1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bộ máy nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhăn dân Lào từ năm 1975 đến 2014

91 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về xây dựng Bộ máy Nhà nước kiểu mới định hướng Xã hội Chủ nghĩa Để đảm bảo thực hiện lợi ích dân tộc, đảm bảo quyền lợi của giai cấp nhân dân

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN VIỆT HẢI

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

(TỪ 1975 ĐẾN 2014)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN VIỆT HẢI

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

(TỪ 1975 ĐẾN 2014)

Chuyên ngành: Chính trị học

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Văn Thủy

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG

thạc sĩ khoa học

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với sự hướng dẫn của TS Phạm Văn Thủy Các số liệu trong công trình là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Kết luận khoa học của Luận văn chưa từng công bố trên bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ĐOÀN VIỆT HẢI

Trang 4

1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH SÁCH THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của Luận văn 9

7 Kết cấu của Luận văn 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 11

1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về xây dựng Bộ máy Nhà nước kiểu mới 11

1.2 Khái niệm Bộ máy Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 19

1.3 Cơ cấu tổ chức của Bộ máy Nhà nước Cộng hòa Dân chủ

Nhân dân Lào 21

Tiểu kết 23

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CHDCND LÀO 24

2.1 Sơ lược về Bộ máy Nhà nước Lào giai đoạn trước năm 1975 24

2.2 Bộ máy Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn

từ năm 1975 đến 1991 34

Tiểu kết 41

Trang 5

2

CHƯƠNG 3 BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ

NHÂN DÂN LÀO GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2014 42

3.1 Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 42

3.2 Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 53

3.3 Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 55

3.4 Chính quyền địa phương 63

3.5 Các cơ quan Toà án và Viện Kiểm sát Cộng hòa Dân chủ

Nhân dân Lào 68

3.6 Những thành tựu đạt được và khuyết điểm còn tồn tại trong

quá trình xây dựng hệ thống Bộ máy Nhà nước Cộng hòa Dân chủ

Nhân dân Lào 71

3.7 Một số kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam từ quá trình cải cách

bộ máy hành chính nhà nước của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 74

Tiểu kết 78

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 86

Trang 6

3

DANH SÁCH THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 7

4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là nước nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam

Á lục địa, có biên giới tiếp giáp với năm nước: Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Trung Quốc và Việt Nam, với chiều dài đường biên khoảng 5.180km Đây là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không có biển

Nước CHDCND Lào ra đời ngày 02 tháng 12 năm 1975 Đây là sự kiện trọng đại đánh dấu một kỷ nguyên mới trong lịch sử hiện đại Lào, đồng thời chấm dứt chế

độ quân chủ đã từng tồn tại trên đất Lào suốt hơn 600 năm Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nhân dân các dân tộc Lào vững vàng tiến bước trên con đường xây dựng một nước CHDCND Lào mới theo thể chế Dân chủ nhân dân, với mục tiêu được lựa chọn rõ ràng: “Hòa bình - Độc lập - Dân chủ - Thống nhất - Thịnh vượng” Lào là nước theo thể chế chính trị một đảng lãnh đạo, thực thi hình thức Dân chủ tập trung nên mọi việc đều thống nhất theo chỉ đạo từ trên xuống dưới Trong quan hệ đối ngoại, Lào cố gắng cân bằng ảnh hưởng giữa các cường quốc và các nước láng giềng của mình, nhưng rõ ràng việc quyết định dựa vào một bên nào đó trong chiến lược phát triển lâu dài của quốc gia đang ngày càng trở thành một sự lựa chọn vô cùng khó khăn Mặc dù hiện nay tình hình chính trị nội bộ và chính sách đối ngoại của Lào nhìn chung tương đối ổn định, kinh tế đang có chiều hướng phát triển tốt, nhưng cũng đang phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu và nhiều nhân tố khách quan tác động mạnh mẽ từ bên ngoài có thể làm chệch hướng phát triển kinh tế - chính trị trong nước Lào đang trong giai đoạn xây dựng

và phát triển chế độ Dân chủ Nhân dân, tạo tiền đề để từng bước tiến lên Chủ nghĩa

Trang 8

5

tới mục tiêu XHCN Đại hội VI (1996) tổng kết 5 bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 10 năm lãnh đạo thực hiện đổi mới và đánh giá đó là thành quả lịch sử quan trọng Đại hội VII (2001) đã triển khai đường lối đổi mới thành chiến lược phát triển đất nước đến năm 2020; đề ra chỉ tiêu phấn đấu khắc phục tình trạng đói nghèo, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng chậm phát triển Đại hội VIII (3/2006) tiếp tục khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc và đường lối đổi mới để phát triển đất nước vững chắc hơn, đưa Lào ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo tiền đề vững chắc cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hướng tới CNXH

Việc nghiên cứu một cách có hệ thống sự ra đời của Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào từ trong lịch sử tới hiện tại có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức, ứng xử và định hình cho quan hệ giữa Việt - Lào trong giai đoạn hiện nay Chính vì lý do này, tác giả mong muôn tiến hành nghiên cứu một vấn đề cơ bản, một giai đoạn lịch sử bản lề của nền chính trị nước CHDCND Lào từ khi ra đời cho đến thời điểm năm 2014 mà cụ thể chính là nghiên cứu tổ chức Bộ máy Nhà nước

Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào (từ 1975 đến

2014)” làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành chính trị học của mình Tác

giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ thêm những lý luận về Bộ máy Nhà nước Dân chủ theo thể chế cộng hòa và những luận điểm mới trong thực tiễn hoạt động của Bộ máy Nhà nước của nước láng giềng Lào hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay chưa có công trình chuyên luận nào được xuất bản bao quát toàn bộ nội dung đề tài này Tuy nhiên có khá nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến hệ thống chính trị và bộ máy tổ chức nước CHDCND Lào Có thể phân chia các công trình thành các nhóm nghiên cứu như sau:

2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về Bộ máy Nhà nước nói chung:

Có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu như sau:

- "Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước cộng hoà

Dân chủ nhân dân Lào hiện nay " Luận án tiến sĩ của tác giả Pathana Souk Aloun

bảo vệ tại Đại học Luật - Hà Nội năm 2007 Luận án đề cập đến vấn đề cải cách thủ

Trang 9

6

tục hành chính của bộ máy hành chính CHDCND Lào, chỉ ra một số hạn chế và nhược điểm của bộ máy hành chính Nhà nước Lào trong giai đoạn bắt đầu bước vào đổi mới Tuy nhiên, Luận án chưa hệ thống hóa Bộ máy Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

- "Cải cách bộ máy hành chính Nhà nước cấp trung ương ở Cộng hòa Dân

chủ Nhân dân Lào" Luận án tiến sĩ của tác giả ValanTy Khamvan Vongsa bảo vệ

tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2015, Luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng việc cải cách bộ máy hành chính Nhà nước cấp trung ương ở CHDCND Lào Luận án tập trung đề xuất các quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục cải cách hoàn thiện bộ máy hành chính cấp trung ương của Nhà nước CHDCND Lào, đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển của đất nước Lào

- "Vấn đề xây dưng chể đô Dân chủ Nhân dân ở Lào hiện nay", Luận án tiến sĩ

của tác giả Khăm Phon Bun Na Di bảo vệ tại Học Viện Khoa Học Xã Hội - Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam năm 2014 Luận án góp phần nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và cung cấp những luận cứ khoa học cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển chế độ Dân chủ nhân dân, tạo tiền đề từng bước tiến lên Chủ nghĩa xã hội ở Lào hiện nay

- “Bộ máy Nhà nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào theo Hiến pháp 1991”

Luận văn thạc sỹ của Nalăn Thăm Mạ Thê Va bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội, năm

2003 Luận văn đã nêu được khái quát về Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào trong

giai đoạn từ khi thành lập nước CHDCND Lào đến năm 1991

- "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh

theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào"

Luận án tiến sĩ của tác giả XaynhaVong bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2014, Luận án đã đưa ra những quan điểm và giải pháp hữu hiệu nhằm xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện quyền lực Nhà nước của chính quyền cấp tỉnh, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước Lào hiện nay

Trang 10

7

- "Quá trình phát triển Kinh tế - Xã hội ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào từ

1975 đến nay" Luận án Phó tiến sĩ của tác giả Trần Cao Thành bảo vệ tại trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 1996 Luận án đã phác dựng lại các giai đoạn của quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Lào giai đoạn từ sau giải phóng đến giữa những năm 90 của thế kỷ 20 Luận án đã đưa ra một số nhận xét về quá trình xây dựng phát triển đất nước Lào sau 20 năm giải phóng, đồng thời chỉ ra một

số vấn đề còn tồn tại

- "Bộ máy hành chính Nhà nước nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào :

Luận văn thạc sĩ luật học" Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạt Thạ Ná Súc A Lun bảo

vệ tại đại học Luật Hà Nội năm 2003 Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức hoạt động, quá trình hình thành của bộ máy hành chính Nhà nước Lào, đưa ra một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện bộ máy hành chính Nhà nước Lào

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào Để

có cơ sở kiểm chứng sự thành công của một Bộ máy Nhà nước mà cụ thể là Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào thiết lập và hoạt động phù hợp với điều kiện thực tiễn của lịch sử, tác giả sẽ nghiên cứu quá trình ra đời, hoạt động và quá trình hoàn thiện Bộ máy Nhà nước đó

Tiếp đó, Luận văn lựa chọn khoảng thời gian từ khi thành lập (1975) đến thời

điểm hiện tại, tập trung đi sâu vào phân tích bộ máy Nhà nước CHDCND Lào qua các thời kỳ, đây là khoảng thời gian đánh dấu sự hình thành và đi tới xây dựng, phát triển ổn định của Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào Bối cảnh đó phản ảnh rõ nét những xu thế của thời đại và những lay chuyển trong nền chính trị đương đại của nước CHDCND Lào Thông qua những phương pháp nghiên cứu lịch sử, logic tác giả sẽ khai thác làm rõ sự hiện diện của một Bộ máy Nhà nước mới ở Lào Bộ máy Nhà nước đó phù hợp với thời cuộc và đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân Lào trong giai đoạn mới

Trang 11

8

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của Luận văn là làm sáng tỏ Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào trên

cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm mang tính tham khảo và góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước láng giềng Việt - Lào

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Trình bày và phân tích những nội dung cơ bản về lý luận Nhà nước, quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và nguồn gốc của nhà nước Tư tưởng của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về xây dựng nhà nước định hướng Xã hội Chủ nghĩa

- Phân tích Bộ máy Nhà nước Lào qua các thời kỳ, cột mốc lịch sử

- Phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình vận hành và hoàn Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào

- Rút ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức Nhà nước Điều này, góp phần làm tăng tính gắn kết và hiểu biết giữa các nền chính trị với nhau mà cụ thể là Việt Nam và nước bạn Lào

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Nguồn tư liệu chính của Luận văn là các văn kiện, nghị quyết, Hiến pháp, Luật của nước CHDCND Lào liên quan đến sự ra đời của Nhà nước CHDCND Lào, Đảng cách mạng Lào được lưu trữ tại các trung tâm nghiên cứu, trường đại học, thư viện Các nguồn tài liệu này chủ yếu được lưu trữ tại các thư viện như thư viện đại học Luật Hà Nội, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện Quốc gia Hà Nội

Trang 12

9

Các công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo, sách có liên quan do các

cơ quan có uy tín đã công bố như Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Học viện Khoa học xã hội, Học viện Ngoại giao, Viện Sử học là nguồn tài liệu quan trọng của Luận văn

Các tư liệu, sách báo, Tạp chí, Luận văn và Luận án nghiên cứu về chính trị và thể chế chính trị tại Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG HN), Thư viện Quốc gia Việt Nam là nguồn tài liệu bổ trợ để làm sáng tỏ các khía cạnh khác nhau của Luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, về vấn đề Nhà nước và vấn đề đoàn kết quốc tế Ngoài việc sử dụng các phương pháp khoa học như phương pháp lịch sử, phương pháp logic, Luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh, hệ thống hóa Các phương pháp trên được vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp với từng nội dung của Luận văn

6 Đóng góp của Luận văn

Luận văn góp phần làm hệ thống hóa đề lý luận về Nhà nước và Bộ máy Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về việc xây dựng Nhà nước định hướng Xã hội Chủ nghĩa

Luận văn góp phần làm rõ những thành công và hạn chế trong quá trình ra đời, phát triển và hoàn thiện Bộ máy Nhà nước của Lào Luận văn cũng rút ra được một

số kinh nghiệm, bài học quý báu từ quá trình đổi mới, hoàn thiện thể chế, tổ chức và hoạt động để tiến tới xây dựng Nhà nước định hướng Xã hội Chủ nghĩa của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Những kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo

để phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy một số nội dung có liên quan đến vấn đề xây dựng Bộ máy Nhà nước

Trang 13

10

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành ba chương:

- Chương 1 Tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung về Bộ máy

Nhà nước, khái niệm Bộ máy Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, một số quan điểm chính trị trong khu vực và trên thế giới, quan điểm của Đảng Nhân dân

Cách mạng Lào về việc xây dựng Bộ máy Nhà nước

- Chương 2 Tác giả tập trung làm rõ những quá trình thiết lập Bộ máy Nhà

nước CHDCND Lào qua các thời kỳ từ trước khi nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thành lập năm 1975

- Chương 3 Tác giả tập trung làm rõ về cách tổ chức và vận hành của Bộ máy

Nhà nước CHDCND Lào trong giai đoạn 1975 đến thời điểm hiện tại, rút ra một số nhận xét và đánh giá

Trang 14

11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào

về xây dựng Bộ máy Nhà nước kiểu mới

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc và bản chất Nhà nước

Tìm hiểu về sự hình thành, ra đời của Nhà nước theo quan điểm Mác Lênin giải thích nguồn gốc Nhà nước bằng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các học giả theo quan điểm Mác - Lênin chỉ ra rằng Nhà nước không phải là một hiện tượng bất biến, vĩnh cửu mà nó là một phạm trù lịch sử, có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Nhà nước là sản phẩm của xã hội, nó xuất hiện khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định và do những nguyên nhân khách quan, Nhà nước sẽ diệt vong khi những nguyên nhân khách quan đấy không còn nữa

Lịch sử cho thấy không phải khi nào xã hội cũng có Nhà nước Trong xã hội nguyên thuỷ, do kinh tế còn thấp kém, chưa có sự phân hóa giai cấp, cho nên chưa

có Nhà nước Đứng đầu các thị tộc và bộ lạc là các tộc trưởng do nhân dân bầu ra, quyền lực của những người đứng đầu thuộc về uy tín và đạo đức, việc điều chỉnh các quan hệ xã hội được thực hiện bằng những quy tắc chung Trong tay họ không

có và không cần một công cụ cưỡng bức đặc biệt nào

Lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến sự ra đời chế độ tư hữu và từ đó xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hoà được xuất hiện Điều đó dẫn đến nguy cơ các giai cấp chẳng những tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn cả xã hội Để thảm hoạ đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời Đó là Nhà nước Nhà nước đầu tiên trong lịch sử

là Nhà nước chiếm hữu nô lệ, xuất hiện trong cuộc đấu tranh không điều hoà giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Tiếp đó là Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản

Nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện Nhà nước là mâu thuẫn giai cấp

không thể điều hoà được Đúng như V.I.Lênin nhận định: "Nhà nước là sản phẩm

và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được Bất cứ ở đâu,

Trang 15

12

hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được, thì Nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của Nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được" [38, tr 260-

261] Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa

Kiểu Nhà nước là khái niệm dùng để chỉ bộ máy thống trị đó thuộc về giai cấp nào, tồn tại trên cơ sở chế độ kinh tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội nào Mỗi kiểu Nhà nước lại có thể tồn tại dưới các hình thức khác nhau Hình thức Nhà nước là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực Nhà nước Nói cách khác đó là hình thức cầm quyền của giai cấp thống trị Tương ứng với ba chế độ xã hội có đối kháng giai cấp trong lịch sử là hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế - xã hội phong kiến và hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa là ba kiểu Nhà nước: Nhà nước chiếm hữu nô lệ, Nhà nước phong kiến và Nhà nước tư sản Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi quốc gia mà mỗi kiểu Nhà nước được tổ chức theo những hình thức nhất định Nhà nước xã hội Chủ nghĩa mang bản chất "giai cấp vô sản", nhưng lại là một kiểu Nhà nước đặc biệt

Nhà nước chiếm hữu nô lệ là Nhà nước của giai cấp chủ nô thời cổ đại mà tiêu biểu là các hình thức lịch sử Nhà nước chủ nô ở Hy Lạp và La Mã cổ đại như chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà, chính thể quý tộc và chính thể Dân chủ Các hình thức này chỉ khác nhau về cách thức và cơ chế hoạt động của tổ chức Bộ máy Nhà nước, còn bản chất của chúng đều là Nhà nước của giai cấp chủ nô, nhằm thực hiện sự chuyên chính đối với nô lệ

Nhà nước phong kiến là Nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến Nhà nước phong kiến cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Nói chung, ở phương Tây, hình thức quân chủ phân quyền là hình thức Nhà nước phổ biến Quyền lực Nhà nước được chia thành quyền lực độc lập, địa phương phân tán Mỗi chúa phong kiến là một ông vua trên lãnh thổ của mình Mối liên hệ thực sự giữa các chúa phong kiến châu Âu chủ yếu được thiết lập bằng các hình thức liên minh

Trang 16

13

của các Nhà nước cát cứ, trong đó Thiên Chúa giáo trở thành mối quan hệ tinh thần thiêng liêng giữa các tiểu vương quốc phong kiến

Ở phương Đông (tiêu biểu là Trung Quốc và Ấn Độ), hình thức quân chủ tập

quyền là hình thức Nhà nước phổ biến dựa trên chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất Trong Nhà nước này, quyền lực của vua được tăng cường rất mạnh, hoàng đế

có uy quyền tuyệt đối, ý chí của vua là pháp luật

Nhà nước tư sản cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng nói chung, chỉ có hai hình thức cơ bản nhất là hình thức cộng hoà và hình thức quân chủ lập hiến Hình thức cộng hoà lại được tổ chức dưới những hình thức khác nhau như cộng hoà Đại nghị, cộng hoà Tổng thống trong đó hình thức cộng hoà Đại nghị

là hình thức điển hình và phổ biến nhất Trong thực tế, nhằm thích ứng với điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia, các hình thức cụ thể của Nhà nước tư sản hiện đại lại có sự khác nhau khá lớn, về chế độ bầu cử, chế độ tổ chức một viện hay hai viện, về nhiệm kỳ tổng thống, về sự phân chia quyền lực giữa tổng thống và nội các

Nhà nước vô sản là một kiểu Nhà nước đặc biệt trong lịch sử Tính chất đặc biệt của nó trước hết là ở chỗ nó chỉ tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, nó là kiểu Nhà nước cuối cùng trong lịch sử của xã hội loài người C.Mác

khẳng định: "Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một

thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và Nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản" [7, tr 47]

Sự tồn tại của Nhà nước vô sản trong thời kỳ quá độ này là tất yếu vì trong thời kỳ quá độ xã hội còn tồn tại các giai cấp bóc lột và các lực lượng xã hội, chúng chống lại sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội khiến giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải trấn áp chúng bằng bạo lực Hơn nữa, trong thời kỳ quá độ còn có các giai cấp và tầng lớp trung gian khác Do địa vị kinh tế - xã hội của mình, họ dễ dao động giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, họ không thể tự mình tiến lên Chủ nghĩa xã hội Giai cấp vô sản phải tìm mọi cách thu hút lực lượng đông đảo về phía mình Ở đây, chuyên chính vô sản đóng vai trò là thiết chế cần thiết để bảo đảm sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với nhân dân

Trang 17

14

Tính chất đặc biệt của Nhà nước vô sản còn thể hiện ở chỗ chức năng cơ bản nhất, chủ yếu nhất của nó không phải là chức năng bạo lực mà là chức năng tổ chức xây dựng kinh tế - xã hội Khi đề cập tới vấn đề này, V.I.Lênin cho rằng chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là tổ chức, xây dựng toàn diện xã hội mới - xã hội xã hội Chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Cũng vì những tính chất đặc biệt như vậy của Nhà nước vô sản mà những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định rằng Nhà nước vô sản là một kiểu Nhà nước đặc biệt trong lịch sử; đó là "Nhà nước không còn nguyên nghĩa", là Nhà nước "nửa Nhà nước" Sau khi những cơ sở kinh tế, xã hội của sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước mất đi thì Nhà nước sẽ không còn Sự mất đi của Nhà nước vô sản không phải bằng con đường "thủ tiêu", "xóa bỏ" mà bằng con đường "tự tiêu vong" Sự tiêu vong của Nhà nước vô sản là một quá trình rất lâu dài

Tính chất đặc biệt của Nhà nước vô sản còn thể hiện ở cơ sở quyền lực của Nhà nước - đó là nền tảng liên minh công - nông làm nòng cốt cho sự liên minh với mọi tầng lớp những người lao động khác trong xã hội

Để thực hiện sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân cần có sự hỗ trợ, cộng tác, liên minh, vững chắc và ngày càng củng cố với những người lao động khác Do vậy, chuyên chính vô sản là một loại liên minh đặc biệt giữa giai cấp công nhân với quần chúng lao động không vô sản Nhà nước vô sản do vậy phải là chính quyền của nhân dân, là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Cũng do đó, chế độ Dân chủ vô sản là chế độ Dân chủ theo nghĩa đầy đủ nhất của từ này Đó là nền Dân chủ bao quát toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó lấy Dân chủ trên lĩnh vực kinh

tế làm cơ sở Chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại và phát triển được nếu thiếu Dân chủ, thiếu sự thực hiện một cách đầy đủ và mở rộng không ngừng Dân chủ "Phát triển Dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn, v.v." là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cách mạng xã hội Chủ nghĩa, là một vấn đề có tính quy luật của sự phát triển và hoàn thiện Nhà nước vô sản

Trang 18

15

Giai cấp công nhân không chỉ có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc mình, mà còn có vai trò lịch sử toàn thế giới Do vậy, chuyên chính vô sản còn phải làm nghĩa vụ quốc tế của mình, bằng việc giúp đỡ từ mọi phương diện có thể được cho cuộc đấu tranh của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, Dân chủ và tiến bộ xã hội

Nhà nước vô sản là tổ chức, thông qua đó, Đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội Không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhà nước đó không giữ được bản chất giai cấp công nhân của mình Do vậy, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước là nguyên tắc sống còn của chuyên chính vô sản Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không chỉ là yếu tố bảo đảm bản chất giai cấp vô sản của Nhà nước, mà còn là điều kiện để giữ tính nhân dân của Nhà nước đó Đây cũng là một tính chất đặc biệt của Nhà nước vô sản

Nhà nước vô sản có thể tồn tại dưới các hình thức khác nhau Công xã Pari năm 1871 đã sản sinh ra Nhà nước vô sản kiểu Công xã Hình thức thứ hai của chuyên chính vô sản là Xôviết Ở một số nước, Nhà nước vô sản còn tồn tại dưới hình thức Nhà nước Dân chủ nhân dân v.v

Thực tiễn xây dựng Chủ nghĩa xã hội mang lại cho Nhà nước vô sản nhiều hình thức mới Tính đa dạng của Nhà nước đó tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của thời điểm xác lập Nhà nước ấy, tùy thuộc vào tương quan lực lượng giữa các giai cấp và khối liên minh giai cấp tạo thành cơ sở xã hội của Nhà nước, tùy thuộc vào nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội mà Nhà nước đó phải thực hiện, tùy thuộc vào truyền thống chính trị của dân tộc Hình thức cụ thể của Nhà nước trong thời kỳ quá độ có thể rất khác nhau, nhưng bản chất của chúng chỉ là một: chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản

Tuy nhiên có thể thấy trước khi có nền Dân chủ vô sản thì nền Dân chủ đạt được trong chủ nghĩa tư bản là nấc thang khá quan trọng trong sự tiến hóa của nền Dân chủ trong lịch sử Sự ra đời chế độ Dân chủ tư sản là một bước tiến về chất trong sự phát triển của Nhà nước Ở đó, nó đã kết tinh được những giá trị Dân chủ

Trang 19

16

được sáng tạo ra trong thời kỳ trước khi giai cấp công nhân cầm quyền, đồng thời thể hiện được những nhân tố mang tính nhân loại, mang tính nhân dân chứa đựng trong một số chuẩn mực Dân chủ đang được thực hiện ở các nước tư bản chủ nghĩa

Sự phát triển hợp quy luật của các giá trị đó là những nhân tố nội tại dẫn tới phủ định chủ nghĩa tư bản Nền Dân chủ vô sản với tư cách là nền Dân chủ cao về chất

so với Dân chủ tư sản cũng chỉ ra đời một khi biết kế thừa, phát triển toàn bộ những giá trị Dân chủ mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử, đặc biệt là những giá trị Dân chủ đạt được trong chủ nghĩa tư bản

1.1.2 Quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về xây dựng Bộ máy Nhà nước kiểu mới định hướng Xã hội Chủ nghĩa

Để đảm bảo thực hiện lợi ích dân tộc, đảm bảo quyền lợi của giai cấp nhân dân lao động, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã đề ra quan điểm mang tính nguyên tắc nhất quản về xây dựng Nhà nước Cách mạng Dân chủ Nhân dân, đã được khẳng định trong các văn kiện đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, trong Hiến pháp của Nhà nước CHDCND Lào, quan điểm đó đã được Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cụ thể hóa thành các mục tiêu, nhiệm vụ như sau:

- Xây dựng Nhà nước do dân, vì dân, tập trung quyền lực cao nhất vào tay nhân dân nhằm đảm bảo lợi ích nhân dân các bộ tộc Lào Điều này được thể hiện qua vai trò, quyền hạn của Quốc hội - đại biểu cao nhất cho quyền lực Nhân dân các

Nhà nước Lào Dân chủ luồn tạo điều kiện để nhân dân lao động thực sự đóng vai trò là người làm chủ đất nước, việc tạo điều kiện để nhân dân lao động tham gia vào quản lý Bộ máy Nhà nước Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHDCND Lào Nhân dân các bộ tộc Lào bầu người đại diện của mình vào cơ quan quyền lực Nhà nước Cơ quan quyền lực Nhà nước trực tiếp xem xét và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước trong đó

dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì quyền lợi của nhân dân Các bộ tộc bao gồm các tầng lớp trong xã hội do công nhân, nông dân và trí thức lầm nòng cốt"

Trang 20

17

có các vấn đề về quản lý giám sát Bộ máy Nhà nước Bên cạnh đó nhân dân các bộ tộc Lào còn tham gia vào hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước với tư cách là những cán bộ công chức của bộ máy hành chính Nhà nước, cho phép người dân tham gia phục vụ đồng thời giám sát Bộ máy Nhà nước, đưa ra những kiến nghị, giải pháp kịp thời, hợp lý.[28, tr 57]

Bên cạnh đó, Nhân dân các bộ tộc Lào còn tham gia quản lý Nhà nước thông

và các tổ chức thành viên của Mặt trận nhân dân các bộ tộc Lào thực hiện quyền làm chủ, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, trong đó có hoạt động quản lý hành chính Nhà nước

Ngoài ra, việc nhân dân Lào tham gia hoạt động tự quản ở cơ sở được diễn ra trên một phạm vi rất rộng, cả ở tầm vĩ mô và vi mô Việc người dân tham gia các hoạt động tự quản tại nơi cư trú sinh hoạt như tham gia tổ dân phố, tham gia đội bảo

vệ, trực tiếp bầu trưởng bản để quản lý, điều hành hoạt động tại địa phương là một trong những hình thức tích cực góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Bộ máy Nhà nước ở địa phương Nhà nước thường xuyên tạo mọi điều kiện cần thiết về vật chất

và tinh thần để người dân phát huy vai trò chủ động, tích cực của mình trong việc tham gia các hoạt động có tính chất tự quản này Hình thức hoạt động này cho thấy

ý chỉ của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thông qua các quy định của pháp luật về quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của nhân dàn các bộ tộc Lào thực

sự được tôn trọng và được đảm bảo thực hiện [27, tr 58]

Đảng Nhân dân Cách mạng Lào chủ trương xây dựng Bộ máy Nhà nước với

trung Dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà

Đoàn thanh niên Nhân dân Cách mạngLào, Hội liên hiệp phụ nữ Lào và các cơ quan tổ chức xã hội là nơi tập hợp đoàn kết và động viên các tầng lớp nhân dân các bộ tộc tham gia sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các thành viên trong tổ chức mình”.

3

Điều 5 Hiến pháp Lào năm1991 quy định: "Quốc hội và tất cả cắc cơ quan của Nhà nước được tổ chức và

hoạt động theo nguyên tắc tập trung Dân chủ"

Trang 21

18

nước nói chung Nguyên tắc tập trung Dân chủ yêu cầu sự kết hợp hài hoà giữa tập trung và Dân chủ Trong hoạt động quản lí Nhà nước, tập trung nhằm đảm bảo sự thâu tóm quyền lực Nhà nước vào chủ thể quản lí để điều hành, chỉ đạo việc thực hiện pháp luật, Dân chủ là việc mở rộng quyền cho các đối tượng quản lí nhằm phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động quản lí, phát huy khả năng của đối tượng quản lí trong quá trình thực hiện pháp luật

Xây dựng Bộ máy Nhà nước với sự thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công nhiệm vụ rạch ròi giữa các cơ quan, cấp ngành, tránh tình trạng chồng chéo quyền lực Do tính chất phức tạp của hệ thống các cơ quan trực thuộc Bộ máy Nhà nước, nhằm đảm bảo được sự hoàn chính, thống nhất và đảm bảo nguyên tắc tập trung Dân chủ trong khi vẫn đảm bảo thỏa mãn việc thực hiện phân công quyền lực, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã tập trung phân định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và thẩm quyền cho từng các cơ quan trực thuộc

Hoạt động của Nhà nước phải đảm bảo gắn với pháp chế Xã hội Chủ nghĩa CHDCND Lào đang trong quá trình tiến tới xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN, với tiêu chí “pháp luật phải mang tính tối thượng” Do đó khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình các hệ thống cơ quan của Chính phủ sử dụng pháp luật với tính chất là phương tiện, công cụ quan trọng để đảm bảo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, phương tiện hay công cụ này chỉ thực sự phát huy vai trò, tác dụng khi nó được tôn trọng và thực hiện một cách nghiêm chỉnh trên thực tế Vì vậy, pháp chế xã hội Chủ nghĩa với nội dung là

sự tôn trọng và tuân thủ triệt để pháp luật của các cơ quan, cán bộ công chức Nhà nước, các tổ chức và mọi cá nhân đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong Bộ máy Nhà nước, trong đó có các bộ máy của Chính phủ

Hoạt động của Bộ máy Nhà nước phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, dưới sự kiểm sát của nhân dân Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đề ra những đường lối chủ trương, chính sách về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý Nhà nước nói chung và quản lý hành chính Nhà nước nói riêng Trên cơ sở đường lối chính sách của Đảng, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thể chế hoá thành các

Trang 22

1.2 Khái niệm Bộ máy Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Nhà nước là một tổ chức văn minh của xã hội loài người Đặc trưng cơ bản của Nhà nước là Nhà nước phân chia dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ để cai quản, thiết lập quyền lực; Nhà nước còn là một tổ chức công quyền, có bộ máy tổ chức, có quân đội, cảnh sát và ngoài ra, để thực hiện việc tổ chức và quản lý xã hội thì Nhà nước phải giải quyết những vấn đề chung mang tính cộng đồng mà không tổ chức, cá nhân nào có thể làm được; Nhà nước áp đặt ra pháp luật, quản lý, cai trị bằng pháp luật đồng thời để đảm bảo việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội thì Nhà nước phải đặt ra các loại thuế và Nhà nước là chủ thể duy nhất có chủ quyền quốc gia Bản chất của Nhà nước được thể hiện rõ nét nhất ở những định hướng hoạt động, chức năng quản lý xã hội, quản lý kinh tế của nó Do vậy, xuất phát từ chức năng của mình, để duy trì quyền lực thống trị, thực hiện được chức năng của mình thì Nhà nước phải tổ chức ra một bộ máy để thực hiện chức năng của Nhà nước Bộ máy đó được gọi là Bộ máy Nhà nước

Bộ máy Nhà nước là tổ chức của con người, hoạt động có ý chí, là hoạt động của cơ quan Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước Mô hình tổ chức Bộ máy Nhà nước trên thế giới hiện nay không có mô hình nào là lý tưởng, tuy nhiên xuất phát từ đời sống xã hội ở mỗi quốc gia khác nhau với những yếu tố tác động nhất định mà tổ chức Bộ máy Nhà nước ở mỗi quốc gia là không giống nhau

Theo cách hiểu chung nhất Bộ máy Nhà nước là tổng thể các cơ quan Nhà

nước được tổ chức và hoạt động theo trình tự, thủ tục nhất định do Hiến pháp và

Trang 23

20

pháp luật quy định Có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau, có chức năng, thẩm quyền riêng theo quy định của Hiến pháp, pháp luật nhằm tham gia vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ chung của Nhà nước [38; tr.34]

Nhà nước và Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào được thiết lập do kết quả của chiến thắng trong cuộc đấu tranh cách mạng giành độc lập, giải phóng đất nước của nhân dân lao động các bộ tộc Lào, được xây dựng trên cơ sở hình thức một Nhà nước Dân chủ nhân dân, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, do Đảng NDCM Lào là hạt nhân lãnh đạo

Sự xuất hiện của Nhà nước kiểu mới mà thực chất chính là xây dựng Nhà nước định hướng XHCN ở Lào đã khẳng định tính đúng đắn khách quan của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và Bộ máy Nhà nước Nhà nước là những hiện tượng xã hội tồn tại trong lịch sử gắn liền với những điều kiện xã hội có giai cấp, là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Theo V.I Lênin

“Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được” [55, tr.9] Lênin cũng đã nhấn mạnh “Nhà nước chỉ là một tổ chức thống trị của một giai cấp” [54 , tr 303] Nhà nước chỉ sinh ra và tồn tại trong xã hội có

giai cấp và bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc Mác và Ăngghen đã chỉ

rõ một sự thật về bản chất của mọi Nhà nước là “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ

máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác” [6, tr 290 -291] và

“Chính quyền Nhà nước chẳng qua là một tổ chức mà các giai cấp thống trị - địa chủ và các nhà tư bản - đã lập nên cho mình để bảo vệ đặc quyền xã hội của mình”

[6, tr.525] Chính nhờ hình thức đại diện cho lợi ích chung, nhờ sự tồn tại như một

quyền lực công, cho nên “Nhà nước có một sức mạnh đặc biệt trong xã hội có giai

cấp, và vì thế, giai cấp nào muốn nắm quyền lãnh đạo xã hội đều buộc phải chiếm đoạt và sử dụng Bộ máy Nhà nước Đây là mục tiêu của tất cả các cuộc cách mạng

xã hội” [6, tr.23]

Thực tế ở Lào, sau khi chế độ Dân chủ nhân dân được xây dựng, Chủ tịch

Kay Sỏn Phôm Vi Hản đã nói:“Chúng ta phải nắm và ra sức xây dựng, củng cố

chính quyền cho đầy đủ, sử dụng bộ máy đó thành công cụ chuyên chính để lãnh

Trang 24

Nhà nước được coi là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, là bộ máy thực hiện chức năng giai cấp và chức năng quản lý mọi mặt nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, duy trì trật tự xã hội và phục vụ những nhu cầu thiết yếu của đời sống cộng động

Trong mô hình Nhà nước hiện đại, quyền lực Nhà nước thường được phân thành ba nhánh: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Trong đó, quyền lập pháp được trao cho Quốc hội, Quốc hội Lào vừa là cơ quan quyền lực cao nhất, vừa là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp và lập hiến Hội đồng Nhân dân Lào được quy định là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương nhưng không có quyền lập pháp Quyền tư pháp được trao cho hệ thống các cơ quan thuộc Tòa án của CHDCND Lào và Viện Kiểm sát Quyền hành pháp được trao cho Chính phủ CHDCND Lào với hệ thống các cơ quan tạo nên bộ máy hành chính Nhà nước

Như vậy, Bộ máy Nhà nước Lào là tổng thể các cơ quan Nhà nước Lào, được tổ chức và hoạt động theo trình tự, thủ tục nhất định do Hiến pháp và pháp luật nước CHDCND Lào quy định Có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau, có chức năng, thẩm quyền riêng theo quy định của Hiến pháp, pháp luật nước CHDCND Lào nhằm tham gia vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ chung của Nhà nước CHCDND Lào

1.3 Cơ cấu tổ chức của Bộ máy Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Hiến pháp Lào năm 1991 (sửa đổi năm 2003) ra đời là thành quả to lớn trong công cuộc xây dựng nước Lào độc lập, thống nhất, Dân chủ nhân dân và giàu mạnh Trên cơ sở Hiến pháp năm 1991 được sửa đổi bổ sung năm 2003, Quốc hội Lào đã ban hành hàng loạt các đạo luật quan trọng khác, tạo cơ sở pháp lí cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ quan Nhà nước

Trang 25

Về cơ cấu thành viên Quốc hội CHDCND Lào gồm có: Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, đại biểu Quốc hội

Về cơ cấu tổ chức gồm có: Ủy ban Thường vụ Quốc hội,Các Ủy ban của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội Lào

- Chủ tịch nước CHDCND Lào: có một vị trí đặc biệt trong Bộ máy Nhà nước, Chủ tịch nước là người vừa đứng đầu Nhà nước, vừa đứng đầu Chính phủ Lào, đồng thời là người đứng đầu cơ quan quản lý hành chính Nhà nước cao nhất Giúp việc cho Chủ tịch nước Lào có các Phó Chủ tịch nước

Văn phòng Chủ tịch nước là cơ quan giúp việc và phục vụ mọi hoạt động của Chủ tịch nước Được thành lập theo sắc lệnh của Chủ tịch nước có tư cách tương đương với các cơ quan cấp bộ

- Chính phủ nước CHDCND Lào (theo Luật tổ chức Chính phủ của CHDCND Lào năm 2003):

Về cơ cấu thành viên gồm có: Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ của Bộ và Chủ nhiệm Văn phòng Thủ tướng

Theo Điều 5 Luật tổ chức Chính phủ của CHDCND Lào năm 2003, Cơ cấu

tổ chức Chính phủ nước CHDCND Lào gồm có Văn phòng Thủ tướng Chính phủ,

Bộ và cơ quan ngang Bộ

- Viện Kiểm sát Nhân dân Lào : cơ cấu tổ chức bao gồm Viện Kiểm sát Tối cao; Viện Kiểm sát Nhân dân các cấp; Viện Kiểm sát Nhân dân huyện và các Viện Kiểm sát quân sự

Trang 26

Tiểu kết

Nhà nước CHCDND Lào được tổ chức theo mô hình Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Việc tổ chức Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào được thực hiện theo các nguyên tắc Đảng lãnh đạo, với vai trò trụ cột của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; nguyên tắc tập trung Dân chủ và nguyên tắc pháp chế

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào đã đảm bảo thực thi tốt các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong ba loại quyền lực trên của Nhà nước thì quyền hành pháp được coi là trung tâm Quyền hành pháp được trao cho Chính phủ Lào với hệ thống các cơ quan tạo thành nên bộ máy hành chính Nhà nước Bộ máy Chính phủ thi hành pháp luật và

tổ chức thực hiện những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại của quốc gia, cũng như điều hành công việc chính sự của quốc gia hàng ngày Với tư cách là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất, Chính phủ Lào nắm quyền thống nhất quản lý các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Lào; quản lý thống nhất của bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến địa phương trong khuôn khổ hệ thống chính trị hiện hành

Trong phần tiếp theo của Luận văn, tác giả tập trung trình bày trước hết là quá trình hình thành và phát triển của Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào, tiếp đó là

hệ thống cơ quan trong Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào trong giai đoạn từ năm

1975 đến năm 2014, sau đó tiến tới phân tích chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng

bộ phận trong hệ thống Bộ máy Nhà nước CHDCND Lào

Trang 27

24

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CHDCND LÀO

2.1 Sơ lược về Bộ máy Nhà nước Lào giai đoạn trước năm 1975

2.1.1 Bộ máy Nhà nước Lào giai đoạn 1893 - 1954 (Thời kỳ Pháp thuộc)

Tình trạng cát cứ của các Vương triều Lào, sự đô hộ của phong kiến Xiêm

đã tạo cơ hội cho thực dân Pháp can thiệp, xâm chiếm nước Lào, biến nước Lào thành thuộc địa của Pháp Bằng những áp lực quân sự và ngoại giao, thực dân Pháp đã buộc triều đình phong kiến Xiêm phải từ bỏ đặc quyền ở Lào Hiệp ước Pháp - Xiêm ngày 03/10/1893 đã mở đầu sự thống trị của thực dân Pháp trên đất Lào [65, tr 28]

Nhằm thôn tính toàn bộ nước Lào, thực dân Pháp tiếp tục những cuộc mặc cả với Anh, Xiêm, Trung Quốc và đi đến việc ký kết Nghị định thư giữa Pháp - Anh ngày 25/11/1893, Hiệp định thương mại Pháp - Xiêm ngày 1/3/1894, Hiệp định Pháp - Anh ngày 25/ 11/ 1896 Hiệp định xác định biên giới Lào - Trung Quốc tháng 6 năm 1895, Hiệp ước Pháp - Xiêm ngày 7/10/1902 và ngày 13/2/1904 [14]

Khi mới đặt nền thống trị lên đất nước Lào, thực dân Pháp đã sử dụng chính

cơ cấu xã hội sẵn có, đặt cơ cấu đó dưới sự kiểm soát của mình để tiến hành khai thác tài nguyên thiên nhiên, bóc lột sức lao động của nhân dân các bộ tộc Lào.[65,

tr 238, 239] Để thuận lợi trong việc quản lý thuộc địa, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách "chia để trị" Theo đó, họ đã phân chia đất nước Lào thành 2 phần: Lãnh thổ Luang Pha Bang và Lãnh thổ Viêng Chăn - Châm Pha sắc[65, tr.12-13]

2.1.1.1 Khu vực lãnh thổ Luang Pha Bang:

Dưới sự quản lý của thực dân Pháp, lãnh thổ Luang Pha Bang được quản lý theo quy chế " bảo hộ" của Li Phắp, nghĩa là, vẫn giữ hình thức quân chủ (Vua là người đứng đầu) Lãnh thổ Luang Pha Bang gồm có 4 tỉnh miền Bắc: Luang Pha Bang - Xay Nhạ Bu Ly - Hủa Phăn - Phổng Xa Lý Quy chế pháp lý của Lãnh thổ Luang Pha Bang được xác định bởi các Hiệp ước ngày 26/02/1914 và ngày 24/04/1917 về việc quản lý vùng lãnh thổ trong suốt thời gian bảo hộ của Pháp

Trang 28

25

Theo quy định của Hiệp ước ngày 26/02/1914, mặc dù Lãnh thổ Luang Pha Bang được coi là phần lãnh thổ nằm dưới sự quản lý của người Lào, nhung vẫn phải chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật Pháp, sắc lệnh của Toàn quyền Pháp ở Đông Dương, quyết định của Thống sứ Pháp tại Lào Nhà Vua Lào có thể ban hành sắc lệnh Tuy nhiên các sắc lệnh của Vua Lào muốn có hiệu lực thì phải được sự đồng ý và phê chuẩn của Thống sứ Pháp tại Lào.[65 ; tr 144 ]

Căn cứ vào Hiệp ước ngày 24/4/1917, bộ máy hành chính ở Lãnh thổ Luang Pha Bang tổ chức như sau:

Vua giữ vai trò là người có quyền cao nhất trong Lãnh thổ của mình lãnh đạo

bộ máy hành chính Nhà nước Một Hội đồng công chức cao cấp gồm 3 người có tên gọi là Hội đồng Hồxanam Luồng được thiết lập để giúp việc cho nhà Vua về các mặt hành chính, kinh tế và an ninh Để kiểm soát nhà Vua, chính quyền thực dân Pháp bổ nhiệm một viên cố vấn Tối cao người Pháp bên cạnh nhà Vua Viên cố vấn này có quyền trực tiếp điều hành Hội đồng Hồxanam Luồng mà không cần thông qua nhà Vua

Như vậy có thể thấy rằng, trên thực tế người Pháp nắm toàn quyền quyết định vận mệnh của khu vực Luang Pha Bang, nhà Vua Lào chỉ công cụ mà người Pháp sử dụng hợp thức hoá sự thống trị của mình ngay cả khi thực dân Pháp vẫn còn thừa nhận quyền lực của quốc vương Lào [65; tr 242]

Bên cạnh đó, bộ máy hành chính Nhà nước Trung ương còn có Tể tướng Hàn Lâm Viện và Lục Bộ Tể tướng là người thay mặt nhà Vua trực tiếp điều hành

bộ máy hành chính Bộ là cơ quan quản lý một lĩnh vực nhất định trong phạm vi lãnh thổ Luang Pha Bang; có các bộ sau: Bộ Lễ, Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Hình, Bộ công,

Bộ Binh Đứng đầu mỗi bộ là một viên quan Thượng thư hàm Nhị phẩm Giúp việc cho Thượng thư là hai viên chức Phó là Tả, Hữu Thị Lang, mang hàm Tam phẩm Mỗi bộ đều thành lập một Tư vụ sảnh, đứng đầu là Viên Tư vụ với hàm Tòng bát phẩm Tư vụ sảnh thực hiện chức năng như là Văn phòng của Bộ, giúp Thượng thư điều hành công việc thường nhật của Bộ Trong mỗi bộ còn thành lập một hoặc vài Thanh lại Ty Thanh lại Ty thực hiện chức năng giống như cấp vụ, quản lý những công việc có tính chất chuyên môn thuộc Bộ

Trang 29

2.1.1.2 Khu vực lãnh thổ Viêng Chăn - Chăm Pha Sắc:

bao gồm 6 tỉnh: Viêng Chăn, Khăm Muon, Sa Vãn Na Kệt, Xa LạVăn, Uắt Ta Phư

và Chăm Pha Sắc Đứng đầu 6 tỉnh này là Thống sứ người Pháp, ngoài ra, còn có Hội đồng Bảo hộ và các phòng trợ giúp khác

Thống sứ do Tổng thống Pháp bổ nhiệm và nằm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương Trong một số trường hợp nhất định, Thống sứ người Pháp có thể được Toàn quyền Đông Dương ủy thác toàn bộ hoặc một phần quyền lực của Toàn quyền Đông Dương trong phạm vi cả nước Lào để có thể chủ động cai trị Lào về mọi mặt nói chung, cũng như lãnh thố Viêng Chăn - Chăm Pha Sắc nói riêng [14; tr 7]

Thống sứ Pháp có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Chịu trách nhiệm bảo đảm việc thi hành những luật, sắc lệnh của chính quốc

áp dụng ở thuộc địa, những quyết định của Toàn quyền Đông Dương;

- Ban hành quyết định;

- Đề xuất những biện pháp cai trị; quản lý cảnh sát thuộc địa;

- Quản lý nhân sự, giữ gìn an ninh, trật tự chung ở thuộc địa; trong trường hợp cần thiết có quyền yêu cầu lực lượng quân đội hỗ trợ;

- Thông qua các Công sứ, chỉ đạo hoạt động của các cơ quan từ cấp tỉnh trở xuống

Nhìn chung, tại lãnh thổ Viêng Chăn - Chăm Pha Sắc, Thống sứ thâu tóm các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp và chịu trách nhiệm trước Toàn quyền Đông Dương về mọi mặt

Hội đổng Bảo hộ là cơ quan phụ tá cao nhất và trọng yếu ở Lãnh thổ Viêng Chăn - Chăm Pha Sắc Hội đồng Bảo hộ có nhiệm vụ thảo luận và thông qua các

dự thảo nghị định của Thống sứ Thống sứ có quyền triệu tập Hội đồng Bảo hộ bất

Trang 30

27

cứ lúc nào, khi xét thấy cần thiết Để giúp việc cho Hội đồng Bảo hộ, có các phòng trợ giúp

Các phòng trợ giúp khác có nhiệm vụ sau:

- Phòng Thương mại có nhiệm vụ góp ý kiến về tất cả các vấn đề có liên quan đến thương mại, kỹ thuật, tài chính, hàng hải;

- Phòng Canh nông có nhiệm vụ tư vấn về các vấn đề nhân công, nông nghiệp, thuỷ lợi, đồn điền

Ở khu vực lãnh thổ này, Bộ máy hành chính ở địa phương được thực dân Pháp tổ chức như sau:

- Mỗi tỉnh có Tỉnh trưởng và tùy theo diện tích và mật độ dân số của tỉnh, có 1 hoặc 2 Phó Tỉnh trưởng và một số thành viên khác

- Mỗi huyện có Huyện trưởng, Phó Huyện trưởng và một số thành viên khác Nhiệm vụ của Tỉnh trưởng, Huyện trưởng là thu thuế, kiểm soát cấp dưới trực tiếp trong việc chấp hành nội quy, quy chế của Lãnh thổ; quản lý địa phương

về mọi mặt hoạt động

Đơn vị hành chính dưới cấp huyện trong lãnh thổ thuộc địa là xã Xã là đơn

vị hành chính do thực dân Pháp thiết lập, đứng đầu là Xã trưởng do các Trưởng Bản trực thuộc xã bầu ra với sự đồng ý của Huyện trưởng Nhiệm vụ của Xã trưởng là chỉ đạo hướng dẫn nhân dân xã của mình thực hiện các nội quy, quy chế của lãnh thổ, thu các loại thuế và bảo vệ trật tự an toàn trong phạm vi mà mình quản lý

Cấp Bản là đơn vị hành chính cơ sở Trường Bản là do nhân dân trong Bản bầu ra với sự đồng ý của Huyện trường Trưởng Bản có nhiệm vụ chỉ đạo thu thuế

và các công việc trong lĩnh vực làng xóm của mình và tuân theo lệnh cấp xã, Trưởng xã và Trưởng Bản không có lương nhưng được ưu tiên việc miễn các loại thuế trong lao động công ích

2.1.2 Bộ máy Nhà nước Lào trong giai đoạn từ 1954 đến trước 1975.

Năm 1954, cuộc kháng chiến của nhân dân các nước Đông Dương đã giành được thắng lợi to lớn, đặc biệt là sau chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, lập lại hoà bình ở Đông Dương Hiệp định Giơ ne vơ đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của nhân dân

Trang 31

28

các nước Đông Dương nói chung, nhân dân các bộ tộc Lào nói riêng Như đồng chí

Cayxỏn Phômvihản đã đánh giá: "Thắng lợi này đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm

lược và ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ của thực dân Pháp, khích lệ lòng yêu nước, yêu độc lập, tự do của nhân dân ta, khích lệ tinh thần đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc trong nước”.[46; tr 29 ]

Sau khi giành được độc lập, chính quyền cách mạng Lào còn non trẻ đã gặp phải vô vàn khó khăn khi gặp phải tình trạng thù trong, giặc ngoài Trong bối cảnh bên ngoài, Thực dân Pháp vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính nước Lào một lần nữa, còn bên trong các thế lực phản động, chống phá nổi lên khắp nơi Đứng trước sự can thiệp của thực dân Pháp và các lực lượng thù địch khác, đất nước Lào tạm thời phải chia cắt thành 2 khu vực: Khu vực quản lý của Chính phủ Vương quốc Lào và khu vực giải phóng Neo Lào Hắc Xạt

2.1.2.1 Khu vực quản lý của Chính phủ Vương quốc Lào

Lần đầu tiên trong lịch sử nước Lào, tổ chức bộ máy chính quyền tại khu vực quản lý của Chính phủ Vương quốc Lào được thiết lập bởi Hiến pháp ngày 11/5/1957 Theo quy định Điều 1 Hiến pháp 1957, bộ máy chính quyền Vương quốc Lào gồm có: nhà Vua, Hội đồng tư vấn trực thuộc nhà Vua, Nghị viện nhân dân, Chính phủ Vương quốc Lào

Nhà Vua:

Điều 8, Hiến pháp Vương quốc Lào ngày 11/5/1957 ghi : "Vua là nguyên thủ

quốc gia, đồng thời là thủ lĩnh của Vương quốc Lào Ngôi vị nhà Vua được thiết lập bởi Hiến pháp này” Nhà vua Lào có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Ban bố Hiến pháp, luật do Nghị viện nhân dân thông qua:

- Tuyên bố chiến tranh và ký kết hoà bình theo đề nghị của Nghị Viện nhân dân;

- Triệu tập, chủ toạ kỳ họp của Nghị viện nhân dân;

- Triệu tập kỳ họp bất thường của Nghị viện nhân dân;

- Ban hành Sắc lệnh theo đề nghị của Chính phủ;

- Bổ nhiệm hoặc cách chức Thủ tướng, Phó Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ;

Trang 32

29

- Bổ nhiệm hoặc cách chức Tỉnh trưởng, Phó Tỉnh trường, Thị trưởng Phó Thị trưởng, Huyện trưởng;

- Quyết định phong hàm cấp cao cấp trong các lực lượng quân đội, cảnh sát;

- Quyết định tặng thưởng huân chương và các danh hiệu vinh dự Nhà nước;

- Cử, triệu hồi Đại diện toàn quyền ngoại giao của Lào ở nước ngoài;

- Ban hành Quyết định đặc xá

Chính phủ Vương quốc Lào:

Tại khu vực nằm dưới sự quản lý của Chính phủ Vương quốc Lào, Chính phủ vương quốc Lào là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của quốc gia Chính phủ Vương quốc Lào thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong phạm vi toàn lãnh thổ của đất nước Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ, giúp việc cho Thủ tướng có Phó Thủ tướng và các thành viên khác

Chính phủ Vương quốc Lào thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Thi hành Hiến pháp, luật và nghị quyết của Nghị viện, sắc lệnh của nhà Vua;

- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn để trình Nghị viện xem xét, thông qua;

- Lập dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm, phân bổ ngân sách Nhà nước, quyết toán ngân sách Nhà nước để trình Nghị viện xem xét, quyết định;

- Tổ chức, chỉ đạo và đôn đốc, kiểm tra hoạt động của các các bộ và cơ quan chính quyền địa phương;

- Quyết định tổng biên chế của các bộ;

- Ký hiệp ước, hiệp định với nước ngoài; tổ chức và chỉ đạo việc tuân thủ những hiệp ước, hiệp định đã được ký kết;

- Chính phủ ban hành nghị quyết, nghị định Các văn Bản do Chính phủ ban hành phải được Thủ tướng Chính phủ ký, trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ vắng mặt, phải được Phó Thủ tướng Chính phủ do Thủ tướng ủy quyền ký

Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm các Bộ Đứng đầu mỗi bộ là Bộ trưởng

Số lượng các bộ của Chính phủ thường thay đổi tuỳ theo từng nhiệm kỳ Chính phủ cho phù hợp với nhiệm vụ của Chính phủ và tình hình thực tế của đất nước

Trang 33

30

Bộ máy hành chính địa phương

a, Bộ máy hành chính cấp Tỉnh:

Điều 40 Hiến pháp Vương quốc Lào quy định: “Người đứng đầu mỗi tỉnh là

Tỉnh trưởng do Nhà Vua bổ nhiệm theo đề nghị của Chính phủ Tỉnh trưởng là người đại diện cho Chính phủ tại địa phương và có toàn quyền đối với tổ chức bộ máy hành chính của địa phương”

Với trách nhiệm là người thay mặt Chính phủ thường trực tại địa phương, Tỉnh trưởng có quyền và nghĩa vụ như sau:

- Thay mặt cho Chính phủ tại địa phương;

- Tổ chức thi hành Hiến pháp và các văn bản pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên tại địa phương;

- Tổ chức và chỉ đạo việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội tại địa phương;

- Phụ trách việc bầu chọn các thành viên Nghị viện nhân dân;

- Phối hợp công tác với người đứng đầu các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn địa phương;

- Bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong phạm vi địa phương;

- Áp dụng các biện pháp khẩn cấp phòng chống thiên tai;

Ngoài ra, Tỉnh trưởng còn thực hiện một số nhiêm vụ khác theo yêu cầu của Chính phủ

Để giúp Tỉnh trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, ở mỗi tỉnh đều thành lập Hội đồng Quản lý Tỉnh Thành phần Hội đồng Quản lý Tỉnh gồm Tỉnh trưởng, các Phó Tỉnh trưởng, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh, do Tỉnh trưởng hoặc một Phó Tỉnh trưởng làm Chủ tịch, Chánh văn phòng Tỉnh trưởng làm thư ký

Hội đồng Quản lý tỉnh thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho Tỉnh trưởng về các vấn đề quản lý Nhà nước ở địa phương, việc thực hiện các mệnh lệnh, chỉ thị của Chính phủ [46; tr 9-10]

Trang 34

31

b, Bộ máy hành chính cấp huyện:

Điều 43 của Hiến pháp Vương quốc Lào quy định: “Đứng đầu huyện là

Huyện trưởng do nhà Vua bổ nhiệm theo đề nghị của Chính phủ Huyện trưởng là người đại diện cho Chính phủ quản lý địa phương về mọi mặt”

Huyện trưởng có nhiệm vụ hướng dẫn và chỉ đạo xã, bản trong việc thực hiện chính sách và Pháp luật của Nhà nước; tổ chức việc xây dựng và phát triển địa phương về mọi mặt, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân địa phương

Khi hoạt động, Huyện trưởng không những phải tuân thủ Hiến pháp và Pháp luật, mà còn phải tôn trọng phong tục tập quán của địa phương Để giúp Huyện trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, ở mỗi huyện đều thành lập Hội đồng Quản lý huyện Hội đồng Quản lý huyện gồm có Huyện trưởng, các Phó Huyện trưởng, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc huyện, do Huyện trưởng hoặc một Phó Huyện trưởng làm Chủ tịch, Chánh văn phòng huyện trưởng làm thư ký

c, Bộ máy hành chính xã:

Điều 2 Sắc lệnh số 254 ngày 24 / 08/ 1966 Vương quốc Lào về tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính xã, bản quy định: Đứng đầu xã là Xã trưởng do Tỉnh trưởng bổ nhiệm Bộ máy giúp việc cho Xã trưởng gồm Thư ký xã và một số

Uỷ viên xã do Huyện trưởng bổ nhiệm, cách chức Xã trưởng là người phụ trách công việc chung Một Uỷ viên xã phụ trách công tác bảo vệ an ninh quốc phòng và quản lý kinh tế; một Uỷ viên xã phụ trách công tác giáo dục, văn hoá, xã hội

d, Bộ máy hành chính Bản:

Điều 3 Sắc lệnh số 254 ngày 24/ 08/ 1966 Vương quốc Lào quy định: Bản là cấp đơn vị hành chính cơ sở của Nhà nước Vương quốc Lào Hoạt động của bộ máy hành chính Bản chịu sự hướng dẫn và chỉ đạo của xã Đứng đầu Bản là Trưởng Bản

do nhân dân Bản bầu ra Giúp việc cho Trưởng Bản có một số Uỷ viên Bản do Xã trưởng bổ nhiệm

2.1.2.2 Khu vực giải phóng Neo Lào Hắc xạt (Mặt trận Lào yêu nước)

Năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, trong phạm

vi lãnh thổ quốc gia Lào, một khu vực giải phóng đã được thành lập Cùng với sự phát triển của phong trào đấu tranh yêu nước ngày càng lớn mạnh, khu vực giải phóng ngày càng được củng cố và phát triển mạnh mẽ

Trang 35

32

Ngày 3/2/1972 Đại hội lần thứ II của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã thông qua nghị quyết, trong đó quy định tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính trong khu vực dải phóng Neo Lào Hắc Xạt Trên cơ sở của Nghị quyết, một hệ thống cơ quan hành chính thống nhất từ trung ương đến địa phương đã được thiết lập tại khu vực Neo Lào Hắc Xạt Đến năm 1973, khu vực giải phóng được phát triển rộng rãi bao trùm 4/5 diện tích lãnh thổ nước Lào với số lượng dân cư chiếm hơn 2/3 số dân của cả nước

Bộ máy Nhà nước Trung ương khu vực Neo Lào Hắc xạt: Ở khu vực giải

phóng (Neo Lào Hắc xạt) Bộ máy Nhà nước Trung ương bao gồm:

Ủy ban Trung ương Neo Lào Hắc Xạt là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà nước Ủy ban gồm các thành viên sau: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Neo Lào Hắc

Xạt, Phó Chủ tịch và các thành viên khác

Đứng đầu bộ máy hành chính Nhà nước là Hội đồng Chính phủ Các thành viên của Hội đồng Chính phủ do Đại hội Neo Lào Hắc Xạt bầu theo đề nghị của Chủ tịch nước Hội đồng Chính phủ thực hiện chức năng quản lý điều hành và lãnh đạo về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng và đối ngọai

Bộ máy hành chính Nhà nước địa phương

Theo nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ II, ngày 3/2/1972, khu vực giải phóng Neo Lào Hắc Xạt được chia thành nhiều tỉnh; tỉnh chia thành nhiều huyện; huyện chia thành nhiều xã; xã chia thành các bản

a, Cơ cấu của bộ máy hành chính cấp tỉnh bao gồm:

Chủ tịch Ủy ban hành chính Tỉnh, Phó Chủ tịch và các thành viên khác Giúp việc cho Ủy ban hành chính tỉnh có Văn phòng hành chính tỉnh và các cơ quan chuyên môn trực thuộc

Huyện, Phó Chủ tịch và các thành viên khác Giúp việc cho Ủy ban hành chính huyện có Văn phòng hành chính huyện và các cơ quan chuyên môn trực thuộc

Trang 36

33

b, Cơ cấu của bộ máy hành chính cấp xã bao gồm :

Chủ tịch Ủy ban hành chính xã, Phó Chủ tịch, phòng hành chính xã và các tổ chức chuyên môn trực thuộc xã

c, Cơ cấu của bộ máy hành chính cấp bản gồm :

Chủ tịch Ủy ban hành chính bản, Phó Chủ tịch, phòng hành chính bản

Cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương có nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân xây dựng nền kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân; bảo đảm an ninh; trật tự an toàn trong địa bàn bản; thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, sẵn sàng tham gia vào công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.[15, tr

408, 409]

Theo tinh thần của Hiệp ước Viêng Chăn ngày 21/2/1973 được ký kết giữa Chính phủ Vương quốc Lào và Mặt trận cách mạng Lào yêu nước, một cơ cấu chính quyền chung được thành lập Cơ cấu đó gồm Chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời

và Hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia

Thủ đô Viêng Chăn và Luông Pha Bang trở thành khu vực trung lập nơi đặt trụ sở của Chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia được đặt tại Viêng Chăn

Hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia đóng vai trò là cơ quan lập Pháp Hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia thành lập 6 Ủy ban: Ủy ban Thư ký; Ủy ban Hiệp thương chính trị; Ủy ban Pháp luật và bầu cử, Ủy ban An ninh và quốc phòng; Ủy ban Hợp tác đối ngoại và viện trợ nước ngoài; Ủy ban Kinh tế và tài chính; Ủy ban Văn hoá - giáo dục [52; tr 141-142]

Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và các thành viên khác (25 người) Đứng đầu Chính phủ liên hiệp là Hoàng thân SuyănNaPhumMa, các thành viên khác của Chính phủ do nhà Vua và Mặt trận dân tộc Lào yêu nước bổ nhiệm theo đề nghị của Ủy ban hiệp thương chính trị và có tỷ

lệ ngang nhau Ngoài ra, có 2 Bộ trưởng do mỗi bên đề nghị bổ nhiệm từ các vị lão thành, có uy tín, có quan điểm hoà bình, độc lập, trung lập và Dân chủ [23; tr 140]

Trang 37

34

Theo Hiệp ước Viêng Chăn, đất nước Lào được chia thành 3 khu vực sau:

- Khu vực giải phóng Neo Lào Hắc Xạt ( Mặt trận Lào yêu nước );

- Khu vực Chính phủ Vương quốc Lào;

cũ gồm Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp Sự ra đời của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào mở ra một thời kỳ mới trong tiến trình lịch sử dân tộc; thời kỳ xây dựng chế độ Dân chủ nhân dân độc lập

tự chủ, thống nhất và thịnh vượng, bảo đảm cho nhân dân các bộ tộc có một cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc”.[65; tr 37]

2.2 Bộ máy Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn từ năm 1975 đến 1991

Sau khi đất nước được giải phóng, Chính thể Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào ra đời do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu chọn ngày 2/12/1975, là hình thức tổ chức cách mạng kiểu mới, là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Hệ thống Bộ máy Nhà nước từ trung ương tới địa phương được thiết lập nhằm đảm bảo sự tập trung: vừa thống nhất quyền lực, vừa đảm bào sự phân cấp về trách nhiệm và quyền hạn

Bộ máy Nhà nước của nước CHDCND Lào trong giai đoạn này bao gồm Chủ tịch nước CHDCND Lào; Hội đồng nhân dân Tối cao (Quốc hội); Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ) - bao gồm cấp Trung ương và các cơ quan hành chính địa phương

Trang 38

35

Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ):

Theo quy định của Điều 2, Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc Thành phần của Hội đồng Bộ trưởng gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các Bộ trưởng; và các Chủ tịch Ủy ban Nhà nước Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng Bộ trưởng do Hội đồng nhân dân Tối cao (Quốc hội) bầu theo đề nghị của Chủ tịch nước

Hội đồng Bộ trưởng thống nhất quản lý Nhà nước về mọi mặt, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Hội đồng Bộ tnrởng đầy đủ thẩm quyền trong việc giải quyết mọi vấn đề quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý điều hành đất nước

Hội đồng Bộ trưởng ban hành nghị quyết và nghị định Các nghị quyết, nghị định do Hội đồng Bộ trưởng ban hành có hiệu lực trong phạm vi cả nước, đối với mọi địa phương

Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Bộ trưởng bao gồm các Bộ, Ủy ban Nhà nước Trong giai đoạn từ 1975 đến 1991 cơ cấu tổ chức của Hội đồng Bộ trưởng gồm các cơ quan sau: Bộ Nội vụ; Bộ Quốc phòng; Bộ Ngoại giao; Bộ Tư pháp; Bộ

Y tế; Bộ Giáo dục - Đào tạo; Bộ Văn hoá; Bộ Nông, thủy lợi và hợp tác xã nông nghiệp; Bộ Thương mại; Bộ Công nghiệp, thủ công nghiệp và lâm nghiệp; Bộ Vận tải và Bưu điện; Bộ Tài chính; Bộ Xây dựng; Bộ Cung ứng vật chất - kỹ thuật; Ủy ban Kế hoạch Nhà nước; Ủy ban Ngân sách Nhà nước; Ủy ban Tuyên truyền báo chí; Đài Phát thanh và truyền hình Nhà nước; Ban Tổ chức cán bộ; Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng; Ủy ban dân tộc

Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Bộ trưởng

Theo quy định của Điều 9 Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng của Lào năm

1978, Hội đồng Bộ trưởng thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Lãnh đạo công tác của các Bộ, ủy ban Nhà nước, ủy ban nhân dân tỉnh trong phạm vi toàn quốc;

- Bảo đảm việc thi hành pháp luật trong các cơ quan Nhà nước; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, các Ủy ban Nhà nước; thực hiện các

Trang 39

36

biện pháp kiện toàn cơ cấu tổ chức, lề lối làm việc của hệ thống cơ quan quản lý hành chính Nhà nước;

- Bảo đảm thực hiện pháp chế và tăng cường kỷ luật trong hoạt động của các

cơ quan hành chính Nhà nước;

- Thống nhất quản lý việc xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân; bảo đảm thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế, áp dụng lợi nhuận, tăng cường chế

độ tiết kiệm trong mọi lĩnh vực; bảo đảm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho mặt trận tổ quốc và các tổ chức quần chúng nhân dân khác hoạt động có hiệu quả; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước và xã hội;

- Quản lý lao động, tiền lương, tài chính, tiền tệ, tín dụng, thị trường và thống nhất về giá cả; quản lý hoạt động ngoại thương của Nhà nước; thực hiện độc quyền của Nhà nước, thúc đẩy xuất khẩu thương mại;

- Quản lý hoạt động đối ngoại của Nhà nước; thực hiện các biện pháp tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật với các nước Xã hội Chủ nghĩa;

- Tăng cường sự đoàn kết của các bộ tộc Lào trong cả nước để xây dựng Xã hội Chủ nghĩa đến sự thành công; bảo vệ tài sản và lợi ích của Nhà nước và

xã hội

Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

Đứng đầu Hội đồng Bộ trưởng là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trong thời kỳ này thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Chỉ đạo hoạt động của các thành viên trong Hội đồng Bộ trưởng;

- Triệu tập và chủ toạ các phiên họp của Hội đồng Bộ trưởng;

- Thay mặt Hội đồng Bộ trương trong mối quan hệ đối ngoại;

- Chỉ đạo hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh

Giúp việc cho Hội đồng Bộ trưởng là Văn phòng Hội đồng bộ trưởng, Văn phòng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của Hội đồng Bộ trưởng nói chung, của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nói riêng Văn phòng thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

Trang 40

37

- Chuẩn bị nội dung các phiên họp của Hội đồng Bộ trưởng;

- Chuẩn bị nghị quyết, quyết định của Hội đồng Bộ trưởng;

- Tổ chức kiểm tra giám sát tình hình, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, các nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng; giữ mối liên hệ với các bộ, Ủy ban Nhà nước, Ủy ban nhân dân tỉnh; hàng tháng tổ chức thông báo

Các cơ quan chính quyền địa phương

Theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Lào các cấp năm 1978, đơn vị hành chính lãnh thổ của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào gồm có 4 cấp Cả nước chia thành các tỉnh và Thủ đô Viêng Chăn; tỉnh chia thành các huyện; huyện chia thành các xã; xã chia thành các bản Ở các cấp hành chính đều thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân,

do nhân dân tại địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương Hội đồng nhân dân địa phương có nhiệm vụ bảo đảm việc thực hiện pháp luật tại địa phương, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước, đảm bảo quyền bình đẳng của các bộ tộc và tăng cường sự đoàn kết trong nhân dân

Hội đồng nhân dân địa phương có quyền quyết định kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội của địa phương, quyết định ngân sách địa phương

Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân quản lý việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, bảo đảm an ninh trận tự tại đại phương; thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, các văn bản pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên

Nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân dựa theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân tỉnh, Thủ đô Viêng Chăn có nhiệm kỳ 3 năm; Ủy ban nhân dân huyện

2 năm, xã có nhiệm kỳ 1 năm; nhiệm kỳ của Ủy ban hành chính cấp bản tương tự như nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân xã

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w