Nguyễn Trãi sinh ra và lón lên trong nền giáo dục Nho học và nền văn hóa sâu đậm của dân tộc, Nguyễn Trãi đã học tập ở người cha đáng kính, người ông nhân từ, hiền hậu những kiến thức sâ
Trang 1Tư TƯỞNG NHÂN VÂN CỦA NGUYỄN TRÃI
VÀ GIÁ TRỊ CÙA NÓ TRONG sự NGHIỆP XÂY DựNG
CON NGƯỜI MỨI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ử VIỆT NAM HIỆN NAY
ThS Phạm Văn Dự*
Tóm tắt
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung, Nguyễn Trãi là một nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử dưói triệu đại phong kiên Một trong những tư tưởng vĩ đại của ông đó là tư tưởng nhân văn
Nguyễn Trãi sinh ra và lón lên trong nền giáo dục Nho học và nền văn hóa sâu đậm của dân tộc, Nguyễn Trãi đã học tập ở người cha đáng kính, người ông nhân từ, hiền hậu những kiến thức sâu rộng, tầm hồn cao đẹp hết lòng vì nưóc vì dân Ong sống trong giai đoạn lịch sử dân tộc có rất nhiều biến động
Tận mắt chứng kiến sự suy vong của hai triều đại Trần - Hồ và sự tàn ác của giặc Minh Nguyễn Trãi đã căm giận lên án tội ác vô cùng dã man của quân “cuồng Minh ” Nguyễn Trãi cũng đanh thép tô' cáo tội ác ghê tởm của giặc Minh: Chính sự hà khắc, hĩnh phạt nặng nề, không cái
gì là chúng không làm
Nguyễn Trãi đau vói nỗi đau của dân tộc của nhân dân Nỗi đau
đó đã biến thành quyết tâm đấu tranh chông quân xâm lược để báo vệ
và phát triển nền văn hóa dân tộc, đòi lại quyền sông, quyền có được bản sắc văn hóa của người Việt Tinh thần nhân văn, nhân đạo của Nguyên Trãi không chỉ bó hẹp ờ chỗ thương dân, mà nó còn lan rộng ra thành lòng khoan dung rộng lón Nội dung tư tưởng nhân văn của
* trư ờng Đại học Sao Đỏ.
Trang 2ThS Phạm Vàn D ư
Nguyên Trãi không chỉ dừng lại ả chù nghĩa dân tộc hẹp hòi mà nó còn mang tầm quốc tế
Một trong những vâh đề then chốt trong tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi đó là phát triển giáo dục, xây dựng con người theo mâu người lý tưởng
Vói những nội dung tư tường nhân văn của Nguyễn Trãi mang đậm những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, vì thế nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục có sự tiếp nối truyền thống vói hiện đại và xây dựng đạo đức mói hiện nay
Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Nguyễn Trãi là tiếng nói nhân văn sâu sắc, đồng hành với những thăng trầm lịch sử vói đời sông chính trị
và tinh thần của dân tộc Những tư tưởng nhân văn mà Nguyễn Trãi để lại còn nguyên giá trị cùng vói dân tộc và mỗi con người Việt Nam trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
*
1 Đặt vấn đề
Nguyễn Trãi là một nhà tư tưởng lón trong lịch sử tư tưởng Việt Nam nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung Thời gian trôi đi thi tư tưởng của ông càng được khẳng định, càng tỏa sáng trên con đường xây dựng đâ't nưóc phồn vinh, nhân dân ấm no hạnh phúc Một trong những tư tưởng vĩ đại của ông đó là tu* tưởng nhân văn Trong nội dung khuôn khổ bài viết này tác giả tập trung đi sâu phân tích nguồn gốc hình thành tư tưởng nhân, nội dung cơ bản tư tưởng nhân văn của Nguyên Trãi và giá trị của tư tưởng đó đôi vói sự nghiệp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa
2 Nguồn gốc hình thành tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi sinh năm 1380, hiệu là ức Trai, người làng Nhị Khê thuộc Thường Tín - Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) Cha ông là Nguyễn ứng Long, sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh Mẹ là bà Trần Thị Thái, con gái thứ ba quan tư đổ Trần Nguyên Đán
Trang 3T ư tưởng nhân văn củ a N guyên Trãi và giá trị của nó
Sinh ra trong một gia đình trí thức, được sông trong nền giáo dục Kho học và nền văn hóa sâu đậm của dân tộc, Nguyễn Trãi đã học tập ở người cha đáng kính, người ông nhân từ, hiền hậu những kiến thức sâu rộng, tầm hổn cao đẹp hết lòng vì nước vì dân Với sự thông minh vốn có của mình, cộng thêm đức tính cần cù quyết tâm dùi mài kinh sử "Vườn chư từ,
bể lục kinh", sự giáo dục của cha và ông ngoại, Nguyễn Trãi cũng đã tiếp thu được tư tưởng uyên bác của các nhà nho trong lịch sử và đương thời, rèn luyện ý chí cũng như lòng tự hào dân tộc, yêu nước thương dân, Vào năm 1400 lúc đó Nguyễn Trãi 20 tuổi, ữong kì thi đầu tiên của nhà Hồ, Nguyễn Trãi đã đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) cùng vói cha ra làm quan cho nhà
Hồ, giữ chức Ngự Sử Đài Chánh Trưởng, vói một hoài bão cao cả là đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân theo lý tường nhà Nho
Nguyễn Trãi sinh ra và lón lên trong giai đoạn lịch sừ dân tộc có rất nhiều biến động, bước vào nửa cuôỉ thế kỉ XIV nền kinh tế - xã hội Đại Việt rơi vào tình trạng khủng hoảng Chế độ điền trang, thái â'p mang nặng tính châ't khép kín, ngày càng đè nặng lên các tầng lớp lao động trong xã hội và kìm hãm sự phát triển của sản xuất Đôi lập với nó
là nền kinh tế địa chủ phát triển mạnh và ngày càng chiêm ưu thế vấn
đề bức thiết đặt ra cho nhà Trần lúc này là cần từng bưóc xóa bò điền trang, thái ấp, giải phóng nô tì, thúc đẩy kinh tế địa chủ phát triển Đi ngược lại yêu cầu của lịch sử, tẩng lớp quý tộc quan liêu nhà Trần ngày càng suy đổi vơ vét, bóc lột nhân dân để sông một cuộc sông xa hoa
Do mất mùa đói kém, nông dân đã phải bấn vợ, bán con, bán mình làm nô
tì cho các quý tộc, địa chủ giàu có Bọn này nhân đó xâm chiếm hoặc mua
rẻ ruộng đất, mở rộng điền trang, tăng thêm s ố người làm Nhiêu chùa cũng trờ thành chủ đất lớn với nhiêu điền nô.
(Trương Hữu Quýnh, 1999, 248)
Năm 1400 Hổ Quý Ly đã cướp ngôi của nhà Trần lập nên nhà Hồ
Họ Hổ trưóc và sau khi lên nắm chính quyền đã nhận thức được một'sô' nguyên nhân sâu xa của tình trạng khủng hoảng xã hội Đại Việt cuôì thế kỉ XIV, nên đã tiến hành hàng loạt các cuộc cải cách nhằm chấn hưng đất nưóc Hổ Quý Ly đã thực hiện chính sách hạn điền, hạn nô, hạn chế thế lực nhà chùa, sa thải tăng lữ, bắt tất cả các nhà sư chưa đến
Trang 4ThS Phạm Văn Dư
50 tuổi phải hoàn tục, cùng với đó là tổ chức thi về giáo lý nhà Phật, ai thông hiểu mói được ở lại làm sư Khách quan mà nói thì những cải cách của Hồ Quý Ly có những điểm tích cực nhất định, nhưng cuộc cải cách này lại không được nhân dân ủng hộ, bởi ông là người đã cướp ngôi vua của nhà Trần cho nên về cơ bản những cải cách của Hồ Quý
Ly là không đạt được mục đích đặt ra
Nhà Minh đã có dã tâm xâm lược Đại Việt từ lâu, khi Hồ Quý Ly soán ngôi nhà Trần thì nhà Minh lại càng đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị cho cuộc xâm lược này Năm 1406, lấy có phù Trần diệt Hổ, dưói sự chỉ huy của Trương Phụ, quân Minh đã tiến hành xâm lược nươc ta Chỉ trong vòng một thời gian ngắn cuộc kháng chiến của nhà Hồ chông quân Minh đã bị thâ't bại
Quân Minh đặt ách thống trị lên đâ't nưóc ta, chúng thi hành nhiều chính sách dã man, tàn độc, chúng muôn thực hiện dã tâm đổng hóa nước ta, xóa bỏ vĩnh viễn đâ't nước ta Chúng làm tàn lụi tận gốc rễ tất
cả nguồn sống, những giá trị về vật chất, tinh thần, những giá trị văn hóa, biến nước ta thành quận huyện thuộc ngoại vi Trung Quốc
Trong 20 năm cai trị (1407-1427) nưóc ta, giặc Minh dùng nhiều thủ đoạn thâm độc với dân ta Về kinh tế, chúng tiêu diệt con đường sinh tổn của dân tộc, đẩy mạnh vơ vét của cải tài nguyên thiên nhiên nước ta
đế đem về Bắc quốc, chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, bắt nhân dân ta phải lao dịch, bắt nhân dân ta phải lên núi tìm vàng, xuông biển
mò ngọc trai "sau hơn một năm xâm lược và cưóp bóc, sô' chiến lợi phẩm mà Trương Phụ tâu lên vua Minh gổm: 235.000 con voi, 13.000.000 thạch thóc, 8670 chiếc thuyền, 2.539.800 đổ quân khí" (Trương Hữu Quýnh, 1999: 248) về văn hóa, chúng tìm mọi cách để tận diệt nền văn hóa Đại Việt, với chủ trương "một mảnh giây, một chữ viết đều thiêu hủy hết" Những tội ác của giặc thật là trời không dung, đất không tha "thui dân đen trên lò bạo ngược, hãm con đò dưới hầm tai
ương, dối trời lừa người, kế gian dủ muôn nghìn khóe, cậy binh gây
hấn, ác chứa gần hai chục năm" (Nguyễn Trãi, 1976: 78)
Trước những chính sách cai trị nham hiểm, thâm độc, dân tộc nghìn năm văn hiến cúa ta có nguy cơ vĩnh viễn biến mất Lúc này để
Trang 5T ư tưởng nhân văn của N guỵển Trãi và giá trị của nó
giành lại quyền sôrvg, quyền con người, nhân dân ta phải đứng lên lật
đổ ách đô hộ của quân Minh, quét sạch quân xâm lược ra khòi bờ cõi Đại Việt, khôi phục nền độc lập dân tộc là nhiệm vụ lịch sử và là yêu cầu của thời đại Sự nghiệp giải phóng đất nước cũng là sự nghiệp giải phóng người dân Đại Việt khỏi ách nô lệ
3 Nội dung cơ bản tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi
Tận mắt chứng kiến sự suy vong của hai triều đại Trần - Hổ và sự tàn
ác của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã căm giận lên án tội ác vô cùng dã man của quân 'cuồng M i n h T r ư ớ c cảnh đâ't nưóc bị đô hộ, chia cắt thành quận huyện, và bị áp chế dưới chính sách cai trị vô cùng độc ác, làm cho con người Việt Nam điêu đứng, Nguyễn Trãi dùng ngòi bút của mình tô' cáo bộ mặt phản nhân văn của quân xâm lược Minh, thông cảm và chia sẻ những nỗi khổ đau của nhân dân ta gánh chịu trong chiên tranh Tác phẩm "Bình Ngô đại cáo" là bản cáo trạng đanh thép lên án tội ác và mưu
kế nham hiểm của giặc Minh muôn hủy diệt con người, hủy diệt sự sông, hủy diệt nền văn hóa Việt Nam ữong suốt một thời gian dài hơn hai mươi năm: “dôi trời lừa dân,’ đủ muôn nghìn kế”: rán mỡ người lây đẩu, rút ruột người treo lên cây, thui người trên giàn lửa, phanh thây đàn bà có thai Chúng bắt nhân dân ta phải xuống biển mò ngọc trai, lên rùng sâu đãi cát, tìm vàng, công nạp ngà voi, hươu đen, trả biếc, Sưu thuế chồng chất, phu phen lao dịch nặng nề Chúng đã tàn phá môi sinh, môi trường, dồn nhân dân ta vào bưóc đường cùng, vào hô' diệt vong:
"Bại nhân nghĩa nát cả đ âl trời,
N ặng th u ếk h o á sạch kh ôn g đầm núi
( ) V ét sản vật, bắt dò chim sả, ch ôh chôn lư ới ch ăn g ,
N hiễu nhân dân, bắt bẫy hư ơu đen, nơi n ơi cạm đặt
Tàn hại cà g iô n g côn trũ n g cây cò,
N heo nhóc thay kẻ goá bụa khôn cù n g "
(Nguyễn Trãi, 1976: 78-79) Trong "Lam sơn thực lục" và nhiều bức thư gửi dụ hàng tướng địch Nguyên Trãi cũng đanh thép tô' cáo tội ác tày trời của giặc Minh
Trang 6ThS Phạm Vân Dư
Trong nước oán thán người ta không sông được Chính sự hà khắc, hình phạt nặng nê] không cái gì là chúng không làm Câm mắm muôi đ ể khôn
sự ăn uống của dân, nặng thuếkhoá lao dịch đề vét tài sản của dân Xuống biển mò ngọc, đục núi lây vàng; ngà voi, sừng tê lô n g chả, gỗ thơm, phàm sản vật của ta, tất chúng muôn lùng vơ vét cho hết, không bỏ sót thứ gì đểlâp dục vọng sâu như hang hốc Phàm dân ta bị coi là phản trắc, khó trị tất bị chúng lừa dõi đưa đi nơi khác đ ể thỏa lòng cùng binh độc vũ Lại xây hơn 10 thành chia quàn đóng giữ để trân áp lòng người khiên cho kẻ sĩ mưu của ta không hành động gì được Lại khéo dùng danh mục cưỡng ép hào kiệt cho vào triều (Minh) làm quan đ ể an trí ở đâl Bắc.
(Nguyễn Trãi, 1976:48) Nguyễn Trãi không chỉ lên án tội vơ vét của cải tàn sát dân lành mà còn lên án tội ác của Giặc Minh khi muôn thủ tiêu nền văn hiến lâu đời của Đại Việt "Nhà Minh câm con trai con gái không được cắt tóc, đàn
bà con gái thì mặc áo ngắn quần dài, hóa theo phong tục phương Bắc" (Đại Việt sừ kí toàn thư, 1993: 794)
Nguyễn Trãi đã tuyên ngôn đanh thép về quyền được sông, được tự
do, tự chủ, tự quyết định cuộc sông của người Việt, về ý thức dân tộc của nhân dân ta Ông đã phát triển tư tưởng nhân văn truyền thông lên một tầm cao mói trong thế kỉ XV, đó cũng là tinh anh, tinh hoa toát lên trong tư tưởng Nguyên Trãi, phải thật sự là một con người có tâm với nưóc vói dân thì mói có thể viết nên những trang sử hào hùng như vậy Những lý luận
cô đúc, sắc sảo về quyền sông của một cộng đổng, dân tộc Tư tưởng nhân văn có nội hàm độc đáo ở Nguyễn Trãi đó là cứu nước, cứu dân
Nguyễn Trãi đau với nỗi đau của dân tộc, của nhân dân Nỗi đau
đó đã biến thành quyết tâm đâu tranh chông quân xâm lược để bảo vệ
và phát triển nền văn hóa dân tộc, đòi lại quyền sông, quyền có được bản sắc văn hóa của người Việt Tinh thần nhân văn, nhân đạo của Nguyên Trãi không chỉ bó hẹp ở chỗ thương dân, mà nó còn lan rộng ra thành lòng khoan dung rộng lán Nội dưng tư tưởng nhân văn của Nguyên Trãi không chỉ bó hẹp trong một quôc gia mà nó còn mang tầm quốc tế Ông không chỉ thương cảnh lầm than nô lệ của nhân dân ta mà còn nghĩ cả tới nỗi thông khổ mà chiến tranh gây ra cho nhân dân Trung Quốc, trong thư gửi Vương Thông, ông viết:
Trang 7T ư tưởng nhân văn của N guyên Trãi và giá trị củ a nó
Kìa, ngựa H ồ hí gió Bắc, chim Việt nhớ cành Nam, thường tình con người ai chẳng nhớ quê tố Nay cái kê'của đại nhân thâl bại, hơn sáu bảy nghìn quân ở các vệ đều ngầm hờn kết oán, thâu đêh côi tuỷ không ai là không nghiêh răng, nắm tay, thề không thây mặt đại nhân
(Nguyễn Trãi, 1976:119) Lòng thương người, tình người, sự chân thành, sự khoan dung độ lượng có thể cảm hóa được những kẻ lẩm đường, nhũng người ữộm cắp
và kẻ địch đã đầu hàng là nét độc đẫo ữong tư tưởng nhân nghĩa nhân văn của Nguyễn Trãi Ông đã độ lượng từ bi, sẵn sàng mở lượng khoan hồng,
cùng với Lê Lợi cung cấp lương thực, thuyền bè và những phương tiện cần
thiết khác hỗ trợ cho giặc Minh bị thất trận, đầu hàng về nước
Có thể khẳng định rằng tư tưởng nhân văn, nhân đạo của Nguyễn Trãi bắt nguồn từ truyền thông nhân văn, nhân đạo thương người như thể thương thân của người Việt Nội dung tư tưởng nhân văn, nhân đạo của Nguyễn Trãi thể hiện phong phú, đa dạng trước khi được trở thành người thiết kê'và tổ chức kiến trúc thượng tẩng triều Lê Sơ tư tưởng ây thê’ hiện rất rõ ở lòng thương người, yêu người, lên án, tô' cáo các thế lực tàn bạo chà đạp lên con người, đổng thời khẳng định, đề cao con người,
đề cao môi quan hệ đạo đức, lôi sông tô't đẹp giữa người với người Đó
là tư tưởng nhân văn đã vươn đến tẩm quốc tế còn nguyên giá tri đến thời nay
Sau khi đât nước sạch bóng quân thù, hoà bình trở lại quan điểm chính trị của Nguyễn Trãi vẫn lây tư tưởng nhân văn làm cơ sờ nền tảng trong đường lôi xây dựng đâ't nước Tư tưởng nhân nghĩa, nhân văn của ông không phải là một thứ đạo lý mang tính lý thuyết chung chung, mang tính giáo điều, mà là một tư tưởng mang tính chất hành động cụ thể phục vụ đất nước nó có mục đích và động cơ phục vụ rõ ràng, râ't thiết thực phù hợp với yêu cầu của thực tiễn chống giặc ngoại xâm giành độc lập và xây dựng đâ't nước
Nhân văn lúc này là chăm lo đến hạnh phúc của đồng bào kể cả kẻ manh lệ, đó là cơ sở cho sự đoàn kết dân tộc là điều kiện để đảm bảo
cho sự hoà bình, thịnh vượng lâu dài Tư tưởng nhân chính được
Nguyên Trãi vận dụng tập trung vào việc giáo dục tầng lớp quan lại
Trang 8Ths Phạm Vàn Dư
vừa bươc ra khòi chiến tranh đề họ có thể làm tròn trách nhiệm của mình Ông cho rằng trách nhiệm của nhà cầm quyền là phải an dân, nuôi dân, chăn dân, huệ dân, giáo dân làm cho dân nhanh chóng thoát khỏi đau khổ bởi sự áp bức bóc lột của bọn tham quan ô lại, cường hào, địa chủ, bởi sự tàn phá của chiến tranh Hơn ai hết, ông thâu hiểu nỗi đau khổ của người dân vì chính ông đã từng trải qua nỗi gian nan mà quân thù gây ra Điều làm ông xúc động nhất là cảnh đói cơm, rách áo của con người Ông cho rằng việc câp bách nhất là phải làm sao cho dân không đói, không rách, trên cơ sở đó đưa dân đến vói lễ nghĩa, đến vói nếp sông có trật tự, kỷ cương: "Quyên mưu chỉ dùng để trừ gian; Nhân nghĩa duy trì thếnưóc an" (Nguyễn Trãi, 1976: 290)
Trong bài chiêu Nguyễn Trãi thảo thay Lê Thái Tổ: "Răn các quan không được bày lê nghi khánh hạ" và bài "Câm các quan không được tham và nhác" Nguyễn Trãi đã đưa ra yêu cầu đổi vói các quan lại "bỏ hẳn thói tham ô, bài trừ tệ nhác lớn, tuyệt dứt nạn bè đảng" (Nguyễn Trãi, 1976: 176) Đứng trên quan điểm nhân nghĩa, ông căm ghét và mạnh dạn lên án những kẻ bất nhân, bất nghĩa, tiếp tục hà hiếp dân
Vầu làm chèo, trúc làm nhà
Đ ư ợc thú vui, ngày tháng qua Cơm kẻ bất nhân ăn, ây chớ
Á o n gư ờ i vô nghĩa m ặc, ch ẳn g thà.
(Nguyễn Trãi, 1976: 408) Nội dung tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi lúc này là xây dựng đội ngũ quan lại có đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính hết lòng vì dân vói phương châm "khoan", "giản", "an", " lạc" Nguyễn Trãi khuyên răn đại thần, quan lại hãy đem nhân nghĩa mà bổ hoá cho dân, chó đừng cậy quyền hành mà áp bức kẻ yêu
Trong tư tưởng nlìân văn của Nguyễn Trãi, dân là người có vị trí
vô cùng quan trọng, đang hàng ngày "vun đất ải, luông mùng tơi" tạo
ra của cải để nuôi sôhg xã hội, chiên đấu hi sinh cho công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quôc Chính vì vậy, Nguyễn Trãi lây phương châm
Trang 9T ư tưởng nhân văn của N guyễn Trái và giá trị củ a nó
sông của mình là "Ăn lộc đền ơn kẻ cây cày" Trong tò "Chiếu truyền các quan không được làm những lễ nghi khánh hạ", tuy thay cho nhà vua, nhưng ở đây Nguyễn Trãi đã thế hiện râ't rõ quan điểm của mình
Ạ' 1 Ạ 1 Ạ
vê huệ dân:
Đẹp cung thất mà cao đài ta, tất gây thói tục xa hoa, theo ý mình mì ức lòng người, tâĩ đêh trăm năm oán giận Trẫm rất thẹn thùng vềđiêu đó, thường nghĩ những quy mô lớn lao đều do sức lao khô’của nhân dân Cứ
đ ể yên như vậy mà ở còn e không kham, thếmà văn võ thần liệu định làm đây đủ những lễ nghi đăng điện, yến hạ, rất không hợp ý trẫm Vậy hạ lệnh cho bá quan không được làm những việc xung tụng công đức viêh vông cùng bày đặt đăng đàn dàn những lễ nghi khánh hạ.
(Nguyễn Trãi, 1976:147) Khi "Nền thái bình muôn thuở" đã mở, Nguyễn Trãi hăm hở thực hiện lý tưởng chính trị theo nhân nghĩa của mình, xây dụng một chính quyền vì dân "yên dân", vì hạnh phúc của nhân dân để "trong thôn cùng xóm vắng không có tiếng hờn giận oán sầu" Ông mong muôn xây dựng một xã hội thái bình thịnh trị "lây dân làm gốc", mọi người đều sông hạnh phúc no ấm: "Vua Nghiêu Thuân, dân Nghiêu Thuâh; Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền" (Nguyễn Trãi, 1976: 420)
Nội dung tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi trong di thảo để lại đã đê' ra những yêu cầu đối với bộ máy nhà nước thân dân, đó là phải có
"Vua hiển, tôi sáng", mọi người cầm quyền từ vua cho đến quan lại:
phàm người có chức vụ coi quốc trị dân, đêu phải theo phép công bằng, làm việc cần mẫn, thờ vua hết trung, đôí với dân thì hết hoà, đổi bỏ thói tham
ô, sửa trừ tội lười biêhg Bè đảtig riêng tây phải dứt; thái độ cô'phạm phải chừa Coi công việc của quốc gia làm công việc của chính mình; lấy điều lo cho sinh dân làm điêu lo thiết kỉ.
(Nguyễn Trãi, 1976:199) Củng chính vì suốt đòi quan tâm để an dân, năm 1434, nhân cớ nội mật viện Nguyễn Thúc Huệ và Lê Cảnh Xước muôn đổi vài chữ trong
tờ biểu do Nguyễn Trãi soạn, ông đã khẳng khái mắng vào mặt chúng
" các ông chỉ là đổ thích sưu cao thuế nặng, vơ vét của nhân dân cho
Trang 10ThS Phạm Văn D ư
nhiểu" Điều đó chứng tò Nguyên Trãi rất căm ghét bọn tham quan ô lại chỉ lăm le vơ vét của dân Mùa xuân năm Thiệu Bình thứ tư (1437) vua Thái Tông sai Nguyễn Trãi cùng Lương Đăng chế ra nhạc cụ và sáng tác các điệu nhạc sử dụng cho lễ nghi Nhân dịp đó mà Nguyên Trãi trình bày tư tướng nhân văn của ông một cách sâu sắc:
Thời loạn dụng vỗ, thời bình dụng văn Ngày nay định ra lễ nhạc chính là phải thời lắm Song cây không có gốc không thể đứng vững, không có văn không thể lưu hành Hòa bình là gâc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc Thần phụng chiếu định ra âm nhạc, không giám không gắng hết sức tâm lực Song học vấn sơ sài nông cạn, sợ trong áng thanh luật không khó làm cho được hài hòa Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăm nuôi muôn dân, khiến trong thôn cùng xóm vắng không có tiêng hờn giận oán sầu, đó tức là giữ được cái gốc của nhạc" (Nguyễn Trãi, 1976:19)
Lập trường của Nguyễn Trãi đã thể hiện rất rõ, nguồn gôc của nghệ thuật (ở đây là âm nhạc) phải bắt nguồn từ đời sông an lạc của nhân dân Nhân dân có được no ấm hạnh phúc thì đó chính là gôc của nghệ thuật hưng thịnh
Một trong những vấn đề then chô't trong tư tường nhân văn của Nguyễn Trãi đó là phát triển giáo dục, xây dựng con người theo mẫu người lý tưởng
Nguyễn Trãi luôn quan tâm, lo lắng và thường trăn trở suy tư về đào tạo lóp người kế tục: "không biết ai làm mực, làm dây" Ông cho rằng để xây dựng nên con người có tài, có đạo đức có lý tưởng thì vấn
đề quan trọng sô' một là phải thực hiện phát triền giáo dục, mọi ngưòi dân trong xã hội phải được giáo hóa trươc tiên là người trên phải tự giáo dục nêu gương Theo Nguyễn Trãi giáo dục là một trong những biện pháp chính trị cơ bản để tạo lập duy trì một xã hội lý tưởng, trong việc tạo ra những con người, mẫu người lý tướng Vói cương vị là một nhà Nho, Nguyên Trãi luôn ý thức được vai trò của giáo dục, ông lúc nào cũng hành động và làm theo phương châm của Khổng Tử "giáo nhân bất yếm, hôì nhân bất quyện" (dạy người không biê't mỏi, học
người không biết chán): “Nên thợ nên thảy nhờ có học; No ăn no m ặc bới hay làm (Nguyễn Trãi, 1976: 454)