm nguồn nhân lực; khẳng định tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội; nêu lên kinh nghiệm của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực như

Trang 16

Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra thực trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam sau 20 năm đổi mới; đánh giá chung về những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra; nêu lên một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đến năm 2020

Năm 2014, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tùng đã bảo vệ thành công

luận án tiến sĩ với đề tài Vấn đề phát triển nguồn lực con người trong quá trình

công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay tại Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh Trong luận án, tác giả đã đi sâu phân tích các khái niệm nguồn lực con người, phát triển nguồn lực con người, nêu lên các yếu tố cơ bản tác động đến phát triển nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, tác giả còn tập trung phân tích thực trạng phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An; chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và một số vấn đề đặt ra đối với việc phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đề xuất ba nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Nghệ An hiện nay đó là các nhóm giải pháp về lĩnh vực giáo dục và đào tạo, huy động các nguồn lực đầu tư để phát triển số lượng và chất lượng; nhóm giải pháp về công tác tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, sắp xếp

và nhóm giải pháp về xây dựng môi trường kinh tế - xã hội để phát triển số lượng, chất lượng nguồn lực con người trong quá trình công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa ở Nghệ An hiện nay

1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Tài liệu nước ngoài

Năm 1996, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản cuốn sách

Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước do

Thẩm Vinh Hoa và Ngô Quốc Diện (đồng chủ biên) Đây là công trình phân

Trang 17

tích một cách có hệ thống tư tưởng của Đặng Tiểu Bình về trí thức, nhân tài,

về tôn trọng và phát triển nhân tài, về giáo dục - đào tạo phát triển nhân tài trong quá trình cải cách, mở cửa của Trung Quốc Cuốn sách đã khẳng định vai trò then chốt của nhân tài đối với sự phát triển đất nước Khái niệm nhân tài được đề cập đến trong tác phẩm có n ội hàm rất sâu sắc và ngoại diên cũng khá rộng lớn Nhân tài ở đây không chỉ được hiểu là những nhân vật thiên tài, nhân vật vĩ đại, những nhà khoa học đầu đàn, những chuyên gia mà còn cả những người lao động tiên tiến, ưu tú trong lực lượng lao động xã hội, trong nguồn nhân lực như công nhân, nông dân giỏi đều được coi là nhân tài Như vậy, khái niệm nhân tài ở đây gần đồng nghĩa với khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay

Nhận thức được vai trò then chốt của nhân tài đối với sự phát triển đất nước, các tác giả cho rằng, viê ̣c bồi dưỡng và giáo du ̣c nhân tài là vấn đề lớn quyết đi ̣nh tới lợi ích lâu dài và sự sinh tử , tồn vong của xã h ội Trung Quốc hiện đại Cùng với việc khẳng định vi ̣ trí, vai trò của nhân tài , các tác giả còn chỉ ra con đường và phương pháp tuyển cho ̣n nhân tài; sử du ̣ng và bố trí nhân tài sao cho có hiê ̣u quả , mang la ̣i lợi ích cho quốc gia , dân tô ̣c Trong đó, các tác giả đặc biệt nh ấn mạnh đến viê ̣c ta ̣o môi trường thu ận lợi cho nhân tài phát triển và cải cách chế độ nhân sự

Năm 2010, nhà xuất bản Nhân dân Trung Quốc xuất bản cuốn sách

Chiến lược quốc gia nhân tài biến đổi thế giới của Vương Huy Diệu Trong

cuốn sách này, tác giả Vương Huy Diệu đã nêu lên chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (nhân tài) của Trung Quốc, phân tích một số vấn đề cơ bản về nhân tài, đánh giá thực trạng phát triển nhân tài của Trung Quốc hiện nay; từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước Trung Quốc trong thời kỳ phát triển mới Trong tất cả các giải pháp, Vương Huy Diệu đặc biệt chú trọng đến giải pháp về giáo dục đào tạo, coi đây là giải pháp mang tính quyết định đối với sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Trang 18

Tài liệu trong nước

Tháng 8 năm 2002, tạp chí Lý luận chính trị số 8 có đăng bài Phát triển

nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế của Nguyễn Hữu Dũng Trong bài viết của

mình, tác giả đã trình bày quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao, đánh giá sơ lược về thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy nguồn lực này ở nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Năm 2005, tạp chí Lao động và xã hội số 264 có đăng bài viết Phát

triển nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa của tác giả Mạc

Văn Tiến Trong bài viết này, tác giả đã từng bước làm rõ sự cần thiết cũng như vai trò quan trọng của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập, đồng thời chỉ ra những tác động tích cực

và tiêu cực của quá trình hội nhập đến nguồn nhân lực chất lượng cao Bài viết cũng tập trung phân tích thực trạng nguồn nhân lực, từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập của Việt Nam hiện nay

Năm 2005, nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội xuất bản cuốn sách Đào tạo, bồi

dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng của tác giả Trần Văn Tùng Trong

cuốn sách này, tác giả trình bày những kinh nghiệm trong phát hiện, đào tạo và

sử dụng tài năng khoa học - công nghệ sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ

và một số quốc gia châu Âu như Đức, Pháp, Anh, và châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc So sánh với Việt Nam, tác giả đề xuất một số chính sách về phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả các tài năng khoa học

Năm 2006, Viện Chiến lược phát triển của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã

chủ trì triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ Nguồn nhân lực chất

lượng cao: Hiện trạng phát triển, sử dụng và các giải pháp tăng cường

Trong đề tài nghiên cứu, các tác giả đã nêu ra quan điểm của mình về nguồn

Trang 19

nhân lực chất lượng cao; tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; giới thiệu kinh nghiệm của một số nước về lĩnh vực này như Hàn Quốc, Trung Quốc Đề tài cũng bước đầu đánh giá thực trạng một số nhóm nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta

mà theo các tác giả là có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của đất nước và toàn bộ nguồn nhân lực đó là nhóm nguồn nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng; nhân lực lãnh đạo quản lý nhà nước và hoạch định chính sách; nhân lực khoa học - công nghệ; đội ngũ giảng viên đại học, cao đẳng Trên cơ sở phân tích thực trạng, các tác giả đề xuất những giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong những năm tiếp theo đó là giải pháp về tăng cường, nâng cao tầm vóc và thể lực; đổi mới đào tạo để nâng cao chất lượng

và đổi mới chính sách sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao

Năm 2008, với đề tài: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt

Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả Lê Thị Hồng Điệp đã

nêu lên những vấn đề cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế; phân tích khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao; nêu lên những yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của một số quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc

tế Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao và

từ đó đề xuất những giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam Ở đây, tác giả tập trung phân tích hai giải pháp cơ bản đó là: Giải pháp về giáo dục đào tạo và giải pháp về

sử sụng, thu hút nhân lực chất lượng cao

Năm 2008, trong luận án tiến sỹ triết học Phát triển nguồn nhân lực

phục vụ công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đại hóa ở Đà Nẵng, tác giả Dương Anh Hoàng

đã phân tích mô ̣t số khái niê ̣m như nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, chỉ ra 3 điểm tương đồng và 3 điểm khác biệt trong phát triển nguồn nhân lực giữa Việt Nam và các nước trong khu vực để từ đó rút ra 4 bài học kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực cho Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực của Đà Nẵng

Trang 20

thời gian qua, tác giả đưa ra 3 quan điểm có tính chất định hướng và đề xuất 4 giải pháp để phát triển nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đà Nẵng trong thời gian tới Các giải phá p được tác giả t ập trung phân tích trong luận án của mình đó là: Phát triển kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phát triển khoa học công nghệ và xây dựng nếp sống văn minh đô thị Trong đó, giải pháp nâng cao ch ất lượng giáo dục đào tạo được tác giả đặc biệt chú ý nhấn mạnh

Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực ở mô ̣t đi ̣a phương thuô ̣c khu vực duyên hải nam trung bộ rất gần với Quảng Ngãi có nhiều điểm tương đồng với pha ̣m vi đề tài nghiên cứu của nghiên c ứu sinh, do đó những kết quả đa ̣t được của luâ ̣n án là tài liê ̣u tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình thực hiê ̣n luâ ̣n án

Năm 2009, tạp chí Kinh tế đối ngoại số 38 có đăng bài Phát triển

nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng của tác giả Hoàng Văn Châu Trong bài viết này, tác giả đã chỉ

rõ tầm quan trọng của nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Với đối tượng là nguồn nhân lực có trình độ cao - lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao được đào tạo chủ yếu ở các trường đại học, tác giả đã đề cập tới thực trạng thị trường lao động chất lượng cao ở Việt Nam; tác động của khủng hoảng tài chính tới thị trường nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam Từ đó, tác giả đưa ra 10 giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đến năm 2010 Các giải pháp chủ yếu tập trung vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bằng cách nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo tại các trường đại học của Việt Nam nói chung và Trường Đại học Ngoại thương nói riêng Theo tác giả luận án, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không đơn thuần chỉ là trách nhiệm của các cơ sở giáo dục - đào tạo mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương trong cả nước và của cả bản thân nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng

Trang 21

Năm 2009, các tác giả Dương Văn Quảng, Bành Tiến Long, Trịnh Đức

Dụ đã biên soạn cuốn sách Kỷ yếu Hội thảo Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ

hội nhập quốc tế,nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Cuốn sách tập hợp nhiều bài

viết của các tác giả về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc

tế, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; một số bài đã phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực nước ta, chỉ ra những hạn chế, bất cập của nguồn nhân lực trước đòi hỏi của hội nhập quốc tế Trong cuốn kỷ yếu, các tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập của nguồn nhân lực nước ta, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao là do những hạn chế của giáo dục đào tạo; từ đó, xác định những vấn đề cơ bản đối với giáo dục đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế

Nguồn lực trí tuê ̣ Viê ̣t Nam - lịch sử, hiê ̣n trạng và triển vọng do Nguyễn

Văn Khánh Chủ biên (2012), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Trong cuốn sách này, ngoài việc trình bày những vấn đề lý luâ ̣n chung về trí tuê ̣, nguồn lực trí tuê ̣, xây dựng và phát huy ngu ồn lực trí tuệ , tác giả còn nêu lên kinh nghiê ̣m xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuê ̣ của Viê ̣t Nam và mô ̣t số nước trên thế giới Bên cạnh đó, tác giả cũng đánh giá thực tra ̣ng nguồn lực trí tuê ̣ Viê ̣t Nam trong các lĩnh vực của đời sống xã hô ̣i; phân tích những yếu tố tác động đến việc sử dụng nguồn lực trí tuệ, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn và triển vọng phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay

Năm 2013, nghiên cứu sinh Nguyễn Thi ̣ Giáng Hương đã bảo vê ̣ thành công luâ ̣n án tiến sĩ triết ho ̣c , chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và

chủ nghĩa duy vật lịch sử với đề tài Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất

lượng cao ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia

Hồ Chí Minh Trong luâ ̣n án này , ngoài việc làm rõ một số khái niệm như : nguồn nhân lực; nguồn nhân lực nữ; nguồn nhân lực nữ chất lượng cao v.v tác giả đi sâu phân tích tầm quan trọng cũng như những đi ều kiện khách quan và nhân tố chủ quan tác đô ̣ng đến viê ̣c phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay Trên cở sở khảo sát thực tra ̣ng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Viê ̣t Nam , chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên

Trang 22

nhân của ngững thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở nước ta hiện nay, tác giả đề xuất m ột số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam Đó là nhóm giải pháp về đẩy mạnh phát triển kinh tế bền vững nhằm tạo điều kiện khách quan thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao; giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của chủ thể và toàn xã hô ̣i trong viê ̣c phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao; giải pháp về tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các ban ngành, địa phương về đổi mới công tác đào tạo, đổi mới chính sách tuyển dụng, chính sách sử dụng và đãi ngộ đối với nguồn nhân lực nữ chất lượng cao

Trong bài viết: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 (tạp chí Phát triển nhân lực, số

3(34) năm 2013), tác giả Đặng Hữu Toàn đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Cũng theo tác giả, nền giáo dục Việt Nam muốn phát triển cần phải đổi mới căn bản, toàn diện theo hướng chuẩn hóa,

xã hội hóa, dân chủ hóa và hô ̣i nhâ ̣p quốc tế Nền giáo dục nước ta cần phải coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng ta ̣o, kỹ năng thực hành, khả năng

lâ ̣p nghiê ̣p cho nguồn nhân lực trong tương lai

Năm 2013, tác giả Đoàn Xuân Thủy với bài viết Những vấn đề đặt ra đối

với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay trên Tạp

chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 5 (147) Trong bài viết của mình, tác giả nêu lên

cơ sở hình thành, phát triển và đặc điểm của nguồn nhân lực chất lượng cao; đặc điểm con người Việt Nam theo phương diện nguồn nhân lực Từ đó, tác giả tập trung phân tích những vấn đề đặt ra đối với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta Những vấn đề được đề cập đến ở đây là sự mất cân đối rất lớn giữa cung và cầu lao động chất lượng cao, chất lượng lao động thực tế của nhân lực chất lượng cao còn ở mức thấp Bên cạnh đó, sự phân bổ nguồn nhân lực chất lượng cao còn mất cân đối và tập trung trong khu vực quản lý nhà nước cũng là một trong những vấn đề đặt ra đối với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay

Trang 23

Năm 2013, tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 5(147), cũng đăng bài

viết Vài kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đài Loan và

Trung Quốc của các tác giả Vũ Thùy Dương, Nguyễn Thị Thu Phương, Trần

Lê Minh Trang Bài viết nêu lên những kinh nghiệm trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đài Loan đó là: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải bám sát nhu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội; chính quyền cần phát huy vai trò tích cực của mình trong việc tăng cường và điều phối kinh phí ngân sách đào tạo nguồn nhân lực; kiện toàn đội ngũ giáo viên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phối hợp chặt chẽ giữa vấn đề xây dựng và nâng cao tính hiệu quả trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Đối với Trung Quốc, kinh nghiệm trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao được tập trung vào vấn đề trẻ hóa và đào tạo bài bản nguồn nhân lực chất lượng cao ở 3 lĩnh vực then chốt là lãnh đạo Đảng, chính quyền; quản lý kinh doanh và kỹ thuật chuyên ngành Với cách làm này, trải qua ba thập kỷ phát triển, Đài Loan đã nhanh chóng trở thành một trong bốn con rồng Châu Á, còn Trung Quốc trở thành một cường quốc kinh tế mới có tầm ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trên quy mô toàn cầu Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đài Loan và Trung Quốc sẽ

là những gợi mở hữu ích cho bài toán phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam nói chung và ở Quảng Ngãi nói riêng

Năm 2014, nghiên cứu sinh Lương Công Lý đã bảo vệ thành công luận

án tiến sĩ với đề tài Giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực

chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh Trong luâ ̣n án này, ngoài việc làm rõ một số khái niê ̣m như: Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tác giả đi sâu phân tích những nhân tố tác động và yêu cầu của giáo dục - đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở khảo sát thực trạng thực hiện vai trò của giáo dục - đào tạo, chỉ ra một số mâu thuẫn cần giải quyết trong việc phát huy vai trò của giáo dục - đào tạo, tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm

Trang 24

phát huy vai trò của giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay

Năm 2014, Báo Nhân dân có đăng bài viết Một số vấn đề về phát triển

nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay của tác giả Tô Huy Rứa

Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao, đó là những người lao động có kỹ năng, các nhà khoa học và công nghệ xuất sắc, các nhà quản lý giỏi, các nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới vượt trội Trên cơ sở quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao, tác giả nêu lên vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đề xuất một số định hướng nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay Một số định hướng lớn được tác giả tập trung phân tích đó là: Phải phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải gắn với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ; đối với mỗi ngành, mỗi địa phương, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi ngành, mỗi địa phương

Năm 2015, nghiên cứu sinh Phạm Thị Vân Anh bảo vệ thành công luận

án tiến sĩ với đề tài Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các khu

công nghiệp ở Bắc Ninh tại Học viện Khoa học xã hội Trong luận án của

mình, tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước và quốc tế; phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các khu công nghiệp ở Bắc Ninh; từ đó nêu lên một số định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các khu công nghiệp ở Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay

Mă ̣c dù chưa nhiều , nhưng trong những năm gần đây đã xuất hiê ̣n mô ̣t số công tr ình nghiên cứu liên quan đến th ực trạng và giải pháp phát triển

Trang 25

nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao ở Qu ảng Ngãi từ các góc

độ khác nhau Trong đó, tiêu biểu là những công trình sau:

Năm 2004, tạp chí Khoa học xã hội số 12 có đăng bài viết Vấn đề đào

tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế của các tỉnh miền trung của tác

giả Dương Hoàng Anh Trong bài viết của mình, tác giả Dương Hoàng Anh

đã đề cập đến một số bất cập trong việc sử dụng nguồn nhân lực ở miền trung Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những giải pháp để phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ở miền trung

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng kinh tế trọng điểm miền trung của Hồ Tấn Sáng (Kỷ yếu Hội thảo Phát triển nguồn nhân lực cho

vùng kinh tế trọng điểm miền trung, 2011) Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích những yêu cầu bức thiết của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền trung, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở các tỉnh này trong giai đoạn 2011 - 2020 Các giải pháp được tác giả đề cập đến là: Tiến hành dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, phục vụ cho công tác quy hoạch phát triển của các ngành kinh tế và tạo dựng cơ cấu lao động phù hợp; xây dựng chiến lược phát triển khoa học - công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa kết hợp với đào tạo và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống chính sách nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho nguồn nhân lực; tập trung cải cách nội dung chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy ở tất cả các cấp học, ngành học trong hệ thống giáo dục quốc dân phục vụ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Cũng trong Kỷ yếu Hội thảo Phát triển nguồn nhân lực cho vùng kinh

tế trọng điểm miền trung năm 2011, tác giả Bùi Quang Bình có bài viết: Đào

tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền trung trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Trong bài viết của mình, tác giả nêu lên yêu cầu bức thiết phải đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng cho khu vực kinh tế trọng điểm miền trung trong

Trang 26

điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay và thực trạng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của các trường đại học, cao đẳng

ở khu vực này Trên cơ sở đó, tác giả nêu lên những vấn đề đang tồn tại và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của các tỉnh trong khu vực kinh tế trọng điểm miền trung

Năm 2013, nghiên cứu sinh Lê Quang Hùng bảo vệ thành công công

luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế phát triển với đề tài Phát triển nguồn

nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền trung tại Viện Chiến

lược phát triển Luận án gồm 3 chương: Chương 1, tác giả phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực chất lượng cao đó là quan niệm

về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao; những nội dung cơ bản của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay; đặc điểm, các tiêu chí đánh giá và kinh nghiệm của một số nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Điểm đáng lưu ý ở chương này là tác giả đã nên lên một số điểm khác biệt giữa khái niệm chất lượng nguồn nhân lực và khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Chương 2, tác giả đánh giá hiện trạng nguồn nhân lực theo tiêu chí chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền trung với những ưu và nhược điểm cụ thể như: "Lực lượng lao động dồi dào, cần cù, thông minh, sáng tạo Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, thể hiện ở chỗ: tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp hơn mức trung bình của cả nước, trình độ đào tạo, kỹ năng nghề còn thấp và thể lực còn nhiều hạn chế, năng suất lao động, chỉ số cạnh tranh tổng hợp thấp, năng lực phát minh sáng chế yếu so với các vùng kinh tế trọng điểm khác; chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của các khu công nghiệp, khu kinh tế của vùng" [56, tr.113] Trên cơ sở đánh giá hiện trạng ở chương 2, sang chương 3, tác giả nêu lên phương hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền trung đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Quảng Ngãi là một trong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung nên những kết quả nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn trong các

Trang 27

công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm này là những tài liệu rất bổ ích để nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình triển khai đề tài luận án của mình

Tháng 9 năm 2009, tạp chí Lao động công đoàn, số 436 có đăng bài viết

Vài kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao từ Dung Quất của các tác giả Nguyễn An Ninh và Lê Thị ánh Tuyết Trong bài viết này,

các tác giả đã nêu lên một số kinh nghiệm trong việc phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao trong những năm qua ở nhà máy lọc dầu Dung Quất như việc đào tạo, sử dụng, thu hút, đãi ngộ và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của đội ngũ nhân lực này của nhà máy

Năm 2012, báo điện tử Quảng Ngãi đăng bài viết Nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh từ thực tiễn Quảng Ngãi của tác giả

Trương Thị Mỹ Trang Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, tác giả cho rằng: Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ cấp tỉnh đã phát huy tinh thần chủ động, nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành, khả năng chuyên môn và dự báo tình hình, đề ra nhiệm vụ với mục tiêu thích hợp và có những quyết sách đúng đắn trong phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của tiến trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, nhìn chung đội ngũ lãnh đạo, quản lý của tỉnh Quảng Ngãi còn nhiều hạn chế, đó là, tình trạng không đồng đều về trình độ chuyên môn đào tạo, năng lực thực tiễn; số cán bộ chiến lược chuyên sâu sau đại học ở từng lĩnh vực, chuyên gia giỏi đầu ngành còn quá ít Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý còn có hiện tượng chủ quan, tự mãn; một số tuy có tâm huyết với sự nghiệp cách mạng của tỉnh nhà nhưng chưa thực sự yên tâm gắn bó với cương vị công tác Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả đề xuất một

số một số biện pháp tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh:

Một là, nâng cao nhận thức của xã hội về tầm quan trọng của việc nâng

cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Theo tác giả, để làm được điều này cần phải tiếp tục triển khai đề án về đẩy mạnh phát triển nguồn

Trang 28

nhân lực tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 nhằm tuyên truyền sâu rộng và phát huy vai trò tích cực của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và toàn thể cán bộ, đảng viên trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh

Hai là, đẩy mạnh công tác quy hoạch cán bộ nhằm đảm bảo nguồn cán

bộ kế cận cho đội ngũ cán bộ quản lý lãnh đạo cấp tỉnh

Ba là, mạnh dạn bố trí lại cán bộ một cách hợp lý, chú trọng bổ sung

tạo nguồn cán bộ lãnh đạo trẻ cấp tỉnh

Bốn là, đổi mới công tác đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm

đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn hiện nay Theo tác giả, đổi mới công tác đào tạo cán bộ phải hướng đến việc khắc phục tình trạng đào tạo cán bộ chỉ nặng về bồi dưỡng những kiến thức chính trị cơ bản, không đi sâu vào chuyên ngành, không chú ý đào tạo để nâng cao trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất là nghiệp vụ về quản lý kinh tế, quản lý nhà nước Bên cạnh đó, cần quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo sau đại học cho đội ngũ cán bộ, quản lý ở cả trong và ngoài nước theo các đề án của tỉnh đã được phê duyệt

Năm là, tăng cường công tác tự phê bình và phê bình, rèn luyện phẩm

chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ

Sáu là, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan tham

mưu về công tác cán bộ

Bảy là, để khuyến khích tài năng phát triển, tỉnh cần có những chính

sách đãi ngộ đối với những cán bộ quản lý, lãnh đạo giỏi Có như vậy mới khuyến khích người tài phát triển, người trung bình phải nỗ lực phấn đấu vươn lên, không để người có tài và người bất tài hưởng thụ đãi ngộ ngang nhau Bên cạnh đó, tỉnh cũng cần có chính sách thu hút nhân tài từ các nơi khác đến Quảng Ngãi hoặc người Quảng Ngãi hiện đang công tác, sinh sống

ở các nơi khác về quê hương công tác và mạnh dạn bổ nhiệm họ vào những chức danh lãnh đạo, quản lý thích hợp với chuyên môn và năng lực của họ

Ngoài một số công trình khoa học trên , Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân, mô ̣t số cơ quan c ấp tỉnh cũng ban hành các văn bản , báo

Trang 29

cáo (chứ không phải là những công trình nghiên cứu ) ít nhiều có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài

Năm 2011, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ra Nghị quyết về đẩy

mạnh phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020 với mục tiêu: Xây dựng, phát triển nguồn nhân lực

của tỉnh đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, góp phần đưa Quảng Ngãi cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Nghị quyết cũng chỉ ra, để đạt được mục tiêu nói trên, cần phải thực hiện tốt công tác khảo sát, dự báo, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực; tiếp tục phát triển quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục từ bậc mầm non đến phổ thông; tập trung đào tạo nghề và xây dựng đội ngũ doanh nhân, quản trị doanh nghiệp giỏi; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị; đào tạo, bồi dưỡng, thu hút cán

bộ có trình độ cao và đội ngũ chuyên gia giỏi trên các lĩnh vực; nâng cao chất lượng công tác dân số, y tế, bảo vệ môi trường; phát triển văn hóa, thể dục, thể thao, nâng cao đời sống tinh thần, thể chất nguồn nhân lực; phân bổ, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn nhân lực

Năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành đề án đào tạo

trình độ thạc sỹ, tiến sỹ và thu hút nhân lực có trình độ cao giai đoạn 2011 -

2015 và định hướng đến năm 2020 của tỉnh Quảng Ngãi Đề án đã đánh giá

thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ sau đại học của tỉnh Theo đó, tính đến ngày 21/12/2010, tổng số cán bộ công chức, viên chức trong các cơ quan Đảng, đoàn thể, cơ quan hành chính, nhà nước và các đơn

vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh và huyện là 23.117 người Trong số đó có 21 người có trình độ tiến sĩ và tương đương chiếm tỷ lệ 0,09%; 454 người có trình

độ thạc sĩ và tương đương chiếm tỷ lệ 1,96% Xuất phát từ thực trạng nói trên,

đề án vạch ra mục tiêu cụ thể Theo đó, giai đoạn 2011 - 2015, đào tạo và thu hút

Trang 30

300 thạc sỹ ở trong và ngoài nước, 20 tiến sỹ; giai đoạn 2016 - 2020 đào tạo và thu hút 350 thạc sỹ, 25 tiến sỹ ở trong và ngoài nước

Năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Báo cáo tổng kết 6 năm

hội nhập kinh tế quốc tế tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2007 - 2012, định hướng, giải pháp hội nhập 2013 - 2015 Báo cáo đã nêu lên những kết quả đạt được,

những hạn chế, tồn tại và đưa ra một số giải pháp chủ yếu về phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong thời gian đến Các giải pháp được nêu ra ở đây là: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, quản lý của chính quyền và sự quan tâm thực hiện của toàn xã hội; tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nguồn nhân lực ở những ngành nghề

mà tỉnh đang cần; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho đầu tư đẩy mạnh nguồn nhân lực; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, ưu tiên đầu tư cơ

sở vật chất, trang thiết bị dạy học trong các cơ sở giáo dục; mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế, tăng cường hợp tác đào tạo nhân lực với nước ngoài

Ngoài những công trình nói trên, còn có một số luận văn nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực chất lượng

cao ở Quảng Ngãi nói riêng như Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại

nhà máy lọc dầu Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi của Từ Thị Cẩm Giang; Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở khu kinh tế Dung Quất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng kinh tế miền Trung của Lê Thị Ánh Tuyết; Phát triển nguồn nhân lực ở huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, của Huỳnh

Việt Hùng và Giải pháp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi của

Bùi Văn Dũng

1.4 Khái quát những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.4.1 Giá trị của các công trình luận án cần tham khảo

Tổng hợp tình hình nghiên cứu trên đây ch o thấy, vấn đề nguồn nhân lực, phát triển nguồn lực , nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều cá ch tiếp câ ̣n

Trang 31

khác nhau Sau khi khảo cứu kết quả của các công trình đó , tác giả rút ra một số nhận xét khái quát sau:

Các công trình nghiên cứu ở trên đã có nhiều đóng góp có ý nghĩa về mặt khoa học, làm sáng tỏ nhiều vấn đề như khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao ở góc độ định tính hay định lượng Nhiều công trình nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh vai trò, vị trí, tầm quan trọng của nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, coi đây là nguồn lực quan trọng nhất, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của đất nước nói chung và của mỗi địa phương nói riêng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Nhiều công trình cũng khẳng định, ở mỗi thời kỳ lịch sử với những đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau thì yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cũng có sự khác nhau; mỗi loại nhân lực chất lượng cao lại có những yêu cầu khác nhau về phẩm chất, năng lực, phù hợp với đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của từng loại nguồn nhân lực Bên cạnh đó, một số công trình lại nhấn mạnh vai trò to lớn của giáo dục - đào tạo và sự cần thiết phải đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo để phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng Một số tác giả đi phân tích thực trạng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng ở Việt Nam trong những năm qua và xu thế phát triển của nó trong tương lai Đồng thời, bước đầu làm rõ quan điểm của Đảng ta đối với việc phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đó đưa ra một số phương hướng cơ bản

và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, của kinh tế tri thức dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay

Đối với Quảng Ngãi, cho đến nay đã có một số công trình chủ yếu là các bài báo, luận văn, luận án, các văn bản, đề án của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ban, ngành nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Tuy nhiên, số lượng rất ít

Trang 32

chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay Nghiên cứu những công trình này, tác giả luận án rút ra một số kết luận như sau:

Trong số những đề tài, công trình khoa học, các văn bản nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi, một số công trình đã đánh giá thực trạng phát triển, đưa ra những quan điểm của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu đó, tiềm năng của nguồn nhân lực chất lượng cao với tư cách là một nguồn lực quan trọng của quá trình đổi mới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hiện nay còn chưa được đề cập xứng đáng

Hơn nữa, cho đến thời điểm này, các công trình nghiên cứu chủ yếu giới hạn trong những phạm vi hẹp như phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao ở một huyện cụ thể của tỉnh Một số công trình lại đề cập đến sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một doanh nghiệp (nhà máy Lọc dầu Dung Quất) hay ở một khu kinh tế (khu kinh tế Dung Quất) Cũng đã có công trình đề cập đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi nhưng mới chỉ dừng lại ở việc đề xuất những giải pháp nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao Theo tác giả luận án, để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức, dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay cần đưa ra được những giải pháp mang tính tổng thể trong việc đào tạo, quản

lý, sử dụng và thu hút nguồn nhân lực này Những giải pháp đó cần được xây dựng thành hệ thống để từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả nhất nhằm khác phục tình trạng khan hiếm nguồn nhân lực chất lượng cao Thực tiễn công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời gian qua của tỉnh cho thấy, vẫn còn nhiều bất cập trong việc quy hoạch, đào

Trang 33

tạo, phân bổ và sử dụng nguồn lực này giữa các ngành, các địa phương trên địa bàn tỉnh Thực trạng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Cũng giống như các địa phương khác trên cả nước, hiện nay Quảng Ngãi đang phải thuê lao động chất lượng cao mà chủ yếu là đội ngũ chuyên gia từ nước ngoài ở nhiều ngành nghề và xuất khẩu lao động phổ thông gây ra nhiều lãng phí khi phải trả lương quá cao cho lao động nước ngoài, trong khi

đó lại không thể khai thác triệt để thế mạnh về nguồn nhân lực dồi dào của tỉnh Vì vậy, theo tác giả để khắc phục tình trạng này, Quảng Ngãi một mặt phải xây dựng được hệ thống giải pháp đồng bộ cả về đào tạo, phân bổ, sử dụng và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, mặt khác phải có giải pháp mang tính trọng tâm, trọng điểm, tạo bước đột phá để đẩy mạnh việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới

và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước và của tỉnh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Tóm lại, những công trình và các đề tài nghiên cứu được đề cập ở trên của các tác giả trong thời gian qua đã có nhiều đóng góp quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Tác giả luận án coi đây là những tư liệu tham khảo bổ ích

có tính gợi mở để triển khai nội dung nghiên cứu của mình

1.4.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Bên cạnh những giá trị to lớn về mặt lý luận và thực tiễn mà các công trình nghiên cứu nêu trên đã đạt được, những vấn đề về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là những vấn đề phức tạp cần được tiếp tục nghiên cứu Hơn nữa, đối với Quảng Ngãi, do cách tiếp cận và phạm

vi nghiên cứu khác nhau nên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có

hệ thống, toàn diện và cụ thể vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

ở Quảng Ngãi hiện nay Cụ thể là, nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh phát triển như thế nào về cả số lượng, chất lượng, cơ cấu, giáo dục đào tạo ?

Sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thời gian qua đã đáp ứng được

Trang 34

sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hay chưa? Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi đang đặt ra những vấn đề gì cần phải giải quyết? Để thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh trong thời gian tới cần phải thực hiện những giải pháp nào? Vì vậy, tác

giả lựa chọn đề tài Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng

Ngãi hiện nay làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình

Để thực hiê ̣n mu ̣c đích, nhiê ̣m vu ̣ của luâ ̣n án, trên cơ sở kế thừa những giá trị khoa học của các công trình trước đó , luâ ̣n án tiếp tu ̣c đi sâu giải quyết

mô ̣t số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ

Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc quan điểm của các nhà khoa học về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao, luận án tiếp tu ̣c làm sáng tỏ mô ̣t số khái niê ̣m như : Nguồn nhân lực; nguồn nhân lực chất lượng cao ; phát triển nguồn nhân lực ch ất lượng cao ; tầm quan tro ̣ng và nh ững nhân tố tác động đến viê ̣c phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay

Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực

chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay như: Số lượng, chất lượng, cơ cấu, đào tạo, phân bổ, sử dụng, thu hút và chỉ rõ những vấn đề đặt ra từ thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh hiện nay

Thứ ba, trên cơ sở khảo sát thực tra ̣ng và m ột số vấn đề đặt ra trong

việc phát triển nguồn nhân lực ch ất lượng cao , tác giả đề xuất m ột số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đ ẩy sự phát triển của nguồn nhân lực này ở Quảng Ngãi hiện nay

Trang 35

Chương 2 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở QUẢNG NGÃI HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1 Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Để tiến hành các hoạt động sản xuất vật chất cần phải có những yếu tố nhất định Các yếu tố của sản xuất được biểu hiện dưới dạng các nguồn lực Các nguồn lực cơ bản của hoạt động sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và sức lao động Để đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất vật chất trên cơ sở ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ, các nguồn lực này không ngừng phát triển và được nghiên cứu phân tích trên nhiều phương diện khác nhau, từ

đó hình thành những khái niệm mới bổ sung cho các nguồn lực của sản xuất vật chất như nguồn vốn, nhân lực, khoa học - công nghệ…Vì vậy, có thể khẳng định rằng, nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực, là nguồn lực giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của hoạt động sản xuất vật chất

Nguồn là nơi phát sinh, cung cấp Nhân lực là sức của con người được thể hiện ở 3 khía cạnh: Một là, sức lực cơ bắp (thể lực); hai là, trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực); ba

là tâm lực (phẩm chất đạo đức, nhân cách, thái độ, phong cách làm việc…) Như vậy, nguồn nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó gồm 3 yếu tố có quan hệ biện chứng với nhau là thể lực, trí lực, tâm lực và nó là nơi phát sinh, nơi cung cấp sức của con người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất xã hội

Hiê ̣n nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới (World Bank), nguồn nhân lực là toàn bộ tiềm năng của con người bao gồm trí lực, tâm lực và thể lực mà mỗi cá nhân

sở hữu Tổ chức Liên hiệp quốc thì lại cho rằng: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” [125, tr.8]

Trang 36

Trong khi đó, tổ chức Lao động quốc tế (ILO) có quan niệm rộng hơn

và cụ thể hơn khi cho rằng , nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Như vậy, có thể nói nguồn nhân lực ở đây chính là lực lượng lao động bao gồm những người thực tế đang có việc làm và cả những người thất nghiệp

Theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam: "Nguồn lực con người là vốn quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp Nguồn lực đó là người lao động

có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại" [29, tr.11] Với quan điểm này, Đảng ta đã chủ trương xây dựng và phát triển một nền giáo dục toàn diện với mục tiêu là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và xem đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển xã hội chứ không phải chỉ đơn thuần là đầu tư cho phúc lợi xã hội

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu như trên chúng ta có thể thấy do cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực, nhưng khái quát lại thì có hai cách hiểu cơ bản Cách hiểu thứ nhất, đồng nhất nguồn nhân lực với nguồn lực con người (tức là xem xét nguồn nhân lực với

tư cách là toàn bộ dân số nói chung) Cách hiểu thứ hai, xem xét nguồn nhân lực với tư cách là nguồn lao động (lực lượng lao động) Với cách hiểu này, nguồn nhân lực chỉ một bộ phận của dân số có khả năng lao động, có đủ năng lực về thể chất, trí tuệ tài năng cần thiết để thực hiện hoạt động lao động có ích trong nền kinh tế Trong khuôn khổ của luận án, tác giả tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực theo cách hiểu thứ hai

Với cách tiếp cận này, tác giả cho rằng: Nguồn nhân lực là tổng hòa thể

lực, trí lực và tâm lực tồn tại trong lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, một địa phương đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất của cải vật chất và tinh thần nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của đất nước

Trang 37

Với tư cách là yếu tố quan trọng của hoạt động sản xuất vật chất, có vai trò quyết định đối với sự phát của mối quốc gia, nguồn nhân lực không ngừng phát triển theo sự phát triển của sản xuất dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và yêu cầu ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất Xét về tổng thể, chúng ta có thể nghiên cứu nguồn nhân lực theo hai phương diện là số lượng và chất lượng

Về số lượng: nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một

quốc gia Ở nước ta hiện nay, số lượng nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động với tất cả các đặc điểm về thể lực, trí lực và tâm lực cho dù có việc hay chưa việc làm Theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam, nam tuổi từ 15 đến 60, nữ từ 15 đến 55 có khả năng lao động đều thuộc lực lượng lao động, trừ một số trường hợp đặc biệt như những người có học hàm, học vị từ tiến sĩ trở lên; đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý cấp trung ương có thể kéo dài thêm thời gian lao động

Về chất lượng: Chất lượng nguồn nhân lực ở cấp độ vĩ mô được đánh

giá thông qua trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, khả năng đáp ứng với yêu cầu thị trường lao động của toàn bộ nguồn nhân lực Còn ở cấp độ vi mô chất lượng nguồn nhân lực được phán ánh thông qua trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động Từ những nội dung trên, khi nghiên cứu nguồn nhân lực dưới góc độ triết học, góc độ chính trị - xã hội cần chú ý mấy vấn đề sau:

Thứ nhất, phải luôn xem xét nguồn nhân lực với tư cách là con người xã hội, là thực thể sinh vật xã hội bởi sức mạnh của nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua sức mạnh của thể lực, trí lực, tâm lực, ở sự thống nhất biện chứng giữa sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng không chỉ trong thực tế mà còn cả ở dạng tiềm năng

Thứ hai, phải xem xét nguồn nhân lực với tư cách vừa là chủ thể vừa là khách thể trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội Với tư cách là chủ thể, nguồn nhân lực luôn khai thác và sử dụng các nguồn lực khác, đồng thời, góp phần tạo ra nguồn lực mới để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội

Trang 38

Với tư cách là khách thể, nguồn nhân lực trở thành đối tượng được khai thác cho mục tiêu phát triển của xã hội Và, nguồn nhân lực bao giờ cũng đứng ở trung tâm trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học - công nghệ chỉ có thể trở thành động lực của sự phát triển khi được kết hợp với nguồn nhân lực, được nguồn nhân lực khai thác, sử dụng trong quá trình tồn tại và phát triển

Thứ ba, thực tiễn đã chứng minh, so với tất cả các nguồn lực khác, chỉ

có nguồn nhân lực mà cốt lõi là trí tuệ con người mới là nguồn lực có tiềm năng vô hạn Tính vô hạn của trí tuệ được biểu hiện ở chỗ nó không chỉ có khả năng tự sản sinh về mặt sinh học mà còn thường xuyên được đổi mới, phát triển nếu biết chăm lo, nuôi dưỡng và phát triển một cách hợp lý Trong khi đó, các nguồn lực khác không phải là vô tận và lại bị khai thác một cách cạn kiệt

2.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao

Từ thời của C Mác, mặc dù thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được sử dụng, nhưng trong các tác phẩm của mình, C Mác đã từng nhấn mạnh: “Vậy thì nền công nghiệp do toàn xã hội thực hiện một cách tập thể và

có kế hoạch lại càng cần có những con người có năng lực phát triển toàn diện,

đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất” [72, tr.474] Không chỉ dừng lại

ở đó, C Mác còn đưa ra quan niệm về nhân tài: “nhân tài tuyệt nhiên không phải chỉ là một số ít, những nhân vật nhân tài, nhân vật vĩ đại mà các nhân tài chuyên môn và công nhân, nông dân tiên tiến đều là nhân tài” [71, tr.28] Có thể nói, quan điểm về nhân tài của Mác có nhiều điểm tương đồng với quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay

Kế thừa và phát triển quan điểm của Mác, V.I.Lênin cho rằng: Lực lượng nòng cốt của nguồn nhân lực chất lượng cao là giai cấp công nhân, đó

là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại” [64, tr.430] Theo V.I.Lênin, nguồn nhân lực này vừa là sản phẩm lại vừa là chủ thể của nền sản xuất đại công nghiệp Họ là những con người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, ứng dụng một cách sáng tạo những thành tựu của khoa học - công nghệ

Trang 39

vào sản xuất Trong nền sản xuất đại công nghiệp, họ là những người có trình

độ cao, có tính kỷ luật, ý thức tự giác và đem lại năng suất lao động cao

Ở Việt Nam, khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao được đề cập nhiều trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và đư ợc xác định

rõ trong Đại hội XI, đó là bộ phận chất lượng cao của nguồn nhân lực, bao gồm những người có tài năng, có chuyên môn giỏi theo lĩnh vực hoạt động của mình Bên cạnh đó, còn phải có phẩm chất đạo đức của người cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân Đó là những người

“giỏi”, “đầu đàn” trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội, là lực lượng nòng cốt trong nguồn nhân lực của đất nước Nguồn nhân lực chất lượng cao được thể hiện trên cả 3 phương diện là số lượng, chất lượng và cơ cấu Cả ba yếu tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau trong một chỉnh thể thống nhất tạo nên sức mạnh tổng hợp của nguồn nhân lực này

Hiện nay, khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao được các nhà nghiên cứu, các học giả bàn luận khá sôi nổi song vẫn chưa đưa ra được một khái niệm thống nhất Mỗi tác giả, tùy theo góc độ tiếp cận của mình mà có quan niệm khác nhau:

Trong cuốn: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công

nghiệp hóa và hiện đại hóa, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân

lực chất lượng cao là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình

đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [44, tr.27-28]

Trong nghiên cứu về: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc

tế, tác giả Nguyễn Hữu Dũng quan niệm: “Nhân lực chất lượng cao là khái

niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định" [21, tr.20]

Tác giả Bùi Thị Ngọc Lan lại cho rằng: "Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh túy nhất của nguồn nhân lực Lực lượng này có trình độ

Trang 40

học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi và khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, có phẩm chất tốt và khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng

đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao" [61, tr.23]

Ngoài những quan niệm nêu trên, các học giả, các nhà nghiên cứu còn

sử dụng một số thuật ngữ khác để nói về nguồn nhân lực chất lượng cao Những thuật ngữ này có nội hàm hẹp hơn và cụ thể hơn để chỉ những người lao động cụ thể làm việc trong các lĩnh vực khác nhau mà hoạt động của họ có chất lượng tốt mang lại hiệu quả cao trong các lĩnh vực sản xuất vật chất cũng như tinh thần Chẳng hạn như trong lĩnh vực sản xuất vật chất có các thuật ngữ như chuyên gia, nghệ nhân, công nhân lành nghề; trong lĩnh vực sản xuất tinh thần có các thuật ngữ như nhà bác học, nhà khoa học, chuyên gia Bên cạnh đó người ta còn dùng thuật ngữ nhân tài, vĩ nhân để khẳng định công lao

và tôn vinh những người có nhiều cống hiến cho sự phát triển của đất nước nói chung và của mỗi địa phương nói riêng

Từ những quan niệm trên, chúng ta thấy rằng, cho đến nay mặc dù chưa

có khái niệm thống nhất về nguồn nhân lực chất lượng cao nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều tiếp cận khái niệm này theo hai cách cơ bản sau:

Thứ nhất, tiếp cận về mặt định tính: Tức là định nghĩa nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên chất lượng, hiệu quả, sự phức tạp của công việc và những đóng góp của họ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và của địa phương

Với cách định nghĩa thiên về định tính, chúng ta có thể phân biệt nguồn nhân lực chất lượng cao với nguồn nhân lực nói chung dựa trên khả năng của người lao động Tuy nhiên, trong điều kiện thực tế ở Việt Nam nói chung và những địa phương như Quảng Ngãi nói riêng, những tiêu chí đánh giá khả năng của người lao động chưa được lượng hóa thì sẽ rất khó khăn để có thể thống kê đội ngũ nhân lực chất lượng cao

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w