1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác an ninh từ năm 1961 đến năm 1968

116 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc nghiên cứu đánh giá, đúc rút kinh nghiệm một cách đầy đủ, sâu sắc về sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là TWC miền Nam đối với công tác an ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Chủ tịch Hội đồng Người hướng dẫn khoa học

PGS TS NGÔ ĐĂNG TRI PGS.TS HOÀNG HỒNG

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Hoàng Hồng Tất cả các số liệu, tư liệu sử dụng trong luận văn này đều trung thực, chính xác, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, năm 2020

Khuất Duy Hưng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7

6 Những đóng góp của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1 TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC AN NINH GIAI ĐOẠN 1961 - 1965 9

1.1 Khái quát công tác an ninh của Xứ ủy Nam Bộ và chủ trương của Trung ương Cục miền Nam về công tác an ninh 9

1.1.1 Khái quát công tác an ninh của Xứ ủy Nam Bộ 9

1.1.2 Sự thành lập Trung ương Cục miền Nam và chủ trương của Trung ương Cục về công tác an ninh 17

1.2 Quá trình chỉ đạo công tác an ninh của Trung ương Cục miền Nam 25

1.2.1 Xây dựng hệ thống tổ chức và lực lượng an ninh 25

1.2.2 Chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh 28

1.2.3 Chỉ đạo công tác tình báo, điệp báo 31

1.2.4 Chỉ đạo chống do thám, gián điệp 35

1.2.5 Chỉ đạo đấu tranh vũ trang và diệt ác trừ gian 40

Tiểu kết chương 1 44

Chương 2: TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC AN NINH GIAI ĐOẠN 1965 – 1968 45

2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Trung ương Cục miền Nam về công tác an ninh 45

Trang 6

2.1.1 Yêu cầu mới 45

2.1.2 Chủ trương của Trung ương Cục miền Nam về công tác an ninh 47

2.2 Quá trình chỉ đạo công tác an ninh của Trung ương Cục miền Nam 50

2.2.1 Củng cố hệ thống tổ chức và lực lượng an ninh 50

2.2.2 Chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh 54

2.2.3 Chỉ đạo công tác tình báo, điệp báo 57

2.2.4 Chỉ đạo chống do thám, gián điệp và diệt ác, trừ gian 60

2.2.5 Chỉ đạo lực lương an ninh tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 64

Tiểu kết chương 2 70

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 71

3.1 Nhận xét 71

3.1.1 Ưu điểm 71

3.1.2 Hạn chế 75

3.2 Một số kinh nghiệm 76

3.2.1 Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của An ninh miền Nam 76

3.2.2 Cần nhận thức rõ vai trò quan trọng của quần chúng nhân dân đối với công tác an ninh 78

3.2.3 Luôn nắm chắc địch tình, chủ động đối phó với mọi âm mưu, thủ đoạn của địch 80

3.2.4 Không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, ý chí cách mạng của cán bộ, chiến sĩ An ninh, đáp ứng mọi yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng 83

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 Trong thắng lợi chung của toàn dân tộc có sự đóng góp to lớn của lực lượng công an nhân dân nói chung và của lực lượng An ninh (LLAN) miền Nam nói riêng

Sau Hiệp định Giơ- ne- vơ (1954), đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam còn dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai Cuộc đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta đứng trước những thử thách vô cùng to lớn Nhân dân ta phải đối đầu với đế quốc Mỹ, một đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự hàng đầu, có nhiều tham vọng và âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Trung ương Cục (TWC) miền Nam, LLAN miền Nam bước vào cuộc chiến đấu mới đầy gian khổ, hi sinh Với tinh thần chiến đấu ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, linh hoạt, LLAN miền Nam đã hoàn thành tốt công tác bảo vệ cơ quan của Đảng và phong trào của quần chúng nhân dân; kịp thời nắm bắt tình hình, phát hiện các âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng của kẻ thù; trừng trị bọn thám báo, biệt kích, gián điệp, ác ôn có nhiều nợ máu với cách mạng LLAN miền Nam đã góp phần quan trọng cùng quân dân miền Nam lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ: Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh và trực tiếp tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

Sự lãnh đạo của Đảng và TWC miền Nam đối với công tác an ninh, cùng với quá trình chiến đấu đầy hi sinh gian khổ với những chiến công thầm

Trang 8

lặng nhưng to lớn của LLAN miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước cho đến nay chưa được nhiều người biết đến Do đó, việc nghiên cứu đánh giá, đúc rút kinh nghiệm một cách đầy đủ, sâu sắc về sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là TWC miền Nam đối với công tác an ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần phục vụ việc thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của lực lượng Công

an nhân dân trong giai đoạn hiện nay là: đảm bảo giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, gây rối, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch, phản động, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác an ninh từ năm 1961 đến năm 1968 làm luận văn thạc sĩ

khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề TWC miền Nam lãnh đạo công tác an ninh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Có thể nêu những công trình chính như sau:

- Ban nghiên cứu tổng kết lịch sử Công an nhân dân (1995), An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Nxb Công an nhân dân

Nội dung trình bày về quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của LLAN miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong đó tập trung chủ yếu vào hoạt động của lực lượng An ninh Những vấn đề liên quan sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng, trực tiếp là TWC miền Nam mặc dù có được đề cập nhưng chưa rõ nét

- Viện Lịch sử Công an (2005), Biên niên sự kiện lịch sử An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Nội dung cuốn sách trình bày tóm tắt các sự kiện liên quan đến đường lối, chủ

Trang 9

trương, chính sách của Đảng, Xứ ủy Nam Bộ, TWC miền Nam đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nói chung và công tác an ninh miền Nam nói riêng; các sự kiện liên quan đến tổ chức, xây dựng lực lượng và các hoạt động tiêu biểu của LLAN miền Nam thời kỳ chống Mỹ (giai đoạn 1954 – 1975)

- Viện Lịch sử Công an (2010), Tổng kết lịch sử xây dựng lực lượng Công an nhân dân (1945 – 2000), Nxb Công an nhân dân Nội dung gồm hai

phần Phần một: khái quát lịch sử về công tác xây dựng của lực lượng Công

an nhân dân qua các giai đoạn lịch sử, (từ khi ra đời (1945) đến năm 2000); những mặt thành công và hạn chế Phần hai: Các bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong cả nước

- Viện lịch sử công an (2007), Lịch sử an ninh Khu VI thời kỳ chống

Mỹ cứu nước 1962-1975, Nxb Công an nhân dân Nội dung phản ánh sự lãnh

đạo chỉ đạo của Đảng, Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Khu VI đối với công tác an ninh khu (Cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên), quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của lực lượng An ninh Khu (từ khi được thành lập năm 1962 – 1975), một số kinh nghiệm rút ra qua thực tiễn hoạt động của An ninh Khu

- Viện lịch sử công an (2008), Lịch sử an ninh Khu V thời kỳ chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb Công an nhân dân Nội dung phản ánh sự lãnh đạo

chỉ đạo của Đảng, Khu ủy Khu V đối với công tác an ninh, quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của lực lượng An ninh Khu (từ năm 1954 – 1975), một số kinh nghiệm rút ra

- Viện lịch sử công an (2010), Lịch sử an ninh Khu Đông Nam Bộ thời

kỳ chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb Công an nhân dân Nội dung phản

ánh sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Trung ương Cục, Khu ủy Khu Đông Nam

Bộ đối với công tác an ninh Khu; quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, những chiến công, thành tích tiêu biểu của lực lượng An ninh Khu Đông Nam Bộ trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Trang 10

- Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2008), Lịch sử biên niên Xứ

ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 – 1975), Nxb Chính trị Quốc

gia Nội dung bao gồm các sự kiện tiêu biểu phản ánh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Xứ ủy Nam Bộ, TWC miền Nam đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, trong đó có nhiều sự kiện liên qua đến sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam đối với công tác An ninh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2015), Lịch sử Xứ ủy Nam

Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 – 1975), Nxb Chính trị Quốc gia

Nội dung cuốn sách trình bày quá trình xây dựng và phát triển của xứ uỷ Nam

Bộ và TWC miền Nam; vai trò chỉ đạo, sự sáng tạo của Xứ uỷ Nam Bộ và TWC miền Nam trong việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, phương pháp cách mạng của Đảng qua các thời kỳ; những nét chính của phong trào cách mạng miền Nam dưới sự lãnh đạo trực tiếp của xứ uỷ Nam Bộ và TWC miền Nam; đồng thời, làm rõ sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương (BCH TW) Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với

Xứ uỷ Nam Bộ và Trung ương cục Miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 và phong trào cách mạng Miền Nam

- Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2012), Lịch sử Nam bộ kháng chiến (1954-1975), Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia Nội dung phản ánh

Vai trò của Đảng, của Xứ ủy Nam Bộ và TWC miền Nam lãnh đạo quân, dân Nam Bộ thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; những khó khăn gian khổ, sự hy sinh anh dũng và những chiến công thành tích vẻ vang mà quân, dân Nam bộ đã giành được, góp phần đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

- Luận văn: Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng an ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975 (2012), Vũ Thị Thu Hiền, Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia HN Nội dung đề cập đến sự lãnh đạo,

Trang 11

chỉ đạo của Đảng trong công tác xây dựng lực lượng An ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975

- Viện B35, Tổng cục Tình báo (2017), Tổng kết lịch sử Công tác điệp báo an ninh miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975),

Nxb Công an nhân dân Nội dung gồm hai phần Phần một: Phản ánh các bước phát triển của cuộc chiến đấu trên mặt trận Điệp báo An ninh miền Nam thời

kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) Phần hai: Rút ra một số bài học kinh nghiệm liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, công tác xây dựng lực lượng và các mặt công tác nghiệp vụ của Điệp báo An ninh miền Nam

Các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận vấn đề an ninh miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở những góc độ khác nhau: tổng kết lịch sử an ninh; biên niên lịch sử an ninh và lịch sử ngành an ninh…; đã tái hiện được những hoạt động phong phú, phức tạp cùng những chiến công thầm lặng trong các lĩnh vực khác nhau của LLAN miền Nam; đã cung cấp nguồn

tư liệu to lớn và rất quí giá được khai thác công phu từ các kho lưu trữ, từ hồi

kí của các lãnh đạo, từ khảo sát thực tế

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, việc phân tích, đánh giá vai trò lãnh đạo của TWC miền Nam đối với công tác an ninh chưa được đầy đủ; việc trình bày quá trình chỉ đạo của TWC trong các lĩnh vực an ninh cụ thể chưa theo

một hệ thống chặt chẽ Đề tài: Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác anninh từ năm 1961 đến năm 1968, trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các

công trình nghiên cứu trước, sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau:

Thứ nhất, phân tích làm rõ chủ trương của Đảng và sự quán triệt của

TWC miền Nam về công tác an ninh ở miền Nam từ 1961 đến 1968

Thứ hai, phân tích và trình bày rõ sự chỉ đạo của TWC miền Nam, sự

thực thi của Ban An ninh các cấp ở miền Nam về công tác an ninh theo các lĩnh vực cụ thể, qua hai giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước:

Trang 12

giai đoạn chống Chiến tranh đặc biệt (1961-1965) và giai đoạn chống Chiến tranh cục bộ (1965-1968)

Thứ ba, nhận xét, đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc rút một số kinh

nghiệm lịch sử về sự lãnh đạo của TWC miền Nam đối với công tác an ninh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Làm rõ quá trình lãnh đạo công tác an ninh của TWC miền Nam từ năm 1961 đến năm 1968; qua đó khẳng định những ưu điểm, hạn chế và đúc rút một số kinh nghiệm về lãnh đạo công tác an ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích, đánh giá những yếu tố tác động đến sự lãnh đao công tác

an ninh của TWC miền Nam từ năm 1961 đến năm 1968

- Trình bày, tái hiện lại một cách khách quan quá trình TWC miền Nam lãnh đạo công tác an ninh từ năm 1961 đến năm 1968 theo một hệ thống có tính lịch sử

- Phân tích ưu điểm, hạn chế và những kinh nghiệm lịch sử có thể có trong quá trình lãnh đạo công tác an ninh của TWC miền Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác an ninh của TWC miên Nam từ năm 1961 đến năm 1968

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian (1961-1968): Năm 1961 là năm TWC được thành lập và

lãnh đạo mọi mặt của cách mạng miền Nam trong đó có công tác an ninh chống lại Chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ Năm 1968 là năm quân dân miền Nam, dưới sự lãnh đạo của TWC đã đánh bại hoàn toàn Chiến tranh cục bộ

Về không gian: miền Nam Việt Nam (từ vĩ tuyến 17 trở vào)

Trang 13

Về nội dung: Luận văn nghiên cứu các chủ trương chung của Đảng và

TWC về công tác an ninh đồng thời nghiên cứu sự chỉ đạo cụ thể của TWC trên các lĩnh vực an ninh như: xây dựng tổ chức và lực lượng an ninh; công tác bảo vệ an ninh; công tác tình báo, điệp báo; công tác chống do thám gián điệp; công tác diệt ác trừ gian

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn chúng tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu sau:

- Các văn kiện của Đảng, Bộ Công an và TWC miền Nam về công tác

an ninh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

- Các tổng kết về công tác an ninh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Bộ Công an

- Hồi ký của các các lãnh đạo Đảng, nhà nước và công an liên quan đến công tác an ninh

- Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được luận văn này, chúng tôi sử dụng những phương pháp

cơ bản của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp lô gic; ngoài ra còn sử dụng những phương pháp bổ trợ khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, phỏng vấn… để làm rõ quá trình chỉ đạo thực hiện công tác an ninh của TWC

6 Những đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào lý luận và thực tiễn như:

Trang 14

- Phục dựng có hệ thống các chủ trương, các biện pháp trong quá trình chỉ đạo thực hiện công tác an ninh của TWC miền Nam từ năm 1961 đến năm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác an ninh giai

Trang 15

Chương 1 TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM LÃNH ĐẠO

CÔNG TÁC AN NINH GIAI ĐOẠN 1961 - 1965

1.1 Khái quát công tác an ninh của Xứ ủy Nam Bộ và chủ trương của Trung ương Cục miền Nam về công tác an ninh

1.1.1 Khái quát công tác an ninh của Xứ ủy Nam Bộ

Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Việt Nam đã giành thắng lợi vĩ đại với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ làm chấn động địa cầu Tuy nhiên đế quốc Mỹ không từ bỏ âm mưu thôn tính Việt Nam Bất chấp các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, Mỹ vẫn đưa quân, vũ khí vào miền Nam, xây dựng thêm căn cứ quân sự Dự báo được tình hình, tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương (BCH TW) Đảng họp nhận định, đánh giá âm mưu của địch xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Đối với chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ trước mắt của Đảng ở miền Nam trong giai đoạn hiện tại: “Phải đấu tranh đòi đối phương thi hành đầy đủ hiệp định Giơnevơ, củng cố hoà bình, thực hiện tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, không được khủng bố, đàn áp nhân dân trả thù những người kháng chiến cũ, không được cướp lại ruộng đất cũng như các quyền lợi dân sinh dân chủ mà cách mạng đã mang lại cho nhân dân” [4, tr.17] Đồng thời Đảng xác định phương thức đấu tranh cách mạng là chuyển

từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị với phương châm hoạt động bất hợp pháp, nửa hợp pháp và hợp pháp Đảng quyết định để lại một số cán bộ ở miền Nam hoạt động bí mật, lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng Về tổ chức, Đảng chủ trương giải thể Trung ương Cục (TWC) miền Nam, thành lập Xứ ủy Nam Bộ

Quán triệt ý kiến của Bộ Chính trị trong giai đoạn cách mạng miền Nam đang chuyển mình, nhiệm vụ của lực lượng công an nhân dân cũng thay

Trang 16

đổi để phù hợp với chiến trường mới Tháng 9 năm 1954, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an, cử đồng chí Viễn Chi vào Nam Bộ để truyền đạt chủ trương của lãnh đạo Bộ Công an về công tác công an nói chung cũng như công tác tình báo nói riêng trong tình hình mới

Tháng 10 năm 1954, tại khu căn cứ U Minh Hạ, Hội nghị thành lập Xứ

uỷ Nam Bộ được triệu tập do đồng chí Lê Duẩn chủ trì Hội nghị đã nghiên cứu quán triệt các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị về nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong tình hình mới và xác định: Trước mắt nhân dân miền Nam phải đoàn kết đấu tranh buộc đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phải thi hành Hiệp định Giơnevơ Đảng bộ miền Nam phải rút vào hoạt động bí mật Hội nghị thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị giải thể TWC miền Nam và thành lập cơ quan lãnh đạo mới là Xứ ủy Nam Bộ do đồng chí Lê Duẩn - Ủy viên Bộ Chính trị làm Bí thư Để bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lượng cách mạng

và tổ chức đấu tranh chống bọn công an ngụy, mật vụ, nhất là bọn ác ôn có thâm thù với cách mạng, với kháng chiến, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương thành lập Ban bảo vệ Xứ uỷ; các cấp ủy thành lập Ban bảo vệ do đồng chí đồng chí

Bí thư hoặc Phó Bí thư phụ trách và có cán bộ Công an ở lại làm chuyên trách với nhiệm vụ: vận động quần chúng tham gia phong trào phòng giam bảo mật, chống địch khủng bố, giải thoát cho cán bộ của ta bị địch bắt; tổ chức nắm tình hình của địch; xây dựng bảo vệ hệ thống giao thông liên lạc; chuẩn bị căn

cứ dự bị, bảo đảm an toàn cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng Tổ chức của Ban Bảo vệ Xứ ủy gồm ba bộ phận: Bộ phận địch tình, bộ phận bảo vệ và bộ phận thông tin liên lạc

Đầu năm 1955, theo quyết định của Xứ uỷ Nam bộ, Ban Địch tình Xứ

uỷ Nam Bộ được thành lập Đồng chí Văn Viên, Xứ uỷ viên làm Trưởng ban; các đồng chí Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm, Hoàng Minh Đạo làm Phó trưởng ban, sau đó bổ sung thêm đồng chí Trần Quốc Hương (tức Mười Hương) từ miền Bắc vào làm Phó trưởng ban Tổ chức của Ban địch tình Xứ

Trang 17

uỷ có hai bộ phận: bộ phận sưu tập 1 (Điệp báo) và bộ phận tổng hợp địch tình Ban địch tình Xứ ủy có nhiệm vụ: “Tổ chức xây dựng và chỉ đạo cơ sở điệp báo trong các cơ quan tình báo, gián điệp, công an, cảnh sát, các cơ quan cao cấp của ngụy quân, ngụy quyền, các đảng phái tôn giáo phản động để nắm tình hình, âm mưu, chỉ đạo của chúng; xây dựng căn cứ địa kháng chiến

để bảo vệ các cấp ủy, bảo vệ thực lực kháng chiến” [72, tr.88]

Sau khi Ban Địch tình Xứ ủy được thành lập, theo chỉ thị của Xứ ủy Nam Bộ, các khu, tỉnh cũng lần lượt thành lập Ban Địch tình các cấp Riêng các tỉnh thuộc Liên tỉnh ủy III (sau là khu 6) ở cực Nam Trung Bộ không có tổ chức Ban Địch tình mà mỗi cán bộ, đảng viên ở lại đều làm công tác địch tình và vận động quần chúng làm công tác binh vận bảo tồn thực lực cách mạng

Trong thời gian này, Đảng chủ trương tập trung các hoạt động điệp báo cho chiến trường miền Nam Cơ sở điệp báo của Ban Địch tình Xứ ủy được tập hợp từ các nguồn cơ sở nội tuyến của Sở Công an Nam Bộ, Công an Sài Gòn – Chợ Lớn, Quân báo quân đội và Cục Tình báo Trung ương vào Nam theo đường di cư hoặc tập kết theo các đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền Các đồng chí lãnh đạo Ban đã trực tiếp tổ chức, xây dựng được nhiều lưới điệp báo hoạt động theo 4 hệ, mỗi đồng chí lãnh đạo, chỉ huy một hệ theo nguyên tắc ngăn cách, bí mật: Hệ tình báo quân sự có 6 lưới do các đồng chí Hoàng Minh Đạo phụ trách, sau này do đồng chí Văn Viên phụ trách; Hệ tình báo chính trị gồm 6 lưới, do đồng chí Mai Chí Thọ phụ trách đảm nhiệm việc theo dõi các đảng phái và ngụy quyền Sài Gòn trung ương; Hệ tình báo phản gián gồm 5 lưới, do đồng chí Cao Đăng Chiếm phụ trách đảm nhiệm việc theo dõi các tổ chức đàn áp thuộc cơ quan đàn áp ở trung ương địch; Hệ tình báo chiến lược có 10 lưới do đồng chí Trần Quốc Hương phụ trách

Ban Địch tình Xứ ủy và các Khu ủy, Tỉnh ủy đã bố trí được nhiều cán

bộ và cơ sở xâm nhập vào hàng ngũ địch Trong đó có nhiều đồng chí đã thâm

Trang 18

nhập sâu vào các cơ quan, tổ chức trọng yếu của địch như: Phủ Thủ tướng, Nha Công an Nam phần, cơ quan Tổng thanh tra dân vệ của Diệm và các giáo phái…, qua đó đã thu được nhiều tin tức quan trọng của địch Đặc biệt những tin tức liên quan đến các chiến dịch quân sự, các kế hoạch đàn áp của Diệm; đồng thời khoét sâu mâu thuẫn giữa bọn phản động tay sai thân Mỹ với bọn thân Pháp và ngay trong nội bộ của chúng với nhau Ở một số nơi, ta đã lôi kéo binh lính nổi dậy diệt ác ôn, tước vũ khí, sau đó gia nhập vào lực lượng

vũ trang của cách mạng Nhiều cán bộ tình báo bố trí hoạt động trong lòng địch thời gian này đã tạo được vỏ bọc, phát huy tác dụng tốt, hoạt động có hiệu quả cho đến ngày miền hoàn toàn giải phóng

Sau khi buộc Pháp rút toàn bộ quân đội về nước và thôn tính xong lực lượng chống đối của các giáo phái thân Pháp, thống nhất được các lực lượng

vũ trang vào quân đội quốc gia, từ tháng 7- 1956, Mỹ, Diệm bắt đầu triển khai chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” giai đoạn 2 Chúng tiến hành hai chiến dịch lớn mang tên “Trương Tấn Bửu” ở miền Trung Nam Bộ và “Thoại Ngọc Hầu” ở miền Tây Nam Bộ Diệm sử dụng lực lượng quân sự đánh phá ác liệt

và rộng khắp, kết hợp với hoạt động tình báo, gián điệp, nhằm bóc gỡ triệt để

cơ sở cách mạng Chúng tập trung vào các vùng trọng điểm như: Sài Gòn, Gia Định, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Bến Tre, Cần Thơ, Long Xuyên, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãy, Bình Định, Phú Yên… Cùng với

kế hoạch càn quét đàn áp phong trào cách mạng, Mỹ, Diệm còn công bố sắc luật “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, đồng thời gài gián điệp vào các tổ chức quần chúng, sử dụng những phần tử đầu hàng đầu thú để chỉ điểm, nhận diện đảng viên và quần chúng tích cực; ngoài ra Diệm còn lập các “Khu dinh điền”, “Khu trù mật” dồn đồng bào các tỉnh đồng bằng lên miền núi nhằm phá nát căn cứ địa của cách mạng; cô lập cán bộ đảng viên và những người yêu nước, buộc họ phải ra trình diện Cách mạng miền Nam đứng trước những khó khăn tổn thất lớn

Trang 19

Nhằm định hướng cho phong trào cách mạng của quần chúng phù hợp với tương quan lực lượng giữa địch và ta, tháng 6-1956, Bộ Chính trị ra nghị quyết về tình hình, nhiệm vụ cách mạng miền Nam Nghị quyết xác định hình thức đấu tranh là: “Đấu tranh chính trị, không phải là đấu tranh vũ trang Nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định Phải củng cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện

có, xây dựng các căn cứ làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng các cơ sở quần chúng vững mạnh là điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang Tổ chức tự vệ quần chúng nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng và giải thoát cán bộ khi cần thiết” [4, tr.35- 36]

Mùa thu năm 1956, đồng chí Lê Duẩn, Uỷ viên Bộ Chính trị phụ trách miền Nam đã soạn thảo “Đề cương cách mạng miềnNam” Trong đó nêu rõ:

“Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là đánh đổ chính quyền độc tài phát xít Mỹ- Diệm, thực hiện chính sách hoà hợp dân tộc dân chủ để giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc, phong kiến độc tài phát xít Mỹ- Diệm, cùng toàn quốc thực hiện hoà bình thống nhất đất nước” [4, tr 36]

Tháng 12-1956, Xứ uỷ Nam Bộ tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình và

đề ra nhiệm vụ trước mắt là: “Tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ rừng núi, tranh thủ vận động và cải tạo, tập hợp các lực lượng giáo phái bị Mỹ- Diệm đánh tan đứng vào hàng ngũ nhân dân, lợi dụng danh nghĩa giáo phái ly khai để diệt ác ôn” [76, tr 2] Căn cứ vào Nghị quyết của Xứ ủy và tình hình thực tiễn của địa phương, Liên khu ủy V thảo luận và đề ra phương châm đấu tranh của khu là:

“Dùng vũ trang bộ phận để phối hợp với đấu tranh chính trị, tiêu diệt bọn Mỹ

để khởi động tinh thần dân tộc chống Mỹ, diệt bọn phản động để tranh thủ bọn lừng trừng, diệt loại đầu sỏ bên trên để lay chuyển bọn bên dưới”

Từ nhiệm vụ bí mật chờ thời, công tác an ninh miền Nam đã có bước chuyển mình, tuy chưa rầm rộ nhưng đã dần đi vào chính quy và hoạt động

Trang 20

theo sự chỉ đạo của Xứ uỷ Nam Bộ Lãnh đạo các khu ủy, tỉnh ủy đã xúc tiến xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ và tiến hành vũ trang tuyên truyền tự vệ Các Ban Địch tình của Đảng ở nhiều nơi như An Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Long An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một…đã hình thành nhiều tổ dân canh ở các vùng ấp, xã nông thôn Điển hình là Ban Địch tình Tây Ninh, Thủ Dầu Một đã dựa vào địch lấy danh nghĩa “Cao Đài ly khai” tấn công vào các đồn bốt ở đồn điền cao su Bến Củi (Tây Ninh), Cán bộ Ban Địch tình Sài Gòn– Gia Định phối hợp với nhân dân thị trấn Củ Chi tổ chức trấn áp bọn ác

ôn trong tổ chức “Tiểu đội đồ đen” gây cho bọn chúng nhiều tổn thất, dẫn đến hoang mang Ở một số vùng nông thôn, đồng bằng Nam Bộ và rừng núi Trung Bộ như vùng U Minh, Đồng Tháp Mười, Chiến khu D… đã xuất hiện nhiều phong trào du kích đấu tranh có vũ trang đã làm hạn chế hoạt động của bọn do thám, gián điệp Tính đến cuối năm 1957 ở Nam Bộ đã có 37 đại đội

vũ trang cách mạng Ở Liên khu II nhiều đội trừ gian ra đời Đặc biệt Ban Địch tình Tây Ninh đã tương kế tựu kế giao cho đồng chí Hà Minh Trí thực hiện kế hoạch tiêu diệt Ngô Đình Diệm ở hội chợ Ban Mê Thuột tháng 2 năm

1957 Tuy sự kiện trừng trị Diệm không thành, nhưng đòn đánh ác liệt của các cán bộ địch tình Tây Ninh đã gây được ảnh hưởng chính trị rất tốt trong nhân dân và làm mâu thuẫn trong nội bộ địch càng thêm sâu sắc

Từ năm 1957 - 1960, trên toàn miền Nam lúc này, cuộc đấu tranh giữa

ta và địch diễn ra hết sức quyết liệt và trên quy mô rộng lớn hơn Mỹ, Diệm huy động quân đội chính quy, bảo an, dân vệ và các lực lượng tình báo mật

vụ, cảnh sát… tiến hành các cuộc càn quét quy mô lớn dài ngày, trà đi sát lại khắp các vùng nông thôn, miền núi, nhất là vùng giải phóng cũ, vùng căn cứ cách mạng, đẩy mạnh chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” ở khắp miền Nam, ngày 6-5-1959 Diệm ban hành Luật 10/59 “đưa cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, với chính sách “thà giết nhầm còn hơn để lọt”, đàn áp khốc liệt, man rợ lực lượng cách mạng Tính đến hết năm 1959, đã có hơn 466.000 cán bộ cách

Trang 21

mạng, quần chúng yêu nước bị địch bắt, 400.000 người bị tù đày, 63.000 người bị địch giết hại [71, tr.19] Tại Trị - Thiên chỉ còn 160/23.400 đảng viên [1, tr 310] Trước sự khủng bố ác liệt, dã man của kẻ thù, có cán bộ, đảng viên nhụt ý chí chiến đấu đã đầu hàng giặc, nhiều cơ sở cách mạng bị phá vỡ Quần chúng tốt, đảng viên, đoàn viên bị bắt ngày càng nhiều, nhân dân miền Nam nghẹt thở, Cách mạng miền Nam đứng trước tổn thất khó khăn chưa từng thấy, tưởng chừng không gượng dậy được Đây là thời kỳ đen tối nhất của cách mạng miền Nam Tổ chức và hoạt động của Ban Địch tình Xứ

ủy và Ban Địch tình các khu, tỉnh trong thời điểm này cũng gặp khó khăn, tổn thất lớn Nhiều cơ sở, màng lưới hoạt động trong lòng địch bị địch phát hiện, phá vỡ, hoặc không phát huy được tác dụng, phải nằm im Nhiều cán bộ, cơ

sở của Ban, bị địch bắt, giết, tù đày, hoặc thủ tiêu Đồng Trần Quốc Hương Phó trưởng Ban Địch tình Xứ ủy cũng bị địch bắt Đứng trước tình thế hiểm nghèo, để bảo toàn lực lượng đầu não của Bộ chỉ huy kháng chiến ở miền Nam, Trung ương Đảng và Xứ ủy Nam bộ đã có chỉ thị cho Ban Địch tình Xứ

ủy tạm ngưng liên lạc với Xứ ủy Các lưới điệp báo của Ban Địch tình cũng tạm ngưng hoạt động Để tránh bị địch truy quét, Ban Địch tình chuyển địa bàn đứng chân, tạm lánh sang đất Campuchia, dựa vào phong trào Việt kiều

và nhân dân Campuchia để tiếp tục hoạt động, bổ sung lực lượng, triển khai xây dựng mạng lưới bí mật và tăng cường nắm tình hình tại địa bàn phục vụ cuộc kháng chiến trước mắt và lâu dài Ngoài ra, Ban Địch tình cũng đã xây dựng tại địa bàn những địa điểm tạm trú cho cán bộ trong nước bị lộ lánh sang tiếp tục hoạt động, làm đầu cầu liên lạc với Nha Tình báo Trung ương và

Bộ Công an

Từ thực tiễn của tình hình của cách mạng miền Nam, tháng 1- 1959, Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết 15/NQ-TW, xác định rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: “Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của

đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn

Trang 22

thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” Nghị quyết cũng chỉ rõ phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, dự kiến xu hướng phát triển từ khởi nghĩa của quần chúng

có thể tiến lên cuộc đấu tranh trường kỳ Nghị quyết 15/NQ-TW đã phản ánh đúng nhu cầu lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển cách mạng miền Nam, đáp ứng nguyện vọng của đồng bào, chiến sỹ miền Nam, tạo bước chuyển ngoặt cách mạng miền Nam từ thế phòng ngự sang thế phản công và trực tiếp dẫn tới thắng lợi của phong trào “Đồng khởi”

Phong trào Đồng khởi không những tạo ra được khí thế mới, địa bàn được mở rộng, mà còn chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, giáng một đòn bất ngờ vào chiến lược Aixenhao, làm thất bại một hình thức điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ”, “đánh dấu thời kỳ tạm ổn định của Mỹ, Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu” [51, tr 198]

Cách mạng phát triển, yêu cầu công tác bảo vệ tổ chức Đảng, bảo vệ các cơ sở cách mạng và bảo vệ phong trào cách mạng của quần chúng càng đòi hỏi cấp bách Để đáp ứng yêu cầu đó, tháng 7-1960 Xứ ủy quyết định chuyển căn cứ và cơ quan chỉ đạo của Ban Địch tình từ địa bàn Campuchia về miền Nam để vừa làm nhiệm vụ bảo vệ Xứ ủy, vừa bám sát được phong trào cách mạng, phục hồi và xây dựng lực lượng Đồng thời, đồng chí Nguyễn Văn Linh, bí thư Xứ uỷ Nam Bộ đã ra Chỉ thị số 01 về việc thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ uỷ và Ban Bảo vệ an ninh các cấp Chỉ thị nêu rõ: “Trước nay Đảng dựa vào quần chúng, lấy quần chúng làm nền tảng để đấu tranh bảo

vệ Đảng, điều đó rất đúng, cần phải tiếp tục Nhưng đó mới chỉ là đấu tranh

bề rộng, cần phải đi vào chiều sâu Đã đến lúc cần có một tổ chức chuyên trách đi sâu điều tra nghiên cứu giúp Đảng nắm chắc tình hình để tổ chức tấn công địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng” [72, tr 253]

Trang 23

Sau khi có chỉ thị, Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy và Ban Bảo vệ an ninh các cấp lần lượt được thành lập Từ cuối năm 1960, các tỉnh, thành phố và có nơi ở cấp huyện lần lượt thành lập các Ban Bảo vệ an ninh Các cấp ủy Đảng chọn những cán bộ (chủ yếu là số cán bộ Công an ở lại) trong các Ban Địch tình, Ban Căn cứ, giao liên, binh vận, bảo vệ làm cán

bộ lãnh đạo hoặc nòng cốt của Ban, đồng thời lựa chọn những thanh niên hăng hái, quần chúng tốt bổ sung dần cho lực lượng bảo vệ an ninh Từ đây, công tác đấu tranh chống phản cách mạng và các loại tội phạm khác

để bảo vệ Đảng, bảo vệ phong trào đấu tranh của quần chúng ở miền Nam

đã có một cơ quan chuyên trách làm nòng cốt, góp phần tích cực đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên

1.1.2 Sự thành lập Trung ương Cục miền Nam và chủ trương của Trung ương Cục về công tác an ninh

1.1.2.1 Sự thành lập Trung ương Cục miền Nam

Phong trào Đồng Khởi ở miền Nam đã làm rung chuyển chế độ Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tạo nên sự chuyển biến tình hình miền Nam với tốc độ nhanh chưa từng có Ngày 31-1-1960, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị

về Phương hướng công tác trước mắt của Đảng bộ miền Nam Chỉ thị nêu rõ:

“Phong trào cách mạng miền Nam hiện nay đang ở trong thời kỳ xây dựng và

súc tích lực lượng chứ chưa phải là thời kỳ trực tiếp cách mạng” Nhiệm vụ căn bản trước mắt của cách mạng miền Nam là: “Lấy lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng rộng rãi, chủ yếu là lực lượng của công nông, chống chính sách khủng bố, bóc lột và âm mưu gây chiến của địch để giữ vũng, củng cố và phát triển phong trào, ra sức xây dựng và súc tích lực lượng, tích cực mở rộng mặt trận, chuẩn bị điều kiện để có thể kịp thời lật đổ chế độ Mỹ - Diệm khi có thời cơ” [72, tr 240]

Ngày 20-12-1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời đã đáp ứng yêu cầu của cách mạng miền Nam trong bước ngoặt chuyển sang thời kỳ

Trang 24

mới – thời kỳ cách mạng miền Nam chuyển hẳn sang thế tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, liên tục Bước ngoặt đó đã tạo đà cho phong trào nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ vùng nông thôn được giải phóng về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội phát triển mạnh, hình thành thế hai chính quyền song song tồn tại ở miền Nam Việt Nam

Trước những thuận lợi đó, Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 3 (khóa III)

từ ngày 28-12-1960 đến 6-1-1961 đã quyết định thành lập TWC miền Nam thay Xứ ủy Nam Bộ, và quy định rõ về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TWC miền Nam trong tình hình mới Theo quy định của Trung ương Đảng, về tổ chức, TWC miền Nam là một bộ phận của BCH TW, gồm một số đồng chí Ủy viên Trung ương được BCH TW cử ra và được ủy nhiệm chỉ đạo toàn bộ công tác của Đảng ở miền Nam TWC miền Nam đặt dưới sự lãnh đạo của BCH TW, do Bộ Chính trị thường xuyên thay mặt Trung ương trực tiếp chỉ đạo

Trung ương Cục miền Nam có một Bí thư, một hoặc hai Phó Bí thư do BCH TW chỉ định và Ban Thường vụ do hội nghị TWC bầu cử Ngoài ra, tùy theo tình hình và yêu cầu công tác, TWC miền Nam sẽ tổ chức các cơ quan giúp việc cho phù hợp TWC thường lệ sáu tháng họp một lần Tùy tình hình

cụ thể, TWC có thể họp sớm hơn hoặc muộn hơn

Về nhiệm vụ của TWC miền Nam, BCH TW Đảng quy định: “Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng và những chỉ thị, nghị quyết của BCH TW và Bộ Chính trị về cách mạng miền Nam mà đề ra chủ trương, chính sách, phương châm, kế hoạch công tác và chỉ đạo thực hiện

cụ thể ở miền Nam Đối với những vấn đề quan trọng có quan hệ đến toàn quốc hoặc đối với nhiệm vụ chiến lược toàn miền Nam thì phải xin chỉ thị của Trung ương và Bộ Chính trị Trong trường hợp đặc biệt cấp bách không kịp xin chỉ thị của Trung ương, TWC có quyền đề ra những chủ trương chính sách lớn để đối phó kịp thời với tình hình, nhưng phải báo cáo ngay với Trung ương và Bộ Chính trị” [72, tr 280]

Trang 25

Ngày 27-3-1961, Trung ương Đảng chỉ định nhân sự của TWC miền Nam gồm 8 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư; Đồng chí Phan Văn Đáng (Hai Văn) và Võ Toàn (Võ Chí Công) làm Phó Bí thư; Các đồng chí: Phạm Văn Xô, Trần Lương (Trần Nam Trung), Phạm Thái Bường, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Đôn là ủy viên; sau bổ sung thêm đồng chí Trần Văn Quang, Trương Chí Cương (Tư Thuận)

Thời gian đầu sau thành lập, TWC miền Nam chỉ đạo toàn bộ công tác Đảng ở miền Nam, bao gồm Đảng bộ: Nam Bộ, Khu VI, Liên khu V, và Bình Trị Thiên TWC có cấp uỷ trực thuộc là Khu uỷ và Phân khu uỷ và các Ban chuyên môn giúp việc Ban An ninh của TWC do đồng chí Phan Văn Đáng, Phó Bí thư TWC kiêm Trưởng Ban

TWC miền Nam được thành lập trở lại đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp bách về chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ đang chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng Do yêu cầu cấp bách phải có một Đảng công khai lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam, sau khi thành lập một thời gian ngắn, TWC miền Nam xin ý kiến Trung ương

về việc lấy tên công khai cho Đảng bộ miền Nam Được sự đồng ý của Trung ương, ngày 27-11-1961 TWC ra chỉ thị về việc lấy tên công khai cho Đảng bộ miền Nam là Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam Đây là một chủ trương linh hoạt nhằm phục vụ cho công tác mặt trận, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, dùng mọi hình thức đấu tranh để đánh đổ kẻ thù, tạo điều kiện thuận lợi cho miền Bắc đấu tranh ngoại giao TWC khẳng định: “Tuy danh nghĩa công khai

có khác với miền Bắc nhưng bí mật trong nội bộ và về phương diện tổ chức thì Đảng bộ miền Nam trước sau vẫn là một bộ phận của Đảng Lao động Việt Nam, chịu sự lãnh đạo của BCH TW đứng đầu là Hồ Chủ tịch” [78, tr.13]

1.1.2.2 Chủ trương của Trung ương Cục miền Nam về công tác an ninh

Từ năm 1961, đế quốc Mỹ tiến hành Chiến tranh đặc biệt ở miền Nam Việt Nam Chiến tranh đặc biệt là cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ bằng

Trang 26

quân đội bản xứ và vũ khí Mỹ, viện trợ Mỹ Để tiến hành Chiến tranh đặc biệt

ở miền Nam, tháng 6 - 1961 Mỹ cử một phái đoàn do Staley cầm đầu cùng với tướng Taylo đến miền Nam Việt Nam nghiên cứu tại chỗ và soạn thảo kế hoạch “Bình định miền Nam trong 18 tháng” Kế hoạch này được chính phủ

Mỹ chấp nhận lấy tên là kế hoạch Staley-Taylo, có 3 nội dung chiến lược quan trọng:

Một là, tăng cường quân ngụy về số lượng, dùng lực lượng quân ngụy

mạnh do cố vấn Mỹ chỉ huy, được một số đơn vị Mỹ yểm trợ, mở nhiều cuộc hành quân, áp dụng chiến thuật cơ động bằng máy bay lên thẳng và xe thiết giáp, nhanh chóng tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng đang còn nhỏ yếu

Hai là, giữ vững các thành thị, xây dựng bộ máy kìm kẹp ngụy quyền

thật mạnh để ngăn chặn phong trào đấu tranh chính trị ở thành thị, ra sức “bình định”, lập “ấp chiến lược” để dập tắt phong trào cách mạng ở nông thôn

Ba là, tích cực phong tỏa biên giới, kiểm soát ven biển, cắt đứt sự chi

viện từ miền Bắc, cô lập cách mạng miền Nam, khi cần sẽ ném bom miền Bắc

để gây áp lực cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa

Mỹ - Diệm coi việc lập ấp chiến lược là “quốc sách”, là “xương sống” của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” nhằm giành giật nông dân và địa bàn nông thôn với cách mạng, triệt phá tận gốc cơ sở của chiến tranh du kích

Từ giữa năm 1961, Mỹ - Diệm bắt đầu triển khai thực hiện kế hoạch bình định miền Nam bằng nhiều thủ đoạn, biện pháp tàn khốc và đẫm máu Chúng mở những cuộc hành quân lớn nhỏ, kết hợp quân chủ lực với bọn bảo an, dân vệ, cảnh sát, thám báo hỗ trợ cho các đội “bình định” dồn dân vào các ấp chiến lược Đến cuối năm 1961 địch đã lập được 4000 ấp chiến lược Những nỗ lực của Mỹ - Diệm đã gây cho ta không ít khó khăn trong việc bám dân, bám cơ sở Mặt khác, những cuộc đột kích của lính biệt kích ngụy vào các căn cứ kháng chiến đã gây cho ta không ít khó khăn trong việc bảo vệ hậu phương và căn cứ

Trang 27

Tháng 10 - 1961 TWC miền Nam họp Hội nghị mở rộng lần thứ I tại Chiến khu D Hội nghị đã ra nghị quyết cụ thể hóa đường lối, nhiệm vụ kháng chiến ở miền Nam, gồm 10 công tác cụ thể:

- Đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng tấn công địch

- Đẩy mạnh đấu tranh vũ trang phối hợp với đấu tranh chính trị, phá tan

kế hoạch Staley - Taylo của địch, chuẩn bị mọi mặt cho tổng khởi nghĩa và đối phó với những âm mưu mới của địch

- Tăng cường vận động binh lính và sĩ quan trong quân đội địch, coi đây

là công tác có tính chất chiến lược cần quán triệt trong suốt quá trình cách mạng

- Đẩy mạnh công tác mặt trận và dân vận, tập hợp mọi lực lượng, tận dụng mọi khả năng chống Mỹ - Diệm

- Tiếp tục xây dựng và mở rộng căn cứ địa

- Cố gắng làm tốt công tác chính quyền ở vùng giải phóng

- Coi trọng và kịp thời đẩy mạnh công tác kinh tế, tài chính nhằm cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm nhu cầu to lớn của cách mạng ở thành thị

- Ra sức tuyên truyền, giáo dục đưa quần chúng đô thị ra đấu tranh chống địch, xây dựng và mở rộng cơ sở cách mạng ở thành thị

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục

- Củng cố, xây dựng và phát triển Đảng và Đoàn [41, tr 85]

Cũng trong tháng 10 – 1961, căn cứ thực tiễn chiến trường, Thường vụ TWC có chủ trương quan trọng về tổ chức công tác địch tình và công tác an ninh, quyết định Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam thống nhất về tổ chức và trực tiếp chỉ đạo, triển khai công tác tình báo Ban Địch tình bàn giao các lưới điệp báo, các cơ sở trong lòng địch và Ban Địch tình khu Sài Gòn - Gia Định cho Bộ Tư lệnh Quân giải phóng trực tiếp quản lý, chỉ đạo Từ đây, kết thúc vai trò lịch sử của các Ban Địch tình miền Nam Cùng thời điểm này (tháng 10-1961), Thường vụ TWC quyết định thành lập Ban Bảo vệ an ninh

Trang 28

Trung ương Cục miền Nam (ký hiệu C93B) [2, tr55] Ban Bảo vệ an ninh các cấp khu, tỉnh, huyện cũng được triển khai thành lập trong thời gian này

Sự ra đời của Ban An ninh TWC đã tạo dấu mốc quan trọng cho sự phát triển công tác an ninh từ trung ương đến cơ sở Với mục tiêu, định hướng

rõ ràng đã giúp cho LLAN làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời tham mưu phục vụ cấp uỷ các chủ trương, đối sách đấu tranh chống lại các âm mưu, hoạt động đánh phá của các loại tình báo, gián điệp Mỹ nguỵ

Tháng 1 năm 1963, tại căn cứ Trảng Bà Điếc- Lò Gò (Tân Biên- Tây Ninh), TWC tổ chức Hội nghị An ninh toàn miền Nam lần thứ nhất Dự hội nghị có các đồng chí lãnh đạo Ban An ninh TWC và 67 đại biểu Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư TWC tới dự và khai mạc hội nghị Đồng chí Phan Văn Đáng, phó Bí thư TWC, trưởng ban An ninh trực tiếp chỉ đạo Hội nghị

Hội nghị tổng kết tình hình và công tác đấu tranh của ta từ năm 1954 đến khi đế quốc Mỹ và tay sai tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Báo cáo nêu rõ: Thực hiện cuộc vận động của Đảng, từ phong trào Đồng khởi, quần chúng đã nổi dậy diệt trừ bọn ác ôn, tề, ngụy, gián điệp …đã ngăn chặn, hạn chế hoạt động phá hoại của chúng Nhưng do không thực hiện đúng chính sách của Đảng nên đã mắc nhiều sai lầm trong công tác đánh địch, gây một số khó khăn cho phong trào cách mạng

Trên cơ sở phân tích, dự kiến tình hình cuộc đấu tranh và hướng phát triển của cách mạng miền Nam, Hội nghị đã xác định nhiệm vụ của an ninh là:

“Ra sức ngăn ngừa và đánh bại mọi âm mưu phá hoại của gián điệp, phản động

để bảo vệ Đảng, bảo vệ các lực lượng cách mạng, bảo vệ các vùng giải phóng nhất là các vùng căn cứ, phục vụ cho việc xây dựng lực lượng chính trị và quân

sự, mở rộng vùng giải phóng, giải phóng miền Nam, góp phần bảo vệ miền Bắc

và thống nhất Tổ quốc” Hội nghị đề ra bốn công tác lớn của an ninh:

Trang 29

- Bảo vệ Đảng, đảm bảo an toàn các cơ quan và cán bộ lãnh đạo, bảo vệ

lực lượng vũ trang, các tổ chức của Đảng và quần chúng, bảo vệ căn cứ và

đường giao thông vận tải

- Kiên quyết và kịp thời trừ gian, trấn áp phản cách mạng phục vụ đắc

lực cho cuộc đấu tranh của nhân dân, phá thế kìm kẹp của địch, chống phá

khu, ấp chiến lược, chống gom dân, chống biệt kích, chống càn quét lấn

chiếm, bảo vệ thành quả cách mạng

- Xúc tiến việc điều tra nghiên cứu nắm tình hình địch một cách sâu sắc

và có hệ thống phục vụ yêu cầu đấu tranh trước mắt và lâu dài nhằm bảo vệ

cách mạng miền Nam và góp phần bảo vệ miền Bắc

- Đào tạo, giáo dục , bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ

cho cán bộ, nhân viên [41, tr.112 - 113]

Hội nghị thống nhất tên gọi của tổ chức an ninh các cấp ở miền Nam là

“Ban An ninh” và tập huấn cho cán bộ lãnh đạo an ninh các cấp về đường lối

chung của cách mạng miền Nam, về những vấn đề cơ bản của công tác an

ninh, nâng cao nhận thức cho cán bộ an ninh về tình hình, nhiệm vụ mới, bồi

dưỡng về công tác nghiệp vụ và giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến

sĩ, đồng thời định hướng công tác an ninh trong thời gian tới

Hội nghị An ninh toàn miền Nam lần thứ nhất có ý nghĩa rất quan

trọng, xác định rõ nhiệm vụ, nâng cao nhận thức cho lãnh đạo các cấp và cán

bộ, chiến sĩ an ninh, khẳng định vai trò, đánh dấu một bước trưởng thành của

LLAN miền Nam Sau Hội nghị, hệ thống tổ chức an ninh các cấp được củng

cố, nhất là an ninh xã Đây là lực lượng nòng cốt trong công tác nắm tình hình

địch, diệt ác, trừ gian, hỗ trợ quần chúng phá ấp chiến lược, giành quyền làm

chủ TWC cũng tăng cường một số đồng chí Ủy viên Ban An ninh TWC cho

một số khu, tỉnh

Đầu năm 1964, chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam

Việt Nam đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn Hòng cứu vãn tình thế và

Trang 30

rút kinh nghiệm thất bại của kế hoạch Staley-Taylo (bình định miền Nam trong 18 tháng) Mỹ đưa ra kế hoạch mới (không qui định thời gian) mang tên Johnson - MacNamara, tập trung lực lượng, thực hiện càn quét, lấn chiếm, lập

ấp chiến lược có trọng điểm nhằm vào đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam

Bộ, nhất là 6 tỉnh quanh Sài Gòn

Trước tình trên, ngày 18-3-1964, TWC ra Chỉ thị số 46/3 Về tăng cường công tác an ninh Chỉ thị chỉ rõ cho các cấp an ninh phải ra sức bảo vệ

vùng giải phóng, căn cứ; phát động quần chúng phòng gian bảo mật, cải tạo

tề, điệp, ngụy; nắm chắc tình hình, kịp thời đối phó hoạt động do thám, chống càn quét lấn chiếm, lập ấp chiến lược; phục vụ tốt kế hoạch tấn công quân sự, chính trị, phá ấp chiến lược; phát triển lực lượng ở vùng mới giải phóng, xây dựng cơ sở mật ở các đô thị, vùng ấp chiến lược

Về công tác an ninh, chỉ thị nêu rõ: “Cần đẩy mạnh công tác bảo vệ quân đội, tăng cường công tác phát động quần chúng phá ấp chiến lược, chống địch càn quét, đảm bảo chính sách tù, hàng binh và đẩy mạnh công tác điệp báo” [41, tr 130]

Ngày 28-8-1964, Thường vụ TWC ra Chỉ thị số 3C về “Tăng cường công tác an ninh theo kịp tình hình và nhiệm vụ mới” Chỉ thị nêu những mặt

công tác cơ bản của an ninh: đấu tranh chống do thám gián điệp; đẩy mạnh công tác nắm tình hình địch; phát động quần chúng khơi động thành phong trào phòng gian, bảo mật bảo vệ nội bộ Đảng, các cơ quan đơn vị; xây dựng lực lượng an ninh vũ trang ở cấp Trung ương, khu, tỉnh, huyện; đẩy mạnh công tác điệp báo an ninh bí mật và trinh sát vũ trang

Chỉ thị nêu một số vấn đề cụ thể để các cấp ủy Đảng chỉ đạo công tác

an ninh trong đó có việc quán triệt phương châm là không phân tuyến, chia vùng, xây dựng LLAN vững mạnh về tư tưởng, chính trị, nghiệp vụ và vũ trang, chuẩn bị điều kiện góp phần giành thắng lợi quyết định trong chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ

Trang 31

Đặc điểm mới của Chỉ thị này là theo phương hướng giành thắng lợi quyết định bằng tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở các đô thị miền Nam mà trọng điểm số một là Sài Gòn; đồng thời cũng chuẩn bị sẵn sàng đối phó với khả năng địch mở rộng thành chiến tranh cục bộ, nên có chủ trương xây dựng những binh chủng mới, như An ninh bí mật, trinh sát bí mật, trinh sát vũ trang, xây dựng LLAN vũ trang thành đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn [4, tr.114]

1.2 Quá trình chỉ đạo công tác an ninh của Trung ƣơng Cục miền Nam

1.2.1 Xây dựng hệ thống tổ chức và lực lượng an ninh

Sau khi Trung ương Cục miền Nam được thành lập, tháng 10-1961 Ban Bảo vệ an ninh Trung ương Cục miền Nam cũng được thành lập (ký hiệu C.93B) do đồng chí Phạm Thái Bường, Ủy viên Trung ương Đảng phụ trách; đồng chí Cao Đăng Chiếm được cử là Phó trưởng ban, sau bổ sung đồng chí Huỳnh Việt Thắng vào uỷ viên Ban trực tiếp chỉ đạo lực lượng An ninh miền Nam các tỉnh Nam Bộ và Khu VI Tháng 8-1962, đồng chí Phan Văn Đáng, Thường vụ TWC được chỉ định làm Trưởng ban, đồng chí Cao Đăng Chiếm

là Phó trưởng Ban và 4 đồng chí Huỳnh Việt Thắng (Tư Thắng), Lê Văn Còn (Mười Thạnh), Huỳnh Anh (Vũ Huỳnh, Chín Huỳnh), Thái Doãn Mẫn (Tám Nam) ủy viên Ban

Ở các tỉnh, thành phố, huyện, xã, từng bước Ban Bảo vệ an ninh cũng được hình thành Nhiệm vụ chủ yếu Ban bảo vệ An ninh TWC là: “Tham mưu cho Đảng về đường lối, chủ trương, đối sách đánh địch; xây dựng lực lượng an ninh; chỉ đạo, chỉ huy toàn LLAN Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ trực tiếp chiến đấu; chịu trách nhiệm về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ căn cứ TWC, chống do thám gián điệp, bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng…” [51, tr 200]

Để xây dựng tổ chức, bộ máy của lực lượng An ninh miền Nam, ngoài công tác tuyển chọn cán bộ an ninh tại chỗ, thì việc chi viện cán bộ của Bộ Công an đã trở thành yêu cầu cấp bách Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an

Trang 32

xác định chi viện cho An ninh miền Nam là một trong những nhiệm vụ đặc biệt Do vậy, ngay từ tháng 6-1961, Bộ đã chủ động lựa chọn 300 cán bộ quê

ở miền Nam và một số ở phía Bắc đang giữ chức vụ phó cục trưởng, phó trưởng ty, trưởng phó phòng và cán bộ trung cấp, tập trung về trường Công an Trung ương để bồi dưỡng thêm về đường lối, phương châm nguyên tắc, chính sách đấu tranh chống phản cách mạng của Đảng, tình hình cách mạng miền Nam, kinh nghiệm chiến đấu, giữ vững khí tiết cách mạng và bồi dưỡng thể lực…Số cán bộ này tăng cường cho An ninh miền Nam trong năm 1962

Được sự chi viện của Bộ, tháng 8-1962, Ban bảo vệ an ninh TWC đã kiện toàn về tổ chức Bộ máy tổ chức cuả Ban có các tiểu ban: Văn phòng (B1), Bảo vệ chính trị (B2), Điệp báo (B3), Trung đội Bảo vệ vũ trang và bộ phận sản xuất, các tổ điện đài, cơ yếu Ở các Khu uỷ, Tỉnh uỷ, các Ban An

ninh cũng lần lượt được thành lập

- Tháng 1-1962, Ban bảo vệ an ninh Khu 9 (Khu Tây Nam Bộ) được thành lập Đồng chí Lâm Văn Thê (Ba Hương) ủy viên thường vụ Khu ủy làm trưởng ban

- Tháng 2-1962, Ban bảo vệ an ninh Khu 8 (Khu Trung Nam Bộ) được thành lập Đồng chí Nguyễn Việt Thắng, Khu ủy viên làm trưởng ban

- Tháng 4-1962, Ban bảo vệ an ninh Khu Đông Nam Bộ được thành lập Đồng chí Nguyễn văn Chí, Phó Bí thư Khu ủy làm trưởng ban

- Quý 3 năm 1962, Ban bảo vệ an ninh Khu 6 được thành lập Đồng chí Trần Lê, Bí thư Khu ủy làm trưởng ban

Các Ban bảo vệ an ninh khu có các bộ phận: bảo vệ chính trị; bảo vệ

cơ quan và đội bảo vệ vũ trang Riêng Đặc khu Sài Gòn - Gia Định (T4) gồm

hai bộ phận: bộ phận vũ trang gọi là Tiểu đoàn Vinh Quang có nhiệm vụ bảo

vệ cán bộ khu uỷ, bảo vệ căn cứ, các cơ quan khu và bộ phận chuyên trách công tác an ninh Ở các tỉnh, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ đã hình thành hệ thống an ninh các cấp từ tỉnh đến huyện, xã, ấp

Trang 33

Nhằm đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, tháng 9-1963, Ban an ninh TWC thành lập Trường đào tạo cán bộ an ninh TWC (B6) Đối tượng đào tạo là cán bộ an ninh các khu, tỉnh, huyện Trường được xây dựng tại khu rừng Đội Thơ tỉnh Tây Ninh Đồng chí Phạm Văn Huấn được phân công phụ trách Trường Sau khi thành lập, trường nhanh chóng đi vào hoạt động, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ chủ chốt các khu, tỉnh, huyện Trong 2 năm 1963-1964 Trường đã đào tạo được 400 cán bộ an ninh

Nhằm mở rộng địa bàn hoạt động ở các thành phố, thị xã, thực hiện Chỉ thị của Thường vụ TWC, tháng 8-1964 Ban An ninh TWC đã quyết định thành lập lực lượng Trinh sát vũ trang với nhiệm vụ diệt ác, trừ gian, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược Từ cuối năm 1964 đến giữa năm 1965, Trinh sát vũ trang ở hầu hết các khu, tỉnh đều được thành lập Lực lượng Trinh sát vũ trang đã tổ chức nhiều trận đánh có tiếng vang lớn, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy làm tê liệt chính quyền địch ở cơ sở, mở rộng vùng giải phóng

Đáp ứng yêu cầu chi viện cho An ninh miền Nam, trong tháng 5 và

6-1964, Bộ Công an đã điều một số cán bộ cốt cán thuộc lực lượng cảnh vệ vào hướng dẫn tổ chức, đào tạo nghiệp vụ công tác cảnh vệ cho An ninh TWC, các khu, tỉnh miền Nam

Để tăng cường lực lượng lãnh đạo cho An ninh miền Nam, ngày

21-3-1964, Bộ Công an cử đồng chí Nguyễn Tài (Tư Trọng) - Cục trưởng Cục Bảo

vệ chính trị và đồng chí Nguyễn Hoàng (Hai An) - Phó cục trưởng Cục tham mưu Bộ Tư lệnh Công an vũ trang chi viện cho An ninh miền Nam và được

bổ sung làm ủy viên Ban An ninh TWC

Với hệ thống an ninh được thiết lập từ trung ương đến cơ sở đã tạo nên một thế trận rộng khắp, đủ để đối đầu với âm mưu, thủ đoạn tình báo, gián điệp nhà nghề nguy hiểm nhất, liều lĩnh nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn

Trang 34

LLAN miền Nam luôn là lực lượng nòng cốt của toàn dân đấu tranh chống tình báo, gián điệp, thám báo, biệt kích, diệt ác, phá kềm, phá ấp chiến lược bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ cơ sở chính trị trong vùng địch tạm chiếm, bảo vệ cuộc sống lao động của nhân dân vùng giải

phóng Đóng góp một phần quan trọng, làm phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam

1.2.2 Chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh

Từ năm 1961, vùng căn cứ, vùng giải phóng của ta ở miền Nam Việt Nam không ngừng được mở rộng trở thành hậu phương trực tiếp cho chiến trường Để triệt phá nguồn cung cấp nhân lực, vật lực, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tập trung lực lượng đánh phá các cơ quan đầu não và lực lượng vũ trang của ta trên khắp các tỉnh thành, đặc biệt là TWC Chúng bố trí một mạng lưới do thám, gián điệp dầy đặc, đánh người vào nội bộ của ta, xâm nhập vào vùng giải phóng, đánh cắp tài liệu, tác động chiến tranh tâm lý; tổ chức mạng lưới thông tin liên lạc rộng khắp, dùng máy bay trinh sát để phát hiện cơ quan và lực lượng của ta Từ đó huy động lực lượng càn quét và dùng máy bay ném bom huỷ diệt

Trước tình hình đó, ngày 27-11-1961, Thường vụ TWC ra Chỉ thị Về công tác bảo vệ an ninh ở khu vực có các cơ quan đầu não đóng quân, xác

định nhiệm vụ chính trị của LLAN miền Nam là bảo vệ an toàn các cơ quan, đơn vị, đề cao cảnh giác, khắc phục kịp thời những mặt yếu kém trong công tác bảo vệ an ninh, đẩy mạnh phong trào phòng gian bảo mật, thuần khiết nội

bộ và có kế hoạch bảo vệ an toàn tài liệu, kho tàng

Thực hiện Chỉ thị của TWC, các Ban bảo vệ an ninh ở miền Nam khẩn trương củng cố tổ chức, mở các lớp bồi dưỡng về chính trị và nghiệp vụ cho

số cán bộ làm công tác bảo vệ Ở khu V, đầu năm 1962, Thường vụ Khu uỷ

đã tiến hành củng cố hệ thống bảo vệ an ninh từ khu đến tỉnh, huyện, xã, đưa cán bộ cấp uỷ sang phụ trách Ở Sài Gòn- Gia Định, các bộ phận nghiệp vụ

Trang 35

như bảo vệ chính trị, điệp báo, trinh sát vũ trang, chấp pháp, trại giam…được thành lập Đến giữa năm 1962, bộ máy an ninh từ TWC đến cơ sở được hình thành Một số nơi, Ban bảo vệ an ninh đã lập các bộ phận nghiệp vụ như bảo

vệ chính trị, bảo vệ cơ quan, đội bảo vệ vũ trang, đẩy mạnh công tác phát động quần chúng phòng gian bảo mật, bảo vệ căn cứ, bảo vệ lãnh đạo

Ở các tỉnh Tuyên Đức, Thủ Dầu Một, Bình Long, Phước Long, Long

An, Bến Tre, Cà Mau, lực lượng bảo vệ an ninh phối hợp với các lực lượng

vũ trang khác hỗ trợ cho hàng vạn quần chúng nổi dậy diệt ác trừ gian, giành quyền làm chủ, chống địch càn quét, chống biệt kích, tập kích nhảy dù, điều tra bọn tình báo, bắt nhiều tên tề, điệp, do thám, thu nhiều vũ khí, phương tiện hoạt động của chúng Điển hình, lực lượng Bảo vệ an ninh ở huyện Bến Cát (Thủ Dầu Một) tấn công vào Chi khu cảnh sát và bình định của nguỵ ở thị xã, diệt hàng trăm tên, trong đó có tên trưởng chi cảnh sát và tên trưởng đoàn bình định, thu được kế hoạch bình định và nhiều tài liệu khác

Từ năm 1962, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ráo riết triển khai kế hoạch

dồn dân lập ấp chiến lược nhằm kìm kẹp quần chúng với những thủ đoạn tát nước bắt cá, lùng bắt cán bộ, đảng viên, phá cơ sở cách mạng nhằm tiêu diệt

lực lượng vũ trang và các cơ quan đầu não Ngày 8-8-1962, Diệm công bố kế hoạch dồn dân lập ấp chiến lược trên toàn lãnh thổ miền nam, coi ấp chiến

lược là xương sống của chiến lược chiến tranh đặc biệt và đưa vấn đề này lên

thành quốc sách Cũng trong năm 1962, Diệm dự định tập trung 10 triệu dân ở nông thôn và 16.000 ấp chiến lược ở các tỉnh xung quanh Sài Gòn Chúng tiến hành các cuộc càn quét dưới sự yểm trợ của quân đội Mỹ với các chiến

thuật mới như: trực thăng vận, thiết xa vận, bủa lưới phóng lao…

Trước tình hình đó, ngày 20- 4-1962, TWC đã họp triển khai kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về những công tác trước mắt của cách mạng miền Nam Hội nghị TWC nhất trí với Nghị quyết của Bộ Chính

trị và nhấn mạnh ba công tác trọng tâm cần thực hiện là: “Đẩy mạnh phong

Trang 36

trào đấu tranh toàn diện, làm thất bại kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược của địch; ra sức xây dựng và mở rộng căn cứ địa vững mạnh; tăng cường công tác quản lý nông thôn, khẩn trương xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang” [41, tr 97]

Thực hiện các nhiệm vụ trên, LLAN miền Nam đã tích cực tham gia hỗ trợ quần chúng nhân dân đấu tranh chống âm mưu dồn dân, lập ấp của địch., đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp binh vận, phá tan từng mảng chính quyền địch ở nông thôn, xã Từ thực tiễn cuộc đấu tranh phá ấp chiến lược,

An ninh miền Nam rút được nhiều kinh nghiệm về chủ động tiến công địch cũng chính là để tích cực bảo vệ an ninh và bảo vệ chính mình

Đầu năm 1963, Mỹ - Diệm tăng cường hoạt động đánh phá hành lang, cắt đứt giao thông liên lạc, làm tê liệt sự lãnh đạo của Đảng Ngày 28-1-

1963, Thường vụ TWC ra chỉ thị số 32/CT về Bảo vệ An ninh trên tuyến hành lang Chỉ thị xác định Ban bảo vệ An ninh các cấp, Bảo vệ quân đội

kết hợp với Ban Giao- Bưu- Vận phải tăng cường giáo dục cho cán bộ chiến

sĩ và nhân dân về tinh thần cảnh giác cách mạng và ý thức phòng gia bảo mật, chấp hành nghiêm nội qui bảo vệ hành lang, bảo vệ căn cứ và kho tàng Kiểm tra, kiểm soát việc đi lại, thư từ giao lưu trên hành lang, tăng cường cán bộ bảo vệ trên các trục hành lang quan trọng và các trạm giao thông, liên lạc đầu mối [41, tr.111]

Từ giữa năm 1963, Mỹ tăng ngân sách viện trợ cho chính quyền Diệm, đưa thêm vào miền Nam 600 cố vấn quân sự và tình báo gián điệp, đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, liên tục mở các cuộc hành quân càn quét bình định dài ngày để dồn dân Chúng còn sử dụng các

chiến thuật “bủa lưới phóng lao”, “phượng hoàng vồ mồi”,” trên đe dưới búa”, tập trung đánh vào các vùng căn cứ của ta ở miền Đông Nam Bộ, các

tỉnh xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Khu V để tìm diệt cơ quan đầu não của cách mạng, phá hoại kho tàng, hành lang vận chuyển của ta Tuy nhiên chúng

Trang 37

bị vấp phải thế trận an ninh dưới dự chỉ đạo của TWC miền Nam, lần lượt những kế hoạch đó đều thất bại Sau khi Diệm – Nhu bị lật đổ, kế hoạch Xtalây – Taylo bình định miền Nam trong 18 tháng bị thất bại Mỹ và chính

quyền Sài Gòn mới lên cầm quyền buộc phải điều chỉnh chiến lược Chiến tranh đặc biệt ở miền Nam Chúng thực hiện kế hoạch Johnson- MacNamra

bình định miền Nam trong 2 năm (1964 – 1965) Với kế hoạch Johnson- MacNamra, bình định có trọng điểm, Mỹ tăng cường chi viện quân sự, tập trung càn quét, lấn chiếm gom dân, lập ấp, chủ yếu nhằm vào các tỉnh bao quanh Sài Gòn như Tây Ninh, Long An, Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và các tỉnh đồng bằng Nam Bộ

Trước tình hình trên, ngày 18-3-1964, TWC đã ra Chỉ thị số 46/3 chỉ đạo đối phó Sau đó, Ban An ninh TWC đã ra chỉ thị cho các cấp an ninh

“phải ra sức bảo vệ vùng giải phóng, vùng căn cứ Phát động quần chúng phòng gian, bảo mật, cải tạo tề điệp ngụy, nắm chắc tình hình kịp thời đối phó mọi hoạt động do thám, chống càn quét lấn chiếm lập ấp chiến lược, phục vụ tốt tiến công quân sự, chính trị, phát triển lực lượng vùng mới giải phóng, xây dựng cơ sở mật ở các thành phố, thị xã, thị trấn [4, tr 110]

1.2.3 Chỉ đạo công tác tình báo, điệp báo

Đứng trước yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới, để đảm bảo sự chủ động chiến lược của Trung ương, tăng cường sự hiểu biết địch tình của các khu, tỉnh, ngày 25-11-1961, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 525/BTN hướng dẫn TWC miền Nam chỉ đạo LLAN

về công tác nắm tình hình địch, trong đó nêu rõ những nội dung cơ bản về đối tượng, địa bàn, nhiệm vụ, phương châm, nguyên tắc, phương pháp hoạt động

và việc lựa chọn cán bộ làm công tác nắm tình hình địch Tháng 3-1962, thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác nắm tình hình địch,

Bộ Công an quyết định thành lập 5 trung tâm tình báo tại địa bàn miền Nam: A1 tại Sài Gòn, A2 tại Nha Trang, A3 ở Quảng Đà, A4 tại Thừa Thiên Huế,

Trang 38

A5 ở Quảng Trị Các trung tâm tình báo có nhiệm vụ xây dựng, phát triển cơ

sở bí mật đi vào lòng địch, nắm tình hình âm mưu, tổ chức, kế hoạch hoạt động của các cơ quan tình báo Mỹ- Diệm Việc triển khai 5 trung tâm tình báo của Bộ Công an tại các vùng trọng điểm chiến lược của Mỹ - Diệm ở miền Nam đã tạo nên một thế trận vững chắc trên mặt trận tin tức góp phần phục vụ đắc lực công tác thu tin nắm tình hình địch trên chiến trường miền Nam Đến năm 1964, theo đề nghị của Ban An ninh TWC, để tăng cường công tác điệp báo cho An ninh miền Nam, Bộ Công an đã lần lượt bàn giao các Tổ Tình báo

từ A1 đến A4 cho An ninh các khu, tỉnh trực tiếp chỉ đạo hoạt động, Bộ Công

an chỉ giữ lại Tổ A5 hoạt động tại khu Trị Thiên – Huế

Tháng 8-1962, Tiểu ban Điệp báo thuộc Ban An ninh TWC được thành lập, gọi tắt là B3 Ở các khu, tỉnh, các tiểu ban điệp báo cũng được thành lập Riêng khu VI, đến cuối năm 1962, khi có cán bộ chi viện từ miền Bắc vào mới thành lập Tuy nhiên, ở các khu, tỉnh xuất phát từ yêu cầu nắm tình hình địch của cấp ủy địa phương, công tác điệp báo đã được triển khai từ trước đó Trong thời gian này, Ban An ninh TWC đã mở một số lớp huấn luyện ngắn ngày cho cán bộ an ninh các khu, tỉnh trọng điểm như Tây Ninh, khu miền Đông và Đặc khu Sài Gòn – Gia Định Nội dung chủ yếu tập trung vào những vấn đề cơ bản của công tác an ninh và công tác điệp báo Sau khi tham dự các lớp huấn luyện, các cán bộ An ninh, Điệp báo trở về địa phương, đã chủ động vận dụng sáng tạo lý thuyết được học về xây dựng, tổ chức mạng lưới Điệp báo, tuyển chọn các cơ sở mới, móc nối cơ sở cũ phục vụ nhiệm vụ công tác nắm tình hình, phát hiện địch, tham mưu giúp cấp uỷ lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh đấu tranh phá các âm mưu của địch như bình định, lập ấp chiến lược, kìm kẹp quần chúng

Mỹ - Diệm đã thất bại trong việc lập ấp chiến lược ở nông thôn, anh em Diệm, Nhu lại phạm một sai lầm chiến lược là đàn áp Phật giáo, tạo ra thời cơ cho quần chúng ở các đô thị miền Nam quyết liệt chống lại chúng Trong các

Trang 39

phong trào đấu tranh của phật giáo đều có cán bộ điệp báo và cơ sở của ta lồng vào lãnh đạo, đưa phong trào đấu tranh của Phật giáo lên đỉnh điểm, làm cho nhân dân Mỹ, Liên Hợp quốc, các quốc gia theo đạo Phật lên tiếng phản đối mạnh mẽ chính sách đàn áp tôn giáo của Mỹ - Diệm Tận dụng thời cơ này, ta còn đưa cán bộ xâm nhập vào đô thị và phát triển lực lượng mới trong sinh viên, công nhân, dân nghèo thành thị Đến giữa năm 1963, tình hình cách mạng miền Nam diễn biến ngày càng sôi động Phong trào đấu tranh biểu tình chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm phát triển mạnh ở Huế, lan ra cả miền Trung và miền Nam, nhất là Sài Gòn-Gia Định làm cho Mỹ - Diệm hết sức lúng túng đối phó Ở vùng nông thôn phong trào phá ấp chiến lược lan rộng,

ta giải phóng nhiều vùng liên hoàn Kế hoạch Staley - Taylor đứng trước nguy

cơ sụp đổ hoàn toàn Lúc này, lực lượng Điệp báo và An ninh miền Nam thu được nhiều tin về mâu thuẫn trong nội bộ địch, giữa Mỹ và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm Nhiều tin của Điệp báo về khả năng Mỹ thay ngựa giữa dòng và những nhân vật có khả năng sẽ được Mỹ giật dây làm đảo chính

Trung ương Cục nhận định: việc Mỹ chỉ đạo một số tướng lĩnh làm đảo chính Diệm không những không giúp ổn định tình hình, củng cố lại bộ máy ngụy quân, ngụy quyền tại miền Nam để Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược

“chiến tranh đặc biệt” mà trái lại sẽ đẩy chính quyền Sài Gòn rơi vào thời kỳ khủng hoảng chính trị triền miên, báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, đồng thời đã tạo thời cơ thuận lợi cho cách mạng miền Nam TWC chủ trương khi nổ ra đảo chính, các cơ sở điệp báo và tình báo của ta cố gắng lèo lái kích động kéo dài cuộc xô xát giữa phe đảo chính và phe chống đảo chính để cách mạnh có thời cơ đưa phong trào ở đô thị và nông thôn phát

triển lên một bước mới Tháng 8-1963, TWC ra Chỉ thị 24 Về công tác điệp báo trong tình hình mới, chỉ đạo Ban An ninh các cấp tích cực củng cố lực

lượng, xây dựng cơ sở đi sâu vào tổ chức địch để nắm tình hình, thu thập tin phục vụ công tác bảo vệ Đảng, phá âm mưu của Mỹ và Chính quyền Sài Gòn

Trang 40

Chỉ thị vạch rõ: “Trong lúc Mỹ chuẩn bị đảo chính Diệm, Nhu LLAN các khu, tỉnh cần tăng cường công tác điệp báo, nắm chắc mưu toan của các lực lượng chuẩn bị đảo chính nhất là những tên giữ vai trò chủ chốt về quân sự và bọn công chức cao cấp của Diệm, đặc biệt là những tên mà chúng dự kiến vào

bộ máy thống trị mới” [4, tr 97]

Ngày 01-11-1963, cuộc đảo chính nổ ra Do phe chống đảo chính bị tướng Tôn Thất Đính người mà Diệm Nhu đặt trọn niềm tin trở cờ, phản bội đứng về phe đảo chính nên lực lượng chống đảo chính của Diệm Nhu nhanh chóng bị thất bại Hai anh em Diệm, Nhu bị bắt và bị giết

Sau khi lật đổ Diệm, tháng 3-1964, W Conbai – Trưởng chi nhánh CIA

ở Sài Gòn đã thống nhất với Mac Namara đẩy mạnh các hoạt động tình báo

phục vụ Chiến tranh đặc biệt Chính quyền Sài Gòn cũng tăng cường thêm lực

lượng đặc biệt như: Liên đoàn 77, Liên đoàn 31 và tung gián điệp phá hoại

miền Bắc Trước tình hình đó ngày 18-3-1964, TWC ra Chỉ thị số 46/3 Về tăng cường công tác an ninh; ngày 28-8-1964, Ban Thường vụ TWC ra chỉ thị số 3C Về tăng cường công tác an ninh theo kịp tình hình và nhiệm vụ mới;

và ngày 13-12-1964, TWC miền Nam ra chỉ thị Về tăng cường công tác an ninh, chống âm mưu do thám, gián điệp của địch Trong các văn bản chỉ thị

này, TWC đều quan tâm chỉ đạo cần phải tăng cường đẩy mạnh công tác điệp báo và an ninh đô thị

Trung ương Cục miền Nam không chỉ quan tâm việc tổ chức, triển khai công tác điệp báo ở miền Nam, mà còn quan tâm triển khai mạng lưới điệp báo ở Campuchia do đồng chí Cao Đăng Chiếm và Huỳnh Việt Thắng trực tiếp chỉ đạo để nắm tình hình địch từ xa, phục vụ cho công tác đánh địch ở miền Nam và phục vụ công tác giao thông liên lạc từ Trung ương vào miền Nam và ngược lại Các tổ điệp báo được sự giúp đỡ của bạn đã tổ chức đưa đón nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng đi qua đường Campuchia ra

Hà Nội báo cáo tình hình và nhận chỉ thị của Trung ương

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w