chất kỹ thuật, nghiên cứu cũng như chính sách thu hút nhân lực từ các nước khác.Tuy nhiên, xét trên một số khía cạnh, lao động giá rẻ cũng đủ thu hút các công tyđầu tư vào Châu Á, mà Việ
Trang 1TÌNH HÌNH THU HÚT FDI Ở CHÂU Á THỰC TRẠNG NHỮNG RỦI RO VÀ LỢI ÍCH CHẤU Á GẶP PHẢI.
2.1 Châu Á – tình hình và xu hướng thu hút FDI.
2.1.1 Nhận xét chung về tình hình các nước Châu Á hiện nay.
Vấn đề khủng hoảng nợ ở Châu Âu và Mỹ ngày nay đang trở thành một dấu hiệu
của một kết quả tất yếu: Sự mất dần vị thế thống trị của các nước phương tây.Trong khi nhiều người nghĩ rằng cũng phải rất lâu nữa điều này mới có thể xảy rathì một nghiên cứu gần đây của Citi Investment đã chỉ ra sự biến đổi lớn này đangdiễn ra từng giờ
Nhìn vào đồ thị ta thấy, nền kinh tế mới nổi ở Châu Á (không bao gồm Nhật Bản)
sẽ trở nên lớn hơn cả Mỹ và Châu Âu vào khoảng 2015 Trong khi thị phần của
Mỹ và các nước châu Âu đang dần dần nhỏ lại thì thị phầnTrung Quốc lại có thể sẽtăng đáng kể trong khoảng 10 năm tới
Báo cáo của Doing Business 2010 vừa xếp hạng khả năng làm việc tại các nền kinh
tế của 183 nước trên thế giới trong giai đoạn từ 6/2008 đến 5/2009 Bảng xếp hạng
1
Trang 2này cung cấp một cái nhìn tổng quát về thực trạng môi trường làm việc của cácnước trên thế giới Trong phần này, chỉ trích ra các nước trong khu vực Châu Á:
Trang 3Nền kinh tế Mứ
c độ dễ làm việc
Bắt đầu một côn
g ty
Giấy phép xây dựn g
Tuyể n dụng lao động
Đăn
g ký sở hữu
Vay tín dụn g
Bảo vệ nhà đầu tư
Trả thuế
Giao dịch tại cửa khẩ u
Tuâ n thủ hợp đồng
Đón g cửa công ty
Trang 4Theo http://doingbusiness.org/economyrankings/
Có thể nhận thấy rõ ràng từ bảng xếp hạng trên, nền kinh tế Singapore và TrungQuốc đang dẫn đầu về chất lượng môi trường làm việc trên thế giới nói chung và
cả Châu Á nói riêng Để có được kết quả như vậy chứng tỏ chính phủ các nước này
đã có những biện pháp tích cực nhằm khuyến khích và thúc đẩy đầu tư, kinh doanhhiệu quả
Phần dưới đây sẽ đi vào chi tiết điểm chung và những khác biệt trong chính sáchcũng như tình hình các nước Châu Á, đặc biệt là các thị trường mới nổi:
a) Về chất lượng lao động:
Bảng dưới đây so sánh chất lượng lao động một số nước tiêu biểu trong khu vựcChâu Á so với toàn thế giới về trình độ học vấn, tay nghề, kỹ năng và mức độtuyển dụng – sa thải
Tiêu chí
đánh giá
Lao động trình độ trung học
Khả năng sẵn có về nghiên cứu
và đào tạo
Quy mô đào tạo nhân viên
Chất lượng
hệ thống giáo dục
Dễ tuyển dụng và
sa thải
Dễ tuyển dụng lao động nước ngoài
Trang 5chất kỹ thuật, nghiên cứu cũng như chính sách thu hút nhân lực từ các nước khác.Tuy nhiên, xét trên một số khía cạnh, lao động giá rẻ cũng đủ thu hút các công tyđầu tư vào Châu Á, mà Việt Nam và Trung Quốc là 2 nước dẫn đầu về lực lượnglao động không tay nghề giá rẻ Hơn nữa, mức lương cho nhân viên văn phòng vàcác giám đốc quản lý cũng là lợi thế so sánh đối với Trung Quốc, Thái Lan và ViệtNam Mặc dù vậy, nếu xem chất lượng lao động là nhân tố quyết định đối với 1 dự
án thì cơ hội cho Trung Quốc và Việt Nam là rất thấp
b) Về chính sách bảo vệ nhà đầu tư:
Theo báo cáo gần đây, sự xuất hiện của các luật và điều lệ bảo vệ các nhà đầu tưchiếm hơn 73% các quyết định đầu tư của các công ty Việt Nam và Philipin cầnđẩy mạnh tính minh bạch trong giao dịch, trong khi hầu hết các nước Đông Nam Áđược xếp hạng tốt về tính minh bạch Quan trọng hơn, Việt Nam cần tăng cường
sự bảo vệ các nhà đầu tư
Bảng xếp hạng khả năng bảo vệ nhà đầu tư: Các bảng dưới đây so sánh dựa trên
mức độ công khai, mức độ chịu trách nhiệm trực tiếp và khả năng dễ khởi kiện củacác trái chủ, lấy trung bình 3 chỉ số này ta được bảng xếp hạng khả năng bảo vệnhà đầu tư của mỗi nước
5
Chỉ số xếp hạng khả năng bảo vệ các nhà đầu tư
Asian Countries Protection index (0-10)
Theo http://www.business-in asia.com/asia/asia_protection_to_investors.html
Tính minh bạch trong giao dịch
Asian Countries Extent of Disclosure
Trang 6c) Về việc sử dụng lao động ở Châu Á.
Báo cáo của trang web doingbusiness.org cũng đo mức độ linh hoạt trong sử dụnglao động dựa trên điều lệ tuyển dụng, thời gian làm việc và sa thải phù hợp với quyđịnh của tổ chức lao động thế giới (ILO)
Chỉ số mức độ khó khăn trong sa thải lao động
Bảng so sánh dựa trên các lý do được chấp nhận đối với việc sa thải công nhân, tái
bổ nhiệm, tái huấn luyện
Trang 7- Chỉ số mức độ khó khăn trong tuyển dụng lao động
Bảng dưới đây so sánh dựa trên thời hạn tối đa của hợp các hợp đồng và mứclương tối thiểu của thực tập viên hoặc nhân viên mới
Asian Countries Difficulty of Redundancy Index 1-100
d) Về việc chi trả thuế
Báo của của Doing Business đã khảo sát thuế và các khoản đóng góp mà một công
ty vừa và nhỏ phải đóng hay nắm giữ trong một năm
Số tiền thuế phải trả một năm
Asian Countries Payments (number per year)
Trang 8Khoản thời gian phải bỏ ra
Thời gian bỏ ra cho việc chuẩn bị, lập hồ sơ và chi trả thuế thu nhập doanh nghiệp,VAT và các khoản đóng góp xã
Asian Countries Time it takes (in hours per year)
Trang 9Tóm tắt những phát triển và thay đổi của một số nước Châu Á.
Hồng Kông
Năm 2010, Hồng Kông (Trung Quốc) nới lỏng việc thành lập doanh nghiệp bằngcách đơn giản hoá các thủ tục đăng ký và sát nhập Nền kinh tế cũng sát lập chínhsách một cửa, cho phép 6 cơ sở địa phương và 2 cơ sở dịch vụ tư nhân làm việcchung để xúc tiến việc phát hành các giấy phép xây dựng Việc đăng ký sở hữu tàisản cũng trở nên dễ hơn vì thuế trước bạn bây giờ có thể nộp qua mạng
Ấn Độ
Năm 2010, các thủ tục kinh doanh của Ấn Độ theo điều tiết của bộ luậtSecuritization Act 2002 trở nên hiệu quả hơn, nới lỏng quy trình và giảm bớt thờigian đòi hỏi việc đóng cửa một doanh nghiệp
Indonesia
Năm 2010, Indonesia nới lỏng các quy trình thành lập công ty đối với các đăng kýthành lập công ty mới bằng cách giới thiệu các dịch vụ đăng ký qua mạng, loại bỏmột số loại giấy phép nhất định, làm cho thủ tục đăng ký hiệu quả hơn, và cắt giảmcác chi phí hành chính công ty, chi phí phát hành, chi phí đăng ký, chi phí giấyphép hoạt động Kết quả là, 2 thủ tục và 16 ngày được cắt giảm, chi phí công tymới thành lập trung bình giảm gần 52% GDP trên đầu người Việc đăng ký sở hữutài sản cũng trở nên dễ dàng hơn vì các kỳ hạn của tiến trình đăng ký sổ đất được
9
Trang 10công bố cụ thể Hơn nữa, Indonesia đã tăng mức độ bảo vệ nhà đầu tư bằng cáchtriển khai các quy định minh bạch trong giao dịch.
Lào
Năm 2010 Lào đơn giản hoá việc trả thuế bằng cách hợp nhất 3 loại thuế: thuếdoanh thu, thuế tiêu thụ và thuế thu nhập cá nhân thành một loại đơn giản hơn.Chính phủ nước này cũng cải thiện cách thức nộp tiền và đánh thuế nhân viên vănphòng Thời hạn nộp thuế được giảm xuống 198 giờ một năm
Malaysia
Năm 2010, Malaysia đơn giản hoá việc thành lập doanh nghiệp với chế độ mộtcửa Thêm vào đó, chính phủ Malay còn cắt giảm các phí sát nhập và hợp nhấtcông ty Điều này còn khá mới nên chính phủ Malay đang lên kế hoạch mộtchương trình phổ biến rộng rãi hệ thống thu phí này
Philipin
Năm 2010, Philipin tăng hiệu quả tiếp cận tín dụng bằng cách đưa ra điều luậtthông tin tín mới nhằm điều tiết các hoạt động và dịch vụ của hệ thống thông tin tíndụng Chính phủ Philipin cũng cắt giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp từ 35%xuống còn 30% và đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu hành chính
Thái Lan
Năm 2010, Thái Lan đơn giản hoá việc thành lập doanh nghiệp mới bằng cách cắtgiảm 1 thủ tục hành chính và một ngày trong tiến trình đăng ký cho các công tymới thành lập
Việt Nam
Năm 2010 Việt Nam cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống còn 25%
và bỏ thuế phụ thu đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng sử dụng đất Việt Namcũng thông qua luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới và luật thuế VAT mới Ngoài
ra, mức độ cạnh tranh trong ngành công nghiệp logistics tăng cao và việc ứng dụng
Trang 11cách thức quản lý hành chính mới từ khi là thành viên của WTO đã giảm bớt sự trìtrệ trong thương mại đáng kể.
Nhìn chung, các nước có được xem là thị trường mới nổi ở Châu Á đã và đangthực hiện nới lỏng các quy định về thủ tục hành chính, đặc biệt là đối với việcthành lập công ty mới, tăng cường các luật về bảo vệ nhà đầu tư và nâng cao chấtlượng lao động để ngày càng thu hút nguồn vốn FDI trên thế giới
2.1.2 Tình hình FDI của khu vực Châu Á.
11
Trang 12Theo khảo sát của UNCTAD 2009-2011, Châu Á đang thu hút một lượng FDI lớnnhất trong so với các khu vực đang phát triển khác và đang trở thành một địa điểm
lý tưởng nhất để đầu tư vào trong vòng 3 năm tới 5 nước Châu Á bao gồm: TrungQuốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan đang được đánh giá là 5 trong 15địa điểm thu hút nguồn vốn FDI nhiều nhất
Tình hình FDI cụ thể qua các năm:
a) Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á
Bất chấp tác động của khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu lên các nền kinh tếcác nước nhận FDI tại Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á lẫn các nước đi đầu tư,tổng lượng FDI vào các khu vực này tăng 17%, đạt $300 nghìn tỷ Có 14 nước
Trang 13tăng nhận FDI, phần lớn trong số đó là do hoạt động thâu tóm và sát nhập qua biêngiới Giá trị ròng của hoạt động này lên đến $51 nghìn tỷ.
Tuy nhiên dòng vốn FDI đổ vào bắt đầu giảm từ đầu năm 2009, đặc biệt là ở nềnkinh tế lớn như Trung Quốc, Ấn Độ và doanh số các công ty thâu tóm và sát nhậpgiảm đáng kể trong nửa năm đầu 2009 còn $16 nghìn tỷ Giống như nhiều khu vựcđang phát triển khác, Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á không thể thoát khỏi cú sốckinh tế từ khủng hoảng tài chính toàn cầu Cụ thể hơn, bởi vì nền kinh tế các khuvực này phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu, nên một sự sụt giảm trong nhu cầu hànghoá dịch vụ từ nước ngoài dẫn đến làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vựcvào quý 4/2008
Dòng FDI chảy vào Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á trong năm 2008 lần lượt là
$187 nghìn tỷ, $60 nghìn tỷ, $51 nghìn tỷ Nếu như năm 2007, tốc độ tăng dòngFDI vào 3 khu vực này tương đối bằng nhau thì sang năm 2008 có một sự khácbiệt đáng kể: 49% ở Nam Á, 24% ở Đông Á và -14% ở Đông Nam Á Mức độ thuhút FDI của các khu vực cũng có sự khác nhau lớn FDI vào 2 nền kinh tế mới nổilớn nhất là Trung Quốc và Ấn Độ tiếp tục tăng trong năm 2008 Trong 4 nướcChâu Á thuộc nhóm NIEs, dòng FDI tăng mạnh ở Hàn Quốc và tiếp tục tăng ởTrung Quốc nhưng lại giảm đáng kể ở Singapore và Đài Loan Ở Malaysia và TháiLan, dòng FDI giảm nhẹ Một số nước khác ở Đông Nam Á, bao gồm Indonesia vàViệt Nam, đã chứng tỏ được khả năng duy trì dòng FDI qua khủng hoảng
Một điểm đáng lưu ý là dòng vốn FDI chảy vào khu vực này trong vài năm gầnđây từng bước đóng vai trò rất quan trọng đối với các nền kinh tế nhận FDI, đặcbiệt là Trung Quốc và Ấn Độ Với dòng FDI vào tăng vượt trội, đạt mức cao nhấttrong lịch sử ($108 nghìn tỷ) trong năm 2008, Trung Quốc trở thành nước nhậnFDI cao thứ 3 trên thế giới (sau Mỹ và Pháp) Ấn Độ xếp ở vị trí thứ 10 TrungQuốc và Ấn Độ cũng được xếp ở vị trí dẫn đầu và vị trí thứ 3 các nền kinh tế mớinổi và là nơi thu hút FDI lớn trên thế giới theo UNCTAD
13
Trang 14b) Tây Á.
Dòng vốn FDI chảy vào Tây Á tăng 16% lên $90 nghìn tỷ trong năm 2008, đánhdấu năm thứ 6 tăng liên tiếp Thị phần của khu vực trong tổng số vốn FDI chảy vàocác nước đang phát triển tăng 15% trong năm 2008, so với lượng một lượng khôngđáng kể 3% năm 2002 Nhìn chung, dòng FDI chảy vào Tây Á chủ yếu là các nướcSaudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ và Irắc, đặc biệt là từ năm 2003 Lượng FDI này chiếmkhoảng 75% tổng lượng FDI tích luỹ từ 2003 đến 2007 và lên đến 78% trong năm
2008 3 nước kể trên cũng là 3 nước hút FDI nhiều nhất trong khu vực, chiếmkhoảng 70% tổng lượng FDI tập trung vào Tây Á năm 2008
Sự tăng FDI năm 2008 chủ yếu là do lượng FDI tăng lớn ở khu vực Saudi Arabia,tăng 57% đến $38 nghìn tỷ Lượng tiền vào các ngành công nghiệp hoá dầu và tinh
Trang 15chế lên đến $12 nghìn tỷ, tăng 57% so với năm trước đó Lượng tiền vào bất độngsản tăng gấp 4 lần, đạt $7.9 nghìn tỷ
Cho đến tháng 9/2008, lượng FDI vào Tây Á vẫn tăng đáng kể do giá dầu tăngmạnh Các thành viên của Hội đồng hợp tác vùng vịnh (GCC) đã sử dụng nguồntài nguyên dầu mỏ dồi dào của mình để thực hiện các dự án lớn trong nhiều lĩnhvực công nghiệp khác nhau như công nghệ tinh chế, hoá dầu, điện, nước, truyềnthông, bất động sản, du lịch và giải trí Trong mỗi dự án, mức phụ thuộc vào nguồnvốn FDI ngày càng tăng, chi phí tài chính không nhiều nhưng phải trả những khoảnlớn cho dây chuyền công nghệ, các chuyên gia và các giám đốc quản lý
Giá dầu đột ngột sụt giảm mạnh và từng bước khiến cho viễn cảnh nền kinh tế toàncầu trở nên tồi tệ hơn bắt đầu từ cuối quý 3/2008 Các nước khu vực này bắt đầuphải đối mặt với nguy cơ thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai lầnđầu tiên trong suốt 5 năm và các dự án đang triển khai ở các nước phải đối mặt vớinhững khó khăn lớn từ khủng hoảng tín dụng và viễn cảnh kinh tế toàn cầu Cácngân hàng quốc tế từng sẵn sàng cho các dự án của các nước thuộc GCC vay độtngột quay lưng lại Cuối năm 2008, chỉ còn khoảng 12 ngân hàng chủ động tìmkiếm các hợp đồng dự án tài chính, giảm từ mức 45 ngân hàng năm 2006 Kết quả
là các dự án quan trọng về dầu mỏ và gas, công nghiệp hoá và cơ sở hạ tầng từngthu hút nhiều nguồn FDI nhiều nhất phải bị hoãn lại
15
Trang 16Trong khi dòng vốn FDI chảy vào khu vực Tây Á vẫn còn giữ ở mức cao trongsuốt cuộc khủng hoảng 2008 thì doanh số của các công ty thâu tóm và sát nhập quabiên giới giảm 36% xuống còn $14.7 nghìn tỷ trong năm 2008 do sự sụt giảm cácdòng tiền ròng của MNCs từ các nước phát triển (giảm 71% xuống còn $4.2 nghìntỷ), từ các nước đang phát triển sụt giảm nhẹ (giảm 5%)
Trong nửa năm đầu 2009, doanh số các công ty thâu tóm và sát nhập qua biên giớigiảm chỉ còn %1.4 nghìn tỷ
2.1.3 Lợi ích và rủi ro của MNCs đầu tư bằng vốn FDI.
Trong bất kỳ một hình thức đầu tư nào, lợi nhuận luôn là mục tiêu lớn nhất, tuynhiên, rủi ro cũng đã trở thành một thành phần cố hữu trong chính sự đầu tư đó.Đầu tư quốc tế cũng không ngoại lệ, lợi nhuận cao, và vì thế, rủi ro cũng trở nênkhó kiểm soát hơn Tuy nhiên, bằng cách đa dạng hóa đầu tư qua các quốc gia khácnhau, nơi mà các chu kỳ kinh tế không hoàn toàn như nhau, MNCs có thể giảmthiểu sự sụt giảm trong lợi nhuận kinh doanh
2.1.3.1 Lợi ích:
a) Đảm bảo sự ổn định trong lợi nhuận
Trang 17- Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải chịu sự ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh củanền kinh tế mà mình đang hoạt động Khi một công ty hoạt động trong thời kỳ mànền kinh tế trong nước đã đến giai đoạn hưng thịnh hay suy thoái, thì việc bắt taytìm kiếm một thị trường mới là một vấn đề cần thiết Ở những quốc gia khác nhau
có các chu kỳ kinh tế không giống nhau, tuy nhiên cũng không quá khác do xuhướng toàn cầu hóa Việc mở rộng đầu tư qua những quốc gia mới sẽ đảm bảo lợinhuận cho MNCs, có thể làm tăng tổng lợi nhuận hay giảm thiểu việc giảm sút dosuy thoái ở nước có trụ sở chính Đặc biệt, những MNC hoạt động trong nhữngngành mới, kỹ thuật cao có thể tìm kiếm một chu kỳ kinh doanh mới ở thị trườngChâu Á do phần lớn là các nước mới nổi, đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ.Châu Á được phân ra nhiều khu vực, mỗi khu vực có một sức hút với mỗi ngànhkhác nhau
b) Mở rộng thị trường và gia tăng thương hiệu công ty
Hầu hết các quốc gia Châu Á là các thị trường mới nổi, dân số đông nên triển vọng
mở rộng thị trường của MNCs là hết sức khả quan Theo Internet Worlfd Stats (số liệu cập nhật 30/06/2010),ước tính năm 2010, dân số Châu Á chiếm 56% dân số
toàn thế giới Sau khi khủng hoảng tài chính qua đi, nhu cầu của Mỹ và châu Âu vẫn chưa đủ mạnh, nhưng với số lượng dân số đang tăng trưởng, tầng lớp trung lưu không ngừng gia tăng và chi tiêu đầu tư mạnh mẽ của châu Á đã tạo tiềm lực tăng trưởng cho MNCs.
Việc MNCs tiến hành đầu tư ra các nước Châu Á còn có thể tận dụng được nhữnglợi thế so sánh tốt hơn Đồng thời, Châu Á cũng là một khu vực đang trong giaiđoạn tăng trưởng, những yếu tốt nhân lực, vật lực cũng như các chính sách hỗ trợcũng mang lại một sự thuận lợi cho MNCs qua việc có được các chi phí sản xuấttốt hơn, hợp lý hơn Mang lại một tỷ suất sinh lời cao hơn Theo các nghiên cứu,phần lớn lợi nhuận của MNCs là thu được từ hoạt động ở nước ngoài
Trong năm 2010, lợi nhuận của Ngân hàng HSBC tại Hong Kong tăng trưởng 13%, còn lợi nhuận tại các khu vực khác ở châu Á lại tăng tới 36%.
17