Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài tác giả xin đi sâu vào nghiên cứu vai trò của Công tác xã hội đặc biệt dưới góc độ của tham vấn đối với những trường hợp phụ nữ sau sinh bị khủng hoả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- * -
ĐOÀN THỊ THU DUNG
VAI TRß CñA THAM VÊN §èI VíI PHô N÷ SAU SINH
BÞ KHñNG HO¶NG T¢M Lý T¹I HUYÖN Tõ LI£M, Hµ NéI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
Giảng viên hướng dẫn GS.TS Lê Thị Quý
Trang 2Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo Khoa Xã hội học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, cán bộ, nhân viên làm việc tại Trung tâm kiểm dịch y tế quốc tế Hà Nội, cùng gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS.Lê Thị Quý đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này./
Học viên
Đoàn Thị Thu Dung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GS.TS Lê Thị Quý
Các nội dung tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian và địa điểm công bố
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2014
Người thực hiện
Đoàn Thị Thu Dung
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Vài nét về tổng quan nghiên cứu của đề tài 5
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 8
4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu 9
5 Phạm vi nghiên cứu 9
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
8 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 11
9 Phương pháp nghiên cứu 12
PHẦN NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 15
1.1 Các khái niệm công cụ 15
1.1.1 Tham vấn 15
1.1.2 Khủng hoảng tâm lý 20
1.1.3 Công tác xã hội 25
1.2 Các lý thuyết ứng dụng 28
1.2.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái 28
1.2.2 Lý thuyết can thiệp khủng hoảng 31
1.2.3 Quan điểm về giới và phát triển 33
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ SAU SINH VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG THAM VẤN TRỢ GIÚP CHO PHỤ NỮ SAU SINH CÓ KHÓ
KHĂN VỀ TÂM LÝ 38
2.1 Thực trạng khó khăn tâm lý của phụ nữ sau sinh 38
2.2 Nhu cầu được tham vấn tâm lý của phụ nữ sau sinh 45
2.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong tham vấn cho phụ nữ sau sinh có khó khăn tâm lý 58
KẾT LUẬN 68
KHUYẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PNSS : Phụ nữ sau sinh
SS : Sau sinh
PN : Phụ nữ CTXH : Công tác xã hội
XH : Xã hội
KH : Khủng hoảng KHTL : Khủng hoảng tâm lý
TVTL : Tham vấn tâm lý
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mang thai sinh đẻ để phát triển nòi giống là một sứ mệnh thiêng liêng của người phụ nữ và chỉ có duy nhất người phụ nữ làm được Tuy nhiên giai đoạn này người phụ nữ gặp không ít những khó khăn về vật chất cũng như tinh thần Nhu cầu được hỗ trợ về vật chất đặc biệt là về sức khỏe tâm thần, tâm tư tình cảm cần thiết hơn bao giờ hết trong giai đoạn này Thực tế cho thấy người thân đặc biệt là người chồng và gia đình chồng trong giai đoạn này cần có nhận thức toàn diện và sâu sắc về giai đoạn nhạy cảm này của người phụ nữ
Trải qua một cuộc thay đổi lớn về thể chất sau sinh với những biến động lớn về tâm lý làm người phụ nữ dễ bị khủng hoảng Có nhiều mức độ khủng hoảng: người bị khủng hoảng trầm trọng dẫn đến giết con, tự hủy hoại bản thân…do sinh con ngoài ý muốn, chửa không được thừa nhận hay “chửa hoang”, có thai không phải con trai do định kiến nhà chồng, chồng có bồ…; Các trường hợp khủng hoảng bình thường như: lo lắng sợ hãi một cách thái quá, thờ ơ với con, thiếu tự tin vào bản thân, nhìn nhận vấn đề sai lệch, tưởng tượng những câu chuyện không có thực; bi quan chán nản với cuộc sống
Từ thực trạng những khó khăn của phụ nữ sau sinh và nhu cầu của họ
về việc hỗ trợ về sức khỏe tâm thần – tâm tư tình cảm Trong khi thực tế người thân xung quanh còn hạn chế về nhận thức chưa quan tâm đúng mức đến giai đoạn sau sinh của chị em phụ nữ dẫn đến những hệ quả không tốt đến chất lượng cuộc sống của bà mẹ trẻ em và bầu không khí của gia đình Trước những thực trạng đó thì vai trò của Công tác xã hội đặc biệt là tham vấn có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người phụ nữ trong giai đoạn này
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài tác giả xin đi sâu vào nghiên cứu vai trò của Công tác xã hội đặc biệt dưới góc độ của tham vấn đối với những trường hợp phụ nữ sau sinh bị khủng hoảng thường – trường hợp bình thường
Trang 9không phải trường hợp đặc biệt Đề tài cũng xin được giới hạn trong nghiên cứu của mình xem xét thực trạng của phự nữ sau sinh, nhu cầu và đáp ứng của người thân trước những nhu cầu của họ; Xem xét Công tác xã hội cá nhân đặc biệt là tham vấn cần thiết như thế nào đối với giai đoạn này của họ Tên đề tài của tôi là: “Vai trò của tham vấn đối với phụ nữ sau sinh bị khủng hoảng tâm
lý tại huyện Từ Liêm, Hà Nội”
2 Vài nét về tổng quan nghiên cứu của đề tài
Trong phần lịch sử nghiên cứu đề tài, chúng tôi xin chia các tài liệu nghiên cứu theo các vấn đề cụ thể như sau:
2.1 Nhu cầu tham vấn
Đã có nghiên cứu chỉ ra rằng Tham vấn ngày càng cần thiết trong xã hội hiện đại và nhu cầu ngày một lớn hơn Trong trang ctd.org.vn của Trung tâm đào tạo phát triển cộng đồng đã đưa ra bài nghiên cứu theo Tạp chí Tâm
lý học ngày 21/08/2011 chỉ ra rằng Tham vấn tâm lí – Một dịch vụ cần phát
triển ở Việt Nam (Phần hai) Trong bài nghiên cứu này tác giả đã đưa ra thực
tế phát triển của dịch vụ này tại các nước trên thế giới trước thực trạng các vấn đề xã hội ngày một phức tạp Tại Việt Nam bài nghiên cứu này cũng chỉ
ra “Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù còn nhiều tranh luận về thuật ngữ, song kết quả một số điều tra, nghiên cứu gần đây như của Trường Cao đẳng Lao động
- Xã hội (1997, 2004), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (2002), Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2004) v.v cũng như hoạt động thực tiễn cho thấy nhu cầu của loại hình dịch vụ này đang có chiều hướng tăng lên, đặc biệt là ở các khu vực đô thị, thành phố lớn” – Trích dẫn từ bài nghiên cứu Tham vấn tâm lí - Một dịch vụ cần phát triển
ở Việt Nam (phần 2) trên Tạp chí tâm lí được đăng trên trang ctd.org.vn của
Trung tâm đào tạo phát triển cộng đồng ngày 21/08/2011 của Tác giả Bùi Thị Xuân Mai
Trang 102.2 Nghiên cứu về phụ nữ sau sinh về mặt y sinh học – chăm sóc sau sinh về mặt y tế
Trong Luận án nghiên cứu Tiến Sĩ của tác giả Phạm Phương Lan – Bộ giáo dục đào tạo và Bộ y tế công bố năm 2014, đã nghiên cứu về “Thực trạng chăm sóc sau sinh của bà mẹ ở hai bệnh viện trên địa bàn Hà Nội và đánh giá
mô hình chăm sóc sau sinh tại nhà”
Trong nghiên cứu này đã đưa ra xem xét chi tiết, sâu sắc về các nội dung chăm sóc sau sinh cho bà mẹ và trẻ em về mặt y tế Về kết quả nghiên cứu tác giả đã mô tả thực trạng kiến thức thực hành việc chăm sóc sau sinh đối với chị
em phụ nữ và nhu cầu chăm sóc sau sinh của họ như thế nào; Nghiên cứu cũng xem xét thực trạng chăm sóc sau sinh tại nhà cho bà mẹ trẻ em Ngoài ra tác giả cũng đưa ra nội dung chăm sóc sau sinh theo hướng dẫn quốc gia:
“Từ ngày thứ hai đến 6 tuần nếu bà mẹ xuất viện các cán bộ y tế thực hiện chăm sóc cần thực hiện quy trình:
- Về phía người mẹ:
+ Vệ sinh hàng ngày
+ Chăm sóc vú
+ Tư vấn: Giải quyết vấn đề tâm lý (nếu có)…
Luận án đi sâu vào nghiên cứu về những nhu cầu của PNSS là chăm sóc về ý tế như vết mổ; chế độ dinh dưỡng, cách cho con bú ….Luận án cũng đưa ra các mô hình chăm sóc sau sinh tại một số nước trên thế giới và để xem xét một cách toàn diện về thực trang ở Việt Nam Luận án đã đánh giá nhu cầu hiện tại của PNSS và mức độ đáp ứng với nhu cầu trên thực tế của họ
Luận án của tác giả đã thành công trong nghiên cứu về Thực trạng chăm sóc bà mẹ sau sinh ở hai bệnh viện lớn và đánh giá mô hình chăm sóc sau sinh tại nhà Trong khuôn khổ của đề tài tác giả Phạm Phương Lan tập trung quan tâm về việc chăm sóc sau sinh cho bà mẹ và bé về mặt y sinh học một cách khoa học và sâu sắc Trong giới hạn của đề tài tác giả chưa đi
Trang 11nghiên cứu sâu về vấn đề hỗ trợ, chia sẻ về mặt tinh thần cũng như chưa đi sâu vào xem xét những khó khăn về tâm lý của PNSS
2.3 Những biến đổi về tâm lý của phụ nữ sau sinh con
Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra Phụ nữ sau sinh gặp một số biến đổi về tâm lý gây khó khăn đến cuộc sống của họ Trong tạp chí Tâm lý học, số 4 (121), 4 – 2009 tác giả Nguyến Linh Trang - Trung tâm nghiên cứu về Phụ
nữ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra mốc thời gian cho thấy việc nghiên cứu về sự biến đổi của PNSS về mặt tâm lý đã có từ thời cổ đại qua các tác phẩm của nhà y học Hippocrates đã có những dấu hiệu nhận thấy phụ nữ sau sinh có những biến đổi về tâm lý và đến đầu thế kỷ XIX không chỉ có các nhà
y học nghiên cứu mà còn có các nhà tâm thần học, xã hội học quan tâm
Trong bài nghiên cứu này tác giả cũng đưa ra 3 mức độ biến đổi tâm lý mà phụ nữ sau sinh hay gặp phải do kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước đó Dù ở mức độ nào người phụ nữ sau sinh đều cần được hỗ trợ , chia sẻ về kiến thức, kinh nghiệm và tâm lý đsể vượt qua giai đoạn khó khăn của mình
Tác giả cũng đưa ra biểu hiện rõ nhất của sự biến đổi tâm lý ở người phụ nữ sau sinh là rất dễ khóc: 33,3% dễ khóc, 24,1% lo sợ, 16,6% cáu gắt, 9,6% tủi thân, 16,6% là khác Trong bài viết tác giả cũng phân tích những chia sẻ của các bà mẹ về tâm trạng sau sinh và nhận thấy trong 30 phụ nữ có
độ tuổi dưới 35 có 18 bà mẹ ( chiếm 60%) đã từng trải qua trạng thái “Cơn buồn thoáng qua sau sinh”, 5 bà mẹ ( chiếm 16,6% ) đã từng mắc trầm cảm sau sinh, một bà mẹ mắc chứng loạn thần sau sinh
Tác giả cũng nhận định gia đình người thân, đặc biệt người chồng có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tâm lý cho phụ nữ sau sinh vượt qua giai đoạn này
Bài nghiên cứu dưới góc độ xã hội học đã chỉ ra những khó khăn về tâm lý của PNSS Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vai trò của người
Trang 12chồng trong việc hỗ trợ, chia sẻ những khó khăn về tâm lý cũng như những người thân xung quanh chưa được nhận thức một cách toàn diện
Trong bài nghiên cứu của Ths BS Nguyễn Ngọc Quang về “Rối loạn tâm thần thời kỳ mang thai và sau sinh” trên báo suckhoevadoisong.vn đã đăng ngày 25/10/2012 đã đưa ra những vấn đề phụ nữ sau sinh thương gặp phải dưới góc
độ y sinh học Trong đó bác sỹ có nhắc đến những biểu hiện rối loạn tâm căn thời kỳ mang thai và khi bàn đến vấn đề điều trị có nhắc đến liệu pháp tâm lý nâng đỡ, liệu pháp gia đình chủ yếu là giải thích cho người chồng
Như vậy:
Đối tượng là phụ nữ sau sinh được nghiên cứu cơ bản trên lĩnh vực y học và xã hội học là chủ yếu PN nói chung được được quan tâm nhiều trong các vấn đề như: Chăm sóc sức khỏe sinh sản; kế hoạch hóa gia đình, luật bạo lực gia đình…
Trong thực tế đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến những biến đổi tâm lý của phụ nữ sau sinh ở mức độ khác nhau và có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bà mẹ và trẻ em Phản ánh thực tế hạn chế nhận thức cũng như quan tâm chưa đúng mức về chăm sóc phụ nữ sau sinh về mặt tâm lý của người chồng và những người thân xung quanh
Công tác xã hội dành nhiều chuyên đề nhiều thảo luận dành cho phụ
nữ, phụ nữ nghèo; phụ nữ bị buôn bán…Tuy nhiên đề tài nói về CTXH đặc biệt là tham vấn trong CTXH đối với phụ nữ sau sinh chưa được đề cập tới Giai đoạn sau sinh cũng chưa được xem xét như một tình thế hay hoàn cảnh nảy sinh vấn đề cần CTXH hỗ trợ
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết nối các lý thuyết công tác xã hội cá nhân với thực tế một trường hợp nghiên cứu giúp bản thân tác giả và các bạn sinh viên hiểu thêm về kỹ năng kết nối từ lý thuyết đến thực hành
Trang 133.2 Ý nghĩa thực tiễn
Giúp cho người phụ nữ và gia đình của họ, đặc biệt là người chồng có kiến thức chăm sóc phụ nữ sau sinh toàn diện hơn Người chồng, gia đình và rộng hơn nữa là xã hội cần có “nhạy cảm” hơn nữa đối với người phụ nữ trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng của cuộc đời họ
Và hơn cả đề tài cũng mong qua bước đầu của hoạt động tham vấn sẽ giải tỏa được cảm xúc tiêu cực, giải toả khủng hoảng tâm lý góp phần nâng cao được chất lượng cuộc sống của bà mẹ trẻ em
4 Đối tƣợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của tham vấn đối với phụ nữ sau sinh bị khủng hoảng tâm lý tại huyện Từ Liêm, Hà Nội
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Phụ nữ sau sinh có khó khăn về tâm lý: 10 phỏng vấn sâu + 07 thành viên trong thảo luận nhóm
- Chồng và gia đình của phụ nữ sau sinh: 10
- Chuyên gia nghiên cứu về phụ nữ/ Bác sỹ sản khoa: 02
5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung tại những địa bàn huyện Từ Liêm, Hà Nội (Xã Mễ Trì Thƣợng, Mễ Trì Hạ, Mỹ Đình, Thị trấn Cầu Diễn)
Thời gian nghiên cứu: Tháng 10 năm 2012 – Tháng 4 năm 2014
Phạm vi về đối tƣợng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu phụ nữ sau
sinh bị khủng hoảng tâm lý (trong vòng 6 tháng sau sinh, thời gian thuận lợi tiếp cận PNSS vì trong giai đoạn hưởng chế độ thai sản) Đối tượng PNSS bị khủng hoảng nhưng chưa đến mức độ có ý định tự sát (Khủng hoảng tâm lý đặc biệt bất thường) mà ở mức độ nhìn nhận vấn đề một cách sai lạc không đúng thực tế khách quan ví dụ như lo sợ quá, nghi ngờ không có căn cứ về người chồng, trách móc bản thân, cảm thấy bất lực không tự tin vào bản thân (Trường hợp khủng hoảng bình thường)…những xáo trộn này làm ảnh hưởng
Trang 14đến chất lượng cuộc sống không chỉ riêng bản thân họ mà còn ảnh hưởng đến mối quan hệ gia đình cụ thể là mối quan hệ với người chồng, sức khỏe của bà
mẹ, trẻ em
Đề tài tập trung vào nghiên cứu việc sử dụng hoạt động tham vấn trong
công tác xã hội đối với phụ nữ sau sinh có cần thiết và hiệu quả như thế nào trong thực tế trước những biến đổi tâm lý họ gặp phải Đóng góp vào thực hành công tác xã hội – Thực hành tham vấn trong CTXH đối với đối tượng là phụ nữ sau sinh bị KHTL
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng khó khăn tâm lý của phụ nữ sau sinh như thế nào?
- Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong tham vấn trợ giúp cho phụ
nữ sau sinh có khó khăn về tâm lý là gì?
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng các biến đổi tâm sinh lý, nhu cầu của họ và việc chăm sóc PNSS của gia đình, cán bộ y tế hiện nay Những mặt được và những mặt còn hạn chế, những bài học thực tế
- Vai trò của Công tác xã hội đặc biệt là tham vấn đối với PNSS thông qua phương pháp công tác xã hội cá nhân
- Đề xuất các giải pháp chăm sóc PNSS đặc biệt dưới góc độ công tác xã hội
7.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
+ Nghiên cứu các lý thuyết liên quan: Các lý thuyết về tham vấn PNSS; Các lý thuyết sử dụng để giải thích nguyên nhân, can thiệp hỗ trợ PNSS bị khủng hoảng: Lý thuyết hệ thống sinh thái; Lý thuyết giới và phát triển; Lý thuyết can thiệp khủng hoảng Dựa trên các lý thuyết đó để soi đường chỉ lối cho nghiên cứu rõ rang, khách quan, đáng tin cậy, lý giải nguyên nhân diễn tiến tâm lý của PNSS gặp phải và chuẩn bị các buổi thực hành hợp lý
Trang 15+ Nghiên cứu về mô hình, kỹ năng tham vấn trường hợp PNSS bị khủng hoảng tâm lý trong công tác xã hội cá nhân và áp dụng vào thực hành tham vấn giải tỏa cảm xúc tiêu cực cho một trường hợp điển hình
7.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
+ Nghiên cứu thực trạng khủng hoảng tâm lý của phụ nữ sau sinh
+ Nghiên cứu vai trò của tham vấn đối với phụ nữ sau sinh bị khủng hoảng tâm lý tại huyện Từ Liêm, Hà Nội (Nghiên cứu thực hành tham vấn cho một trường hợp điển hình bị khủng hoảng tâm lý)
8 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
8.1 Giả thuyết nghiên cứu
-Phần lớn phụ nữ sau sinh đều gặp khó khăn do xáo trộn tâm lý ở mức
độ khác nhau
- Vai trò của tham vấn đối với phụ nữ sau sinh bị khủng hoảng tâm lý là cần thiết để giúp họ lấy lại cân bằng trong cuộc sống; góp phần chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em tốt hơn
Trang 168.2 Khung lý thuyết
9 Phương pháp nghiên cứu
Sự phân chia các phương pháp sử dụng trong đề tài dưới đây mang tính chất tương đối Vì một số phương pháp trong Xã hội học có sử dụng thì trong Công tác xã hội cũng sử dụng Tuy nhiên xét về mức độ điển hình xin phân chia thành các nhóm phương pháp như sau:
9.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Đề tài tiếp cận về những khó khăn về tâm lý của phụ nữ sau sinh đã có nhiều nghiên cứu trước đó Đây là nguồn thông tin đã có kiểm chứng thực tế
và có kết quả Kết quả từ những nghiên cứu khoa học đó sẽ tạo nền tảng, căn
Phụ nữ sau sinh bị khủng hoảng tâm lý
Những yếu tố tác động
Yếu tố khác:
độ tuổi, nghề nghiệp,ĐK kinh tế, quan
hệ gia đình…
quanquanqua nquanquan…
Các đề nghị và giải pháp
Yếu tố sinh học
Yếu tố chăm sóc của gia đình
Vai trò của tham vấn trong công tác xã hội đối với việc hỗ trợ
phụ nữ sau sinh có khủng hoảng tâm lý
Trang 17cứ cho đề tài được tiến hành Đây là phương pháp chung cho các loại nghiên cứu Xã hội học, Công tác xã hội
9.2 Phương pháp nghiên cứu trong Công tác xã hội
Phương pháp CTXH cá nhân – Nghiên cứu trường hợp
Nghiên cứu một trường hợp phụ nữ sau sinh bị khủng hoảng tâm lý đòi hỏi sử dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân Dựa trên quan hệ 1 -1 và các bước trong CTXH cá nhân trong sử dụng tham vấn tâm lý là tiến trình chính để lượng giá kết quả đối với trường hợp này Việc sử dụng phương pháp CTXH cá nhân cho việc nghiên cứu trường hợp điển hình cũng nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu sâu sắc một trường hợp để so sánh khẳng định những kết luận từ 10 phỏng vấn sâu với các chị phụ nữ sau sinh trong vòng 6 tháng trở lại; kết luận từ thảo luận nhóm phụ nữ sau sinh tại Trung tâm kiểm dịch y tế quốc tế - tiêm phòng cho trẻ; Kết luận từ khảo sát nhóm phụ nữ và nhóm những người chồng có vợ sau sinh trên mạng xã hội facebook và các chuyên gia nghiên cứu về phụ nữ bao gồm chuyên gia xã hội học và sinh học (bác sỹ sản khoa) Kiểm định lại những thông tin thu thập được từ những trường hợp phỏng vấn sâu
9.3 Phương pháp nghiên cứu trong Xã hội học
Phương pháp phỏng vấn sâu
Nhằm mục đích làm rõ những giả thuyết của đề tài mà người nghiên cứu muốn có tính thuyết phục Chúng tôi tiến hành 10 phỏng vấn sâu với các chị phụ nữ sau sinh trong vòng 6 tháng trở lại và các chuyên gia nghiên cứu
về phụ nữ bao gồm chuyên gia tâm lý xã hội và sinh học (bác sỹ sản khoa) Trong đó phỏng vấn sâu 10 trường hợp phụ nữ sau sinh trong vòng 6 tháng trở lại có dấu hiệu bị khủng hoảng tâm lý Phỏng vấn sâu 01 chuyên gia tâm
lý xã hội và 01 chuyên gia về sản phụ khoa mục đích nhằm củng cố cho kết quả nghiên cứu và định hướng trong phần kiến nghị giaỉ pháp
Trang 18- Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp chính Vì hướng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu định tính Phỏng vấn sâu sẽ giúp cho nghiên cứu có kết quả khách quan, trung thực và sâu sắc
Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát sử dụng trong nghiên cứu định tính là cơ bản và cần thiết vì trong thực tế nghiên cứu có những biểu cảm ngoài ngôn ngữ Chỉ nhìn nhận vấn đề và hiểu về đối tượng nghiên cứu dựa trên biểu đạt bằng ngôn ngữ là không toàn diện và thiếu khách quan
Quan sát sẽ giúp nghiên cứu toàn diện hơn Đặc biệt đối tượng nghiên cứu là phụ nữ sau sinh có những nhạy cảm về mặt tâm lý và những cơ chế phòng vệ sẽ dẫn tới thiếu chính xác về thông tin đem lại
Việc quan sát thông qua ngôn ngữ cơ thể của đối tượng sẽ giúp cho người nghiên cứu có phản hồi chính xác và hiệu quả Ngoài ra sẽ khai thác được đời sống nội tâm của đối tượng Những cảm xúc, nỗi niềm không chia
sẻ được cùng ai Trong tham vấn thì giai đoạn cân bằng cảm xúc cho đối tượng là bước quan trọng để tiến hành các bước sau
Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm được tiến hành tại hai địa điểm:
Một là Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội – Trung tâm y tế kiểm dịch y
tế quốc tế
Hai là Khảo sát facebook – Một trong các mạng xã hội phổ biến rộng rãi nhất hiện nay Trong đó khảo sát nhóm những phụ nữ sau sinh và nhóm nam giới có vợ trong giai đoạn sau sinh
Số lượng tiến hành trong mỗi buổi thảo luận nhóm là 07 chị phụ nữ Tiêu chí chọn lựa: Các chị đều trong giai đoạn sau sinh dưới 6 tháng Nội dung thảo luận: Những điều gì khiến các chị em phải lo lắng và suy nghĩ sau sinh; Các chị giải quyết vấn đề của mình như thế nào? Nhu cầu của các chị về tham vấn Nội dung thảo luận này phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 19PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Tham vấn
- Khái niệm “tham vấn”
Có nhiều cách định nghĩa về tham vấn khác nhau; chúng tôi đưa ra một vài quan điểm dưới đây để từ đó rút ra cách hiểu về tham vấn trong đề tài này:
Theo Rogers Jenny trong cuốn Caring for people USA, 1990, cho rằng,
tham vấn là hoạt động nhằm giúp đỡ con người tự giúp chính họ, hoạt động này giúp đối tượng (người cần được tham vấn) nâng cao khả năng tự tìm giải pháp, đối phó với vấn đề và thực hiện tốt chức năng của mình trong cuộc sống
Theo J Mielke (1999) định nghĩa tham vấn là một quá trình, một mối quan hệ nhằm giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của thân chủ
Theo Hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kỳ (1997) cho rằng: “Tham vấn
là sự áp dụng các nguyên tắc tâm lý, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống
về nhận thức, cảm xúc, hành vi, tập trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn đề bệnh lý
Theo tác giả Trần Thị Minh Đức định nghĩa tham vấn là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ (còn được gọi là khách hàng - người đang có vấn đề khó khăn về tâm
lý muốn được giúp đỡ) Thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, tâm tình (dựa trên những nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải
Trang 20quyết vấn đề của chính mình (Trần Thị Minh Đức (2009), Giáo trình tham vấn tâm lí, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Tr18 - 19)
Với đặc điểm của Việt Nam định nghĩa tham vấn của tác giả Trần Thị Minh Đức được xem là toàn diện và phù hợp nhất để sử dụng trong các nghiên cứu và thực hành nghề nghiệp về tham vấn
- Mục đích, ý nghĩa của tham vấn
Hoạt động tham vấn có nhiều mục đích khác nhau:
Theo Nelson-Jones Richard thì mục đích của tham vấn là giải quyết, phòng ngừa và phát triển Còn theo Carl Rogers cho rằng mục đích cuối cùng của tham vấn là giúp đối tượng là phát huy được tiềm năng tự bản thân của cá nhân đó trong giải quyết vấn đề, thông qua đó phát triển nhân cách
Theo bài nghiên cứu Tham vấn tâm lí - Một dịch vụ cần phát triển ở
Việt Nam (phần 2) trên Tạp chí tâm lí được đăng trên trang ctd.org.vn ngày
21/08/2011 của Tác giả Bùi Thị Xuân Mai, bà đưa ra những nhận định:
Thứ nhất: Mục tiêu của quá trình tham vấn là giúp đối tượng nâng cao
nhận thức về bản thân, môi trường và hoàn cảnh, tăng cường khả năng ra quyết định phù hợp với hoàn cảnh của mình và thực hiện quyết định một cách hiệu quả Mục tiêu cuối cùng của tham vấn là giúp cho đối tượng tăng cường khả năng đối phó với vấn đề cũng như chức năng xã hội của họ
Thứ hai: Đây là một hoạt động trợ giúp - giúp đối tượng "tự giúp chính
mình" thông qua mối quan hệ tương tác tích cựcgiữa nhà tham vấn với người
cần được tham vấn Như vậy, ở đây đòi hỏi có sự tham gia nhiệt tình của cả hai phía vào toàn bộ quá trình giải quyết vấn đề: từ thu thập thông tin tới ra quyết định, triển khai thực hiện và đánh giá kết quả
Thứ ba: Nhà tham vấn với những đạo đức nghề nghiệp, sử dụng kiến
thức, kỹ năng chuyên môn khai thác hoàn cảnh, cảm xúc và hành vi của đối tượng để giúp họ tạo sự thay đổi Kiến thức nền tảng của nhà tham vấn là lý thuyết về tâm lý, những hiểu biết về hành vi con người Các kỹ năng nhà tham vấn cần được trang bị là kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đặc thù trong tham vấn
Trang 21Thứ tư: Người cần được tham vấn là người vì lý do nào đó trở nên mất
cân bằng trong cuộc sống, khiến họ lúng túng, bối rối, cảm thấy không thể tìm
ra giải pháp Trong tình huống đó, họ thường có những cảm xúc, hành vi, suy nghĩ không phù hợp.Để giúp đỡ các cá nhân và gia đình duy trì được sự thăng bằng tâm lý, tăng cường khả năng đối phó với các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày, nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển đã sử dụng dịch vụ tham vấn như một công cụ đắc lực Nếu như ngành y là công cụ
để giúp con người trở nên khỏe mạnh, cường tráng về thể lực thì các hoạt động trợ giúp (helping profession) trong đó có tham vấn đóng vai trò giúp cho
cá nhân và gia đình đảm bảo tình trạng sức khoẻ tâm thần, nâng cao chất lượng cuộc sống
Theo tác giả Trần Thị Minh Đức mục đích chung của tham vấn là: Cải tiến, củng cố (về mặt sức khỏe tinh thần) giúp thân chủ sống tốt hơn; Ngăn ngừa, tránh không để vấn đề xảy ra tồi tệ hơn; Giúp giải quyết các vấn đề cụ thể; Giúp thay đổi hành vi, nhân cách (Làm giảm hoặc biến mất các triệu chứng và phát triển các kỹ năng ứng phó, giải quyết vấn đề nhằm tạo khả năng thích nghi tốt nhất trong môi trường thân chủ đang sống) Và các mục tiêu cụ thể của tham vấn là: Giảm bớt các cảm xúc tiêu cực, cảm thấy thoải mái khi trò chuyện; Giúp thân chủ tăng hiểu biết của bản thân, chấp nhận vấn đề hiện có của bản thân; giúp thân chủ đưa ra các quyết định lành mạnh; Hướng dẫn thân chủ thực hiện các quyết định và khả năng dự phòng các tình huống tương tự trong tương lai; xác định hoạt động và thời gian công việc giúp đỡ
Đề tài nghiên cứu đi theo hướng là hoạt động tham vấn nhằm giúp cá nhân lắng nghe được chính bản thân mình, giải tỏa được cảm xúc tiêu cực, làm hài hòa được mối quan hệ gia đình, xã hội của chính cá nhân đó Cá nhân nhìn nhận vấn đề như thực tại khách quan, nhìn nhận được bản thân với nội lực sẵn có và kết nối được các nguồn lực xung quanh giúp bản thân giải quyết
Trang 22được vấn đề của mình Tham vấn không chỉ có mục đích với cá nhân, gia đình còn có ý nghĩa với xã hội
- Ý nghĩa của tham vấn:
Theo bài nghiên cứu Tham vấn tâm lí - Một dịch vụ cần phát triển ở
Việt Nam (phần 2) trên Tạp chí tâm lí được đăng trên trang ctd.org.vn ngày
21/08/2011 của Tác giả Bùi Thị Xuân Mai thì ý nghĩa của tham vấn được tóm tắt lại theo tôi là:
Cụm từ “Sức khỏe tâm thần” ngày càng được xã hội quan tâm Xã hội phát triển đồng hành cùng những yếu tố thuận lợi cho nền kinh tế phát triển thì kéo theo đó là những vấn đề xã hội càng nhức nhối Con người phải đối phó với nhiều nhiều khó khăn trong cuộc sống như mất mát người thân, rủi ro trong công việc…đối mặt với những giai đoạn chuyển tiếp của cuộc đời không khỏi cảm giác chông chênh, khủng hoảng…Lúc này hoạt động tham vấn có ý nghĩa lập tức trong việc giải tỏa những cảm xúc tiêu cực, bình tĩnh nhìn nhận vấn đề để tìm ra cách giải quyết đúng đắn Hoạt động tham vấn cũng giúp cá nhân nâng cao được kỹ năng bản thân đối phó với khủng hoảng;
tự tin vào năng lực bản thân và kết nối được nguồn lực giải quyết vấn đề; Tăng cường khả năng thích nghi được với những thay đổi của cuộc sống; Sức khỏe tâm thần của cá nhân được đảm bảo, nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình và ổn định xã hội
- Mô hình tham vấn
Tiến trình tham vấn được hiểu là một chuỗi những bước, hoạt động có
sự tương tác với nhau theo một định hướng nhất định nhằm thực hiện để giải quyết được vấn đề của cá nhân, nhóm hay gia đình đang gặp phải
Theo Giáo trình Tham vấn tâm lí của tác giả Trần Minh Đức mô hình tham vấn sáu giai đoạn dưới đây được nhiều ngành trợ giúp trên thế giới dùng:
+ Giai đoạn 1: Xây dựng quan hệ và sự tin tưởng giữa nhà tham vấn và thân chủ
Trang 23+ Giai đoạn 2: Thu thập thông tin và xác định vấn đề
+ Giai đoạn 3: Lựa chọn giải pháp và xây dựng kế hoạch thực hiện + Giai đoạn 4: Triển khai thực hiện giải quyết vấn
+ Giai đoạn 5: Lượng giá và kết thúc
+ Giai đoạn 6: Theo dõi sau khi kết thúc
- Kỹ năng trong thực hành Tham vấn
Theo cuốn Giáo trình Tham vấn của Tác giả Bùi Thị Xuân Mai hiểu thế
nào về kỹ năng tham vấn, ở nghiên cứu này tôi sử dụng và xin trích dẫn như sau:
“….Kỹ năng tham vấn là sự vận dụng kinh nghiệm, tri thức hiểu biết về chuyên môn và giá trị nghề nghiệp của nhà tham vấn vào hoàn cảnh tham vấn
cụ thể, nhằm tạo lập mối quan hệ hợp tác, qua đó giúp đối tượng tự nhận thức được bản thân và vấn đề đang tồn tại, từ đó tự xác định giải pháp để giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả.”
Một số kỹ năng cơ bản có thể liệt kê trong thực hành tham vấn:
Kỹ năng giao tiếp không lời: Sử dụng hành vi, cử chỉ, nét mặt
Kỹ năng chia sẻ bản thân
Kỹ năng cung cấp thông tin
Kỹ năng giao nhiệm vụ về nhà
Kỹ năng khai thác cảm xúc, suy nghĩ, hành vi
Trang 24Kỹ năng điều phối
Kỹ năng làm mẫu
Kỹ năng xử lý tình huống khó xử và hành vi lệch chuẩn trong nhóm
Ở đây trong nghiên cứu trường hợp, tôi sử dụng một số kỹ năng trong tham vấn cá nhân được liệt kê ở trên Các kỹ năng này sẽ được phân tích rõ trong phần thực hành nghiên cứu trường hợp điển hình
1.1.2 Khủng hoảng tâm lý
Khủng hoảng tâm lý trong đề tài này được gọi ngắn gọn là khủng hoảng
1.1.2.1 Khái niệm khủng hoảng
Khủng hoảng là một trạng thái sốc tinh thần do một sự kiện hoặc một chuỗi những sự kiện bất thường gây ra những ảnh hưởng tiêu cực trầm trọng tới cá nhân Trong tình trạng này cá nhân cảm thấy mất cân bằng, căng thẳng
và giảm sút các hoạt động chức năng vốn có
Khi bị khủng hoảng, cá nhân thường cố gắng đối phó với vấn đề, nhưng các phương án ứng phó với những khó khăn thường ngày có thể sẽ không có hiệu quả nữa và cá nhân trở nên bị hụt hẫng
Tình trạng khủng hoảng có một số đặc điểm như sau:
- Các hoạt động chức năng tâm sinh lý và xã hội của cá nhân bị ảnh hưởng tiêu cực
- Cá nhân trở nên rối trí, bất lực và mất tự chủ
- Tình trạng này thường kéo dài từ 1- 8 tuần
Tình huống khủng hoảng vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan Mức độ trầm trọng của khủng hoảng cũng phụ thuộc vào đặc điểm cá tính của cá nhân
Trong cuộc sống, chúng ta thường dùng khái niệm khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính chị, khủng hoảng tinh thần… Song, thực tế nội hàm của khái niệm khủng hoảng tinh thần là gì không phải ai cũng nắm rõ
Trang 25Trong từ điển tiếng Việt Khủng hoảng tinh thần được định nghĩa là: Tình trạng rối loạn, mất sự cân bằng, bình ổn, do nhiều mâu thuẫn chưa giải quyết được: khủng hoảng tinh thần
Trong tâm lý học, nhiều nhà tâm lý cũng tổng kết và đưa ra những định nghĩa khác nhau về khủng hoảng tinh thần
Định nghĩa của Vruce Sidney & Sidney Bloch:
Khủng hoảng là sự mất cân bằng giữa những yêu cầu do một tình huống, một vấn đề đặc biệt đặt ra và nỗ lực sẵn có để giải quyết những nhu cầu đó Khi những nguồn lực thông thường để giải quyết tình huống yêu cầu không có tác dụng và những nỗ lực để làm giảm thiểu khó khăn đó cũng không mang lại giá trị con người bước vào thời kỳ xuất hiện mâu thuẫn
Định nghĩa của Đ.B.Enconhin:
Khủng hoảng là sự mâu thuẫn bên trong giữa nhu cầu phát sinh trong một tình huống xã hội mới (VD: Sự thay đổi: tình trạng hôn nhân gia đình, công việc, chức vụ, mức lương, nơi ở, bạn bè, điều kiện sống …, hay những mất mát, những may mắn bất ngờ trong cuộc sống: trúng sổ số…) và năng lực thỏa mãn nhu cầu ấy
Căn cứ vào những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản là:
Khủng hoảng (crisis) là trạng thái mất thăng bằng về hoạt động cảm xúc và lý trí khi một người phải đối diện với một sự kiện xảy ra bất ngờ,
thường là những sự kiện có nguy cơ gây nguy hại; hoặc đối diện với một giai
đoạn chuyển tiếp trong phát triển có độ thách thức cao
Cũng có thể hiểu khủng hoảng là một giai đoạn hay một trạng thái không ổn định đặc biệt là khi có những thay đổi nghiêm trọng ngoài mong đợi hay những tình huống đã đến giai đoạn nguy kịch
Nhiều người nhầm lẫn, coi khủng hoảng là một rối nhiễu tâm lý; hay một bệnh lý về tinh thần Song thực tế Khủng hoảng chỉ là một trạng thái tâm
Trang 26lý, có mở đầu, diễn biến và kết thúc Đôi khi khủng hoảng diễn ra theo từng cơn, trong khoảng thời gian ngắn Cũng có trường hợp, do không được hỗ trợ, hoặc không có chiến lược ứng phó phù hợp, khủng hoảng có thể quay trở lại mỗi khi có sự kiện gợi nhớ về nỗi tổn thương cũ; hoặc diễn ra triền miên trong cuộc sống của một người Song có một điều chắc chắn rằng khủng hoảng không tồn tại mãi nếu chúng ta biết cách đương đầu với khủng hoảng
1.1.2.2 Các dạng khủng hoảng
Tình trạng khủng hoảng có thể nảy sinh do hoàn cảnh đặc biệt hay do đặc điểm của quá trình phát triển con người:
- Khủng hoảng trong quá trình phát triển:
Dạng khủng hoảng này xảy ra trong thời kỳ quá độ giữa các giai đoạn phát triển của con người Sự chuyển tiếp từ giai đoạn này sang giai đoạn khác đòi hỏi cá nhân có một số vai trò trách nhiệm mới mà họ có thể chưa sẵn sàng
vì chưa được chuẩn bị đầy đủ về tâm lý xã hội, chẳng hạn như:
+ Chuyển tiếp từ lứa tuổi thiếu niên sang lứa tuổi trưởng thành
+ Phụ nữ sinh con
+ Bước sang tuổi già hoặc khi nghỉ hưu
- Khủng hoảng nảy sinh do tình huống
Trong đề tài này đối tượng PNSS bị khủng hoảng thuộc dạng khủng hoảng trong quá trình phát triển – Chuyển tiếp giai đoạn
Loại khủng hoảng này đòi hỏi cá nhân phải có một số phương án đối phó mới để đương đầu với sự kiện và tình huống Một số trường hợp điển hình như:
+ Sự mất mát của người thân
+ Bị bệnh hoặc mất khả năng về thể chất hay tinh thần
+ Hậu quả của thiên tai
Khủng hoảng do tình huống có thể là :
Khủng hoảng dự đoán trước được: Đó là khi cá nhân biết trước sẽ có một sự kiện căng thẳng xảy ra trong tương lai ( Mất người thân do ốm đau, thay đổi nơi ở )
Trang 27Khủng hoảng bất ngờ, chẳng hạn như tai nạn giao thông, hậu quả của thiên tai
Như vậy có thể thấy người phụ nữ sau khi sinh con có nguy cơ bị khủng hoảng do chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của cuộc sống; nếu chưa có được sự thích nghi phù hợp, không có khả năng đương đầu thì rất dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng
1.2.2.3 Các giai đoạn của tình trạng khủng hoảng
- Giai đoạn trước khủng hoảng
Trước khi bị khủng hoảng cá nhân ở trong tình trạng thăng bằng, các chức năng hoạt động bình thường Những kinh nghiệm trước đây và sự chuẩn
bị hữu hiệu cho tình huống khủng hoảng có thể làm giảm tác động tiêu cực của khủng hoảng đối với cá nhân
- Giai đoạn bắt đầu bị tác động của khủng hoảng
Cá nhân ở giai đoạn này có thể bị:
+ Căng thẳng và bị sốc mạnh
+ Cố gắng sử dụng các phươngán đối phó để giải quyết vấn đề
+ Sự căng thẳng sẽ tăng lên nếu mọi cách thức giải quyết vấn đề đều thất bại
- Giai đoạn bối rối, quẫn trí
Giai đoạn này phụ thuộc vào tính chất của sự kiện khủng hoảng và các
cơ chế đối phó của cá nhân, các nguồn hỗ trợ cho cá nhân Cá nhân có thể trải qua những cảm giác:
+ Căng thẳng trầm trọng
+ Lúng túng hoặc rối trí, sự bối rối có thể tăng thêm bởi: sự bất ngờ, thiếu được chuẩn bị, thiếu thông tin
+ Cảm giác bất lực
+ Cảm giác tức giận và buồn
- Giai đoạn thử nghiệm các ứng phó
Trang 28Cá nhân ở giai đoạn này có thể hành động như sau:
+ Thử dùng các phương án đối phó để giải quyết vấn đề
+ Tìm ra một phương án đối phó phù hợp, tích cực Phương án này có thể trở thành yếu tố tích cực đối với cá nhân vì đây sẽ là kinh nghiệm giải quyết những khủng hoảng trong tương lai một cách hiệu quả hơn
+ Hoặc có phương án đối phó tiêu cực, không phù hợp Lúc này cá nhân có thể phải trải qua sự căng thẳng tột độ, có thể tăng thêm bối rối và dẫn đến sự quẫn trí có thể có hại cho bản thân
- Giai đoạn xử lý khủng hoảng
Với sự giúp đõ của nhân viên xã hội, đối tượng có thể làm một số việc sau: + Khám phá những phương án thích ứng hơn
+ Trấn tĩnh và lấy lại sự tự chủ, thăng bằng
+ Lấy lại mức độ hoạt động trước khủng hoảng hoặc cao hơn
Trang 29Các giai đoạn khủng hoảng được Resnik (nhà xuất bản Charles, năm 1975) thể hiện bằng biểu đồ như sau:
bối rối
(trial and error) Giai đoạn
* Theo Hiệp hội Nhân viên xã hội quốc tế (năm 2000, Canada)
“Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các
Trang 30lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề.”
Trong khái niệm này đã đề cập đến một số khía cạnh của Công tác xã hội:
- Nền tảng triết lý: về hành vi con người và hệ thống xã hội;
- Cách thức: tương tác vào những điểm giữa con người và môi trường;
- Mục đích: thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng quyền lực -> cuộc sống của người dân thoải mái, dễ chịu hơn;
- Nguyên tắc: nhân quyền, công bằng xã hội
* Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh
“Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm giải quyết vấn đề”
Khái niệm này đề cập đến các vấn đề sau:
- Tính chất của Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn, tổng hợp;
- Đối tượng của Công tác xã hội là các cá nhân và nhóm;
- Công tác xã hội hoạt động theo các nguyên tắc và phương pháp riêng;
- Mục đích là hỗ trợ cá nhân và nhóm giải quyết vấn đề
* Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai
“Công tác xã hội là một dạng hoạt động chuyên môn nhằm trợ giúp các
cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu va tăng cường chức năng xã hội, đồng thời Công tác xã hội thúc đẩy môi trường xã hội tạo cơ hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, qua đó đảm bảo nền
an sinh cho cá nhân, gia đình và cộng đồng”
Các khía cạnh được đề cập trong khái niệm này là:
- Tính chất: hoạt động chuyên môn;
- Đối tượng: cá nhân, gia đình, cộng đồng, môi trường xã hội rộng hơn;
Trang 31- Phương pháp:
+ trợ giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng
+ thúc đẩy môi trường xã hội tạo cơ hội chính sách, dịch vụ
- Mục đích là giải quyết và phòng ngừa vấn đề xã hội -> đảm bảo an sinh;
- Giá trị: nhu cầu của cá nhân, sự cân bằng nhu cầu và quyền của cá nhân với xã hội
=> Kết luận:
Dù tiếp cận nhiều cách khác nhau nhưng qua phân tích một số khái niệm nêu trên, cần ghi nhớ một số nội dung trong khái niệm Công tác xã hội, đó là:
Công tác xã hội là một dạng hoạt động thực tiễn:
- Mang tính chất chuyên nghiệp, sử dụng các kiến thức, kỹ năng chuyên môn;
- Làm việc với các đối tượng là những cá nhân, nhóm hay cộng đồng gặp vấn đề trong cuộc sống;
- Sử dụng phương pháp can thiệp vào mối quan hệ giữa đối tượng và môi trường sống;
- Nhằm mục đích giải quyết vấn đề và tăng năng lực giải quyết vấn đề cho đối tượng, góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Công tác xã hội trong bệnh viện đối với người bệnh hay đối với phụ
nữ sau sinh:
Theo bài viết của tác giả Uyên Thảo đăngtrên http://www.t5g.org.vn có đoạn nói rất rõ về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện hay với người bệnh trong đề án phát triển nghề công tác xã hội trong lĩnh vực y tế giai đoạn 2011 – 2020 (đã chọn Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Nhân dân 115 là đơn vị triển khai mô hình điểm công tác xã hội) “Đây sẽ là những mô hình công tác xã hội thực sự hoàn chỉnh để nhân rộng ở các bệnh viện trong cả nước Nhân viên công tác xã hội tại bệnh viện sẽ là một thành viên trong nhóm điều trị người bệnh Nhân viên công tác xã hội có nhiệm vụ
Trang 32tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, phương pháp chữa trị thích hợp trên cơ sở thu thập thông tin về điều kiện sống, thói quen, cá tính, đặc điểm tâm lý của bệnh nhân Nhân viên xã hội còn thực hiện các trợ giúp về tâm lý đối với người bệnh như trấn an, giảm áp lực, tư vấn về điều trị… Nhân viên xã hội cũng có thể tham mưu về kế hoạch xuất viện của bệnh nhân và theo dõi bệnh nhân sau khi ra viện ” Qua đây cho thấy đối tượng phụ nữ sau sinh có khó khăn về tâm lý sẽ là đối tượng được nhân viên công tác xã hội hỗ trợ giải quyết vấn đề khó khăn tâm lý của mình
Tham vấn và công tác xã hội:
Theo tác giả Trần Thị Minh Đức thì nhiều nhân viên trong CTXH làm công việc trị liệu tâm lí cá nhân và các liệu pháp gia đình trong tổ chức, mà ít làm việc như chức danh của một nhà tham vấn hay trị liệu độc lập trên các đối tượng có tổn thương tâm lí Và cho dù các nhân viên CTXH được đào tạo khái quát về các kỹ thuật tham vấn nhưng họ không đi sâu vào lĩnh vực tham vấn nghề - lĩnh vực đòi hỏi sử dụng thông thạo nhiều hơn về các trắc nghiệm tâm lí
1.2 Các lý thuyết ứng dụng
1.2.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Hệ thống là tập hợp của những thành phần, mỗi thành phần có chức năng riêng, khi tập trung lại một cách trật tự sẽ tạo thành hệ thống với chức năng riêng của hệ thống Như vậy một tổ chức, một cơ quan, một đoàn thể, …
cả một cá nhân cũng là một hệ thống
Lý thuyết hệ thống sinh thái là sự kết hợp giữa lý thuyết hệ thống và khoa học về môi trường sinh thái Lý thuyết nay đề cập đến mối quan hệ giữa con người và môi trường sống xung quanh Con người không sống biệt lập
mà luôn luôn sống trong cộng đồng, và tác động qua lại giữa các hệ thống; con người và môi trường có ảnh hưởng lớn đến an sinh của cá nhân và xã hội
Những nội dung chính cần quan tâm trong Lý thuyết hệ thống sinh thái là:
Sự hài hòa giữa cá nhân và môi trường: trạng thái này đạt được khi môi trường có những tài nguyên và phương pháp phân phối phù hợp, công bằng để
Trang 33thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người Có 3 trường hợp thiếu hài hòa: Một là môi trường có tài nguyên, phân phối hợp lý nhưng cá nhân không sử dụng (vì thiếu kiến thức về tài nguyên, hoặc không có ý chí sử dụng tài nguyên); hai là môi trường có tài nguyên nhưng không có phương pháp phân phối hợp lý;
ba là môi trường không có tài nguyên để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân
Nguyên liệu: là những năng lượng, thông tin, sự hỗ trợ của các nguồn tài nguyên mà cá nhân nhận được từ môi trường
Sản phẩm: là những năng lượng, thông tin, sự hỗ trợ của cá nhân dành cho môi trường
Điểm giao thoa: là tác động qua lại hoặc nơi chính xác diễn ra tác động qua lại giữa hai hệ thống riêng biệt hay giữa cá nhân và môi trường Khi có sự không hài hòa giữa cá nhân và môi trường trong 2 trường hợp đầu (nêu trên) thì cần xác định điểm giao thoa để can thiệp tạo ra sự thay đổi
Thích ứng: là khả năng thay đổi để thích nghi với những biến đổi của bản thân và môi trường Thích ứng đòi hỏi năng lượng, khi cá nhân không có
đủ năng lượng thì cần giúp họ huy động năng lượng cần thiết từ môi trường
để thích ứng Thích ứng là tạo ra thay đổi môi trường để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân Theo Germain và Gitterman(1980) thì cuộc đời của các cá nhân được nhìn nhận như việc họ thích ứng thường xuyên trong một sự trao đổi lẫn nhau với nhiều khía cạnh khác nhau trong môi trường sống của họ
Đối phó: là sự phấn đấu để thích ứng với một thay đổi, một tình huống tiêu cực
Liên lập: con người không thể sống hoàn toàn biệt lập mà phải nhờ đến mối quan hệ với mọi người xung quan để được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản
Lý thuyết hệ thống sinh thái có tính ứng dụng rất lớn trong CTXH Pincus và Minaham (1970) đã đưa ra cách ứng dụng của thuyết hệ thống vào CTXH Các ông chia các tổ chức hỗ trợ cá nhân trong xã hội gồm 3 hệ thống:
Trang 341/ Hệ thống không chính thức (hay là hệ thống tự nhiên) như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
2/ Hệ thống chính thức là các tổ chức được thành lập mà cá nhân thuộc vào đó như là tổ chức Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, …
3/ Hệ thống xã hội bao gồm bệnh viện, trường học, các tổ chức thực thi luật pháp, …
Các tác giả này cho rằng cá nhân dựa vào các hệ thống trong môi trường xã hội xung quanh mình để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn Nhưng không phải khi nào mối quan hệ giữa cá nhân cũng có thể sử dụng các
hệ thống đó để hỗ trợ cho mình; đặc biết khi mà những hệ thống nay không tồn tại trong cuộc sống của cá nhân; hoặc hệ thống tồn tại nhưng không phù hợp với vấn đề cá nhân gặp phải; hoặc các chính sách của hệ thống gây khó khăn cho cá nhân; hoặc có sự xung đột giữa các hệ thống; hoặc cá nhân có nhu cầu không biết thông tin về hệ thống xung quanh; hoặc cũng có thể cá nhân không muốn sử dụng hệ thống Vì vậy nhiệm vụ của CTXH là tìm ra những mâu thuẫn trong việc kết nối giữa cá nhân và các hệ thống; nhân viên
xã hội cần tìm ra điểm yếu trong việc kết nối đó nhằm giúp cá nhân thực hiện
lý tưởng sống tốt nhất có thể, loại trừ những căng thẳng phát sinh, giúp cá nhân đạt được mục tiêu và các giá trị sống quan trọng đối với cá nhân họ
Ứng dụng lý thuyết này trong hoạt động tham vấn, hoạt động CTXH, nhân viên CTXH có thể nhìn nhận các vấn đề của thân chủ trong mối quan hệ giữa các yếu tố của các hệ thống xung quanh thân chủ; từ đó tìm ra nguyên nhân của vấn đề, và tìm ra các giải pháp can thiệp phù hợp Nhiệm vụ của nhân viên xã hội khi làm việc theo quan điểm của lý thuyết này là:
Giúp thân chủ sử dụng và phát huy tối đa khả năng của bản thân để giải quyết vấn đề;
Giúp xây dựng mối quan hệ mới giữa thân chủ với các hệ thống trợ giúp trong xã hội;
Trang 35Giúp tăng cường khả năng tương tác giữa cá nhân với các hệ thống; Cải tạo mối quan hệ tương tác giữa những cá nhân trong cùng hệ thống; Giúp phát triển và thay đổi chính sách xã hội một cách phù hợp;
Cung cấp trợ giúp thực tế khác khi cần thiết
Với lý thuyết này áp dụng trong trường hợp hỗ trợ cho PNSS có khó khăn về tâm lý cần chú trọng đến việc giải tỏa cảm xúc tiêu cực, làm rõ thực tại để thân chủ hiểu rõ vấn đề của mình một cách khách quan Qua đó kết nối các nguồn lực từ hệ thống sinh thái của thân chủ để giải quyết vấn đề
1.2.2 Lý thuyết can thiệp khủng hoảng
Có nhiều định nghĩa khủng hoảng khác nhau, một cách tóm tắt, khủng hoảng là một tình trạng nguy khốn xảy ra, thường vượt quá khả năng đối phó của nạn nhân Nếu không được giúp đỡ, khủng hoảng có thể gây ra những hậu quả trầm trọng về tâm lý, tư tưởng, khả năng ứng xử và cuộc sống của con người Có thể chia khủng hoảng ra làm ba loại khác nhau: khủng hoảng đời thường, xảy ra trong cuộc đời bình thường của mọi người, thí dụ thi cử, lập gia đình, sinh con, về hưu… ; khủng hoảng tình huống bất ngờ, thí dụ tai nạn, tang chế, bệnh tật, thiên tai… ; và khủng hoảng tâm lý, thí dụ hối hận về một hành động nào đó trong quá khứ, cảm giác cuộc đời không có ý nghĩa (khủng hoảng tuổi trung niên), mất niềm tin vào tương lai…
* Đặc tính của khủng hoảng:
Khủng hoảng là mối nguy hiểm có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng kể cả tự tử, nhưng đồng thời cũng là cơ hội vì nó buộc con người phải
cố gắng nỗ lực giải quyết hay tìm sự giúp đỡ để sống còn Thí dụ thường thấy
về đặc tính này của khủng hoảng là khi những người nghiện cờ bạc đã thua hết tài sản, đã táng gia bại sản, mới thành tâm từ bỏ tật xấu đó Dù tự mình giải quyết được khủng hoảng hay nhờ sự giúp đỡ của gia đình, cộng đồng hay
xã hội, cá nhân có thể trở nên già dặn, trường trải hơn (thay đổi theo chiều hướng phát triển); hoặc giữ nguyên khả năng ứng xử cũ (không thay đổi);
Trang 36hoặc bị ám ảnh lâu dài, có khi suốt đời, và có thể dùng những cách đối phó tiêu cực để sống còn, thí dụ rượu chè hay ma túy, vì kinh nghiệm đã trải qua trong khủng hoảng (thay đổi theo chiều hướng xấu)
Khủng hoảng là một hiện tượng phức tạp và đa dạng Nó có thể xảy ra đột ngột, thí dụ tai nạn xe cộ, hay bùng nổ sau một thời kỳ âm ỷ kéo dài, thí
dụ khủng hoảng giữa những người trong gia đình Khủng hoảng có thể liên quan đến một cá nhân, một gia đình, hay cả cộng đồng, xã hội, hay quốc gia,
và cả thế giới Thí dụ bão lụt, động đất, chiến tranh, bệnh dịch… Khủng hoảng xảy ra cho tất cả mọi người nhưng mỗi người có khả năng ứng phó riêng đối với cùng một khủng hoảng
Khủng hoảng xảy ra trong một thời gian có giới hạn, thường không quá sáu đến tám tuần lễ, sau thời gian này các hậu quả tiêu cực của nó giảm dần Mặc dù vậy, tùy theo cường độ lúc xảy ra, khủng hoảng có thể để lại những di chứng lâu dài (có khi suốt đời) cho nạn nhân, thí dụ những nạn nhân của hội chứng hậu chấn tâm lý/PTSD, post-traumatic stress disorder
* Ứng dụng lý thuyết về khủng hoảng trong CTXH
Nhân viên CTXH không phải nhân viên cấp cứu, vì vậy, trong nhiều trường hợp khủng hoảng, chỉ can thiệp sau khi sự an toàn của khách hàng đã được bảo đảm Đối với những trường hợp nhân viên CTXH là người đầu tiên đối diện với khủng hoảng của khách hàng, mối quan tâm ưu tiên cũng là sự an toàn về thể chất của khách hàng, điều này có nghĩa khách hàng có thể phải được di chuyển đến nơi an toàn Ở California, luật An Sinh Xã Hội cho phép nhân viên CTXH và các nhân viên giúp đỡ chuyên nghiệp khác được quyền tạm thời cưỡng bách nhập viện, trong thời gian không quá 72 giờ, những khách hàng không có đủ khả năng tâm trí để tự kiềm chế và có thể trở thành mối nguy hiểm cho bản thân hay cho những người chung quanh
CTXH trong trường hợp khủng hoảng có tính cách tức thời, tập trung, ngắn gọn, và cụ thể Sau khi đã ổn định an toàn thể chất cho khách hàng, nhân
Trang 37viên CTXH sẽ tiến hành công tác lượng định để tìm hiểu khủng hoảng, cung cấp sự hỗ trợ tinh thần và vật chất, các nguồn tài nguyên khách hàng có thể vận dụng; cùng với khách hàng thăm dò các giải pháp; chọn và lập kế hoạch thi hành giải pháp tối ưu Sau giai đoạn lượng định là giai đoạn thực thi kế hoạch
đã đề ra Bên cạnh vai trò khuyến khích, động viên và hỗ trợ tinh thần, nhân viên CTXH có thể sẽ phải giữ một vai trò tích cực và chủ động hơn trong giai đoạn tiến hành kế hoạch giúp đỡ so với những trường hợp không khủng hoảng
Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với PNSS bị khủng hoảng tâm lý chỉ được giới hạn trong bước đầu tiếp nhận để hiểu rõ vấn đề của đối tượng Làm giảm cảm xúc tiêu cực hoặc nhìn nhận vấn đề chưa đúng với thực
tế khách quan Nhân viên công tác xã hội cần chuyển ca hoặc chuyển tiếp các bước chuyên sâu cho chuyên gia tâm lý và bác sỹ chuyên trị liệu
1.2.3 Quan điểm về giới và phát triển
GS TS Lê Thị Quý - Một chuyên gia về Giới đã phát biểu trong Hội thảo Bàn tròn cấp cao lần thứ ba về Dự án “Hỗ trợ tổng kết 20 năm Đổi mới ở Việt Nam”, 2006 “ …Phụ nữ đã sát cánh cùng với nam giới để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Về mặt sinh học (giới tính), hai giống người này không giống nhau trên nhiều phương diện như hình dáng, giọng nói
và chức năng sinh sản, còn về mặt xã hội, (giới) thật khó có thể so sánh ai hơn
ai vì nam và nữ đều đóng vai trò quan trọng còn giới tính kia là không quan trọng cũng không thể nói rằng giới tính này sinh ra để thống trị còn giới tính kia bị trị….”
Để làm rõ vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội nêu rõ: “Phụ nữ là người đảm nhiệm các vai trò sản xuất và đóng vai trò chính trong vai trò tái sản xuất: tái sản xuất sinh học, tái sản xuất ra sức lao động và tái sản xuất ra cơ cấu cộng đồng Trong gia đình họ là người sinh đẻ , nuôi dạy con cái, giữ gìn gia đạo, gia phong còn đối với dân tộc, phụ nữ đã góp phần bảo lưu truyền thống văn hóa và hình ảnh người mẹ luôn là biểu tượng của hòa bình, hạnh phúc…”
Trang 38Trong phần nói về Hiện trạng xã hội và vấn đề bất bình đẳng giới bà nói: “ …Ngoài việc phải làm tròn chức năng mang thai, sinh đẻ và cho con
bú, phụ nữ cong phải đảm đương công việc sản xuất như nam giới, thậm chí trong nhiều trường hợp còn nặng nhọc hơn Việc nhà là gánh nặng hầu như được khoán cho phụ nữ mà người ta lầm tưởng là “thiên chức”
Trong phần nói về Bình đẳng giới, nhân tố quan trọng của sự phát triển – Trường hợp Việt Nam bà cũng đưa ra quan điểm chủ trương của nhà nước Việt Nam, nhà nước đi theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin trong vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng Phụ Nữ, nghĩa là đấu tranh cho quyền bình đẳng của con người Đảng và nhà nước ta cơ bản đã tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển, điều này thể hiện rõ trong nhiều văn bản của nhà nước
Bà đưa ra nội dung đã được Hiến pháp đầu tiên của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 thông qua: Xóa bỏ mọi hủ tục khắt khe với phụ nữ của chế độ phong kiến, nâng cao địa vị của phụ nữ trong gia đình và
xã hội Đến nay, các chính sách của Nhà nước về lao động, việc làm, quyền
sở hữu đất đai của nam và nữ, sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ trẻ em…
Với quan điểm của bà chúng ta thấy: Vai trò của người phụ nữ hết sức quan trọng Phụ nữ phải gánh những công việc mà nam giới không thể làm thay như mang thai, sinh đẻ và nuôi con bằng sữa Việc quan tâm chăm sóc phụ nữ về mặt sức khỏe sinh sản, sức khỏe tinh thần là vô cùng cần thiết
Quan điểm giới của K.marx và F.Engels: “Dưới chế độ Tư bản chủ nghĩa, phụ nữ bị bứt ra khỏi nền sản xuất xã hội, vì vậy họ không có thu nhập Nếu họ muốn tham gia vào lao động xã hội, kiếm sống một cách độc lập thì họ không có điều kiện để làm tròn nhiệm vụ đối với gia đình Vì vậy, khi đã kết hôn, công việc duy nhất của họ thực hiện là chức năng sinh đẻ, lo công việc gia đình; còn nam giới kiếm tiền nuôi sống gia đình”
Engels còn chỉ rõ: Trong giai cấp Tư bản đang hình thành nên những cuộc hôn nhân trong đó tình cảm yêu thương, tôn trọng lẫn nhau giữ vai trò
Trang 39quyết định Ông nhấn mạnh tình yêu cần có sự tôn trọng, yêu thương lẫn nhau, tạo cơ hội cho ngươi vợ vừa chăm lo được gia đình, sinh con và có thể tham gia lao động sản xuất, đó là cơ sở để có bình đẳng thực sự trong gia đình (Theo Giáo trình Xã hội học giới của PGS TS Lê Thị Quý, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)
Theo Lênin thì người phụ nữ trong các gia đình vô sản ở chế độ Tư bản
là người chịu hi sinh và đau khổ nhất Lênin còn cho rằng, dù đã có luật giải phóng nhưng phụ nữ vẫn không không được cải thiện nhiều trên thực tế:
“Công việc nội trợ, việc gia đình còn bị đè nặng lên lưng họ làm cho họ nghẹt thở, mụ mẫm, nhọc nhằn, ràng buộc họ vào bếp núc, vào buồng con cái…”
Lênin nhận thức sâu sắc về việc xây dựng một chế độ mới cần thiết và không thể không quan tâm đến gia đình đặc biệt là người phụ nữ trong gia đình vì họ có vai trò to lớn trong gia đình, trong việc nuôi dạy con cái
Lênin cũng đưa ra những chính sách quan tâm chăm sóc phụ nữ sau sinh như việc quy định thời gian cho con bú, quy định thời gian làm việc sau sinh, quy định về thời gian nghỉ trước và sau sinh, quy định về lương cũng như tiền chữa bệnh và tiền thuốc (Theo Giáo trình Xã hội học giới của PGS
TS Lê Thị Quý, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)
Quan điểm giới của Hồ Chí Minh: Ngay sau khi Cách mạng Tháng 8 thành công, Hồ Chí Minh đã ra hàng loạt các chính sách quan tâm đặc biệt đến phụ nữ như: Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946)…Đặc biệt nhân dịp nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Thái Bình,
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đánh chửi vợ là điều đáng xấu hổ, như thế còn
gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, dã man…” Thông cảm và thấu hiểu sâu sắc nỗi vất vả của người phụ nữ Hồ Chí Minh đã kêu gọi các cơ quan, nhà máy…quan tâm về điều kiện vật chất cũng như tinh thần cho chị
em phụ nữ (Theo Giáo trình Xã hội học giới của PGS TS Lê Thị Quý, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)
Trang 40Như vậy có thể thấy dù quan điểm giới ở bất kỳ thời điểm lịch sử nào,
ở bất kỳ quốc gia nào thì vai trò quan trọng của người phụ nữ vẫn được đề cập đến rõ ràng Các quan điểm về giới đã khẳng định vai trò quan trọng trong gia đình của người phụ nữ từ việc chăm lo gia đình, sinh và nuôi dạy con cái Vì vậy chăm sóc một cách toàn diện đời sống vật chất và tinh thần đối với phụ
nữ trong bất cứ xã hội nào luôn là vấn đề cần thiết và ý nghĩa Đặc biệt giai đoạn mang thai sinh con người phụ nữ cần được quan tâm một cách toàn diện
Ngoài ra đề tài còn ứng dụng lý thuyết nhu cầu của Matslow trong hoạt động tham vấn, nhà tham vấn có thể xác định thứ bậc các nhu cầu hiện
tại của cá nhân, từ đó cùng thân chủ xây dựng kế hoạch can thiệp và định hướng phù hợp Việc xác định nhu cầu ưu tiên trong những tình huống làm việc với thân chủ cũng rất quan trọng Khi tiếp cận theo lý thuyết nhu cầu, nhà tham vấn cần thực hiện tốt kỹ năng lắng nghe tích cực để khám phá những nhu cầu hợp lý của cá nhân ẩn sau những hành động có thể không hợp lý; nhà tham vấn chú trọng khai thác những điểm mong muốn của thân chủ Nhà tham vấn cũng luôn cần chú ý đến nguyên tắc cá biệt hóa khi làm việc bởi con người có nhu cầu chung giống nhau nhưng mỗi người là một thực thể độc lập, trong những hoàn cảnh không giống nhau sẽ nảy sinh những nhu cầu khác nhau, hoặc kể cả hoàn cảnh giống nhau, vấn đề giống nhau nhưng nhu cầu có thể khác nhau
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Trước thời điểm đi vào nghiên cứu và trong quá trình nghiên cứu thì địa bàn tác giả chủ yếu nghiên cứu thuộc huyện Từ Liêm, nhưng nay sau sự chia tách các địa điểm đó thuộc về quận Nam Từ Liêm
Đề tài tập trung nghiên cứu tại hai xã Mễ Trì, Mỹ Đình
Do sinh sống tại địa bàn nói trên với các yếu tố thuận lợi như được cán
bộ địa phương hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu; người dân thân thiện, sẵn