nổ ra, nhưng với dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, Việt Nam đã phải tiến hành kháng chiến trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn do thù trong giặc ngoài, do nạn đói, sự lạc hậu… Trong khi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ QUANG HOA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA (1945-1954)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ QUANG HOA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA (1945-1954)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH LÊ
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
PGS.TS Nguyễn Đình Lê GS.TS Nguyễn Văn Khánh
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Tên đề tài luận án không trùng với bất cứ nghiên cứu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, khách quan, rõ ràng về xuất xứ Những kết quả nêu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trần Thị Quang Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bản luận án này đã được hoàn thành với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn
bè đồng nghiệp, gia đình và người thân
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Nguyễn Đình Lê - người hướng dẫn khoa học chính cho luận án của mình Trong quá trình thực hiện luận án tôi đã được Thầy chỉ bảo, hướng dẫn từ ý tưởng, phương pháp và cách tiếp cận rất tận tình và đầy trách nhiệm
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS Lê Mậu Hãn - người đã cho tôi ý tưởng, động viên khích lệ để tôi có thể hoàn thành luận án của mình
Xin cảm ơn thầy cô giáo và đồng nghiệp tại Khoa Lịch sử, đặc biệt là bộ môn Lịch sử Việt Nam cận hiện đại, nơi tôi gắn bó từ khi còn là sinh viên rồi cao học và nghiên cứu sinh đã chỉ bảo, góp ý cũng như quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn thầy cô giáo, đồng nghiệp tại khoa Khoa học Chính trị đã luôn chia sẻ, động viên, giúp đỡ ủng hộ và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận án của mình
Tôi cũng muốn dành cơ hội này để gửi lời cảm ơn tới cán bộ, nhân viên công tác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng là những nơi lưu trữ tài liệu gốc quan trọng cho luận án; Thư viện Đại học Quốc gia, Thư viện Quốc gia Việt Nam, đặc biệt là thư viện khoa Lịch sử đã nhiệt tình cung cấp tư liệu cho tôi
Cuối cùng, xin dành lời cảm ơn từ trái tim tới gia đình, bè bạn, đặc biệt là bố
mẹ, chồng và hai con vì đã luôn động viên cả về tinh thần và vật chất làm động lực cho tôi hoàn thành công việc của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
Trần Thị Quang Hoa
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận án 8
6 Bố cục của luận án 9
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Khái niệm về hệ thống chính trị 10
1.1.1 Khái niệm về chính trị 10
1.1.2 Khái niệm về hệ thống chính trị 10
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, luận án 11
1.2.1 Các công trình viết về hệ thống chính trị Việt Nam của các tác giả
trong nước 11
1.2.2 Các công trình viết về hệ thống chính trị Việt Nam của các tác giả
nước ngoài 17
1.2.3 Kết quả nghiên cứu và những vấn đề cần giải quyết 21
Chương 2 XÁC LẬP VÀ VẬN HÀNH CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA 1945-1946 23
2.1 Sự ra đời của các thành tố thuộc hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa trước Cách mạng Tháng Tám (1945) 23
2.1.1 Đảng cộng sản Việt Nam 23
2.1.2 Mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể xã hội 27
2.1.3 Sự tìm tòi một mô hình Nhà nước thích hợp 35
2.2 Xây dựng hệ thống chính trị trong những năm đầu giành chính quyền 42
2.2.1 Bối cảnh lịch sử 42
2.2.2 Bước đầu xây dựng hệ thống chính trị 45
2.2.3 Hoạt động của hệ thống chính trị (1945-1946) 72
Tiểu kết chương 2 77
Trang 6CHƯƠNG 3 KIỆN TOÀN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA TRONG THỜI KỲ 1947-1954 79
3.1 Bối cảnh lịch sử 79
3.2 Hệ thống chính trị trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1947-1950) 83
3.2.1 Kiện toàn hệ thống chính trị 83
3.2.2 Hoạt động của hệ thống chính trị trong những năm 1947-1950 94
3.3 Hệ thống chính trị những năm cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1951-1954) 98
3.3.1 Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh 98
3.3.2 Đẩy mạnh hoạt động của hệ thống chính trị phục vụ kháng chiến,
kiến quốc 110
3.4 Cấu trúc của hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 112
Tiểu kết chương 3 128
CHƯƠNG 4 MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 130
4.1 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1954) 130
4.1.1 Tính nhất nguyên và chỉ do Đảng cộng sản lãnh đạo 130
4.1.2 Các thành tố của hệ thống chính trị do Đảng cộng sản lập ra 131
4.1.3 Hệ thống chính trị mang tính nhân dân sâu sắc 132
4.1.4 Hệ thống chính trị được tổ chức rộng khắp, chặt chẽ 134
4.1.5 Các thành tố trong hệ thống chính trị có địa vị pháp lý vững chắc 135
4.1.6 Tự hoàn thiện mình để đáp ứng nhu cầu th28ực tiễn đặt ra 136
4.2 Một số kinh nghiệm được rút ra 137
4.2.1 Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội 137
4.2.2 Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng 139
4.2.3 Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các thành tố trong hệ thống
chính trị 141
4.2.4 Phát huy dân chủ trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị 143
KẾT LUẬN 145
DANH MỤC CÁC CÔNG TR���HOA ���KA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150 PHỤ LỤC
Trang 8nổ ra, nhưng với dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, Việt Nam đã phải tiến hành kháng chiến trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn do thù trong giặc ngoài, do nạn đói, sự lạc hậu… Trong khi đó, một Đảng mới 15 tuổi đời vừa mới giành được chính quyền, một Nhà nước non trẻ chưa hề có trong tay bất kỳ một kinh nghiệm quản lý đất nước và một Mặt trận đang trên đà phát triển trong một tình thế xã hội đầy rẫy mâu thuẫn và phân tách sâu sắc dưới tác động của nhiều phe phái chính trị
là một bức tranh tổng thể cho hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công Hơn bao giờ hết, sự ổn định và vững mạnh của hệ thống chính trị là đòi hỏi sống còn cho việc đảm bảo giữ vững nền độc lập dân tộc mới giành được
Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” và trước yêu cầu của thực tiễn, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản mà đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, một hệ thống chính trị mới đã được kiến lập đủ sức lãnh đạo cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi vẻ vang Sự ra đời và hoàn thiện của hệ thống chính trị này gắn liền với quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến và nó được điều chỉnh hết sức linh hoạt để đáp ứng những yêu cầu thực tiễn đặt ra Chính những yếu tố này đã làm cho hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1945-1954 trở thành nhân tố quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Quá trình hoàn thiện của hệ thông chính trị Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã để lại những kinh nghiệm lịch sử hết
Trang 9sức quý báu Vì vậy, việc nghiên cứu về hệ thống chính trị giai đoạn 1945-1954 trong điều kiện đất nước đang xây dựng, củng cố hệ thống chính trị hiện nay có ý nghĩa khoa học thực tiễn sâu sắc
Với những lý do trên, tôi đã chọn: “Hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nêu bối cảnh lịch sử của việc hình thành và xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1954)
Nêu rõ cơ cấu của hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ 1945-1954
Trình bày quá trình hoàn thiện và vận hành của các yếu tố trong hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ 1945-1954
Trình bày quá trình hoạt động tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1954)
Nêu lên vai trò, đóng góp của hệ thống chính trị thời kỳ 1945-1954 với cuộc kháng chiến chống Pháp, vai trò của nó trong lịch sử hệ thống chính trị Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa giai đoạn 1945-1954
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nội dung luận án đề cập đến hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1954), tập trung làm rõ các vấn đề sau:
- Sự ra đời của các thành tố trong hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa;
Trang 10- Quá trình hoàn thiện và vận hành của hệ thống chính trị trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp;
- Vai trò của hệ thống chính trị đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
Về thời gian: Khung niên đại nghiên cứu của đề tài luận án là từ năm 1945 đến năm 1954 Mốc bắt đầu được lựa chọn là ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã chính thức đánh dấu sự ra đời của một hệ thống chính trị hoàn chỉnh có đầy đủ các thành
tố Mốc cuối là năm 1954 khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta giành thắng lợi
Về mốc lịch sử phân kỳ của hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1954), tác giả luận án chia ra thành các mốc như sau:
Từ 1945-1946: Hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được xây dựng và hoạt động trong năm đầu tiên
Từ 1947-1950: Hệ thống chính trị tiếp tục được hoàn thiện và giải quyết các vấn đề do lịch sử đề ra
Từ 1951-1954: Hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục có những biến đổi và hoàn thiện, đóng vai trò to lớn trong thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
Về không gian nghiên cứu: luận án chủ yếu đề cập đến hệ thống chính trị ở vùng tự do và chỉ trình bày hệ thống chính trị ở cấp trung ương, hệ thống cấp cơ sở
sẽ chỉ đề cập phần nào
4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
Nguồn sử liệu: Nguồn sử liệu bao gồm: các tư liệu liên quan đến Đảng cộng
sản, Chính phủ và các tổ chức chính trị xã hội nằm trong hệ thống chính trị Việt Nam, tham gia vào quá trình giành và giữ chính quyền trước và sau 1945; một số báo chính trị…
Tại Việt Nam hiện nay, phần lớn các tư liệu gốc liên quan đến đề tài luận án chủ yếu tập trung ở các Phông Phủ Thủ tướng và Việt Nam dân quốc công báo từ năm 1945 đến năm 1955 thuộc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng là nơi lưu nhiều tài liệu về Đảng Cộng sản Việt Nam và các lãnh tụ Đây được coi là nguồn tư liệu gốc liên quan trực tiếp đến đề tài về hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và có thể khái quát như sau:
Trang 11- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, thông tư, thông cáo của Đảng liên quan đến vấn đề xây dựng Đảng nói riêng và sự lãnh đạo của Đảng trong vấn đề xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ này
- Các chỉ thị, tuyên cáo, thông điệp, thông tư của Chính phủ, Mặt trận, của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến việc thành lập, hoàn thiện các thành tố trong
hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Các biên bản cuộc họp của Hội đồng Chính phủ trong thời kỳ 1945-1954 liên quan đến vấn đề tổ chức và kiện toàn các thành tố trong hệ thống chính trị, đặc biệt là về Chính phủ
- Các sắc lệnh của Chính phủ liên quan đến vấn đề tổ chức và kiện toàn các
cơ quan trung ương và địa phương
- Các bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến vấn đề xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và Mặt trận
Các tài liệu khác cũng đóng vai trò quan trọng bao gồm:
Bộ Văn kiện Đảng toàn tập (54 tập) là một tài liệu có giá trị to lớn đối với luận án vì đây là cả một kho tàng về lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong phạm vi giới hạn thời gian nghiên cứu của đề tài luận án, tác giả tập trung nghiên cứu từ tập 1 đến tập 15 của bộ Văn kiện Đảng toàn tập do NXB Chính trị Quốc gia xuất bản trong những năm 1999-2002 Bên cạnh đó,
bộ Hồ Chí Minh toàn tập và một số trước tác khác của các nhà lãnh đạo Đảng như
Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp v.v cũng được coi là nguồn tư liệu hết sức quan trọng
Cùng với đó, do nhu cầu thường xuyên hoàn thiện, đổi mới hệ thống chính trị trên cơ sở đánh giá, tổng kết quá trình hình thành và phát triển, các cơ quan trung ương đã lần lượt cho ra đời hàng loạt các ấn phẩm, trong đó phải kể đến bộ Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam, Lịch sử Quốc hội Việt Nam, Lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam Đây thực sự là nguồn tư liệu có giá trị giúp tác giả luận án có thể đưa ra cái nhìn tổng thể về quá trình ra đời và phát triển của hệ thống chính trị Việt Nam cũng như mối quan hệ và sự vận động giữa các thành tố trong hệ thống
Trang 12Ngoài ra, luận án còn chọn lọc một số ghi chép của các nhân vật từng có quá trình hoạt động trong hệ thống chính trị thời kỳ này, như Hồi ký của Trần Huy Liệu
- người từng tham gia trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hay Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến
Tác giả luận án còn tiếp cận khối lượng sách, tạp chí, tư liệu sách báo, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, đặc biệt là báo chí cách mạng như Công báo, Cứu quốc, Sự thật… đã giúp nghiên cứu sinh hình dung toàn diện hơn về các vấn đề xây dựng hệ thống chính trị cũng như những chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận đối với cuộc kháng chiến chống Pháp
Phương pháp nghiên cứu:
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, kết hợp phương pháp logic Sự kết hợp của hai phương pháp này sẽ giúp tác giả luận án tái hiện điều kiện, quá trình hình thành các thành tố trong
hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện đại trước Cách mạng Tháng Tám, sự hoàn thiện
và vận hành của nó sau Cách mạng Tháng Tám
Tác giả luận án cũng sử dụng các phương pháp chuyên biệt: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và hệ thống hóa, và phương pháp liên ngành: chính trị học - lịch sử, xã hội học - chính trị…để chỉ rõ bản chất mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như vai trò tương hỗ của chúng đối với nhau và đối với cuộc kháng chiến chống Pháp
5 Đóng góp của luận án
Luận án trình bày một cách toàn diện về hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ 1945-1954 trong bối cảnh các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam từ năm 1945-1954 để xem xét quá trình hình thành, củng
cố và vận hành của hệ thống này
Luận án làm rõ quá trình hoàn thiện, tác động qua lại của từng thành tố trong
hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ 1945-1954, trong đó làm rõ vai trò nổi bật của Đảng cộng sản đối với các thành tố còn lại
Trên cơ sở phân tích về vai trò, vị trí, cơ cấu, đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam, luận án sẽ rút ra một số kinh nghiệm tham khảo cho quá trình đổi mới về
hệ thống chính trị hiện nay
Trang 13Chương 3: Kiện toàn và hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời kỳ 1947-1954
Chương 4: Một vài nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Khái niệm về hệ thống chính trị
1.1.1 Khái niệm về chính trị
Hệ thống chính trị vốn là một khái niệm được dùng trong rất nhiều ngành khoa học như khoa học chính trị, khoa học quản lý, triết học, xã hội học, sử học… nghiên cứu về tổ chức và thực thi quyền lực chính trị của xã hội loài người
Chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng bao gồm hệ tư tưởng chính trị, nhà nước, đảng phái Chính trị xuất hiện khi xã hội phân chia giai cấp dựa trên cơ sở hạ
tầng kinh tế nhất định Và như vậy, chính trị là tổng hợp những mối quan hệ chính
trị, ý thức chính trị, hệ tư tưởng chính trị, các thiết chế chính trị, tổ chức chính trị
và con người chính trị
1.1.2 Khái niệm về hệ thống chính trị
Nói đến hệ thống là nói đến một tổng thể được cấu thành từ nhiều yếu tố có
sự liên hệ được thống nhất và hợp lại thành thứ lớp chặt chẽ như hệ thống chính sách, hệ thống quân đội, hệ thống tổ chức, hệ thống quan chức… Hệ thống chính trị gắn liền với đời sống chính trị của quốc gia, khu vực và rộng lớn hơn là của quốc
tế Trong nghiên cứu này, khái niệm về hệ thống chính trị chỉ được sử dụng với hàm nghĩa là hệ thống chính trị trong phạm vi quốc gia
Ở Việt Nam, thuật ngữ “hệ thống chính trị” được chính thức nêu ra trong văn kiện, tài liệu của Đảng tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (3-1989), được sử dụng chính thức trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) Trước đấy, các thuật ngữ “chuyên chính vô sản”, “hệ thống chuyên chính vô sản” được sử dụng để chỉ hệ thống và cơ cấu của các cơ quan quyền lực lãnh đạo và quản lý xã hội Khái niệm hệ thống chính trị cũng chỉ được đưa ra đầy
đủ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
tại Đại hội VII Một trong những khái niệm mang tính chính thống của Đảng cộng
sản Việt Nam được đồng chí Nguyễn Phú Trọng nêu trong bài Đổi mới tư duy lý
luận vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội như sau: “Hệ thống chính trị ở nước ta
bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, trong
đó Đảng giữ vai trò lãnh đạo, Nhà nước đóng vai trò quản lý, Mặt trận Tổ quốc và
Trang 15các đoàn thể chính trị - xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân” [188, tr.2]
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa hết sức ngắn gọn: “hệ thống chính trị là tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực chính trị được xã hội chính thức thừa nhận” [194, tr.254]
Trên cơ sở tổng hợp một số quan niệm về hệ thống chính trị, có thể định
nghĩa hệ thống chính trị như sau: Hệ thống chính trị là tổng thể những tổ chức gồm
nhà nước, các đảng phái, các tổ chức chính trị - xã hội tham gia vào quá trình hình thành chính sách nhà nước, thực thi các quyền lực chính trị nhằm duy trì và phát triển chế độ xã hội
Định nghĩa này được nghiên cứu sinh sử dụng làm công cụ để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu của luận án này Nó có thể không phù hợp với những nghiên cứu khác nhưng là cơ sở để xem xét sự tồn tại, vận động và biến đổi của hệ thống chính trị diễn ra trong thực tiễn của cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954
Với định nghĩa trên thì khi nghiên cứu hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ 1945-1954, tác giả tập trung xem xét các nhân tố: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước (gồm Quốc hội và Chính phủ), Mặt trận Tổ quốc
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, luận án
1.2.1 Các công trình viết về hệ thống chính trị Việt Nam của các tác giả trong nước
1.2.1.1 Các công trình viết về hệ thống chính trị Việt Nam của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Trong quá trình hình thành hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trước hết phải đề cập đến vị trí, vai trò của Hồ Chí Minh Là linh hồn của cuộc cách mạng giành và giữ độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh không chỉ là nhà hoạt động thực tiễn mà còn là nhà tư tưởng có rất nhiều bài viết đề cập đến vấn đề xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị của nước Việt Nam mới Các bài viết của Người tập trung về vấn đề hoàn thiện Đảng, bộ máy Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội trước và sau Cách mạng Tháng Tám, đặc biệt là thời gian ngay sau khi Cách
mạng Tháng Tám thành công Có thể kể đến các bài viết: Cách tổ chức Ủy ban
nhân dân[126, tr.13]; Chính phủ là công bộc của dân[126, tr.22]; Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng[126, tr.56]; Ý nghĩa của Tổng tuyển cử[126, tr.133]; Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ[127,tr.71-75], Thư gửi các đồng chí Trung
Trang 16Bộ[127, tr.76-79]…Các bài viết của Người giúp chúng ta hình dung khá rõ hành
trình công phu xây dựng và hoàn thiện Đảng, Chính phủ, các tổ chức chính trị xã hội từ những ngày đầu Cách mạng
Nhiều nhà lãnh đạo Đàng và Nhà nước cũng đồng thời là những tác giả - những nhà lý luận cách mạng như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp … Đây vừa là các nhà hoạt động chính trị, trực tiếp tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đồng thời cũng vừa là các nhà lý luận để lại nhiều tác phẩm liên quan đến vấn đề xây dựng và củng cố hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa Đồng chí Trường Chinh với các tác phẩm Cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở Việt Nam[18];Cách mạng tháng Mười và cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cho độc lập dân tộc; Kháng chiến nhất định thắng lợi [19]… ; đồng chí Lê
Duẩn với các tác phẩm Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam(1967); Dưới lá cờ
vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới[29]…; đồng chí Võ Nguyên Giáp với Những năm tháng không thể nảo quên [68], Khu giải phóng; Cứu quốc; Đội quân giải phóng; Điện Biên Phủ[66]; Những chặng đường lịch sử[67]; Chiến đấu trong vòng vây[65]; Chiến tranh bảo vệ dân tộc
và Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc(1979)…
Các tác phẩm trên cũng soi tỏ quan điểm của các nhà lý luận cách mạng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, dân chủ, vấn đề chính quyền của cách mạng Việt Nam, và qua đó làm rõ mối liên hệ mật thiết trong suốt chiều dài lịch sử giữa các thành tố trong hệ thống chính trị
Từ đại hội VI của Đảng, với chủ trương đổi mới, trong đó có đổi mới về hệ thống chính trị và nhận thức lại bài học lịch sử trong vấn đề xây dựng và bảo vệ đất nước, bản thân các nhà lãnh đạo cách mạng lão thành đã có những tác phẩm tổng kết tư duy lý luận, hoạt động của Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh trong lịch sử
Trong số đó phải kể đến các tác phẩm Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt
Nam[22] của Trường Chinh, Về chiến tranh nhân dân Việt Nam của Lê Duẩn, Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh[59] của Phạm Văn Đồng, Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam [69] của Võ Nguyên Giáp,
Đi theo con đường của Bác của Văn Tiến Dũng[36], …Các tác phẩm này đã cung
cấp cho người đọc những nhìn nhận toàn diện hơn, sâu sắc hơn về sự ra đời và trưởng thành của Đảng, Chính phủ và các tổ chức chính trị xã hội dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng
Trang 17Nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã thúc đẩy việc nghiên cứu để tổng kết những bài học kinh nghiệm trong suốt quá trình
dựng nước và giữ nước Để thực hiện mục đích này, bộ Văn kiện Đảng toàn tập,
Lịch sử Chính phủ, Hồ Chí Minh toàn tập đã ra đời Bộ lịch sử Đại cương Việt Nam
từ khởi thủy cho đến 2006 cũng được biên soạn lại và xuất bản Mới đây nhất, Viện
Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã cho ra đời 15 tập lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến năm 2000 Đây cũng là những cơ sở để việc nghiên cứu
về chính trị Việt Nam nói chung, hệ thống chính trị Việt Nam nói riêng ngày càng được đẩy mạnh
1.2.1.2 Các công trình viết về hệ thống chính trị Việt Nam của các nhà nghiên cứu trong nước
Đề cập tổng thể về các thành tố hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xuất hiện trong các bộ lịch sử như Đại cương lịch sử Việt Nam [74], Lịch
sử Việt Nam [211,212,213] các tập bài giảng về chính trị như: Chính trị học Việt
Nam [88], Tập bài giảng Chính trị học [91], Lịch sử tư tưởng chính trị [90] … giáo
trình Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt nam (2010)
Một số công trình nghiên cứu khác đã đi sâu hơn về sự hình thành và phát triển của hệ thống chính trị trong lịch sử Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như
Những đặc trưng cơ bản của bộ máy quản lý đất nước và hệ thống chính trị nước ta trước thời kỳ đổi mới của GS TSKH Vũ Minh Giang [63]; Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới của PGS TS Tô Huy
Rứa [162] …Các công trình này đã đưa ra những khái niệm khác nhau về hệ thống chính trị cũng như dựa trên thực tiễn đời sống chính trị Việt Nam để đưa ra cái nhìn tổng quát nhất về hệ thống chính trị, đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam Trong
cuốn Thể chế chính trị Việt Nam: Lịch sử hình thành và phát triển của Lưu Văn An
[3] cũng đã trình bày về thể chế chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1945-1954 và các giai đoạn sau này, kể cả sau đổi mới Phần đề cập đến thể chế chính trị giai đoạn 1945-1954 đã có sự đầu tư kỹ càng, nhất là ở nội dung về sự hình thành và hoàn thiện của các thành tố Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội, từ đó đưa ra những nhận xét về đặc điểm của thể chế chính trị giai đoạn này
Cuốn Những đặc trưng cơ bản của bộ máy quản lý đất nước và hệ thống
chính trị nước ta trước thời kỳ đổi mới của Vũ Minh Giang đã chỉ ra được bản chất,
Trang 18đặc trưng của bộ máy quản lý đất nước và hệ thống chính trị mang đậm tính chất dân chủ nhân dân giai đoạn này, đồng thời cũng đã bước đầu đề cập đến vai trò của các thành tố trong hệ thống đối với cuộc kháng chiến kiến quốc
Ngoài các công trình đề cập về các vấn đề chung và tổng thể sự hình thành
hệ thống chính trị Việt Nam, cũng cần nhắc đến các công trình viết về từng thành tố trong hệ thống chính trị thời kỳ 1945-1954
Nhóm công trình viết về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị giai đoạn 1945-1954
Đã có rất nhiều công trình viết về vai trò, vị thế của Đảng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1954)
Đáng chú ý trong số này là tuyển tập các bài viết Đảng cộng sản Việt Nam - những
trang sử vẻ vang (1930-2002) của Tạp chí Lịch sử Đảng [89] tập hợp những bài viết
của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà nghiên cứu đăng trên Tạp chí Cộng sản trong suốt 20 năm Đây thực sự là nguồn tư liệu quý giá tổng kết lại toàn
bộ quá trình Đảng lãnh đạo dân tộc trước và sau thời kỳ đổi mới Đến năm 2010,
Học viện Chính trị Quốc gia cho ra mắt công trình Đảng cộng sản Việt Nam 80 năm
xây dựng và phát triển [86] trong đó tập hợp bài viết của các nhà nghiên cứu tổng
kết lại những thành tựu đạt được và những vấn đề đặt ra đối với Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay Qua hai công trình này, người đọc có thể hình dung quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng nói chung và lãnh đạo hệ thống chính trị nói riêng trong suốt chặng đường tranh đấu và trưởng thành của mình
Cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về Đảng trong hệ thống chính trị cung cấp cho người đọc cái nhìn sâu sắc hơn về Đảng và hệ thống chính
trị Công trình “Thể chế Đảng cầm quyền - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
[166] của Đặng Đình Tân đã chỉ rõ trong các mối quan hệ chính trị thì quan hệ giữa
Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý là quan trọng nhất, chi phối toàn bộ hoạt động của đời sống chính trị - kinh tế - xã hội Tác giả tập trung đi sâu vào đặc điểm, nội dung thể chế Đảng lãnh đạo Nhà nước Việt Nam trước đổi mới, trong đó có giai đoạn 1945-1954, tuy nhiên, nội dung về vị thế của Đảng, phương thức lãnh đạo của Đảng và mối quan hệ của Đảng đối với các thành tố khác còn khá mờ nhạt
Trong công trình Đảng cộng sản - Những vấn đề lý luận và mô hình tổ chức
bộ máy của Lưu Văn Sùng xuất bản năm 2011 [165], bên cạnh những vấn đề lý luận
Trang 19về phát triển Đảng, tác giả đã nghiên cứu sâu hơn về vị thế của Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị
Nhóm công trình nói về bản chất, đặc trưng, chức năng của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước giai đoạn 1945-1954
Nhóm công trình viết về sự ra đời và hoàn thiện của Chính phủ, quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy từ Cách mạng Tháng Tám thành công đến kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi đã góp phần làm rõ quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị thời kỳ này Hoạt động của chính quyền địa phương, của quân đội cũng đã
góp phần vào sự ổn định và phát triển của hệ thống chính trị Bộ Biên niên lịch sử
Nam [10] sẽ được tác giả luận án tập trung khai thác vì nó gắn liền với nội dung
nghiên cứu
Ngoài ra, phải kể đến hàng loạt các công trình có giá trị khác như: Nhà nước
cách mạng kiểu mới ở Việt Nam của Nguyễn Trọng Phúc [152], Chính phủ Việt Nam 1945-2003 [160] của Dương Đức Quảng, Chính phủ Việt Nam từ 1945 đến nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007-2011) Trong cuốn Nhà nước cách mạng kiểu mới ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Trọng Phúc [152] đã chỉ rõ vai trò của Nhà nước
kiểu mới Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp
Sự ra đời của Quốc hội Việt Nam đã đánh dấu sự trưởng thành vững chắc của
hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nó cũng tạo cơ sở bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của các thành tố trong hệ thống chính trị Với vị trí quan trọng như vậy, nghiên cứu về lịch sử ra đời và hoạt động của Quốc hội sẽ góp phần làm sáng tỏ quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị thời kỳ 1945-1954 Tài liệu liên quan
đến nội dung này, ngoài bộ Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1(1945-1960) [161], là các cuốn 60 năm Quốc hội Việt Nam [208], Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960
[210], Quốc hội và các thiết chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [209] của Văn phòng Quốc hội Ngoài ra, còn phải kể đến công trình Lịch sử lập hiến Việt Nam của Thái Vĩnh Thắng [172], trình bày một cách toàn diện hơn về
hoạt động của Quốc hội trong cả chặng đường lịch sử, đồng thời tái hiện quá trình ra đời của Hiến pháp, pháp luật nhằm tạo dựng công cụ pháp lý cho Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lãnh đạo cuộc kháng chiến kiến quốc đi đến thắng lợi
Trang 20Nhóm công trình viết về sự ra đời của tổ chức chính trị - xã hội
Giai đoạn 1945-1954 là thời kỳ phát triển vô cùng sôi động của các tổ chức chính trị - xã hội Tuy nhiên, đối với việc hình thành và hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì vai trò đặc biệt quan trọng thuộc về Mặt trận Việt Minh, Hội Liên việt Bên cạnh đó, các tổ chức Công đoàn, Hội Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ, các tổ chức Tôn giáo, dân tộc thiểu số và các đảng phái chính trị khác cũng đóng góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp chung, và hoạt động của các
tổ chức này cũng mang lại những tư liệu quý giá cho đề tài nghiên cứu
Cuốn Lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam quyển I (1930-1954)
[202] là công trình có tính khái quát cao về về quá trình hình thành và phát triển của Mặt trận Dân tộc thống nhất qua từng thời kỳ lịch sử với những tên gọi khác nhau
Ra đời từ chủ trương của Đảng và trở thành một nhân tố không thể thiếu góp phần hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc thống nhất đã có vai trò vô cùng to lớn trong quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền, tạo nền móng vững chắc cho sự tồn tại và phát triền của Đảng
Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình khác như Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam: những chặng đường lịch sử của Nguyễn Văn Bình [15], Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và Mặt trận đoàn kết dân tộc của Nguyễn Bích Hạnh và
Nguyễn Văn Khoan [78], Mặt trận dân tộc tộc thống nhất Việt Nam, quá khứ và
hiện tại của Trần Hậu [80], Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, những chặng đường lịch sử [185] …
Nhóm công trình viết về Hồ Chí Minh - người sáng lập hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Hàng loạt các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh của các học giả trong nước đã lần lượt ra đời Hàng trăm công trình lớn nhỏ viết về Hồ Chí Minh giai
đoạn 1930-1954 như Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc [176] của Song Thành, Hồ
Chí Minh với việc xây dựng Đảng về trí tuệ [158] của Phạm Ngọc Quang, Hồ Chí Minh với tiến trình lịch sử dân tộc [108] của Phan Ngọc Liên, Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng và tổ chức hoạt động của Chính phủ Việt Nam của Phan Hữu Tích
và Trần Đình Thắng, Nghiên cứu những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà
nước và Pháp luật [116] của Nguyễn Ngọc Minh, Hồ Chí Minh với cuộc kháng
Trang 21chiến chống thực dân Pháp [62] của Nguyễn Minh Đức, Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh[76] của Lê Mậu Hãn;
Tác giả Phạm Xanh có các công trình: Nguyễn Ái Quốc và quá trình truyền bá chủ
nghĩa Marx-Lenin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh: Dân tộc và Thời đại Viết về hoạt
động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh có cuốn “Hoạt động đối ngoại của Chủ
tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp” của Đặng Văn Thái
[170], và “Hồ Chí Minh và quan hệ ngoại giao Việt Pháp thời kỳ 1945-1946” của
Lê Kim Hải [71] …Các tác phẩm đã phân tích khá sâu sắc tài năng thao lược, vai trò lãnh đạo của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam Thông qua các tác phẩm này có thể hình dung khá đầy đủ về những bước đi đầy sáng tạo, những hành động quyết đoán nhưng vô cùng khéo léo của Người trên cương vị lãnh tụ dẫn dắt dân tộc qua những chặng đường gian nan, có lúc trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc của cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập cho nước nhà Chính Hồ Chí Minh là người có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc kiến tạo nên hệ thống chính trị Việt Nam thời kỳ này
Chắc chắn còn nhiều công trình tác giả luận án chưa có điều kiện giới thiệu, nhưng nhìn chung, liên quan đến đề tài hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có nhiều nghiên cứu có giá trị ở trong cũng như ngoài nước Tuy nhiên, như trên đã trình bày, vẫn còn không ít vấn đề đặt ra chưa được giải quyết hoặc chưa đạt được sự đồng thuận trong giới nghiên cứu
1.2.2 Các công trình viết về hệ thống chính trị Việt Nam của các tác giả nước ngoài
Vấn đề hệ thống chính trị Việt Nam thời kỳ 1945-1954 cũng đã được đề cập
trong nhiều công trình của các học giả nước ngoài Trong cuốn Con rồng lâm trận
(Vietnam - a Dragon Embattled) của tác giả Joseph Buttinger [225] đã lý giải, mô tả
về các nhân tố tác động đến sự ra đời của các thành tố trong hệ thống chính trị thời
kỳ trước và sau 1945 và kéo dài đến tận thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Cuốn sách đưa ra một góc nhìn từ bên ngoài về bản chất Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, về tổ chức Đảng cộng sản thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám Có thể coi đây
là cuốn sách lịch sử chính trị Việt Nam công phu nhất vào thời điểm nó được xuất
bản Trong chương VIII với tựa đề Giải pháp Bảo Đại (The “Bảo Đại Solution”) và chương IX với tựa đề Thất bại về chính trị và quân sự (Political Failure and
Military Decline), tác giả đã phân tích về sự nhượng bộ chính trị của Việt Minh để
Trang 22tạo lập được một chính phủ phù hợp nhất trong bối cảnh vô cùng phức tạp lúc đó nhằm tập hợp được tối đa sức người, sức của cho việc bảo vệ thành quả Cách mạng
và cho cuộc kháng chiến tiếp đó đi tới thắng lợi
Trước đấy, vào năm 1952, Phillippe Devillers - một nhà sử học người Pháp
đã có nhiều công trình viết về Việt Nam - cho ra mắt cuốn Lịch sử Việt Nam
1940-1952 (Histoire du Vietnam de 1940-1940-1952 [237]) Trong cuốn sách này, Phillippe
Devillers đã có những phân tích khá sâu sắc về các biến chuyển của nền chính trị Việt Nam và tác động từ các chính sách của người Pháp đối với quá trình biến chuyển này Sau này, ông còn có những tác phẩm khác rất có giá trị về mặt lịch sử
chính trị như: Hơn hai mươi năm với Việt Nam (Vigt an et plus avec le Vietnam 1945-1969), hay cuốn Paris - Sài Gòn - Hà Nội đã được dịch sang tiếng Việt
Phillippe Devillers đã có những trang viết chân thực phản ánh quá trình đấu tranh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các thế lực bên ngoài nhằm giữ vững vị thế của mình Những cuốn sách của Phillippe Devillers là những tài liệu có giá trị về mặt lịch sử
Một tác giả người Pháp khác cũng từng có thời gian hoạt động tại Việt Nam giống như Phillippe Devillers và sau này đã có những nghiên cứu về Việt Nam là Paul Mus Mus được coi là người đầu tiên đã phân tích nguyên nhân xã hội - chính
trị sâu xa của Cách mạng Tháng Tám trong tác phẩm Vietnam: Sociologie d’une
guerre [239] xuất bản năm 1952 Đồng quan điểm với Joseph Buttinger và
Phillippe Devillers, Mus đã coi sự phá vỡ cơ sở và cấu trúc kinh tế - xã hội Việt Nam của thực dân Pháp là nguyên nhân đẩy phong trào yêu nước càng trở nên mạnh
mẽ Tác phẩm của ông một lần nữa giúp người đọc hình dung được rõ hơn những điều kiện lịch sử - xã hội cho sự hình thành một hệ thống chính trị mới ở Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám
Một cuốn sách khác mang tựa đề Chính quyền và Cách mạng ở Việt Nam
(Government and Revolution in Viet Nam) [226] của học giả nước ngoài từng làm nhân viên đại sứ quán Anh tại Sài gòn là Dennis J Duncanson cũng đề cập đến lịch
sử Việt Nam từ khởi thủy cho đến thời kỳ chống Mỹ trong đó có hoạt động của Đảng cộng sản, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Không thể không nhắc đến một tác giả là David Marr, nhà sử học nổi tiếng
đã đoạt nhiều giải thưởng cho các công trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam Với hai
Trang 23công trình Truyền thống Việt Nam qua thử thách 1920-1945 (Vietnam: Tradition on Trial 1925-1945) [233] xuất bản năm 1981 và Việt Nam 1945: Sự tìm kiếm quyền
lực (Vietnam 1945: The Quest for Power) [234], tác giả đã tái hiện quá trình biến
đổi xã hội Việt Nam dưới tác động của chính sách cai trị của thực dân Pháp Sự biến đổi diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực: truyền thống xã hội, đạo đức, chính trị, kinh
tế, tôn giáo, văn hóa đã thực sự làm nảy sinh những yếu tố quan trọng tạo tiền đề
cho cuộc Cách mạng Tháng Tám Nếu như Joseph Buttinger trong Việt Nam - Con
rồng lâm trận rất coi trọng vai trò của Đảng cộng sản đối với thành công của Cách
mạng Tháng Tám thì David Marr trong tác phẩm của mình lại cho rằng những biến đổi về ý thức chính trị và xã hội mới thực sự có vai trò quyết định đối với thắng lợi
của cuộc cách mạng này Đến công trình Việt Nam 1945: Sự tìm kiếm quyền lực thì
David Marr đã trình bày được khung cảnh lẫn diễn tiến giành quyền lực của Việt Minh và sự hình thành Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tác giả đã mô tả, phân tích vị thế chính trị của Chính phủ Việt Nam trong cơn lốc tranh giành ảnh hưởng chính trị của các thế lực ngoại bang, đặc biệt là Trung Quốc, Pháp, Mỹ ở Việt Nam vào thời điểm đó
Ngoài ra, còn phải kể đến những công trình của các tác giả nước ngoài khác
đã được dịch ra tiếng Việt mà một ví dụ là “Tại sao Việt Nam” của A.Patti [143],
cuốn sách chấm phá bức tranh về những đấu tranh đầy gian khổ, khôn khéo của
Hồ Chí Minh và của Việt Minh nhằm kiến thiết và gìn giữ nền Cộng hòa Dân chủ non trẻ
Các nhà nghiên cứu ở nước ngoài cũng đã dành nhiều tâm sức nghiên cứu về
tổ chức Đảng cộng sản trước và sau Cách mạng Tháng Tám nhằm lý giải tại sao khuynh hướng vô sản và Đảng Cộng sản lại thắng thế trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng, phe nhóm khác giành quyền lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam
Nổi bật nhất trong hướng nghiên cứu này có Việt Nam thời Pháp đô hộ (Le
Vietnam sous la domination francaise) của Nguyễn Thế Anh xuất bản năm 1970 và
đã được dịch ra tiếng Việt [2] Tác giả đã dành một phần khá lớn trong cuốn sách này để phân tích về các phong trào yêu nước suốt thời kỳ thực dân Pháp đô hộ Phong trào cộng sản được tác giả nhìn nhận là một phong trào có sự khác biệt rất
lớn so với các phong trào yêu nước khác vì nó khởi phát từ Nga Xô (từ dùng của
tác giả) và được Nga Xô hỗ trợ Theo tác giả, chính nhờ sự thức thời, sự nhạy bén,
Trang 24linh hoạt trong các bước tiến - thoái mà Đảng cộng sản đã vượt qua những giai đoạn khó khăn tưởng chừng không thể qua được để rồi trở thành lực lượng thâu tóm được sức mạnh toàn dân và đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi hoàn toàn
W Duiker được coi là nhà sử học Mỹ có nhiều nghiên cứu xuất sắc về Việt Nam Ông đã dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về Đảng cộng sản, ảnh hưởng của
chủ nghĩa cộng sản đối với Việt Nam Tác phẩm sớm nhất của ông là Quốc tế cộng
sản với chủ nghĩa cộng sản Việt Nam (Comintern and Vietnamese communism)
xuất bản năm 1975, và đến năm 1981 ông lại cho ra mắt cuốn Những người cộng
sản giành chính quyền ở Việt Nam như thế nào (The Communist Road to Power in
Vietnam) Trong cuốn sách này, tác giả đã sử dụng rất nhiều nguồn tư liệu đánh giá lại chiến lược cách mạng cộng sản trong lịch sử cận hiện đại Việt Nam Vào năm
2000, ông lại cho xuất bản một cuốn sách về Hồ Chí Minh trong đó ông đã đề cập
kỹ càng về vai trò của Hồ Chí Minh đối với việc kiến tạo và vận hành hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Không thể không nhắc đến một tác giả khác người Mỹ cũng đã có công trình
đồ sộ về lịch sử cách mạng Việt Nam rất có giá trị là Woodside Alexander với cuốn Community and Revolution in Modern Vietnam [236] Trong cuốn này, ông đã nêu lên ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Hồ Chí Minh nói riêng và cách mạng Việt Nam nói chung Ông cũng đã đề cập đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tác động của nó đối với lịch sử
Ngoài ra, còn có thể kể đến Vietnamese communism, 1925-1945 (1982) [232]
của Huỳnh Kim Khánh, một cuốn sách đã cố gắng tái hiện sự chuyển biến về chất của phong trào chống thực dân ở Việt Nam trong khoảng thời gian này Đặc biệt, cuốn sách đã trình bày quá trình trưởng thành của Đảng cộng sản Việt Nam từ một
tổ chức các thanh niên cấp tiến dưới sự dẫn dắt của Hồ Chí Minh đã trở thành lực lượng chính trị quan trọng nhất
Tại Trung Quốc, nghiên cứu về thể chế chính trị Việt Nam trước và sau đổi mới cũng đã được đề cập trong nhiều công trình Năm 2006, tác giả Bạch Xương
Thế đã cho ra đời cuốn Nghiên cứu chế độ kinh tế, chính trị Việt Nam [242] trong
đó đề cập chủ yếu đến chế độ và cơ cấu chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội và nông thôn của Việt Nam Cuốn sách có phần đi sâu vào nội dung: Tổng luận đối với Đảng và cơ quan Nhà nước, Quốc hội, chế độ tư pháp, chế độ viên chức, chế độ
Trang 25chính trị nông thôn…giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về sự hình thành và vận
hành của hệ thống chính trị Việt Nam Một nghiên cứu đáng chú ý khác là Nhân tố
ảnh hưởng tới sự hình thành thể chế chính trị Việt Nam của Chu Anh Hoa [241] đã
trình bày về những nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành thể chế chính trị của Việt Nam Bài viết đã đi sâu phân tích các yếu tố như: hoàn cảnh chiến tranh, truyền thống chính trị đã tác động như thế nào đối với sự hình thành thể chế chính trị Việt Nam Đặc biệt thú vị là bài báo đã phân tích ảnh hưởng của kiểu mẫu thể chế chính trị Trung Quốc, Liên Xô đối với thể chế chính trị Việt Nam Bài báo đã góp một góc nhìn mới mẻ về sự hình thành của hệ thống chính trị Việt Nam hiện đại
1.2.3 Kết quả nghiên cứu và những vấn đề cần giải quyết
1.2.3.1 Kết quả nghiên cứu
Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã cung cấp một nguồn tư liệu lớn không chỉ được khai thác từ trong nước mà còn từ các nguồn lưu trữ nước ngoài cho phép tác giả luận án kế thừa những thành quả quan trọng sau:
- Bối cảnh lịch sử xã hội cho sự hình thành các nhân tố của hệ thống chính trị: Đảng, Nhà nước, Mặt trận
- Quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Vai trò của các thành tố trong hệ thống đối với sự ra đời và phát triển của
hệ thống chính trị
- Vai trò của từng thành tố và của cả hệ thống chính trị đối với cách mạng Việt Nam thời kỳ này
Tuy nhiên, từ đây có thể thấy, còn một số vấn đề cần phải làm rõ trong lịch
sử hình thành hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như sau:
- Hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phải hình thành trong cùng một thời điểm, mà nó được kiến tạo dần dần từng bước trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc Rất nhiều công trình trình bày về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình dẫn dắt của Đảng đi đến thắng lợi Cách mạng Tháng Tám Tuy nhiên, nhiều công trình, đặc biệt là các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài lại coi thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi mang tính chất “tình cờ” vô hình chung đã làm giảm đi vị thế của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng nói chung và kiến lập hệ thống chính trị nói riêng Mặt
Trang 26khác, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan, Đảng đã phải rút vào hoạt động bí mật và không xuất hiện hợp pháp trong hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1945-1951 Khoảng trống lịch sử này cũng đã tạo ra những cách nhìn nhận khác nhau về vị thế của Đảng trong
và ngoài nước) đều dừng ở việc đề cập đến từng thành tố riêng lẻ của hệ thống mà chưa làm rõ được mối liên hệ tổng thể Các vấn đề cơ cấu, đặc trưng và sự tương hỗ của các thành tố trong quá trình hoàn thiện và vận hành của hệ thống chính trị còn chưa được nghiên cứu đầy đủ
1.2.3.2 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết
Trong nghiên cứu này, với sự kết hợp các phương pháp nghiên cứu lịch sử và
lý thuyết về khoa học chính trị, tác giả sẽ tập trung để giải quyết các vấn đề sau:
- Làm rõ các vấn đề chung về quá trình hình thành và xác lập hệ thống chính trị nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1954)
- Trình bày mô hình, cấu trúc, tổ chức và cơ chế vận hành của các thành tố trong hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1945-1954; chỉ ra mối liên hệ cũng như làm rõ vai trò, vị thế của từng thành tố trong hệ thống, đặc biệt là vai trò, vị thế thực sự của Đảng đối với hệ thống thời kỳ này
- Chỉ ra những đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1954)
- Đánh giá những tác động của hệ thống cũng như của từng thành tố trong hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với Cách mạng Việt Nam giai thời
kỳ 1945-1954, từ đó nêu ra những bài học lịch sử
Trang 27Chương 2 XÁC LẬP VÀ VẬN HÀNH CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA 1945-1946 2.1 Sự ra đời của các thành tố thuộc hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước Cách mạng Tháng Tám (1945)
2.1.1 Đảng cộng sản Việt Nam
Quá trình cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam đã tạo nên nhiều biến đổi về kinh tế, chính trị, xã hội…Một trong những biến đổi rõ rệt nhất là sự ra đời của các giai cấp mới trong xã hội, đó là giai cấp công nhân và tư sản Chính từ hai giai cấp này đã nảy sinh hàng loạt các phong trào chống Pháp bên cạnh các phong trào của giai cấp cũ là phong kiến và nông dân
Một điều cần nói đến là, sự tiếp xúc với phương Tây, dù qua một cánh cửa hẹp
và rất tồi tệ là chế độ thực dân Pháp, đã tạo cơ hội hoặc thúc đẩy cho sự xâm nhập của những luồng tư tưởng mới, tác động đến đời sống tinh thần người Việt nói chung
và đặc biệt mạnh mẽ đến các phong trào yêu nước nói riêng Có thể thấy dấu ấn đậm nét của luồng tư tưởng dân chủ tư sản ở các phong trào tiêu biểu của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học…Cũng như vậy là sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác - Lênin như là cơ sở, nền tảng lý luận cho phong trào cộng sản Việt Nam
Dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của chủ nghĩa Mác - Lênin, một trào lưu cách mạng mới xuất hiện đi kèm với sự ra đời của một loạt tổ chức cộng sản đầu tiên Trước hết phải kể đến Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời ngày 17-6-1929; tiếp đến là An Nam Cộng sản Đảng được thành lập vào tháng 7-1929 và đến tháng 9-
1929 Đông Dương Cộng sản liên đoàn ra đời1 Như vậy, từ tháng 6-1929 đến tháng 9-1929, nghĩa là chỉ trong vòng 4 tháng2, đã có tới 3 tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời Điều đó cho thấy ảnh hưởng vô cùng sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với phong trào yêu nước và điều kiện về chính trị, tư tưởng cho việc thành lập Đảng Cộng sản đã thực sự chín muồi
Sự có mặt cùng lúc tới 3 tổ chức Cộng sản như nêu trên không thể tạo được
sự thống nhất, hơn nữa, để tập hợp lực lượng trong thời kỳ này, các tổ chức cộng
1 Tính khoa học và cách mạng trong đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc cuốn hút cả những Đảng viên của Đảng Tân Việt và một số đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng ngả sang con đường cách mạng vô sản
2 Về vấn đề này các tài liệu ghi không giống nhau Hiện nay một số sách viết là từ tháng 6 năm 1929 đến tháng 1 năm 1930
Trang 28sản phải cạnh tranh khốc liệt với rất nhiều tổ chức đảng phải cách mạng khác như: Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đảng Tân Việt…
Với uy tín của mình, Nguyễn Ái Quốc đã hợp nhất thành công các nhóm cộng sản thành một Đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2-1930 Hội nghị hợp nhất này đã thông qua Cương lĩnh của Đảng bao gồm: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản Đảng Cộng sản Việt Nam gửi các văn kiện này tới công nhân, nông dân, đồng bào, đồng chí cả nước nhân dịp thành lập Đảng
Cương lĩnh của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu chung là làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” [40, tr.1], từ đó đưa ra những mục đích, chương trình cụ thể gồm:
- Về chính trị: “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước non được hoàn toàn độc lập”, “dựng ra chính phủ công nông binh…thâu hết sản nghiệp lớn … của tư bản chủ nghĩa đế quốc Pháp để giao cho chính phủ công nông binh” [40, tr.2,3]
- Về lực lực lượng cách mạng: đoàn kết tất cả các giai cấp, lực lượng tiến bộ,
cá nhân yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai
- Về phương pháp cách mạng: phải sử dụng con đường cách mạng bạo lực
- Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, lấy lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động Đảng kết nạp thành viên theo tiêu chí: “tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh, phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng” [40, tr.7] Nhiệm vụ của Đảng viên là “tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng” và “tham gia mọi sự tranh đấu về chính trị và kinh tế của công nông”, “kiếm và huấn luyện đảng viên mới”…Chế độ kỷ luật của Đảng cũng được đưa ra thể hiện tính nghiêm minh của tổ chức: “Đảng viên ở nơi này đi nơi khác phải xin phép Đảng và theo cơ quan nơi đó để làm việc”, “bất cứ vấn đề nào đảng viên đều phải hết sức thảo luận và phát biểu ý kiến, khi đa số đã nghị quyết thì tất cả đảng viên phải phục tùng mà thi hành” và “cách xử phạt người có lỗi trong Đảng do hội chấp hành ủy viên trong cấp Đảng hay đại biểu đại hội định” [40, tr.9]
Trang 29Cương lĩnh chính trị không chỉ thể hiện tính khoa học và cách mạng của một
tổ chức đảng mới ra đời mà còn định hình khuôn khổ đấu tranh cho một tổ chức Đảng cộng sản với 565 đảng viên [183, tr.44] Việc lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nòng cốt, đấu tranh giành độc lập tự do và có kỷ luật nghiêm minh làm cho Đảng cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là đảng đại diện cho giai cấp vô sản mà còn chính thức trở thành một Đảng chính trị Nhưng để trở thành đảng cầm quyền
và tạo dựng nên một hệ thống chính trị mới thì Đảng còn phải trải qua một giai đoạn đấu tranh, trưởng thành cả về lý luận và tổ chức để đi tới nắm giữ quyền lực chính trị thực sự
Đảng trở thành Đảng cầm quyền
Sau khi thống nhất, Nghị quyết của Hội nghị được triển khai nhanh chóng trong cả nước Các chi bộ cơ sở được hợp nhất thành chi bộ của Đảng cộng sản Việt Nam Ban chấp hành Trung ương lâm thời cũng được thành lập Nhưng so với Đảng Lập hiến, Tân Việt cách mạng Đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng là những đảng chính trị đang hoạt động cùng thời với Đảng cộng sản thì sự thống nhất này không phải là điểm nhấn mà chính là nền tảng tư tưởng, những mục tiêu chính trị và chương trình hành động cụ thể của Đảng cộng sản mới đem lại ưu thế vượt trội Với nền tảng
là chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tiễn cách mạng Việt Nam, với phương thức tập hợp lực lượng và phương pháp đấu tranh thích hợp, Đảng cộng sản Việt Nam đã trải qua rất nhiều thăng trầm nhưng vẫn tỏ rõ
là một đảng cách mạng, đảng chiến đấu và hành động vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc Trước Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam có tới hơn 10 đảng chính trị hoạt động nhưng chỉ có Đảng cộng sản là đủ uy tín lãnh đạo toàn thể dân tộc đứng lên giành lấy độc lập như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Từ 1931 đến 1945, phong trào cách mạng ở Việt Nam luôn luôn do Đảng ta lãnh đạo” [50, tr.14]
Trên thực tế, ngay sau khi ra đời, Đảng cộng sản đã lãnh đạo cao trào cách mạng 1930 và đạt được thắng lợi nhất định Cao trào này đã để lại những bài học vô cùng quý giá cho Đảng về vấn đề xây dựng lực lượng, phương thức tiến hành đấu tranh cách mạng, xây dựng chính quyền địa phương… và nó có ảnh hưởng to lớn đối với các giai đoạn cách mạng sau này Vào thời điểm này, cách mạng đã bị dìm trong biển máu, tổ chức Đảng bị tổn thất nặng nề với hàng trăm đảng viên bị bắt và
bị giết trong các nhà tù Tuy nhiên, với kỷ luật nghiêm minh và tinh thần kiên trung
Trang 30của các đảng viên, đến 1934, tổ chức Đảng đã được phục hồi và phát triển thêm ở nhiều nơi; ảnh hưởng của Đảng ngày càng lan rộng Chính sự khôi phục và phát triển nhanh chóng này đã tạo điều kiện cho Đảng tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ
I vào tháng 3-1935 Tại Đại hội này, Đảng đã phân tích, đánh giá tình hình trong nước và quốc tế, trên cơ sở đó đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu là củng cố, phát triển Đảng; tranh thủ quần chúng rộng rãi; chống chiến tranh đế quốc Đây cũng là Đại hội đầu tiên bầu ra một Ban chấp hành Trung ương với cơ cấu gồm 13 ủy viên, đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng bí thư Sự ra đời của Ban chấp hành Trung ương cũng đã đánh dấu sự khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, tạo đà cho sự nghiệp lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân và các tầng lớp khác
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đến thời kỳ 1936-1939, phong trào cách mạng Việt Nam đã có những bước phát triển mới Với những điều kiện thuận lợi mới, Đảng
đã mở Cuộc vận động Dân chủ và lập Mặt trận dân chủ Đông Dương Thời kỳ này, Đảng triệt để lợi dụng hình thức nửa bí mật và nửa công khai để đấu tranh Với những chủ trương, đường lối thích hợp, Đảng cộng sản đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân để tạo nên một lực lượng cách mạng hùng hậu Đến 1939, chiến tranh thế giới II bùng nổ đã làm thay đổi tình hình cả trong và ngoài nước Đế quốc Pháp sau khi tham gia chiến tranh đã phát xít hóa bộ máy cai trị ở Đông Dương và ra sức vơ vét sức người, sức của phục vụ cho cuộc chiến Tình hình của Đông Dương
đã có nhiều thay đổi Trước tình hình đó, Đảng đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần
thứ 6 vào tháng 11-1939 Hội nghị đã chỉ rõ, sự gia tăng bóc lột và đàn áp cách mạng
của thực dân Pháp đã đẩy các mâu thuẫn càng trở nên gay gắt Do đó, giải phóng dân tộc khỏi ách đế quốc là nhiệm vụ cấp bách và là mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam Hội nghị chỉ rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ quan trọng đồng thời chủ trương chuyển hoạt động của Đảng từ công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật Những chủ trương của Hội nghị này đã được bổ sung, hoàn chỉnh ở Hội nghị Trung ương tháng 11-1940, đặc biệt là Hội nghị trung ương tháng 5-1941 Hội nghị trung ương VIII dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, trên cơ sở đánh giá tình hình trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi, đã xác định “Trong lúc này, khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách áp bức của giặc Pháp - Nhật” [45, tr.112]
Trang 31Bên cạnh việc xác định phải đẩy mạnh xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh hơn nữa bằng việc ra điều lệ mới, Hội nghị cũng xác định phương thức đấu tranh cụ thể là kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” [45, tr.129], từ đó Đảng có những bước đi cụ thể nhằm chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa Như vậy, tùy vào hoàn cảnh thực tiễn, Đảng đã có những phương hướng, mục tiêu trước mắt nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu chiến lược, từ đó đưa ra những hình thức đấu tranh cụ thể: vận động chính trị hay đấu tranh bằng bãi công, mít tinh… Khi điều kiện đã chín muồi thì tiến hành xây dựng lực lượng nhằm tiến tới đấu tranh vũ trang Sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã thực sự cho thấy chủ trương đấu tranh bằng bạo lực của Đảng đã được chuẩn bị chu đáo
Nhờ những đường lối, chủ trương mềm dẻo, phù hợp với tình hình thực tiễn, Đảng cộng sản Việt Nam đã vượt qua rất nhiều gian nan thử thách, vượt qua cả khủng bố trắng Qua 15 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng cộng sản Việt Nam
đã tận dụng mọi thời cơ để nắm lấy quyền lực chính trị từ từng phần đến hoàn toàn Nhờ sự chuẩn bị kỹ càng về lực lượng, Đảng cộng sản đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công và trở thành Đảng cầm quyền Trước Cách mạng Tháng Tám, ở Việt Nam có nhiều Đảng chính trị hoạt động, nhưng chỉ có Đảng cộng sản - với đường lối và chủ trương đúng đắn - đã vượt lên trên tất cả để trở thành Đảng đủ uy tín lãnh đạo toàn thể dân tộc đứng lên giành lấy độc lập Nhờ thành quả này mà Đảng cộng sản Việt Nam đã trở thành Đảng cầm quyền từ sau cách mạng Và cũng chính từ thời điểm này, hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chính thức hình thành Ở đây, Đảng vừa là nhân tố kiến tạo, đồng thời Đảng cũng trở thành một thành tố trong hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
2.1.2 Mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể xã hội
Trước năm 1930, các phong trào yêu nước đã thu hút được một lực lượng nhất định tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập của mình Nhưng vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, các phong trào này đều chịu thất bại Một trong những nguyên nhân quan trọng là vấn đề tập hợp lực lượng Sau này Đảng đã nhận định: “Thoạt tiên, vì quyền lợi và địa vị trực tiếp bị đế quốc Pháp xâm phạm, giai cấp phong kiến Việt Nam lãnh đạo cách mạng chống đế quốc Pháp Phong trào
Trang 32Cần Vương, Văn Thân của phong kiến quan liêu (1884-1895) thất bại thì các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, mưu bạo động của Duy Tân, “Việt Nam Quang Phục Hội”, có tính chất phong kiến Duy Tân (1905-1917) tiếp theo Đồng thời chiến tranh du kích của nông dân Yên Thế (1893-1913), phong trào kháng thuế của nhân dân Trung kỳ (1907) và khởi nghĩa Thái Nguyên (1917) nổ ra Song vì không lập được mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp, không tổ chức được quần chúng rộng rãi, không có cương lĩnh và chính đảng của giai cấp tiền tiến lãnh đạo, chỉ hô hào cổ động “đánh Tây” mà không chú ý cải thiện dân sinh, không phát triển chiến tranh du kích, không xây dựng và mở mang căn cứ địa cách mạng, v.v., nên những cuộc vận động trên đây đều thất bại” [50, tr.84]
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất vào tháng 10-1930 đã thông qua Cương lĩnh chính trị về cách mạng tư sản dân quyền, ra “Án nghị quyết của Trung ương toàn thể Đại hội” về vấn đề phản đế và Điều lệ đồng minh phản đế
ở Đông Dương Với nhận thức Đảng muốn hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc cách mạng thì phải “tổ chức ra những đoàn thể độc lập (công hội, nông hội, v.v.)” [40, tr.100] nên Hội nghị đã đưa ra Điều lệ các tổ chức quần chúng như Công hội, Nông hội, Thanh niên cộng sản, Phụ nữ Liên hiệp hội, Đồng minh phản đế ở Đông Dương, Hội cứu tế đỏ Điều lệ này cho thấy sự chú trọng của Đảng trong việc xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội phù hợp nhằm tập hợp lực lượng và đưa phong trào của các lực lượng này từ giai đoạn tự phát thành tự giác
Trước khi tổ chức Mặt trận dân tộc ra đời thì các đoàn thể xã hội đã ra đời từ rất sớm Trước hết phải kể đến Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập từ 1925 được coi là hình thức đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Đến 1931, tại Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng, Trung ương Đảng bàn về tổ chức tập hợp thanh niên yêu nước và chỉ rõ: “cần kíp tổ chức
ra Cộng sản Thanh niên Đoàn, Đảng cần kíp đánh tan cái thái độ hờ hững lãnh đạm với vấn đề đó” [154, tr.90] Vì lúc này, phong trào của Đoàn thanh niên đã phát triển rộng khắp trên cả 3 miền, ước tính số lượng lên tới 15.000 đoàn viên [107] Sự
ra đời của Đoàn Thanh niên đã đáp ứng nhu cầu cấp bách của thanh niên yêu nước
về một tổ chức cho mình trong quá trình đấu tranh cách mạng Trong thực tiễn các giai đoạn cách mạng sau này, Đoàn Thanh niên đã góp phần to lớn vào thắng lợi cũng như tạo đà cho Mặt trận ngày càng phát triển
Trang 33Bên cạnh sự ra đời và phát triên của phong trào thanh niên thì sự lớn mạnh của phong trào công nhân và ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm cho các cuộc đấu tranh của công nhân ngày càng thể hiện rõ ý thức giai cấp và mục đích chính trị Từ hoạt động này, các tổ chức công đoàn đầu tiên trong lịch sử phong trào công nhân nước ta đã lần lượt xuất hiện để rồi nhanh chóng được củng cố, kiện toàn
về cơ cấu nhằm đáp ứng các nhu cầu thực tiễn đặt ra Công hội đỏ ra đời từ thực
tiễn đó và đến “ngày 20-1-1931 tại Sài Gòn, đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng đã triệu tập Hội nghị công nhân Đông Dương lần thứ I vạch ra phương hướng tổ chức và đấu tranh cho phong trào công nhân và công đoàn” [186] Chính Công hội đỏ đã trở thành hạt nhân của phong trào Xô viết - Nghệ Tĩnh trong những năm 1930-1931 Mặc dù phong trào thất bại nhưng qua thực tiễn này, Công hội đỏ đã rút ra được những bài học kinh nghiệm sâu sắc và ngày càng trưởng thành dưới sự dẫn dắt của Đảng cộng sản
Cũng từ năm 1929, tổ chức của nông dân mang tên Nông hội đỏ đã được
thành lập tại tỉnh Hà Đông “Đồng chí Bùi Sinh Chấn là đảng viên của Đông Dương cộng sản Đảng đã tuyên truyền, tập hợp được một số thanh niên nông dân, thành lập một tổ chức quần chúng Sau đó, Nông hội đỏ đã được tổ chức ở rất nhiều tỉnh, thành Những năm 1930-1931, bên cạnh phong trào công nhân, phong trào nông dân dưới sự vận động của nông hội đỏ đã góp phần quan trọng thúc đẩy khí thế cách mạng lên đến cao trào Trước sự lớn mạnh của hội nông dân, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 10/1930 đã đề ra nhiệm vụ: “Phải chỉnh đốn nông hội lại cho có hệ thống theo điều lệ mới và dự bị việc tổ chức Đông Dương Tổng nông hội” [40, tr.115] Xuất phát từ nhiệm vụ này, Đảng đã ra Nghị quyết về thành lập Tổng Nông hội Đông Dương và thông qua Điều lệ Tổng Nông Hội Đông Dương gồm 8 điều trong đó nêu rõ mục đích ''Thống nhất hết thảy Tổng Nông Hội Đông Dương để tranh đấu bênh vực quyền lợi hàng ngày của nông dân và
để thực hiện cách mạng thổ địa'' [40, tr.158] Tổng Nông hội Đông Dương đã đánh dấu sự ra đời chính thức của tổ chức tranh đấu của giai cấp nông dân, góp phần to lớn vào thắng lợi của cách mạng sau này
Ra đời muộn hơn so với các tổ chức khác là Hội phụ nữ cứu quốc Trước khi Đảng cộng sản được thành lập, phụ nữ đã tham gia tích cực vào phong trào tranh đấu và trở thành hội viên của các tổ chức tiền thân của Đảng, các tổ chức Công hội
Trang 34đỏ, Nông hội đỏ v.v Từ thực tiễn này, Đảng đã coi phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra phương hướng thành lập một tổ chức dành riêng cho phụ
nữ Ngày 20/10/1930, Hội Phụ nữ đã được thành lập
Một tổ chức rộng lớn khác đã ra đời ngay sau khi Đảng được thành lập đó
là Mặt trận dân tộc thống nhất với nhiều tên gọi khác nhau tùy vào từng giai đoạn lịch sử:
Hội phản đế đồng minh - hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất
Thực hiện chủ trương của Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã chính thức ra chỉ thị thành lập Hội phản đế Đồng minh - hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, vào ngày 18-11-1930 Từ nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền, Chỉ thị đã nêu rõ công nhân và nông dân là động lực chính của cách mạng nhưng vẫn nhấn mạnh sự cần thiết phải tổ chức thu hút toàn dân thành một lực lượng thật rộng, thật kín có vai trò quyết định đối với thắng lợi của cách mạng [40, tr.227] Chỉ thị cũng nêu rõ: “Cách mạng ở Đông Dương đã có cao trào rồi” cần phải vận động, tập hợp và tổ chức lực lượng “quảng đại quần chúng” thì mới làm cho “phong trào cách mạng ở Đông Dương sẽ mạnh mẽ khắp nơi để trả lời cho đế quốc Pháp một cách xác đáng” [40, tr.232] Phương thức tập hợp lực lượng là từ trên xuống và từ dưới lên, làm sao đảm bảo sự thích ứng với từng hoàn cảnh thực tiễn để tập hợp lực lượng cách mạng trong quần chúng
Hội phản đế Đồng minh được coi là hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam Sau khi thành lập Hội, phong trào đấu tranh dâng cao
và dẫn đến cao trào Xô viết - Nghệ tĩnh 1930-1931 và đây cũng chính là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng, công nhân cùng nông dân đã kết thành một khối, tạo nên một sức mạnh đáng kể và đã gây được tiếng vang lớn Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các phong trào của đoàn thể nhân dân đã phát triển vượt bậc và chuyển từ tính chất tự phát sang tự giác Thực tiễn này đã mang lại những bài học quý giá cho việc tập hợp lực lượng cách mạng sau này
- Cuộc vận động thành lập Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương
Sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp, đến những năm 1934-1935, Đảng dần dần được phục hồi, phong trào đấu tranh cũng dần được khôi phục và phát triển ngày càng đi vào chiều sâu, “số lượng các cuộc đấu tranh tăng hơn 1,5 lần so với
Trang 35năm 1933” [202, tr.151] Tại Pháp, sự thắng thế của Mặt trận Bình dân đã tạo điều kiện thuận lợi nhất định cho phong trào đấu tranh của Việt Nam Nắm bắt thời cơ này, vào tháng 3/1935, Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương đã tiến hành Đại hội lần thứ I nhằm củng cố Đảng và khắc phục những sai lầm “tả khuynh” trong việc xây dựng Mặt trận Tại Đại hội này, Đảng đã thông qua nghị quyết về công tác vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh sĩ và về tổ chức hoạt động của Phản đế liên minh
Đến tháng 7-1936, Đảng đã tổ chức Hội nghị Ban chấp hành Trung ương tại Thượng Hải Tại Hội nghị này, Đảng đã xác định, với mục tiêu và nhiệm vụ trực tiếp trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chống chiến tranh thì phải tập hợp lực lượng một cách rộng mở nhất Hội nghị đã đi đến
quyết định thành lập Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương bao gồm: “các giai
cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, các dân tộc ở xứ Đông Dương để đòi cùng nhau tranh đấu, để đòi hỏi những kiểu dân chủ đơn sơ” [44, tr.144] để tập trung mũi nhọn đấu tranh vào bọn phản động thuộc địa, tay sai của chủ nghĩa phát xít
Như vậy, Đảng đã có nhìn nhận, đánh giá đầy đủ và xác đáng hơn về vị trí chiến lược của công tác Mặt trận, từ đó có chủ trương linh hoạt để tập hợp lực lượng một cách rộng rãi, lôi cuốn mọi tầng lớp dù là tạm thời, vào cuộc đấu tranh giành độc lập Cũng do thuận lợi của tình hình thực tiễn mà Đảng quyết định thay đổi hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh của quần chúng Theo đó, từ tổ chức bí mật và đấu tranh bất hợp pháp là chủ yếu chuyển sang tổ chức và đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp, công khai và nửa công khai để tạo ra “những
cơ sở cho hoạt động quần chúng nhằm theo đuổi những yêu sách đặc biệt và những yêu sách chung cho toàn thể dân cư” [44, tr.134] Vấn đề xây dựng và củng cố Mặt trận cũng luôn luôn là vấn đề được Đảng quan tâm đặc biệt, thể hiện trong các chỉ
đạo của mình như: Chung quanh vấn đề chiến sách mới (30-11-1936), Thư gửi các
đảng viên của Đảng và các Đoàn Thanh niên cộng sản Nam Kỳ (16-11-1936), Chủ trương tổ chức mới của Đảng (2-3-1937)…
Từ giữa năm 1936 trở đi, phong trào quần chúng phát triển rộng rãi và đạt được những kết quả nhất định Phong trào quần chúng ngày càng mạnh, các hội quần chúng ngày thêm mở rộng, sự lãnh đạo quần chúng ngày càng thêm phức
Trang 36tạp Trong tổ chức đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhưng vẫn còn xuất hiện tình trạng cô độc, hẹp hòi về tổ chức Đứng trước tình hình mới, tại Hội nghị Trung ương vào tháng 3-1938, Đảng đã đề ra nhiệm vụ lập Mặt trận dân chủ và coi đây là “nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại” [44, tr.350] Mặt trận đã bao hàm trong mình mọi lực lượng không phân biệt cách mạng, quốc gia hay cải lương, không phân biệt người Pháp hay người Việt chỉ cần cùng chung một mục đích chống chủ nghĩa phát xít và bọn phản động Pháp giành tự do dân chủ, cải thiện dân sinh và bảo vệ hòa bình thế giới Do vậy,
“đây cũng là hình thức tổ chức Mặt trận mang tính chất rộng rãi nhất, khắc phục được những dấu vết của chủ nghĩa “tả khuynh”, cô độc, hẹp hòi của thời kỳ trước đó” [202, tr.242] Mặt trận đã trở thành một bộ phận của Mặt trận nhân dân thế giới, đồng thời có hình thức tổ chức như một Mặt trận dân tộc thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc ở Đông Dương
Sau khi Mặt trận được thành lập, phong trào cách mạng đã có những bước phát triển sôi nổi và đạt được nhiều kết quả quan trọng, “làm cho Đảng có cơ sở quần chúng rộng rãi” [44, tr.352] Khi Chính phủ Mặt trận bình dân Pháp sụp đổ, các phong trào Mặt trận Dân chủ bị siết chặt buộc Đảng phải rút vào hoạt động bí mật nhưng vẫn chỉ đạo Mặt trận duy trì các hoạt động công khai và bán công khai như tham gia đấu tranh nghị trường, xuất bản báo chí
- Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế - tổ chức tiền thân của Mặt trận Việt Minh
Sau khi chiến tranh thế giới II bùng nổ, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đã xác định chủ trương tập hợp mọi lực lượng vào nhiệm vụ giải phóng
dân tộc và nhiệm vụ quan trọng lúc này là tiến hành thành lập Mặt trận dân tộc
thống nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Mặt trận là “hình
thức liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương dưới nền thống trị đế quốc Pháp, tất
cả các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng cho dân tộc,
để tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, chống xâm lược phát xít, đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc đòi hòa bình, cơm áo, thực hiện nền độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương với quyền dân tộc tự quyết” [44, tr.537] Hội nghị cũng nhấn mạnh nhiệm vụ chính trị của công tác quần chúng là tổ chức quần chúng nhân dân vào các hội, như: Hội phản đế, Hội
Trang 37phản chiến, Nông hội, Công hội, Binh hội…Tổ chức tốt các hội quần chúng chính
là để củng cố Mặt trận
Thời kỳ này phong trào quần chúng đã phát triển rộng khắp và bắt đầu xuất hiện hình thức cao hơn là sử dụng bạo lực cách mạng, tiêu biểu là khởi nghĩa Bắc Sơn Điều này cũng báo hiệu phong trào quần chúng đã bước sang giai đoạn mới, giai đoạn phối hợp thống nhất hành động giữa các lực lượng quần chúng trên mọi mặt, quần chúng được võ trang và tiến đến giành chính quyền Đến hội nghị Trung ương lần thứ VII họp vào tháng 11-1940, vấn đề này đã được làm rõ hơn Hội nghị chủ trương song song với việc mở rộng Mặt trận, phải lựa chọn những người hăng hái nhất trong các đoàn thể của Mặt trận, tổ chức các đội tự vệ, “trực tiếp võ trang cho dân chúng”, tổ chức nhân dân cách mạng quân, tiến lên “võ trang bạo động
giành lấy quyền tự do độc lập” [45, tr.58]
Mặt trận Việt Minh ra đời tạo tiền đề quan trọng cho cuộc Tổng khởi nghĩa
đi đến thắng lợi cuối cùng
Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đã về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam và chủ trì Hội nghị trung ương VIII vào tháng 5-1941 Hội nghị đã nhận định rõ tình hình thế giới có nhiều thay đổi, còn trong nước thì: “Quyền lợi tất cả giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc bị nguy vong không lúc nào bằng” [45, tr.112] Hội nghị đã chỉ rõ mối quan hệ thiết yếu giữa quyền lợi dân tộc và giai cấp trong đó chỉ rõ nếu không giải phóng được dân tộc thì quyền lợi của giai cấp cũng không bao giờ giải quyết được Từ nhận định này, Đảng chủ trương giải quyết vấn
đề dân tộc không phải chung trên toàn Đông Dương mà trên phạm vi từng nước để
“làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân (hơn hết là dân tộc Việt Nam)” [45, tr.122] Đây cũng là cơ sở cho sự đổi mới hình thức tên gọi của Mặt trận dân tộc thống nhất
Từ chủ trương của Hội nghị, theo sáng kiến của Hồ Chí Minh, một mặt trận mới ra đời lấy tên là Việt Nam độc lập Đồng minh gọi tắt là Việt Minh, được thành lập tại Pắc Bó (Cao Bằng) vào ngày 19-5-1941 Việt Minh là một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị như: Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội thanh niên cứu quốc, Hội quân nhân cứu quốc, Hội phụ lão cứu quốc, Hội nhi đồng cứu quốc… Đảng Cộng sản Đông Dương cũng là một thành viên của Mặt trận Việt
Minh Với 10 chính sách được ban ra vừa ích nước, vừa lợi dân nên có một số tổ
Trang 38chức chính trị yêu nước đã tham gia làm thành viên của mặt trận Việt Minh như Đảng Dân chủ Việt Nam Các khẩu hiệu của Mặt trận Việt Minh, như: “sắm vũ khí đuổi thù chung”, “phá kho thóc của giặc Nhật để cứu đói cho dân” đã thu hút đông đảo lực lượng chính trị quần chúng tạo ra một cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật
Mặt trận đã áp dụng chính sách mềm dẻo để thu hút mọi lực lượng có thể tranh thủ được, đồng thời phân hóa và cô lập cao độ kẻ thù chính nhằm tiêu diệt
chúng Có thể khẳng định, Mặt trận Việt Minh là hình thức mặt trận rộng rãi nhất so
với các hình thức Mặt trận trước đó Nó không chỉ kế thừa những phương pháp tập hợp lực lượng trước đây của Mặt trận mà còn mở rộng hết mức có thể và có những phương thức tập hợp lực lượng phù hợp với nguyện vọng chung của quần chúng nên
đã thực sự thu hút được mọi lực lượng tham gia Điều cần nhấn mạnh ở đây là ảnh hưởng của vai trò cá nhân Hồ Chí Minh là vô cùng to lớn đối với sự hình thành và phát triển của Mặt trận Việt Minh Bản thân hình ảnh của Người đã thực sự có sức hút rất lớn đối với quần chúng và Người đã không chỉ trở thành linh hồn cho Đảng,
mà còn là ngọn cờ tập hợp lực lượng quần chúng tham gia vào Mặt trận Việt Minh
Mặt trận dân tộc thống nhất đã trải qua rất nhiều lần thay tên qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, và mỗi lần như thế, Mặt trận lại có những chuyển biến trong chiến lược tập hợp lực lượng nên ngày càng được mở rộng và góp phần to lớn vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám Chính thắng lợi này, về phần mình, lại nâng cao tầm vóc của Mặt trận, đưa Mặt trận bước lên vũ đài chính trị và chính thức trở thành một nhân tố quan trọng trong hệ thống chính trị Trong quá trình xây dựng và củng cố Chính phủ, Mặt trận đã có vai trò quan trọng góp phần tạo dựng nên Chính phủ hợp hiến, hợp pháp
Nhìn lại quá trình xây dựng Mặt trận thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám,
có thể thấy những biến chuyển cần ghi nhận như sau:
Nếu như thời kỳ đầu, trong việc tập hợp lực lượng Đảng chú trọng đến vấn
đề giai cấp và đặt ra các khẩu hiệu mang tính chất khu biệt như “ruộng đất cho dân cày” “đánh đổ đế quốc, phong kiến”… và coi mặt trận là tổ chức dành cho những người bị áp bức, bóc lột nên chưa thực sự thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, thì về sau này, từ thực tiễn cách mạng đặt ra, Đảng đã có những thay đổi, điều chỉnh phù hợp từ tên gọi cho đến khẩu hiệu, mục đích để quy tụ được lực lượng cách mạng một cách rộng mở nhất
Trang 39Đảng luôn đa dạng hóa các hình thức tập hợp lực lượng cũng như phương pháp hoạt động tùy vào điều kiện lịch sử cụ thể Đổi tên Mặt trận, chuyển hoạt động
từ bí mật sang bán công khai rồi công khai hoặc chuyển đổi từ đấu tranh chính trị sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang là biểu hiện sinh động cho chiến lược, sách lược tập hợp lực lượng của Đảng
Đảng cộng sản Việt Nam, từ việc xác định là lực lượng lãnh đạo của phong trào cách mạng, đã đặt mình vào vị trí thành viên của Mặt trận nhằm đi đến mục tiêu lớn lao nhất là giải phóng dân tộc Điều này không chỉ làm Đảng cộng sản Việt Nam liên minh được với nhiều đảng phái chính trị mà còn thu hút toàn bộ lực lượng dân tộc vào cuộc tranh đấu Mặt khác, Đảng đã không ngừng tự hoàn thiện, phát triển, nâng cao năng lực lãnh đạo phong trào quần chúng, lãnh đạo Mặt trận để đưa cuộc cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng, như Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một
bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thành nhất Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo” [44, tr.508]
Có thể khẳng định, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã - hội là nhân tố nền tảng kiến tạo nên hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng Tháng Tám
2.1.3 Sự tìm tòi một mô hình Nhà nước thích hợp
Những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng, vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền Cách mạng chính trị là giành chính quyền, đây là mục tiêu trực tiếp và là tiền đề để đi tới mục tiêu lâu dài là xây dựng chế độ
xã hội mới Như vậy, xây dựng chính quyền cũng chính là nhằm đảm bảo gìn giữ thành quả cách mạng, xây dựng nên một xã hội tương ứng để thể hiện tính ưu việt của chế độ mới Ý tưởng về một nhà nước kiểu mới đã sớm được hình thành như tại
Luận cương chính trị của Đảng 1930 chỉ rõ: “Sự cốt yếu của tư sản dân quyền cách
mạng thì một mặt là phải tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột tiền tư bổn và để thực hành thổ địa cách mạng triệt để, một mặt nữa là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai mặt đấu tranh có liên lạc mật thiết với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan
Trang 40chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa Muốn thực hành được những điều cốt yếu ấy phải dựng lên chính quyền xô viết công nông Chỉ có chính quyền xô viết công nông mới là khí cụ rất mạnh mẽ đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, phong kiến, địa chủ, làm cho dân cày có đất mà cày, làm cho vô sản có pháp luật bảo hộ quyền lợi cho mình” [40, tr.94] Như vậy, Đảng và Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định dứt khoát từ rất sớm vấn đề cơ bản nhất của cuộc cách mạng là giành chính quyền nhà nước Đây không chỉ là sự vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn là chỉ dẫn quan trọng có tác dụng soi đường cho cuộc đấu tranh giành độc lập và đặc biệt cho quá trình xây dựng và củng cố Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, cũng đã có thời kỳ Đảng đưa ra mô hình nhà nước, thể nghiệm quyền làm chủ của nhân dân lao động trong thực tế Đó
là mô hình Nhà nước Xô viết trong phong trào cách mạng 1930-1931 Trong phong trào này, chính quyền Xô viết ở một số địa phương ra đời tại những nơi chính quyền thực dân và phong kiến bị tan rã trước làn sóng đấu tranh của quần chúng cách mạng ở Nghệ Tĩnh như huyện Thanh Chương, Nam Đàn, một phần huyện Anh Sơn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và Diễn Châu Mặc dù chưa hề có kinh nghiệm thực tiễn, nhưng qua học hỏi trên sách báo về chính quyền Xô viết nước Nga, chính quyền đã ban bố những chính sách mới tạo dựng dấu ấn riêng của chính quyền kiểu mới Các chính quyền Xô viết đã kiên quyết trấn áp phản cách mạng, ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân, thu ruộng đất công điền, công thổ chia cho dân cày nghèo, bãi bỏ các thứ thuế do đế quốc đặt ra, tổ chức cho nhân dân phối hợp, giúp đỡ nhau trong sản xuất, lập các lớp học chữ quốc ngữ, vận động nhân dân xóa bỏ các tệ nạn xã hội, các hủ tục mê tín dị đoan …Sự thay đổi toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… tạo nên một bức tranh sống động về một cuộc sống mới Tuy nhiên,
do những yếu tố chủ quan và khách quan nên cuối cùng Xôviết Nghệ Tĩnh đã thất bại Mặc dù vậy, Xôviết Nghệ Tĩnh đã để lại nhiều bài học quan trọng cho việc xây dựng chính quyền Nhà nước sau này
Tư tưởng chỉ đạo về thành lập chính phủ dân chủ cộng hòa được chính thức đưa ra tại Hội nghị trung ương VI năm 1939.Trong Văn kiện của Hội nghị đã có những phân tích sâu sắc về tình hình thế giới, về tình hình và thái độ các giai cấp
xã hội, các đảng phái và xu hướng chính trị trong nước Đặc biệt hơn, Văn kiện đề