1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LÃNH ĐạO CÔNG TáC DÂN Số - Kế HOạCH HóA GIA ĐìNH Từ NĂM 2001 ĐếN NĂM 2010

111 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004 đã phân tích vai trò của gia đình, của người mẹ với sự phát triển dân số, văn hóa và môi trường; bên cạnh đó, các vấn đề như bình đẳng giới, lao chuẩn cho

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hµ Néi - 2013

Trang 2

đại học quốc gia hà nội TR-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

            

NGUYễN THị NHUNG

ĐảNG LãNH ĐạO CÔNG TáC DÂN Số - Kế HOạCH HóA GIA ĐìNH Từ NĂM 2001 ĐếN NĂM 2010

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục luận văn 8

CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2001-2005 9

1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề DS-KHHGĐ và khái lược tình hình DS-KHHGĐ ở Việt Nam trước năm 2001 9

1.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề DS-KHHGĐ 9

1.1.2 Khái lược về công tác DS-KHHGĐ ở Việt Nam trước năm 2001 16

1.2 Chủ trương của Đảng về công tác DS-KHHGĐ giai đoạn

2001-2005 25

1.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác DS-KHHGĐ 35

1.3.1 Chỉ đạo ban hành chính sách 35

1.3.2 Chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp 41

Tiểu kết chương 1 49

CHƯƠNG 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 50

2.1 Yêu cầu mới của công tác DS-KHHGĐ và chủ trương của Đảng 50

2.1.1 Yêu cầu mới của công tác DS-KHHGĐ 50

2.1.2 Chủ trương của Đảng 54

2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác DS-KHHGĐ 59

Trang 4

2.2.1 Chỉ đạo ban hành chính sách 59

2.2.2 Chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp 69

Tiểu kết chương 2 78

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 79

3.1 Nhận xét 79

3.1.1 Ưu điểm 79

3.1.2 Hạn chế 85

3.2 Bài học kinh nghiệm 89

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 5

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Dân số, Gia đình và Trẻ em Dân số, sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình

Kế hoạch hóa gia đình Kết luận Trung ương Nghị quyết Hội Nghị Trung ương Nghị quyết Trung ương

Nhà xuất bản Sức khỏe sinh sản Sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình Quỹ dân số Liên Hợp Quốc

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1.Tổng tỷ suất sinh theo thành thị/nông thôn, vùng (2001-2005) 47

Bảng 2.1 Tỷ số giới tính khi sinh trên toàn quốc và theo vùng 2001-2009 52

Bảng 2.2 Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai (CPR), 2001-2008 71

Bảng 2.3 Tổng tỷ suất sinh theo thành thị/nông thôn, vùng (2006-2009) 76

Bảng 2.4 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trên toàn quốc (2002-2010) 77

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa về văn hóa, xã hội, góp phần quyết định sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Giữa dân số và phát triển có mối quan hệ biện chứng với nhau, ràng buộc và hỗ trợ lẫn nhau: muốn tăng trưởng kinh tế thì phải dựa vào nguồn lực, mà nguồn nhân lực lại gắn với tình hình biến đổi dân số; mặt khác, mục đích cuối cùng của phát triển kinh tế-xã hội không ngoài việc nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được với một quy mô, tốc độ gia tăng dân số, sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực phù hợp với nền kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, quy mô dân số lớn và ngày càng gia tăng gây sức ép nhiều mặt cho đời sống kinh tế-xã hội, làm chậm quá trình phát triển của đất nước Do sớm nhận thức được tác động to lớn của dân số, từ những ngày đầu của thập niên 60 đến năm 2010 Đảng và Nhà Nước đã đề ra nhiều chính sách với mục tiêu: giảm mức sinh và sớm ổn định quy mô dân số Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII

về chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình đã khẳng định cam kết chính trị của Đảng đối với công tác DS-KHHGĐ Khẳng định sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân cản trở tốc độ phát triển kinh tế-xã hội, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi Dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1994 đến năm 2000, công tác

nhanh chóng

Bước vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, trước những yêu cầu phát triển của đất nước và những biến đổi của tình hình DS-KHHGĐ, sự

Trang 8

nhìn nhận của Đảng về công tác DS-KHHGĐ đã có những nét mới, bên cạnh việc tiếp nối đà giảm sinh đã đạt được trước đó, Đảng bắt đầu quan tâm đến chất lượng dân số, từng bước tháo gỡ những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện, tạo điều kiện cho thực hiện mục tiêu DS-KHHGĐ Kết quả đạt được của DS-KHHGĐ trong 10 năm thực hiện (2001-2010) đã góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

Bước sang một giai đoạn mới, khi tình hình đất nước đang biến đổi không ngừng đòi hỏi mọi mặt công tác nói chung và lĩnh vực DS-KHHGĐ nói riêng phải đáp ứng những yêu cầu của tình hình mới Bên cạnh đó, khi mức giảm sinh đã cơ bản đạt được, những vấn đề mới trong lĩnh vực DS-KHHGĐ nảy sinh, việc xác định những bước đi tiếp theo của công tác đòi hỏi cần có chủ trương, chính sách của Đảng phù hợp, đúng đắn Việc nghiên cứu, tổng kết lại chặng đường Đảng lãnh đạo công tác DS-KHHGĐ

và hoạt động thực tiễn phong phú từ năm 2001 đến năm 2010 là cần thiết

Từ thực tế hoạt động của công tác rút ra những nhận xét, bài học kinh nghiệm nhằm làm tốt hơn công tác, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong hoàn cảnh lĩnh vực công tác có nhiều chuyển biến Do đó, tôi chọn đề tài

“Đảng lãnh đạo công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình từ năm 2001 đến năm 2010” làm đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, chuyên ngành

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Công tác DS-KHHGĐ đã được triển khai từ năm 1961, qua hơn 50 năm thực hiện, công tác DS-KHHGĐ được sự quan tâm của tất cả các cấp, ban, ngành Đặc biệt, lĩnh vực DS-KHHGĐ đã trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học tiếp cận ở những góc độ khác nhau

Tác giả Lương Xuân Quỳ trong cuốn sách “Bùng nổ dân số-hậu quả

và giải pháp” (NXB Sự thật, Hà Nội, 1992) đã nêu lên tình hình dân số thế

Trang 9

giới, dân số Việt Nam và chỉ rõ con đường lựa chọn duy nhất là kiên trì đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình Trong cuốn sách này tác giả cũng đưa ra kinh nghiệm của một số địa phương trong thực hiện công tác kế hoạch hóa gia đình

Tác giả Đỗ Thịnh trong cuốn sách “Học vấn và mức sinh” NXB Thống

kê, Hà Nội, 1997, đã phân tích mối quan hệ giữa học vấn và mức sinh trên các phạm vi khác nhau từ cả nước đến các vùng, các tỉnh và các huyện

Tác giả Trần Cao Sơn trong cuốn sách “Một số vấn đề về mối quan

hệ giữa dân số và sự phát triển” (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) đã

đề cập đến một số vấn đề như: Dân số và phát triển một số tộc người, mối quan hệ dân số và việc làm, dân số và vấn đề nguồn nhân lực, vai trò của nam giới trong việc giảm mức sinh, đồng thời trong cuốn sách này tác giả cũng đề cập tới vấn đề dân số và phát triển của một số quốc gia trong khu vực Châu Á, Thái Bình Dương

Tác giả Lê Thi trong cuốn sách “Gia đình, phụ nữ Việt Nam với Dân

số, văn hóa và sự phát triển bền vững” (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,

2004) đã phân tích vai trò của gia đình, của người mẹ với sự phát triển dân

số, văn hóa và môi trường; bên cạnh đó, các vấn đề như bình đẳng giới, lao

chuẩn cho người phụ nữ hiện nay, hôn nhân và hạnh phúc gia đình, công, dung, ngôn, hạnh và một vài nét đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta cũng được tác giả bàn luận, phân tích

“Thay đổi cấu trúc dân số và dự báo giai đoạn cơ cấu dân số

“vàng” ở Việt Nam” (kỷ yếu hội thảo quốc gia về biến đổi cơ cấu dân số,

Hà Nội, 6/2009), Tạp chí dân số và phát triển số tháng 5 năm 2010 của tác giả Nguyễn Đình Cử, Hà Tuấn Anh đã khái quát sự biến đổi dân số theo lứa tuổi từ tổng điều tra dân số 1979 đến năm 2009, nhận định quá trình

Trang 10

diễn biến của cơ cấu dân số “vàng”, dự báo thời điểm cơ cấu dân số “vàng” và một số đặc điểm nhân khẩu học trong thời kỳ dân số “vàng” ở Việt Nam

Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Dân số Việt Nam 26/12/2011) GS.TS Nguyễn Đình Cử (Viện trưởng Viện Dân số và các

(26/12/1961-vấn đề xã hội-Đại học kinh tế quốc dân) đã có chuyên khảo “50 năm chính

sách giảm sinh ở Việt Nam (1961-2011): thành tựu, tác động và bài học kinh nghiệm” (Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.2011) Cuốn sách đã

mô tả xu hướng giảm sinh ở Việt Nam nói chung, khảo sát, phân tích chi tiết mức sinh của từng khu vực, từng tỉnh, từng nhóm đối tượng; những hệ quả trực tiếp của mức sinh thấp đến tình hình dân số, đến sự phát triển kinh

tế xã hội…Đồng thời, cuốn sách phát hiện những cảnh báo và thách thức mới gay gắt do chính thành tựu giảm sinh gây ra Qua đó, tác giả đã đúc kết những bài học kinh nghiệm từ 55 thực hiện chính sách giảm sinh

Tổng cục Dân số-kế hoạch hóa gia đình đã biên soạn và phát hành

cuốn sách “Công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình Việt Nam-50 năm xây

dựng và phát triển(1961-2011)” Cuốn sách đã khái quát lại những chặng

đường thực hiện công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình từ năm 1961 đến năm 2011, dự báo tình hình dân số giai đoạn 2011-2020 và mục tiêu, giải pháp tiếp tục thực hiện công tác

Một số bài báo viết về DS-KHHGĐ của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, lãnh đạo cơ quan tổng cục dân số-kế hoạch hóa gia đình:

“Sự lãnh đạo của Đảng với công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình:

sợi chỉ đỏ cho sự phát triển hài hòa dân số với kinh tế-xã hội-môi trường”

(Đăng trên báo Gia đình số ra ngày 29/01/2010) của TS Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ; đã khẳng định chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng đối với công tác DS-KHHGĐ, rút ra những bài học kinh nghiệm trong đó sự lãnh đạo, cam kết của các cấp ủy

Trang 11

đảng và chính quyền là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự thành công của công tác dân số Đồng thời tác giả cũng đã nêu bật những kết quả đã đạt được trong công tác kế hoạch hóa gia đình: năm 2009 hoàn thành chỉ tiêu giảm sinh do Quốc hội giao sau nhiều năm liền không đạt Tỉ lệ gia tăng dân số hàng năm bình quân trong 10 năm (2001-2010) là 1,2%, là mức thấp nhất trong suốt 50 năm qua, từ năm 2006, chúng ta đã đạt mức sinh thay thế (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 2,1 con), về đích sớm hơn 10 năm so với mục tiêu mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) đã đề ra

“Một số vấn đề về dân số và phát triển hiện nay” của PGS.TS Đặng

Nguyên Anh, Viện khoa học và xã hội Việt Nam, Tạp chí Dân số và Phát triển số tháng 10 năm 2010, đã tập trung đánh giá tình hình dân số Việt Nam trên một số bình diện cơ bản: quy mô, cơ cấu dân số, di dân và quản

lý dân cư, biến đổi mức sinh, phân tích những vấn đề nảy sinh cần có sự xem xét kịp thời Qua đó tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm thực hiện các mục tiêu dân số và phát triển trong giai đoạn 2011-2020

Một số học viên cao học đã lựa chọn lĩnh vực dân số-kế hoạch hóa gia đình làm đề tài nghiên cứu:

Luận văn Thạc sĩ triết học: “Phát huy vai trò hội phụ nữ tỉnh đối với

công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ở Hải Dương hiện nay”, của Vũ

Thu Hà, năm 2010, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, những căn cứ khoa học về vai trò của phụ nữ và hội phụ nữ trong công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình Nghiên cứu thực trạng phát huy vai trò của hội phụ nữ tỉnh Hải Dương trong phát triển kinh tế-xã hội nói chung, đặc biệt là trong thực hiện công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình nói riêng Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương

Trang 12

đối với công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình trong giai đoạn mới Đồng thời, chú trọng các giải pháp nhằm nâng cao vị thế của người phụ nữ như nâng cao dân trí, trình độ nhận thức, thực hiện bình đẳng giới, thực hiện tuyên truyền về kế hoạch hóa gia đình ở các cấp hội

“Nhận thức của người dân huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa về kế

hoạch hóa gia đình”, luận văn thạc sĩ tâm lý học của tác giả Mai Văn Hải,

Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, năm 2009 đã nghiên cứu thực trạng tình hình dân số và công tác DS-KHHGĐ tại huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa trên các mặt nội dung và nhận thức của người dân về lợi ích của việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình và hậu quả của gia tăng dân số đối với chất lượng cuộc sống; nhận thức về các biện pháp tránh thai, nguồn thông tin kế hoạch hóa gia đình Qua đó rút ra một số yếu tố tác động tới nhận thức người dân về kế hoạch hóa gia đình, rút ra một số kết luận, kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn nhận thức của người dân về kế hoạch hóa gia đình

Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết đã công bố liên quan đến công tác DS-KHHGĐ nhưng:

- Chưa có công trình nghiên cứu nào hệ thống đầy đủ chủ trương của Đảng đối với công tác DS-KHHGĐ từ năm 2001 đến năm 2010

- Chưa có công trình nghiên cứu nào rút ra những nhận xét, kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác DS-KHHGĐ từ năm

2001 đến năm 2010

Những vấn đề luận văn tập trung nghiên cứu:

- Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác KHHGĐ từ năm 2001 đến năm 2010;

- Sự hiện thực hóa chủ trương của Đảng trong thực tiễn công tác DS-KHHGĐ từ năm 2001 đến năm 2010;

Trang 13

DS Rút ra nhận xét và bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác DS-KHHGĐ từ năm 2001 đến năm 2010

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Làm sáng tỏ chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện

công tác DS-KHHGĐ của Đảng từ năm 2001 đến năm 2010, rút ra một số bài học kinh nghiệm

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Những yếu tố tác động đến vấn đề DS-KHHGĐ

+ Công tác DS-KHHGĐ trước năm 2001 và những vấn đề đặt ra + Trình bày và phân tích những quan điểm chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác DS-KHHGĐ từ năm 2001 đến năm 2010

+ Đánh giá những thành công, hạn chế và đúc rút kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng đối với công tác DS-KHHGĐ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương, biện pháp của Đảng Cộng sản

Việt Nam về công tác DS-KHHGĐ từ năm 2001 đến năm 2010

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian từ năm 2001 đến năm 2010

+ Không gian: nghiên cứu tổng quát trên địa bàn cả nước

+ Nội dung: Chủ trương và biện pháp chính của Đảng Cộng sản Việt Nam và công tác DS-KHHGĐ; hoạt động và kết quả chính của công tác DS-KHHGĐ ở Việt Nam

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Nguồn tư liệu:

+ Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IV,V,

VI, VII,VIII, IX, X; Văn kiện Hội nghị TW 4 khóa VII (1993), Văn kiện Hội nghị TW 2 khóa VIII (1998) những Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định,

Trang 14

Nghị định của Trung ương, Bộ Chính trị, Chính phủ về công tác KHHGĐ; về chăm sóc sức khỏe; về Y tế…

+ Những thông tư, hướng dẫn, báo cáo triển khai thực hiện công KHHGĐ của các bộ, ngành có liên quan như: Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-kế hoạch hóa gia đình

DS-+ Những công trình nghiên cứu khoa học liên quan đã được công bố

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lô gích là chủ yếu Đồng thời kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp thống kê, so sánh, phân tích…

6 Đóng góp của luận văn

- Trình bày có hệ thống, rõ ràng những chủ trương của Đảng, chính

sách của Nhà nước về DS-KHHGĐ và tổ chức thực hiện công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình từ năm 2001 đến năm 2010

- Bước đầu nêu lên một số kinh nghiệm thực tiễn góp phần góp phần làm tốt hơn công tác DS-KHHGĐ

- Bổ sung thêm một nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu về lĩnh vực DS-KHHGĐ

Trang 15

CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH

HÓA GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2001-2005 1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề DS-KHHGĐ và khái lược tình hình DS-KHHGĐ ở Việt Nam trước năm 2001

1.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề DS-KHHGĐ

Muốn tìm hiểu công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình, trước hết cần phải hiểu những khái niệm: Dân số là gì, quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số, sự phân bố dân cư, kế hoạch hóa gia đình

Dân số là một cộng đồng dân cư hay cộng đồng người chung sống

trên một lãnh thổ được xác lập tại thời điểm cụ thể

Quy mô dân số là tổng số dân của một địa phương, một quốc gia,

một vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất định

Cơ cấu dân số là sự phân loại dân số dựa trên các đặc trưng về giới tính,

độ tuổi, tình trạng hôn nhân, dân tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp

Chất lượng dân số là tập hợp các thuộc tính về bản chất có liên quan

đến tình trạng sức khỏe, trình độ giáo dục, văn hóa, trình độ khoa học kĩ thuật, cơ cấu và kĩ năng nghề nghiệp, xã hội và tính năng động của dân số

Sự phân bố dân cư: là việc phân chia tổng số dân theo khu vực, vùng

địa lí, kinh tế hoặc một đơn vị hành chính

Chính vì vậy chúng ta có thể hiểu công tác dân số là việc quản lý và

tổ chức thực hiện các hoạt động tác động đến quy mô dân số, cơ cấu dân

số, phân bố dân cư và kiểm soát sinh sản, chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng dân số, giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân-gia đình-xã hội, góp phần xây dựng xã hội ổn định và phát triển bền vững

Kế hoạch hóa gia đình

Dưới nhiều góc độ tiếp cận có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm kế hoạch hóa gia đình

Trang 16

Theo quyết định số 315/CP, ngày 24/8/1992 của Hội đồng Chính phủ

về Chiến lược truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình 1992-2000,

trong phần 3 chương V viết:"Kế hoạch hóa gia đình có nghĩa là chủ động

quyết định số con của mình và khoảng cách giữa các lần sinh thông qua việc áp dụng biện pháp tránh thai để có một gia đình ít con, khỏe mạnh, hạnh phúc, giàu có Kế hoạch hóa gia đình là quyền và cũng là trách nhiệm của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng Họ được quyền tự do quyết định nhưng với ý thức trách nhiệm đầy đủ về số con của mình trên cơ sở những thông tin và những hiểu biết cần thiết để thực hiện những quyết định ấy"

Theo khoản 9 điều 3 Pháp lệnh Dân số nêu: "Kế hoạch hóa gia đình

là nỗ lực của gia đình, Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh con, nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình"

Tiểu ban các chuyên gia tổ chức y tế thế giới (WHO) quan niệm: kế hoạch hóa gia đình bao gồm các vấn đề thực hiện giúp cho các cá nhân hay cặp vợ chồng đạt được những mục tiêu sau: tránh những trường hợp sinh không theo ý muốn, điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh, chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi bố mẹ Đồng thời, kế hoạch hóa gia đình còn đồng nghĩa với kiểm soát sinh sản, nó còn có ý nghĩa rộng hơn kiểm soát sinh sản, bao gồm: hạn chế vô sinh và khoảng cách giữa các lần sinh, tư vấn về vô sinh, phát hiện những bệnh về cơ quan sinh sản, tư vấn hôn nhân, tư vấn tư cách làm cha, làm mẹ

Tuy có những quan điểm khác nhau, song có thể thấy các tác giả đều thống nhất khái niệm kế hoạch hóa gia đình ở một số điểm sau:

+ Về độ tuổi kết hôn,

+ Xây dựng quy mô gia đình hợp lý, đó là sự điều chỉnh có ý thức của các cặp vợ chồng về số con,

Trang 17

+ Các biện pháp hạn chế sinh đẻ,

+ Tư cách làm cha, mẹ,

+ Nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình

Công tác DS-KHHGĐ là một vấn đề mang tính xã hội sâu sắc, khi thực hiện nó chịu sự tác động qua lại của nhiều yếu tố Cụ thể:

Yếu tố kinh tế:

Trong quan hệ với vấn đề DS-KHHGĐ, yếu tố kinh tế đóng vai trò là nguyên nhân trực tiếp của quá trình biến động di cư nói chung và quá trình sinh đẻ nói riêng, nó còn đóng vai trò như là phương tiện vật chất cần thiết cho việc thực hiện các nhu cầu sinh đẻ, nuôi dạy con cái và chăm sóc sức khỏe Ngoài ra yếu tố kinh tế còn tác động gián tiếp lên quá trình dân số như thay đổi điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần, biến đổi định hướng giá trị, lối sống và ý thức của mỗi cá nhân…Cùng với sự tăng trưởng kinh

tế thì việc chấp nhận quy mô gia đình nhỏ độc lập cũng có chiều hướng tăng lên rõ rệt

Thực tế cho thấy, những nơi kinh tế phát triển thì tỷ lệ gia tăng dân

số lại thấp hơn so với những nơi kinh tế chậm phát triển công tác dân số và

kế hoạch hóa gia đình ở những nơi kinh tế phát triển cũng thường thuận lợi

và đạt kết quả cao hơn Hay nói cách khác, kinh tế phát triển tạo điều kiện cho trình độ dân trí được nâng cao, chất lượng dân số không ngừng được cải thiện, do đó mà con người cũng có ý thức cao hơn về tầm quan trọng của công tác DS-KHHGĐ (thực hiện sinh đẻ có kế hoạch để nuôi dạy con tốt, quan tâm và biết cách chăm sóc sức khỏe bản thân và gia đình…)

Yếu tố nhận thức:

Yếu tố nhận thức thể hiện sự hiểu biết của mọi thành viên trong gia đình và toàn xã hội về sức khỏe sinh sản, chăm sóc, nuôi dạy con cái, phòng và tránh thai ngoài ý muốn, hiểu biết và thực hiện đường lối, chủ

Trang 18

trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề KHHGĐ Yếu tố nhận thức tác động đến công tác DS-KHHGĐ ở chỗ: trình

DS-độ học vấn có quan hệ tỷ lệ nghịch với tỷ suất sinh, tức nơi nào có trình DS-độ học vấn cao thì nơi đó có tỷ suất sinh thường thấp, còn nơi nào có trình độ học vấn thấp thì tỷ suất sinh thường cao, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cũng cao hơn Những phụ nữ có trình độ học vấn cao thường có ít con, bởi lẽ, một mặt công việc học tập và nghiên cứu mất một khoảng thời gian nhất định trong mỗi đời người, tuổi kết hôn nâng lên thì thời gian đẻ rút ngắn đi Đồng thời giúp họ tránh xa những hủ tục phong kiến lạc hậu, nhìn nhận thực tế cuộc sống để lựa chọn, tính toán phương án sinh đẻ cho phù hợp và khoa học, hơn thế, bằng kiến thức đã có những bậc làm cha, làm mẹ có trình độ học vấn cao, hiểu biết rộng nên việc chăm sóc con cái cũng tốt và

có điều kiện hơn, giảm thiểu mức tử vong ở trẻ sơ sinh, xóa tâm lý sinh bù, sinh dự phòng

Yếu tố văn hóa:

Mặc dù nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, các yếu tố văn hóa tốt đẹp ngày càng được phát huy nhưng không ít yếu tố văn hóa cũ, những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu vẫn tồn tại, cản trở công tác DS-KHHGĐ

Nước Việt Nam với đặc trưng văn hóa nông nghiệp lúa nước, nông nghiệp chưa thoát khỏi lạc hậu, mọi công việc đồng ruộng vẫn phải dựa vào sức mạnh cơ bắp của người đàn ông, đây là một trong những lý do khiến phần lớn các gia đình quá đề cao vai trò của người đàn ông trong gia đình, gây ra tâm lý phải sinh bằng được con trai để gánh vác trọng trách gia đình Điều này đã tác động đến quy mô, tỷ lệ nam nữ trong gia đình, từ đó ảnh hưởng đến công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình

Trang 19

Hiện nay ở nước ta, còn có những dân tộc thiểu số có tư tưởng lạc hậu chưa xóa bỏ được như tình trạng tảo hôn còn cao, việc dựng vợ gả chồng cho con do hẹn ước của các bậc làm cha mẹ, ép gả khi con cái chưa đến tuổi trưởng thành nhằm có thêm nhân lực về giúp gia đình, để sinh con

đẻ cái Những phong tục tập quán của chế độ phong kiến vẫn còn ăn sâu bám rễ cho đến nay như quan niệm: “trời sinh voi, trời sinh cỏ” vẫn phổ biến hay tư tưởng “có nếp, có tẻ” đã đè nặng lên tâm lý của nhiều gia đình, đặc biệt là đè nặng lên người phụ nữ

Những giáo lý, tư tưởng của nho giáo đã ăn sâu, bén rễ vào tâm thức của người Việt Nam Tư tưởng nho giáo đề cao con trai, hạ thấp con gái

“Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” hình thành nên tâm lý ưa thích con trai và khát vọng có con trai để được công nhận là có hiếu, có người nối dõi tông đường và cũng là được thờ cúng khi về với tổ tiên Như vậy, có con trai không chỉ là nhu cầu cá nhân mà còn là ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm đạo đức đối với cha mẹ, tổ tiên, dòng họ Sợi dây tâm thức xã hội

vô hình nhưng có sức mạnh vô biên đã trói chặt cuộc đời của người Việt vào mục tiêu “phải có con trai” tạo thành một áp lực suốt đời không chỉ là của bản thân mà còn là của gia đình, nhất là người phụ nữ

Ở Việt Nam, tín ngưỡng tôn giáo chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tâm lý xã hội của cộng đồng, nó có khả năng chi phối hành vi, hoạt động và tình cảm của con người Tại một số vùng dân cư theo đạo Thiên chúa việc thực hiện công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình gặp không ít khó khăn, luân lý lên án phụ nữ phá thai, những cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, khuyến khích áp dụng các biện pháp tránh thai, mổ và triệt sản đều không có kết quả do quan niệm của những người Công giáo cho rằng đây là những biện pháp “bất bình thường” hay là “giết người” và không thể chấp nhận

Trang 20

Yếu tố chính trị:

Quá trình tái sản xuất dân số, trong đó có mức sinh, chẳng những chịu sự tác động của các yếu tố tự nhiên, kinh tế-xã hội mang tính chất khách quan, mà còn chịu sự tác động mạnh mẽ của chính sách dân số-một yếu tố mang tính chủ quan của con người Ở nhiều nước trên thế giới, chính sách dân số đã trở thành một công cụ quan trọng của Chính phủ để điều tiết quá trình tái sản xuất dân số, nhằm tạo ra một chính sách dân số hợp lý Đặc biệt, ở các nước đang phát triển, nơi mà trình độ kinh tế còn kém nhưng thường có quy mô dân số lớn, tốc độ phát triển nhanh, việc xây dựng và thực thi một chính sách dân số rõ ràng, phù hợp đã giúp nhiều nước thành công trong việc kiềm giữ tốc độ gia tăng dân số, từ đó góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Chính sách dân số được quan niệm theo nghĩa rộng hẹp khác nhau tùy theo từng mục tiêu cần đạt được trong từng giai đoạn nhất định ở mỗi nước Song dù quan niệm theo nghĩa nào thì khi nói đến chính sách dân số, người ta nhấn mạnh đến 3 đặc trưng mà chính sách dân số cần phải có đó là:

+ Phải do Chính phủ đưa ra dưới dạng tuyên bố, lập trường, quan điểm, đạo luật, sắc lệnh hoặc các chương trình quản lý Chính sách dân số cũng có thể được nghiên cứu và đưa ra cho những bộ phận dân cư lớn, nhỏ khác nhau, phù hợp với điều kiện cụ thể từng quốc gia chủ quyền, từng nhóm dân hoặc từng cộng đồng tôn giáo

+ Chính sách dân số bao giờ cùng bao trùm các sự kiện dân số nghĩa

là nó phải gắn liền với các vấn đề: Sinh, tử và di cư

+ Chính sách dân số phải có mục tiêu, nó phải làm thay đổi các sự kiện dân số hoặc các sự kiện dân số buộc nội dung chính sách dân số phải thay đổi

Trang 21

Có nhiều yếu tố liên quan đến chính sách dân số nhưng quan trọng nhất là: Sinh, tử và di cư vì tất cả sự biến đổi nhân khẩu chỉ bị ảnh hưởng thông qua 3 yếu tố đó Trong đó yếu tố sinh được quan tâm nhiều nhất đặc biệt là ở các nước đang duy trì mục tiêu giảm mạnh dân số

Ở Việt Nam với đặc điểm là quy mô dân số lớn, tốc độ gia tăng dân

số cao, chính sách dân số gắn với KHHGĐ nhằm mục tiêu giảm và ổn định mức sinh KHHGĐ bao gồm những thực hành giúp cho cá nhân hay những cặp vợ chồng đạt được những mục tiêu sau:

- Tránh được những lần sinh con không mong muốn

- Đạt được những lần sinh con theo ý muốn

- Điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh

- Kiểm soát được thời điểm sinh con trong mối quan hệ với độ tuổi của bố mẹ

- Định được số con trong gia đình

Để đảm bảo cho mọi các nhân đều được hưởng cơ hội phát triển đầy

đủ tiềm năng của mình, mọi thành viên trong gia đình và cộng đồng có quyền được hưởng một cuộc sống ấm no, các quốc gia đã xây dựng chính sách dân số để tác động đến con người về cả số lượng, chất lượng cuộc sống và các mối quan hệ của họ Với quan niệm như vậy, chính sách dân số

có một phạm vi rất rộng lớn, bao trùm cả phạm vi của chính sách kinh tế-xã hội Do đó, những chính sách và mục tiêu dân số là một bộ phận không tách rời của sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với mục đích cơ bản là nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Là một bộ phận hữu cơ của hệ thống chính sách kinh tế-xã hội, chính sách dân số có những nhiệm vụ sau:

Điều tiết sự phát triển dân số hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế xã hội thông qua việc điều tiết mức sinh đẻ của dân cư

Trang 22

Cùng với các bộ phận khác của hệ thống chính sách kinh tế-xã hội, chính sách dân số phải có nhiệm vụ góp phần quan tâm đầy đủ hơn đối với các bà mẹ, trẻ em và người già, tạo ra những điều kiện tối ưu cần thiết củng

cố gia đình, tác động hiệu quả nhằm nâng cao sức khỏe, giảm bệnh tật, giảm tỉ lệ tử vong, nâng cao tuổi thọ của dân cư

Phối hợp với nhiều chính sách và biện pháp khác, chính sách dân số còn có nhiệm vụ tác động tính cực, nâng cao không ngừng trình độ văn hóa, giáo dục, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp cho dân cư, góp phần thúc đẩy sự phát triển con người một cách toàn diện

1.1.2 Khái lược về công tác DS-KHHGĐ ở Việt Nam trước năm 2001

Từ năm 1961 đến trước năm 1975

Năm 1960, với dân số 30,2 triệu người, trong đó 16,1 triệu người ở miền Bắc và 14,1 triệu người ở miền Nam, Việt Nam cơ bản là nước nông nghiệp, 85% dân số ở nông thôn Tỷ lệ gia tăng dân số tại thời điểm này rất cao 3,8%/năm, hệ quả của mức sinh rất cao Tổng tỷ suất sinh hay số con trung bình của một phụ nữ vào đầu những năm 1960 khoảng 6,3 con Đây

là thời điểm toàn Đảng, toàn dân tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Kinh tế - xã hội của đất nước lạc hậu với trình độ học vấn thấp, tuổi thọ trung bình thấp, tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và tử vong mẹ cao Cuộc sống của nhân dân vô cùng khó khăn

Nhận thức được tác động của gia tăng dân số nhanh ảnh hưởng tới phát triển kinh tế-xã hội, ngày 26/12/1961 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 216-CP về việc sinh đẻ có hướng dẫn Quyết định này là mốc lịch sử quan trọng về công tác DS-KHHGĐ ở Việt Nam Theo đó, cuộc vận động Sinh đẻ có kế hoạch chính thức được phát động “vì sức khỏe của người mẹ,

vì hạnh phúc và hòa thuận của gia đình vì để cho việc nuôi dạy con cái

Trang 23

được chu đáo.” Trong thời gian này, DS-KHHGĐ chủ yếu chỉ triển khai thực hiện ở miền Bắc với tên gọi là cuộc vận động “Hướng dẫn sinh đẻ” và sau đó là “Sinh đẻ có kế hoạch” Mục tiêu của cuộc vận động hướng tới quy mô gia đình 3 con, đẻ thưa, đẻ muộn, bảo vệ sức khỏe bà mẹ, nuôi dạy con cái chu đáo, đảm bảo hạnh phúc và sự hòa thuận của gia đình Đối tượng của cuộc vận động chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã đông con, những người đẻ quá dày, sức khỏe kém, đời sống gặp nhiều khó khăn

và trước hết là nữ công nhân viên chức nhà nước, phụ nữ trong các lực lượng vũ trang và phụ nữ ở các vùng đồng bằng đông dân Phạm vi cuộc vận động tập trung chủ yếu ở thành thị, vùng nông thôn đồng bằng đông dân và giới hạn vào chỉ tiêu, số lượng người thực hiện biện pháp tránh thai

Các giải pháp cơ bản là cung cấp dịch vụ KHHGĐ (chủ yếu là vòng tránh thai), tuyên truyền vận động (hình thức chủ yếu là nói chuyện, đèn chiếu và tranh ảnh), và chế độ khuyến khích phụ nữ đặt vòng tránh thai Nhà nước cho phép các công ty, đơn vị, hợp tác xã sử dụng quỹ phúc lợi để khen thưởng các đối tượng sử dụng vòng tránh thai Tổ chức bộ máy là một Ban phối hợp; thời gian đầu Ban này do Bộ Y tế và từ năm 1970 do Ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em, là cơ quan thường trực đảm nhận các dịch vụ KHHGĐ Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Tổng công đoàn Việt Nam đảm nhận chức năng tuyên truyền vận động Năm 1975, do yêu cầu thay đổi về

tổ chức, Ủy ban bảo vệ bà mẹ trẻ em giải thể, công tác sinh đẻ có kế hoạch được bàn giao về Bộ Y tế

Kết quả đạt được của công tác dân số trong thời gian này chịu sự tác động của nhiều yếu tố: chính trị, kinh tế, xã hội Vào đầu những năm 1960,

tỷ lệ tăng dân số là 3,8 %, 15 năm sau (1975) mức tăng này đã giảm hơn một phần ba, xuống còn 2,4% Riêng ở miền Bắc tỷ lệ gia tăng dân số giảm

từ 3,4% năm 1960 xuống còn 2,5% năm 1971 [14, tr.29] Cuộc vận động

Trang 24

sinh đẻ kế hoạch được khởi xướng từ sớm nhưng chưa đạt được mục tiêu mong muốn, mức tăng dân số vẫn rất cao, năm 1975 dân số Việt Nam đạt 47,6 triệu người, trung bình mỗi năm tăng 1,16 triệu người Bài học thành công nhất mới dừng lại ở sự quyết tâm của Chính phủ muốn thực hiện sinh

đẻ kế hoạch làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế, xã hội nhưng bị gián đoạn bởi chiến tranh Công tác dân số chưa có sự quan tâm lãnh đạo sâu sát của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đến công tác sinh đẻ kế hoạch do chú trọng đến 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Chưa có bộ máy chuyên trách

và hệ thống tổ chức sinh đẻ kế hoạch đến cơ sở, nguồn lực đầu tư cho công tác còn hạn chế

Từ năm 1976 đến năm 1990

Sau ngày thống nhất đất nước, công tác DS-KHHGĐ được triển khai trên phạm vi cả nước trong bối cảnh khó khăn, tỷ lệ gia tăng dân số ở miền Nam rất cao 3,2% (theo kết quả điều tra dân số ở các tỉnh miền Nam ngày 5/2/1976) do hiện tượng dân số tăng bù sau chiến tranh, di cư Bắc-Nam và chính sách khuyến khích sinh của chế độ Việt Nam Cộng hòa ở những năm trước đó Sau đó, cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc

đã làm hạn chế cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch

Công tác DS-KHHGĐ được triển khai trong phạm vi cả nước, với mục tiêu xác định cụ thể tại Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) là “Đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, kiên quyết giảm dần tốc độ tăng dân số hàng năm, phấn đấu đến năm 1980 tỷ lệ gia tăng dân số là trên 2% một ít” [29, tr.72] Tại Đại hội V năm 1982 mục tiêu được xác định là:

“Giảm tốc độ tăng dân số bình quân của cả nước từ 2,4% hàng năm xuống 1,7% vào năm 1985”[30, tr.72] và được nhắc lại tại Đại hội VI (1986) là:

“Giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 2,2% hiện nay xuống 1,7% vào năm

Trang 25

1990”[31, tr.185] Năm 1978, Hội đồng Chính phủ đã thông qua Chỉ thị về việc đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch (Chỉ thị số 265/CP ngày

19 tháng 10 năm 1978) Ba chỉ tiêu của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch

là đẻ ít (2 đến 3 con), đẻ muộn (từ 22 tuổi trở lên) và đẻ thưa (cách nhau từ

3 đến 5 năm) và thông qua yêu cầu tăng số người sử dụng vòng tránh thai Đối tượng của cuộc vận động được mở rộng đến với toàn phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và cả nam giới có vợ trong tuổi sinh đẻ Phạm vi thực hiện mở rộng trong toàn quốc, khu vực thành thị, nông thôn và đồng bằng đông dân,

có nhấn mạnh đối với công nhân viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang Trong cuộc vận động, đối tượng được chú trọng quan tâm là các dân tộc thiểu số, đối với các đối tượng khác cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch

là nhằm hạ thấp mức sinh nhưng đối với dân tộc thiểu số vấn đề đặt ra là bảo vệ bà mẹ trẻ em

Các giải pháp thực hiện là cung cấp dịch vụ KHHGĐ (chủ yếu vẫn là vòng tránh thai), tuyên truyền vận động (đã được mở rộng ra các phương tiện thông tin đại chúng, hình thức vận động chủ đạo là tuyên truyền, vận động trực tiếp) và có chính sách khuyến khích mạnh hơn, rộng hơn đối với phụ nữ đình sản, đặt vòng tránh thai (kể cả sử dụng hình thức phạt và đóng góp) Công tác sinh đẻ kế hoạch do Bộ Y tế chịu trách nhiệm về mặt chuyên môn kỹ thuật, cung cấp dụng cụ, thuốc men, đào tạo, cung cấp cán

bộ chuyên môn cho địa phương, giao cho Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ em sơ sinh chỉ đạo công tác sinh đẻ có kế hoạch và bảo vệ bà mẹ trẻ em Năm

1984, thành lập Ủy ban Quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch nhưng người đứng đầu chỉ giữ vai trò kiêm nhiệm và cơ quan chuyên trách chỉ là một Ban thư ký thường trực bộ Y tế Ủy ban có nhiệm vụ giúp Hội đồng bộ trưởng chỉ đạo về công tác dân số và sinh đẻ có kế hoạch, chủ trì việc phối hợp giữa các cơ quan, các đoàn thể quần chúng tổ chức thực hiện công tác

Trang 26

dân số và sinh đẻ có kế hoạch trong cả nước Ngày 6/02/1985, Ủy ban dân

số và sinh đẻ có kế hoạch được đổi tên thành Ủy ban Quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình

Trong các năm 1976-1990, dân số Việt Nam tăng trung bình mỗi năm 1,13 triệu người từ 49,2 triệu năm 1976 lên 66 triệu năm 1990 Tỷ lệ gia tăng dân số tiếp tục giảm từ 2,5% xuống 1,9% trong thời gian tương ứng do những nỗ lực của chương trình DS-KHHGĐ Kết quả đạt được góp phần quan trọng qóp phần hạ thấp tỷ lệ tăng dân số, tuy nhiên không đạt chỉ tiêu theo quyết tâm và kỳ vọng đặt ra Tỷ lệ sinh giảm từ 33,2‰ năm

1975 xuống còn 31‰ năm 1989 Tổng tỷ suất sinh tính cho 1 người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 5,25 con năm 1975 xuống còn 3,95 con năm

1986 và 3,8 con năm 1989 Tỷ lệ chết gần như không giảm 7,5‰ năm 1975

và 7,3‰ năm 1989 [14, tr.47] Mục tiêu về giảm tỷ lệ dân số được đề ra tại các kỳ Đại hội Đảng lần thứ IV, V, VI đều không đạt được Cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch mặc dù đã có chỉ thị của Chính phủ cho các ngành, các cấp tham gia nhưng trên thực tế chỉ có ngành Y tế, phụ nữ và công đoàn trực tiếp thực hiện, các ngành khác hầu như đứng ngoài, nên cuộc vận động không đạt được kết quả như mong muốn Bên cạnh những kết quả đạt được, chương trình DS-KHHGĐ là chương trình có ý nghĩa lớn đối với chiến lược con người và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nhưng chưa được chỉ đạo đầu tư tương xứng Mặt khác, sự phát triển kinh tế-văn hóa sẽ tạo điều kiện cho nhân dân chấp nhận quy mô gia đình nhỏ nhưng trong giai đoạn này tình hình kinh tế-xã hội đất nước đang trong tình trạng khủng hoảng kéo dài Một số chính sách kinh tế-xã hội có tác động nghịch đến chương trình DS-KHHGĐ chậm được sửa đổi

Từ năm 1991 đến năm 2000

Trang 27

Công cuộc đổi mới đã đi vào cuộc sống với nhiều chính sách kinh

tế-xã hội được ban hành và phát huy tác dụng Tuy nhiên, tình hình kinh tế-tế-xã hội có rất nhiều khó khăn, đặc biệt tốc độ phát triển kinh tế chưa tương ứng với tốc độ phát triển dân số Tính đến năm 1991, dân số Việt Nam là 67,2 triệu người với số con trung bình của người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 3,8 con, tỷ lệ phát triển dân số hàng năm trên 2% Nếu cứ tiếp tục tốc độ gia tăng dân số hàng năm như vậy thì cứ khoảng 30 năm một lần dân số Việt Nam sẽ tăng lên gấp đôi Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) đã xác định

vị trí, vai trò và yêu cầu đối với công tác DS-KHHGĐ là: Giảm tốc độ gia tăng dân số là một quốc sách, phải trở thành cuộc vận động rộng lớn, mạnh

mẽ, sâu sắc trong toàn dân

Trước hạn chế trong tổ chức bộ máy thực hiện công tác KHHGĐ, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 193-HĐBT ngày 19/6/1991 thành lập Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ Tổ chức bộ máy này được xây dựng trên cơ sở mô hình đảm bảo huy động các lực lượng xã hội tham gia chương trình DS-KHHGĐ Ủy Ban là cơ quan độc lập trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng với sự tham gia rộng lớn của các bộ, ngành và các đoàn thể quần chúng, có một phó chủ tịch chuyên trách, được bố trí thành các ban chuyên môn

DS-Năm 1993, đứng trước “sự gia tăng dân số quá nhanh, một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế-xã hội, gây khó khăn lớn trong việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi” [3, tr.1], Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 về chính sách DS-KHHGĐ Nghị quyết

đã trình bày đường lối DS-KHHGĐ một cách toàn diện, xác định đúng vị trí và tầm quan trọng của công tác DS-KHHGĐ là “một bộ phận quan trọng

Trang 28

của chiến lược phát triển đất nước là một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội”[3, tr.1] Nghị quyết

đã đưa ra 5 quan điểm cơ bản về chính sách DS-KHHGĐ với mục tiêu tổng quát là “Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc” và mục tiêu cụ thể là “mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ

21 Tập trung nỗ lực nhằm tạo chuyển biến rõ rệt ngay trong thập kỷ 90 này.”[3, tr.2]

Để thể chế hóa về mặt Nhà nước đối với chính sách DS-KHHGĐ, ngày 3/6/1993, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 270 phê duyệt “Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000” Chiến lược nhấn mạnh “hạ tỷ lệ phát triển dân số đòi hỏi phải làm tốt công tác KHHGĐ, thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, văn minh và giàu có, là nền tảng trong chiến lược con người của Đảng, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho thế hệ chúng ta và thế hệ mai sau”[54, tr.2] Một hệ thống giải pháp đồng bộ được triển khai, trong đó lãnh đạo và tổ chức là giải pháp tiên quyết, thông tin-giáo dục-tuyên truyền, dịch vụ KHHGĐ và chính sách-chế

độ là giải pháp cơ bản, tài chính-hậu cần, đào tạo-nghiên cứu và quản lý là giải pháp điều kiện

Từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực, kinh nghiệm sau hơn

30 năm thực hiện công tác DS-KHHGĐ với nhiều mô hình khác nhau và kinh nghiệm của các địa phương làm công tác này, hệ thống DS-KHHGĐ được tiếp tục củng cố và hoàn thiện Ngày 21/6/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 42/CP thay thế Nghị định 193/HĐBT Nghị định mới quy định rõ về chức năng, quyền hạn tổ chức bộ máy và lề lối làm việc của

Trang 29

Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ Nội dung của Nghị định đã quán triệt đầy

đủ giải pháp về tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ của Nghị quyết Trung ương IV là “Kiện toàn Ủy ban Dân số và Kế hoạch hóa gia đình các cấp từ trung ương đến cơ sở Cơ quan thường trực của Ủy ban Dân số và Kế hoạch hóa gia đình được các cấp bố trí đủ cán bộ chuyên trách có năng lực, gắn chặt với các ngành, các cấp trong việc quản lý và điều phối việc thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình Hệ thống làm công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình phải được bố trí đến tận thôn, xóm, bản, làng, phố phường để đưa công tác truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình và việc cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến tận người dân.”[3, tr.3]

Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996, công tác DS-KHHGĐ tiếp tục được định hướng: kiện toàn hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ Phát triển mạng lưới dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến tận cơ

sở, nhất là nông thôn miền núi Hướng vào mục tiêu mỗi cặp vợ chồng chỉ

có 1 hoặc 2 con tỷ lệ tăng dân số dưới 1,8% vào năm 2000; tiến tới ổn định quy mô dân số trong nửa đầu thế kỷ sau

Cùng với việc kiện toàn bộ máy thực hiện công tác DS-KHHGĐ, công tác thông tin, truyền thông, giáo dục DS-KHHGĐ được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ trên các kênh truyền thông, mở rộng về phạm vi và đối tượng; được nâng cao một bước về chất lượng, có đổi mới về cách làm đã

có tác dụng nâng cao nhận thức và tạo được sự đồng thuận của toàn xã hội

về DS-KHHGĐ Chương trình quốc gia DS-KHHGĐ bắt đầu có ngân sách riêng từ năm 1993 Nhiều tỉnh, huyện, xã, kể cả những địa phương hạn hẹp

về ngân sách cũng đã bổ sung kinh phí cho công tác này Điều này chứng

tỏ Nhà nước đã quan tâm hơn đến chương trình DS-KHHGĐ và cố gắng đầu tư, không trông chờ vào sự viện trợ Mạng lưới cung cấp dịch vụ

Trang 30

SKSS/KHHGĐ được mở rộng về số lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ

từ trung ương tới cơ sở, đồng thời các mô hình cung cấp dịch vụ đến từng gia đình và người sử dụng được triển khai

Từ năm 1994, khẩu hiệu của chương trình DS-KHHGĐ là “dừng lại

ở hai con để nuôi dạy cho tốt” Ủy ban Quốc gia Dân số và kế hoạch hóa gia đình dành tiền thưởng cho các tỉnh nhằm khuyến khích việc giảm tỷ lệ sinh con thứ 3, khuyến khích vật chất đối với những người trong độ tuổi sinh đẻ đã có số con mong muốn nay tự nguyện đình sản Khoản tiền thưởng này cho phép những người đình sản bù đắp chi phí phát sinh do phải nghỉ lao động và hồi phục sức khỏe

Để đạt được mục tiêu đề ra trong công tác DS-KHHGĐ, tiếp theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa (VII) của Bộ Chính trị, Ban bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 6-3-1995 về tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chính sách DS-KHHGĐ

Công tác DS-KHHGĐ từ năm 1991 đến năm 2000 đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tổ chức chỉ đạo thực hiện các giải pháp và kết quả cụ thể về mặt giảm sinh Kết quả thực hiện các mục tiêu của chính sách DS-KHHGĐ vượt rất xa các mục tiêu đề ra Nếu tỷ lệ giảm sinh bình quân

ở những giai đoạn trước rất thấp và hầu như không giảm, thì từ khi thực hiện Nghị quyết số 04/NQ/HNTW, tỷ lệ sinh giảm rất nhanh, từ 30,04‰ năm 1992 xuống 19,17‰ năm 2000, bình quân mỗi năm giảm tới 1,35‰ Tổng tỷ suất sinh giảm nhanh từ 3,74 con (1/4/1992) xuống 2,28 con (1/7/2000) thấp hơn so với mục tiêu đề ra là 2,9 con vào năm 2000 Tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm nhanh từ 45,7% (1/4/1993) xuống còn 21,7% (1/4/2002) Tỷ lệ chết giảm từ 7,3‰ (1/4/1989) xuống còn 5,7‰ (1/4/1999) Quy mô dân số tăng từ 67,24 triệu người năm 1991 lên 77,64 triệu người năm 2000, thấp hơn 4,36 triệu người so với mục tiêu đề ra là

Trang 31

khoảng 82 triệu người năm 2000 [14, tr.101] Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh đã cơ bản được kiềm chế Kết quả của công tác DS-KHHGĐ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã hội, tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm, xóa đói, giảm nghèo và nâng cao mức sống của nhân dân Với những thành tựu của công tác DS-KHHGĐ, năm 1999, Việt Nam

đã được nhận giải thưởng Liên hợp quốc

Những thành tựu đã đạt được trong công tác DS-KHHGĐ rất đáng ghi nhận Nhưng không thể phủ nhận bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực tế tình hình DS-KHHGĐ còn tồn tại nhiều vấn đề cần được tiếp tục giải quyết: sự chênh lệch về mức sinh giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền, giảm sinh tuy nhanh nhưng chưa bền vững, chưa chú trọng đến chất lượng dân số khi sinh Những mặt thành công và những vấn đề tồn tại cần giải quyết trong công tác DS-KHHGĐ trước năm 2001 đặt ra yêu cầu đối với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong giai đoạn mới là kế thừa và phát huy những thành tựu, những giải pháp hữu hiệu đồng thời có những chủ trương chính sách cho những vấn đề còn tồn tại và định hướng nội dung, nhiệm vụ, giải pháp công tác DS-KHHGĐ phù hợp với giai đoạn mới

1.2 Chủ trương của Đảng về công tác DS-KHHGĐ giai đoạn 2001-2005

Sau 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2000), nền kinh tế Việt Nam có sự tăng trưởng với tốc độ cao nhất so với các giai đoạn trước, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng gấp đôi Sự tiến

(1991-bộ, công bằng xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Tỷ lệ các

hộ đói nghèo giảm đáng kể, từ 30% năm 1992 xuống còn 10% năm 2000 Tuổi thọ bình quân và trình độ dân trí được nâng cao Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao nhờ đường lối cải

Trang 32

cách, mở cửa đúng đắn của Đảng và Nhà Nước Những kết quả đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội là điều kiện thuận lợi thực hiện công tác DS-KHHGĐ

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo, GDP bình quân đầu người còn thấp Trình độ phát triển của Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với các nước trung bình trong khu vực và trên thế giới Nền kinh

tế đang đứng trước những thách thức gay gắt trong tiến trình phát triển và hội nhập như: chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp; nghèo đói, thất nghiệp, thiếu việc làm còn cao; còn có sự cách biệt lớn về phát triển kinh tế-xã hội và mức sống giữa thành thị-nông thôn và các vùng; môi trường bị ô nhiễm nặng nề Quy mô dân số lớn và còn tiếp tục gia tăng, chất lượng dân số chưa cao, phân bố dân cư chưa hợp lý vẫn đang là thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống Những vấn đề trên là cơ sở để xác định những ưu tiên cần tập trung giải quyết của vấn đề dân số nói chung và lĩnh vực DS-KHHGĐ nói riêng

Trong bối cảnh kinh tế-xã hội Việt Nam ở thập kỉ đầu của thế kỷ 21, khi mức sinh tiến gần mức thay thế, muốn duy trì được xu thế giảm sinh vững chắc, thì không thể chỉ tập trung giải quyết đơn thuần vấn đề quy mô dân số như ở giai đoạn trước, mà cùng với giảm sinh phải giải quyết đồng

bộ, từng bước, có trọng điểm các vấn đề về chất lượng, cơ cấu dân số…

Bước sang giai đoạn 2001-2005, quan điểm chỉ đạo đối với công tác DS-KHHGĐ trên thực tế vẫn là những quan điểm được xác định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII

về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình Nghị quyết chỉ rõ: "sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân cản trở tốc độ phát triển kinh tế-xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hóa, thể lực của giống nòi Nếu xu

Trang 33

hướng này tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những nguy cơ về nhiều mặt"[3, tr.1] Trung ương Đảng đã nêu 5 quan điểm và các mục tiêu tổng quát cũng như mục tiêu cụ thể cho lĩnh vực DS-KHHGĐ Đánh giá cao vai trò của công tác DS-KHHGĐ, quan điểm thứ nhất Nghị quyết TW 4 coi "Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn

xã hội"[3, tr.2] Tiếp đó, Nghị quyết TW 4 đã chỉ ra phương hướng giải quyết cho công tác này (quan điểm 2), các nguồn kinh phí (quan điểm 3),

và lực lượng tham gia công tác DS-KHHGĐ (quan điểm 4) Cuối cùng, quan trọng nhất đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp (quan điểm 5) Nghị quyết cũng đề ta những mục tiêu cho công tác DS-KHHGĐ mà cốt lõi là năm 2015 phải đạt được mức sinh thay thế Tuy nhiên, những giải pháp đưa ra cho công tác DS-KHHGĐ chỉ định hướng đến năm 2000 Vì vậy, thực tế đặt ra yêu cầu cần có những giải pháp mới cho giai đoạn mới

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX xác định: “Chính sách dân số nhằm chủ yếu kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số phù hợp với những yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản-kế hoạch hóa gia đình; giải quyết tốt mối quan

hệ giữa phân bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực” [34, tr.107]

Trong định hướng phát triển các lĩnh vực xã hội trong 5 năm

2001-2005 tại Đại hội Đảng IX, lĩnh vực dân số được xác định cụ thể hơn với những mục tiêu được định lượng: “Giảm mức sinh bình quân hàng năm 0,5‰; tốc độ tăng dân số vào năm 2005 vào khoảng 1,2%, quy mô dân số

Trang 34

đến năm 2005 khoảng 83 triệu người trong đó ở nông thôn khoảng 60 triệu,

ở thành thị khoảng 23 triệu; phân bố dân cư hợp lý giữa các vùng; từng bước nâng cao chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân cư, hạn chế việc mở rộng chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân

cư và các nhóm xã hội khác nhau, đưa các yếu tố tích cực của dân số vào

kế hoạch phát triển” [34, tr.299-300]

Trước thực tế quy mô dân số cao, mức sinh càng tăng, nhu cầu chăm sóc sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng chưa thực sự được đáp ứng, cùng với nỗ lực giảm sinh, Đảng quan tâm đến công tác chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng dân số Bộ Chính trị (khóa IX) đã có Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23-02-2005 về "Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”

Nghị quyết đưa ra mục tiêu chăm sóc sức khỏe trong nhân dân nhằm:

“Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”[8, tr.3]

Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết đưa ra những nhiệm vụ, giải pháp: Phát triển và hoàn thiện hệ thống chăm sóc sức khoẻ nhân dân; Đổi mới chính sách tài chính y tế; Phát triển nguồn nhân lực; Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền; Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; Đẩy mạnh xã hội hoá; Nâng cao hiệu quả thông tin-giáo dục-truyền thông

Những chính sách về công tác DS-KHHGĐ vẫn tiếp tục được thực hiện trong những năm 2001-2004 nhưng kết quả thực hiện lại chững lại và

có chiều hướng giảm sút Nhất là từ sau khi Nghị định số 49/2002/NĐ-CP

Trang 35

ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân số, Gia đình và trẻ em và Pháp lệnh dân

số ban hành năm 2003, tỷ lệ phát triển dân số, tỷ lệ sinh con thứ ba tăng mạnh trở lại Điều 10 của Pháp lệnh Dân số năm 2003 quy định về quyền

và nghĩa vụ của mỗi cặp vợi chồng, cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình thiếu chặt chẽ ở chỗ mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền:

"Quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập" Điều này, gây hiểu lầm nhà nước không hạn chế số con trong sinh đẻ nữa dẫn đến hệ quả tình trạng sinh con thứ ba tăng cán bộ, đảng viên sinh con thứ ba trở lên tăng nhiều ở hầu hết các địa phương gây tiêu cực đến phong trào toàn dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình, tạo nên rào cản rất khó khắc phục đối với công tác tuyên truyền vận động Tình hình này làm chậm thời gian đạt mức sinh thay thế

Nguyên nhân chủ yếu của tình hình này là do Đảng, Nhà nước chưa nhận thức đầy đủ tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác DS-KHHGĐ trong bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước ta, dẫn đến chủ quan, thỏa mãn với những hiệu quả ban đầu, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiên định trong tổ chức thực hiện chính sách DS-KHHGĐ Tổ chức bộ máy và cán bộ công tác DS-KHHGĐ thiếu ổn định, quá tải; cơ chế quản lý kém hiệu quả; tổ chức, điều hành chương trình lúng túng, chậm đổi mới; việc ban hành Pháp lệnh dân số thiếu chặt chẽ

Trong hoàn cảnh kinh tế-xã hội đất nước chưa phát triển, tình trạng nghèo đói còn nhiều, tài nguyên thiên nhiên còn hạn hẹp, quy mô dân số lúc này khá lớn với hơn 82 triệu người, mật độ dân số vào hàng cao nhất thế giới, chất lượng dân số chưa được cải thiện đáng kể… thì việc dân số tăng nhanh trở lại sẽ phá vỡ những thành quả đã đạt được, cản trở sự phát

Trang 36

triển kinh tế-xã hội và việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, làm chậm quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đặt nước ta trước nguy cơ tụt hậu xa hơn

Sự gia tăng mức sinh trở lại đặt ra yêu cầu đối với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng cần chủ trương, giải pháp nhằm giải quyết vấn đề đang tồn tại và định hướng cho công tác DS-KHHGĐ Ngày 22 tháng 3 năm 2005,

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 47-NQ/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình”

Nghị quyết số 47-NQ/TW khẳng định "Tiếp tục quán triệt và kiên quyết thực hiện các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính sách DS-KHHGĐ; phấn đấu sớm đạt được mục tiêu về ổn định quy mô dân số, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dân số Việt Nam

Toàn Đảng, toàn dân kiên trì thực hiện chủ trương mỗi cặp vợ chồng chỉ có một đến hai con để có điều kiện nuôi dạy tốt

Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu thực hiện chính sách dân

số và kế hoạch hóa gia đình."

Nghị quyết đưa ra mục tiêu:

“1- Nhanh chóng đạt mức sinh thay thế (trung bình mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có hai con), tiến tới ổn định quy mô dân số nước ta ở mức 115-120 triệu người vào giữa thế kỷ XXI

2- Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể chất, trí tuệ, tinh thần cơ cấu nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”[9, tr.2]

Các giải pháp và nhiệm vụ chủ yếu được Nghị quyết số 47-NQ/TW

đề cập đó là:

“1- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền

Trang 37

Các cấp ủy đảng và chính quyền phải nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình của địa phương, đơn vị; có kế hoạch và biện pháp khắc phục những yếu kém, bất cập, kiên quyết ngăn chặn khuynh hướng sinh nhiều con

Đưa công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình thành một nội dung quan trọng trong chương trình hoạt động của các cấp ủy đảng và chính quyền, xem đây là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, đơn vị Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của địa phương, đơn vị, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thường xuyên giám sát, kiểm tra tình hình thực hiện công tác này theo mục tiêu đã để ra

Huy động toàn xã hội tham gia công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình Nâng cao trách nhiệm và tăng cường sự phối hợp của cáccấp, các ngành, đoàn thể nhân dân, đồng thời huy động các tổ chức xã hội và các thành phần kinh tế tích cực tham gia công tác này Tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho mỗi gia đình, mỗi người dân tự nguyện thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình

Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu thực hiện, đồng thời tuyên truyền, vận động gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, coi đó là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ, xem xét đề bạt, đề cử cán bộ vào các chức vụ lãnh đạo của các cơ quan đảng, cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội

Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách dân số và

kế hoạch hóa gia đình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 và Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 06-3-1995 của Ban bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) 2- Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giáo dục

Trang 38

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm làm chuyển biến sâu sắc về nhận thức, tâm lí, tập quán sinh đẻ trong toàn xã hội Vận động toàn xã hội chấp nhận và thực hiện mỗi cặp vợ chồng chỉ có một đến hai con, coi việc dừng ở hai con là nghĩa vụ của mọi người dân để góp phần giảm bớt gánh nặng về dân số của đất nước Việc tuyên truyền, vận động phải sâu sát, cụ thể, phù hợp với từng đối tượng Chú ý vận động những gia đình đã có hai con để họ không sinh con thứ ba

Mở rộng và nâng cao chất lượng chương trình giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình trong và ngoài nhà trường cho vị thành niên và thanh niên Vận động, thuyết phục những người cao tuổi nhắc nhở con, cháu thực hiện chính sách sinh đẻ có kế hoạch

Phối hợp các cơ quan truyền thông và sử dụng đa dạng các loại hình tuyên truyền để vận động, giáo dục đến từng gia đình, người dân

Xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng địa phương, đơn vị và cộng đồng dân cư Khen thưởng những gia đình có nhiều thế hệ chấp hành nghiêm túc quy định của Nhà nước về dân số và kế hoạch hóa gia đình

3- Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ và nâng cao hiệu lực quản lý

Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác dân số, gia đình và trẻ em từ Trung ương đến cơ sở đủ mạnh để quản lý và tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động và đưa dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến tận người dân Đặc biệt quan tâm củng cố, ổn định, nâng cao năng lực và nhiệt tình cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân số, gia đình và trẻ em ở các xã, phường, thị trấn và đội ngũ cộng tác viên dân số, gia đình và trẻ em ở các thôn, xóm, bản, làng Có chính sách khuyến khích thỏa đáng về tinh thần và vật chất đối với đội ngũ này Thực

Trang 39

hiện chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đối với cán bộ dân số, gia đình và trẻ em xã, phường, thị trấn

Thực hiện quản lý, điều hành công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình theo chương trình mục tiêu quốc gia, tiếp tục áp dụng cơ chế phân cấp

và phối hợp liên ngành đã khẳng định được hiệu quả cao trong thời gian qua, đồng thời nghiên cứu và áp dụng các cơ chế mới phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện Thực hiện việc đăng ký dân số, xử lý và cung cấp thông tin, dữ liệu về dân số đầy đủ, chính xác, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành chương trình, đồng thời phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch, hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội

4- Chính sách và đầu tư nguồn lực

Sớm sửa đổi Pháp lệnh dân số và các chính sách, quy định hiện hành không phù hợp với cuộc vận động thực hiện mục tiêu bình quân mỗi cặp vợ chồng có hai con Nghiên cứu, ban hành và bổ sung các chính sách khuyến khích về vật chất và tinh thần đối với các cộng đồng, gia đình, cá nhân làm tốt công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình; tạo môi trường tâm lý, xã hội tích cực thúc đẩy phong trào thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình

Hướng dẫn và khuyến khích cộng đồng làng, bản, thôn, ấp xây dựng các hương ước, quy ước nhằm tạo phong trào toàn xã hội thực hiện các mục tiêu của chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình

Tăng mức đầu tư từ ngân sách Nhà nước, tích cực tranh thủ các nguồn viện trợ và huy động sự đóng góp của nhân dân, bảo đảm đủ kinh phí thực hiện công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình Thực hiện phân bổ công khai và sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí

Trang 40

Ưu tiên đầu tư cho các vùng đông dân có mức sinh cao, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và các đối tượng là người nghèo, vị thành niên, thanh niên

5- Mở rộng và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình

Hoàn thiện hệ thống dịch vụ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và thực hiện KHHGĐ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người sử dụng về các biện pháp tránh thai Chú trọng đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và nâng cao trình độ cán bộ y tế, tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, khuyến khích các tổ chức xã hội và tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ này Đẩy mạnh tiếp thị xã hội và bán rộng rãi các phương tiện tránh thai

Tập trung triển khai các loại hình cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản,

kế hoạch hóa gia đình phù hợp đối với từng vùng Tăng cường các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình đối với vùng nông thôn, vùng đông dân có mức sinh cao, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn Chú ý đúng mức đến việc đáp ứng nhu cầu dịch vụ đối với vị thành niên, thanh niên Lồng ghép hoạt động cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình với phòng, chống HIV/AIDS

6- Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, thanh thiếu niên và người cao tuổi Nâng cao năng lực, hướng dẫn tổ chức, phát động các phong trào rèn luyện thân thể, bảo

vệ sức khỏe, giữ gìn vệ sinh và cải thiện môi trường sống tại cộng đồng Triển khai các hoạt động kiểm tra sức khỏe di truyền, tư vấn tiền hôn nhân, đẩy mạnh phòng, chống HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội; giảm tỉ lệ trẻ em sinh ra bị dị tật bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ, giảm nhanh tỉ lệ trẻ em

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w