1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhận thức của Đảng về quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước ASEAN từ năm 1986 đến năm 2010

107 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự đột phá trong nhận thức của Đảng ta cùng với những nỗ lực hợp tác từ 2 phía đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho nền kinh tế Việt Nam nói riêng và hợp tác khu vực Đông Nam Á nói chung

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ TUYẾT MAI

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ASEAN

TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60220315

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Kim

Hà Nội - 2015

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

Chương 1 18

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI KINH TẾ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1995 18

1.1 Nhận thức của Đảng về hoạt động đối ngoại kinh tế trước năm 1986 18

1.1.1 Nhận thức về xu thế chung của thế giới 18

1.1.2 Nhận thức về các nước ASEAN 19

1.2 Giai đoạn 1986-1995 24

1.2.1 Những yếu tố khách quan 24

1.2.2 Những yếu tố chủ quan và sách lược 28

Chương 2 48

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ASEAN TỪ NĂM 1996 -2010 48

2.1 Những diễn biến mới của tình hình khu vực 48

2.2 Tiếp tục tăng cường và mở rộng quan hệ khu vực 50

Chương 3 65

NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 65

3.1 Kết quả sự thay đổi nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam 65

3.2 Kinh nghiệm 83

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEANAssociation of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

AECASEAN Economic Community

Cộng đồng kinh tế ASEAN

AFTAASEAN FreeTrade Area

Khu vực tự do thương mại ASEAN

AMM ASEAN Ministerial Meeting

Hội nghị Bộ trưởng ASEAN

APEC Asia - Pacific Economic Cooperation

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

ARFASEAN Regional Forum

Diễn đàn khu vực ASEAN

ASCASEAN Security Community

Cộng đồng an ninh ASEAN

ASCCASEAN Socio - Cultural Community

Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN

CISCommunity of Independent States

Cộng đồng các quốc gia độc lập

EAECEurope - Asia Economic Community

Cộng đồngkinh tếÁ - Âu

EAFTAEast Asian Free Trade Area

Khu vực mậu dịch tự do Đông Á

EASEast Asian Summit

Hội nghị thượng đỉnh Đông Á

Trang 4

EU European Union

Liên minh Châu Âu

FDIForeign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTAFree Trade Area

Khu vực mậu dịch tự do

NATONorth Atlantic Treaty Organization

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

SCOShanghai Cooperation Organization

Tổ chức hợp tác Thượng Hải

TACTreaty of Amity & Cooperation in Southeast Asia

Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á

UNUnited Nations

Liên Hiệp Quốc

WTO World Trade Organization

Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch xuất, nhập khẩu của các nước

thành viên ASEAN năm 2009 với Việt Nam

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo học thuyết kinh tế đương đại, chính trị và quan hệ ngoại giao là những yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng, nền kinh tế thế giới nói chung Trong đó, chính trị tác động đến kinh tế thông qua tư duy của chủ thể cầm quyền, được cụ thể hóa bằng những đường lối chính sách, chiến lược kinh tế của Đảng cầm quyền Với vai trò tiên phong của mình, nhận thức của Đảng cầm quyền có tác động trực tiếp, ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của nền kinh tế mỗi quốc gia Quá trình thay đổi nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đóng vai trò to lớn như vậy

Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo và xuất phát trên cơ sở thực tiễn[114].Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể[113]” Như vậy, bản thân nhận thức luôn tồn tại và vận động trên cơ sở hiện thực khách quan, nó không tự nhiên xuất hiện mà phụ thuộc vào thực tiễn đồng thời còn góp phần cải tạo thực tiễn Nhận thức của Đảng Cộng Việt Nam

về kinh tế đối ngoại nói chung cũng có những biến chuyển phù hợp với thực tiễn nước nhà.Năm 1986, trước những diễn biến phức tạp của quan hệ kinh tế quốc tế và căn cứ vào bối cảnh đất nước, cùng với quá trình đổi mới kinh tế, Đảng đã thay đổi trong tư duy đối ngoại Đổi mới tư duy đối ngoại

là đổi mới nhận thức, quan niệm, cách tiếp cận, cách đánh giá về lợi ích quốc gia, về các vấn đề an ninh - phát triển - ảnh hưởng, mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia và nghĩa vụ quốc tế; quan hệ đồng minh và tập hợp lực

Trang 7

lượng; về sự dịch chuyển cặp phạm trù hợp tác-đấu tranh sang cặp phạm trù đối tượng-đối tác Trong đó sự thay đổi nhận thức là yếu tố mang tính tiên quyết Con đường nhận thức của Đảng không phải là con đường bằng phẳng, liên tục mà có những khúc quanh co, trắc trở.Nhất là trong thời kỳ

từ năm 1986 đến năm 2010, một giai đoạn lịch sử đánh dấu nhiều bước đột phá trong đường lối ngoại giao kinh tế của Đảng ta

Điều quan trọng nhất là nhận thức của Đảng phải thể hiện tính chất nắm bắt và dự báo xu hướng phát triển kinh tế nhằm đưa ra đường lối chính sách phù hợp Đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng Đặc biệt là khi ở các nước ASEAN luôn có ranh giới khác biệt về ý thức hệ thì sự điều chỉnh chính sách từ đối đầu chuyển sang đối thoại, từ mâu thuẫn sang hợp tác lại càng thể hiện sự đột phá lớn Sự đột phá trong nhận thức của Đảng ta cùng với những nỗ lực hợp tác từ 2 phía đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho nền kinh tế Việt Nam nói riêng và hợp tác khu vực Đông Nam Á nói chung.Để làm rõ vấn đề này tôi đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu sau:

- Trước năm 1986, mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN được Đảng nhận thức ra sao?

- Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2010 tại sao có sự chuyển biến trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ này và chuyển biến như thế nào?

- Sự chuyển biến trong nhận thức của Đảng đem lại hệ quả như thế nào tới mối quan hệ kinh tế này?

- Bài học kinh nghiệm được rút ra sau cả quá trình thay đổi nhận thức

ấy là gì?

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, trong suốt thời kì từ năm

1986 đến năm 2010, nhận thức của Đảng về quan hệ kinh tế của Việt Nam

Trang 8

với các nước ASEAN là một quá trình nhận thức từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu bức thiết của thời đại

2 Lịch sử nghiên cứu:

Đã có rất hiều công trình nghiên cứu của các học giả trong nước quan tâm nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam với ASEAN, phải kể đến:

2.1 Những nghiên cứu của tác giả nước ngoài:

Trước hết, cần khẳng định trong những năm qua, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về Việt Nam nói chung, trong đó có một số đề cập đến hoạt động đối ngoại Việt Nam như:

- Vietnam's Foreign Relations: Dynamics of Change của tác giả Frank Frost (Pacific Affairs, Vol 67, No 4/1995);

- Dosch, Jorn (2006), Vietnam's ASEAN Membership Revisited: Golden Opportunity or Golden Cage?, Contemporary Southeast Asia, Journal of International and Strategic Affairs, Volume 28, Number 2, August

- Việt Nam quan tâm đến việc xây dựng những cân bằng chiến lược mới, của Madhur Singh (Hindustan Times, New Delhi, 20/6/2007);

- Vị thế Việt Nam tiếp tục được khẳng định trên trường quốc tế và khu vực (Tổng thuật bài viết của các nhà nghiên cứu nước ngoài, Thông tin Những vấn đề chính trị - xã hội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) Các công trình kể trên, khi phân tích những bước điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam từ giữa thập niên 80 - đầu thập niên 90 của thế kỷ XX

đã khẳng định những thành tựu đối ngoại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời cũng chỉ ra một số điểm thay đổi chủ yếu trong quan hệ của Việt Nam với các nước ASEAN Tuy vậy, các công trình này mới chỉ tiếp cận một số mặt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN, chưa lý giải sâu sắc

Trang 9

nguyên nhân của sự thay đổi đó Mặt khácnhững nhận định, đánh giá của

họ còn mang biểu hiện phiến diện, chủ quan phụ thuộc vào hệ tư tưởng của mỗi tác giả Trong số các công trình liên quan đến đề tài ở ngoài nước, đáng chú ý hơn cả là sự xuất hiện các bài viết và tác phẩm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc bàn về chính sách đối ngoại Việt Nam như:

Bàn về mở cửa đối ngoại và chính sách ngoại giao của Việt Nam của Lưu Man Na - Triệu Thụ Hải (Học báo Học viện Dân tộc Tây Nam, số 5/1997);

Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam từ khi đổi mới của Vương Quốc Bình (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1/2006);

Các công trình này đánh giá cao hiệu quả hoạt động đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới, trong đó cũng chỉ ra một số thành tựu và hạn chế trong quan hệ Việt Nam - ASEAN nhưng chưa phân tích cụ thể vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam

2.2 Những nghiên cứu của tác giả trong nước:

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, thì các nhà khoa học cũng chú ý nhiều hơn đến công tác nghiên cứu về quốc tế và quan hệ đối ngoại Đây không chỉ là hoạt động mang tính chất lý luận mà góp phần quan trọng vào việc

mô tả và cải tạo thực tiễn quan hệ đối ngoại của đất nước thông qua việc hoạch định chính sách Tuy giới hạn và nội dung của các đề tài nghiên cứu khá phong phú nhưng có thể gộp lại theo nhóm:

Nhóm 1: Các công trình phân tích quá trình hợp tác và liên kết ASEAN, trong đó quan hệ Việt Nam - ASEAN được xem xét với mức độ khác nhau, được đề cập trên nhiều lĩnh vực Trong đó, không ít công trình

đã chỉ ra những thuận lợi và khó khăn, vai trò và những đóng góp của Việt Nam trong liên kết khu vực, vấn đề Việt Nam có thể tận dụng lợi thế của

Trang 10

ASEAN đối với việc thực hiện các mục tiêu chính sách đối ngoại của mình như:

ASEAN những vấn đề và xu hướng (Viện nghiên cứu Đông Nan Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997);

Từ ASEAN 7 đến ASEAN 10: Một Đông Nam Á thống nhất và thách thức (Nguyễn Quốc Hùng, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998);

Từ ASEAN 7 tới ASEAN 10 - Cơ hội hay là thách thức (Nguyễn Thu

Mỹ, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/1997);

Thành tựu, thách thức và triển vọng giao lưu, phát triển văn hoá thông tin các nước ASEAN (Lê Thanh Bình, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, 2/2001);

Thu hẹp khoảng cách phát triển- Thách thức mới trong liên kết ASEAN (Đào Việt Hưng, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, 6/2002);

Hợp tác và liên kết ASEAN trong những thập niên qua: Thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm (Trần Khánh, Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, 6/2003);

Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hoá (Trần Khánh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002);

Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷXXI (Phạm Đức Thành chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)

Các nghiên cứu này đề cập nhiều đến mối liên kết của các nước ASEAN nhưng không nêu rõ vai trò của các chính Đảng cầm quyền ở đó đặc biệt là trong mối liên hệ về kinh tế

Nhóm 2: Các công trình đề cập quan hệ Việt Nam- ASEAN trong nghiên cứu tổng thể về chính sách và hoạt động đối ngoại Việt Nam Các công trình này dành một dung lượng nhất định phân tích vai trò của ASEAN trong hoạt động đối ngoại Việt Nam, nêu một số thành tựu và sự

Trang 11

chuyển biến cơ bản trong quan hệ Việt Nam - ASEAN Đó là các công trình:

Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000 (Nguyễn Đình Bin, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002);

Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới (1975-2002) (Vũ Dương Huân chủ biên, Học viện Quan hệ Quốc tế, 2002);

Quá trình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam (Trình Mưu, Nguyễn Thế Lực, Nguyễn Hoàng Giáp đồng chủ biên, Nxb.Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005);

Hai mươi năm đổi mới trong lĩnh vực đối ngoại (Vũ Khoan, trong “Việt Nam 20 năm đổi mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006);

Bước phát triển tư duy đối ngoại của Đảng trong quan hệ các nước láng giềng và khu vực thời kỳ đổi mới (Nguyễn Thị Mai Hoa, Tạp chí Lịch sử Đảng số 5-2005);

Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế (Vũ Như Khôi, Nxb.Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2006);

Chủ động hội nhập kinh tế, những thành tựu quan trọng (Lương Văn

Tự, trong Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006)

Tổng kết chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta qua 20 năm đổi mới (Vụ Chính sách đối ngoại, Bộ Ngoại giao); Tổng kết chính sách và quan hệ của Đảng và Nhànước ta với khu vực Đông Nam Á từ 1986 đến nay (Vụ châu Á 2, Bộ Ngoại giao);

Tổng kết chính sách hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta và quá trình hội nhập quốc tế của ta từ 1986 đến nay (Vụ Hợp tác kinh tế đa phương);

Trang 12

Các công trình kể trên đề cập một cách khái quát công tác đối ngoại chứ không chỉ rõ hoạt động đối ngoại kinh tế của Đảng ta

Nhóm 3: Các công trình trực tiếp nghiên cứu quan hệ Việt Nam - ASEAN và sự tham gia của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác, liên kết ASEAN kinh tế rõ nét nhưng chưa phân tích sâu về vai trò, tác động trong

sự thay đổi nhận thức của Đảng Cộng sản ở đó Có thể thấy rõ điều này qua một số công trình, bài viết như:

Tiến trình mở rộng quan hệ Việt Nam - ASEAN (Đinh Xuân Lý, Tạp chí Cộng sản, số 15/1999);

Vai trò của ASEAN trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam (Hoa Hữu Lân, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, 3/2000);

Việt Nam trong tiến trình hội nhập vào hệ thống thương mại nội bộASEAN (Từ Thanh Thuỷ, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, 2/2001);

Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN vào Việt Nam dưới tác động của tiến trình AFTA (Nguyễn Bích Hường, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới, 5/2003);

Việt Nam - ASEAN quan hệ đa phương và song phương (Vũ Dương Ninh, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004);

Việt Nam, vai trò và những đóng góp đối với ASEAN (Trần Đức Cường, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, 5/2004);

Hướng tới cộng đồng an ninh ASEAN: Triển vọng và vai trò của Việt Nam (Luận Thùy Dương, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, 3/2005);

40 năm hợp tác, liên kết ASEAN và đóng góp của Việt Nam (Nguyễn Hoàng, Tạp chí Lý luận chính trị, 8/2007);

Trang 13

Hợp tác liên kết ASEAN hiện nay và sự tham gia của Việt Nam (Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Hữu Cát, Nguyễn Thị Quế, Nxb.Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2008);…

Chưa kể đến các công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa Việt Nam với từng nước trong khối ASEAN Trong các tài liệu kể trên, tác giả chủ yếu quan tâm tới một số công trình quan trọng có đề cập trực tiếp tới vấn đề nghiên cứu của luận văn này:

Nguyễn Vũ Tùng, Chính sách đối ngoại Việt Nam, tập 2:1975-2006,

Nxb Thế giới, Hà Nội, 2007 Đây là 1 công trình nghiên cứu công phu với

sự tập hợp hàng chục bài viết của nhiều nhà nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Việt Nam với nhiều quốc gia: Mỹ, Trung Quốc…và ở nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, an ninh….Cuốn sách này đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú, đa dạng với những phân tích chuyên sâu về lý luận quan hệ ngoại giao và cụ thể hóa các lĩnh vực Ngoại giao của Việt theo từng giai đoạn lịch sử

Vũ Dương Huân (cb), Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi

mới (1975-2002), Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 2001 (Đặc biệt với

bài viết : Về đổi mới tư duy đối ngoại của Việt Nam) Tác giả đã chú ý, phân tích để làm rõ sự cần thiết để của việcgắn bó giữa tư duy đối ngoại phục vụ cho mục tiêu thực hiện sự nghiệp Đổi mới kể từ sau khi nước ta thống nhất và đánh giá những mặt ảnh hưởng của nó tới sự nghiệp Đổi mới của nước nhà

Đỗ Đức Định, Kinh tế đối ngoại- Xu hướng điều chỉnh một số nước

Châu Á trong bối cảnh toàn cầu hoá và tự do hoá, Nxb.Thế giới, Hà Nội,

2003.Nhà nghiên cứu đánh giá chuyên khảo về xu hướng chiến lược của kinh tế đối ngoại của các nước quốc gia trong khu vực châu Á trong xu thế hội nhập toàn cầu

Trang 14

Nguyễn Thị Quế, Việt Nam gia nhập ASEAN từ năm 1995 đến nay:

Thành tựu, vấn đề đặt ra và triển vọng, Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên

cứu đề tài khoa học cấp Bộ năm 2010, Học viện Chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Đây là các công trình công phu với những nghiên cứu toàn diện về mối quan hệ Việt Nam- ASEAN nhìn từ góc độ chính trị

Và một số bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng - Nhà nước,

Bộ ngoại giao, Cục đối ngoại, Bộ quốc phòng, Viện quan hệ quốc tế đề cập đến vấn đề này gồm những bài :

“Cục diện thế giới, vận nước” của thứ trưởng Bộ ngoại giao Trần Quang Cơ, đăng trong Tạp chí quan hệ quốc tế 1/1992 và “Thế giới sau chiến tranh lạnh”, “quan hệ Việt Nam và các nước Châu Á - Thái Bình Dương” tham luận tại Hội nghị về những thách thức đối với công cuộc tái thiết của Việt Nam và các vấn đề trong nước và quốc tế do trung tâm Đông

- Tây tổ chức tại Mỹ năm 1992

Nhìn chung, với số lượng lớn và nội dung phong phú, tất cả các công trình, bài viết nêu trên đã phác họa một cách tổng quát tiến trình hội nhập khuvực của Việt Nam Trong đó có một số công trình đã đi sâu luận bàn về một hoặc nhiều khía cạnh của quan hệ Việt Nam - ASEAN từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN đến nay Đây thực sự là những tài liệu hết sức quan trọng, quý giá và hữu ích để tác giả có thể khai thác, kế thừa và tham khảo trong quá trình nghiên cứu về nội dung của luận văn này Tuy nhiên, chưa

có một công trình nghiên cứu sâu vì sao có sự thay đổi trong mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN như thế Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới mối quan hệ này nhưng tác giả cho rằng nguyên nhân then chốt, chính là sự nhận thức của Đảng cầm quyền Vì vậy luận văn này tập trung đi sâu, làm rõ sự chuyển biến trong nhận thức của Đảng ta với các

Trang 15

nước ASEAN trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2010), một cách toàn diện có

hệ thống từ đường lối, chủ trương chính sách đến kết quả thực hiện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Những chủ trương, chính sách

và hoạt động hợp tác thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam với các nước ASEAN về phương diện kinh tế

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu được quan tâm trong luận văn là trên phương

diệnngoại giao kinh tế, những văn bản hợp tác và các thỏa thuận hợp tác đã đạt được giữa Việt Nam và các nước ASEAN Thời gian nghiên cứu được xác định là từ năm 1986-2010, đây là thời kì quan trọng trong việc hình thành, phát triển và từng bước bổ sung nhận thức,chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và ASEAN Năm 1986, Đại hội VI của Đảng đưa

ra quyết sách quan trọng mở cửa thị trường với phương châm “Việt Nam là bạn của tất cả các nước”-tạo tiền đề căn bản cho việc tác mở rộng hợp tác kinh tế với bên ngoài mà trước tiên là hợp tác khu vực Năm 2010, trải qua

15 năm chính thức hợp tác, quan hệ Việt Nam-ASEAN về phương diện kinh tế đã có những bước tiến rõ rệt Đây cũng là năm Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN ghi dấu ấn đậm nét với các quốc gia khác nhằm đạt được những thỏa thuận hợp tác kinh tế quan trọng

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trong xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa ngày càng gia tăng mạnh

mẽ của nền kinh tế thế giới hiện nay, với các quốc gia nói chung, Việt Nam nói riêng, việc mở rộng quan hệ kinh tế song phương và đa phương là một tất yếu khách quan Quá trình này đòi hỏi tất cả các nước phải xây dựng

Trang 16

một chính sách đối ngoại kinh tế phù hợp trong từng thời kỳ phát triển Việt Nam cũng không ngoại lệ Nếu thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại đúng đắn, phù hợp không chỉ tăng cường tiềm lực kinh tế của dân tộc mà rút ngắn sự chênh lệch về trình độ kinh tế với các quốc gia phát triển Nắm bắt được xu thế đó Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra chủ trương tăng cường hợp tác kinh tế với các quốc gia, tổ chức quốc tế và tổ chức khu vực Tuy nhiên, do những mối quan hệ trong lịch sử, quan điểm chính trị khác biệt trong từng giai đoạn mà chủ trương, đường lối đối ngoại kinh tế của Đảng thay đổi nhằm phù hợp với thực tại khách quan Trong suốt thời kì từ năm 1986 đến năm 2010, nhận ra vai trò quan trọng của mối liên kết kinh

tế với khu vực, Đảng ta đã nhận thức lại vai trò của các nước ASEAN Đây

là một bước tiến lớn trong tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu một sự trưởng thành vượt bậc trong đường lối kinh tế đối ngoại của Đảng

ta Với luận văn là : “Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan

hệ kinh tế với các nước ASEAN từ năm 1986-2010”, tác giả muốn từng bước làm rõ sự chuyển biến đó cũng như quá trình hình thành, thực hiện những đường lối, chiến lược cho quan hệ kinh tế với các nước trong khối ASEAN cũng như việc thông qua ASEAN hợp tác với các nước lớn

Mục đích mà luận văn hướng đến là khẳng định sự đúng đắn, phù hợp

và cần thiết trong sự thay đổi nhận thức của Đảng trong quan hệ kinh tế với các nước khu vực ASEAN trong thời kì từ năm 1986 đến năm 2010 Nhờ

có sự chuyển biến này đã đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển trong xu hướng đẩy mạnh hợp tác kinh tế khu vực Trong quá trình thay đổi nhận thức ấy, có không ít hạn chế nhưng Đảng ta đã dần hoàn thiện mình

để từng bước củng cố và chứng tỏ vai trò của Đảng cầm quyền, tiếp tục lãnh đạo đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu:

Trang 17

Nguồn tài liệu

Tác giả dựa trên các nguồn tư liệu chính sau đây:

-Một số sách kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh và một số sách lý luận của các nhà lãnh đạo Đảng - Nhà nước Việt Nam

-Văn kiện, Nghị quyết của các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, đặc biệt chú trọng khai thác các văn kiện nghị quyết của Trung Ương và Bộ Chính trị giữa 4 nhiệm kỳ Đại hội VI - VII - VIII - IX- X(nhất là Nghị quyết lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa

VI 27/3/1990, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã ký) với một số sách, bài nói, bài viết phối hợp nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

-Một số văn bản pháp luật như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987; Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài tại Việt Nam 1988; Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992

-Kế thừa những tư liệu qua các công trình của một số tác giả đã công

bố, tác giả chú ý khai thác từ nguồn tư liệu của thông tấn xã Việt Nam, các trang báo điện tử (Tạp chí Cộng sản, Báo điện tử Đảng Cộng sản…) quanh các bài viết về ngoại giao Việt Nam, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội một

số nước Đông Nam Á, các nước láng giềng, quan hệ Việt Nam- ASEAN, chủ trương của Đảng và Nhà nước xung quanh vấn đề ngoại giao với ASEAN

Thông qua nguồn sử liệu trực tiếp là các văn bản nghị quyết, thông tư được ghi trong văn kiện Đảng, các cam kết do những nhà lãnh đạo cấp cao

ký kết với ASEAN Thông qua nguồn sử liệu gián tiếp là các bài viết, công

Trang 18

trình nghiên cứu về hợp tác kinh tế của nước ta với ASEAN dưới sự chỉ đạo của Đảng

Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như: lịch sử, mô tả, phân tích, so sánh với chính sách đối ngoại mở rộng của các nước lớn với ASEAN

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành vàliên ngành, chủ yếu là:

+ Phương pháp nghiên cứu kết hợp lịch sử với lôgic: Vận dụng quan điểm lịch sử để nêu rõ tính kế thừa, đồng thời làm nổi bật những điều chỉnh trong quan điểm chính sách của Việt Nam đối với các nước ASEAN trong các giai đoạn khác nhau của thời kỳ đổi mới Mặt khác, nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam - ASEAN được đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể sau chiến tranh lạnh

+ Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Nhìn nhận 1 cách toàn diện về hệ thống các quan điểm đối ngoại, hệ thống các khái niệm trong nhận định tình hình khu vực và thế giới, hệ thống về đường lối chính sách đối ngoại của nước ta thời kỳ Đổi mới, đặc biệt là từ năm 1991 đến nay

+ Phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế: Đặt quan hệ của Việt Nam

- ASEAN và quá trình hội nhập của Việt Nam với ASEAN trong những xu thế chung của quan hệ quốc tế, để từ đó phân tích các nhân tố tác động vào quá trình vận động của quan hệ Việt Nam - ASEAN đặc biệt nhấn mạnh ở yếu tố tính Đảng

6 Kết cấu nội dung luận văn:

Chương 1: Nhận thức của Đảng về hoạt động đối ngoại kinh tế từ năm 1986 đến năm 1995

Trang 19

Chương 2: Nhận thức của Đảng về quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước ASEAN từ năm 1986-2010

Chương 3:Nhận xét và bài học kinh nghiệm

Chương 1 NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI KINH TẾ

TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1995 1.1Nhận thức của Đảng về hoạt động đối ngoại kinh tế trước năm 1986 1.1.1 Nhận thức về xu thế chung của thế giới

Nhận thức, đánh giá về thế giới luôn luôn là một trong những căn cứ

để Đảng cầm quyền và chính phủ của mỗi quốc gia vạch ra đường lối phát triển đất nước trong từng thời kỳ, lịch sử Căn cứ càng xác thực bao nhiêu thì nội dung và phương hướng của đường lối sẽ càng đúng đắn, phù hợp bấy nhiêu; ngược lại, căn cứ phiến diện, cực đoan có thể gây ra hậu quả khôn lường khi bước vào thực tiễn Bởi vậy, nhận thức, đánh giá đúng đắn, kịp thời về tình hình thế giới trở thành yêu cầu hàng đầu đối với các thiết chế lãnh đạo, cầm quyền Vì lẽ đó, trong mỗi văn kiện Đại hội Đảng luôn chú trọng tới tình hình chung của thế giới để đưa ra đường lối phù hợp Thông qua một số văn bản (Nghị quyết số 13/NQ-TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 20/8/1988, Nghị quyết 13-tháng 3/1990 ) quan điểm của Đảng

về tình hình thế giớigiai đoạn trước năm 1986 có thể tóm lại ở mấy điểm sau:

Từ đầu thập kỷ 70-80 của thế kỷ XX, xu thế liên kết, hợp tác giữa các quốc gia hoặc thành lập các tổ chức khu vực đã manh nha xuất hiện và có

xu hướng ngày càng phát triển thể hiện ở sự ra đời của các tổ chức quốc tế mang tính khu vực không chỉ trong lĩnh vực thương mại mà còn trong chính trị, pháp lý, tiền tệ như: IMF, UN, EU Sự tăng nhanh số lượng

Trang 20

thành viên của Liên hợp quốc từ 51 thành viên năm 1945 đến năm 1960 là

100 thành viên đã góp phần minh chứng cho triển vọng phát triển của các

tổ chức hợp tác này Tuy nhiên trong bối cảnh chiến tranh lạnh, thế giới chia làm hai cực: xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, đứng đầu mỗi cực

là Liên Xô và Mỹ Để củng cố sức mạnh của mình, cả hai cường quốc ra sức thành lập các tổ chức quân sự, kinh tế nhằm phô trương tầm ảnh hưởng

và lôi kéo các nước khác vào phạm vi ảnh hưởng của mình nên xuất hiện nhiều tổ chức, liên minh mang tính cục bộ như NATO, SEV Sự khác biệt

về ý thức hệ đã làm xuất hiện cuộc chạy đua vũ trang,quân sự gay gắt giữa hai cực Liên Xô- Mỹ, dẫn tới cuộc đối đầu Đông- Tây Một số nơi trở thành bàn cờ tranh giành tầm ảnh hưởng hoặc chứng tỏ khả năng quân sự to lớn của 2 cường quốc Liên Xô- Mỹ như Đông Dương, Triều Tiên

Từ thập kỷ 70, thế kỷ XX, sự tiến bộ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã thúc đẩy lực lượng sản xuất thế giới phát triển mạnh; Nhật Bản và Tây Âu vươn lên trở thành hai trung tâm lớn của kinh tế thế giới; xu thế chạy đua phát triển kinh tế đã dẫn đến cục diện hoà hoãn giữa các nước lớn Năm 1975, với thắng lợi của cách mạng Việt Nam

và các nước Đông Dương, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã mở rộng phạm vi, phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh Đảng ta nhận định: Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã và đang lớn mạnh không ngừng; phong trào độc lập dân tộc và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân đang trên đà phát triển mãnh liệt Tuy nhiên, từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế – xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện sự trì trệ và mất ổn định

1.1.2 Nhận thức về các nước ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 sau khi Bộ trưởng Bộ ngoại giao các nước Indonesia, Malaysia,

Trang 21

Philippines, Singapore và Thailand ký bản tuyên bố ASEAN (còn gọi là Tuyên bố Bangkok).Từ 5 thành viên ban đầu số lượng thành viên tham gia

tổ chức này dần gia tăng cho tới khi ASEAN trở thành một tổ chức có sự tham gia đầy đủ của các thành viên thì ASEAN mới thực sự là một liên kết khu vực hoàn chỉnh Nếu hiểu theo nghĩa liên kết khu vực “là một trong nhiều hình thức liên kết, liên minh, tập hợp lực lượng đã và đang tồn tại trong lịch sử nhân loại Đây là kiểu liên kết đa phương giữa các nước, nhóm nước, dựa trên cơ sở gần gũi về mặt địa lý và thường được bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế”[95]thì Việt Nam có một sự đóng góp vai trò không nhỏ khi tích cực ủng hộ việc kết nạp Lào, Campuchia vào tổ chức này Theo khái niệm này, các quốc gia có vị trí địa lý gần gũi nhau, tuy khác nhau về thể chế chính trị, về trình độ phát triển kinh tế, về văn hóa, tôn giáo,… song đều có một nhu cầu chung là hợp tác để tăng cường thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế, thì có thể liên kết với nhau tạo nên một thực thể kinh tế

- chính trị - xã hội mới Và cho đến nay sự phát triển các mô hình liên kết ở phạm vì không gian khu vực đang thể hiện đó là một quy mô thích hợp đối với việc điều tiết nền kinh tế thế giới

Trong suốt hơn 2 thập kỷ đầu tồn tại, ASEAN chủ yếu là một cơ chế hợp tác khu vực về chính trị-ngoại giao nhằm đối phó với những thách thức đối với an ninh quốc gia của các thành viên Một số học giả nhìn nhận ASEAN như là một định chế/chế độ quốc tế (international regime) về chính trị-an ninh ở khu vực Đông Nam Á[86] Nói một cách khác, đây là dạng thức ban đầu của hội nhập chính trị-an ninh Sau giai đoạn khởi đầu chủ yếu bằng hội nhập sơ khai về chính trị-an ninh, từ cuối thập niên 1970 trở

đi, ASEAN mới bắt đầu triển khai hợp tác về kinh tế và chỉ từ gần giữa thập niên 1990, ASEAN mới thực sự bắt đầu tiến trình hội nhập kinh tế

Trang 22

Hội nhập văn hóa-xã hội phải đợi đến khi ASEAN thông qua Hiến chương năm 2008 mới được triển khai

Từ khi thành lập năm 1967 ASEAN đã đặt mục tiêu “thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” là ưu tiên hợp tác, Tuyên bố Bangkok nêu mục đích các quốc gia thành viên “sẽ thông qua các nỗ lực chung, tích cực hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt được các mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa…”.Sau năm 1975, Mỹ rút quân khỏi Đông Nam Á, tình hình khu vực Đông Nam Á cũng có những chuyển biến mới, khối quân sự SEATO tan rã; tháng 2-1976, các nước ASEAN ký hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali), mở ra cục diện hoà bình, hợp tác trong khu vực

Tuy ra đời từ năm 1967, nhưng hợp tác kinh tế của Hiệp hội chỉ thực

sự được khởi động từ khi ASEAN tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ nhất (tháng 11/1975) chuẩn bị cho Hội nghị Cấp cao ASEAN đầu tiên tháng 2/1976 Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất (Ba-li, In-đô-nê-xia, ngày 23-24/2/1976), các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN I (còn gọi là Tuyên bố Ba-li I) qua đó lần đầu tiên đề cập cụ thể đến các mục tiêu chung của hợp tác kinh tế ASEAN, nêu rằng sẽ “phối hợp một cách có hiệu quả hơn để tăng cường hợp tác trong nông nghiệp và công nghiệp; mở rộng thương mại, kể cả các vấn đề về thương mại hàng hóa quốc tế; cải thiện giao thông vận tại và bưu điện-viễn thông và nâng cao đời sống nhân dân[100]” ASEAN là một tổ chức được thành lập vì mục tiêu chính trị nhưng lại hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực kinh tế và được thế giới công nhận như một tổ chức khu vực hoạt động hiệu quả trong nội khối cũng như việc mở rộng quan hệ với đối tác bên

ngoài

Trang 23

Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN vẫn có nhiều điểm bất đồng Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IV nêu rõ chỉ đạo của Đảng:

“Kiên quyết cùng các nước anh em và nhân dân tiến bộ trên thế giới tiếp tục chung sức đấu tranh chống chính sách xâm lược và gây chiến của bọn

đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, góp phần tích cực vào sự nghiệp gìn giữ

và củng cố hòa bình trên thế giới chống mọi khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa và mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tư sản và tiểu tư sản, giữ vững độc lập, tự chủ, ra sức làm tròn nhiệm vụ đối với dân tộc và làm tốt nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân các nước.”[19] Quan điểm trên của Đảng cho thấy rõ sự ảnh hưởng của ý thức hệ nặng nề, dù chiến tranh đã kết thúc nhưng trong suốt thời gian này, Đảng ta chủ trương “Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn luôn là hòn đá tảng của chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”[10,114] còn Mỹ là kẻ thù,những đối tượng thân Mỹ có nền kinh tế tư bản, hoặc tồn tại yếu tố tư sản thì không hợp tác Chính điều này, đã trở thành lực cản trong con đường hội nhập giữa Việt Nam và các nước trong khu vực ASEAN Giống như lời nhận xét của cựu đại sứ Việt Nam tại Indonesia, ông Trình Xuân Lãng đã viết: “Đại thắng mùa xuân 1975 chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình độc lập hoàn toàn và thống nhất toàn vẹn cho nhân dân ta Nó đem lại những thay đổi căn bản trong tình hình Đông Nam Á Và lợi ích của các nước trong khu vực và của nhiều nước có liên quan cũng thay đổi Nguyện vọng chung của các nước trong khu vực là muốn hòa bình, ổn định để phát triển

Các nước ASEAN trước đây đã dính líu vào các cuộc chiến tranh của

Mỹ nên sau khi ta chiến thắng rất muốn có quan hệ tốt với ta; họ sợ bị ta trừng phạt và trả thù Mặt khác, cho đến nhiều năm sau chiến tranh ta vẫn nhìn tình hình khu vực theo cách nhìn cũ Đó là, ta vẫn coi Mỹ là kẻ

Trang 24

thù trực tiếp và nguy hiểm đang lăm le thi hành kế hoạch hậu chiến chống

ta và không quan tâm đến việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ Bên cạnh

đó, đối với các nước ASEAN ta vẫn cho đó là khối SEATO trá hình, các nước ASEAN là tay sai của Mỹ bảo vệ lợi ích của Mỹ, ta quyết tâm “củng

cố tiền đồn chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á”[19,910] nên mặc dù đã đưa

ra chính sách bốn điểm và đã bình thường hóa với họ nhưng ta vẫn dè dặt trong quan hệ với họ”[104,128] Nhất là sau khi Việt Nam kí hiệp ước Hữu nghị và hợp tác với Liên Xô và tiếp đó đưa quân vào Campuchia lật đổ chế

độ Polpot nhiều nước ASEAN đã chuyển sang đối đầu quyết liệt với ta về chính trị và ngoại giao Các nước trong khu vực ASEAN coi Việt Nam trở thành ngòi nổ chiến tranh, đe dọa đến hòa bình và an ninh khu vực Có thể nói, vấn đề Campuchia là một lực cản trong suốt quá trình đối ngoại của Việt Nam và các nước trong ASEAN giai đoạn 1979-1985 Tình hình Đông Nam Á chuyển sang giai đoạn đối đầu gay gắt của hai khối tư bản chủ nghĩa-Đông Dương Chính sách ngoại giao thiếu tính linh hoạt trong thời điểm này của Đảng ta đã gây nên những khó khăn nhất định trong quá trình hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực, trở thành yếu tố ảnh hưởng gián tiếp tới cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng của nước ta trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX

Khủng hoảng của các nước xã hội chủ nghĩa đã chứng tỏ sự suy yếu của Liên Xô và làm tan rã trật tự 2 cực được xác lập từ hội nghị I-an-ta (năm 1945) Trên thế giới xu thế đối đầu chuyển dần sang xu thế đối thoại với việc Liên Xô

và Mỹ chuyển từ chạy đua vũ trang sang chạy đua về kinh tế Các nước trên thế giới ra sức cải tổ nền kinh tế để đưa cuộc cách mạng công nghiệp mới làm động lực cho việc phát triển kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương đang trở thành khu vực phát triển kinh tế năng động nhất thế giới Các nước Đông Nam Á từng

Trang 25

bước đi vào xu hướng hòa bình, độc lập và trung lập, đây là điều kiện khách quan thuận lợi để Việt Nam cải thiện quan hệ với các nước ASEAN

Trong suốt thời kì năm 1986 đến năm 2010, quan hệ kinh tế Việt Nam- ASEAN có 2 chặng đường rõ rệt, từ một nước nằm ngoài khối ASEAN , Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN vào năm

1995 Kể từ đó về sau, quan hệhợp tác giữa Việt Nam và các nước nội khối trở nên sâu rộng hơn và đặc biệt, thông qua ASEAN , Việt Nam đã có được những thỏa thuận hợp tác với các nước ngoài khối như Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản Có được thành công này không thể không nhắc đến những chủ trương, chỉ đạo kịp thời của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.2 Giai đoạn 1986-1995

1.2.1 Những yếu tố khách quan

Chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế hoà hoãn trong quan hệ quốc tế trở thành xu thế chủ đạo, cuộc chạy đua về kinh tế giữa các nước trên thế giới đang thay thế cho cuộc chạy đua vũ trang Tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh đường lối, tập trung sức phát triển kinh tế - xã hội, cố gắng ổn định chính trị, củng cố sức mạnh quốc gia, đồng thời mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, tăng cường hợp tác quốc tế nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước

Kinh tế trở thành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia, nhằm đảm bảo vai trò, vị trí của quốc gia đó trong đời sống quốc

tế Nước Mỹ - cường quốc kinh tế số một thế giới những năm sau Chiến tranh lạnh cũng buộc phải giảm bớt những cam kết với bên ngoài để tập trung sức mạnh thực hiện mục tiêu chấn hưng kinh tế ở trong nước

Xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ và trở thành phổ biến Điểm nổi bật của nền kinh tế thế giới những năm gần đây là xu hướng liên kết kinh tế khu vực Xu hướng này

Trang 26

nảy sinh từ cuộc chạy đua và cạnh tranh kinh tế gay gắt mang tính toàn cầu cũng như từ sự tập hợp lực lượng trong quá trình hình thành trật tự thế giới thời kỳ sau Chiến tranh lạnh Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển đã đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế; mở rộng và tăng cường liên kết, hợp tác với các nước phát triển để tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh.Các nước đổi mới tư duy về quan niệm sức mạnh, vị thế quốc gia, thay thế cách đánh giá cũ, chủ yếu dựa vào thế mạnh quân sự bằng các tiêu chí tổng hợp, trong đó sức mạnh kinh tế được đặt ở vị trí quan trọng hàng đầu Từ sự thay đổi tư duy, các nước lớn phải điều chỉnh chính sách: giảm chạy đua vũ trang, giảm chi phí quân sự quốc phòng, giảm cam kết quân sự ở bên ngoài, dàn xếp vấn đề khu vực và đẩy mạnh cải thiện quan hệ với nhau tập trung củng cố nội bộ, phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật nhằm tăng cường sức mạnh quốc gia Các nước láng giềng đẩy mạnh hợp tác và liên kết khu vực, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học -công nghệ đang diễn ra mạnh

mẽ và cùng với nó là xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới mà lợi thế thuộc về các nước công nghiệp phát triển, các trung tâm kinh tế tư bản chủ nghĩa Các nước vừa và nhỏ có nhu cầu hợp lực với nhau để đối phó có hiệu quả trước các chính sách bảo vệ mậu dịch, chính sách can thiệp hoặc gây sức ép về kinh tế các trung tâm kinh tế thế giới Đây chính là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hợp tác, liên kết, nhất thể hoá nền kinh tế khu vực

Sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu nhất là ở Liên

Xô, làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bị khủng hoảng sâu sắc về lý luận, đường lối, tổ chức và phương thức hoạt động Trong các

Trang 27

nước tư bản chủ nghĩa, các Đảng cộng sản và công nhân phải đấu tranh trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn Chủ nghĩa đế quốc và giai cấp tư sản ra sức tấn công vào các Đảng cộng sản và phong trào cánh tả, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng Một số Đảng khủng hoảng về tư tưởng, đường lối,tan rã về tổ chức và dần dần mất chính quyền Nhân tố này kích thích Đảng Cộng sản Việt Nam phải tự đấu tranh để giữ vững vai trò lãnh đạo của mình

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Nam Á, từ cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 là một khu vực phát triển năng động, nơi tập trung các nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới Các nước công nghiệp mới (NICs) và ASEAN đã luôn giữ được tỷ lệ tăng trưởng 6 - 8% Ở Đông Nam Á, cả Mỹ và Nga đều bắt đầu giảm thiểu sự hiện diện quân sự của mình trong khu vực Việc này đã tạo ra một khoảng trống quyền lực Thêm vào đó, nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh nhất thế giới, với tỷ lệ tăng trưởng lên tới 9,5% trong suốt thời kỳ từ 1978 đến 1996 Đông Á trở thành khu vực có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu trên thế giới; một số quốc gia và vùng lãnh thổ vươn lên trở thành những “con rồng”, “con hổ mới” về kinh tế.Những cố gắng nhằm đẩy mạnh vai trò cả về chính trị, kinh

tế, quân sự của một vài cường quốc châu Á đã làm tăng mối lo ngại truyền trống trong các nước ASEAN và các nước Đông Nam Á khác về một nguy

cơ thật sự đối với khu vực Đa số các nước trong khu vực đều có nguyện

vọng cùng tồn tại hòa bình, hữu nghị, hợp tác phát triển, đều đặt ưu tiên hàng đầu cho phát triển kinh tế và thực hiện chính sách kinh tế và đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu hòa bình, phát triển này Đối với các nước Đông Nam Á, Chiến tranh lạnh kết thúc cũng là thời điểm có những điều chỉnh khá mạnh mẽ về đối ngoại Sự điều chỉnh quan trọng và dễ nhận thấy nhất

là sự cải thiện quan hệ của các nước ASEAN với các nước Đông Dương

Trang 28

trong và sau tiến trình giải quyết vấn đề Campuchia Nhằm tăng cường tiềm lực cạnh tranh cho ASEAN trước trào lưu khu vực hóa đang phát triển trên thế giới, các nước ASEAN chú trọng mở rộng tổ chức sang Đông Dương Đây thực sự trở thành một khuynh hướng có ý nghĩa chủ đạo chi phối đời sống chính trị khu vực từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước trở lại đây Song song với xu hướng tăng cường hợp tác khu vực, các nước ASEAN điều chỉnh lại quan hệ của họ với các đối tác truyền thống Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu Tiếp tục khẳng định ưu tiên phát triển quan hệ với các nước kể trên, song các nước ASEAN tích cực giành thế chủ động và độc lập hơn trong các quyết sách của mình Sự chuyển biến này phản ánh những thay đổi về so sánh lực lượng của Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu ở Đông Nam Á Mặt khác, bản thân các nước ASEAN cũng đang trở thành một lực lượng có uy tín ở Châu Á- Thái Bình Dương và trên thế giới

Như vậy, Chiến tranh lạnh kết thúc đã đưa ASEAN nói chung, Việt Nam nói riêng bước vào một giai đoạn phát triển mới của quá trình hợp tác

và liên kết khu vực Quá trình này diễn ra dưới tác động của hàng loạt các nhân tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài Trong số những nhân tố quốc tế, nổi bật lên hàng đầu đó là những thay đổi của cục diện chính trị thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa, sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn đối với khu vực Bên cạnh đó, những chuyển biến từ bên trong ASEAN và khu vực Đông Nam Á, như vị trí chiến lược của khu vực, những nền tảng hợp tác liên kết mà ASEAN đã tạo dựng trong thời kỳ 1967-1991 có ảnh hưởng rất lớn đối với viễn cảnh hợp tác, liên kết sau Chiến tranh lạnh Sự điều chỉnh linh hoạt chính sách đối ngoại của các nước khu vực trên hai phương diện chủ yếu liên quan chặt chẽ và bổ sung lẫn nhau: tăng cường hợp tác khu vực và mở rộng quan hệ theo hướng đa dạng hóa - đa phương hóa với bên

Trang 29

ngoài khu vực đã thực sự góp phần thúc đẩy quan trọng đối với tiến trình hợp tác liên kết ASEAN Sự tác động của các nhân tố nêu trên mang tính đan xen, đa chiều và phức tạp đối với chiều hướng vận động của hợp tác liên kết khu vực và làm thay đổi những quyết sách đối ngoại quan trọng của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam

1.2.2 Những yếu tố chủ quan và sách lược

Sau ngày giải phóng đất nước (30/4/1975), nhân dân Việt Nam đứng trước một cơ hội để phát triển kinh tế vì có thuận lợi cơ bản là tiềm năng kinh tế của hai miền có thể bổ sung cho nhau và nhân dân được lao động, sản xuất trong điều kiện hòa bình Tuy nhiên, do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp kém lại

bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cùng với những vấp váp, sai lầm trong các chính sách kinh tế nên sau 10 năm thống nhất đất nước, năm 1985, kinh tế Việt Nam

đã hoàn toàn rơi vào khủng hoảng với vòng xoáy của lạm phát, biểu hiện ở chỗ kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất không có phát triển Nếu tính chung từ năm 1976 đến năm 1985 tổng sản phẩm xã hội tăng 50%,tức là bình quân mỗi năm trong giai đoạn 1976 – 1985 chỉ tăng 4,6% Sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nên chi phí vật chất cao và không ngừng tăng lên Năm 1980, chi phí vật chất chiếm 44,1%, do vậy thu nhập quốc dân hai kế hoạch 5 năm tăng 38.8% Sản lượng nông nghiệp làm ra không đủ ăn mà phải dựa vào nguồn viện trợ bên ngoài ngày càng lớn Năm 1985, dân số cả nước gần 59,9 triệu người,tăng 25,7% so với năm 1975,trung bình mỗi năm tăng 2,3%.Như thế để đảm bảo đầy

đủ việc làm và thu nhập của dân cư thì ít nhất nền kinh tế phải tăng 7% mỗi năm nhưng thu nhập quốc dân sản xuất trong nước chỉ bằng 80-90% thu nhập quốc dân sử dụng Tích lũy tuy nhỏ bé, nhưng toàn bộ tích lũy và một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào nguồn đầu tư nước ngoài.Trong những năm 1976 -1986, thu vay nợ và viện trợ nước ngoài bằng 38,2% tổng ngân sách và bằng 62,9% tổng số thu trong nước Tính đến năm 1985 nợ nước ngoài đã lên tới 8,5 tỷ rúp

Trang 30

và 1,9 tỷ USD Tuy nguồn đầu tư từ nước ngoài là lớn như vậy nhưng ngân sách vẫn trong tình trạng thâm hụt và phải bù đắp Trị giá xuất khẩu hàng năm

có tăng lên nhưng vẫn còn thấp so với giá trị nhập khẩu Tỷ lệ xuất khẩu thường bằng 20 -40% nhập khẩu Hầu hết các loại hàng hóa thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống đều phải nhập khẩu toàn bộ hay một phần do sản xuất trong nước không đảm bảo được tiêu dùng Trong những năm 1976 -1980 phải nhập 60 triệu mét vải các loại và 1,5 triệu tấn lương thực quy gạo Sau 10 năm thống nhất,việc xây dựng và phát triển kinh tế cơ bản trong bối cảnh hòa bình nhưng hàng hóa khan hiếm và thiếu thốn Một nền kinh tế nghèo nàn không có nội lực và chịu sự tác động quá lớn từ bên ngoài nên khi những lực đẩy bên ngoài biến động, kinh tế nước ta gần như suy sụp hoàn toàn, đó là tình cảnh của nước ta trong những năm 1980- 1985.Nước ta gần như phụ thuộc hoàn toàn vào

sự chu cấp, bao bọc của Liên Xô và sự tương trợ của các nước xã hội chủ nghĩa (SEV).Chương trình cải tổ của Liên Xô và Gorbachev cắt giảm viện trợ cho các nước xã hội chủ nghĩa đã làm cho tình hình kinh tếnước ta càng khó khăn Năm

1985, cuộc cải cách giá – lương – tiền theo giải pháp sốc đã thất bại làm cho cơn sốt lạm phát vụt lớn nhanh, hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội Giá cả leo thang từng ngày đã vô hiệu hóa tác dụng đổi tiền chỉ mới tiến hành vài tháng trước đó, làm rối loạn điều hành kinh tế vĩ mô Siêu lạm phát hoành hành và giá cả đuổi bắt cấp số nhân Siêu lạm phát đạt đỉnh cao vào năm 1986 với mức 774,4%[106,1129-1134].Đảng và Nhà nước chỉ chấp nhận hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tế Nhà nước và thành phần kinh tế tập thể, không có thành phần kinh tế tư nhân hay nước ngoài điều này đã bó hẹp hoặc giới hạn sức mạnh của nền kinh tế Đây là những khó khăn lớn đòi hỏi Đảng phải nhìn nhận khách quan thực tế để có những thay đổi chính sách phù hợp Nếu tiếp tục duy trì đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam là tập trung, bao cấp, cơ chế quản lý theo hình thức mệnh lệnh, chỉ huy thì gần như không có sự

Trang 31

đột phá nào có thể cứu gỡ được.Hơn lúc nào hết, nhận thức của Đảng cần bắt kịp với những diễn biến xã hội và quyết định tìm hướng đi mới cho cả dân tộc.Thêm vào đó, với thắng lợi của Việt Nam năm 1975 và các nước Đông Dương, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa mở rộng phạm vi, phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh Đảng ta nhận định rằng hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa lớn mạnh không ngừng vì thế ta luôn coi trọng mối quan hệ hợp tác truyền thống với Liên Xô và các nước chủ nghĩa xã hội, tìm cách khôi phục kinh tế đất nước sau tổn thất của hai cuộc chiến tranh biên giới Ngày 29/6/1978 Việt Nam gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) Viện trợ hàng năm và kim ngạch buôn bán giữa Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa với Việt Nam đều tăng Ngày 31/11/1978 Việt Nam kí Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô Càng thắt chặt quan hệ với Liên Xô bao nhiêu càng khiến cho quan hệ Việt Nam với nước láng giềng Trung Quốc trở nên căng thẳng do mâu thuẫn Xô- Trung đang gay gắt Mặt khác, liên minh chặt chẽ trongquan hệ 3 nước Đông Dương Việt Nam- Lào - Campuchia từ quá khứ chống xâm lược đã bị đứt đoạn khi ta đưa quân sang Campuchia đánh đổ chính quyền diệt chủng Polpot Đây thực sự là một thời điểm khó khăn của nền ngoại giao nước ta nói chung cũng như đường lối kinh tế đối ngoại của Đảng nói riêng Nếu không có một chính sách can thiệp phù hợp thì nền kinh tế đất nước

sẽ chìm sâu trong khủng hoảng và Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đứng trước nguy cơ bị mất đi vai trò lãnh đạo của mình

Tháng 7 năm 1986, Bộ Chính trị khóa V của Đảng đã đưa ra nghị quyết

32 điều chỉnh bước đầu chính sách đối ngoại của Việt Nam Nghị quyết nhấn mạnh cần chủ động chuyển sang thời kỳ cùng tồn tại hòa bình, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

Trang 32

xã hội và bảo vệ tổ quốc Với nghị quyết 32, Đảng ta đã bước đầu nhận ra được sự cần thiết của quá trình hợp tác sẽ đem lại hiệu quả tốt đẹp hơn là đối đầu nhưng hợp tác với ai, hợp tác như thế nào vẫn là một vấn đề bỏ ngỏ

Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ

sự thật”[11,12] do Tổng bí Thư Nguyễn Văn Linh đề xướng, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã nghiêm khắc tự phê bình về những sai lầm đã qua và đề ra đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, đi vào thế ổn định và phát triển Đảng và nhân dân ta tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội với việc xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo Cùng với đổi mới tư duy

về kinh tế, Đảng và Nhà nước ta cũng từng bước đổi mới tư duy về đối ngoại Trước hết là việc đổi mới công tác nghiên cứu, phân tích, đánh giá những chuyển biến của tình hình thế giới và quan hệ quốc tế Thứ hai là đổi mới tư duy về các cặp quan hệ như giữa lợi ích quốc gia và nghĩa vụ quốc

tế, giữa an ninh và phát triển, giữa hợp tác và đấu tranh Thứ ba là là đổi mới tư duy về tập hợp lực lượng, từ đó xác định chủ trương, đường lối chính sách đối ngoại thích hợp

Trong đó, đáng chú ý hơn cả là tư duy tập hợp lực lượng của chính sách đối ngoại Trước đây, chúng ta chỉ chú trọng mối quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em mà không chú ý đến các đối tượng khác đặc biệt là không có bất cứ quan hệ nào với các nước theo chủ nghĩa tư bản thì đến Đại hội V của Đảng Cộng sản có chủ trương: “Nhân dân Việt Nam chủ trương thiết lập những quan hệ láng giềng tốt với các nước ASEAN, luôn

Trang 33

luôn sẵn sàng phối hợp cố gắng để xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình và ổn định”[10,153] Cụm từ “quan hệ láng giềng” được văn kiện Đảng đề cập đến theo một định nghĩa chung, chưa có gì cụ thể và rõ ràng, sắc nét thì đến đại hội VI đã định hình cụ thể ý tưởng ấy Theo đó, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) nhấn mạnh: “Là một đội ngũ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Đảng ta tích cực góp phần vào việc tăng cường đoàn kết của phong trào trên cơ sở chủ nghĩa Mác -Lê-nin

và chủ nghĩa quốc tế vô sản, tăng cường sự hợp tác giữa các đảng anh em trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”[11,102] Ngoài nhiệm vụ truyền thống ấy, trong bài nói của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn với các trưởng đoàn đại biểu dự hội nghị ủy ban hợp tác kế hoạch hội đồng tương trợ kinh tế ngày

11 tháng 1 năm 1986 khẳng định rằng: “Đông Nam Á phải đẩy tới xu hướng đối thoại giữa 2 nhóm nước Đông Dương và ASEAN Đông Nam Á phải được xây dựng thành khu vực hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác”[18,8].Để cụ thể hóa đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, chúng ta đã tích cực thúc đẩy việc gia nhập ASEAN Điểm mâu thuẫn đầu tiên cần tháo gỡ đó chính là tư duy về chính trị, thì ở văn kiện Đại hội của Đảng đã nêu rõ: “Chúng ta chủ trương và ủng hộ chính sách cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau”[11,105]

Là một bộ phận hợp thành đường lối chung của Đảng Cộng sản Việt Nam, đường lối và chính sách đối ngoại phải góp phần đưa đất nước vượt qua những nguy cơ, thách thức đang đặt ra nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Đường lối và chính sách đối ngoại đổi mới được hoạch định nhằm tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, kết hợp một cách hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,

Trang 34

phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sau khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng với chính sách bốn điểm của Đảng và nhà nước, ta hoàn toàn có thể hợp tác với các nước ASEAN khác ngoài Campuchia và Lào nhưng sự phụ thuộc vào Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa làm giới hạn phạm vi đối ngoại ấy Tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia lần thứ 12 họp ngày 24/01/1986 nêu rõ tính 2 mặt của vấn đề Campuchia Đảng ta chủ trương tìm cách thỏa thuận về việc rút quân tình nguyện Việt Nam đi đôi với việc quốc

tế chấm dứt cung cấp viện trợ, vũ khí cho sử dụng lãnh thổ Thái Lan, chấm dứt sự can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia, tiến tới hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á Đây là những động thái tích cực của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm cải thiện mối quan hệ căng thẳng với các nước ASEAN để tiến đến bình thường hóa mối quan hệ song phương này

Vào những năm 1988 – 1989, giai đoạn khó khăn nhất của CNXH, khi các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô bước vào thời kỳ khủng hoảng và dẫn đến việc mất quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam đã rất nhanh nhạy trước tình hình mới, và có những biến chuyển kịpthời để Việt Nam tránh khỏi một sự “hụt hẫng” trong đường lối đối ngoại, và cũng giúp nước ta thoát khỏi vết xe đổ của những nước xã hội chủ nghĩa Nghị quyết

13 Bộ chính trị khoá VI đã xác định rõ ràng ngoại giao phải ưu tiên giữ vững hoà bình để phát triển kinh tế Nghị quyết này cũng nhấn mạnh đến tư duy “Thêm bạn bớt thù” trong chính sách đối ngoại

Như vậy nghị quyết 13 về đối ngoại của Bộ Chính trị là một cuộc đổi mới mạnh mẽ tư duy trong việc đề ra mục tiêu và chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của ta Bộ Chính trị cho rằng việc đổi mới này là “Sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lenin và kết hợp chủ nghĩa quốc tế chân chính với chủ nghĩa yêu nước trong sáng trong tình hình mới”[78,51].Bên cạnh

Trang 35

đó nghị quyết 13 khóa VI đã cho thấy Đảng và Nhà Nước Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn về tư duy đối ngoại so với 10 năm trước Từ chỗ chỉ quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, xem Liên Xô là hòn đá tảng trong quan hệ đối ngoại, thì nay chúng ta có những mở rộng các đối tác Có thể khẳng định rằng ngay cả trong thời kỳ đối đầu, quan hệ chính trị giữa Việt Nam với các nướcASEAN vẫn được duy trì Những cuộc tiếpxúc, đối thoại dưới nhiều hình thức đã được xúc tiến: từ hội thảo đến hội nghị quốc tế, từ các nhóm làm việc đến cuộc họp JIM-1 (Jakarta Infornal Meeting) diễn ra từ ngày 25 đến ngày 26/07/1988 tại Bo-go (Indonesia), cuộc họp JIM-2 từ ngày 19đến ngày 21/02/1989, Họp Hội nghị không chính thức về Campuchia (IMC)từ26/02/1990 đến01/03/1990ởJakarta, ngoài thành phần như JIM (Campuchia, Việt nam, Lào và 6 nước ASEAN) còn có thêm đại diện Tổng Thư ký Liên hợp quốc, Pháp và Úc Bên cạnh đó là các cuộc viếng thăm lẫn nhau của các vị lãnh đạo cấp cao các nước ASEAN và Việt Nam Nhưng khi chưa có những giải pháp cụ thể về việc ta đưa quân vào Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế thì mối quan hệ hai bên vẫn khó được khai thông Không chỉ các nước ASEAN mà những đối tác như Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng lấy cớ này để đóng băng và cô lập Việt Nam Để thoát khỏi tình cảnh khốn khó này đòi hỏi cấp bách, cần thiết là Đảng phải đưa ra phương án giải quyết vấn đề Campuchia Nghị quyết 13 của Đại hội VI nêu rõ: “chính phủ chúng ta chủ trương tiếp tục rút quân tình nguyện Việt Nam khỏi Campuchia, đồng thời sẵn sàng hợp tác với tất cả các bên đi tới giải pháp chính trị đúng đắn về Campuchia” Ngay từtháng 7/1982 đến ngày 26/09/1989 ta đã hoàn toàn rút quân tình nguyện của mình khỏi Campuchia trước thời hạn 1990 Điều này chứng tỏ sự thiện chí của chúng ta khi tạo ra một bước ngoặt lớn trong công tác đối ngoại với các đối tác kẻ thù không

Trang 36

còncớ để chống phá chúng ta Giải quyết vấn đề Campuchia là cơ sở căn bản để giải quyết những vấn đề khó khăn đất nước đang gặp phải

Không chỉ xuất hiện những quan ngại của các nước ngoài khu vực ASEAN, ngay cả trong một số nước ASEAN cũng còn những ý kiến lo lắng về khả năng của Việt Nam - một nước có trình độ kinh tế phát triển thấp hơn rất nhiều so với các nước ASEAN có chế độ chính trị và kinh tế khác biệt - tham gia vào hợp tác ASEAN và việc Việt Nam với những bất hoà và tranh chấp lãnh thổ vốn có với Trung Quốc có thể làm phức tạp thêm mối quan hệ ASEAN - Trung Quốc Vì chính sách đối ngoại của Việt Nam sau ngày giải phóng chỉ nhắm đến các nước xã hội chủ nghĩa trong đó Liên Xô là “hòn đá tảng”, điều này gây mâu thuẫn với Trung Quốc Kể từ khi Việt Nam đưa quân tình nguyện vào Campuchia thì mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thật sự đóng băng, giữa hai nước luôn có những đụng độ trên cả mặt trận quân sự và chính trị Trung Quốc luôn dùng vấn

đề Campuchia làm con át chủ bài trong việc mặc cả quyền lợi của mình với

Mỹ và Liên Xô, gây sự chia rẽ trong toàn khối ASEAN Vì thế, việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc luôn là một yêu cầu đặt ra cho Việt Nam.Tháng 1/1989, Tổng bí thưĐảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Văn Linh tuyên bố Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng phát triển quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN và các nước khác trong khu vực Đến tháng 2/1989, Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tham gia Hiệp ước hợp tác

và thân thiện Bali Một hiệp ước toàn diện về vấn đề Campuchia được ký tại Paris ngày 23/10/1991 Như vậy, chúng ta đã giải quyết vấn đề Campuchia một cách toàn diện làm cơ sở để bình thường hóa quan hệ với các nước ASEAN Ngày 29/07/1987, ngoại trưởng Indonesia đến thành phố

Hồ Chí Minh khai thông quan hệ song phương, mở đường cho xu thế đối thoại, hợp tác giải quyết vấn đề Campuchia và xây dựng khu vực hòa bình,

Trang 37

ổn định và phát triển Khi chúng ta chủ động giải quyết vấn đề Campuchia một cách toàn diện làm cho Trung Quốc không còn cơ sở chống Việt Namtái hòa nhập vào cộng đồng quốc tế Trong Đại hội Đảng lần thứ VI, chúng ta đã chính thức tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước Việt Nam cũng chính thức bỏ đoạn chống Trung Quốc trong Lời nói đầu trong Hiến pháp năm 1982, đề nghị hai bên chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống nhau và từng bước cải thiện mối quan hệ giữa hai nước Trong hai ngày 3 và 4/09/1990, lãnh đạo cấp cao hai nước Việt – Trung đã có cuộc gặp không chính thức tại Thành Đô, trao đổi các vấn đề hai bên cùng quan tâm như vấn đề Campuchia Trên thực tế thì cuộc gặp này đã có vai trò quan trọng trong quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Từ ngày 1 đến ngày 4/12/1991, lãnh đạo cao cấp Đảng và Nhà nước Việt Nam, Tổng bí thư Đỗ Mười, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thăm và hội đàm với lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc là Tổng bí thư Giang Trạch Dân, thủ tướng Lý Bằng Hai bên đã ra thông cáo chung và ký một số hiệp ước Kể từ đây, quan hệ giữa hai nước đã chính thức bình thường hóa Tất cả những nỗ lực trên của Đảng nhằm xóa dịu những mâu thuẫn chính trị giữa các bên để thúc đẩy quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, mở đường cho mối quan hệ kinh tế tiến tới mục đích phát triển kinh tế đất nước, ổn định xã hội Từ chỗ đánh giá những diễn biến mới trên thế giới và khu vực, Bộ Chính trị kết luận là chúng ta có cơ hội lớn để giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế và chỉ ra rằng: Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế Đó là nhân tố quyết định củng cố và giữ an ninh

và độc lập Chúng ta phải có một chiến lược toàn diện và quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu đó Bộ chính trị cho rằng “Cần có quan điểm mới

Trang 38

về an ninh và phát triển trong thời đại ngày nay để khẳng định mạnh mẽ phương hướng ưu tiên tập trung cho cho sự nghiệp giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế… với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mởi rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn Hơn lúc nào hết, lúc này Đảng ta quan hệ kinh tế đặt lên trên quan hệ chính trị Do đó, nhanh chóng xúc tiến phát triển kinh tế, đặc biệt là mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực là điều thiết yếu Bởi lẽ, sự khủng hoảng của các nước xã hội chủ nghĩa, khiến chúng ta không thể trông chờ nhiều hơn vào nguồn viện trợ từ bên ngoài, từ khối các nước xã hội chủ nghĩa SEV, chúng ta phải tìm cách tự thân vận độngđẩy mạnh hợp tác Và những đối tác khu vực là sự quan tâm hàng đầu điều này dẫn đến việc chúng ta phải có những động thái làm hòa dịu mối quan hệ với các nước ASEAN để từng bước gia nhập tổ chức này.Để đưa Việt Nam thoát ra tình trạng đó, Đảng Nhà nước đã chủ động mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp để khai thông quan hệ đa phương với ASEAN và song phương với từng nước Đông Nam Á Một mặt, Việt Nam nêu rõ lập trường của mình về xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác; mặt khác Việt Nam tích cực tham gia giải quyết các vấn đề chung của khu vực, đẩy mạnh triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá quan hệ đối với tất cả các nước Đông Nam Á Chỉ tronghai năm 1987-1988 Đảng, Nhà nước ta công bố thực hiện hai văn bản luật quan trọng là “Luật Đầu tư nước ngoại tại Việt Nam” và “Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài tại Việt Nam” Hai văn bản này đã làm cho nhiều nhà thương mại quan tâm hợp tác với Việt Nam.Luật Đầu tư nêu rõ: “Việt Nam hoan nghênh khuyến

Trang 39

khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam “chỉ cần” cùng tôn trọng độc lập chủ quyền bình đẳng, tuân thủ pháp luật Việt Nam và các bên cùng có lợi Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền sở hữu đầu tư và các quyền lợi khác của cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi và các thủ tục dễ dàng cho các tổ chứccá nhân đầu tư vào Việt Nam” [49,3-4] Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam – mở cửa để thu hút nguồn vốn, thiết bị và kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh và phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.Với điều 41 điều khoản quy định những hình thức đầu tư, biện pháp quyền lợi của những đối tác đầu tư (luật đầu tư) và những quy chế pháp lệnh đầu tưthực sự là một bước tiến cả về nhận thức và biện pháp hữu hiệu của Đảng, Nhà nước trong việc đổi mới chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng

Từ sau khi công bố hai văn bản này “Việt Nam đón tiếp hơn 2500 đoàn khách quốc tế vào Việt Nam và đến 10/1989 đã có 96 dự án có tính khả thi được chính phủ Việt Nam cấp giấy phép với tổng số vốn lên tới 755.272 triệu USD”[110,171].Nghị quyết số 13 của Bộ chính trị đánh dấu

sự đổi mới tư duy quan hệ quốc tế và chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của Đảng ta Sự chuyển hướng này đã đặt nền móng hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ,mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế.Trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, từ năm 1989, Đảng chủ trương xoá bỏ tình trạng độc quyền trong sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu So với chủ trương của Đại hội V:“Nhà nước độc quyền ngoại thương

và Trung ương thống nhất quản lý công tác ngoại thương”, thì đây là bước đổi mới đầu tiên trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam Song cái được lớn nhất trong lịch sự phát triển kinh tế đất nước là mở cửa nền kinh

tế, đổi mới giao lưu kinh tế với nước ngoài Chỉ có như vậy chúng ta mới

Trang 40

học được những phương cách làm kinh tế, sớm đưa đất nước vượt ra khỏi khủng hoảng suy thoái kinh tế và hội nhập nền kinh tế thế giới

Cùng với luật đầu tư, pháp lệnh đầu tư, Đảng và Nhà nước tìm ra giải pháp chính trị hiệu quả đối với vấn đề Campuchia Suốt 3 năm 1987-1990 việc kiếm tìm giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia đã lôi cuốn các nước ASEAN, Đông Dương, 5 nước thường trực Hội đồng bảo an liên hiệp quốc (Nhật, Ấn Độ, Ôxtrâylia, các Châu và Bắc Mỹ).Cũng trong năm 1989, Đảng chủ trương xoá bỏ tình trạng độc quyền trong sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu để mở đường cho đầu tư từ ngoài đến nước ta.Có thể nói, ngay khi Liên Xô tan rã Đảng đã nhận định được bệ đỡ bền chặt nhất chính

là hợp tác với các nước trong khu vực và chỉ có hợp tác kinh tếvà những hiệu quả từ lợi ích kinh tế đem lại mới có thể gắn kết những quốc gia có thể chế chính trị khác nhau, hợp tác kinh tế mới xóa bỏ được những mâu thuẫn trong quá khứ và làm nền tảng cho sự ổn định, phát triển xã hội

Trong bối cảnh đó, Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam hay còn gọi

là Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII của Đảng diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991 ở Hà Nội đã khẳngđịnh chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa đa phương hóa:“với các nước Đông Nam Á, chúng ta chủ trương mở rộng quan hệ nhiều mặt theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ của nhau, hai bên cùng có lợi”[18,40].Hội nghị này đã ký hàng chục hiệp định cấp chính phủ tạo cơ

sở pháp lý cho việc phát triển hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học

kỹ thuật Các nước ASEAN trở thành bạn hàng quan trọng, chiếm khoảng 30% hàng xuất - nhập khẩu của ta, kim ngạch buôn bán hai chiều tăng từ 1,6 tỷ USD năm 1991 lên 2,7 tỷ USD năm1994 Các nước thành viên ASEAN cũng chiếm hơn 20% tổng số đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Giữa Việt Nam và các nước này cũng từng bước thương lượng giải quyết

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:40

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w