1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phông lưu trữ ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ - Một nguồn sử liệu về Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954) : Luận văn ThS. Thông tin: 60 32 24

249 31 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 12,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, trong quá trình hoạt động, Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ đã hình thành nên một khối tài liệu hết sức đa dạng và phong phú, gồm tài liệu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ TUYẾT MAI

PHÔNG LƯU TRỮ ỦY BAN KHÁNG CHIẾN

HÀNH CHÍNH NAM BỘ - MỘT NGUỒN SỬ LIỆU VỀ NAM BỘ THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Trang 2

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của UBKCHC Nam Bộ

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của chính quyền Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1954

1.1.3 Tổ chức bộ máy của UBKCHC Nam Bộ

1.1.4 Đặc điểm về hoạt động của UBKCHC Nam Bộ

1.2 Lịch sử Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

1.3 Thành phần, nội dung và đặc điểm của tài liệu Phông lưu trữ

Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

1.3.1 Chủ trương chuyển tài liệu lưu trữ ra miền Bắc sau Hiệp định

Giơnevơ 1954 của UBKCHC Nam Bộ

1.3.2 Thành phần tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

1.3.3 Nội dung tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

1.3.4 Đặc điểm tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

UỶ BAN KHÁNG CHIẾN HÀNH CHÍNH NAM BỘ

2.3.2 Thông tin về an ninh – trật tự

2.3.3 Thông tin về phong trào kháng chiến kiến quốc

2.4 Thông tin về quân sự

2.4.1 Thông tin chung về quân sự

Trang 3

2.4.2 Thông tin về xây dựng và hoạt động lực lượng vũ trang

2.5 Thông tin về tòa án – tư pháp

2.6 Thông tin về phong trào thi đua yêu nước và khen thưởng thi đua

2.7 Thông tin về công tác văn thư – lưu trữ

2.8 Thông tin liên lạc hành chính

2.9 Thông tin về kinh tế

2.9.1 Thông tin chung về kinh tế - tài chính

2.9.2 Thông tin về tài chính – ngân hàng

2.9.3 Thông tin về công nghiệp

2.9.4 Thông tin về nông nghiệp

2.9.5 Thông tin về lâm nghiệp

2.9.6 Thông tin về ngư nghiệp

2.10 Thông tin về văn hoá; thương binh - xã hội; giáo dục; y tế;

tuyên truyền, động viên

2.10 1 Thông tin về văn hóa

2.10.2 Thông tin về thương binh - xã hội

2.10.3 Thông tin về giáo dục

2.10.4 Thông tin về y tế

2.10.5 Thông tin về tuyên truyền, động viên

2.11 Thông tin về công tác Đảng, Đoàn Thanh niên và các đoàn thể khác

2.11.1 Thông tin về công tác Đảng

2.11.2 Thông tin về Đoàn thanh niên và các đoàn thể khác

KHOA HỌC, KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ

UỶ BAN KHÁNG CHIẾN HÀNH CHÍNH NAM BỘ

3.1 Giá trị của tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

3.1.1 Là nguồn sử liệu quý giá, có ý nghĩa nhiều mặt đối với việc

nghiên cứu lịch sử Nam Bộ mà chủ yếu là lịch sử cuộc chiến chống

Pháp của nhân dân Nam Bộ trong thời kỳ 1945 – 1954

3.1.2 Giúp các nhà quản lý, lãnh đạo đúc rút kinh nghiệm, đề ra những

chủ trương, biện pháp đúng đắn trong công tác

3.1.3 Là nguồn tư liệu có giá trị đối với việc giáo dục truyền thống yêu

nước, tinh thần đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc

Trang 4

3.2 Tình hình tổ chức khoa học và khai thác, sử dụng tài liệu

Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

3.2.1 Tình hình tổ chức khoa học Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

3.2.2 Tình hình khai thác, sử dụng tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC

Nam Bộ

3.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác tổ chức khoa

học và khai thác, sử dụng tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

3.3 Một số giải pháp nhằm tổ chức khoa học và khai thác, sử dụng hiệu quả

tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

3.3.1 Tiến hành thu thập, bổ sung tài liệu còn thiếu trong Phông lưu trữ

UBKCHC Nam Bộ để đảm bảo sự hoàn chỉnh tương đối của Phông

3.3.2 Khẩn trương hoàn chỉnh việc tổ chức khoa học tài liệu Phông lưu trữ

UBKCHC Nam Bộ

3.3.3 Bổ sung công cụ tra cứu hiện đại

3.3.4 Đa dạng hóa các hình thức công bố, tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu

3.3.5 Tăng cường đội ngũ chuyên gia về công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ

Trang 5

UBHC: Ủy ban Hành chính

UBKC – HC: Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính UBKCHC: Ủy ban Kháng chiến Hành chính

UBKCHC NB: Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) thành công, đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta thời kỳ hiện đại Góp phần không nhỏ vào chiến thắng vĩ đại ấy, không thể không nhắc đến vai trò cuả Uỷ ban Kháng chiến Hành chính các cấp, vì trong hoàn cảnh chiến tranh

thời bấy giờ “ở mỗi cấp, Uỷ ban Kháng chiến Hành chính một mặt là đại diện nhân dân, một mặt là đại diện Chính phủ và các Bộ Uỷ ban Hành chính mỗi cấp, dưới sự lãnh đạo và điều khiển của Chính phủ qua mỗi Bộ, thay mặt Chính phủ và các Bộ

để điểu khiển tất cả các cơ quan chuyên môn thuộc cấp mình” [250, tr 15] Đặc

biệt, đối với Uỷ ban Kháng chiến Hành chính ở cấp kỳ, như Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ thì nhiệm vụ càng trở nên nặng nề hơn bởi Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ không những chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp từ Chính phủ và các Bộ về mọi mặt mà còn phải có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra

Uỷ ban Kháng chiến Hành chính các tỉnh, huyện, xã thực hiện những yêu cầu, nhiệm vụ mà Chính phủ và các Bộ giao phó ở cấp mình nhằm lãnh đạo nhân dân đánh Pháp và cũng cố, giữ vững chính quyền cách mạng

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, trong quá trình hoạt động, Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ đã hình thành nên một khối tài liệu hết sức đa dạng và phong phú, gồm tài liệu về chính trị, tổ chức bộ máy – nhân sự, tài liệu về quân sự, kinh tế, tài chính, văn hoá, xã hội…Những tài liệu này gồm nhiều bản chính, có độ tin cậy cao, có giá trị về mặt lịch sử và thực sự quý, hiếm bởi những tài liệu lưu trữ của giai đoạn kháng chiến chống Pháp hiện đang được bảo quản tại các Trung tâm, các kho lưu trữ là không nhiều

Hiện nay, khối tài liệu Phông Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ đang được bảo quản vĩnh viễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Tuy nhiên, qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy Phông lưu trữ này trong thời gian qua chưa được khai thác nhiều và việc khai thác cũng chưa triệt để, mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu mục lục hồ sơ hoặc tìm hiểu, nghiên cứu sâu vào một vài vấn đề trong các hồ sơ Chính

vì nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của khối tài liệu này nên tôi đã

chọn đề tài: “Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ - Một

Trang 7

nguồn sử liệu về Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)” làm luận

văn thạc sỹ chuyên ngành “Lưu trữ học”

Đề tài được thực hiện với những mục đích sau:

Thứ nhất, giới thiệu tổng quan về nội dung các tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ hiện đang được bảo quản và khai thác sử dụng tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Qua đó, có thể giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận được một cách khái quát và có hệ thống về nội dung của khối tài liệu này

Thứ hai, bên cạnh việc giới thiệu tổng quan về nội dung thông tin tài liệu, chúng tôi còn đi sâu phân tích giá trị nhiều mặt của những tài liệu này nhằm giúp cho các nhà nghiên cứu có thể nhìn nhận, đánh giá giá trị của tài liệu một cách chính xác nhất

Thứ ba, giới thiệu tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ còn giúp các nhà quản lý, cụ thể hơn là những nhà quản lý hành chính, an ninh, quốc phòng, công an, toà án, tư pháp có thêm những kinh nghiệm trong việc hoạch định các chính sách, chiến lược, điều hành công việc một cách hiệu quả

Thứ tư, trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và nhà nước ta đang giành sự quan tâm sâu sắc tới việc phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ thì việc giới thiệu tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ cũng giúp nâng cao nhận thức của những nhà nghiên cứu, quản lý, lãnh đạo và toàn thể nhân dân về tác dụng, giá trị và tầm quan trọng của tài liệu lưu trữ đối với đời sống xã hội

Mục đích thứ năm nhưng cũng không kém phần quan trọng của việc giới thiệu tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ là giúp đội ngũ cán

bộ làm công tác tổ chức khoa học và khai thác, sử dụng tài liệu nhận thức rõ hơn hơn

về vai trò, ý thức trách nhiệm của mình đối với công việc được giao

2 Mục tiêu của đề tài

- Giới thiệu khái quát và có hệ thống thông tin của tài liệu lưu trữ trong Phông

lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ (1945 – 1954) hiện đang được bảo quản và khai thác, sử dụng tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III

- Phân tích đặc điểm và giá trị tài liệu, nêu thực trạng về công tác tổ chức khoa học tài liệu, khai thác và sử dụng tài liệu Phông Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp khắc phục những hạn chế trong công tác tổ chức khoa học, tổ chức khai

Trang 8

thác, sử dụng khối tài liệu lưu trữ này nhằm phát huy một cách hiệu quả giá trị của chúng trong công tác nghiên cứu và quản lý

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi sẽ tập trung giới thiệu toàn bộ tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ (1945 – 1954) Do khối tài liệu này chiếm số lượng tương đối nhiều, nội dung đa dạng, phong phú nên chúng tôi chỉ giới thiệu một cách khái quát và điển hình

Về thời gian của tài liệu giới thiệu, chúng tôi lấy mốc bắt đầu là năm 1945 vì năm này có sự kiện ngày 23/9/1945 là ngày Nam Bộ kháng chiến và đây cũng chính

là năm Uỷ ban Hành chính Nam Bộ được thành lập và mốc kết thúc là năm 1954 khi cuộc kháng chiến chống Pháp thành công, Uỷ ban Hành chính Nam Bộ đã hoàn thành nhiệm vụ và giải thể Như vậy, thời gian của tài liệu chủ yếu tập trung vào giai đoạn kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, từ những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến cho đến khi cuộc kháng chiến kết thúc và giành thắng lợi

Toàn bộ tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ do cán bộ miền Nam tập kết đưa ra Bắc giao nộp cho Văn phòng Phủ Thủ tướng và cơ quan này đã bàn giao cho Kho Lưu trữ Trung ương (nay là Trung tâm lưu trữ Quốc gia I) năm 1963 Đến năm 2001, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I đã bàn giao lại khối tài liệu Phông lưu trữ này cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Về số lượng, Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ gồm 1163 hồ sơ tương ứng với

1163 đơn vị bảo quản nhưng chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu và giới thiệu khái quát nội dung của 1010 hồ sơ Từ hồ sơ số 1010 đến hồ sơ số 1163 là những tập chứng từ được đánh giá là không mấy giá trị, nhưng vẫn phải giữ lại toàn bộ vì đây được coi là những tài liệu hình thành trong thời kỳ tương đối đặc biệt, số lượng tài liệu lưu trữ mà nhà nước ta lưu giữ được không nhiều

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các thông tin tài liệu lưu trữ có trong Phông, giá trị của các tài liệu trong Phông; công tác tổ chức khoa học, khai thác và

sử dụng tài liệu trong Phông

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu của luận văn, cần tiến hành nghiên cứu:

Trang 9

- Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Kháng chiến Hành

6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề giới thiệu tài liệu lưu trữ từ lâu đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu, các học viên, sinh viên đại học ngành Sử học và ngành Lưu trữ học Các công trình nghiên cứu này thể hiện dưới dạng khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, các bài viết trên tạp chí, các cuốn sách…được chia thành các nhóm sau:

- Về khoá luận tốt nghiệp có đề tài “Giới thiệu tài liệu văn kiện khối văn xã của Phông lưu trữ Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội trong thời kỳ khôi phục kinh

tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Thủ đô (1954 – 1960) của Đỗ Thị Vinh (khoá 1972 – 1976) chuyên ngành Lưu trữ học, Khoa Lịch sử; “Bước đầu đánh giá giá trị tài liệu văn kiện Phông Uỷ ban kế hoạch nhà nước giai đoạn 1965 – 1968” của Nguyễn Văn Vũ (khóa 1977 – 1981); ”Phông lưu trữ Bộ Nông lâm và Phông lưu trữ Phủ Thủ tướng - Nguồn tài liệu quan trọng nghiên cứu sản xuất nông nghiệp Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954)” của Đỗ Thị Thu Huyền (khoá 1997 – 2001), Khoa Lưu trữ học và Quản trị Văn phòng; “Phong trào thi đua ái quốc thời kỳ kháng chiến chống Pháp” của Nguyễn Thị Kim Chi (khoá 1996 – 2000)…

- Về luận văn thạc sỹ của học viên cao học có đề tài: “Tài liệu Phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 – 1992) - Nguồn sử liệu giá trị cần được công bố, phục

vụ nghiên cứu lịch sử” của Đào Đức Thuận (khóa 2001 – 2004), chuyên ngành Lưu

Trang 10

trữ học và tư liệu học; “Nguồn tài liệu về tổ chức cán bộ và lao động tiền lương trong Phông lưu trữ Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ (1973 – 1994) bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III” của Đỗ Thị Thu Huyền (khoá 2003 – 2006) …

- Về luận án tiến sỹ có đề tài: “Nghiên cứu nguồn sử liệu về phong trào thi đua yêu nước trong Phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945 – 1954) của Trần Thương Hoàng…

- Về các công trình nghiên cứu, có đề tài: “Nguồn tư liệu ảnh về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)” của PGS TS Đào Xuân Chúc…

Các khóa luận tốt nghiệp đã giới thiệu một cách khái quát thành phần, nội dung, đặc điểm của tài liệu theo nhóm cụ thể, dễ tiếp cận Riêng đối với các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ và các công trình nghiên cứu thì có khảo sâu hơn về các vấn đề dưới góc độ sử liệu học

- Về sách, có cuốn: “Sách chỉ dẫn các phông lưu trữ bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III” do nhóm tác giả Phạm Thị Bích Hải, Vũ Thị Minh

Hương, Trần Thị Hương, Philipe Le Failler, Nguyễn Minh Sơn biên soạn và xuất

bản năm 2006; “Nam Bộ kháng chiến (1945 – 1954) qua tài liệu lưu trữ” do cán bộ

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III biên soạn và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát

hành năm 2007; “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến”, Nhà xuất Bản Hành chính – Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 2010…

- Tạp chí Văn thư – Lưu trữ cũng đã có một chuyên mục chuyên về công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ và đã đăng nhiều bài viết về công bố, giới thiệu tài liệu lưu

trữ như bài viết “Một số ý kiến của đồng chí Lê Duẩn về Tổng động viên tại Hội nghị lần thứ III của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, tháng 4/1950” của

tác giả Nguyễn Minh Sơn đăng trên tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam số 4/2007;

bài giới thiệu “Chỉ thị của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ về việc chọn tài liệu chuyển ra miền Bắc năm 1954” của TS Nghiêm Kỳ Hồng đăng trên tạp chí

Văn thư – Lưu trữ số 11/2009…

- Ngoài các công trình nghiên cứu dưới dạng các tài liệu chữ viết, tài liệu ảnh

kể trên, việc công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ dưới dạng tài liệu điện tử cũng được

đưa lên Website của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước như bài viết “Giới thiệu bản Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam” của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III…

Trang 11

Mặc dù trên thực tế có rất nhiều khoá luận, luận văn, luận án, công trình nghiên cứu khoa học, sách, báo, tạp chí, website đã hướng tới việc giới thiệu tài liệu lưu trữ trên hai dạng chính là giới thiệu tổng quan hoặc khảo sâu một hoặc một vài vấn đề mà tài liệu đề cập đến Tuy nhiên, việc giới thiệu một cách khái quát về nội dung và đánh giá giá trị của toàn bộ tài liệu Phông Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ thì chưa có tài liệu nào đề cập đến

7 Nguồn tài liệu tham khảo

Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số tài liệu tham khảo chính như:

- Sách, giáo trình về công tác lưu trữ như cuốn “Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ” do nhóm tác giả Đào Xuân Chúc, Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền,

Nguyễn Văn Thâm biên soạn và Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp

ấn hành năm 1990…

- Hồ sơ Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, mục lục hồ

sơ Phông Lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, mục lục hồ sơ Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiếnHhành chính các tỉnh Nam Bộ, mục lục hồ sơ Phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (quyển 1), mục lục hồ sơ Phông lưu trữ Bộ Nội vụ và một số hồ sơ của các Phông này có liên quan đến Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ;

- Các khoá luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu như chúng tôi đã đề cập ở mục “lịch sử nghiên cứu vấn đề”;

- Các sách, báo, tạp chí, website như cuốn sách “Nam Bộ kháng chiến (1945 – 1954) qua tài liệu lưu trữ” mà chúng tôi đã đề cập ở phần trên, các bài viết trong chuyên mục “Công bố - Giới thiệu tài liệu” của Tạp chí Văn thư – Lưu trữ Việt

Nam, các bài viết về công bố, giới thiệu tài liệu đăng trên website của Cục Văn Thư

và Lưu trữ nhà nước…

8 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như sau:

* Phương pháp luận nghiên cứu

Trang 12

- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin được thể hiện ở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp này được chúng tôi

áp dụng xuyên suốt luận văn khi viết những phần lý luận chung

* Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp sử liệu học được tiến hành khi chúng tôi xem xét, xác định giá trị, độ tin cậy của tài liệu trong phông…

- Phương pháp thống kê được áp dụng khi chúng tôi kiểm tra số lượng hồ sơ và đơn vị bảo quản có trong Phông; số lượng các tài liệu đề cập về các vấn đề trong Phông…

- Phương pháp phân loại, hệ thống hoá tài liệu được áp dụng khi chúng tôi chọn các vấn đề tiêu biểu cần giới thiệu và nhóm các vấn đề theo một trình tự logic và hợp lý…

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi tổng hợp thông tin có trong

hồ sơ thành các vấn đề theo hệ thống Ngoài ra phương pháp này còn được chúng tôi vận dụng khi phân tích giá trị của tài liệu, chất lượng của các hồ sơ được lập…

9 Đóng góp của luận văn

Thứ nhất, luận văn giúp người đọc, người nghiên cứu có thể nắm được khái quát nội dung thông tin của các tài liệu Phông Lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ theo hệ thống, từ đó có thể hình dung được các mặt hoạt động của một Uỷ ban Kháng chiến Hành chính cấp Kỳ trong kháng chiến chống Pháp

Thứ hai, luận văn có đưa ra một số những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện việc tổ chức khoa học, phục vụ khai thác, sử dụng khối tài liệu Phông và phát huy một cách tích cực giá trị của các tài liệu này

Thứ ba, luận văn góp phần nâng cao nhận thức của các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu và nhân dân về giá trị của tài liệu lưu trữ nói chung và giá trị của tài liệu lưu trữ trong Phông Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ nói riêng

10 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận luận văn gồm ba chương chính như sau:

Chương 1: Tổng quan về Phông Lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

Nội dung của chương 1 sẽ giới thiệu sơ lược về sự ra đời và phât triển của UBKCHC Nam Bộ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBKCHC Nam Bộ; tổ chức bộ máy và đặc điểm về hoạt động của Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam

Trang 13

Bộ; lịch sử Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ và thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu trong Phông

Chương 2: Nội dung thông tin tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

Trong chương này chúng tôi sẽ giới thiệu toàn bộ thông tin tài liệu trong Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ Nguồn thông tin này rất đa dạng, phong phú và được chúng tôi tổng hợp, giới thiệu theo hệ thống như: thông tin tổng hợp; thông tin về tổ chức – cán bộ; thông tin về chính trị, an ninh - trật tự; thông tin về quân sự – quốc phòng - quân đội; thông tin về tòa án – tư pháp; thông tin về phong trào thi đua yêu nước và khen thưởng thi đua; thông tin về công tác văn thư – lưu trữ; thông tin liên lạc hành chính; thông tin về kinh tế - tài chính;

thông tin về công tác Đảng, Đoàn Thanh niên và các đoàn thể khác

Chương 3: Giá trị tài liệu và công tác tổ chức khoa học, khai thác, sử dụng tài liệu Phông lưu trữ Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

Ở chương 3, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích giá trị của các tài liệu trong Phông, những ưu điểm và hạn chế trong công tác tổ chức khoa học, khai thác, sử dụng tài liệu có ảnh hưởng tới việc phát huy giá trị của tài liệu Đồng thời, trong chương 3 cũng sẽ phân tích nguyên nhân của những hạn chế và đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa giá trị của tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kinh nghiệm nghiên cứu nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp của thầy cô giáo và các bạn học viên nhằm giúp cho

luận văn hoàn thiện hơn

Học viên

Lê Tuyết Mai

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÔNG LƯU TRỮ

UỶ BAN KHÁNG CHIẾN HÀNH CHÍNH NAM BỘ 1.1 Sơ lược lịch sử về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của UBKCHC Nam Bộ

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã đưa đến sự hình thành bộ máy nhà nước từ Trung ương tới địa phương với mục đích xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc và mang lại dân chủ, tự do cho nhân dân Để thực hiện hai mục đích cơ bản và hết sức quan trọng này, ở Trung ương, ngày 3/9/1945 Chính phủ lâm thời đã họp phiên đầu tiên, thảo luận và quyết định sẽ

tổ chức tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra sôi nổi trong cả nước và giành thắng lợi, Quốc hội khóa I được thành lập Đến ngày 3-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết tán thành Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập trong kỳ họp thứ hai của Quốc hội, diễn ra từ ngày 28 – 10 đến 9-11-1946 Như vậy, đến kỳ họp thứ hai của Quốc hội, với việc ra đời của Chính phủ mới, về cơ bản, bộ máy chính quyền ở Trung ương đã được kiện toàn

Riêng ở địa phương, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, về mặt hành chính, chính quyền các cấp đã được thành lập bao gồm cấp kỳ, tỉnh (thành phố), huyện và

xã Tuy nhiên, tổ chức và hoạt động của các các ủy ban hành chính và hội đồng nhân dân các cấp này chỉ được quy định rõ ràng kể từ khi Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức các hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính được ban hành Đây chính là văn bản căn bản nhất quy định chính quyền nhân dân các cấp ở địa phương, là cơ sở để tiến hành tổ chức bộ máy nhà nước ở địa phương Theo Sắc lệnh này, ở cấp xã và tỉnh có hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính, ở các cấp huyện và kỳ chỉ có ủy ban hành chính Ở Nam Bộ, do là một đơn vị hành chính cấp kỳ nên việc thành lập Ủy ban Hành chính Nam Bộ cũng được tiến hành khẩn trương cùng với việc thiết lập các đơn

vị hành chính khác ở cấp tỉnh, huyện, xã trên toàn khu vực Nam Bộ ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công

Trang 15

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tổ chức bộ máy nhà nước ta đã dần dần hoàn thiện từ Trung ương tới địa phương, nhưng trong thời gian này, thực dân Pháp dưới sự hậu thuẫn của quân Anh vẫn rắp tâm trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai Đỉnh điểm là ngày 23 – 9 – 1945, chúng đã nổ súng gây hấn ở Sài Gòn Cũng ngay sáng 23 –

9 – 1945, trong khi quân và dân Sài Gòn đang chống trả địch quyết liệt, Xứ ủy và Ủy ban Hành chính Nam Bộ đã họp tại đường Cây Mai, Chợ Lớn và đi đến thống nhất là xin phép Trung ương cho phát động cuộc kháng chiến trên thực tế Cuộc họp cũng đã quyết định thành lập Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do đồng chí Trần Văn Giàu làm chủ tịch với mục đích là lãnh đạo, điều hành cuộc kháng chiến tại Nam Bộ Như vậy, đến cuối năm 1945, Ủy ban Hành chính Nam Bộ và Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ là hai cơ quan tồn tại song song với nhau, hỗ trợ cho nhau để cùng thực hiện một mục tiêu chung là kháng chiến chống Pháp, giành độc lập dân tộc

Đến năm 1946, dựa trên tình hình thực tế, Chính phủ đã ra quyết nghị thành lập

Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam và Ủy ban Kháng chiến miền Nam Trung

Bộ Ngày 13 – 9 – 1946, căn cứ vào tình trạng hiện thời lúc bấy giờ cần phải thống nhất Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam và Ủy ban Kháng chiến miền Nam Trung Bộ để thống nhất hành động và chỉ huy công cuộc kháng chiến tại miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Chính phủ đã ra Sắc lệnh số 182 ngày 13/9/1946 về việc cải tổ lại UBKC miền Nam Việt Nam nhằm thống nhất hành động và chỉ huy trong công cuộc kháng chiến tại miền Nam Việt Nam

Ngày 30/12/1947, Chủ tịch Chính phủ ban hành Nghị định số 102/CT về việc thành lập UBKC - HC Nam Bộ Như vậy, theo Nghị định 102/CT, UBKC – HC Nam Bộ đã chính thức được thành lập1

Đầu năm 1948, căn cứ vào nhu cầu của cuộc kháng chiến, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 120/SL ngày 25/1/1948 về việc hợp nhất các Khu thành các Liên khu Theo điều 7 của Sắc lệnh, Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam đổi thành Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Trung Bộ

và Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Bộ Như vậy, kể từ ngày 25/1/1948,

1 Hiện chúng tôi vẫn chưa tiếp cận được với văn bản này nên mới chỉ biết đến văn bản mà chưa rõ nội dung văn bản

Trang 16

hai cơ quan mới là Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Bộ và Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Trung Bộ được thành lập và đi vào hoạt động

Sau khi Sắc lệnh số 91/SL và Sắc lệnh số 120/SL được ban hành và có hiệu lực, ngày 29/3/1948 Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh

số 49/SL bỏ chữ “kiêm” trong danh từ ủy ban kháng chiến kiêm hành chính Như vậy, các Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính các cấp cũ kể từ ngày 29/3/1948 sẽ chỉ còn gọi là ủy ban Kháng chiến Hành chính (viết tắt là UBKCHC) Kể từ thời điểm này, Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Bộ được gọi là Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của cả nước nói chung và nhân dân Nam

Bộ nói riêng qua 9 năm chiến đấu gian khổ và hi sinh, đã kết thúc và giành thắng lợi vào năm 1954 Vào thời điểm này, cách mạng Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, hoàn thành độc lập dân tộc, dân chủ và thống nhất đất nước Trước tình hình đó, phiên họp của Hội đồng Chính phủ vào trung tuần tháng 9/1954 do Hồ Chủ tịch làm chủ tọa đã quyết định đổi tên Ủy ban Kháng chiến Hành chính các cấp thành Ủy ban hành chính Do đó, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ cũng được đổi tên thành Ủy ban Hành chính Nam Bộ

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của chính quyền Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1954

Về mặt chức năng, là một chính quyền nhân dân cấp Kỳ, Ủy ban Hành chính

Nam Bộ (sau này gọi là UBKCHC Nam Bộ) là cơ quan hành chính, vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho chính phủ [28, tr.131 ]

Nhiệm vụ, quyền hạn của các Ủy ban Hành chính cấp kỳ nói chung và Ủy ban Hành chính Nam Bộ nói riêng được quy định lần đầu tiên tại Tiết thứ sáu của Sắc lệnh số 63/SL ngày 22 tháng 11 năm 1945 như sau:

1, Thi hành các mệnh lệnh của Chính phủ;

2, Kiểm soát các Ủy ban Hành chính và Hội đồng nhân dân cấp dưới;

3, Duyệt y các quyết nghị của Hội đồng nhân dân Tỉnh theo điều thứ 84;

4, Xử những kháng cáo của hội đồng nhân dân xã khi cơ quan hành chính tỉnh thủ tiêu hay không chuẩn y những quyết nghị của Hội đồng;

5, Điều khiển các viên chức thuộc ngạch kỳ;

Trang 17

6, Ra nghị định để thi hành các luật lệ theo mệnh lệnh của Chính phủ trong phạm vi kỳ;

7, Kiểm soát các cơ quan chuyên môn về cách thừa hành chức vụ;

8, Cho phép trưng khẩn đất công đến một phạm vi sẽ định sau;

Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức công cuộc kháng chiến tại nam phần Trung Bộ (từ Quảng Nam trở vào) và Nam Bộ

Về phương diện quân sự, Ủy ban Kháng chiến miền Nam tổ chức công cuộc kháng chiến toàn dân, điều khiển và chỉ huy bộ đội trong những miền thuộc phạm vi của Ủy ban

Về phương diện hành chính và chuyên môn, Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam:

a, Trong những trường hợp khẩn cấp và nghiêm trọng đặc biệt, có ủy quyền để tuyên bố và thi hành việc thiết quân luật ở những địa phương nào xét ra cần, theo những cách thức đã quy định trong Sắc lệnh số 77 ngày 29 tháng 5 năm 1946;

b, Trái lại, trong lúc bình thường, các cơ quan Hành chính và chuyên môn ở địa phương vẫn làm việc theo quy tắc chung Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam chỉ có quyền liên lạc với các cơ quan đó để thảo luận và giải quyết những vẫn đề có liên quan đến công cuộc kháng chiến [29, tr.523 – 524]

Đến ngày 19 tháng 11 năm 1948, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

đã ban hành Sắc lệnh số 254/SL về tổ chức lại chính quyền nhân dân trong thời kỳ kháng chiến Theo Sắc lệnh này thì UBKCHC Nam Bộ, vì là một UBKCHC Liên khu nên nhiệm vụ và quyền hạn được quy định từ điều 12 đến điều 27, mục 2 như sau:

- UBKCHC Liên khu là cơ quan chính quyền địa phương có nhiệm vụ:

1, Thực hiện ở Liên khu chính sách của Chính phủ;

2, Lãnh đạo công cuộc kháng chiến toàn diện trong Liên khu;

Trang 18

3, Thi hành hoặc đôn đốc thi hành các Sắc lệnh, nghị định, mệnh lệnh của Chính phủ;

4, Điều hòa và phối hợp với các ngành hoạt động thuộc phạm vi liên khu;

5, Kiểm soát tất cả các ngành hoạt động thuộc phạm vi liên khu đứng về phương diện:

a, Chủ trương, chính sách của Chính phủ;

b, Chỉ thị, kế hoạch của Chính phủ;

c, Tinh thần làm việc và sự mẫn cán của nhân viên thừa hành

6, Phụ trách sự trị an trong liên khu

7, Điều khiển và kiểm soát UBKCHC cấp dưới

- Lúc thường UBKCHC Liên khu có thể, trong phạm vi liên khu mình:

1, Đặt quy tắc để thi hành những Sắc lệnh, nghị định hay chỉ thị của Chính phủ

2, Đặt quy tắc về cảnh sát

- Trong trường hợp cần kíp, phải giải quyết những vấn đề mà chưa có Sắc lệnh, nghị định, chỉ thị quy định rõ, thì UBKCHC có thể đặt những quy tắc tạm thời được thi hành ngay…[32, tr.3 – 5]

Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn kể trên, do UBKCHC Nam Bộ được coi là UBKCHC Liên khu mà sự liên lạc với Trung ương có nhiều khó khăn nên tại tiết 1, chương thứ ba của Sắc lệnh 254/SL cũng quy định những vấn đề UBKCHC Liên khu được phép quyết định trong những trường hợp khó khăn liên lạc với Trung ương như sau:

- UBKCHC Liên khu được Chính phủ ủy quyền kiểm soát về mọi phương diện của tất cả các ngành hoạt động trong Liên khu

- UBKCHC Liên khu có thể được các Bộ ủy quyền điều khiển về một hay nhiều phương diện, các ngành hoạt động sở quan trong liên khu

- UBKCHC Liên khu được ủy quyền ra lệnh thiết quân luật và bãi quân luật trong Liên khu

- UBKCHC Liên khu có thể cho phép mở các cuộc lạc quyên [32, tr.9]

1.1.3 Tổ chức bộ máy của UBKCHC Nam Bộ

Để thực hiện được những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như đã nêu trên,

UBKCHC Nam Bộ được tổ chức qua từng thời kỳ như sau:

Do UBHC Nam Bộ là một đơn vị hành chính cấp kỳ nên theo Sắc lệnh số 63/SL ngày 22 tháng 11 năm 1945 về tổ chức các Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính

Trang 19

thì ở mỗi kỳ sẽ đặt một ủy ban hành chính gồm có 5 ủy viên chính thức (1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch, 1 thư ký, 2 ủy viên và 2 ủy viên dự khuyết) [28, 134]

Đến ngày 13 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ ban hành Sắc lệnh số

182/SL về việc cải tổ lại UBKC miền Nam Việt Nam quy định Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam có từ bảy đến chín ủy viên, trong số đó có 1 ủy viên đại biểu

Ủy ban Hành chính Nam Bộ và một ủy viên đại biểu Ủy ban Hành chính Trung Bộ

Ủy ban do một Chủ tịch và hai phó chủ tịch điều khiển [29, tr.523]

Sau khi hợp nhất các Khu thành các Liên khu, đổi Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam thành Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Trung Bộ và Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Bộ (Sắc lệnh số 120/SL ngày 25/1/1948) thì tổ chức bộ máy của UBKCHC Nam Bộ được thực hiện theo Sắc lệnh số 254/SL ngày

19 tháng 11 năm 1948 về tổ chức lại chính quyền nhân dân trong thời kỳ kháng chiến

là: Ở mỗi liên khu, đặt một UBKCHC Liên khu gồm có 5 hay 7 ủy viên (trong đó 1 ủy viên quân sự) do Sắc lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa chỉ định theo đề nghị của Hội đồng Quốc phòng tối cao; UBKCHC Liên khu có 1 Chủ tịch và

1 Phó Chủ tịch, cũng do Sắc lệnh chỉ định như trên, trong số các ủy viên [32, tr.4]

Để giúp việc cho UBKCHC Nam Bộ, ngày 27/7/1949, UBKCHC Nam Bộ đã ban hành Nghị định số 239/NĐ về việc tổ chức Văn phòng UBKCHC Nam Bộ, nghị định này sau đó được thay thế bởi Nghị định số 17/NB – 51 ngày 7/1/1951 Theo nghị định số 17/NB – 51 thì tổ chức Văn phòng UBKCHC sẽ gồm 7 phòng với nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Phòng 1: Công văn đi, đến, lưu trữ công văn, mật mã và điện đài, giao thông liên lạc, công chính, quản lý vật liệu, dụng cụ, công tác đội, tiếp tân, khánh tiết, hội nghị, giao thiệp, ấn loát, phổ biến tài liệu (in và gởi); những việc linh tinh không thuộc phạm vi phòng khác

- Phòng 2: Tài chính, ngân sách, kế toán, địa chính

- Phòng 3: Chương trình, kế hoạch, tổ chức, báo cáo, thống kê, thi đua ái quốc, tổng động viên, pháp chế

- Phòng 4: Khảo huấn, tư thơ, thư viện, văn hóa giáo dục, tập san Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ

Trang 20

- Phòng 5: Chánh trị, Công an, thông tin, tin tức, báo chí, quân sự, tư pháp, ngoại vụ

- Phòng 6: Kinh tế, canh nông, tín dụng sản xuất, hội đồng kỹ thuật, y tế, xã hội, lao động, thương binh, cựu binh

- Phòng 7: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, nhân sự, khen thưởng, chỉnh phong

Đứng đầu Văn phòng UBKCHC Nam Bộ có 1 chánh văn phòng, có thể có 1 phó văn phòng giúp việc;

Mỗi phòng tại Văn phòng có 1 Trưởng phòng, có thể có 1 hay 2 Phó trưởng phòng phụ sự [253, tr.14]

Về tổ chức của các cơ quan chuyên môn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) như sau:

+ Các Sở:

- Sở Công chính;

- Sở Giao thông liên lạc;

- Sở Thông tin tuyên truyền (sau đổi thành Sở Thông tin);

- Ban Kinh tế - Tài chính;

- Ban Xã hội và Thương binh;

- Ban Chấp hành Nông dân cứu quốc;

- Ban Y tế;

- Ban sản xuất;

Trang 21

- Ban tiếp tế miền Nam Việt Nam;

- Ban quân sự

+ Các Phòng

- Phòng Hợp tác xã;

- Phòng Vô tuyến điện;

+ Viện: Viện Văn hóa Kháng chiến

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, các cơ quan chuyên môn của của các ngành đặt tại UBKCHC Nam Bộ chịu sự lãnh đạo song trùng Về mặt lãnh thổ, các cơ quan này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBKCHC Nam Bộ còn về mặt chuyên môn, các cơ quan này chịu sự quản lý ngành dọc của cơ quan cấp trên là các Bộ

1.1.4 Đặc điểm về hoạt động của UBKCHC Nam Bộ

Trong kháng chiến chống Pháp, địch chiếm đóng nhiều tỉnh, thành phố của cả ba miền Bắc, Trung, Nam nên Chính phủ Trung ương phải chuyển lên chiến khu Việt Bắc để lãnh đạo cuộc kháng chiến Do đó, việc thông tin liên lạc giữa Trung ương với các địa phương, nhất là Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ xa xôi gặp nhiều khó khăn Trong hoàn cảnh này, UBKCHC Nam Bộ có vai trò to lớn trong lãnh đạo và

tổ chức cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Nam Bộ Để thực hiện được sự lãnh đạo này, UBKCHC Nam Bộ được giao một số quyền hạn đặc biệt nhất định thể hiện ở Công văn số 110/CT ngày 28/2/1951 của UBKCHC Nam Bộ gửi

Thủ tướng Phủ: “Trung ương đã nhận thấy hoàn cảnh và điều kiện đặc biệt cho nên

đã chú ý để cho Nam Bộ tùy điều kiện và nhu cầu để mà áp dụng chủ trương của Trung ương cho thích hợp và đề nghị sửa đổi” [252, tr.9]

Về lề lối làm việc giữa UBHC Nam Bộ và các cấp, các ngành ở Nam Bộ được quy định tại Công văn như sau:

“1, Thực hiện nguyên tắc tập thể chỉ huy, cá nhân phụ trách: thường tham khảo ý kiến các Ủy viên rất đầy đủ trong những vấn đề căn bản quan trọng

2, Thực hiện dân chủ tập trung: tham khảo rộng rãi ý kiến của các đoàn thể, các ngành chuyên môn, các Sở phòng, các Bộ Tư lệnh;

3, Uyển chuyển, linh động, biết sửa đổi lề lối làm việc kịp thời cho hợp với hoàn cảnh, tổ chức làm việc được tiến bộ…” [252, tr.9]

Trang 22

Bên cạnh đó, Công văn cũng đề cập đến những khó khăn về vấn đề liên lạc và cách

làm việc giữa Nam Bộ với Trung ương: “đôi khi có những chủ trương chuyên môn đưa vào với lệnh phải thi hành ngay và trong một thời gian nhất định, hoặc có những chủ trương đưa vào với lệnh phải thực hiện theo đúng quy định của Trung ương, mà điều kiện làm việc và nhu cầu đặc biệt ở Nam Bộ, cũng như điều kiện liên lạc giao thông rất khó khăn chậm trễ giữa cấp Nam Bộ và Tỉnh, giữa Tỉnh và Xã không cho phép Nam Bộ thi hành đúng thời hạn hoặc thi hành đúng theo quy định của Chính phủ được”…”có những nhận định quan trọng để thi hành nhưng Sắc lệnh gửi vào rất trễ như những nghị định liên Bộ về vấn đề sử dụng đất bỏ hoang và đất vắng chủ (trên 5 tháng sau ngày ký nghị định)”…”những đề nghị và câu hỏi của Bộ thường được giải quyết trả lời, nhưng phải chờ rất trễ Những bản tổng kết tình hình chung trong nước và thế giới, những thông cáo về những nghị quyết của Hội đồng Chính phủ rất hữu ích cho Nam

Bộ lãnh đạo được kịp thời, những chương trình làm việc 3 tháng của các Bộ cũng gửi vào cho Nam Bộ và có được vài Bộ gửi đến…”[252, tr.1]

Để giải quyết những khó khăn trong vấn đề liên lạc và cách làm việc, cũng trong Công văn này, UBKCHC Nam Bộ đã đưa ra những đề nghị đối với Chính phủ Trung

ương về việc báo cáo như sau: “về việc báo cáo tình hình chung, chúng tôi đề nghị Chính phủ Trung ương cho làm 6 tháng/lần Ngoài ra sẽ gửi báo cáo bất thường về biến cố quan trọng và những báo cáo hàng tháng về những điểm đặc biệt trong tình hình chính trị quân sự và những vấn đề quan trọng Ngoài ra, về những tài liệu thuộc các ngành chuyên môn, về nguyên tắc, chúng tôi đề nghị các Bộ chỉ điện hỏi Nam Bộ những điều cần có ích thiết thực Điều kiện liên lạc vô tuyến điện hiện tại là một trong việc báo cáo và chưa cho phép Nam Bộ báo cáo đầy đủ theo lệnh các Bộ UBKCHC Nam Bộ đã cố gắng sửa chữa những điều kể trên, đã quy định lại rõ ràng

và đầy đủ lề lối làm việc, tổ chức văn phòng, cách lãnh đạo các ngành chuyên môn

và các Tỉnh, cách tổ chức thi hành chủ trương, chỉ thị của Chính phủ, tổ chức và lề lối kiểm tra” [252, tr 2]

1.2 Lịch sử Phông lưu trữ Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

Trước năm 1991, tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ vẫn trong tình trạng

bó, gói, chưa được phân loại, lập hồ sơ nên rất khó khăn trong việc tra tìm Đến năm

1991, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I đã tiến hành chỉnh lý tài liệu Phông và tổ chức

Trang 23

công cụ tra cứu là mục lục hồ sơ Sau đó, vào tháng 6/1995, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III được thành lập với nhiệm vụ bảo quản tài liệu từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến nay thì toàn bộ các Phông lưu trữ từ năm 1945 trở đi đã được Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I bàn giao cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (bao gồm cả Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ) Năm 2001,Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III tiến hành chỉnh lý lại Phông này kết hợp với quá trình tu bổ, phục chế những tài liệu đã bị hư hỏng nhằm phục vụ tốt hơn cho việc tổ chức và sử dụng tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ có một số những đặc điểm nổi bật như sau:

- Giới hạn Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ: Phông UBKCHC Nam Bộ gồm tài liệu của UBHC Nam Bộ, UBKC – HC Nam Bộ và UBKCHC Nam Bộ

- Về thời gian tài liệu: Từ năm 1945 – 1955; tuy nhiên, số tài liệu còn giữ lại được chỉ tâp trung chủ yếu vào thời gian từ năm 1947 – 1954

- Số lượng tài liệu: Do Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ rất quan trọng và gồm nhiều tài liệu quý, hiếm, phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam

Bộ và hoạt động của UBKCHC Nam Bộ nên toàn bộ tài liệu được giữ lại bảo quản vĩnh viễn Hiện nay, Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ gồm 11,5 mét, tương đương với 1163 hồ sơ, từ hồ sơ 1010 đến hồ sơ 1163 là những tập hóa đơn, chứng từ ít giá trị hơn so với những tài liệu khác của toàn Phông

- Tình hình tài liệu: Hiện nay, toàn bộ tài liệu Phông đã được xác định giá trị và lập hồ sơ, tài liệu được đánh số tờ; công cụ tra cứu chủ yếu là mục lục hồ sơ và cơ

sở dữ liệu quản lý và tra tìm tự động trên máy tính

- Thành phần tài liệu: Hầu hết tài liệu Phông là tài liệu hành chính; chỉ có một số rất ít là bản đồ các tỉnh, huyện, khu

- Tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ được hệ thống hóa theo phương án:

“Mặt hoạt động – Thời gian”, vì thành phần nội dung tài liệu Phông rất phong phú,

đa dạng, phản ánh mọi hoạt động của UBKCHC Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp thể hiện qua các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội, giáo dục…

Nội dung tài liệu Phông được chia thành các mặt chính là tài liệu tổng hợp; tài liệu về nội chính; tài liệu về Kinh tế - Tài chính; tài liệu về văn hóa, xã hội; tài liệu

về Đảng, các đoàn thể và các tập chứng từ, hóa đơn

Trang 24

Nhìn chung, việc lựa chọn phương án phân loại tài liệu “Mặt hoạt động – Thời gian” cho Phông là hợp lý Đa số hồ sơ của Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ được lập đáp ứng đúng yêu cầu, tiêu đề phản ánh được nội dung bên trong hồ sơ Tuy nhiên, cũng có những trường hợp tiêu đề hồ sơ sai lệch với nội dung bên trong hồ

sơ, chưa phản ánh toàn diện toàn bộ nội dung tài liệu bên trong hồ sơ, hoặc các hồ

sơ được lập còn trùng nhau (chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn ở chương 3)

1.3 Thành phần, nội dung và đặc điểm của tài liệu Phông lưu trữ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ

1.3.1 Chủ trương chuyển tài liệu lưu trữ ra miền Bắc sau Hiệp định Giơnevơ

1954 của UBKCHC Nam Bộ

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết vào ngày 21 tháng 7 năm 1954, theo đúng cam kết, Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền Nam Việt Nam chuyển ra miền Bắc Cùng với việc tập kết cán bộ, quá trình lựa chọn và vận chuyển các tài liệu có liên quan mang ra Trung ương để phục vụ cho công tác sau này cũng được các cơ quan, trong đó có UBKCHC Nam Bộ, hết sức quan tâm, chú ý Để thống nhất việc lựa chọn những tài liệu cần thiết và quan trọng mang ra Trung ương, ngày 19 tháng 9 năm 1954, UBKCHC Nam Bộ đã ban hành Chỉ thị số 34/CT – 54 [90, tr 69 – 70] Chỉ thị quy định về những tài liệu mang ra TƯ là:

“A, Tài liệu cần cho sự bảo vệ và đấu tranh chánh trị như:

- Hồ sơ cán bộ quan trọng, lý lịch, bản kiểm thảo

- Tài liệu về tội ác của địch về các sự hư hại về chiến tranh

- Những vụ án chính trị đang theo dõi, những vụ hình hộ quan trọng chưa được giải quyết xong Những vụ án quan trọng có tính chất lịch sử tuy đã xử rồi vẫn phải chuyển hồ sơ tóm tắt ra TƯ

B, Tài liệu cần thiết cho sự kiến thiết như: thống kê và tài liệu về dân số của các chủng tộc, ruộng đất, đồn điền, cầu đường, cửa biển, sông ngòi, thuế quan

C,Tài liệu lịch sử, các sáng tác văn nghệ chưa được xuất bản, tài liệu về thành tích giáo dục, y tế và các mặt hoạt động văn hóa của ta Tài liệu về xã hội của địch

Các phong trào đấu tranh của nông dân, học sinh trí thức trước và sau Hiệp định Một ít tài liệu có tính chất lịch sử tiêu biểu cho các phong trào như truyền đơn,

áp phích, hiệu triệu v.v…

Trang 25

D, Tài liệu cần cho sự thanh toán về tài chính: thuế khóa, công phiếu, tín phiếu,v.v…

E, Các tài liệu mà TƯ có thể dùng được để nghiên cứu rút kinh nghiệm sự lãnh đạo như báo cáo, chương trình công tác từng thời kỳ, biên bản, nghị quyết của Hội nghị quan trọng (chỉ đem mỗi thứ 1 bản)

F, Nói chung những tài liệu mà xét cần cho sự tiếp tục công tác ở Nam Bộ sau này” [90, tr.69]

Còn những tài liệu giữ lại địa phương sẽ bao gồm:

“- Ở cấp Nam Bộ, Tỉnh, Huyện, cấp ủy Đảng sẽ lựa các tài liệu cần thiết cho công việc của mình

- Ở xã, những giấy tờ về giá thú, sinh tử (hộ tịch) của gia đình nào thì trả cho gia đình ấy giữ; những sổ thuế NN, những tài liệu về ruộng đất,những tài liệu có giá trị chứng từ, thì giao cho cơ sở bí mật của mỗi xã cất dấu cẩn thận để sau này dùng.”

[90, tr.70]

Riêng đối với hồ sơ cán bộ, nhân viên:

“- Hồ sơ cán bộ nhân viên ở lại miền Nam thì của người nào giao cho người ấy giữ Bộ phận theo dõi cán bộ sẽ ghi tóm tắt lý lịch và ghi bằng bí danh Nhưng đối với cán bộ cấp Khu ủy viên, Bí thư, Phó Bí thư Tỉnh ủy,Chủ tịch, Phó Chủ tịch Tỉnh

mà ở lại Nam Bộ thì hồ sơ cũng gửi ra TƯ” [90, tr 70]

Các loại tài liệu được phép hủy bỏ theo như quy định của Chỉ thị là:

“- Tài liệu TƯ gửi vào mà về nguyên tắc TƯ có giữ

- Các báo cáo chương trình công tác, biên bản nghị quyết Hội nghị, các Chỉ thị công tác không có giá trị lịch sử hay không dùng được vào việc nghiên cứu chánh sách

- Các điện văn, công văn giải quyết các vấn đề thường, v.v… và các giấy tờ linh tinh khác.” [90, tr 70]

Chỉ thị cũng hướng dẫn việc sắp xếp, tập trung và vận chuyển tài liệu ra Trung ương như sau:

“Đối với các tài liệu mang ra TƯ, UBKCHC Tỉnh tập trung tài liệu của Tỉnh và Huyện thuộc các loại trên sắp xếp lại rồi mang ra TƯ

Ở Nam Bộ, văn phòng UBKCHC Nam Bộ và các ngành mỗi nơi sẽ sắp xếp tài liệu của mình chịu trách nhiệm mang ra TƯ” [90, tr 69]

Trang 26

“…Đối với số tài liệu mang ra TƯ thì phải sắp xếp có trật tự, có bảng kê để ra ngoài đó để dễ tìm và sử dụng được” [90, tr 70]

Có thể nhận định rằng, với việc ban hành Chỉ thị số 34/CT – 54 ngày 19 tháng 9 năm 1954 về việc lựa chọn những tài liệu cần thiết và quan trọng mang ra Trung ương, UBKCHC Nam Bộ đã nhận thức rất rõ được về vai trò và giá trị của tài liệu lưu trữ đối với hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động của UBKCHC Nam Bộ nói riêng Đồng thời, Chỉ thị cũng là cơ sở để giải thích vì sao Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ thiếu nhiều tài liệu quan trọng do cơ quan Trung ương, UBKCHC Nam Bộ và các cơ quan chuyên môn ban hành

1.3.2 Thành phần tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

Như chúng tôi đã đề cập tại phần 1.2, Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ bao gồm 1163 hồ sơ tương đương với 1163 đơn vị bảo quản Đa số tài liệu Phông là tài liệu hành chính gồm các loại như Quyết định, Công văn, Báo cáo, Thông sức, Chỉ thị, Châu tri…chỉ có một số ít hồ sơ là các tập bản đồ như hồ sơ 436, hồ sơ 437 và

hồ sơ 438 Trong số 1163 hồ sơ này thì từ hồ sơ số 1010 đến hồ sơ 1163 là các tập chứng từ hóa đơn, được đánh giá là ít giá trị hơn so với các tài liệu khác nên được xếp ở cuối phông

1.3.3 Nội dung tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

Toàn bộ tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ được hệ thống hóa theo phương

án phân loại “Mặt hoạt động – Thời gian” Nội dung tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC

Nam Bộ khá đa dạng, phong phú, phản ánh mọi lĩnh vực hoạt động của UBKCHC Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp từ năm 1945 – 1954

Hiện nay, tài liệu Phông Lưu trữ UBKCHC Nam Bộ được chia thành các nhóm sau:

1, Tài liệu tổng hợp

- Chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với UBKCHC Nam Bộ;

- Chương trình, kế hoạch và báo cáo công tác thường kỳ của UBKCHC Nam

Bộ, Khu 7, 8, 9 và các ban, ngành chuyên môn;

- Hồ sơ về các đại hội, hội nghị do UBKCHC Nam Bộ triệu tập tổng kết về các mặt công tác;

2, Tài liệu về nội chính

Chỉ đạo nội chính:

Trang 27

- Chương trình, kế hoạch, báo cáo về nội chính của UBKCHC Nam Bộ và các đơn vị trực thuộc;

- Biên bản hội nghị về công tác nội chính và biên bản hội nghị quân dân chính Đảng Nam Bộ và các Phân liên khu miền Đông, miền Tây Nam Bộ;

- Tổ chức bộ máy: bầu cử, thành lập các đơn vị hành chính, thành lập, giải tán các cơ quan; cải tổ các cơ quan, tổ chức lại các cơ quan, giản chính cơ quan; quy định về việc đổi tên các cơ quan, phân biệt chức năng, nhiệm vụ các cơ quan; quy định lề lối làm việc, nội quy của các cơ quan;

- Cán bộ: quy định về việc bổ nhiệm cán bộ, chỉ định cán bộ, cho phép cán bộ

nghỉ việc, cho phép cán bộ từ chức, thuyên chuyển cán bộ, cách chức cán bộ, điều

động cán bộ, bổ nhiệm cán bộ UBKC - HC các tỉnh, bãi nhiệm cán bộ, đề bạt cán

bộ, chuẩn nhận cán bộ các quận trong tỉnh, chuẩn nhận cán bộ đảm nhiệm các chức

vụ tại các UBKC - HC tỉnh, thuyên chuyển cán bộ, xếp những nhân viên Chánh phủ các ngành các cấp vào hạng và ngạch công chức, tạm ngưng việc xếp nhân viên

Chính phủ vào ngạch công chức; khen thưởng và các hình thức khen thưởng cán bộ,

kỷ luật cán bộ; chế độ đối với cán bộ; vấn đề học tập của cán bộ;

- Chính trị: các vấn đề chung về chính trị; công tác dân vận; tài liệu về một số cá nhân đầu hàng giặc hoặc làm tay sai cho giặc;

- Quân sự: Tài liệu về chỉ đạo quân sự; chương trình, kế hoạch, báo cáo về công tác quân sự của Bộ Tư lệnh Nam Bộ và Quân đội quốc gia Việt Nam khu 7, 8, 9; Hội nghị quân sự Nam Bộ; giám sát thi hành Hiệp định sơ bộ 6/3/1946; các trận đánh; dân quân, du kích;

- Trật tự trị an trong đó có công tác bảo vệ phòng gian bảo mật, chống trộm cắp,

cờ bạc, các tệ nạn xã hội…

- Toàn án – tư pháp – thanh tra: chủ yếu là các hồ sơ vụ án

- Dân tộc, tôn giáo

3, Tài liệu về Kinh tế - Tài chính

- Chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với kinh tế - tài chính Nam Bộ; chương trình,

kế hoạch và báo cáo về kinh tế - tài chính thường kỳ của UBKCHC Nam Bộ, các Phân liên khu miền Đông, miền Tây và các tỉnh Nam Bộ; Hội nghị Ban Kinh tế - tài

Trang 28

chính Nam Bộ; Ban sản xuất tiếp tế miền Đông, miền Tây Nam Bộ; sản xuất tiết kiệm, tự cấp tự túc; đấu tranh kinh tế với địch

- Các vấn đề về nông nghiệp như: chỉ đạo chung về công tác nông nghiệp, chương trình, kế hoạch trong công tác nông nghiệp, báo cáo về công tác nông nghiệp các năm của các ngành, các ban, công tác bảo vệ lúa, mùa màng, các vấn đề liên quan đến thuế nông nghiệp;

- Các vấn đề công nghiệp: chương trình, kế hoạch của ngành công nghiệp, Ban Kinh tài Nam Bộ, vấn đề tự túc mặc, vấn đề sản xuất muối;

- Các vấn đề lâm nghiệp: chương trình, biên bản, hội nghị của ngành lâm sản, các vấn đề liên quan đến thủy lâm, lâm sản, chế độ đối với cán bộ thủy lâm;

- Các vấn đề về ngư nghiệp: quy định về mùa bảo vệ ngư sản, chương trình, biên bản, hội nghị của ngành ngư nghiệp;

- Các vấn đề về giao thông liên lạc: báo cáo tình hình chung về giao thông liên lạc; vấn đề bảo mật trong giao thông liên lạc;

- Vấn đề tài chính – ngân hàng: các quy định về trái phiếu, tín phiếu, quy định

về việc phát hành phiếu tiếp tế, chương trình tín dụng sản xuất, quy định về việc tiêu xài bạc Đông Dương, tiêu xài bạc cấm, các vấn đề liên quan đến ngân sách, các loại quỹ, tài sản quốc gia;

4, Tài liệu về văn hóa – xã hội – y tế - giáo dục – thông tin tuyên truyền và các đoàn thể

- Các vấn đề văn hóa như các quy định về cưới, hỏi, thơ ca, văn nghệ;

- Các vấn đề xã hội: quy định của UBKCHC Nam Bộ về chế độ với gia đình chính sách, chế độ đối với thương, bệnh binh, vấn đề giải ngũ của thương bệnh binh, quy định về vấn đề khen thưởng đối với gia đình có công với kháng chiến, các quy định về khen thưởng, xử phạt đối với dân chúng…

- Các vấn đề liên quan đến y tế: đường hướng, chủ trương về việc đoàn kết thống nhất đông tây y, quy định về nghề làm thuốc, thành lập các trạm cứu thương, các vấn

đề về giữ gìn vệ sinh, tài liệu liên quan đến chẩn đoán bệnh sốt rét, tài liệu về cô đỡ;

- Các vấn đề giáo dục: thành lập, giải tán các trường học, phân biệt tính chất các trường học, các vấn đề liên quan đến giáo viên và học viên tham dự các trường học,

bổ túc kiến thức, phong trào chống nạn mù chữ…

Trang 29

- Thông tin tuyên truyền: chỉ thị của UBKCHC Nam Bộ, Trung ương cục Miền Nam về việc tổ chức các ngày lễ, kỷ niệm, phát động các phong trào, học tập tấm gương anh hùng, quy định về việc gửi tài liệu cho đài phát thanh Nam Bộ, phổ biến tài liệu đến dân chúng; các quy định liên quan đến báo chí, ấn loát, thông tin tuyên truyền;

- Tài liệu về công tác Đảng: Nghị quyết hội nghị tổ chức Đảng toàn Nam Bộ, của các hội nghị khu ủy, của các chi bộ sản xuất, báo cáo về công tác đảng trong năm, lý lịch và danh sách Đảng viên chi bộ;

- Tài liệu về công tác Đoàn thể: Kế hoạch xây dựng các đoàn thể, quyết định công nhận, chuẩn y hoạt động của các đoàn thể, cho phép tổ chức các hoạt động của đoàn thể, báo cáo của Ban chấp hành công đoàn xí nghiệp;

5 Chứng từ hóa đơn

- Các tập chứng từ, hóa đơn của UBKCHC Nam Bộ, các khu, các Tỉnh

Nội dung thông tin cụ thể của những tài liệu này sẽ được giới thiệu ở Chương 2 Tuy nhiên, có thể thấy rằng, những nhóm tài liệu nêu trên đã khái quát toàn bộ nội dung tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ Các tài liệu hiện được giữ lại trong Phông mặc dù chưa đầy đủ nhưng chúng có giá trị đặc biệt không chỉ đối với các nhà nghiên cứu mà còn đối với các nhà hoạch định chính sách và đối với toàn xã hội Toàn bộ 9 năm kháng chiến gian khổ nhưng anh dũng của đồng bào và quân dân miền Nam, sự chỉ đạo sâu sát và toàn diện của UBKCHC Nam Bộ đã được phản ánh tương đối rõ nét trong khối tài liệu này Cùng với tài liệu lưu trữ Phông UBKCHCK các tỉnh Nam Bộ, tài liệu lưu trữ Phông UBKCHC Nam Bộ chính là nguồn sử liệu hết sức quý giá về phong trào kháng chiến Nam Bộ trong những năm kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954

1.3.4 Đặc điểm tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

1.3.4.1 Về mức độ hoàn chỉnh của Phông

Hiện nay, toàn bộ tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ đã được lập hồ sơ, tuy nhiên, không hoàn chỉnh Bởi trên thực tế, số lượng tài liệu giữ lại được không nhiều Rất nhiều tài liệu quan trọng liên quan trực tiếp đến việc thành lập và hoạt động của UBKCHC Nam Bộ, như Quyết nghị của Chính phủ năm 1946 về việc thành lập UBKC miền Nam và UBKC miền Nam Trung Bộ; Sắc lệnh số 182/SL ngày 13/9/1946 của Chủ tịch Chính phủ về cải tổ lại UBKC miền Nam Việt Nam;

Trang 30

Nghị định số 102/CT ngày 30/12/1947 về việc thành lập UBKCHC Nam Bộ… cũng không có trong Phông Đơn vị hình thành phông, UBKCHC Nam Bộ, mặc dù thời gian hoạt động từ năm 1945 – 1954 nhưng số lượng những tài liệu được hình thành trong những năm 1945, 1946 do UBHC Nam Bộ ban hành còn giữ lại được trong Phông là rất ít, đa số là những tài liệu có thời gian từ năm 1947 đến năm 1954

1 3.4.2 Về hình thức

+ Về đặc thù vật mang tin: Tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ đa phần được viết hoặc đánh máy trên giấy dó, độ trắng kém, hoặc các loại giấy có màu xanh, màu hồng, màu vàng

+ Về kích thước: đa phần tài liệu được in, đánh máy trên giấy kích thước lớn hơn khổ A4, một số tài liệu viết tay được đóng quyển khổ A5 Bên cạnh đó, còn có một số tài liệu khổ rất nhỏ

+ Về tình trạng vật lý: Hiện nay, tất cả các tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam

Bộ đều đã được tổ chức khoa học và được tu bổ, phục chế Nhiều tài liệu còn nguyên vẹn, có thể khai thác, sử dụng mà không gặp quá nhiều khó khăn Nhưng cũng có không ít tài liệu đã bị ăn mòn nên rất mỏng, bị mủn, bị thủng, rách, mất chữ hoặc một phần văn bản Một số tài liệu cũng đã bị nhòe mực, rất khó đọc, đặc biệt

là các tài liệu viết tay Đa số các tài liệu được in bằng mực đen, nhưng cũng có một

số văn bản được in bằng mực đỏ Đặc biệt các loại bản đồ minh họa được vẽ bằng nhiều loại mực khác nhau như mực đen, mực xanh, mực đỏ…Tuy nhiên, vì Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ được coi là Phông lưu trữ quý, hiếm của thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nên tất cả các văn bản trong phông, dù tình trạng vật lý không được tốt như những tài liệu thuộc các phông khác trong giai đoạn hiện nay nhưng vẫn được giữ lại bảo quản vĩnh viễn

+ Về kỹ thuật chế tác: Đa số văn bản được đánh máy, in rô – nê – ô, nhưng cũng vẫn có những văn bản được viết bằng tay

+ Về thể thức văn bản: Tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ được hình thành trước năm 1947 chưa chú trọng đến các yếu tố về mặt thể thức như quốc hiệu, tên cơ quan ban hành văn bản, số, ký hiệu, trích yếu nội dung văn bản, ngày, tháng văn bản…Các tài liệu hình thành sau năm 1947, đặc biệt là các Nghị định, các thông sức, thông báo, bố cáo, quyết định mặc dù đã chú ý đến các yếu tố về mặt thể

Trang 31

thức nhưng vẫn thiếu phần trích yếu nội dung văn bản Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận một thực tế rằng, trong những năm kháng chiến chống Pháp, nhà nước ta gần như chưa ban hành một quy định nào có liên quan đến công tác văn thư thì việc ban hành một văn bản với sự thiếu hoàn chỉnh về mặt thể thức của bất kỳ cơ quan nào trong giai đoạn này cũng là điều dễ hiểu

Một số những đặc điểm đáng chú ý về mặt thể thức văn bản của UBKCHC Nam

Bộ trong thời kỳ này như sau:

- Quốc hiệu: Hầu hết các văn bản do UBKCHC Nam Bộ ban hành thời kỳ kháng

chiến chống Pháp đều có quốc hiệu và được trình bày như sau:

VIỆT - NAM DÂN - CHỦ CỘNG - HÕA Độc - lập Tự - do Hạnh - phúc Tuy nhiên, Sắc lệnh số 49/SL ngày 12/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định phải ghi cả số năm sau tiêu đề “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”:

Ví dụ: Thông sức số 360TV ngày 28 tháng 5 năm 1947 của Ban Thường vụ, UBKCHC Nam Bộ về giấy phép giao thông và buôn bán thì yếu tố Quốc hiệu được trình bày như sau:

VIỆT - NAM DÂN - CHỦ CỘNG - HÕA NĂM THỨ BA

- Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản: Trong thời kỳ kháng chiến chống

Pháp, nhà nước ta hầu như chưa có quy định về công tác văn thư nhưng đa số các văn bản trong Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ chúng tôi khảo sát đều đảm bảo yếu tố tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và được trình bày cũng rất đúng với các quy định về những yếu tố này như hiện nay:

Ví dụ: Tại Thông sức số 221/TV ngày 15 tháng 3 năm 1947 của Ban Thường vụ, UBHC Nam Bộ về kiểm soát giao thông và buôn bán thì tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản là:

ỦY – BAN HÀNH – CHÁNH NAM – BỘ

BAN THƯỜNG VỤ

Trang 32

Mặc dù yếu tố tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản được UBKCHC Nam Bộ trình bày đúng quy định nhưng vẫn có những văn bản chưa trình bày chính xác tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản theo như quy định tại Sắc lệnh số 49/SL ngày 29/3/1948 Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa Nếu tuân thủ theo Sắc lệnh này thì kể từ ngày 29/3/1949, Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Bộ được gọi là Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ Tuy nhiên, tại Nghị định số 505/ND – NB ngày 15 tháng 12 năm 1948 do UBKCHC Nam Bộ ban hành về việc chuẩn nhận sự đổi tên “Hội Sinh – viên Việt – Nam Nam – Bộ ra “Đoàn Sinh – viên Việt – Nam, Chi – đoàn Nam - Bộ” thì tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản là:

“ỦY – BAN KHÁNG – CHIẾN KIÊM HÀNH – CHÁNH NAM BỘ” thay vì phải là

“ỦY – BAN KHÁNG – CHIẾN HÀNH – CHÁNH NAM BỘ” Đây chính là sai sót phổ biến mà một số văn bản trong Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ mắc phải

- Số, ký hiệu văn bản: Hầu hết các văn bản do UBKCHC Nam Bộ và các cơ

quan chuyên môn ban hành đều đã chú ý tới việc ghi số và ký hiệu văn bản Cách trình bày yếu tố “số, ký hiệu văn bản” được thể hiện dưới hai dạng:

Thứ nhất, số, ký hiệu văn bản ghi ngay bên phải yếu tố thông tin “tên loại văn bản”

Ví dụ: Thông sức số 221/TV ngày 15 tháng 3 năm 1947 của Ban Thường vụ, UBKCHC Nam Bộ ban hành về kiểm soát giao thông và buôn bán thì số,ký hiệu văn bản được trình bày như sau:

ỦY BAN HÀNH – CHÁNH NAM – BỘ

BAN THƯỜNG VỤ

VIỆT – NAM DÂN – CHỦ CỘNG – HÕA Độc – lập Tự - do Hạnh – phúc

THÔNG - SỨC Số 22I/TV KIỂM SOÁT GIAO – THÔNG VÀ BUÔN – BÁN

Thứ hai, số, ký hiệu văn bản trình bày ở góc trái của văn bản, dưới yếu tố thông tin “Tên cơ quan ban hành văn bản” như ngày nay:

Ví dụ: Huấn lệnh số 14/HL 54 ngày 23 tháng 10 năm 1954 của Quân khu ủy và

Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây về việc chuyển quân thì số, ký hiệu văn bản trình bày như sau:

Trang 33

QUÂN KHU ỦY VÀ BỘ TƯ LỆNH

PHÂN LIÊN KHU MIỀN TÂY

Số: 14/HL54

VIỆT – NAM DÂN – CHỦ CỘNG – HÕA Độc – lập Tự - do Hạnh – phúc

HUẤN LỆNH (V/v chuyển quân)

Tuy nhiên, cũng có trường hợp, văn bản không ghi số, ký hiệu văn bản hoặc chỉ ghi ký hiệu mà không ghi số của văn bản

Ví dụ 1: Công điện ngày 11 tháng 4 năm 1954 của Sở Tuyên & Văn Nam Bộ về việc hướng dẫn thực hiện bình tuyển cán bộ, chiến sỹ của Ngành (văn bản không có

số, ký hiệu)

Ví dụ 2: Chỉ thị số………DB – CT ngày 14 tháng 1 năm 1954 của Trung ương cục Miền Nam về việc kịp thời khuếch trương những chiến thắng quan trọng về quân sự và chính trị để hoàn thành nhiệm vụ trung tâm (văn bản không có số)

- Cách ghi ký hiệu văn bản: Lúc bấy giờ chưa có quy định của nhà nước về cách ghi số, ký hiệu văn bản Việc ghi số, ký hiệu chủ yếu theo cách ghi thời Pháp thuộc hoặc tùy tiện đặt ra Qua khảo sát một số văn bản của các cơ quan gửi tới UBKCHC Nam Bộ chúng tôi thấy có một vài cách ghi số, ký hiệu văn bản như sau:

+ Văn bản chỉ ghi nhóm chữ viết tắt tên cơ quan ban hành văn bản như: Thông sức số 223/TV ngày 17 tháng 3 năm 1947 của Ban Thường vụ, UBHC Nam Bộ về việc phòng gian; Chỉ thị chính trị số 30/TV ngày 12 tháng 01 năm 1947 của Ban Thường vụ, UBHC Nam Bộ về việc đối phó trước những xuyên tạc của Pháp sau khi chúng gây sự đổ máu khắp Việt Nam; Châu tri số 65/TV – 3 ngày 16 tháng 10 năm 1948 của Ban Thường vụ, UBKCHC Nam Bộ về việc bảo vệ tài liệu…

+ Văn bản chỉ ghi chữ viết tắt tên loại văn bản hoặc ghi chữ viết tắt tên loại văn bản cùng với số năm ban hành văn bản như: Chỉ thị số 102/CT ngày 3 tháng 6 năm

1954 của Ban Kinh tế Tài chính, Phân liên khu miền Đông về việc bình tuyển chiến

sĩ nông nghiệp năm 53 – 54; Chỉ thị số 13/CT52 ngày 22 tháng 01 năm 1952 của Bộ

Tư lệnh Nam Bộ về việc kiểm soát và theo dõi các quân nhân đi nghỉ phép, đi an dưỡng hay đi điều trị tại Quân Y viện; Chỉ thị số 24/CTKT - 54 ngày 10 tháng 6

Trang 34

năm 1954 của UBKCHC Nam Bộ về lúa trợ cấp cho gia đình nhân viên, cán bộ và binh sỹ…

+ Văn bản ghi đầy đủ nhóm chữ viết tắt tên loại văn bản và tên cơ quan ban hành văn bản như: Nghị định số 65/ND – NB ngày 02 tháng 03 năm 1948 của UBKC - HC Nam Bộ về việc ban hành các điều luật Thủy lâm; Chỉ thị số 4/CT – TWC ngày 6 tháng 2 năm 1954 của Trung ương Cục miền Nam về việc bổ túc Chỉ thị 23/CT – TWC năm 1953 về giới thiệu đảng viên nghỉ phép ngắn hạn; Chỉ thị số 13/BKT – CT ngày8 tháng 7 năm 1953 của Ban Kinh tài, UBKCHC Nam Bộ về việc thi hành Chỉ thị 20/CT – 53 ngày 20/4/1953 của UBKCHC Nam Bộ về thi đua

ái quốc năm 1953…

- Địa danh, ngày, tháng, năm ban hành văn bản: Đây cũng là một trong những

yếu tố thể thức mà chúng tôi rất quan tâm khi khảo sát tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ Tất cả các văn bản do UBKCHC Nam Bộ cũng như các cơ quan chuyên môn ban hành trong thời kỳ này đều không đề cập tới yếu tố địa danh văn bản; yếu tố ngày, tháng, năm ban hành văn bản thì đều được trình bày nhưng vẫn chưa thống nhất, phần lớn được trình bày dưới phần nội dung văn bản, trên phần chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền, một vài văn bản được trình bày ở trên, ngay góc bên phải, dưới quốc hiệu như cách trình bày hiện nay

Ví dụ: - Thông sức số 223/TV ngày 17 tháng 3 năm 1947 của Ban Thường vụ, UBKCHC Nam Bộ về phòng gian thì yếu tố ngày, tháng, năm ban hành văn bản được trình bày sau khi đã kết thúc nội dung văn bản

- Chỉ thị số 4/CT – TWC ngày 6 tháng 2 năm 1954 của Trung ương Cục Miền Nam

bổ túc Chỉ thị 23/CT – TWC năm 53 (Lưu hành đến Chi – bộ) thì yếu tố ngày, tháng, năm ban hành văn bản được trình bày ở trên, ngay góc bên phải, dưới quốc hiệu

Cá biệt có những văn bản không ghi ngày, tháng, năm ban hành văn bản hoặc bỏ trống phần ngày, tháng, năm ban hành văn bản nên rất khó để nhận biết là văn bản ban hành vào thời điểm nào Một vài ví dụ cụ thể như: Báo cáo số 972/BCDV của Phòng Đặc vụ, Quân đội quốc gia Việt Nam về tình hình chung quân sự, chính trị của địch và ta trong tháng 9 năm 1948 toàn khu 7 (trừ Thủ Dầu Một) (hồ sơ số 15) (không rõ ngày, tháng, năm); Kế hoạch xây dựng Đoàn thanh niên cứu quốc Nam

Bộ năm 1954 (hồ sơ 1005) (tài liệu không có ngày, tháng)…

Trang 35

- Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản: Tên loại và trích yếu nội dung của

văn bản cũng là một trong những yếu tố quan trọng khi xem xét, đánh giá về mặt thể thức của văn bản

Về tên loại, các văn bản trong Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ khá đa dạng về

loại hình như: nghị định, nghị quyết, quyết định, thông báo, báo cáo, chỉ thị, công

văn, công điện, biên bản …Qua khảo sát chúng tôi cũng nhận thấy rằng, trong thời

kỳ kháng chiến chống Pháp, UBKCHC Nam Bộ cũng đã ban hành một số văn bản

mà trong giai đoạn hiện nay các cơ quan quản lý không còn sử dụng như: Thông sức, Châu tri, Phúc trình, Định chánh (đính chính nghị định)

Ví dụ: Nghị định số 4/ND – NB ngày 15 tháng 1 năm 1948 của UBKC - HC Nam

Bộ về việc đặt một chức vụ lấy tên là “Đổng lý sự vụ” của UBKC - HC Nam Bộ;

- Châu tri số 48/TV – 3 ngày 10 tháng 9 năm 1948 của UBKC – HC Nam Bộ

về việc áp dụng lối viết chữ quốc ngữ mới trong công văn;

- Thông tri số 1/TV – 5 ngày 31 tháng 1 năm 1948 của UBKC - HC Nam Bộ về việc giới thiệu hai con dấu mới của UBKC - HC Nam Bộ;

- Phúc trình ngày 20 tháng 9 năm 1948 của Ban Nội vụ, UBKCHC Nam Bộ về tình hình chung Nam Bộ trong 6 tháng đầu năm 1948;

- Định chánh số 156/F2 ngày 3 tháng 2 năm 1951 của UBKCHC Nam Bộ đính chính nghị định số 238/NB ngày 4/7/1950

Về trích yếu nội dung văn bản: không ghi trích yếu nội dung văn bản là lỗi phổ biến nhất mà không ít các văn bản do UBKCHC Nam Bộ và các cơ quan chuyên môn ban hành mắc phải

Ví dụ: Nghị định số 445/ND – NB ngày 15/11/1948 của UBKCHC Nam Bộ ban hành không ghi trích yếu nội dung, nhưng đọc qua văn bản thì chúng tôi nhận thấy rằng nội dung của văn bản đề cập đến việc cải tổ lại Sở Giao thông liên lạc Nam Bộ Việc không ghi trích yếu nội dung văn bản, nhất là đối với những văn bản dài khiến cho người đọc rất khó trong việc hiểu được sơ lược nội dung mà văn bản đề cập

Có những văn bản mặc dù có ghi trích yếu nhưng quá ngắn gọn và sơ lược, không thể hiện được nội dung mà văn bản đề cập đến:

Ví dụ: Phúc trình năm 1948 (không rõ số, ký hiệu văn bản) ngày 5 tháng 1 năm

1949 của Sở Giao thông liên lạc Nam Bộ có đề cập tới rất nhiều vấn đề như: hệ

Trang 36

thống tổ chức, tình hình chung giao thông liên lạc toàn Nam Bộ, phương pháp tổ chức, quy tắc làm việc của Sở GTLL, sinh hoạt, văn hóa, chính trị, mưu mô của giặc Pháp, thời gian từ Ty GTLL Tỉnh đến Sở GTLL Nam Bộ, so sánh kết quả công tác các Ty GTLL 6 tháng chót năm 1947 với 6 tháng cuối năm 1948, tỷ lệ hao hụt,

ưu điểm, khuyết điểm trong công tác GTLL, đề nghị của Sở GTLL đối với UBKCHC Nam Bộ Nếu trích yếu nội dung của văn bản chỉ là “năm 1948” thì rõ ràng là không bao quát được nội dung của toàn bộ văn bản

- Chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền: Số lượng văn bản giữ lại

được trong Phông UBKCHC Nam Bộ là bản chính, có đầy đủ các yếu tố thông tin như chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền không nhiều Rất nhiều văn bản là các bản sao, do các cơ quan chuyên môn sao lại Qua khảo sát ngẫu nhiên 41 văn bản thuộc 18 hồ sơ trong Phông, chúng tôi thấy chỉ có 5 văn bản là bản chính,

có đầy đủ chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền, 36 văn bản còn lại là bản sao y bản chính, chỉ có họ tên, chữ ký của người đứng đầu cơ quan chịu trách nhiệm sao y văn bản đó

Ví dụ: Sao y số 80/GDT – 2 ngày 4 tháng 8 năm 1954 của Ty giáo dục Chỉ thị

số 023/GT – BL2 ngày 19 tháng 6 năm 1954 của Ban liên lạc Nông dân Nam Bộ về việc vận động phong trào chống nạn mù chữ trong nông dân

- Dấu của cơ quan: Cũng giống như yếu tố thông tin chức vụ, họ tên và chữ ký

của người có thẩm quyền, rất nhiều văn bản trong Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ không đóng dấu cơ quan ban hành

Có thể khẳng định rằng, chức vụ, họ tên, chữ ký của người có thẩm quyền và dấu của cơ quan ban hành văn bản được coi là những yếu tố quan trọng, đảm bảo độ chân thực của văn bản Tuy nhiên, rất nhiều văn bản trong Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ thiếu chữ ký của người có thẩm quyền hoặc dấu của cơ quan ban hành Tuy vậy, chúng vẫn được giữ lại và được coi là có giá trị, bởi lẽ chúng được sản sinh trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, thời kỳ mà tài liệu lưu trữ chúng ta giữ lại được đến ngày nay không còn nhiều

Nói tóm lại, tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ bước đầu đã đảm bảo được các yếu tố về mặt thể thức như quốc hiệu; tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản; số, ký hiệu văn bản; ngày, tháng, năm ban hành văn bản; tên loại văn bản; chức

Trang 37

vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền, dấu của cơ quan Bên cạnh đó, về mặt thể thức, tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ vẫn còn mắc phải một số lỗi nhất định như thiếu yếu tố thông tin về địa danh, ngày, tháng, năm ban hành văn bản; nhiều văn bản không ghi trích yếu, hoặc trích yếu không bao quát được nội dung văn bản; cách ghi các yếu tố thông tin như: số, ký hiệu văn bản; ngày, tháng, năm ban hành văn bản còn chưa thống nhất; văn bản thiếu chữ ký, thiếu dấu hoặc chỉ là bản gốc, bản thảo… Mặc dù vẫn còn những hạn chế nêu trên về mặt thể thức, nhưng qua khảo sát Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ chúng tôi đã nhận thấy một điều rất đặc biệt rằng, một số văn bản do Ban Thường vụ, UBKCHC Nam Bộ ban hành đã bước đầu được mẫu hóa về mặt thể thức, thể hiện dưới dạng in sẵn một số thông tin bắt buộc trên văn bản như: Quốc hiệu, tên cơ quan ban hành văn bản, số,

ký hiệu văn bản và đề mục văn bản Việc mẫu hóa một số thông tin này dù mới chỉ

ở mức độ đơn giản về hình thức nhưng đã thể hiện sự quan tâm không nhỏ của UBKCHC Nam Bộ đối với công tác văn thư nói chung và công tác soạn thảo, ban hành văn bản nói riêng Đây cũng là những yếu tố cần xem xét khi đánh giá giá trị của các tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ

1.3.4.3 Về ngôn ngữ và văn phong của văn bản

Bên cạnh các yếu tố về mặt thể thức thì ngôn ngữ và văn phong của các văn bản trong Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ cũng góp phần không nhỏ trong việc xác định giá trị của các văn bản trong Phông

Về ngôn ngữ: Qua khảo sát khối tài liệu Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết văn bản do UBKCHC Nam Bộ và các cơ quan chuyên môn ban hành đều là bản đánh máy bằng ngôn ngữ tiếng Việt nhưng không

có dấu, cá biệt, còn có một số văn bản có đánh các ký tự dấu nhưng các ký tự này không thể hiện dưới dạng dấu mà thể hiện dưới dạng chữ Một số văn bản viết tay thì viết dưới dạng tiếng Việt có dấu nhưng lại dùng ngôn ngữ Nam Bộ Vì vậy, khi khai thác tài liệu Phôngchúng tôi đã rất vất vả để có thể hiểu được nội dung mà văn bản đề cập đến Thậm chí, có những trường hợp vì văn bản không có dấu, không đánh dấu chấm, phẩy đúng quy cách khiến cho người khai thác, sử dụng văn bản rất

dễ hiểu lầm nội dung của văn bản

Trang 38

Ví dụ: Tại tờ số 119 thuộc phần 3: Nhận xét chung về kinh tế tài chính năm

1953 và phương hướng hoạt động năm 1954 trong báo cáo tổng kết công tác kinh tế tài chính năm 1953 của Ban kinh tài Nam Bộ thuộc hồ sơ 617 có đoạn viết như

sau:”Ve san xuat, Mien dong da vuot duoc kho khan trong viec chong doi Dang va chanh quyen da lanh dao chat che fong trao san xuat”

Nếu dịch đúng thì nội dung phải là: “Về sản xuất, miền Đông đã vượt được khó khăn trong việc chống đói Đảng và chánh quyền đã lãnh đạo chặt chẽ phong trào sản xuất”

Nhưng vì văn bản viết bằng ngôn ngữ tiếng Việt không có dấu, lại không đánh dấu câu nên nếu không đọc kỹ, người đọc rất dễ bị hiểu lầm một cách nghiêm trọng

là: “Về mặt sản xuất, miền Đông đã vượt được khó khăn trong việc chống đối Đảng

và chánh quyền, lãnh đạo chặt chẽ phong trào sản xuất”

Một ví dụ khác về việc dấu được thể hiện dưới dạng các ký tự chữ viết là Bản Hiệu triệu của UBKCHC Nam Bộ và Mặt trận Liên Việt Nam Bộ gửi toàn thể đồng bào Nam Bộ trong các vùng tạm bị giặc chiếm (hồ sơ 1007, tờ số 3 – 5) viết bằng ngôn ngữ tiếng Việt có dấu nhưng dấu lại thể hiện dưới dạng ký tự chữ viết như

sau: “Sau cuoocj daij thawngs owq Mawtj traanj Dieenj-bieen phur, Quaan Daan ta dar lieen tucj tans coong, buoocj dichj fair ruts khoir Vieetj-trif, Phats-dieemj, Buif- chu, Thais-binhf, Ninh binhf, Nam-dinhj, Phur-lys owr Bawcs-booj Ta dar danhs bawts quaan ddichj ra khoir An-khee, Soong-caauf, Chis-thanhj vaf tieeu dieetj nhieeuf Tieeur-doanf giawcj owr Trung-booj Ta ddax dootj nhaapj cacs Thij traans lowns: doots kho xawng Phus-thowj, tieeu dieetj Phaan khu Caauf-dinhj, dootj nhaapj thij xax Rachj-gias, Sa-dec, doongf thowif chieens tranh du kichs fats trieenr manhj owq Myrtho, Long-chaau-sa, Thur-bieen, Gia-dinhj-ninh, Soocs- trawng…owr Nam Booj cungr nhw owr toanf quoocs”

Trên thực tế, nội dung của đoạn văn này là: “Sau cuộc đại thắng ở Mặt trận Điện-biên phủ, Quân Dân ta đã liên tục tấn công, buộc địch phải rút khỏi Việt-trì, Phát-diệm, Bùi-chu, Thái-bình, Ninh-bình, Nam-định, Phủ-lý ở Bắc-bộ Ta đã đánh bật quân địch ra khỏi An-khê, Sông-cầu, Chí-thạnh và tiêu diệt nhiều Tiểu-đoàn giặc ở Trung-bộ Ta đã đột nhập các Thị trấn lớn: đốt kho xăng Phú-thọ, tiêu diệt Phân khu Cầu-định, đột nhập Thị xã Rạch giá, Sa đec, đồng thời chiến tranh du

Trang 39

kích phát triển mạnh ở Mỹ tho, Long-châu-sa, Thủ-biên, Gia-định-ninh, trăng…ở Nam Bộ cũng như ở toàn quốc”

Sóc-Không chỉ có vậy, một số văn bản còn dùng từ, ngữ sai lỗi chính tả như dùng từ

“giảng thích” để nói về “giải thích”; “chống càng quét” khi diễn đạt “chống càn quét”, “truyền đạt” thì viết là “chuyền đạt”; “nghị định” thì viết là “ngị định”, đặc biệt với từ “sử dụng” thì hầu hết các văn bản trong Phông lưu trữ UBKCHC Nam

Bộ đều viết là “xử dụng”

Ví dụ: Điều 2, Nghị định số 285-NB-51 ngày 6 tháng 12 năm 1951 của UBKCHC Nam Bộ đặt những điều lệ tạm thời về thuế nông nghiệp thâu bằng lúa ở

Nam Bộ (hồ sơ 520) viết: “Chánh sách thuế nông nghiệp sây dựng trên nguyên tắc:

hợp với khả năng của nhân dân, thực hiện đóng góp hợp lý và giản tiện cho nhân dân, khuyến khích tăng gia sanh sản thỏa mãn nhu cầu kháng chiến” Ở đây từ

“sây” đã viết sai lỗi chính tả, nếu đúng phải là từ “xây”

Một trong những điểm đặc biệt về ngôn ngữ văn bản trong Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ là việc sử dụng nhiều thổ ngữ Ví dụ: dùng từ “tư nhơn” khi nói

về “tư nhân”; dùng từ “tài chánh” khi đề cập về “tài chính”; “Hoa kiều” thì viết là

“Huê kiều”; dùng “sanh sản tự túc” khi muốn nói tới “sản xuất tự túc”, “phạm nhân” thì viết là “phạm nhơn”; “thống nhất” thì viết là “thống nhứt”… Ngoài ra, một số từ, cụm từ Hán Việt cũng được sử dụng trong các văn bản như: “thượng bán niên” để nói về “sáu tháng đầu năm”; “báo cáo chung niên” để biểu thị “báo cáo năm”; nước “Trung Hoa mới” thì viết là “Tân Trung Hoa”… Đây cũng là một trong những đặc điểm cần chú ý khi nghiên cứu về ngôn ngữ văn bản trong Phông lưu trữ UBKCHC Nam Bộ thời kỳ này

Về văn phong của văn bản: Trong những năm đầu mới thành lập và đi vào hoạt động, các văn bản do UBKCHC Nam Bộ và các cơ quan chuyên môn ban hành vẫn nặng về văn nói mà vẫn chưa chú trọng đến văn phong hành chính

Ví dụ: Trong phần “Quy điệu hành chính” của Báo cáo về tình hình hành chính Nam Bộ cuối năm 1945 và đầu năm 1946 của UBKCHC Nam Bộ ngày 11/5/1948

(hồ sơ 1) diễn đạt như sau: “Muốn sửa chữa và dạy dỗ các UBKCHC làng đi đúng

theo luật, chúng tôi từ lâu đã dự định soạn một tập “Quy điệu hành chánh” để làm

môn kinh nhất cho mỗi làng Những kinh nghiệm rất dồi dào đầy đủ, những việc gì

Trang 40

luật lệ của Chính phủ ta ấn định, mỗi việc hành chánh chưa có nên chúng tôi còn thắc mắc chưa dám cho ra Sự thay đổi cách thức hành chánh hay có thường ở

những vùng khác nhau (bỏ nhiều hay bỏ ít) Ước ao rằng Bộ Nội vụ soạn một tập quy điệu thống nhất cho các làng rồi tùy tiện chúng tôi sửa đổi theo địa phương”

Châu tri số 41/TV – 3 ngày 1 tháng 9 năm 1948 của UBKC - HC Nam Bộ về cổ động, khuyến khích và vận động thanh niên tham gia phong trào “Khỏe vì nước” (hồ

sơ 34, tờ số 34) có đoạn viết: “Vì muốn gây phong trào thanh niên bồng bột, sôi nổi

để đem lại sự vui tươi, hăn hái, hoạt động, tinh thần xung phong hầu có thể phát huy tất cả khả năng vào công cuộc kháng chiến cứu quốc hiện nay

Vì muốn cho thanh niên trở nên những phần tử hùng tráng, mãnh liệt với một ý chí quật cường, cương quyết chiến đấu để hoàn thành nhiệm vụ chúng ta đeo đuổi”

Trong thư ngày 29 tháng 9 năm 1946 của Giám đốc Ty Công an Tây Ninh gửi ông Nguyễn Bình, Ủy viên quân sự Nam Bộ báo cáo về tình hình nhân dân giác ngộ

đi theo đường lối kháng chiến và tình hình các phe phái Cao Đài đang hoạt động

trên địa bàn Tây Ninh, (hồ sơ 122, tờ số 2 – 3) có đoạn viết “Bởi thế nên dân chúng đối với Chánh phủ như cô gái bị gả ép, sợ chớ chẳng thương” khi nói về thái độ của nhân dân đối với Chính phủ

Đoạn cuối của văn bản này viết rằng: “Đây có đôi lời thô sơ xin ông rõ cho, và

từ nay tôi xin đem công tác để đảm bảo cho người đã tín nhiệm nói tôi, khỏi mang lời lẽ bình phẩm”

Tiểu kết chương 1

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cùng với việc thiết lập bộ máy chính quyền trên cả nước, các đơn vị hành chính cấp kỳ như UBHC Nam Bộ cũng được thành lập Trong quá trình hoạt động, UBKCHC Nam Bộ (mà tiền thân

là UBHC Nam Bộ, UBKC – HC Nam Bộ) đã có những thay đổi về cơ cấu tổ chức, được giao những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt trong những hoàn cảnh cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu từng giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Pháp Những thay đổi này dẫn đến nhiều nét đặc biệt của tài liệu Phông lưu trữ Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ như tài liệu của các cơ quan Trung ương còn lại trong Phông rất ít, chủ yếu là tài liệu của UBKCHC Nam Bộ và các cơ quan chuyên môn, số văn bản

là bản chính còn giữ lại được trong Phông không nhiều, nhiều văn bản còn chưa

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm