Tính cấp thiết của đề tài Sinh thời Hồ Chí Minh đã dạy: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; công việc có thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; Cán bộ, công chức là một yếu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÂM NGỌC DŨNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRƯỞNG PHÒNG, PHÓ TRƯỞNG PHÒNG ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG THUỘC TỈNH HÀ TĨNH
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Quang Ngọc
Hà Nội – 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các s ố liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu của
lu ận văn không trùng với các công trình khác
Tác giả luận văn
Lâm Ngọc Dũng
Trang 4MỤC LỤC
Trang DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của luận văn 5
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRƯỞNG PHÒNG, PHÓ TRƯỞNG PHÒNG THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG 6
1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.1 Khái ni ệm cán bộ, công chức, công chức quản lý 6
1.1.2 V ị trí, vai trò của trưởng phòng, phó trưởng phòng và tính tất yếu phải nghiên cứu xây d ựng hệ thống tiêu chuẩn của đội ngũ này 15
1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ 25
1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ 25
1.2.2 Quan điểm của Đảng về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ 30
Chương 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRƯỞNG PHÒNG, PHÓ TRƯỞNG PHÒNG ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG TỈNH HÀ TĨNH 33
2.1 Đặc điểm tình hình tổ chức bộ máy hành chính tỉnh Hà Tĩnh 33
2.2 Thực trạng về đội ngũ trưởng phòng, phó trưởng phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện và tương đương thuộc tỉnh Hà Tĩnh 36
2.3 Thực trạng ban hành, áp dụng các tiêu chuẩn đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng của Hà Tĩnh 39
2.4 Nguyên nhân của những hạn chế 55
2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 55
2.4.2 Nguyên nhân khách quan 57
Trang 5Chương 3 MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐỐI VỚI TRƯỞNG PHÒNG, PHÓ TRƯỞNG PHÒNG CẤP HUYỆN VÀ CÁC
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 60
3.1 Mục tiêu, quan điểm nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đối với Trưởng phòng, Phó trưởng phòng UBND cấp huyện và tương đương 60
3.1.1 Mục tiêu 60
3.1.2 Quan điểm 61
3.2.2 Tiêu chu ẩn cụ thể đối với trưởng phòng 67
3.2.3 Tiêu chu ẩn cụ thể đối với Phó trưởng phòng 68
3.3 Những giải pháp chủ yếu để thực hiện hệ thống các tiêu chuẩn cán bộ Trưởng phòng, Phó trưởng phòng UBND cấp huyện và tương đương ở Hà Tĩnh 70
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu GDP và cơ cấu lao động năm 2012 35 Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đạt được trong các năm 2010-2012.35 Bảng 2.3: Số lượng, cơ cấu và độ tuổi đội ngũ trưởng, phó phòng và tương đương đến hết năm 2012 37 Bảng 2.4: Thực trạng độ tuổi được bổ nhiệm 46 Bảng 2.5: Tiêu chuẩn về thâm niên của trưởng phòng, phó trưởng phòng 47 Bảng 2.6: Đội ngũ trưởng phòng, phó trưởng phòng được bổ nhiệm đúng đối tượng 52
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: 38 Biểu đồ 2.2: Độ tuổi trưởng phòng, phó trưởng phòng 47 Biểu đồ 2.3: Thâm niên của đội ngũ trưởng phòng, phó trưởng phòng 48 Biểu đồ 2.4: Trình độ chuyên môn đội ngũ trưởng phòng, phó trưởng phòng 50 Biểu đồ 2.5: Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ trưởng phòng, phó trưởng phòng 50 Biểu đồ 2.6: Cơ cấu bổ nhiệm 53
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời Hồ Chí Minh đã dạy: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; công việc có thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; Cán bộ, công chức là một yếu tố quan trọng của nền hành chính quốc gia, có vai trò quyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, hoạt động của cán
bộ, công chức là hình thức thể hiện của nền hành chính chính tác động đến lên các quan hệ xã hội nhằm tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; là sự thể hiện cụ thể ý chí, sức mạnh quyền lực của nhà nước đối với xã hội và cùng với hoạt động của các thiết chế khác trong bộ máy nhà nước, trong hệ thống chính trị thực hiện được những mục tiêu của Đảng ta đặt ra đối với Nhà nước và xã hội
Thực hiện đường lối đổi mới, trong những năm qua Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức, nhiều nội dung trong công tác quản lý cán bộ, công chức đã được đổi mới phù hợp với yêu cầu của thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế, từ công tác tuyển dụng, sử dụng, bố trí, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm,
bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, từ chức…
Tuy Trung ương đã có nhiều văn bản quy định về điều kiện, tiêu chuẩn
để bổ nhiệm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các phòng, ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, sở, ban, ngành cấp tỉnh và Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải quy định tiêu chuẩn chức danh Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, sở, ban, ngành nhưng cho đến nay, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh chưa ban hành Quy định về tiêu chuẩn, điều kiển bổ nhiệm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng; do đó công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ có lúc, có nơi chưa
đi vào quy cũ
Trang 10Nhận thức rõ ý nghĩa và sự cần thiết phải xây dựng một đội ngũ công chức giữ chức vụ lãnh đạo quản lý cấp phòng trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đáp ứng yêu cầu thực hiện tốt nhiệm vụ, bản thân tôi được
tổ chức phân công đảm nhiệm chức vụ Phó Trưởng phòng Quản lý Công chức,
viên chức, Sở Nội vụ Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài "Nghiên cứu xây dựng tiêu
chuẩn Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện và tương đương thuộc tỉnh Hà Tĩnh" làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Công chức nói chung và tiêu chuẩn công chức giữ chức vụ lãnh đạo từ cấp phòng trở lên nói riêng là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà quản lý Từ khi đất nước ta thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, thực hiện cải cách nền hành chính nhà nước thì quản lý đội ngũ công chức là đề tài được đề cập đến nhiều trong các hoạt động nghiên cứu khoa học và quản lý thực tiễn
Bùi Đình Phong (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, Nxb Lao động, Hà Nội, Nghiên cứu đã đề cập đến lý luận về cán bộ
và công chức, cụ thể là tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ trên các phạm vi và quan điểm khác nhau
Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hi ện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nghiên cứu đã đưa ra
được sự cần thiết khách quan của việc nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, trong đó có cả đội ngũ cán bộ công chức và công chức giữ chức vụ lãnh đạo Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là một trong những điều kiện tiên quyết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước đến năm 2020
Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ, Viện Khoa học tổ chức Nhà nước, Đạo đức, phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, công chức theo tư tưởng Hồ Chí
Trang 11Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cán
bộ, công chức không chỉ có đáp ứng các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, học vấn Mà chính sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam cũng với nền kinh tế thế giới đã thể hiện đội ngũ cán bộ công chức cần được hoàn thiện về đạo đức, phong cách, lề lối làm việc
Trần Diệu Anh, Khái niệm cán bộ, công chức và viên chức theo các văn
b ản pháp luật, tạp chí Tổ chức Nhà nước tháng 8 năm 2011 Nghiên cứu đã đưa
ra những khái niệm về cán bộ công chức theo các văn bản pháp luật trên nhiều phương diện khác nhau và từng thời kỳ khác nhau
Nguyễn Hồng Khải, Một số vấn đề về phát triển năng lực của cán bộ, công ch ức, tạp chí Tổ chức nhà nước tháng 9 năm 2011 Năng lực của cán bộ
công chức luôn gắn với mục đích tổng thể, với chiến lược phát triển của tổ chức
và phải gắn với lĩnh vực, điều kiện cụ thể Năng lực liên quan chặt chẽ đến quá trình làm việc, phương pháp làm việc hiệu quả và khoa học công nghệ Năng lực được thể hiện qua năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức và phẩm chất đạo đức
Tuy đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến cán bộ công chức và tiêu chuẩn cán bộ nói riêng như đã nêu ở trên, nhưng những nghiên cứu này chỉ mới đề cập tới cán bộ công chức ở các góc độ tiếp cận khác nhau Theo sự tìm tòi, nghiên cứu của bản thân thì đến thời điểm hiện nay chưa thấy có nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về nội dung tiêu chuẩn cán bộ trưởng phòng, phó trưởng phòng trong các cơ quan chuyên cấp huyện, các sở, ngành thuộc tỉnh
Vì vậy việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lắp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa thực tiễn đối với việc nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cán bộ nói riêng và đội ngũ trưởng phòng, phó trưởng phòng nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu tiêu chuẩn chức danh trưởng phòng, phó trưởng phòng UBND cấp huyện và tương đương, so sánh với thực trạng đội ngũ Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện và
Trang 12tương đương ở tỉnh Hà Tĩnh để đề xuất nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn trưởng phòng, phó trưởng phòng phù hợp với thực tiễn và yêu cầu bổ nhiệm, đào tạo nânng cao năng lực của đội ngũ trưởng phòng, phó trưởng phòng trong thời gian tới tại Hà tĩnh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ rõ vai trò của cán bộ, công chức nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng nói riêng trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương;
- Phân tích, đánh giá hệ thống tiêu chuẩn và thực trạng đội ngũ Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện và tương đương trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh;
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện và tương đương đáp ứng nhiệm vụ và yêu cầu của địa phương trong tình hình mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống tiêu chuẩn hiện có và thực trạng đội ngũ Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện và tương đương trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đội ngũ này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống tiêu chuẩn trưởng phòng, phó trưởng phòng cấp huyện và tương đương đang được áp dụng hiện hành tại Hà Tĩnh - bao gồm các tiêu chuẩn được quy định của Trung ương và của tỉnh Hà Tĩnh ban hành
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 13- Các quy định của Quốc hội, của Chính phủ, của Bộ ngành Trung ương
về điều kiện, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh, đạo quản lý nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng cùng với những phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể là phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học, so sánh, tổng kết thực tiễn, phương pháp lô gích- lịch sử
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo quản lý cấp phòng trong các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn để bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng; đề xuất một số giải pháp để thực hiện các tiêu chuẩn đó
Kết quả nghiên cứu luận văn có thể vận dụng trong thực tiễn, giúp Sở Nội vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định tiêu chuẩn chức danh Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện và tương đương trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
7 Kết cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, biểu đồ, luận văn gồm 03 chương, 09 tiết
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
TRƯỞNG PHÒNG, PHÓ TRƯỞNG PHÒNG THUỘC
ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức, công chức quản lý
Khái niệm cán bộ
Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và
bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực nhà nước và các tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội Thuật ngữ này khi đó thường dùng
ghép những khái niệm công nhân, viên chức thành “cán bộ, công nhân, viên
chức”, bao quát tất cả những người làm công hưởng lương từ nhà nước, kể từ
những người đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo
vệ hay lao công tạp vụ
Do những điều kiện lịch sử nhất định, suốt một thời gian dài trong đời
sống chính trị - pháp lý ở Việt Nam tồn tại một tập hợp khái niệm “cán bộ,
công nhân, viên chức” không có sự phân biệt rạch ròi từng khái niệm cũng như
quy chế pháp lý đối với từng nhóm Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 (sửa
đổi bổ sung năm 2003) đề cập tới ba đối tượng cán bộ, công chức, viên chức
nhưng không thể hiện rõ ai là cán bộ, ai là công chức, ai là viên chức mà quy
định chung các đối tượng “cán bộ, công chức” là công dân Việt Nam, trong
biên chế Có thể nói, thuật ngữ cán bộ được sử dụng như là một ước lệ, chưa
thể hiện tính chất hành chính, chưa rõ nội hàm của khái niệm Đây cũng là một
Trang 15Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Nghị định số 117/2003/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các
cơ quan nhà nước Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp lệnh và các nghị định, chúng ta có thể hiểu cán bộ là “những người do bầu cử để đảm nhiệm chức
vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh và cấp huyện”
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế, những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộng giao lưu hợp tác nhiều mặt với các nước, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời, công cuộc cải cách hành chính ngày nay đặt ra nhu cầu chuyên biệt hóa trong sự điều chỉnh pháp luật ngày càng rõ nét, đòi hỏi phải có
sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan Luật cán bộ, công chức được Quốc hội ban hành tháng 11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định cụ thể: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [23, 3]
Như vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã được quy định cụ thể, rõ ràng, xác định rõ nội hàm, đó là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ, làm việc trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hộ từ trung ương đến cấp huyện như vậy, theo quy định hiện nay cán bộ khác với các đối tượng khác ở mấy điểm cơ bản sau: Bầu cử, theo nhiệm kỳ và giữ chức vụ
Khái niệm công chức
Công chức là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Tuy nhiên,
Trang 16do tính đặc thù của từng quốc gia nên quan niệm về công chức ở các nước không hoàn toàn thống nhất Sự khác nhau này thể hiện trong các quan điểm dưới đây:
- Quan điểm thứ nhất thường xuất phát ở các nước xã hội chủ nghĩa Do đồng nhất hoạt động công vụ với hoạt động quản lý của Đảng, đoàn thể dẫn đến quan niệm về khái niệm công chức không chỉ bao gồm các đối tượng làm việc trong cơ quan nhà nước (cả lập pháp, hành pháp và tư pháp) mà cả trong các tổ chức Đảng, đoàn thể, thậm chí trong cả các đơn vị sản xuất
- Quan điểm thứ hai cho rằng, công chức bao gồm những người làm việc trong bộ máy nhà nước nói chung, tương ứng với quan niệm công vụ là hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước (bao gồm hoạt động của công chức trong cơ quan quyền lực, xét xử, kiểm sát và cơ bản nhất là trong các cơ quan quản lý nhà nước)
- Quan điểm thứ ba cho rằng, công chức bao gồm những người hoạt động trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp của Nhà nước và bộ máy phục vụ của các cơ quan nhà nước khác, giữ một công vụ thường xuyên, ổn định
- Quan điểm thứ tư thuần túy cho rằng, công chức chỉ bao gồm những đối tượng phục vụ trong bộ máy hành chính, giữ một chức vụ thường xuyên và ổn định, quan niệm này xuất phát từ chỗ coi công vụ nhà nước chỉ là hoạt động của các cơ quan hành chính
Từ những quan niệm trên về công chức, mà ở những nước khác nhau cũng
có những quy định khác nhau về đối tượng này
Ở Pháp, khái niệm công chức rất rộng, người công chức được phân thành hai loại Loại thứ nhất là những nhân viên công chức làm việc thường xuyên trong bộ máy nhà nước, bị chi phối bởi Luật công chức; loại thứ hai là những nhân viên công chức bị chi phối bởi Luật lao động, bởi bản hợp đồng và luật tư
Họ được nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong các công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện [8, Tr 154] Ở Trung Quốc, một nước theo thể chế Cộng hòa dân chủ nhân dân, chế độ
Trang 17một Đảng lãnh đạo, khái niệm công chức nhà nước dùng để chỉ những người công tác trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp Gồm hai loại: Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực hành chính nhà nước, được
bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức chính quyền các cấp và công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, họ chiếm tuyệt đại đa số công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành chính sách và pháp luật
Ở Mỹ, công chức bao gồm tất cả những nhân viên trong ngành hành chính của Chính phủ, kể cả những người được bổ nhiệm về Chính trị như Bộ trưởng, Thứ trưởng, trợ lý Bộ trưởng, người đứng đầu các cơ quan Chính phủ Tuy nhiên, khái niệm công chức trong diện điều chỉnh của Luật Công chức lại không bao gồm những công chức được bổ nhiệm về chính trị, họ được gọi là công chức chức nghiệp Đặc điểm của công chức Mỹ là không mang tính thường xuyên liên tục mà tồn tại hệ thống thải loại; việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức chủ yếu theo công trạng thực tế, công chức chỉ được tuyển dụng vào một công việc cụ thể mà không có con đường chức nghiệp [24, Tr 321]
Ở Cộng hòa Liên bang Đức, công chức Đức bao gồm những nhân viên làm việc trong các cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công Ých do nhà nước quản lý, các nhân viên, quan chức làm việc trong các cơ quan chính phủ, giáo sư đại học, giáo viên trung học, tiểu học, bác sỹ, hộ lý bệnh viện, nhân viên lái xe lửa…[24, Tr 235]
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước Văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định
về công chức là Sắc lệnh số 76/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 20/5/1950, tại Điều 1 quy định “công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở trong hay ngoài nước, trừ trường hợp riêng biệt do Chính
Trang 18phủ quy định” Sau đó, do nhu cầu bổ sung nhân lực trong bộ máy nhà nước ngày càng tăng, thực tiễn khi đó không có đủ nguồn nhân lực phù hợp với những tiêu chuẩn quy định đối với công chức theo Quy chế nên suốt một thời gian dài sau đó, chế độ công chức dần được thay thế bằng chế độ “cán bộ, công nhân, viên chức” bao gồm tất cả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng, tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế nhà nước Tất cả đều thuộc biên chế nhà nước, được gọi là “cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước” chung chung, không phân biệt ai là cán bộ, công chức, viên chức theo cách quan niệm có tính truyền thống đã hình thành trước đó Do vậy, pháp luật không tiếp tục đi theo hướng điều chỉnh có tính chuyên biệt đối với từng đối tượng lao động phục vụ trong các cơ quan, tổ chức sự nghiệp của nhà nước
Thuật ngữ công chức được sử dụng trở lại tại Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về công chức báo hiệu xu hướng mới trong sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động công vụ và về công chức Theo quy định tại Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 và Nghị định
số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 “về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán
bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước” nhằm cụ thể hóa Pháp lệnh cán bộ công chức 1993 và sửa đổi bổ sung năm 2003, công chức nói tại nghị định này
và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đề cập một cách rõ ràng hơn về khái niệm cán bộ, công chức nhưng vẫn chưa có sự phân biệt giữa công chức hành chính với viên chức trong các đơn vị sự nghiệp
Trước yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước
và đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, Luật Cán bộ, công chức của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định rõ: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
Trang 19nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [23,4]
Từ quy định trên, ta thấy khái niệm công chức theo pháp luật Việt Nam có điểm khác biệt lớn so với các nước, công chức không chỉ bao gồm những người làm việc trong hệ thống hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội như các Ban Xây dựng Đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam; các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân Đây là đặc trưng cơ bản nhất của công chức nước ta, xuất phát từ đặc thù của thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước, Đảng, đoàn thể của nước ta
Phân loại công chức
Lịch sử khoa học hành chính đã xác nhận tầm quan trọng và tính ưu việt của việc phân loại công chức trong công tác quản lý đội ngũ công chức Đây là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý nhân sự Ông I.A White, giáo sư hành chính học Hoa kỳ cho rằng : “Việc quản lý nhân sự trong thời đại hiện nay có hai cột trụ, cột trụ thứ nhất là tuyển chọn nhân tài ; cột trụ thứ hai là phân loại công chức; không thể thiếu được một trong hai cái đó” [25, tr 123] Một nhà hành chính học khác của Mỹ là ông Weiluobei còn nói rõ thêm: “phân loại công chức là điểm khởi đầu của công tác hành chính nhân
sự, đồng thời cũng là nền móng của công tác hành chính nhân sự” [25, tr 231]
Vì vậy mà trong hệ thống hành chính nhà nước, công chức được phân loại để làm cơ sở cho công tác quản lý và phát triển đội ngũ, quy hoạch đào tạo phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng loại công chức Với hệ thống chức
Trang 20nghiệp hiện đang thực hiện trong chế độ công chức ở Việt Nam, công chức
có thể được phân loại như sau:
*Phân loại theo lĩnh vực công tác:
- Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội;
- Công chức trong cơ quan nhà nước;
- Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập;
- Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
* Phân loại theo cấp quản lý hành chính: Theo quy định hiện nay, hệ thống hành chính Nhà nước ở Việt Nam được phân thành 4 cấp từ trung ương đến địa phương Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn chỉ tính từ cấp trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện, nên không đề cập đến công chức cấp
xã Theo cách phân loại này thì công chức trong hệ thống hành chính ở Việt Nam được phân loại như sau :
- Công chức ở cấp Trung ương: Công chức làm việc trong các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
- Công chức ở cấp địa phương: Công chức làm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện
* Phân loại theo trình độ đào tạo và ngạch bậc:
- Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương;
- Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương;
- Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương;
- Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên
Trang 21* Phân loại theo vị trí công tác:
- Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
- Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý [23,8]
Việc phân loại công chức có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện phân cấp quản lý và tổ chức quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng chế độ chính sách đối với công chức
Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể
Về nội dung, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách hiểu không hẳn như nhau Trong giáo trình: Khoa học quản lý (Tập 1 NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội 1999) đã ghi rõ:
“Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác ”
Có tác giả khác lại quan niệm:
Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội
Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định
Quản lý là sự tác động có ý thức, hợp quy luật cửa chủ thể quản lý đến khách thề quản lý nhằm đạt tới tiêu đề ra
Quản lý là sự tác động có tổ chức, cổ hướng đích của chủ thể quản lý tên đối lượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm
Trang 22năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Hiện nay, quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
Một cách khái quát, quản lý được quan niệm như sau:
Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra
Cán bộ, công chức quản lý các cấp nói chung
Cán bộ quản lý là những người thực hiện các chức năng quản lý nhằm đảm bảo cho tổ chức đạt được những mục đích của mình với kết quả và hiệu quả cao
Một cán bộ quản lý được xác định bởi ba yếu tố cơ bản Thứ nhất, có vị thế trong tổ chức với những quyền hạn nhất định trong quá trình ra quyết định Thứ hai, có chức năng thể hiện những công việc cần thực hiên trong toàn bộ hoạt động của tổ chức Và thứ ba, có nghiệp vụ thể hiện phải đáp ứng những đòi hỏi nhất định của công việc
Cán bộ, công chức quản lý cấp trưởng phòng, phó trưởng phòng UBND cấp huyện và tương đương thuộc tỉnh
Cán bộ, công chức quản lý cấp trưởng phòng là người đứng đầu một phòng ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc sở, ban, ngành cấp tỉnh, chịu trách nhiệm trước UBND, Chủ tịch UBND cấp huyện, hoặc Giám đốc Sở và trước pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn do mình phụ trách
Cán bộ, công chức quản lý cấp phó trưởng phòng là người giúp Trưởng phòng chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng về nhiệm vụ được phân công Khi Trưởng phòng vắng mặt có thể được Trưởng phòng ủy nhiệm điều hành các hoạt động của phòng chuyên môn
Trang 231.1.2 Vị trí, vai trò của trưởng phòng, phó trưởng phòng và tính tất yếu phải nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn của đội ngũ này
Vị trí, vai trò của trưởng phòng, phó trưởng phòng trong đội ngũ cán
bộ, công chức
Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng vừa là cán bộ, vừa công chức lãnh đạo quản lý, là đội ngũ trung gian, giữ vị trí quan trọng trong hệ thống cán bộ lãnh đạo vì họ có một số đặc điểm: Vừa là cấp tham mưu, giải quyết trực tiếp trong mọi vấn đề xã hội, đồng thời lãnh đạo, quản lý trực tiếp đối với đội ngũ công chức thuộc quyền quản lý trong việc hướng dẫn, tổ chức thực hiện những chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thể chế hóa những nhiệm vụ cụ thể của cơ quan, đơn vị…, là nguồn cung cấp cho việc tuyển chọn cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược cho Đảng, Nhà nước Trưởng phòng, Phó trưởng phòng là một bộ phận quan trọng, không tách rời của đội ngũ cán bộ, công chức
Vị trí của trưởng phòng, phó trưởng phòng
Trưởng phòng là công chức lãnh đạo đứng đầu một phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, hoặc thuộc sở, ban, ngành cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước UBND, Chủ tịch UBND cấp huyện, hoặc Giám đốc Sở và trước pháp luật
về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng chuyên môn do mình phụ trách Trưởng phòng có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của phòng để tham mưu giúp UBND, Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn về ngành, lĩnh vực chuyên môn được giao Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn đối với các cơ quan,
tổ chức có liên quan về lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành Quản lý cán bộ, công chức trong phòng theo phân công, phân cấp Quản lý, sử dụng có hiệu quả tài chính, tài sản được giao theo quy định Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc Giám đốc Sở giao
Phó trưởng phòng là công chức lãnh đạo, giúp Trưởng phòng chỉ đạo một
số mặt công tác, chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng và pháp luật về nhiệm
Trang 24vụ được phân công Phó trưởng phòng có nhiệm vụ giúp Trưởng phòng và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng điều hành tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao
Vai trò của trưởng phòng, phó trưởng phòng
Vừa là công chức thừa hành các nhiệm vụ do cấp trên giao
Nhờ có trưởng, phó phòng trong đội ngũ cán bộ, công chức mà các
cơ quan hành chính nhà nước thực hiện được nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với mọi mặt của đời sống xã hội- thực chất là thực hiện quyền hành pháp, thi hành và chấp hành pháp luật Thể hiện cụ thể ở việc giúp Nhà nước thực hiện việc quản lý và điều hòa các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội theo đúng pháp luật
Nhân dân đòi hỏi và mong muốn được yên ổn sinh sống, làm ăn trong môi trường an ninh, trật tự và dân chủ, không bị phiền hà, sách nhiễu Người công chức có trách nhiệm và bổn phận trong việc phục vụ nhân dân đáp ứng yêu cầu đó Hiện nay chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, ngày càng mở rộng quan hệ đối ngoại đa phương, đa dạng, do đó vai trò của trưởng, phó phòng trong đội ngũ cán bộ, công chức lại càng thể hiện rõ sự quan trọng trong việc đưa nước ta từng bước thích ứng với luật pháp, tập quán và trình độ quốc tế mà vẫn giữ vững độc lập tự chủ, bảo vệ lợi ích quốc gia
Trưởng, phó phòng trong đội ngũ công chức hoạt động trong bộ máy quản
lý hành chính nhà nước, thực thi quyền hành pháp, không có quyền lập pháp và
tư pháp Nhưng chính họ lại là những người góp phần quan trọng vào quy trình lập pháp và tư pháp
Vừa là người lãnh đạo quản lý
Trưởng, phó phòng trong đội ngũ công chức có vai trò thực hiện việc chỉ đạo, hướng dẫn và phối hợp hoạt động của những người dưới quyền nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Một số khía cạnh của vai trò thủ lĩnh-lãnh đạo có quan hệ trực tiếp tới vấn đề cán bộ: tuyển dụng, đề bạt và sa thải những người
Trang 25dưới quyền Một số khía cạnh khác liên quan đến việc động viên, lôi cuốn cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ để đáp ứng được yêu cầu của tổ chức Còn một mặt nữa thuộc về vai trò này là làm cho cấp dưới nhận rõ được những quan niệm, tầm nhìn của cả tổ chức để cổ vũ họ phấn đấu với tinh thần sáng tạo vì mục tiêu của tổ chức
Họ có vai trò tiếp nhận thông tin tìm kiếm, thu nhận và xử lý, sàng lọc thông tin… Tiếp đó là truyền phát thông tin có nghĩa là họ chia xẻ thông tin với cấp dưới và các thành viên khác của tổ chức Họ có trách nhiệm gửi thông tin
về thực trạng của tổ chức mình đến cho nhiều người, nhất là những người bên ngoài tổ chức
Họ có vai trò quyết định Bởi lẽ người quản lý khi sử dụng thông tin nhận được phải quyết định xem bằng cách nào và khi nào sẽ phải xác định cho tổ chức của mình những mục tiêu và hoạt động mới, cho nên vai trò quyết định sẽ
là vai trò quan trọng nhất trong ba lớp vai trò đang xem xét Với tư cách của người sáng nghiệp, người dàn xếp: người phân phối nguồn lực và người thương thuyết: người quản lý sẽ thực sự là hạt nhân của hệ thống ra quyết định trong một tổ chức
Tính tất yếu phải nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn Trưởng phòng, Phó trưởng phòng UBND cấp huyện và tương đương
- Mỗi vị trí công việc có đặc điểm điểm, nội dung công việc cụ thể, đòi hỏi người giữ vị trí đó phải có những tiêu chuẩn tương ứng, yêu cầu nhiệm vụ của phòng chuyên môn cấp huyện khác với phòng của các cơ quan bộ, ngành Trung ương, khác với phòng chuyên môn các Sở Vì vậy, cần phải có quy định tiêu chuẩn cho từng loại đối tượng quản lý cấp phòng các cấp cho phù hợp với yêu cầu công việc và thực tiễn để tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo cấp phòng thật sự đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ;
- Thời gian qua tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức chung chung chung cho các đối tượng nên thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của từng cấp Do đó cần phải nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn cho từng đối tượng
cụ thể
Trang 261.1.3 Những cơ sở của việc xác định tiêu chuẩn của Trưởng phòng, Phó trưởng phòng UBND cấp huyện và tương đương
- Chức năng nhiệm vụ của tổ chức
Theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm
vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và theo quy định của pháp luật Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu
sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của
cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm Giám đốc, Phó Giám đốc sở theo tiêu chuẩn chức danh
do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định và thủ tục do pháp luật quy định (riêng việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chánh Thanh tra cấp tỉnh thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra); Quy định cho Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng, Phó các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo tiêu chuẩn, chức danh
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành
Theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của
Trang 27cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện Bổ nhiệm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện theo tiêu chuẩn, chức danh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
Quy định của Chính phủ về điều kiện bổ nhiệm Trưởng, Phó phòng trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: Đạt tiêu chuẩn chung của cán
bộ, công chức và tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danh bổ nhiệm theo quy định của Đảng và Nhà nước, trong độ tuổi bổ nhiệm, có đủ sức khỏe, không trong thời gian bị thi hành kỷ luật
- Trình độ, năng lực thực tế của cán bộ công chức của địa phương
Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức là một trong cơ sở của việc xác định tiêu chuẩn của Trưởng phòng, Phó trưởng phòng UBND cấp huyện, sở, ban, ngành ở tỉnh Đội ngũ cán bộ, công chức là nguồn lực chủ yếu của hệ thống quản
lý hành chính có thể vận hành và hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao Do tình hình kinh tế, xã hội thường xuyên thay đổi đòi hỏi phải liên tục phát triển năng lực của tất cả cán bộ, công chức trong hệ thống quản lý hành chính Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức được tiếp cận trên các khía cạnh
Thứ nhất là, năng lực lãnh đạo, quản lý là khả năng dự báo, phán đoán, khả năng xử trí tình huống, khả năng hành động của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính Khả năng dự báo, phán đoán, thực chất là nhà lãnh đạo, quản lý có tầm nhìn về tương lai Đó là ý tưởng về tương lai mà hệ thống tổ chức đưa ra Nhà lãnh đạo, quản lý cần nguồn nhân lực như thế nào cho tổ chức của mình, cần các năng lực gì? Khả năng xử lý tình huống, đó là việc các nhà lãnh đạo, quản lý tìm hiểu để nắm bắt được những việc đang diễn ra trong lĩnh vực công tác, hoạt động của mình, cũng như ngay chính trong hệ thống quản lý hành chính của mình Tìm cách tốt nhất cấp nhật thông tin đầy đủ, kịp thời cho mọi thành viên trong hệ thống tổ chức của mình Khả năng hành động đó là việc nhà lãnh đạo, quản lý lên kế hoạch chiến lược đối với nguồn nhân lực cho phép huy động được đúng người, đúng lúc, đúng chỗ
Trang 28Thứ hai là, năng lực thực thi công vụ của mỗi cán bộ, công chức, đây là lĩnh vực khó phân tích Lĩnh vực này liên quan tới cá tính và giá trị, niềm tin của mỗi cán bộ, công chức và những yếu tố này định hướng cách thức xử lý công việc của họ Lĩnh vực cá nhân của năng lực bao gồm khả năng đưa ra sáng kiến có giá trị, dám chịu trách nhiệm, sáng tạo, có khả năng phân biệt cái gì là quan trọng đối với công việc và cái gì thì không quan trọng và có khát vọng đạt được kết quả Năng lực của mỗi cán bộ, công chức được coi là khả năng của một người để làm được công việc được giao, để xử lý một tình huống (thậm chí
cả tình huống không hề dự báo trước) và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định Như vậy tức là phải biết sử dụng tổng hợp các tài sản của một con người ví dụ như kiến thức, kỹ năng và cá tính để đạt được các mục tiêu và mục đích cụ thể Năng lực gắn với bối cảnh mang tính cá nhân
và năng động Ngoài các kiến thức về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực thi công vụ đã được trang bị, đối với mỗi cán bộ, công chức, năng lực còn bao hàm khả năng quan hệ giữa cán bộ, công chức với nhau, quan hệ với lãnh đạo, quản lý, với các tổ chức bên ngoài
và nhân dân trên cõ sở những thái độ, kỹ năng giao tiếp cần thiết Năng lực của mỗi cán bộ, công chức không phải là tổng các kiến thức, kỹ năng, thái độ, mà
nó quy tụ đồng thời các nguồn lực, hoạt động và kết quả cần đạt Cán bộ, công chức phải biết phối hợp các yếu tố trên trong một điều kiện, hoàn cảnh nhất định để hành động một cách có năng lực
- Quan điểm chính sách của nhà nước và của địa phương
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26/11/2003, trong đó đã có những quy định cụ thể về quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính, Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây Quy định
tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc
Uỷ ban nhân dân cấp mình theo hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân cấp trên; Quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động, tiền lương theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp trên
Trang 29Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định
tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Quy định cụ thể về nhiệm vụ quyền, quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Trong đó có nhiệm vụ trình UBND tỉnh về Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, chức danh đối với Trưởng, Phó các đơn vị thuộc Sở; Trưởng, Phó phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý
Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Quy định về người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân cấp huyện là (Trưởng phòng) chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và trước pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn do mình phụ trách Cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (Phó Trưởng phòng) là người giúp Trưởng phòng chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng về nhiệm vụ được phân công Khi Trưởng phòng vắng mặt nếu được Trưởng phòng ủy nhiệm, Phó Trưởng phòng điều hành các hoạt động của cơ quan chuyên môn cấp huyện Việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, cho từ chức, thực hiện chế độ, chính sách đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó còn quy định về chế độ làm việc của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và trách nhiệm của Trưởng phòng, đó là: cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện làm việc theo chế độ thủ trưởng; Trưởng phòng căn cứ các quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng quy chế làm việc, chế độ thông tin báo cáo của
cơ quan và chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện quy chế đó; Trưởng phòng chịu
Trang 30trách nhiệm về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan mình và các công việc được Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phân công hoặc uỷ quyền; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm khi để xẩy ra tình trạng tham nhũng, gây thiệt hại trong tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý của mình; Trưởng phòng có trách nhiệm báo cáo với Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và sở quản lý ngành, lĩnh vực về tổ chức, hoạt động của cơ quan mình; báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng cấp khi được yêu cầu; phối hợp với người đứng đầu cơ quan chuyên môn, các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp giải quyết những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Quy định về bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý Trong đó quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Đạt tiêu chuẩn, điều kiện của chức
vụ, chức danh được bổ nhiệm theo quy định của cơ quan có thẩm quyền; Có đầy đủ hồ sơ cá nhân được cơ quan có thẩm quyền xác minh rõ ràng, có bản kê khai tài sản theo quy định; Trong độ tuổi bổ nhiệm theo quy định; Có đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ và chức trách được giao; Không thuộc các trường hợp bị cấm đảm nhiệm chức vụ theo quy định của pháp luật
1.1.4 Các yêu cầu về tiêu chuẩn Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng
Cán bộ, công chức trưởng phòng, phó trưởng phòng là một bộ phận của đội ngũ cán bộ, công chức nên phải có được các tiêu chuẩn chung Tuy nhiên, đây là một đối tượng đặc thù nên nõ cũng phải có những tiêu chuẩn riêng
Theo quy định hiện hành, các tiêu chuẩn của cán bộ, công chức đó là:
- Tiêu chuẩn về nhân thân: đòi hỏi người cán bộ công chức phải là người mang quốc tịch Việt Nam, đảm bảo đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ và trước hết phải bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân
Trang 31- Tiêu chuẩn về phẩm chất: có thể phân tích thành hai loại:
+ Phẩm chất chính trị: là tiêu chuẩn cực kỳ quan trọng đối với người cán
bộ công chức Nó không những bắt buộc họ phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp, với lý tưởng mà mình phụng sự mà còn phải vượt qua được những thử thách lúc bình thường cũng như những lúc khó khăn, hiểm nghèo Bên cạnh đó, người cán bộ công chức phải có một lý lịch rõ ràng, phản ánh đầy đủ mối quan
hệ gia đình và xã hội, với đồng chí, đồng nghiệp và bạn bè…
+ Phẩm chất đạo đức: lối sống quy định cán bộ công chức không những sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật mà còn không được làm trái với những quy định dành riêng cho cán bộ công chức như: Pháp lệnh tiết kiệm, nếu cán bộ công chức là đảng viên còn phải tuân thủ Cương lĩnh, điều lệ Đảng, không được vi phạm những điều cấm đảng viên không được làm, chịu sự kiểm soát của những quy định dành riêng cho mình
- Tiêu chuẩn về trình độ và năng lực: là một trong những tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu và được nhấn mạnh Trình độ và năng lực có sự tác động qua lại lẫn nhau Theo logic thông thường, những người có trình độ cao thì có năng lực làm việc tốt hơn, vì vậy năng lực là hệ quả của trình độ, tuy nhiên điều này không phải là tuyệt đối Trong thực tế có những người được đào tạo cơ bản, có bằng cấp nhưng không phát huy được những điều đã học, không thể giải quyết tốt những vấn đề do cuộc sống đặt ra; trái lại, có những người không được đào tạo cơ bản do không có điều kiện học tập nhưng lại giải quyết hiệu quả những vấn đề phát sinh trong thực tiễn Nói như vậy không có nghĩa là đề cao việc không được đào tạo đến nơi đến chốn, xu hướng chủ đạo là tiêu chuẩn về trình
độ cán bộ ngày càng cao, vấn đề ở đây là giữa trình độ và năng lực công tác phải luôn bổ sung, hỗ trợ, tỉ lệ thuận với nhau
- Tiêu chuẩn về độ tuổi: là tiêu chuẩn phản ánh năng lực làm việc, khoảng thời gian còn lại để phát huy năng lực làm việc của người cán bộ công chức, nó còn cho ta biết được “đỉnh cao”, độ chín về tài năng, kinh nghiệm, sự cống hiến của người cán bộ công chức
Trang 32* Các yêu cầu tiêu chuẩn riêng phù hợp với vị trí, vai trò
Vai trò của người đứng đầu một tổ chức là rất quan trọng vì nó góp phần quyết định vào sự thành bại của sự nghiệp nói chung và tổ chức mà họ lãnh đạo nói riêng; nó liên quan đến hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu con người Tuy nhiên việc tuyển chọn, bố trí những người đứng đầu các cấp, các ngành hiện nay nhiều khi không đạt chuẩn mực theo chỉ dẫn của các nguyên lý khoa học tổ chức Không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị của ta chưa ngang tầm với nhiệm vụ Sở dĩ có tình trạng nêu trên là do chúng ta chưa có một chiến lược cán bộ phù hợp với tình hình mới, chưa cụ thể hoá những nghị quyết của Trung ương về công tác tổ chức cán bộ, chưa nắm vững những nguyên lý của công tác tổ chức cán bộ trong bộ máy làm công tác tổ chức cán bộ
Theo nguyên lý khoa học tổ chức, người đứng đầu tổ chức là người về trình độ, năng lực và phẩm chất phải cao hơn người dưới quyền [26, tr 321] Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá người lãnh đạo phải bằng những biện pháp khác nhau, cập nhật để nắm thêm kiến thức về quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, về khoa học tổ chức, về quản lý kinh tế và quản lý nhà nước, khoa học lãnh đạo, tâm lý lãnh đạo, về tin học và ngoại ngữ; chẳng những thế, nhà lãnh đạo lại phải am hiểu các kiến thức trong lĩnh vực ngoại giao, các vấn đề về hội nhập quốc tế, hiểu biết về văn hoá ứng xử, văn hoá trong lãnh đạo…
Những đòi hỏi nêu trên thật nặng nề và có vẻ quá tải đối với khả năng của một người bình thường Mặc dù không hề xem nhẹ tiêu chuẩn về đức độ của người cán bộ công chức và những người lãnh đạo nói chung, vì đó là cái gốc của người cán bộ Bên cạnh đó, tài năng là một tiêu chuẩn có tính chất quyết định thành công hay thất bại, tốt hay xấu, hiệu quả hay không hiệu quả của mọi
ý tưởng, mọi kế hoạch mà chúng ta tiến hành xây dựng Một công chức bình thường và một nhà lãnh đạo có thể có sự hy sinh, lòng trung thành, tinh thần trách nhiệm như nhau; điều kiện khác biệt giữa họ là trí tuệ, năng lực của nhà
Trang 33lãnh đạo hoàn toàn vượt trội Đầu óc chiến lược, tầm nhìn xa, trông rộng, tư duy lý luận và tài năng tổ chức thực tiễn công việc, khả năng “dự báo, đón đầu”
là những phẩm chất chẳng những phân biệt giữa cán bộ lãnh đạo và cán bộ thừa hành mà còn là điều kiện bắt buộc đòi hỏi ở người lãnh đạo, do đó trách nhiệm của những người đứng đầu tổ chức càng nặng nề hơn Những đòi hỏi đặt ra không có nhu cầu tự thân, cũng không phải là sự áp đặt của bất kỳ ai, nó là một quy luật tất yếu, là con đường duy nhất để chúng ta thoát khỏi sự tụt hậu xa hơn
so với sự phát triển của thế giới
1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ
1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ
Theo Chủ tịch Hồ Chủ tịch một khi đã có đường lối cách mạng đúng thì cán bộ là khâu quyết định Người viết "muôn việc thành công hoặc thất bại đều
do cán bộ tốt hoặc kém", "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ để hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng Sự thật là mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ đều do cán bộ nghiên cứu, đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện Đường lối chính sách của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành công hay không đều phụ thuộc vào cán bộ Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúng nhân dân, mà hạt nhân chủ yếu của nó là lực lượng cán bộ
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", chính là quan điểm về con người với tính chất vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vị trí, vai trò của người cán bộ, đồng thời cũng đòi hỏi ở người cán bộ phải có những tiêu chuẩn nhất định, phải tự giác rèn luyện mình về mọi mặt, không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực để xứng đáng với vị trí, vai trò của mình Xuất phát từ những yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, Người đã đưa ra những tiêu chuẩn khác nhau đối với cán bộ:
Trang 34- Người cán bộ phải có phẩm chất đạo đức cách mạng
Làm cách mạng với khát vọng giải phóng dân tộc, điều mà Hồ Chí Minh quan tâm trước hết ở người cán bộ cách mạng là vấn đề đạo đức Người cho rằng, đạo đức chính là cái gốc quan trọng hàng đầu của người cách mạng
"Người cách mạng phải có đức, không có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" Đối với người cán bộ, nếu thiếu hoặc yếu về đạo đức cách mạng thì không thể làm tốt những công việc được giao Đạo đức là hết sức cần thiết cho tất cả mọi người, và đặc biệt cần thiết cho người cán bộ "Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang " [11, tr 252] Người đòi hỏi cán bộ phải giữ được đạo đức cách mạng, đó mới là người cán bộ chân chính Chỉ khi có đầy đủ đạo đức cách mạng thì cán bộ mới có đủ điều kiện làm cách mạng "Muốn giải phóng dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì" [11, tr 253]
Nội dung đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện một cách dễ hiểu, thiết thực nhưng cũng đầy đủ và toàn diện Tiêu chí đạo đức người cán bộ cách mạng được Hồ Chí Minh chỉ ra hết sức cụ thể, đó là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; mỗi người cán bộ phải hội đủ các phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Hồ Chí Minh so sánh bốn đức cần, kiệm, liêm, chính của người cán bộ cách mạng như bốn mùa xuân, hạ, thu, đông của trời, như bốn phương đông, nam, tây, bắc của đất, mà thiếu một đức đó thì không thành người, cũng như thiếu một mùa không thành trời, thiếu một phương không thành đất Người đòi hỏi người cán bộ phải giữ bốn đức đó để không trở nên hủ bại, không biến thành sâu mọt của nhân dân, mà phải là công bộc của nhân dân Người cách mạng bước vào vị thế người cán bộ không phải để làm quan cách mạng hay cầu mong lợi lộc, mà phải hiểu rằng cán bộ trong các cơ quan từ trung ương đến địa phương đều là công bộc của dân, gánh vác công việc chung cho nhân dân, chứ không phải để đè đầu cưỡi cổ dân, phải là người
lo trước thiên hạ và vui sau thiên hạ
Trang 35Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng đạo đức cách mạng đòi hỏi người cán bộ phải trung thành với Đảng, trung thành với Tổ quốc, đồng thời đặt mình trong mối quan hệ với chính mình, với đồng đội, với công việc, với nhân dân, với đoàn thể một cách hài hòa
Bên cạnh việc chỉ ra những tiêu chí đạo đức người cán bộ cách mạng, Hồ Chí Minh còn chỉ ra những căn bệnh mà cán bộ phải phòng tránh, sửa chữa Đó
là óc địa phương chủ nghĩa, bè phái, quân phiệt, hẹp hòi, chuộng hình thức, lối làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, lãng phí…
Về con đường hình thành đạo đức người cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề là phải tự bản thân mỗi người cán bộ rèn luyện thường xuyên, hàng ngày "Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong" [9, tr 321]
Như vậy, vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh coi là cái nền, cái gốc của người cán bộ cách mạng Tư tưởng ấy của Hồ Chí Minh trước sau cơ bản là nhất quán, thể hiện ở mấy điểm: Trung với nước, hiếu với dân, người cán bộ phải là đầy tớ của nhân dân, dũng cảm hy sinh, không sợ khó khăn, gian khổ, gạt bỏ lợi ích cá nhân để phục tùng lợi ích tập thể, khiêm tốn học hỏi, không tự cao, tự đại, cần kiệm liêm chính và tinh thần đoàn kết hữu nghị
- Người cán bộ phải có năng lực tổ chức, lãnh đạo hoạt động thực tiễn
Chú trọng và đánh giá rất cao vai trò của đạo đức đối với người cán bộ,
Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi người cán bộ phải thường xuyên nâng cao trình độ, năng lực tổ chức thực hành để hoàn thành các nhiệm vụ được giao Theo Hồ Chí Minh, người cán bộ chỉ có đạo đức trong sáng cùng lòng nhiệt tình hăng hái sẵn sàng hy sinh thôi thì chưa đủ, mà còn phải có năng lực, trí tuệ, biết nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật của tự nhiên và xã hội vào hoạt động thực tiễn của mình
Năng lực đầu tiên mà Hồ Chí Minh đòi hỏi ở người cán bộ cách mạng là năng lực lãnh đạo, quản lý, là khả năng tổ chức động viên quần chúng thực hiện
Trang 36tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Vì cán
bộ chính là cầu nối, là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ đến với nhân dân, nên đòi hỏi cán bộ phải có năng lực này, nếu không thì không xứng đáng là cán bộ cách mạng Và để tuyên truyền thực hiện tốt được đường lối của Đảng và Nhà nước trong quần chúng, đòi hỏi cán bộ phải có năng lực thực hành dân chủ, nghĩa là phải có mối liên hệ mật thiết với quần chúng, tin ở quần chúng và học hỏi ở chính quần chúng, "Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân" [12, tr 298]; và phải cần có sự giúp đỡ của dân, vì "Dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên" [11, tr 134]
Theo Hồ Chí Minh, năng lực tổ chức thực hành của người cán bộ thể hiện ở những điểm là: quyết định vấn đề một cách cho đúng, tổ chức thi hành cho đúng và tổ chức kiểm soát cho đúng Để quyết định vấn đề một cách cho đúng cần phải có năng lực, trí tuệ, nắm được thông tin và xử lý thông tin, đưa ra phương án để lựa chọn, quyết định
Hồ Chí Minh cho rằng, năng lực tổ chức thực hành còn thể hiện ở chỗ phải biết: "Một là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng Hai là liên hợp người lãnh đạo với quần chúng" [12, tr 288]
* M ối quan hệ giữa đức và tài của người cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Nhấn mạnh tiêu chuẩn đạo đức, coi đó là gốc của người cán bộ cách mạng, đồng thời Hồ Chí Minh cũng luôn đề cao tiêu chuẩn tài năng đối với người cán bộ, đòi hỏi cán bộ phải là những người “có gan phụ trách, có gan làm việc.” Phải có trí tuệ, có tài thì cán bộ mới lĩnh hội được đầy đủ chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, mới có trình độ và năng lực cần thiết để đảm nhiệm được những trọng trách được giao phó, mới đủ khả năng tổ chức chỉ đạo thực hiện tốt phần việc do mình phụ trách Như vậy,
Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ phải đồng thời có cả đức và tài và kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố đó; vì người cán bộ có tài mà không có đức thì không làm được việc gì, mà lại còn có thể góp hại cho đất nước; còn nếu chỉ có đức
Trang 37mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, giống như "ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người" [14, tr 321] Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có cả đức và tài không tách biệt nhau, mà chi phối, quy định lẫn nhau: Đạo đức là cơ sở của tài năng, nó định hướng lý tưởng, hành động để vươn tới cái cao đẹp của tài năng; nhưng phải có tài mới phát huy được đạo đức, mới làm cho lý tưởng đạo đức nở hoa: "Đức và tài theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là những thành phần nòng cốt trong cấu trúc nhân cách của người cán
bộ Mỗi người cán bộ, theo Người phải là người có đức, có tài, phải " vừa hồng, vừa chuyên" [24, tr 278]
Quan hệ giữa đức và tài của người cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh không đơn thuần là quan hệ giữ chính trị và chuyên môn, vì Hồ Chí Minh không chính trị hóa đạo đức, cũng không trông vào chuyên môn là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá tài năng; mà thước đo để đánh giá đức và tài là ở động cơ
và hiệu quả công việc, ở thái độ tận tụy, đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chân lý, ở nói
đi đôi với làm Đức và tài luôn gắn với những điều kiện, tình hình cụ thể, và đòi hỏi mỗi người cán bộ phải không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, tự rèn luyện bản thân mình cả về phong cách, lề lối làm việc, cũng như phong cách, lối sống hàng ngày
- Người cán bộ phải có trình độ lý luận
Với Hồ Chí Minh: "Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử" [13, tr 497] Vì vậy, lý luận là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn; kém lý luận thì gặp công việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo, không thấy rõ điều kiện khách quan, chỉ làm theo suy nghĩ chủ quan, nên thường thất bại; vì thế người cán bộ phải học tập, rèn luyện
để không ngừng nâng cao trình độ lý luận Nhưng cũng phải tránh tình trạng lý luận suông, lý luận không xuất phát, không áp dụng được vào thực tiễn Để nâng cao lý luận, phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, mổ xẻ xem xét kỹ càng thực tiễn, để "làm phong phú thêm lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn" [13, tr 497]
Trang 38Theo Hồ Chí Minh, người cán bộ nâng cao lý luận không có nghĩa là thuộc lòng hay mô tả lý luận, mà phải khái quát, tìm ra quy luật của vấn đề, làm phong phú lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn Đồng thời cũng đòi hỏi cán bộ tự giác xem học tập lý luận là một nhiệm vụ phải hoàn thành
- Người cán bộ phải có phong cách kiểu mẫu
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phong cách của người cán bộ được thể hiện ở các yêu cầu như tác phong quần chúng, dân chủ, thẳng thắn, tính quyết đoán và tinh thần trách nhiệm cao, sâu sát, thận trọng, nhất quán giữa lời nói và việc làm, giữa lý luận và thực tiễn, thường xuyên nghiêm túc phê bình và tự phê bình…
Hồ Chí Minh đòi hỏi phong cách làm việc của cán bộ phải nêu cao tính Đảng Mọi hoạt động của cán bộ "Phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc" [11, tr 236]
1.2.2 Quan điểm của Đảng về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ
Nhận thức rõ tầm quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ đối với sự nghiệp đấu tranh xây dựng và phát triển đất nước nên Đảng và Nhà nước luôn coi trọng việc xây dựng, kiện toàn, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức Theo từng giai đoạn cách mạng, các Nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước đều có những nội dung về cán bộ, công chức và công tác cán bộ, công chức Từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, trong tất cả các văn kiện Hội nghị Trung ương và văn kiện Đại hội Đảng, không có văn kiện nào không bàn đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ
Nghiên cứu văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về cán bộ
và công tác cán bộ trong bối cảnh đổi mới, hội nhập quốc tế cho thấy cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ là một trong những vấn đề lớn được quan tâm
Từ Nghị quyết 225/NQ-BCT của Bộ Chính trị ban hành năm 1973 về cán
bộ đã đề ra tiêu chuẩn chung cho mọi cán bộ trong cách mạng XHCN Đại hội
Trang 39đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IV cũng nêu "tiêu chuẩn cơ bản của mọi cán bộ là luôn luôn phải có đủ hai mặt phẩm chất và năng lực tương ứng với đòi hỏi của nhiệm vụ chính trị trong mỗi giai đoạn cách mạng" Nghị quyết 32/NQ-BCT của Bộ Chính trị (khóa IV) chủ trương "ra sức nâng cao phẩm chất
và năng lực của cán bộ" Đến Đại hội lần thứ V của Đảng lại nhấn mạnh "trong tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, của Nhà nước các cấp, các ngành, các đơn vị chúng ta cần chú ý đầy đủ tiêu chuẩn chính trị, tiêu chuẩn chuyên môn và khả năng lãnh đạo nhưng phải lấy hiệu quả công việc làm thước
đo cuối cùng của tiêu chuẩn" Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, xác định rõ yêu cầu tiêu chuẩn người cán bộ phải là người có phẩm chất chính trị đã qua thử thách, luôn luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, thông suốt và chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, ham học hỏi, năng động, sáng tạo, có kiến thức về quản
lý kinh tế, xã hội, có tính tổ chức và kỷ luật cao Đó là những cán bộ có đạo đức cách mạng, có ý thức tập thể, dân chủ, đi đôi với tính quyết đoán, có ý thức trách nhiệm, có tác phong sâu sát thực tế, gần gũi quần chúng, quan tâm đến con người, gương mẫu trong lối sống, đoàn kết và động viên được nhiệt tình lao động của cán bộ và nhân dân Tuy vậy những tiêu chuẩn đó mới chỉ được nêu lên dưới dạng tổng quát chung, chưa nêu rõ tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước Nghị quyết Trung ương
6 (khóa VI) đã chỉ rõ "cần cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ cho từng chức danh lãnh đạo và quản lý "không thể dừng ở tiêu chuẩn phẩm chất và năng lực chung chung Thực hiện chủ trương đó Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) đã ra Nghị quyết về "Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" trong đó cụ thể hóa một bước tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới
Đó là: có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có
Trang 40ý thức tổ chức kỷ luật Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, năng lực, sức khoẻ để làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Các tiêu chuẩn này là cơ sở để mỗi cấp, mỗi ngành cụ thể hoá tiêu chuẩn cán bộ, công chức của ngành mình phù hợp với yêu cầu về chuyên môn, phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp
Các tiêu chuẩn đó, có quan hệ mật thiết với nhau Coi trọng cả đức và tài, đức là gốc
Ngoài các tiêu chuẩn chung nói trên, cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân còn phải:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
- Gương mẫu về đạo đức, lối sống Có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết cán bộ
- Có kiến thức về khoa học lãnh đạo và quản lý Đã học tập có hệ thống ở các trường của Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân; trải qua hoạt động thực tiễn có hiệu quả