Do vậy, vấn đề nghiên cứu của luận án có thể mở ra những nhận thức mới về thờ cúng nữ thần ở Nha Trang, đặc biệt là khám phá mối quan hệ giữa chức năng nghi lễ và chuyển đổi thực hành Vớ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH XUYÊN
NGHI LỄ THỜ CÚNG NỮ THẦN
Ở THÀNH PHỐ NHA TRANG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH XUYÊN
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Xuyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án “Nghi lễ thờ cúng nữ thần tại thành phố Nha Trang”, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy cô đã tham gia giảng dạy và gợi ý trong quá trình thực hiện luận án tại khoa Nhân học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - ĐHQGHN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Lê Sĩ Giáo và PGS.TS Nguyễn Văn Minh là những người thầy đã tận tình chỉ dạy và hướng dẫn tôi thực hiện luận án
Xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - ĐHQGHN và lãnh đạo viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ đã tạo điều kiện cho tôi học tập
Tôi xin cảm ơn các cộng tác viên và những nhà nghiên cứu đã chia sẻ và giúp đỡ
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bố mẹ và các anh chị đã luôn mong đợi và khuyến khích, giúp tôi có thêm động lực hoàn thành luận án
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Xuyên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học 11
6 Cấu trúc của luận án 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1 Tình hình nghiên cứu 14
1.1.1 Nghiên cứu về nữ thần dưới góc độ thần tích, giao lưu tiếp biến văn hóa, vai trò và giá trị 14
1.1.2 Nghiên cứu về người thực hành nghi lễ thờ cúng nữ thần 18
1.1.3 Nghiên cứu về các chiều kích của tính hiện đại trong thực hành thờ cúng 21
1.2 Cơ sở lý luận 24
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 24
1.2.2 Luận điểm tính hiệu nghiệm của nghi lễ 30
1.2.3 Xây dựng khung phân tích tính hiệu nghiệm của nghi lễ 39
Tiểu kết chương 1 43
CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ THỜ CÚNG NỮ THẦN Ở NHA TRANG 44
2.1 Hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và tộc người 44
2.1.1 Sự hình thành của vùng đất Nha Trang 44
2.1.2 Dân cư - tộc người 45
2.1.3 Bối cảnh hình thành làng/vạn 47
2.1.4 Bối cảnh hình thành đô thị 49
Trang 62.2 Thờ cúng thần linh của cộng đồng người Việt tại Nha Trang 52
2.2.1 Đặc điểm của cơ sở thờ cúng 52
2.2.2 Thờ cúng thần linh của làng 54
2.2.3 Nữ thần của cộng đồng làng 56
Tiểu kết chương 2 64
CHƯƠNG 3 HÌNH THỨC THỜ CÚNG TỨ PHỦ VÀ HẦU THIÊNG TẠI NHA TRANG 65
3.1 Hình thức thờ cúng tứ phủ 65
3.1.1 Những người thờ cúng tứ phủ 65
3.1.2 Các nữ thần thuộc thiết chế tứ phủ 66
3.1.3 Nghi lễ thờ cúng nữ thần của tứ phủ 71
3.2 Hình thức hầu thiêng 77
3.2.1 Quá trình hình thành và đặc điểm của người hầu thiêng 77
3.2.2 Một số nữ thần tiêu biểu của người hầu thiêng 81
3.2.3 Kiến tạo niềm tin vào nữ thần của người hầu thiêng 84
3.2.4 Một số nhận xét về tính chất thờ cúng Thiên Y A Na và Liễu Hạnh của người hầu thiêng trong mối tương quan với các nhóm thờ cúng khác 86
3.2.5 Nghi lễ thờ cúng Thiên Y A Na của người hầu thiêng tại tháp Po Ina Nagar 87
Tiểu kết chương 3 92
CHƯƠNG 4 TRÌNH DIỄN NGHI LỄ VÀ CHIẾN LƯỢC THỰC HÀNH TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY 94
4.1 Tác động của tứ phủ đến thờ cúng nữ thần tại Nha Trang 94
4.1.1 Quá trình mở rộng của tứ phủ 94
4.1.2 Tính chất của hầu thiêng trong bối cảnh mở rộng của tứ phủ 97
4.1.3 Ảnh hưởng về cơ cấu điện thần 98
4.1.4 Ảnh hưởng về thực hành nghi lễ 101
4.2 So sánh thực hành nghi lễ thờ cúng nữ thần của người hầu thiêng trước và sau khi gia nhập tứ phủ 106
4.3 Trình diễn nghi lễ lên đồng của người hầu thiêng theo phong cách tứ phủ Huế 110
4.3.1 Trường hợp nghi lễ lên đồng 110
Trang 74.3.2 Trường hợp nghi lễ trình đồng 114
4.3.3 Tính hiệu nghiệm và chuyển đổi thực hành của người hầu thiêng nhìn từ hoạt động trình diễn nghi lễ 128
4.4 Chiến lược thực hành trong đời sống hằng ngày của người hầu thiêng 130
4.4.1 Trường hợp của đồng cựu 130
4.4.2 Trường hợp của đồng tân 136
4.4.3 Trường hợp người hầu thiêng không chuyển sang tứ phủ 140
Tiểu kết chương 4 144
CHƯƠNG 5 BÀN LUẬN VỀ TÍNH HIỆU NGHIỆM CỦA NGHI LỄ TRONG TƯƠNG QUAN VỚI CHUYỂN ĐỔI THỰC HÀNH 146
5.1 Đóng góp của khung phân tích tính hiệu nghiệm đối với nghiên cứu chuyển đổi thực hành nghi lễ 146
5.2 Tương quan giữa chủ trương phục hồi tôn giáo tín ngưỡng dân gian và bối cảnh chuyển đổi thực hành thờ cúng nữ thần ở Nha Trang 149
5.3 Động lực chuyển đổi thực hành nghi lễ của người hầu thiêng 155
5.4 Tính hiệu nghiệm và xu hướng chuyển đổi của thực hành nghi lễ 157
5.5 Tính hiệu nghiệm nhìn từ vấn đề “kịch bản” của trình diễn nghi lễ 160
5.6 Tính hiệu nghiệm và kiểm soát rủi ro bằng thực hành nghi lễ 161
5.7 Một số hàm ý xã hội của hoạt động tôn giáo tín ngưỡng nhìn từ các phát hiện của luận án 163
Tiểu kết chương 5 165
KẾT LUẬN 166
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 171
TÀI LIỆU THAM KHẢO 172
PHỤ LỤC 185
Trang 8đã xây dựng nên hệ thống nữ thần đa dạng, trong đó, quan trọng nhất là Thiên Y A
Na được thờ cúng dưới hai hình thức: Thiên Y A Na - một biểu tượng Việt hóa nữ thần xứ sở của người Chăm là Po Ina Nagar và Thiên Y A Na - hình ảnh tượng trưng của Liễu Hạnh Bên cạnh đó, người Việt cũng thờ cúng các nữ thần khác của cộng đồng làng và tứ phủ Về khía cạnh nghi lễ, vì tính chất dung hợp trong thờ cúng đã khiến cho hình thức nghi lễ cũng trở nên đa dạng, phong phú như tế thần, hầu đồng - múa bóng và hầu đồng tứ phủ với ba nhóm thực hành là nhóm cộng đồng làng, người hầu thiêng và các ông/bà đồng của tứ phủ Trong nhiều nghiên cứu trước đây về nữ thần và văn hóa thờ mẫu ở Nha Trang, người hầu thiêng gần như chưa được nhắc đến một cách rõ ràng và cụ thể mặc dù họ góp mặt rất thường xuyên vào hoạt động thờ cúng nữ thần của cộng đồng Cùng với các ông/bà đồng của tứ phủ, trong nhiều năm gần đây, trình diễn nghi lễ của người hầu thiêng đã làm thay đổi đáng kể diện mạo của hoạt động thờ cúng nữ thần ở Nha Trang Cho đến nay, nghi lễ lên đồng, hầu vui của tứ phủ và hầu thiêng đã được hợp thức hóa tại một số không gian thờ cúng của cộng đồng
Từ quá trình quan sát tham gia tại miếu nữ thần của cộng đồng làng và điện
tứ phủ, tôi nhận thấy người hầu thiêng tham gia thực hành nghi lễ ở nhiều không gian khác nhau Với những thông tin bước đầu, cho thấy nghi lễ của người hầu thiêng phát triển theo hai giai đoạn: trước đây, họ tham gia vào hoạt động múa bóng/múa dâng bông, dung hợp giữa múa dâng bông và hầu đồng dân gian tạo nên hình thức hầu bóng; hiện nay, người hầu thiêng thực hành nghi lễ lên đồng và hội nhập với tứ phủ hoặc không tham gia vào tứ phủ Thờ cúng nữ thần của người hầu
Trang 9là cần thiết, nhất là quá trình chuyển đổi thực hành của người hầu thiêng, xa hơn nữa là khám phá mối quan hệ giữa mô hình tứ phủ và hầu thiêng Rõ ràng, hướng đi này đã trực tiếp gợi mở cho người nghiên cứu lưu ý đến bối cảnh và hàm ý văn hóa
và xã hội đằng sau những hoạt động trên Hướng tiếp cận và nghiên cứu nghi lễ của luận án được xây dựng dựa trên các quan sát thực tiễn, nhất là gắn với hai đối tượng năng động và có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thờ cúng nữ thần là người hầu thiêng và người thuộc tứ phủ Do vậy, vấn đề nghiên cứu của luận án có thể mở ra những nhận thức mới về thờ cúng nữ thần ở Nha Trang, đặc biệt là khám phá mối quan hệ giữa chức năng nghi lễ và chuyển đổi thực hành
Với những lý do nêu trên, tôi cho rằng chuyển đổi thực hành của người hầu thiêng trong bối cảnh mở rộng của tứ phủ có hàm ý về sự thay đổi cách nhìn nhận lại hiệu ứng và chức năng nghi lễ Từ đây, luận án đặt ra vấn đề xem xét nghi lễ thờ cúng nữ thần bằng cách đánh giá các hiệu ứng của nghi lễ Đặc biệt hơn, luận án còn mở rộng tìm hiểu tính hiệu nghiệm của nghi lễ và mối quan hệ giữa tính hiệu nghiệm với tính chất chuyển đổi thực hành của người hầu thiêng nhằm làm rõ ý nghĩa và chức năng nghi lễ trong cuộc sống đương đại
Nội dung chính của luận án thể hiện qua câu hỏi xuyên suốt như sau: “Thực hành và chuyển đổi thực hành nghi lễ của người hầu thiêng diễn ra như thế nào?”
Để giải quyết vấn đề trên, cần các câu hỏi cụ thể như sau: Các nhóm thực hành của cộng đồng, hầu thiêng và tứ phủ thờ cúng những nữ thần nào? Nghi lễ thờ cúng của người hầu thiêng trước và sau khi chuyển đổi là gì, liên quan như thế nào đến không gian cộng đồng và không gian tứ phủ? Ảnh hưởng của tứ phủ đến quá trình chuyển
Trang 10đổi thực hành của người hầu thiêng thể hiện như thế nào? Chiến lược trình diễn nghi lễ và thực hành hằng ngày trong quá trình chuyển đổi? Lý do và động lực chuyển đổi thực hành của người hầu thiêng là gì? Như vậy, có thể khẳng định sự
cần thiết của luận án “Nghi lễ thờ cúng nữ thần ở thành phố Nha Trang” là nghiên
cứu hiện tượng mới đang nổi lên trong thờ cúng nữ thần, đó là quá trình chuyển đổi thực hành của người hầu thiêng trong bối cảnh nhiều hình thức thờ cúng khác nhau cùng phát triển, phân hóa và định hình diện mạo thờ cúng nữ thần tại Nha Trang
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu thực hành nghi lễ thờ cúng nữ thần của nhóm người hầu thiêng và tứ phủ tại Nha Trang nhằm sáng tỏ quá trình chuyển đổi thực hành nghi lễ, mối quan hệ giữa hình thức hầu thiêng với tứ phủ và mối quan hệ giữa tính hiệu nghiệm với chuyển đổi thực hành trong bối cảnh đương đại
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Sự thực hành nghi lễ thờ cúng nữ thần của nhóm
người hầu thiêng và tứ phủ tại Nha Trang
3.2 Giới hạn nghiên cứu
Về không gian nghiên cứu: Thành phố Nha Trang là nơi xuất phát của tục thờ
cúng nữ thần của người Chăm và người Việt Người Việt tiếp thu di sản văn hóa Chăm, Việt hóa nghi lễ múa của bà bóng người Chăm và lan tỏa nghi lễ múa bóng đến các huyện khác của Khánh Hòa Về sau, với sự xuất hiện của cộng đồng di dân
từ Huế và Bắc Trung Bộ mang theo mô hình thờ cúng tứ phủ, những người hầu thiêng dung hợp giữa nghi lễ múa bóng cộng đồng và hầu đồng để tạo nên diễn xướng hầu đồng - múa bóng Nha Trang là cái nôi xuất phát của nghi lễ hầu đồng - múa bóng và cũng là nơi diễn ra quá trình chuyển đổi từ hầu thiêng sang tứ phủ Vì vậy, tôi đã chọn thành phố Nha Trang để nghiên cứu thực hành nghi lễ của người hầu thiêng, nhất là trong bối cảnh phát triển của mô hình thờ cúng tứ phủ Với những lý do trên, tôi đã tiến hành khảo sát và nghiên cứu thực hành nghi lễ tại một
số trung tâm thờ cúng quan trọng của người hầu thiêng và tứ phủ là tháp Po Ina Nagar, điện Định Phước và các điện thờ tư nhân khác thuộc các phường Vĩnh Phước, Vạn Thạnh và Vĩnh Trường
Trang 11Về chủ thể nghiên cứu: Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, luận án tập trung
vào nhóm người hầu thiêng và tứ phủ Trong nhóm người hầu thiêng, gồm người đang chuyển đổi và chưa chuyển đổi sang tứ phủ
Về thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu trong bối cảnh đương đại, với
những nghi lễ đang được thực hành ở Nha Trang vào thời điểm khoảng 20 năm trở lại đây (cụ thể là từ năm 2000 khi hầu đồng được trình diễn công khai tại tháp Po Ina Nagar) tại một số cơ sở thờ cúng như tháp Po Ina Nagar và một số miếu thờ cộng đồng cũng như điện phủ tư gia
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin từ sách, bài công bố trên tạp chí
và kỷ yếu hội thảo, từ đó tìm ra vấn đề mới có tính thiết thực chưa được nhiều nghiên cứu đề cập
Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt và chủ đạo của luận án là phương pháp của ngành Nhân học nhằm tìm kiếm trải nghiệm từ góc nhìn của người trong cuộc
và tiếng nói của người thực hành nghi lễ thờ cúng nữ thần Hai công cụ quan trọng
là quan sát tham gia và phỏng vấn sâu được sử dụng trong những chuyến điền dã dân tộc học dài ngày và trở đi trở lại nhiều lần tại địa bàn nghiên cứu Quan sát tham gia không chỉ được thực hiện vào thời điểm tổ chức nghi lễ mà còn trong cuộc sống thường ngày Thời điểm tổ chức nghi lễ thờ cúng nữ thần mang tính chu kỳ vào tháng 3 âm lịch hằng năm Đây là thời gian diễn ra những chuyến hành hương
và thực hành nghi lễ tại các đền/phủ, đình và miếu của Nha Trang Tôi đã quan sát tham gia thực hành nghi lễ ở các địa điểm thờ cúng vào những thời điểm khác nhau,
cụ thể, lăng miếu Trường Đông: nghi lễ cầu ngư và lễ tế nam thần và nữ thần (2015); miếu Thiên Y A Na (đình Vạn Thạnh): lễ tưởng niệm Thiên Y A Na (2015); tháp Po Ina Nagar: nghi lễ hầu đồng - múa bóng của người hầu thiêng tưởng niệm Thiên Y A Na trong hai năm 2016 và 2017; điện Định Phước (tứ phủ Huế): nghi lễ lên đồng tưởng niệm Thiên Y A Na (2016, 2017), tưởng niệm Mẫu Thượng Ngàn (2016), nghi lễ trình đồng (2017); đền Sòng Sơn (tứ phủ Bắc): nghi lễ lên đồng tưởng niệm Thiên Y A Na (2016) và hai nghi lễ lên đồng của đồng đền (2016); điện
Trang 12mà còn tham gia vào nghi lễ, nhận và chia sẻ lộc, trò chuyện và lắng nghe để học cách khấn vái, đặc biệt là trải nghiệm trực tiếp không khí nghi lễ, sự kết nối giữa mọi người với nhau Ngoài những cuộc nói chuyện sau khi giải lao hoặc kết thúc buổi trình diễn, tôi còn có những cuộc nói chuyện riêng với các ông/bà đồng khi họ trở về với cuộc sống hằng ngày
Vì chủ đích nghiên cứu làm sáng tỏ động lực thực hành nghi lễ, nên tôi chọn những đối tượng tham gia thường xuyên vào hoạt động thờ cúng Đối tượng cung cấp thông tin của luận án là những người hầu thiêng (đã chuyển đổi và chưa chuyển đổi sang tứ phủ) và những người thuộc tứ phủ (các ông/bà đồng thuộc tứ phủ Huế, Bắc và thầy cúng) Ngoài ra, tôi còn tiếp cận những người thờ cúng ở cộng đồng vì môi trường văn hóa thờ cúng của họ liên quan đến hoạt động của người hầu thiêng Tôi sử dụng cách thức phỏng vấn dắt dây với bảng hỏi phi cấu trúc để dễ dàng triển khai các cuộc nói chuyện trong quá trình tham gia vào thực hành nghi lễ Từ đó, một số vấn đề mới phát sinh song song với việc nhận ra những người có thể trở thành đối tượng cung cấp thông tin chính Nhờ vậy, một số câu chuyện của người cung cấp thông tin chính trở thành các trường hợp điển hình của luận án
Đầu tiên, tôi gặp gỡ những người cung cấp thông tin ở cộng đồng làng, gồm ngư dân của làng Trường Đông, cư dân phường Vạn Thạnh, Phương Sài, Vĩnh Phước và Ban Trị sự của đình - miếu tại các phường này để tìm hiểu thông tin khái quát về bối cảnh định cư và phát triển của người Việt, bối cảnh hình thành làng/vạn,
đô thị Nha Trang, cách thức thờ cúng và tiếp biến văn hóa trong thờ cúng nữ thần
Từ câu chuyện liên quan đến thực hành thờ cúng nữ thần của những đối tượng trên,
Trang 13xu hướng mới nổi lên cần được nghiên cứu Nhờ vậy, tôi đã khai thác sâu hơn những câu chuyện của thầy đồng hầu thiêng và tứ phủ Tôi đã chọn ra 15 người làm đối tượng cung cấp thông tin, trong đó, có 03 ông/bà đồng thuộc tứ phủ, 04 ông/bà đồng hầu thiêng, 01 thầy cúng thuộc tứ phủ, 03 người thuộc ban trị sự của đình miếu, 01 cán bộ, 01 hưu trí, 02 người thờ cúng ở cộng đồng làng và thờ tại gia Các câu chuyện của 4 người hầu thiêng trở thành những trường hợp nghiên cứu của luận
án nhằm làm rõ tính chất thực hành và chuyển đổi thực hành, gồm câu chuyện của
ba người hầu thiêng đang chuyển đổi sang tứ phủ và câu chuyện của một người hầu thiêng không chuyển đổi sang tứ phủ Ngoài ra, còn có câu chuyện của người hầu thiêng tại gia (không mở phủ và không hầu đồng) cung cấp và gợi ý các thông tin về quá trình hình thành và phát triển của hoạt động hầu thiêng Một số câu chuyện của những người thuộc tứ phủ (bà đồng và thầy cúng) là thông tin cần thiết để so sánh, đối chiếu khi tương tác giữa người hầu thiêng với những người thực hành khác Còn lại là người thờ cúng ở cộng đồng trong mối quan hệ với các thầy đồng hầu thiêng
và tứ phủ
Thời gian nghiên cứu thực địa gồm ba giai đoạn diễn ra vào các năm 2015,
2016 và 2017; trong khoảng 2 tháng (từ tháng 3 đến tháng 5 mỗi năm nhưng không liên tục) Trong đó, hai năm 2015 và 2016 là những đợt điền dã chính thức Năm
2017, quay lại địa bàn nghiên cứu để bổ sung và kiểm tra thông tin
Trang 14Thông tin thu thập được phân loại thành hai hình thức: 1) mô tả dân tộc học
về thực hành nghi lễ, cơ cấu điện thần và một số hoạt động thường ngày của người cung cấp thông tin thông qua quan sát tham gia; 2) câu chuyện, quan điểm, nhận định của các đối tượng cung cấp thông tin về bối cảnh văn hóa, lịch sử, thờ cúng thần linh, nữ thần, thờ cúng nữ thần, thực hành và chuyển đổi thực hành nghi lễ Thông tin dưới dạng mô tả dân tộc học về thực hành nghi lễ được sử dụng để phân tích tiến trình nghi lễ, hiệu ứng nghi lễ và chuyển đổi thực hành Các câu chuyện và nhận định của người cung cấp thông tin được sử dụng để phân tích chiến lược thực hành, động cơ thực hành, ý nghĩa và chức năng của nghi lễ nhằm củng cố các lập luận khi phân tích trình diễn nghi lễ, đồng thời giúp hiểu rõ hậu cảnh văn hóa và xã hội của việc thờ cúng nữ thần Các dữ liệu thu thập từ quá trình quan sát tham gia
và phỏng vấn sâu được xử lý, phân tích và trình bày trong luận án theo từng nội dung và chủ đề của luận án, từ đó so sánh đối chiếu và rút ra một số quan điểm có tính quy nạp và khái quát Các luận điểm và phát hiện của luận án được đúc kết từ các trường hợp nghiên cứu cụ thể và phản ánh tính khái quát từ các trường hợp đó
5 Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần cung cấp những nhận thức mới về thực hành thờ cúng nữ thần và hiện tượng chuyển đổi thực hành tại đô thị, thể hiện qua chiến lược sáng tạo hiệu ứng trong trình diễn và trong đời sống hằng ngày Ngoài ra còn đóng góp khung phân tích mới về chuyển đổi thực hành nhìn từ quan điểm tính hiệu nghiệm của nghi lễ Đồng thời, luận án cũng đề xuất một số hàm ý xã hội về nghiên cứu góc
độ vi mô/cá nhân thể hiện qua các chiến lược thực hành và hàm ý về sự phát triển
và phân hóa của các nhóm xã hội trong thờ cúng nữ thần ở đô thị Nha Trang
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm năm chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Nội dung của chương bao gồm các điểm luận về nữ thần, thực hành nghi lễ, các quan điểm hiện đại trong nghiên cứu người thực hành nghi lễ; các phát hiện mới
về lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và xây dựng khung phân tích của luận án
Trang 15Chương 2 Bối cảnh lịch sử, văn hóa và thờ cúng nữ thần ở Nha Trang
Nội dung của chương nêu lên một số nét khái quát về bối cảnh lịch sử, văn hóa của Nha Trang, quá trình di dân hình thành nên các thiết chế thờ cúng tại cộng đồng làng và tứ phủ, sự phát triển kinh tế thương mại và đô thị hóa, từ đó hình thành nên tầng lớp thị dân với những ngành nghề phổ biến như thương mại, dịch vụ, buôn bán Từ bối cảnh cộng đồng, chương này xem xét các yếu tố thờ thần linh trong cộng đồng như cơ cấu điện thần, mô hình thờ cúng, nguồn gốc, đặc điểm và
xu hướng thờ thần linh; quan niệm thờ cúng nữ thần, tương quan giữa nam thần và
nữ thần; sự nổi trội của nữ thần Thiên Y A Na trong cấu trúc đình làng và mối tương quan với các nam thần Thờ cúng thần linh của cộng đồng làng là nền tảng quan trọng cho sự hình thành và phát triển các quan niệm thờ cúng và thực hành nghi lễ của người hầu thiêng Từ đây, bước đầu khái quát về thờ cúng thần linh của cộng đồng để sáng tỏ việc ứng dụng quan niệm thờ cúng của người hầu thiêng
Chương 3 Hình thức thờ cúng tứ phủ và hầu thiêng tại Nha Trang Nội dung của chương cung cấp một cái nhìn khái quát về hình thức thờ cúng
tứ phủ và hầu thiêng, quá trình hình thành nhóm tứ phủ, hầu thiêng cho đến quan niệm về thần linh và thực hành nghi lễ Đây là những tiền đề quan trọng để hiểu và đánh giá vị trí của nhóm tứ phủ và hầu thiêng trong bức tranh chung về thờ cúng nữ thần ở Nha Trang Hầu thiêng là nhóm thờ cúng phát triển song song với cộng đồng làng, dung hợp với một số quan niệm và cách thức thờ cúng của cộng đồng làng Tứ phủ xuất hiện muộn hơn nhưng đã có những ảnh hưởng và đóng góp nhất định đối với việc kiến tạo quan niệm thờ cúng và thực hành nghi lễ Bên cạnh nền tảng cộng đồng làng, người hầu thiêng còn kế thừa và tiếp nhận các quan niệm và thực hành thờ cúng của tứ phủ, từ đó hình thành nên phong cách thực hành mới
Chương 4 Trình diễn nghi lễ và chiến lược thực hành trong đời sống
hằng ngày
Từ quá trình mô tả thực hành thờ cúng nữ thần tại ba địa điểm là tháp Po Ina Nagar, điện Định Phước, đền Sòng Sơn trong chương 3, cho phép khám phá đặc điểm thực hành nghi lễ, nhằm phát hiện các nghi lễ có tính ưu thế và nổi trội, nhận biết các xu hướng biến đổi thực hành nghi lễ, đóng góp của người hầu thiêng vào
Trang 16thực hành nghi lễ tại các địa điểm này Đây là cơ sở để tìm hiểu thực hành nghi lễ của người hầu thiêng trước và sau khi gia nhập vào tứ phủ Chương này cũng trình bày quá trình vận dụng nghi lễ của tứ phủ và chiến lược sáng tạo tính hiệu nghiệm trong trình diễn của người hầu thiêng Thông qua việc phân tích chiến lược trình diễn, có thể xác định lý do, mục đích và động lực chuyển đổi sang tứ phủ của người hầu thiêng Nội dung của chương tiếp tục khám phá mục đích, lý do của quá trình chuyển đổi thực hành của người hầu thiêng nhìn từ chiến lược thực hành hằng ngày,
cụ thể là những vấn đề như sau: Quá trình lan tỏa và mở rộng của tứ phủ tác động đến tính dung hợp trong thực hành và chọn lựa thực hành của người hầu thiêng; Quá trình chấp nhận thực hành nghi lễ tứ phủ của người hầu thiêng và lý do chuyển đổi sang tứ phủ; Các chiến lược thực hành của người hầu thiêng trong phát triển bản thân và hội nhập với tứ phủ Chương này cũng so sánh chiến lược thực hành giữa người hầu thiêng đang chuyển đổi và chưa chuyển đổi sang tứ phủ nhằm bổ sung, đối chứng và phát hiện các luận điểm mới về vai trò của thực hành nghi lễ trong chuyển đổi Chiến lược thực hành cũng giúp giải thích quá trình biến đổi và chuyển đổi thực người hầu thiêng, mối quan hệ giữa chuyển đổi thực hành và quá trình sáng tạo các hiệu ứng của nghi lễ
Chương 5 Bàn luận về tính hiệu nghiệm của nghi lễ trong tương quan với chuyển đổi thực hành
Chương 5 tổng kết, đánh giá về đóng góp của khung phân tích tính hiệu nghiệm trong chuyển đổi thực hành Qua đó, chương này bàn luận về mối quan hệ giữa tính hiệu nghiệm của nghi lễ và chuyển đổi thực hành thông qua động lực, xu hướng thực hành, tính kịch của trình diễn và kiểm soát rủi ro Cuối cùng, chương 5 gợi mở một số hàm ý xã hội như tính chiến lược và chủ động của cá nhân, sự hình thành và phát triển của các nhóm xã hội mang dấu ấn tôn giáo tín ngưỡng
Trang 17là cách tiếp cận về nữ thần thông qua thần tích để xác định căn tính tộc người của
nữ thần Tạ Chí Đại Trường (2006) trong “Thần người đất Việt” đã có những lý giải
hệ thống về nguồn gốc Chăm của một số nữ thần Việt Nguồn dữ liệu dùng cho những kiến giải này lấy từ các câu chuyện thần thoại, từ đó tác giả khái quát thành các motif truyền thuyết Nguồn gốc Chăm của thần linh Việt là nguyên cớ sâu xa cho những khám phá về căn tính tộc người và những diễn ngôn về giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các tộc người Chăm, Hoa, Khmer với người Việt Khi di cư vào các đồng bằng miền Trung và miền Nam, người Việt không ngần ngại tiếp nhận các hình thức văn hóa của cư dân tại chỗ, nhất là thần linh và tập tục thờ cúng của cư dân tiền trú để tìm kiếm sự an toàn cho bản thân và đời sống tâm linh (Nguyễn Hữu Hiếu, 2004; Nguyễn Đăng Duy, 1997; Nguyễn Hữu Thông, 2001) Từ đó hình thành nên diễn ngôn về ba biểu tượng nữ thần đại diện cho ba vùng miền như Liễu Hạnh (miền Bắc), Thiên Y A Na (miền Trung) và Bà Chúa Xứ (miền Nam) Nữ thần quan trọng của cư dân miền Trung là Thiên Y A Na như một biểu tượng đáp ứng nhu cầu tâm thức và hiện sinh
Liên quan đến căn tính tộc người của nữ thần, dưới góc nhìn về tính nội tại, gồm có xu hướng đề cao tính “thuần Việt” của đạo mẫu và xu hướng gắn kết các giải thích về nguồn gốc ngoại lai của nữ thần Về vấn đề thờ nữ thần tại miền
Trang 18Trung, Nguyễn Hữu Thông (2001) với nghiên cứu “Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam” đã giải thích về hệ thống thần linh, cơ sở thờ tự và văn chầu tại Huế Ngoài những vấn đề trên, đóng góp quan trọng của Nguyễn Hữu Thông là tập hợp, hệ thống hóa và phân tích huyền thoại Thiên Y A Na và mối quan hệ với các
nữ thần của tộc người khác, nhất là làm rõ tính địa phương trong thờ cúng thần linh của cộng đồng cư dân tại miền Trung Xu hướng thứ hai đề cao tính “địa phương” của nữ thần trong các hóa thân của Thiên Y A Na Chẳng hạn, những nữ thần có gốc Chăm như bà Bô Bô, bà Thu Bồn ở xứ Quảng (Nguyễn Xuân Hương, 2009) Các nghiên cứu về nữ thần với mức độ đa dạng phong phú như hiện nay đã giúp ích rất lớn cho việc nhận diện nữ thần trên các phương diện thần tích, tính thống nhất và tính địa phương
Liên quan trực tiếp đến thờ mẫu tại Khánh Hòa, Nguyễn Văn Bốn (2010) đã công bố sách “Văn hóa tín ngưỡng thờ mẫu ở Khánh Hòa” cùng một số bài viết khác về chủ đề này và bổ sung thêm nhận thức mới trong các năm 2015 và 2016 Công trình về văn hóa tín ngưỡng thờ mẫu trên trình bày một cách tổng hợp các phát hiện về con người, vùng đất, lịch sử; di tích thờ mẫu; nghi lễ thờ mẫu; ý nghĩa
và bảo tồn thờ mẫu ở Khánh Hòa Tác giả tiếp cận chủ thể văn hóa, thời gian và không gian văn hóa để phân tích các phát hiện về mẫu thần, di tích và lễ hội thờ cúng Công trình này gợi mở một số quan điểm bình luận về giao lưu văn hóa, sự gắn kết cộng đồng, trao truyền văn hóa, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn, từ đó đề xuất bảo tồn các giá trị văn hóa trong thờ mẫu và phát triển du lịch liên quan tới thờ mẫu Tác giả cũng trình bày khái quát về lễ hội tại tháp Po Ina Nagar, Am Chúa và đền Thánh Mẫu đệ nhất tiên thiên Trong các công bố vào năm 2015 và 2016 là
“Tín ngưỡng thờ mẫu tứ phủ của người Việt ở Khánh Hòa” và “Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Khánh Hòa”, Nguyễn Văn Bốn đã bổ sung thêm nhận thức mới vào bức tranh thờ mẫu trước đó Tác giả đã có thêm thông tin về các đền phủ tư nhân, nghi lễ hầu đồng và hát văn kèm theo, đồng thời cũng có một vài phác họa về tín đồ đạo mẫu với hoạt động thờ cúng bổn mạng Đóng góp quan trọng của Nguyễn Văn Bốn là đã chỉ ra các địa điểm thờ mẫu tư nhân Tác giả cũng chưa
lý giải sự xuất hiện của Mẫu Thượng Thiên tại Khánh Hòa và mối quan hệ của mẫu
Trang 19thần này với các nữ thần của cư dân bản xứ mà chỉ khẳng định mẫu thần của người Việt ở Khánh Hòa bao gồm Mẫu thần Thiên Y A Na, Ngũ hành thần nữ và Mẫu Tứ phủ Trong công bố tiếp theo, tác giả đã sử dụng tư liệu thực địa để minh họa cho các hình thức thờ cúng Thiên Y A Na tại Khánh Hòa Dù nói đến mẫu tứ phủ hay Thiên Y A Na, Nguyễn Văn Bốn đều khẳng định vai trò và tầm quan trọng của cộng đồng di dân miền Bắc đã phát triển tục thờ mẫu ở Khánh Hòa So với công trình đầu tiên, tác giả đã bổ sung thêm nghi lễ hầu đồng, hát văn trong sinh hoạt tín ngưỡng Thiên Y A Na với sự pha trộn giữa truyền thống Bắc Bộ và phong cách Huế Luận
án “Văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Khánh Hòa” của Nguyễn Văn Bốn (2017) là sự phát triển tiếp theo của những nghiên cứu trên Luận án gồm bốn chương: chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận; chương 2: Vùng đất, con người, lịch sử và văn hóa Khánh Hòa; chương 3: Thực hành tín ngưỡng thờ mẫu; chương 4: Tiếp biến văn hóa và giá trị tín ngưỡng thờ mẫu Với cách tiếp cận lý thuyết tiếp biến văn hóa và vùng văn hóa, trọng tâm của luận án này bàn đến sự hỗn dung và giá trị văn hóa trong tín ngưỡng thờ mẫu Từ quá trình khảo sát các điện thờ tư gia, cộng đồng, tham dự các nghi lễ và phỏng vấn sâu cùng với quá trình kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, tác giả cho rằng văn hóa tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt ở Khánh Hòa là sự hỗn dung của thờ mẫu của người Việt ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam với tín ngưỡng của người Hoa, người Chăm Sự hỗn dung này thể hiện qua truyền thuyết, thực hành nghi thức, từ
đó thể hiện giá trị tâm linh, bảo tồn và sáng tạo văn hóa nghệ thuật, gắn kết cộng đồng và phát triển du lịch văn hóa Luận án này đã có những miêu tả sinh động về thực hành thờ cúng, gồm hai phần: nghi lễ hầu bóng và lễ hội Tác giả cho rằng nghi
lễ hầu bóng và lễ hội thờ Thiên Y Thánh Mẫu là tiêu biểu nhất ở Khánh Hòa, mô tả nghi lễ hầu theo cá nhân và tập thể, mô tả các nghi lễ ở Am Chúa và tháp Po Ina Nagar Tất cả những mô tả này nhằm phục vụ cho quan điểm hỗn dung văn hóa, như hỗn dung giữa nghi thức đình làng và Phật giáo, sự tổng hợp của diễn xướng dân gian Việt - Chăm Luận án trên là sự tiếp nối và bổ sung của tác giả vào bức tranh đạo mẫu nhằm làm rõ đặc điểm của thờ mẫu và sáng tỏ các đặc điểm này qua giao lưu tiếp biến để tìm kiếm các giá trị văn hóa trong thờ cúng
Trang 20Một nghiên cứu khác cũng đề cập đến thờ nữ thần Thiên Y A Na tại Khánh Hòa là luận án của Nguyễn Thị Thanh Vân: “Tín ngưỡng thờ nữ thần Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ Việt Nam” Luận án bàn đến một vấn đề rất rộng là vị trí và vai trò của tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh của người Việt ở Trung Bộ và trong các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể Tác giả luận án đã
sử dụng hai lý thuyết giống Nguyễn Văn Bốn là tiếp biến văn hóa và vùng văn hóa - lịch sử kết hợp thêm chức năng luận để có cái nhìn toàn diện về hiện tượng tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na Từ cái nhìn tổng thể, Nguyễn Thị Thanh Vân đã mô tả
và lý giải thần tích Thiên Y A Na trong giao lưu văn hóa, di tích, lễ hội dọc miền Trung; vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tinh thần của cư dân nông nghiệp, làm biển, khai thác lâm sản, các ngành nghề khác và mối quan hệ với nhà Nguyễn; Thiên Y A Na cũng xuất hiện trong văn học dân gian, nghệ thuật dân gian; từ đó, tác giả luận án kết luận về sắc thái địa phương của Thiên Y A Na với các hóa thân
và cho rằng, Thiên Y A Na lan tỏa từ nam ra bắc miền Trung theo từng mức độ đậm nhạt khác nhau; cuối cùng là một số bàn luận về điểm tựa tinh thần của Thiên Y A
Na đối với người Việt, đạo lý uống nước nhớ nguồn, môi trường bảo tồn sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian Tác giả không đặt ra mục tiêu so sánh thờ cúng theo vùng miền và cũng không thể hiện điều này trong luận án mà chỉ nêu ra các đặc điểm thờ cúng chung nhất ở từng địa phương khác nhau Tác giả cũng bàn đến nghi thức trong lễ hội nhưng không đặt trọng tâm vào các thực hành nghi lễ mà chỉ khái quát về các lễ hội Thiên Y A Na diễn ra tại các địa phương của miền Trung Đóng góp quan trọng của luận án là thông qua Thiên Y A Na để nhìn thấy tính chất giao lưu văn hóa và cố gắng tìm kiếm sắc thái địa phương Tóm lại, Nguyễn Văn Bốn và Nguyễn Thị Thanh Vân đều tiếp cận từ góc nhìn giao lưu tiếp biến văn hóa và văn hóa vùng để giải thích hiện tượng tín ngưỡng
Cùng với vấn đề thờ mẫu ở Khánh Hòa, Lê Đình Chi (2005) đã bàn luận trực tiếp về nghi lễ thờ cúng tại tháp Po Ina Nagar, trong đó tác giả đã mô tả về các thực hành của ban nghi lễ trong lễ hội Thiên Y A Na như lễ tắm tượng, tế chính thức, khai diên, hát thứ lễ và lễ tôn vương Tác giả cho rằng lễ hội Thiên Y A Na là lễ hội mang tính vùng thuộc loại hình tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt; người Việt kế
Trang 21thừa nghi lễ của người Chăm và bổ sung thêm các nghi lễ của mình như múa lên đồng của tín đồ thờ mẫu, tế thần, múa lục cúng của tín đồ Phật giáo, múa lân và hát bội Mặc dù có nhiều mô tả kĩ lưỡng về các hình thức nghi lễ, tuy nhiên tác giả vẫn chưa có các thông tin và mô tả về nghi lễ hầu bóng và múa bóng Với một số nghiên cứu và bài công bố về tín ngưỡng thờ nữ thần hay thờ mẫu tứ phủ tại Khánh Hòa của các tác giả trên là bước đầu khám phá và xây dựng nền tảng học thuật về văn hóa thờ cúng tại miền Trung Nhiều cách tiếp cận khác nhau đặt trong những vấn đề của chủ đề rộng lớn về thờ nữ thần tại các địa phương của miền Trung như Khánh Hòa có giá trị so sánh đối chiếu và thúc đẩy tranh luận học thuật Những nghiên cứu trên dưới nhiều góc độ như nhân học, văn hóa, lịch sử tiếp tục cung cấp những nhận thức mới về hiện trạng, thay đổi và tính thích ứng của hành vi tín ngưỡng - văn hóa
1.1.2 Nghiên cứu về người thực hành nghi lễ thờ cúng nữ thần
Những nghiên cứu và phát hiện về người thực hành nghi lễ thờ cúng nữ thần, thánh mẫu thường tập trung vào đối tượng là các ông/bà đồng thờ mẫu tam - tứ phủ
Họ được mô tả kĩ lưỡng trong các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền (2004; 2016), Nguyễn Thị Hiền và Karen Fjelstad (2008), Trần Ngọc Mai (2010; 2016) Trong quá trình khám phá động cơ mở phủ của các ông/bà đồng, Nguyễn Thị Hiền (2004) cho rằng có thể phân loại các ông/bà đồng theo năm tiêu chí về bệnh tật và nguyện vọng Bốn tiêu chí đầu tiên liên quan đến các loại bệnh tâm sinh lý của các ông/bà đồng do yếu tố thể chất hoặc chịu tác động từ các kích thích về tâm lý (quá nhạy cảm hoặc bị sang chấn), với tiêu chí cuối cùng, Nguyễn Thị Hiền liên hệ nó với phát triển của kinh tế thị trường đã tác động đến một số người làm nghề buôn bán không
có căn nặng nhưng cũng muốn ra mở phủ hầu đồng vì mong muốn tìm kiếm “lộc rơi lộc vãi” Như vậy, cơ chế niềm tin và việc trông chờ lợi ích tinh thần và trần thế từ hầu đồng là động cơ mở phủ và trở thành các ông/bà đồng Những công bố gần đây của Nguyễn Thị Hiền (2008; 2016) cung cấp các chiều kích mới và đa chiều hơn về động cơ của những người thực hành nghi lễ lên đồng khi tác giả đặt nghiên cứu của mình trên quan điểm xuyên quốc gia Thông qua nghiên cứu nhóm ông/bà đồng Việt Kiều tại thành phố San Jose (Hoa Kỳ) và liên hệ với hành trình quay trở lại quê hương Kinh Bắc, Nguyễn Thị Hiền đã phát triển nghiên cứu đa điểm nhằm phát
Trang 22hiện những tương quan về thực hành thờ mẫu trong dòng chảy xuyên quốc gia Trong bối cảnh hồi sinh của đạo mẫu, các bà đồng đi về giữa hai quốc gia tạo nên tiếp xúc đa văn hóa, đa thế hệ Những tương tác mới mẻ này mang đến các động năng mới trong thực hành như tìm kiếm niềm vui, trị liệu tâm lý và tạo dựng bản sắc văn hóa truyền thống (Nguyễn Thị Hiền, 2016) Bên cạnh đó, thực hành lên đồng đã giúp cho những người hành nghề tôn giáo vượt qua khác biệt về chính trị, lối sống và thực hành nghi lễ, đặc biệt là giữa nhóm người miền Bắc và miền Nam
di cư sang Hoa Kỳ sau biến động chính trị Trong một bối cảnh rộng lớn hơn, các ông bà đồng không chỉ là người hầu thánh mà còn tái tạo những không gian văn hóa
và tác động trở lại không gian đó để giảm khác biệt trong bối cảnh đa văn hóa
Để khám phá tính toàn diện của thực hành văn hóa lên đồng xưa và nay tại đồng bằng Bắc Bộ và xem xét các ông/bà đồng như một thực thể tự nhiên - tâm lý -
xã hội, Trần Ngọc Mai (2016), đã sử dụng cách tiếp cận liên ngành tôn giáo học, văn hóa dân gian, lịch sử tôn giáo, nhân học và vận dụng các lý thuyết như chủ thể văn hóa, tâm lý học tôn giáo, tâm lý bệnh học và vốn xã hội Từ các góc nhìn này, Trần Ngọc Mai cho rằng hành vi thực hành nghi lễ của các nhóm thực hành văn hóa lên đồng phản ánh sự thay đổi về bản chất, đối tượng thờ cúng, và nghi lễ có ý nghĩa như phao cứu sinh về phương diện tâm lý, vị thế xã hội, sinh kế, đặc biệt là
họ kết hợp lại với nhau để hình thành bản hội thông qua liên kết mạng lưới xã hội Trước đó, Trần Ngọc Mai (2010) đặt nghiên cứu của mình vào tranh luận về tính tích cực và tiêu cực của thực hành nghi lễ lên đồng, từ đó nổi lên hai vấn đề quan trọng là vị thế của chủ thể thực hành trong bối cảnh kinh tế thị trường, đời sống tâm sinh lý và kinh tế - xã hội của chủ thể này Qua đó, cho thấy đời sống tâm sinh lý của các ông bà đồng vừa có tính chất tích cực và tiêu cực, một mặt thay đổi tích cực nhờ thực hành lên đồng để tìm kiếm vận may, hóa giải vị thế xã hội, điều chỉnh tâm
lý, tìm kiếm sự bảo đảm của cộng đồng bản hội; mặt tiêu cực là gia tăng cảm xúc lệch chuẩn trong mối liên hệ với thần thánh Như vậy, các chủ thể thực hành văn hóa lên đồng bộc lộ những trạng thái đa dạng phức tạp về hành vi và tâm lý Thông qua các nghiên cứu trên, Trần Ngọc Mai muốn tìm lại những giá trị đích thực và tôn vinh đích thực cho văn hóa lên đồng
Trang 23Một số tác giả khác quan tâm đến chủ thể thực hành lên đồng dưới góc độ trị liệu như chức năng trị liệu tổng hợp (tâm thể và tâm lý xã hội) của Nguyễn Kim Hiền (2004) và chữa trị tâm lý từ khía cạnh y thuật tâm linh của Phạm Minh Diệu (2016) Các tác giả này đứng trên góc độ trị liệu tâm linh - tôn giáo và cho rằng trị liệu của thực hành lên đồng không thuần túy khía cạnh y học mặc dù nó tồn tại một
hệ thống giải thích bệnh tật Từ kết quả của các cuộc điều tra về hành vi tâm linh - tôn giáo và phương thức trị liệu ở một số thành phố, Nguyễn Kim Hiền (2004) phát triển phân tích tính hiệu quả của nghi lễ tác động lên người tham gia hay nói cách khác trị liệu là một khía cạnh quan trọng của tính hiệu quả Tác giả sử dụng cách tiếp cận tổng hợp về vấn đề trị liệu tâm lý của hệ thống biểu tượng tôn giáo thông qua chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội; chức năng hợp thức hóa hành vi lệch chuẩn, đồng thời kết hợp với quan điểm giải thích, phân loại sức khỏe và bệnh tật của nhân học bên ngoài hệ thống y học thông thường Tác giả khẳng định lên đồng
có tác dụng điều chỉnh lệch lạc tinh thần nhờ tác dụng của âm nhạc trong cơ cấu nghi lễ (tác dụng trị liệu tâm thể) và chủ thể văn hóa trở thành phương tiện chuyên chở các giá trị truyền thống tâm linh tôn giáo thông qua đức tin (trị liệu tâm lý - xã hội) Dưới góc độ nhân học, tác giả khai thác cơ chế trị liệu lên đồng từ quan niệm
về bệnh tật của chủ thể tồn tại trong một hệ thống phi chính thức, từ đó vấn đề bệnh tật phi chính thức này đã tạo nên sự lệch chuẩn và đẩy những người bệnh tâm linh vào vị trí bị loại trừ, do vậy, thực hành lên đồng giống như một cơ chế chuyển đổi giữa hai hệ thống phi chính thức và chính thức
Bên cạnh tính hiệu quả thông qua trị liệu, khả năng tạo lập quyền lực của các tín đồ đạo mẫu cũng được nhiều nghiên cứu quan tâm Hai loại quyền lực được đề cập phổ biến là quyền lực mềm của phụ nữ và quyền lực phép thuật Trong một nghiên cứu phụ nữ đạo mẫu do Vũ Thị Tú Anh (2016) thực hiện tại một ngôi đền ở
Hà Nội và một ngôi đền khác ở Thái Nguyên, tác giả đã phát hiện sự vận hành quyền lực mềm của phụ nữ đạo mẫu thông qua cách thức trao quyền và phát triển cá nhân như hoàn thiện kĩ năng tổ chức, lãnh đạo trong bản hội, kĩ năng xã hội, tự lo liệu cho bản thân, sống độc lập, đảm bảo tài chính và lựa chọn nghề nghiệp Vũ Thị
Tú Anh khẳng định phụ nữ tham gia vào đạo mẫu không phải để tìm kiếm sự bình
Trang 24đẳng về mặt chính trị - xã hội, lao động và kinh tế mà họ quan tâm đến sức mạnh nội tại nhằm đối phó hiệu quả các nhu cầu của đời sống Trong quá trình đánh giá việc sử dụng quyền lực và phép thuật của một số đồng thầy tại các tỉnh miền Bắc, theo Vũ Hồng Thuật (2016), những người làm đồng thầy, pháp sư có các điều kiện nhất định để tạo lập nên quyền lực phép thuật Trên thực tế, Vũ Hồng Thuật cho rằng không có nhiều đồng thầy hội đủ các tiêu chí trên, nhất là các bà đồng, dù vậy, các đồng thầy tạo lập quyền lực không chỉ nhờ đến khả năng thực hành tôn giáo mà còn là ứng xử, ngoại giao tốt, quảng bá hình ảnh cá nhân để nâng cao vị thế
Như vậy, các tiếp cận chủ thể thực hành lên đồng đã làm rõ đặc điểm và phân loại các chủ thể, hành vi của họ trong thực hành nghi lễ và đời sống với các mối quan hệ đa chiều phức tạp, chẳng hạn như hành vi mang tính trị liệu, biểu hiện quyền lực mềm, hòa giải sự khác biệt Trong đó, một số luận điểm đã bắt đầu đề cập đến sự trị liệu trong không gian diễn xướng mang lại hiệu quả tâm lý cho người thực hành nhưng vẫn chưa làm rõ các phương tiện và cách thức tạo nên tính hiệu quả Qua các nghiên cứu về trị liệu tâm lý, một vấn đề được đặt ra là nhà nghiên cứu hay người thực hành, ai là người đưa ra nhận định về chức năng trị liệu của nghi lễ và liệu rằng các hiệu ứng của trị liệu tâm lý này có thực sự mang lại tính hiệu nghiệm hay không?
1.1.3 Nghiên cứu về các chiều kích của tính hiện đại trong thực hành thờ cúng
Mối quan hệ giữa tính hiện đại và đời sống tôn giáo thể hiện sự thích ứng của yếu tố văn hóa truyền thống trong quá trình chuyển đổi Các nghiên cứu về nghi lễ lên đồng hiện nay đều chú trọng nhiều hơn đến hậu cảnh xã hội thông qua trải nghiệm tôn giáo của người thực hành nghi lễ như chiều kích hiện đại về giới, tộc người, liệu pháp, kinh tế, an ninh tinh thần
Nhiều nhà nghiên cứu chọn thời điểm “đổi mới” năm 1986 như một khung thời gian quy chiếu để giải thích tác động của quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội lên thực hành nghi lễ và sự mở rộng của thể chế thị trường mang lại sức sống mới cho nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thờ cúng Đây là bối cảnh
xã hội có ý nghĩa quan trọng cho hàng loạt các lý giải về động lực của xã hội và đặc
Trang 25biệt là sự hồi sinh, bùng nổ của hiện tượng tôn giáo tín ngưỡng dân gian Phải chăng quá trình thế tục hóa là chìa khóa vạn năng để thấu hiểu bản chất nghi lễ trong chuyển đổi của đời sống xã hội? Trong xã hội đương đại, con người “lôi kéo” thần thánh xuống gần với cuộc sống của mình hơn, hay nói cách khác các thần linh đại diện cho quá trình thực thi các nhu cầu khác nhau trong đời sống hằng ngày Tính hiện đại của tín ngưỡng tôn giáo thể hiện rõ rệt trong quan niệm, câu chuyện cuộc đời và trình diễn nghi lễ
Với bối cảnh chuyển đổi xã hội đầy biến động, niềm tin và thực hành nghi lễ sau thời gian dài yên ắng nay lại được trình diễn công khai như một liệu pháp đảm bảo an toàn về mặt tinh thần và an toàn hiện sinh của mỗi cá nhân (Salemink, 2010; 2014) Trong bài viết “Ritual efficacy, spiritual security and human security: Spirit mediumship in contemporary VietNam” (Tính hiệu nghiệm của nghi lễ, an ninh tinh thần và an ninh con người: nghi lễ lên đồng trong xã hội Việt Nam đương đại), Salemink (2014) thông qua mô tả trình diễn nghi lễ của một số bà đồng cùng những trải nghiệm của họ, đã cho rằng nghi lễ lên đồng tạo nên tính hiệu nghiệm đặc biệt, một cảm giác tự do và một niềm tin vào thần linh để xoa dịu nỗi lo của con người
về sinh kế, bệnh tật Tính hiệu nghiệm của nghi lễ được tác giả khai thác dưới góc
độ chức năng, chẳng hạn như ông/bà đồng xây dựng mạng lưới xã hội để tìm kiếm
và duy trì nguồn lực sinh kế, trao đổi quà tặng với thần linh Oscar Salemink (2015) tiếp tục khẳng định vai trò của hoạt động lên đồng, hầu bóng đối với xã hội đương đại Vấn đề tranh luận trong suốt thời gian qua là tính chất không đồng nhất giữa cái nhìn của nhà quản lý và những người trực tiếp tham gia hầu đồng
Liên quan đến tính hiệu nghiệm của nghi lễ, Endres (2010) có lẽ đã thành công khi tiếp cận qua lực ngôn hành trong nghiên cứu về gọi hồn của một bà đồng
Từ quan điểm trình diễn, Endres giải thích cách thức tiến hành nghi lễ gọi hồn theo một kịch bản có sẵn với một khung cơ sở của logic hành động Với những mô tả về nghi lễ gọi hồn của một bà đồng, Endres cho rằng tính hiệu nghiệm của nghi lễ được tạo nên từ hành động chủ tâm và sắp xếp để đạt hiệu quả cao nhất, tránh những yếu tố bất ngờ luôn xảy ra trong trình diễn Tác giả khẳng định hành động có chủ tâm là yếu tố cốt lõi của sự kiện nghi lễ và quá trình hoạt động của ngôn hành
Trang 26trong buổi lễ gọi hồn của bà đồng mang lại hiệu quả cho nghi lễ Endres cũng chỉ ra điểm khuyết thiếu trong lý thuyết của Humphrey và Laidlaw về hành động có chủ tâm là chỉ chú trọng đến các nghi thức có tính khuôn mẫu và bỏ qua các nghi thức
có tính diễn xướng Tiếp theo, luận bàn về tính mỹ học của sự hiệu quả và động lực trình diễn đã giúp Endres (2011; 2012) sáng tỏ tính phức tạp của cơ cấu thích nghi trong hành vi nghi lễ của con người trước biến động của đời sống kinh tế và xã hội Tuy nhiên, theo tác giả, khi tính hoành tráng và thẩm mĩ càng tăng cường thì tính giả tạo phô trương càng thể hiện rõ rệt hơn qua hành vi vay mượn và du nhập các
yếu tố ngoại lai có sức ảnh hưởng lớn đến văn hóa đại chúng
Tính hiện đại của thờ cúng nữ thần còn liên quan đến quan điểm về giới trong các diễn ngôn về vị thế của người thờ cúng Chẳng hạn, Philip Taylor (2004b) cho rằng, Bà Chúa Xứ là biểu tượng của những người phụ nữ, thông qua việc hành hương những người phụ nữ này có thể đạt được ước muốn tâm linh và xóa tan mặc cảm xã hội về thân phận nội trợ đứng sau đàn ông Do đó, tác dụng tích cực của thờ cúng nữ thần tạo nên một hiệu ứng xã hội đặc biệt là nâng cao vị thế của phụ nữ buôn bán và nội trợ Mặc dù không mô tả cụ thể nghi lễ của người hành hương nhưng với các câu chuyện của những đối tượng cung cấp thông tin, Philip Taylor đã chuyển tải một cách sống động trải nghiệm của nhiều tầng lớp xã hội về hoạt động thờ cúng nữ thần ở vùng biên giới, nhất là trong bối cảnh giao lưu văn hóa giữa các tộc người Chăm, Hoa và Việt; đồng thời cũng chỉ ra bối cảnh chuyển đổi và tác động của kinh tế thị trường đến tôn giáo tín ngưỡng
Các học giả trong và ngoài nước đã khai thác nhiều vấn đề về nữ thần và nghi lễ thờ cúng với kết quả đa dạng khác nhau tạo nên nhiều diễn ngôn mới về tính hiện đại, liệu pháp, tính hiệu nghiệm, vốn xã hội và quyền lực giới Luận án này có thể kế thừa các luận điểm nghiên cứu, phương pháp và ứng dụng lý thuyết trong các nghiên cứu trên Cụ thể là các quan điểm về tính hiện đại trong trình diễn; tổ chức mạng lưới xã hội, trao đổi quà tặng; tính hiệu quả và liệu pháp của nghi lễ Mặc dù các chủ đề nghiên cứu rất đa dạng và có tính bao quát, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều vấn đề tiếp tục nghiên cứu thêm Chẳng hạn như vấn đề chiến lược thực hành nghi
lễ tạo nên tính hiệu nghiệm của nghi lễ, sự chuyển đổi của nghi lễ, các chiến lược
Trang 27vi nhƣ sau: hành vi kĩ thuật duy lý, hành vi giao tiếp và hành vi ma thuật; trong đó, hành vi nghi lễ thuộc về hành vi ma thuật, hành vi nghi thức thuộc hành vi giao tiếp
Trang 28Những nhà nghiên cứu thuộc trường phái chức năng luận và cấu trúc - chức năng đề cao vai trò quan trọng của thực hành nghi lễ trong đời sống cộng đồng Quan điểm chức năng nghi lễ của trường phái này đã kế thừa và phát triển luận điểm chức năng
xã hội của tôn giáo của Emilé Durkheim Cho đến cuối thập niên 1950, chức năng luận ảnh hưởng rất mạnh đến nghiên cứu về nghi lễ, do vậy giải thích hành vi nghi
lễ cũng phản ánh tính chất cơ học, từ đó hướng nghiên cứu nghi lễ đến khoa học giải thích về cơ cấu hệ thống có hàm ý của môn khoa học tự nhiên hơn là khoa học nhân văn Vào thập niên 1960, tiến hóa luận đã hồi sinh trong khoa học nghiên cứu hành vi, cụ thể là nhân học sinh lý giải thích hành vi nghi lễ là một loại hành vi phổ quát, xuất hiện trên tổng thể các loài được quy định bởi yếu tố sinh học di truyền và được điều khiển từ hệ thống não bộ Trường phái tân chức năng với đại diện là Roy A.Rappaport có tham vọng khẳng định hành vi nghi lễ là một loại hành vi cơ bản, nền tảng trong hoạt động của con người Trong bối cảnh này, cách hiểu về nghi lễ trở nên phong phú hơn, song các trường phái lý thuyết hạn chế đưa ra một khái niệm phổ quát cho nghi lễ
Sự tham gia của các nhà lý thuyết trình diễn và thực hành cũng góp phần khiến cho nội hàm của khái niệm nghi lễ mở rộng bao quát, vượt qua khỏi ranh giới phân biệt giữa nghi lễ và nghi thức như một định đề giữa thiêng liêng và phàm tục
đã được Durkheim xác định Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận như Victor Turner và Mary Douglas đã cung cấp một số luận điểm để phân biệt giữa nghi lễ và nghi thức nhằm trả lại ý nghĩa vốn có của nghi lễ trong hệ thống cấu trúc xã hội Victor Turner (1967) cho rằng nghi lễ đánh dấu sự chuyển đổi về mặt xã hội, còn nghi thức liên kết với yếu tố thể chế chính trị - luật pháp và
có mục đích xác nhận Mary Douglas (1966) cho rằng nghi lễ tác động đến quá trình thay đổi của hệ thống bằng cách đặt khái niệm nghi lễ vào phạm trù nhị phân đối lập giữa dơ bẩn và thuần khiết tượng trưng cho phi trật tự và trật tự của xã hội Trong mối quan hệ này, nghi lễ có chức năng duy trì, điều chỉnh trật tự để làm mới
hệ thống xã hội Với cách quan niệm như trên, cả hai nhà nghiên cứu này đều cho rằng nghi lễ có tính động lực và kiến tạo nên thế giới quan của con người Lý thuyết thực hành tiếp tục ảnh hưởng đến kiến tạo khái niệm nghi lễ vào đầu thế kỉ XX
Trang 29trong công trình của Catherine Bell Trong quá trình nghiên cứu hiện tượng nghi lễ hóa, Bell cho rằng nghi lễ là một loại thực hành cơ bản trong đời sống con người, nhất là khi soi chiếu vào quá trình sáng tạo truyền thống ở phương Tây Vì vậy, Bell mang đến một cách hiểu mới về nghi lễ giống như thực hành, bao gồm các tiêu chí như tình huống, chiến lược, tái sản xuất hoặc tái định hình trật tự quyền lực giữa các tác nhân Quá trình xây dựng khái niệm nghi lễ từ thập niên 1960 có sự tham gia của nhiều trường phái lý thuyết nhân học khác nhau, bao gồm tân chức năng, cấu trúc luận, kiến tạo luận và lý thuyết thực hành Tính chất phong phú của khái niệm nghi lễ phản ánh quá trình biến đổi của hoạt động thực hành nghi lễ trong bối cảnh chuyển đổi xã hội và văn hóa Theo Snoek (2006), hiện nay, khái niệm “nghi lễ” được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tiến trình kiến tạo có tính văn hóa, tính truyền thống, tính cơ cấu của người trình diễn và khán giả
Mặc dù khái niệm nghi lễ luôn được mở rộng, phát triển trước các thách thức giải kiến tạo, nhưng không thể phủ nhận tính thiêng trong mối quan hệ với hệ thống thần linh là đặc điểm nhận biết và phân biệt giữa nghi lễ với các hoạt động khác của con người Trong bối cảnh đô thị Nha Trang, hoạt động nghi lễ diễn ra trong tính dung hợp các hoạt động nghi thức thế tục và thiêng liêng Vì thế, khái niệm nghi lễ nên được xem xét trong khía cạnh thực hành và liên kết với biểu tượng thiêng Ở đây, tôi sử dụng khái niệm “nghi lễ” như một hình thức của sự thực hành, được thúc đẩy bởi niềm tin tôn giáo và vận dụng hai đặc điểm của lý thuyết thực hành là tính tình huống và tính chiến lược Khái niệm nghi lễ với tính chất thực hành không mâu thuẫn và không loại trừ ý nghĩa biểu tượng của hành vi Theo tôi, nghi lễ có rất nhiều hình thức khác nhau, nghi lễ có yếu tố tôn giáo và nghi lễ không có yếu tố tôn giáo Nghi lễ có yếu tố tôn giáo là những thực hành hướng đến một ý niệm thiêng liêng hoặc thần linh bằng cách dâng lễ vật, cầu xin hoặc các hoạt động trình diễn khác của cơ thể hoặc lời nói Nghi lễ không có yếu tố tôn giáo là các nghi lễ/nghi thức diễn ra trong đời sống hằng ngày tại những sự kiện chính trị, giáo dục, kinh tế như nghi lễ/nghi thức tiếp đón, nghi lễ/nghi thức khởi công xây dựng; các nghi lễ/nghi thức này chỉ thuần túy xác nhận và đánh dấu một sự kiện nào đó, nó cũng bao gồm các hoạt động trình diễn của cơ thể hoặc lời nói nhưng không hướng đến
Trang 30một ý niệm thiêng hoặc thần linh Nghi lễ thờ cúng nữ thần của luận án là một loại thực hành tôn giáo, chứa đựng các quan niệm về hệ thống thần linh và hoạt động trình diễn của cá nhân, thể hiện đức tin và sắc thái văn hóa thờ cúng
Nữ thần: Là thuật ngữ chỉ chung cho các thần linh được quy gán giới tính
nữ Một số nghiên cứu về đạo mẫu sử dụng thuật ngữ “mẫu thần” để chỉ cho các nữ thần đã được phân cấp trong hệ thống thần linh tối cao Với cộng đồng thờ cúng,
“mẫu” là một từ được dùng để chỉ chung cho các nữ thần, với hàm ý là một người
mẹ thân thiết và gần gũi với cuộc sống con người Luận án này sử dụng thuật ngữ
“nữ thần” và “mẫu thần” ngang hàng nhau Thực chất “nữ thần” và “mẫu thần” là một, có thể sử dụng thay thế lẫn nhau Chẳng hạn, với các nữ thần đã được sắc phong của nhà nước quân chủ là Thánh Mẫu thì sử dụng thống nhất như thế, nhưng
với hàm ý đây vẫn là một hình thái của nữ thần
Từ góc độ thần thoại, nữ thần có vai trò sáng thế, là nguồn năng lượng quan trọng, đại diện cho sự sống và sinh sôi nảy nở của vạn vật Tiếp cận về giới trong tôn giáo xuất phát từ quan điểm quy gán tính giới trong các nền văn hóa Quan niệm
về giới ảnh hưởng đến quá trình hình thành biểu tượng nữ thần và nam thần trong tôn giáo Vai trò giới trong các thiết chế văn hóa phản ánh cách thức con người quan niệm và diễn giải theo khía cạnh giới hoặc cách họ tôn sùng các vị nữ thần hay nam thần, từ đó có thể giải thích vì sao mỗi giới được sắp xếp và bố trí vào các vai trò khác nhau khi tham gia vào một nghi lễ hoặc những trải nghiệm khác nhau về đức tin vào thần linh Haviland và các cộng sự (2011) cho rằng, trong các xã hội mà phụ nữ phụ thuộc vào nam giới, thần linh tối cao được chỉ định theo tính nam Đó là những xã hội có nền tảng kinh tế chăn nuôi được kiểm soát bởi đàn ông, nhất là đối với con cái của họ Trong khi đó, nữ thần được đề cao trong những xã hội mà phụ
nữ giữ vai trò quan trọng trong kinh tế, đó là những xã hội trồng trọt phụ thuộc vào chức năng cai quản và kiểm soát của phụ nữ Vì vậy, trong những xã hội định cư sản xuất nông nghiệp, tính nữ tượng trưng cho khả năng sinh sản và sự màu mỡ Bên cạnh đó, nữ thần còn liên hệ chặt chẽ với vai trò của người phụ nữ trong hoạt động tái sinh, sáng tạo ra con người
Trang 31Tóm lại, quan niệm thờ nữ thần hình thành dựa trên đức tin và tôn sùng tính chất sinh sôi, nảy nở và phồn thực, tượng trưng bởi các nữ thần, đồng thời thể hiện vai trò tự nhiên, xã hội và vị thế của người phụ nữ trong xã hội Tục thờ nữ thần của người Việt cũng dựa trên sự tôn sùng đặc điểm sinh sôi nảy nở của nguyên lý âm tính này
Chiến lược: Là khái niệm được sử dụng trong lý thuyết thực hành Theo
Pierre Bourdieu (1977), thuật ngữ “chiến lược” chỉ cách thức hoạt động của tác nhân chiếm hữu các loại vốn cần thiết (vốn xã hội, vốn văn hóa, vốn biểu tượng) Catherine Bell (1992) sử dụng lý thuyết thực hành của Pierre Bourdieu để phát triển
lý thuyết mới về nghi lễ, đặc biệt là khái niệm “nghi lễ hóa” Thuật ngữ “chiến lược” luôn kết hợp với “nghi lễ hóa” để chỉ các chiến lược cấu thành nên mối quan
hệ uy quyền, chiến lược nghi lễ hóa phát sinh hình thức của thực hành và trao quyền cho cá nhân trong cộng đồng khi thực hiện nghi lễ (Bell, 1992) Khái niệm chiến lược của luận án liên quan chặt chẽ tính chủ thể của hành động Khái niệm chiến lược không có hàm ý về tính duy lý hoặc không duy lý của hành vi nghi lễ mà chủ yếu nhấn mạnh đến chủ động và tiềm năng bên trong của người thực hành Do đó, khái niệm chiến lược bao hàm động cơ, thiên hướng thúc đẩy hành động Luận án vận dụng thuật ngữ “chiến lược” trong thực hành nghi lễ như sau: chiến lược là cách thức thực hành có chủ đích của người thực hành nhằm đạt được những mục tiêu như xây dựng hình ảnh bản thân, tạo nên uy tín, danh dự và tiếp nhận các nguồn lực
Hầu thiêng và người hầu thiêng1 : Là những từ ghép để chỉ về một đối
tượng thờ cúng thần linh ở Nha Trang “Hầu thiêng” được ghép từ một động từ và một tính từ là “hầu” và “thiêng” Các nghiên cứu trước đây về vấn đề nữ thần chưa nhắc đến hoặc không giải thích về “hầu thiêng” và “người hầu thiêng” Thông
1 Cách gọi “hầu thiêng” và “người hầu thiêng” nảy sinh từ quá trình tác giả luận án và người cung cấp thông tin chính ở địa phương cùng bàn bạc và thảo luận trong thời gian điền dã Ban đầu, người cung cấp thông tin chính sử dụng cách gọi khác là “thiêng tiên” hoặc “múa bóng” Căn cứ trên kết quả thực địa, tác giả luận án thấy rằng hai cách gọi trên không thỏa đáng, do đó, đã cùng người cung cấp thông tin chính sáng tạo nên một cách gọi mới là “hầu thiêng” Đây là cách gọi được sự chấp thuận và đồng ý của những người cung cấp thông tin ở Nha Trang và phù hợp với đặc điểm thờ cúng nữ thần ở Nha Trang
Trang 32thường, “hầu thiêng” có ý nghĩa khá gần với các từ ghép như “hầu bóng”, “hát bóng”, “múa bóng”, để chỉ một hình thức diễn xướng dân gian có liên quan đến nghi lễ thờ cúng của người Chăm, qua thời gian dài đã được Việt hóa Cụ thể là trong nghiên cứu của Oscar Salemink (2015), Philip Taylor (2004) thường sử dụng
ba cụm từ ghép trên để chỉ về một hình thức diễn xướng có yếu tố nhập hồn; các tác giả khác là Lê Đình Chi (2005), Trương Văn Món (2017) sử dụng từ múa bóng, hát bóng để chỉ về lối trình diễn của người Việt thờ cúng Thiên Y A Na tại tháp Po Ina Nagar
Tôi sử dụng từ ghép “hầu thiêng” để chỉ một hình thức diễn xướng thờ Thiên
Y A Na của một nhóm người Việt ở Nha Trang “Hầu thiêng” là lối trình diễn tổng hợp của múa bóng và hầu đồng Nền tảng của hầu thiêng được xây dựng trên hiện tượng nhập hồn, được xem là một trong hai khía cạnh của hoạt động shaman Ngoài
ra, hầu thiêng cũng là lối thờ cúng phản ánh rõ tính chất địa - văn hóa ở khu vực Nam Trung Bộ Khi người Việt di cư vào Huế và các tỉnh phía Nam, thường xem trọng việc thờ cúng các linh thần, linh hồn (yếu tố thiêng, kể cả ảnh hưởng từ thần linh của người Chăm nhưng không phải là nhân thần) để an ủi tâm lý trước bối cảnh hoang sơ và buộc phải dấn thân vào hành trình chinh phục thiên nhiên đầy gian khổ Thờ cúng linh thần là điểm tựa tâm linh quan trọng của cư dân Đàng Trong trong suốt thời gian dài
Từ Nam Trung Bộ trở vào cho đến Nam Bộ, người hầu thiêng hình thành các nhóm thờ cúng nữ thần, tổng hợp lối trình diễn múa bóng của người Chăm và hầu đồng của người Việt Tuy nhiên, người hầu thiêng ở Nha Trang khác với người múa bóng (tạp kĩ) ở Nam Bộ về lối trình diễn Người hầu thiêng ở Nha Trang cũng khác với người thờ cúng tứ phủ, đó là khác biệt về lối trình diễn, quan niệm về thần linh
và tính thiết chế của hoạt động thờ cúng
Hiện nay, hầu thiêng cần được phân biệt với múa bóng (hát bóng) và hầu đồng tứ phủ Nhiều nhà nghiên cứu gộp chung hầu thiêng với múa bóng và gọi là người múa bóng hoặc đồng nhất giữa người hầu thiêng và người thuộc tứ phủ Huế như một nhánh của Tiên Thiên thánh giáo Theo tôi, trong bối cảnh hiện nay, trình diễn múa bóng của người Chăm không ảnh hưởng trực tiếp lên hoạt động hầu
Trang 33thiêng Dù vậy, hầu thiêng vẫn có yếu tố thờ cúng của người Chăm thể hiện qua quan niệm và đức tin vào thần linh Vì thế, tôi cho rằng hầu thiêng phải được nhận diện là một phong cách trình diễn riêng và người hầu thiêng là một trong ba nhóm thờ cúng nữ thần ở Nha Trang (bên cạnh cộng đồng làng và tứ phủ) “Hầu thiêng” tạm thời là một từ ghép đầy đủ nội hàm nhất phản ánh đúng đắn bản chất “đồng cốt” của các ông/bà đồng và nền tảng của yếu tố địa - văn hóa đã nói ở trên Khái niệm “hầu thiêng” và “người hầu thiêng” tiếp tục được diễn giải rõ hơn thông qua các nghiên cứu trường hợp của luận án
Tứ phủ Bắc và tứ phủ Huế: Là cách gọi của hai hình thức thờ cúng tứ phủ
do các ông/bà đồng ở Nha Trang đặt ra Bắc và Huế không có tính chất như một vùng địa lý mà thực chất Bắc và Huế chỉ có ý tượng trưng để phân biệt giữa hai lối trình diễn hầu đồng đang nổi lên hiện nay Ở Nha Trang, tứ phủ Bắc là tên gọi của hoạt động thờ cúng Tam Tòa Thánh Mẫu (trung tâm là Mẫu Liễu Hạnh), được mô phỏng từ văn hóa thờ cúng tứ phủ của đồng bằng Bắc Bộ Tứ phủ Huế là tên gọi của hoạt động thờ cúng bốn vị nữ thần cai quản bốn cõi: cõi trời, cõi nước, cõi thượng ngàn và cõi trung thiên; đầu tiên, xuất phát từ đồng bằng Bắc Bộ (Tam Tòa Thánh Mẫu) đi qua Huế rồi bị biến đổi trở thành một hình thức tứ phủ khác, đó là Thiên Y
A Na thay cho Mẫu Thượng Thiên và xuất hiện thêm Mẫu Trung Thiên, rồi từ đó lan tỏa vào các tỉnh Nam Trung Bộ Vì vậy, có thể tạm gọi tứ phủ Bắc và tứ phủ Huế với hàm ý tượng trưng cho hai thiết chế thờ cúng tứ phủ riêng biệt khác nhau theo quan niệm thần linh và phong cách trình diễn hầu đồng
1.2.2 Luận điểm tính hiệu nghiệm của nghi lễ
Tính hiệu nghiệm (efficacy) là một thuật ngữ thường được sử dụng trong nghiên cứu nghi lễ của các học giả phương Tây Sự phát triển của thuật ngữ này đã hình thành nên lý thuyết về tính hiệu nghiệm nghi lễ Một số luận điểm trong lý thuyết về tính hiệu nghiệm vẫn còn tiếp tục được tranh luận, chẳng hạn như việc nhìn nhận tính hiệu nghiệm của nghi lễ theo quan điểm của tác nhân nào, tác nhân bên trong hoặc bên ngoài nghi lễ hoặc người quan sát, nhà nghiên cứu Từ quá trình xây dựng khái niệm tính hiệu nghiệm của nghi lễ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau trong bối cảnh đương đại
Trang 34Tính hiệu nghiệm là danh từ chỉ về quá trình hay khả năng sản xuất ra một kết quả mong muốn Theo cách tiếp cận của tôn giáo học, tính hiệu nghiệm là kết quả của một hành vi thực hành liên quan đến hệ thống nghi lễ Chẳng hạn, hành vi thú tội, cầu nguyện của tín đồ Thiên chúa giáo sản xuất ra hiệu quả tác động lên chính bản thân họ (cảm xúc, tinh thần) và kết quả đó chính là tính hiệu nghiệm
Thuật ngữ “tính hiệu nghiệm” xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như tâm lý trị liệu, tôn giáo học, nhân học Thuật ngữ này được sử dụng rất sớm trong một số nghiên cứu nhân học, đặc biệt là nhân học tôn giáo/nghi lễ Trong tiếng Pháp, thuật ngữ tính hiệu nghiệm là efficacité do Marcel Mauss đề xuất trong công trình lý thuyết tổng quát về ma thuật Mauss sử dụng thuật ngữ nghi lễ ma thuật (les rites magiques) với hàm ý không thể phân tách hai thực thể này (nghi lễ và ma thuật), bằng chứng là những nghi lễ totem đều có đặc điểm ma thuật và ma thuật xuất hiện khắp nơi trong đời sống thần thoại và khoa học nguyên thủy Tính hiệu nghiệm của nghi lễ trong phân tích của Mauss gắn liền với nghi lễ ma thuật bao gồm ba thuộc tính cơ bản tạo hiệu ứng là cảm xúc, sở hữu và quyền năng ma thuật
(Mauss, 1902-1903)
Tiếp theo, tính hiệu nghiệm của nghi lễ nảy sinh từ quá trình quan sát hiệu ứng của nghi lễ theo hai khía cạnh: một là hiệu ứng nghi lễ tác động lên bối cảnh bên ngoài, chẳng hạn như nghi lễ phồn thực gắn liền với sự sinh sôi của vật nuôi, cây trồng; hai là hiệu ứng của nghi lễ tác động lên người tham gia, ví dụ như nghi lễ shaman có tác dụng chữa bệnh Trường phái duy lý xem xét tính hiệu nghiệm của nghi lễ từ cái nhìn bên ngoài, họ cho rằng nghi lễ không có tính hiệu nghiệm bởi vì người thực hành đã hiểu sai về mục đích của nghi lễ Theo họ, nghi lễ vốn không thể tác động lên hiện tượng tự nhiên, không tạo ra mưa hoặc làm cây cối sinh sôi, và
do đó hành động của người trình diễn nghi lễ là không duy lý Những nhà duy lý nhìn nhận tính hiệu nghiệm của nghi lễ thuần túy dưới góc độ hiệu ứng biểu kiến Trong khi đó, những người theo lý thuyết biểu tượng cho rằng tính hiệu nghiệm của nghi lễ nên được xét dưới góc độ biểu tượng Với Durkheim, nghi lễ là những hành
vi có tính biểu tượng, tính công cụ và có hiệu ứng tác động lên đời sống xã hội Do
đó, tính hiệu nghiệm của nghi lễ cũng mang tính xã hội, biểu tượng và công cụ
Trang 35(Quack, 2010) Những người theo lý thuyết trình diễn đã sử dụng khái niệm “trình diễn” để thay thế cho khái niệm “biểu tượng” với mục đích gộp cả hai khía cạnh công cụ và biểu tượng trong giải thích tính hiệu nghiệm, chẳng hạn như việc sử dụng một số công cụ âm nhạc, bài hát để tạo nên hiệu ứng theo một kế hoạch có chủ
ý của người trình diễn Như vậy, theo một số trường phái trên, tính hiệu nghiệm của nghi lễ thuần túy là cách giải thích hiệu ứng của nghi lễ Ở đây có thể nhận thấy, những trường phái này đều đặt nặng tính công cụ của hành vi nghi lễ Từ đó có thể dẫn đến một số cách giải thích theo quan điểm của người bên ngoài và bỏ qua quan điểm của người thực hành nghi lễ Một số nhà nghiên cứu khác cũng quan tâm đến tính hiệu nghiệm của nghi lễ hoặc phát triển luận điểm tính hiệu nghiệm từ những trường phái trên, chẳng hạn như Pierre Bourdieu, Stanley Tambiah, Victor Turner, Emily M Ahern, Jørgen Podemann Sørensen, Johannes Quack, Catherine Bell
Khi vận dụng lý thuyết trình diễn để phân tích tính hiệu nghiệm của nghi lễ, một số nhà nghiên cứu thường đánh đồng tính hiệu nghiệm của nghi lễ với tính hiệu nghiệm của lời nói, chẳng hạn như lời thông báo trong lễ cưới, đám tang có một hiệu lực nhất định lên người tham gia, tương tự với hành vi nghi lễ, con người trình diễn nghi lễ mà không cần quan tâm đến việc liệu nó có thực sự tác động lên thế giới bên ngoài hay không? Do đó, nghi lễ và lời nói đều có tính hiệu nghiệm tự thân Việc trình diễn nghi lễ và lời nói giống nhau vì tự chúng đã hàm chứa tính hiệu nghiệm riêng Cách tiếp cận này đã dẫn đến hệ quả là nhiều nghiên cứu phân tích tính hiệu nghiệm của nghi lễ giống như phân tích tính hiệu nghiệm của một hành vi thông thường, trong đó tính hiệu nghiệm của nghi lễ đôi khi không đến từ hành vi nghi lễ mà đến từ những hoạt động khác
Tính hiệu nghiệm nhìn từ góc độ biểu tượng liên quan đến chức năng xã hội của nghi lễ của Emilé Durkheim đã ảnh hưởng ít nhiều đến cách nhìn nhận về tính hiệu nghiệm của Victor Turner và Stanley Tambiah Tuy nhiên, khác với Durkheim, quan điểm chức năng của Turner tập trung vào khía cạnh động lực của nghi lễ với hàm ý rằng xã hội không đơn thuần hoạt động dựa trên sự cố kết và nghi lễ không hoàn toàn có chức năng cố kết xã hội mà thực chất thực hành nghi lễ hướng đến việc giải quyết xung đột xã hội Vì vậy, tính độc đáo trong quan niệm chức năng
Trang 36của Turner là sự nối kết giữa quan điểm cấu trúc và quan điểm động lực xã hội Chiều kích xã hội trong quan điểm của Turner là minh chứng cho tính hiệu ứng của nghi lễ liên quan đến khả năng giải quyết mâu thuẫn và xung đột xã hội Để đóng góp vào chiều kích tính hiệu nghiệm, Turner xem xét tiến trình nghi lễ dưới dạng một “kịch xã hội” gồm bốn giai đoạn: 1) Breach (mối quan hệ xã hội của cá nhân trong giai đoạn ngưỡng, tồn tại trong trạng thái cân bằng); 2) Crisis (sự leo thang và gia tăng của hoàn cảnh khủng hoảng); 3) Redressive (giải quyết khủng hoảng bằng trình diễn nghi lễ); 4) Reintegration (thừa nhận và hợp thức hóa vai trò xã hội của các nhân) Quan điểm “kịch xã hội” được thể hiện rõ trong phân tích nghi lễ nhậm
chức của người Ndembu ở Zambia (châu Phi) theo nghiên cứu “The ritual process:
Structure and anti-structure (Tiến trình nghi lễ: cấu trúc và phản cấu trúc) của
Victor Turner Qua “kịch xã hội”, Victor Turner muốn bàn luận một cách sâu sắc hơn về vai trò và chức năng của tiến trình nghi lễ là không chỉ phục hồi sự cân bằng của xã hội mà nhờ tiến trình đó, cộng đồng tiếp tục tái xác định và làm mới chính
họ Thông qua phân tích nghi lễ nhậm chức thủ lĩnh, Turner cho thấy rằng người thủ lĩnh trong nghi lễ được tái hiện với hình ảnh là một kẻ khiêm nhường, thụ động và yếu đuối, gánh chịu tất cả lời mắng nhiếc Những người thường dân, đại diện cho sự yếu thế, trở thành những người có uy quyền mắng nhiếc thủ lĩnh Nghi lễ nhậm chức là quá trình tái hiện tính chất xung đột và mâu thuẫn xã hội giữa hai tầng lớp thống trị và bị trị; người bị trị với uy quyền nghi lễ thể hiện tính nổi loạn và vượt lên trên kẻ thống trị bằng hành động chửi rủa Rõ ràng, nghi lễ nhậm chức thể hiện hàm ý về cách thức điều hòa và giải quyết xung đột xã hội, cụ thể là trao quyền cho
cư dân tại chỗ để họ thể hiện tiếng nói của mình trong thời gian diễn ra nghi lễ Sau khi nghi lễ kết thúc, tính chất quản trị xã hội và mọi hoạt động khác vẫn tiếp tục diễn ra như trước, tuy nhiên mâu thuẫn xã hội có thể sẽ được điều hòa hơn Turner cho rằng nghi lễ là một công cụ giải quyết xung đột xã hội, nhờ công cụ này, con người trải nghiệm về uy quyền xã hội và phản chiếu vị trí bản thân lên trật tự xã hội Thực chất, nghi lễ là một quá trình tái cấu trúc lại cá nhân và trật tự xã hội thông qua “kịch hóa” tình huống thật của xung đột xã hội Tóm lại, theo Turner, nghi lễ
Trang 37và nghi lễ Trình diễn là từ “ẩn dụ” được sử dụng để giải mã những thực hành văn
hóa, bao gồm tính sự kiện, khung hành động và hiệu ứng kiến tạo thực tại xã hội Stanley Tambiah sử dụng quan điểm trình diễn để thay thế cho quan điểm biểu
tượng khi bàn luận đến tính hiệu nghiệm của nghi lễ Trong “A Performative
Approach to Ritual” (Tiếp cận trình diễn nghi lễ), Tambiah (1985) chấp nhận khái
niệm hành động trình diễn của Austinian và khái niệm tính thông lệ (không thông lệ) của Gricena trong cách hiểu về ý nghĩa xã hội và tính hiệu nghiệm của nghi lễ Tambiah cho rằng sự trình diễn phát sinh hiệu ứng trực tiếp Trong phân tích về nghi lễ ma thuật và khả năng chữa bệnh của các loại nghi lễ này, Tambiah chống lại
tư tưởng của truyền thống duy lý với lập luận rằng thực hành nghi lễ ma thuật là hành vi mang tính thông lệ có logic bên trong
Schechner (1998) cho rằng sự hiệu nghiệm là một thuộc tính quan trọng của trình diễn bằng cách phân biệt tính hiệu nghiệm với hiệu quả giải trí của sân khấu
Do đó, trình diễn nghi lễ không những liên kết với lý thuyết thực hành về khía cạnh quản trị của hành vi nghi lễ mà còn liên kết với sự chuyển đổi của nghi lễ Bruce Kapferer (1979) đề cập đến hiệu ứng chuyển đổi của nghi lễ thể hiện trong hai khía cạnh của trình diễn là tổ chức và khách thể trung gian Nội dung của bài giới thiệu
“Ritual process and the transformation of context” (Tiến trình nghi lễ và sự chuyển
đổi bối cảnh) của Kapferer bao gồm sự liên kết giữa nghi lễ chuyển đổi và tính hiệu quả của trình diễn nghi lễ Sự chuyển đổi là một khía cạnh của trình diễn có tác dụng tái sắp xếp không gian và tổ chức cơ cấu người tham gia (Kapferer, 1979, tr.7)
Trang 38Theo Schieffelin (1996), hiệu ứng của nghi lễ thể hiện qua trình diễn nhờ sử dụng phương thức biểu tượng hoặc thẩm mĩ, người trình diễn thể hiện khả năng sáng tạo và gợi lên “thực tại tưởng tượng” trong nhận thức của họ, qua đó gia tăng cảm xúc, tương tác và tất nhiên những rủi ro có thể xuất hiện trong sự kiện trình
diễn Từ quá trình phát triển các thuật ngữ cơ bản trong trình diễn nghi lễ như form (hình thức), agenda (nghị sự - thảo luận, nói chuyện), means (phương tiện/công cụ),
authority (uy quyền), strategy (chiến lược), historicity (tính lịch sử), embodiment
(sự biểu hiện/sự hiện thân) và emergence (sự nổi lên), Schieffelin (1996) tạo nên
khung phân tích về hiệu ứng trực tiếp của nghi lễ phát sinh từ sự “nổi lên” của các yếu tố ngẫu nhiên hoặc sự hiện diện của tác nhân siêu nhiên tác động đến chất lượng của trải nghiệm tham gia trình diễn Bên cạnh đó, một số vấn đề khác như tính nghị sự, sắp xếp không gian, thông lệ, phương thức thẩm mĩ, quyền lực chuyển đổi cũng có giá trị sản xuất hiệu ứng đặc biệt (Schieffelin, 1996) Ngoài ra, trình diễn nghi lễ không hạn chế trong một “văn bản” có tính cấu trúc mà là một hoạt động giàu tính sáng tạo, do vậy nó cũng hàm chứa nhiều nguy cơ và tính rủi ro Tính ngẫu nhiên (contingency) là một thuộc tính của hiệu ứng trình diễn, đặc biệt là phụ thuộc vào kĩ năng trình diễn, khả năng sáng tạo nhiều hiệu ứng thu hút và gợi trí tưởng tượng cũng như sáng tạo các hiệu ứng tác động sâu sắc lên người tham gia (Schieffelin, 1996)
Đối với tính hiệu nghiệm thực sự, Pierre Bourdieu (1982) đã cung cấp một cách hiểu mới như sau: nghi lễ trưởng thành của người Kabyle xác nhận sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà và nó “thể chế hóa” sự khác biệt này, như vậy nghi lễ trưởng thành không tạo nên một chàng trai trẻ hoặc một cô gái trẻ từ một đứa trẻ con mà nó thể chế hóa những quy gán về thuộc tính bản chất xã hội của sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà (Bourdieu, 1982, tr.9) Bourrdieu cho rằng nghi lễ của người kabyle đã tác động lên cấu trúc xã hội thông qua khác biệt giữa nam và nữ về góc
độ xã hội Nghi lễ này tạo nên một loại hiệu ứng tác động lên cấu trúc xã hội Bourdieu gọi hiệu ứng đó là một loại “ma thuật xã hội”
Trong nỗ lực nhằm phân biệt giữa nghi lễ và những hành vi khác của con người, Catherine Bell đã có những phân tích sâu sắc nhất về nghi lễ vào thập kỉ cuối
Trang 39của thế kỉ XX với hai công trình xuất bản năm 1992 và 1997 Bell tạo nên ranh giới phân biệt giữa tính hiệu nghiệm nghi lễ và tính hiệu nghiệm của những hành vi thông thường bằng cách phát triển khái niệm nghi lễ hóa, văn hóa đặc thù, ý nghĩa nghi lễ và đặt tính hiệu nghiệm trong mối quan hệ với những khái niệm này Từ đó, Bell (1992) cho rằng tính hiệu nghiệm của nghi lễ phải được xem xét trong một hoàn cảnh văn hóa đặc thù Mặc dù Bell luôn cố gắng để khu biệt nghi lễ nhưng một
số khái niệm được Bell vận dụng trong phân tích nghi lễ như tập tính (habitus) lại là khái niệm mang tính phổ quát của hành vi con người Đóng góp của Bell trong việc hiểu về tính hiệu nghiệm của nghi lễ là những phân tích về khía cạnh xã hội của hành vi nghi lễ, thông qua những phân tích về quyền lực và ưu thế của nghi lễ hóa Bell (1992) cho rằng quyền lực được xây dựng trên mối quan hệ ở cấp độ vi mô định hình đời sống hằng ngày, ở đó, những nhu cầu về nghi lễ cộng hưởng với trải nghiệm của con người Hàm ý của Bell nhấn mạnh đến tác nhân tham gia có kiến thức hay uy thế tác động trở lại cấu trúc và những mối quan hệ phát sinh trong thực hành nghi lễ, đồng thuận hoặc chiếm hữu những mối quan hệ này Tuy nhiên, những phân tích này không phục vụ cho việc sáng tỏ tính hiệu nghiệm của nghi lễ vì mục đích chính của nó là nhằm để phân biệt giữa nghi lễ với hành vi thông thường,
do đó, Bell cũng không đưa ra một khái niệm rõ ràng về nghi lễ cũng như tính hiệu nghiệm của nghi lễ (Bell, 1992)
Gần đây nhất, Quack (2010) đã xây dựng khung phân tích tính hiệu nghiệm
từ quá trình kế thừa và phát triển các quan điểm của những trường phái lý thuyết trên Theo Quack, tính hiệu nghiệm là một số hiệu ứng đặc biệt liên quan đến mục đích và chức năng của nghi lễ Vì vậy, tính hiệu nghiệm của nghi lễ phụ thuộc vào nhiều góc nhìn khác nhau, như mục đích và mong đợi của người tham gia hoặc cách quy gán chức năng nghi lễ của nhà nghiên cứu Theo đó, mỗi người sẽ thể hiện những quan điểm khác nhau về hiệu ứng của cùng một nghi lễ Quack không thiên
về quan điểm của người bên trong hoặc bên ngoài mà muốn xây dựng một phương thức tiếp cận tổng hợp để phản ánh đầy đủ hơn cách hiểu về tính hiệu nghiệm của nghi lễ Khung phân tích tính hiệu nghiệm của nghi lễ của Quack gồm năm câu hỏi như sau: Ai hay điều gì tạo nên hiệu ứng của nghi lễ? Ai hay điều gì tiếp nhận hiệu
Trang 40ứng trong nghi lễ? Hiệu ứng của nghi lễ xảy ra theo những cấp độ nào? Công cụ tạo hiệu ứng của nghi lễ là gì/Nghi lễ tạo ra hiệu ứng bằng cách nào? Hoàn cảnh phát sinh hiệu ứng của nghi lễ? (2010, tr.18) Khung phân tích của Quack có thể giải quyết một cách khá toàn vẹn vấn đề tính hiệu nghiệm đặt trên quan điểm bên trong
và bên ngoài, bao hàm luôn cả tính hiệu nghiệm dưới góc độ xã hội, biểu tượng và công cụ Tuy nhiên, khung phân tích này có thể được ứng dụng cho rất nhiều những hành động khác, không chỉ với nghi lễ Đặc biệt, Quack cũng bỏ qua yếu tố niềm tin tôn giáo trong phân tích tính hiệu nghiệm vì cho rằng mục đích nghi lễ và sự mong đợi của người tham gia đã phản ánh đầy đủ về động cơ của người thực hành nghi lễ
Quan điểm tính hiệu nghiệm của nghi lễ đã được xây dựng cùng với quá trình phát triển của lý thuyết nhân học về nghi lễ Khởi nguồn từ việc tiếp cận và phân tích hiệu ứng của nghi lễ, tính hiệu nghiệm dần dần được xem như một số hiệu ứng đặc biệt gắn với mục đích và chức năng của nghi lễ Nhìn chung, tiếp cận tính hiệu nghiệm của nghi lễ cung cấp cách hiểu và trả lời cho câu hỏi đã được đặt ra trong suốt quá trình phát triển của lý thuyết nhân học về nghi lễ là “Vì sao con người thực hiện nghi lễ?” Mặc dù là luận điểm kinh điển trong nghiên cứu nghi lễ, nhưng trong bối cảnh phát triển, tính hiệu nghiệm lại trở thành một vấn đề trọng tâm để chia sẻ những cách hiểu khác nhau về hiệu ứng và vai trò của nghi lễ từ cái nhìn bên trong và bên ngoài Chẳng hạn, với một nghiên cứu trường hợp về nghi lễ chữa bệnh tại một số địa phương ở Ấn Độ, William S.Sax cho rằng trong bối cảnh chuyển đổi từ những ngôi làng trở thành thị trấn, đã xuất hiện quan điểm đa chiều
về mối quan hệ giữa vấn đề bệnh tật của con người với tính hiện đại và truyền thống, thể hiện qua sự xung đột mạnh mẽ giữa khoa học và tôn giáo, trong đó khoa học và kĩ thuật gắn liền với tính hiện đại và thực hành nghi lễ chữa bệnh là biểu hiện của lạc hậu Điểm thú vị của nghiên cứu này là Sax tái hiện quan điểm của những người trong cộng đồng khi từ chối thực hiện nghi lễ chữa bệnh truyền thống
vì họ cho rằng nó đang lạc hậu Sự thay đổi cách nhìn nhận về tính hiệu nghiệm đã phản ánh những tác động của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị và tôn giáo trong những cộng đồng đang chuyển đổi lối sống từ truyền thống sang hiện đại