1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ mại dâm và vai trò của công tác xã hội (Nghiên cứu trên địa bàn quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng)

90 48 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN TRƯỜNG GIANG VIỆC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA NỮ MẠI DÂM VÀ VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI NGHIÊN CỨU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG Luận văn T

Trang 1

NGUYỄN TRƯỜNG GIANG

VIỆC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA NỮ MẠI DÂM VÀ VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI (NGHIÊN CỨU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2016

Trang 2

NGUYỄN TRƯỜNG GIANG

VIỆC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA NỮ MẠI DÂM VÀ VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI (NGHIÊN CỨU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Trà Vinh

Hà Nội - 2016

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 8

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài: 9

2.2 Các nghiên cứu trong nước: 11

3.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 13

3.1 Ý nghĩa lý luận 13

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 13

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 13

4.1 Mục đích nghiên cứu 13

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 14

5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14

5.1 Đối tượng nghiên cứu 14

5.2 Khách thể nghiên cứu 14

5.3 Phạm vi nghiên cứu 15

6 Phương pháp nghiên cứu 15

6.1 Phương pháp luận 15

6.2 Phương pháp thu thập thông tin 15

Trang 4

6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu: 15

6.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 16

6.2.3 Phương pháp quan sát 17

6.2.4 Phương pháp thảo luận nhóm 17

6.2.5 Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến 18

7 Giả thuyết nghiên cứu 19

7.1 Giả thuyết 1: 19

7.2 Giả thuyết 2: 19

7.3 Giả thuyết 3: 20

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA NỮ BÁN DÂM 21

1.1 Các khái niệm liên quan: 21

1.1.1 Khái niệm mại dâm: 21

1.1.2 Khái niệm Nữ bán dâm: 22

1.1.3 Khái niệm dịch vụ chăm sóc sức khỏe 22

1.1.4 Khái niệm Sức khỏe sinh sản và Chăm sóc sức khỏe sinh sản 22

1.1.5 Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản: 23

1.1.6 Khái niệm vai trò của công tác xã hội: 24

1.2 Các lý thuyết ứng dụng: 25

1.2.1 Thuyết nhu cầu 25

1.2.2 Thuyết trao đổi xã hội: 27

1.2.3 Thuyết học tập xã hội: 29

Trang 5

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: 32

1.3.1 Khái quát về thành phố Hải Phòng: 32

1.3.2 Khái quát về Quận Đồ Sơn 33

1.4 Quan điểm về công tác phòng, chống mại dâm 34

1.4.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm 34

1.4.2 Quan điểm của thành phố Hải Phòng trong công tác phòng, chống mại dâm 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41

2.1.Thực trạng tình hình tệ nạn mại dâm 43

2.2 Một vài đặc điểm của mẫu nghiên cứu tại Quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng 45

2.2.1 Trình độ học vấn 45

2.2.2 Độ tuổi nữ bán dâm 46

2.2.3 Hoàn cảnh gia đình của nữ bán dâm 47

2.3 Nhận thức của nữ bán dâm 50

2.3.1 Kiến thức của bản thân về SKSS 50

2.3.2 Hiểu biết về pháp luật 51

2.4 Tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ bán dâm tại Quận Đồ Sơn 52

2.4.1 Đánh giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản 52

2.4.2 Nữ bán dâm tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản 53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

Trang 6

Chương 3: HỖ TRỢ NỮ BÁN DÂM TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ CHĂM

SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI 62

3.1 Đánh giá chung các hoạt động hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nữ mại dâm 62

3.1.1 Những mặt đạt được 62

3.1.2 Những hạn chế 65

3.2 Đánh giá vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nữ bán dâm tại Quận Đồ Sơn 66

3.2.1 Tư vấn truyền thông: 66

3.2.2 Các can thiệp dự phòng tư vấn về sức khỏe sinh sản 66

3.2.3 Hỗ trợ tâm lý, giáo dục 67

3.2.4 Hỗ trợ thay đổi công việc 68

3.3 Một số khuyến nghị 69

3.3.1 Đối với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về chính sách 69

3.3.2 Đối với các Ban, ngành đoàn thể tại thành phố Hải Phòng và Quận Đồ Sơn 70

3.3.3 Đối với các Trung tâm cung cấp dịch vụ 71

3.3.4 Đối với tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm 71

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản

HIV/AIDS Bệnh suy giảm miễn dịch xảy ra ở người

LĐTBXH Lao động – Thương binh và Xã hội

NGO Tổ chức phi chính phủ

PCTNXH Phòng, chống tệ nạn xã hội

STIs Bệnh lây truyền qua đường tình dục

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

1 Danh mục bảng

Bảng 2.1: Lý do hoạt động mại dâm của nữ bán dâm được điều tra Bảng 2.2: Thống kê số con của nữ bán dâm được điều tra

Bảng 2.3: Sự hiểu biết của nữ bán dâm về sức khỏe sinh sản

Bảng 2.4: Nơi khám và điều trị bệnh STIs

Bảng 2.5: Những vấn đề bất ổn về tinh thần

2 Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 2.1: Trình độ học vấn nhóm nữ bán dâm được điều tra

Biểu đồ 2.2: Độ tuổi người bán dâm tại Đồ Sơn, Hải Phòng

Biểu đồ 2.3 Hiểu biết của người bán dâm về pháp luật

Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ lây nhiễm bệnh qua đường tình dục của nữ bán dâm Biểu đố 2.5: Tần suất khám sức khỏe của nữ bán dâm

Biểu đồ 2.6: Những vấn đề tâm lý gặp phải ở người hoạt động mại dâm

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực hiện Quyết định số 679/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 về Chương trình hành động phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011-2015 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hầu hết các tỉnh, thành phố đã được Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn và hỗ trợ triển khai các hoạt động tiếp cận chăm sóc sức khỏe cho người bán dâm Các Trung tâm phòng chống HIV/AIDS ở một số tỉnh, thành phố có tỉ lệ cao về số người nhiễm HIV

Hoạt động mại dâm vẫn diễn ra tương đối phức tạp và số lượng người tham gia vào hoạt động mại dâm vẫn tăng, tỷ lệ người lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục mà đặc biệt là lây nhiễm HIV/AIDS qua con đường tình dục còn cao; tỷ lệ người bán dâm bị bạo hành và phân biệt đối xử vẫn còn khá cao Tại các địa phương như Quận Đồ Sơn, thành phố Hải phòng là một trong những điểm có số lượng người tham gia hoạt động mại dâm tương đối cao trong cả nước với hàng nghìn người Từ những thực tế trên cần có các hoạt động tiếp cận chăm sóc sức khỏe và tái hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm nhằm giảm các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs), lây nhiễm HIV/AIDS

Tại Việt Nam mại dâm là bất hợp pháp và bị nghiêm cấm dưới mọi hình thức, tuy nhiên mại dâm vẫn luôn tồn tại như một tất yếu của xã hội và những hệ lụy mà nó gây ra ảnh hưởng không nhỏ tới các vấn đề phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đặc biệt kéo theo các hệ lụy của xã hội như các bệnh lây nhiễm STIs, HIV/AIDS Những dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho những đối tượng yếu thế lại chưa được tiếp cận hiệu quả, mới chỉ mang tính

Trang 10

hình thức và bước đầu thí điểm tại một số địa phương, do đó cần phải có thời gian để đánh giá hiệu quả của các dịch vụ.

Chính vì những lý do trên, để giúp người bán dâm có thể tự bảo về mình và tiếp cận các dịch vụ xã hội chăm sóc sức khỏe và phòng, chống các đại dịch bệnh HIV/AIDS cho bản thân và cho cộng đồng Tôi mạnh dạn chọn

đề tài "Việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ mại dâm và vai trò của công tác xã hội (Nghiên cứu trên địa bàn quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng)"

Dựa trên kết quả đối với những người được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và những người chưa được tiếp cận nhằm đánh giá đưa ra một

số khuyến nghị giúp cho các hoạt động tiếp cận sau này mang lại hiệu quả và nhân rộng các hoạt động trong tương lai áp dụng các bài học rút ra từ các hoạt động này

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:

Phòng, chống mại dâm nói chung và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ bán dâm, người làm việc tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm nói riêng là vấn đề được các cấp chính quyền, đoàn thể thành phố Hải Phòng đặc biệt quan tâm trong những năm vừa qua

Để thực hiện tốt công tác phòng, chống mại dâm Chi cục phòng, chống

tệ nạn xã hội thành phố Hải Phòng được sự chỉ đạo của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các tổ chức quốc tế như tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam, Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phát triển Cộng đồng (SCDI), Quỹ Dân số Liên hợp Quốc (UNFPA)

tổ chức xây dựng các mô hình cũng như thực hiện các hoạt động can thiệp, giảm tác hại cho người bán dâm tại Quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng Thông qua hoạt động xây dựng mô hình hỗ trợ, giảm hại, chính quyền thành

Trang 11

phố sẽ tổng kết và đưa ra những chính sách thiết thực để thực hiện công tác phòng, chống mại dâm được hiệu quả

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài:

Mại dâm là một vấn đề khá nổi cộm trong xã hội nhưng do tính chất nhạy cảm của vấn đề nên hiện nay vẫn còn khá ít những công trình nghiên cứu trong và nước ngoài về lĩnh vực này

Nghiên cứu Cơ sở pháp lý, quyền con người và phòng, chống HIV đối với người hành nghề mại dâm ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương do Trung tâm Khu vực châu Á – Thái Bình Dương UNDP tháng 8 năm 2011 Nghiên cứu này đã đưa ra cái nhìn tổng quan về chính sách đối với hoạt mại dâm và những nỗ lực cải thiện chính sách của các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có nhận định về chính sách phòng, chống mại dâm ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ: “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam” của TS Kimberly Hoàng Trên cơ sở nghiên cứu điền dã tại TP Hồ Chí Minh;

Ts Kimberly Hoàng đã làm việc như một chiêu đãi viên tại bốn quán bar phục vụ cho các nhóm khách hàng khác nhau Theo giáo sư xã hội học Berkeley Raka Ray, chủ tịch ủy ban luận án, nghiên cứu của Kimberly Hoàng

“không những chỉ làm nổi bật là cấu trúc và cách hành nghề mại dâm ở Việt Nam mà còn giải thích mại dâm giữ vai trò quan trọng như tiền mặt trong nền kinh tế chính trị của Việt Nam.”

“Tomiye Ishida – Câu chuyện của một gái mại dâm đồng tính tại Mỹ” đây là đề tài kinh tế thuộc những nghiên cứu về phụ nữ tại Mỹ giai đoạn 1993-

1994 Công trình nghiên cứu này là bài viết của một người phụ nữ bán dâm đồng tính tại Canada, dưới cái nhìn của một người vẫn đang hoạt động mại dâm để nhìn nhận về nguyên nhân làm mại dâm, những khó khăn trong quá

Trang 12

trình bán dâm của những người bán dâm nói chung và của người đồng tính nói riêng và những cản trở từ việc ban hành và thực thi pháp luật tại Canada Qua bài viết này, chúng ta có thể cảm nhận được những vấn đề khó khăn mà người bán dâm thường phải đối mặt, ngay cả khi họ hoạt động mại dâm tại một đất nước không coi mại dâm là một hoạt động vi phạm pháp luật và từ đó tìm ra những biện pháp hỗ trợ thích hợp cho người bán dâm tại Việt Nam

Bài viết “Mại dâm theo nhu cầu - hợp pháp hóa người mua dâm như khách hàng tình dục” của Janice G.Raymond – Giám đốc điều hành của Liên minh chống buôn bán phụ nữ (CATW) thuộc Hội đồng kinh tế xã hội Liên hợp Quốc Bài viết này đã đưa ra giả thuyết giải thích tại sao người đàn ông mua dâm và không cho rằng chỉ nhu cầu của nam giới đối với tình dục mại dâm thúc đẩy việc buôn bán người, mại dâm và kinh doanh tình dục Nhưng tác giả lại khẳng định nhu cầu của nam giới là một yếu tố quan trọng để mở rộng ngành kinh doanh tình dục trên toàn thế giới đồng thời duy trì khai thác thương mại tình dục và làm cho người mua dâm dễ dàng thoát khỏi sự kiểm tra, phân tích, chỉ trích và sự trừng phạt cho hành động của họ

Bài phát biểu "Mại dâm và quyền dân sự" của tác giả Catharine A.Mackinton tại Hội nghị chuyên đề " Mại dâm: những nghiên cứu khoa học đến hoạt động thực tiễn" được tổ chức vào 31/10/1992 tại trường đại học Luật Michigan Bài phát biểu này đã nêu ra quyền dân sự của những người bán dâm và những khó khăn trong việc tiếp cận những quyền đó, những hạn chế của pháp luật đối với người bán dâm

Bên cạnh những nghiên cứu trên, có một số nghiên cứu khác về mại dâm như: Antonian J.U (1996), Gái mại dâm dưới con mắt nhà tâm lý học”,

đã nghiên cứu sâu nguyên nhân của tệ nạn mại dâm dưới góc độ tâm lý, xã hội của gái mại dâm, trên cơ sở đó tìm ra giải pháp phòng, chống mại dâm từ

Trang 13

góc độ tâm lý, xã hội Balars Gabrielle (1996), Thị trường mại dâm”, đã làm sáng tỏ toàn diện thực trạng mại dâm trên thế giới; chỉ rõ nguyên nhân của mại dâm và giải pháp phòng ngừa mại dâm của một số nước trên thế giới

2.2 Các nghiên cứu trong nước:

Nghiên cứu Đặc điểm di biến động của người hoạt động mại dâm nhìn

từ góc độ giới năm 2013 Nghiên cứu được thực hiện bởi Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Cục PCTNXH), Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH), với sự hỗ trợ kỹ thuật từ Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), trong khuôn khổ chương trình được tài trợ bởi Qũy thành tựu Thiên niên kỷ (MDG-F) của Liên hiệp quốc do Tây Ban Nha hỗ trợ và Chương trình Chung quốc gia về Bình đẳng giới giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hiệp quốc Nghiên cứu giúp mọi người có được sự hiểu biết tốt hơn về vai trò của yếu tố giới trong việc quyết định di cư của những người hoạt động mại dâm, và những khía cạnh mà di cư và giới có liên quan đến việc tham gia vào hoạt động mại dâm; lý do và khuôn mẫu di biến động của người hoạt động mại dâm (cả những người di cư và những người không di cư) cũng như khả năng dễ bị tổn thương do di biến động của họ, nhìn từ góc độ về giới Từ đó đề xuất cụ thể

về việc ban hành chính sách và xây dựng các chương trình can thiệp

Đề tài cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng định hướng cho công tác phòng, chống tệ nạn xã hội đến năm 2020 của Bộ Lao động – Thương binh và

Xã hội năm 2012 Đề tài đã chỉ ra được cơ sở lý luận và thực tiễn công tác phòng, chống mại dâm trong tình hình hiện tại và đưa ra một số định hướng trong thời gian tới

Nguyên cứu tâm lý của phụ nữ tham gia mại dâm chưa đến tuổi vị thành niên năm 2003 do Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ ra rằng đặc điểm tâm lý của tr em gái tuổi vị

Trang 14

thành niên làm nghề mại dâm tác động của mại dâm đến đối tượng này và phương pháp ngăn ngừa sự tác động của mại dâm đến phụ nữ chưa đến tuổi vị thành niên

Tài liệu dịch Các nghiên cứu quốc tế về phòng, chống mại dâm do Cục phòng, chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện năm 2013 Tài liệu cung cấp cho người đọc những thông tin về các biện pháp phòng, chống mại dâm tại một số nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Những phương pháp phòng, chống mại dâm nói chung và hỗ trợ người bán dâm nói riêng sẽ là kinh nghiệm để chúng ta học hỏi và áp dụng khoa học vào thực tế ở Việt Nam

Nghiên cứu Đánh giá nhu cầu hỗ trợ người bán dâm và tính phù hợp với mô hình thí điểm từ năm 2011-2014 do Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội phối hợp với tổ chức Plan vùng Hà Nội được thực hiện tại 5 tỉnh, thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Khánh Hoà, Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh năm 2013 Nghiên cứu đã cho thấy những nhu cầu hiện tại của người hoạt động mại dâm cũng như những khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội và hòa nhập cộng đồng của họ

Bộ tài liệu "Can thiệp giảm tác hại nhằm cải thiện tiếp cận và sử dụng dịch vụ sức khỏe sinh sản và HIV cho người bán dâm dành cho học viên và giảng viên do Cục phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động – Thương binh

và Xã hội biên soạn năm 2014 Bộ tài liệu giúp cho cán bộ ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tham khảo các thông tin về chương trình can thiệp giảm tác hại cho người bán dâm Đồng thời các tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công tác xã hội cũng có thể sử dụng tài liệu này để tham khảo

Trang 15

3.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết Xã hội học

và CTXH như: thuyết nhu cầu, thuyết vai trò, thuyết trao đổi xã hội…

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đối với Nhà nước: Kết quả nghiên cứu có thể giúp cho quá trình hoạch định, điều chỉnh, bổ sung những chính sách, chiến lược về các đối tượng yếu thế trong xã hội Đặc biệt là những người hoạt động mại dâm

Đối với địa phương: Nghiên cứu đánh giá được những mặt tồn tại, khó khăn, ưu nhược điểm trong quá trình hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người hoạt động mại dâm tại Quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng Từ đó có thể nhân rộng mô hình nhằm từng bước hoàn thiện các dịch vụ can thiệp hỗ trợ đối tượng yếu thế và kiểm soát được những nguy cơ lây nhiễm các bệnh về tình dục và HIV tại thành phố Hải Phòng

Đối với bản thân nhà nghiên cứu: Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tế, nhà nghiên cứu có cơ hội áp dụng những lý thuyết và phương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là những kỹ năng thực hành CTXH nói chung và CTXH nhóm nói riêng Từ đó giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình công tác của bản thân

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu để xây dựng khung lý thuyết

Trang 16

Đánh giá thực trạng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cuả nữ bán dâm và vai trò của công tác xã hội trong các hoạt động tham vấn, kết nối các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đến nhóm nữ bán dâm tại Quận Đồ sơn, thành phố Hải Phòng

Đưa ra một số giải pháp và đề xuất hoàn thiện đảm bảo các hoạt động của các tiếp cận được triển khai một cách thuận lợi, đúng thời gian và đạt được các mục tiêu đã đề ra

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu các văn bản pháp luật về Mại dâm, dịch vụ, sức khỏe và chăm sóc sức khỏe sinh sản

Tìm hiểu những quy định của Thành phố, Quận Đồ Sơn và Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội Hải Phòng về PCMD

Thu thập thông tin, điều tra thực trạng về tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ bán dâm tại Quận Đồ Sơn Thành phố hải Phòng

Đánh giá vai trò của công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đến đối tượng là nữ bán dâm

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiếp cận các dịch vụ và vai trò của Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ bán dâm

5.2 Khách thể nghiên cứu

Nữ bán dâm tại Quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

Cán bộ của các ban ngành cấp Trung ương và cán bộ quản lý tại địa phương (Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội Quận Đồ Sơn)

Trang 17

Trung tâm y tế cung cấp dịch vụ CSSKSS, đại diện nhóm Hoa hồng đen, Nhóm Hoa trinh nữ tại Quận Đồ sơn, thành phố Hải Phòng

Cán bộ Ban ngành Đoàn thể: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên

sở là các lý thuyết xã hội học và công tác xã hội như: Thuyết nhu cầu, thuyết

học tập xã hội, thuyết trao đổi xã hội…

6.2 Phương pháp thu thập thông tin

6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu:

Phương pháp này là cần sưu tầm được đúng và đầy đủ các tài liệu cần thiết cho nội dung nghiên cứu, nó là phương pháp được dùng rất phổ biến vì không tốn nhiều chi phí và công sức điều tra thực tế mà vẫn có được lượng thông tin cần thiết cho nghiên cứu

Việc phân tích tài liệu này vừa là minh chứng đúng đắn, thực tế của các nghiên cứu trước, mặt khác cung cấp cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm

để xây dựng báo cáo nghiên cứu của mình

Với nghiên cứu này tôi chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính để tìm ra những nội dung tư tưởng cơ bản của tài liệu, tìm ra những vấn

đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu và xác định xem những vấn đề gì được

Trang 18

giải quyết và những vấn đề gì chưa được giải quyết Thu thập các số liệu, các báo cáo của các cơ quan chức năng về công tác phòng, chống mại dâm và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nữ bán dâm tại Quận Đồ Sơn

và các tài liệu liên quan khác… nhằm phục vụ cho vấn đề nghiên cứu một cách chính xác nhất

6.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Đây là phương pháp thu thập thông tin thông qua hỏi và đáp Người nghiên cứu đặt ra câu hỏi cho đối tượng khảo sát, sau đó ghi lại hoặc ghi âm lại những gì mà người nghiên cứu thu được Phương pháp này được sử dụng

để tìm hiểu sâu sắc về các phản ứng, suy nghĩ, thái độ tình cảm, quan điểm, chính kiến của đối tượng được phỏng vấn

Phỏng vấn sâu là một trong những phương pháp thu thập thông tin qua hỏi đáp nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin Người điều tra đặt câu hỏi cho đối tượng được khảo sát sau đó ghi chép vào phiếu hoặc sẽ tái hiện nó vào phiếu sau khi kết thúc cuộc phỏng vấn, hoặc người phỏng vấn ghi âm lại cuộc phỏng vấn, sau đó nghe lại và phân tích thông tin thu được Ở đây người phỏng vấn và người cung cấp thông tin tiếp xúc trực tiếp với nhau Các kết quả phỏng vấn sâu giúp cho người đọc hiểu rõ hơn, chi tiết hơn về các vấn đề liên quan và là minh chứng

cụ thể, sinh động cho các số liệu nghiên cứu định lượng

Phỏng vấn được sử dụng trong nghiên cứu này cho các đội tượng là những người có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu đã nêu ở trên Người nghiên cứu thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu đối với 20 người tại các

cơ quan, chính quyền, đoàn thể tại địa phương và nữ bán dâm:

 Nữ bán dâm: 10 người;

 Cán bộ Chi cục PCTNXH: 05 người;

Trang 19

 Cán bộ ban ngành, đoàn thể: 03 người

 Cán bộ Y tế: 02 người;

Nội dung phỏng vấn được đính kèm trong bảng phụ lục và vấn đề được đặt ra bằng các câu hỏi liên quan tới những dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, các bệnh mà chị em mắc phải, những nhu cầu cần được chăm sóc về sức khỏe và những khó khăn gặp phải Từ những câu hỏi được đặt ra sẽ thu được những kết quả cụ thể giúp bổ sung làm rõ vấn đề nghiên cứu

6.2.3 Phương pháp quan sát

Khi sử dụng phương pháp quan sát, sự thành công phụ thuộc vào sự nhạy cảm của người quan sát, thông tin chính xác và đầy đủ được ghi nhận từ người quan sát Và nó là phương pháp phổ biến từ lâu đời để thu thập thông tin xã hội cần nghiên cứu, có thể nói quan sát xã hội học là quá trình tri giác

và việc ghi chép mọi yếu tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tại và mục tiêu nghiên cứu Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, nhà nghiên cứu đã tiến hành quan sát thái độ, cử chỉ của chị em hoạt động mại dâm Đặc biệt là việc quan sát chị em trong quá trình sinh hoạt nhóm Những quan sát này góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lượng

đã thu thập được

6.2.4 Phương pháp thảo luận nhóm

Trong nghiên cứu này nhà nghiên cứu tiến hành họp nhóm tại Khu 3 Quận Đồ Sơn với số lượng 03 cuộc họp nhóm, bao gồm Nhóm Hoa trinh Nữ, Nhóm Bông hồng đen và Nhóm Câu lạc bộ chị em Đây là 3 nhóm đồng đẳng viên của Quận Đồ sơn, các trưởng nhóm đều là các chị em được thành lập từ trước do các Chương trình của các tổ chức Qũy dân số Liên hợp quốc (UNFPA) , Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phát triển Cộng đồng (SCDI)….…

Trang 20

hỗ trợ nhằm giúp tạo điều kiện cho các thành viên được tiếp cận về các dịch

vụ của các chương trình giảm tác hại

Các cuộc họp nhóm được tiến hành bên cạnh hoạt động phỏng vấn sâu chị em Các vấn đề được đưa ra trong cuộc thảo luận nhóm từ đó tìm hiểu các yếu tố môi trường, xã hội ảnh hưởng đến xây dựng, triển khai, duy trì và mở rộng hoạt động tiếp cận về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho chị em Hoạt động này sẽ giúp nhà nghiên cứu nắm bắt được mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm từ đó đánh giá được sự bền vững của nhóm

6.2.5 Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến

Trong nghiên cứu này, nhà nghiên cứu đã thiết kế nội dung bảng hỏi đính kèm ở phần phụ lục nhằm mục đích thu thập thông tin phục vụ cho quá

trình nghiên cứu

Cách thức tiến hành trong quá trình nghiên cứu: Sử dụng phương pháp lựa chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện cho việc thu thập thông tin của đối tượng nghiên cứu Mẫu được chọn bằng cách phát ngẫu nhiên 100 bảng hỏi với tất

cả đối tượng là nữ bán dâm Họ là những người tham gia nhón tự lực, nhóm đồng đẳng của người hoạt động mại dâm trên địa bàn Quận Đồ sơn, thành phố Hải Phòng Hiện tại hoạt động của nhóm tự lực được thực hiện thường xuyên một tháng một lần dưới sự quản lý của Chi Cục phòng, chống tệ nạn xã hội thành phố Hải Phòng

Kết quả thu được với số lượng phát ra như sau: Phát ra 100 bảng hỏi thu lại được 100 bảng hỏi hợp lệ với các nội dung cụ thể được đưa ra nhằm tìm hiểu các vấn đề của nữ mại dâm như về tuổi, hoàn cảnh gia đình, nhu cầu tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, những khó khăn gặp phải của Nữ mại dâm

6.2.6 Phương pháp công tác xã hội

Trang 21

Nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp CTXH làm việc với cá nhân, nhóm phụ nữ bán dâm (Nhóm đồng đẳng) Vận dụng các kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, thấu cảm… để khai thác cảm xúc, tiếp xúc thu thập thông tin, giúp

họ hiểu về vấn đề của bản thân, nhận thức về sự cần thiết của việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và tự họ sẽ nhìn nhận và đưa ra quyết định như thế nào trong việc tiếp cận với dịch vụ CSSKSS nhằm giảm thiểu những tác hại do bệnh gây ra

7 Giả thuyết nghiên cứu

7.1 Giả thuyết 1:

Tình hình mại dâm ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển về kinh

tế, văn hóa xã hội Tại Quận Đồ sơn, thành phố Hải Phòng cũng là khu du lịch sầm uất của miền bắc đồng thời là địa bàn ven biển với các cảng biển, tàu thuyền qua lại thường xuyên với số lượng người đến đây ngày càng tăng cao

Tệ nạn mại dâm tại đây ra tăng do đó đòi hỏi cần có các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giảm hại cho nữ bán dâm tại đây

7.2 Giả thuyết 2:

Việc tiếp cận các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người bán dâm đặc biệt nữ mại dâm chưa đáp ứng được nhu cầu của họ Họ gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tình dục; Bản thân người bán dâm cũng chưa muốn tiếp cận đến những dịch vụ này do tâm lý còn e ngại, sự kỳ thị của cán bộ tại các cơ sở cung cấp dịch vụ còn chưa thân thiện, thời gian đi khám mất nhiều, địa điểm

xa hay những dịch vụ này chưa thực sự hiệu quả… Các dịch vụ này cần được cung cấp hiệu quả đáp ứng những nhu cầu của bản thân người bán dâm hay đảm bảo cho sự an toàn về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, các bệnh

Trang 22

về sức khỏe sinh sản Do đó đòi hỏi cần có các hoạt động tiếp cận chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người bán dâm hiệu quả

7.3 Giả thuyết 3:

Việc tiếp cận các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe cho nữ mại dâm chưa được mang lại hiệu quả cao do nữ bán dâm tại đây hầu như chưa được tiếp cận tới các dịch vụ CSSKSS Do đó cần có vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc kết nối nguồn lực, là người tư vấn về tâm lý…hỗ trợ cho nữ mại dâm được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại địa phương được hiệu quả

Trang 23

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA NỮ BÁN DÂM

1.1 Các khái niệm liên quan:

1.1.1 Khái niệm mại dâm:

Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm Số:

10/2003/PL-UBTVQH11 ngày 14 tháng 03 năm 2010 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Mại dâm gồm có hành vi mua dâm, bán dâm, trong đó:

Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả

tiền hoặc lợi ích vật chất khác

Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả

cho người bán dâm để được giao cấu

Mại dâm là một hoạt động bất hợp pháp ở Việt Nam Điều 4 Pháp lệnh Phòng chống mại dâm nghiêm cấm các hành vi mua dâm, bán dâm và những hành vi khác như chứa mại dâm, tổ chức hoạt động mại dâm, cưỡng bức bán dâm, môi giới mại dâm, bảo kê mại dâm, lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm và các hành vi liên quan khác

Đặc điểm quan trọng của mại dâm là hình thức cung cấp sự thỏa mãn

về tình dục để đổi lấy tiền hoặc các giá trị vật chất Nghiên cứu này tìm hiểu hình thức mại dâm sau: mại dâm nữ với nam Như vậy, ta có thể thấy, khái niệm mại dâm được nhà nước ta đưa ra vẫn còn khá nhiều bất cập và thu hẹp phạm vi đối tượng mại dâm Hành vi mại dâm không chỉ có giao cấu mà còn

có các hình thức khác như kính dục, quan hệ qua đường miệng… Chính vì vậy mà khái niệm mại dâm chỉ được xác định khi có hành vi giao cấu là chưa hoàn toàn chính xác

Trang 24

1.1.2 Khái niệm Nữ bán dâm:

Nữ bán dâm (gái bán dâm) là những phụ nữ phục vụ đàn ông thỏa mãn hành vi tình dục ngoài hôn nhân để được trả tiền hoặc được hưởng các lợi ích

vật chất khác.(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

1.1.3 Khái niệm dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Chăm sóc sức khỏe là việc duy trì hoặc cải thiện sức khỏe qua việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tật, thương tích, và suy yếu về thể chất và tinh thần trong con người Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe được cung cấp bởi các chuyên gia y tế (các nhà cung cấp hoặc học viên) trong các ngành nghề liên minh sức khỏe, chỉnh hình, bác sĩ, bác sĩ công, nha khoa, hộ sinh, điều dưỡng, y học, đo thị lực, dược, tâm lý học, và ngành nghề y tế

khác.(Nguồn: Tổ chức Y tế Thế giới)

Trong mọi trường hợp, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một hệ thống chăm sóc sức khỏe có chức năng tốt đòi hỏi một cơ chế tài chính mạnh mẽ; một lực lượng lao động được đào tạo tốt và đầy đủ trả lương; thông tin đáng tin cậy để làm cơ sở quyết định và chính sách Duy trì tốt cơ sở y tế và hậu cần để cung cấp thuốc men, máy móc công nghệ chất lượng

1.1.4 Khái niệm Sức khỏe sinh sản và Chăm sóc sức khỏe sinh sản

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Sức khỏe sinh sản là trạng thái

khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư

Trang 25

vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục.

Như vậy chăm sóc SKSS/SKTD đâu chỉ có v n vẹn khu trú ở cái bộ phận mà người ta thường nghĩ đến mà hơn thế rất nhiều, nó bao gồm cả việc giúp cho con người có được trạng thái tinh thần thoải mái và hòa hợp với xã hội Chăm sóc sức khỏe sinh sản không chỉ có nghĩa là giúp cho người bệnh khỏi được những căn bệnh thực thể mà còn có nghĩa là giúp họ thoát khỏi những bế tắc về mặt tinh thần và có được những mối quan hệ lành mạnh, bao gồm cả những mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội

1.1.5 Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản:

Tiếp cận là mức độ những gói dịch vụ hợp lý đến được và được sử dụng bởi những cá nhân ở một địa điểm nhất định nào đó Tiếp cận có nhiều phương diện khác nhau bao gồm phương diện vật chất, hành chính, kinh tế, nhận thức và tâm lý

(Bertrend JK Herdec,RMagnani,and MAngld.1995 “Tiếp cận, chất lượng và các rào cản về y tế với các chương trình KHHGĐ” Tạp chí International Family Planning)

Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với nữ bán dâm là việc đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe sinh sản của họ

Một số dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản nữ bán dâm cần thiết

- Được cung cấp thông tin về các dịch vụ y tế

- Được tiếp cận các dịch vụ y tế về

+ Tư vấn, xét nghiệm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Trang 26

+ Tham vấn trong quá trình

+ Điều trị ARV

+ Điều trị thay thế các chất gây nghiện (cho PNMD nghiện ma túy)…

1.1.6 Khái niệm vai trò của công tác xã hội:

Hiệp hội các nhân viên xã hội chuyên nghiệp của Mỹ cho rằng: “ Công tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường năng lực và chức năng xã hội để tạo ra những điều kiện xã hội cần thiết, giúp họ đạt được mục tiêu Công tác

xã hội thực hành bao gồm sự ứng dụng các giá trị, nguyên tắc, kỹ thuật của công tác xã hội nhằm giúp con người (Cá nhân, gia đình và nhóm cộng đồng) tiếp cận và được sử dụng những dịch vụ trợ giúp, tham vấn và trị liệu tâm lý Nhân viên xã hội cung cấp dịch vụ xã hội, các dịch vụ sức khỏe và tham gia vào các tiến trình trợ giúp pháp lý khi cần thiết Để có thể thực hiện các hoạt động công tác xã hôi trong thực tiễn, người nhân viên xã hội đòi hỏi phải có kiến thức về hành vi con người, về sự phát triển của con người, về các vấn đề

xã hội, về kinh tế và văn hóa và sự tương tác của chúng với nhau”

(National Association of Social Workers, Standards for Social Service Manpower, New York NASW,1983 p 4-5)

Vai trò của CTXH là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội

Để đạt được các điều này, ngành CTXH phải thực hiện các nhiệm vụ tham vấn, trị liệu, giáo dục, thương lượng, hòa giải, hỗ trợ, hoạch định và nghiên cứu Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, ví dụ như tùy thuộc vào

Trang 27

nhu cầu của người nhận dịch vụ và nguồn lực có được, cũng như tùy vào vai trò cụ thể của mình trong cơ quan, tổ chức mà NVCTXH sẽ phối hợp thực hiện các nhiệm vụ trên cũng như chọn phương pháp thực hiện phù hợp

1.2 Các lý thuyết ứng dụng:

Người bán dâm là một phần của xã hội, họ cũng có nhu cầu và các quan

hệ xã hội như bao con người bình thường khác Chính vì vậy để có thể tìm hiểu

về đời sống, nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng cũng như mối quan hệ giữa các thành viên khi tham gia Mô hình, tôi đã ứng dụng một số lý thuyết sau:

1.2.1 Thuyết nhu cầu

Abraham Maslow nhìn nhận con người theo hướng nhân đạo vì vậy lý thuyết của ông được xếp vào trường phái nhân văn hiện sinh Ông cho rằng, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển, đó

là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội (tình yêu

thương), nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện

- Nhu cầu về vật chất, sinh lý: nhu cầu về đồ ăn, nước uống, không khí, nhu cầu về tình dục…Nhu cầu này được xem là nhu cầu cơ bản nhất trong 5 nhóm nhu cầu theo sự phân định của A.Maslow

- Nhu cầu an toàn: Con người cần có một môi trường sống an toàn, sức khỏe để bảo đảm sự tồn tại của họ Họ cần có nhà ở để tránh mưa, tránh nắng

Họ cần được khám chữa bệnh, được chăm sóc sức khỏe Họ cần được sống trong môi trường được đảm bảo về an ninh để tính mạng của họ không bị đe dọa Họ cần có môi trường sinh hoạt, vận động để không gây thương tích…

- Nhu cầu tình cảm xã hội: A.Maslow coi đó là nhu cầu thuộc về nhóm

xã hội của con người, sự mong muốn được quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội (gia đình, người thân, bạn bè…) Sức mạnh của họ sẽ được nhân

Trang 28

lên, sự tự tin cũng được tăng cường khi họ là thành viên của các nhóm bởi điều đó khẳng định vai trò, vị trí của họ trong xã hội Sự đơn độc, không gia đình, không có nhóm xã hội nào để cá nhân thuộc về đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển tâm lý và quan hệ xã hội của cá nhân

- Nhu cầu được tôn trọng: Con người luôn cần được đối xử bình đẳng, được lắng nghe và không bị coi thường Dù đó là ai, tr em hay người lớn, người lành lặn hay người bị khuyết tật, người giàu hay người nghèo tất cả họ đều có nhu cầu được coi trọng, được ghi nhận về sự hiện diện cũng như chính kiến của cá nhân Con người có trở nên tự tin hay không, thể hiện được sức mạnh của mình hay không đó là một phần do họ được đối xử bình đẳng hay không khi còn nhỏ

- Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển: Đó là nhu cầu được đến trường, được nghiên cứu, lao động sáng tạo…để phát triển toàn diện Nhu cầu này được A.Maslow cho là nhu cầu quan trọng, song chúng được xếp ở bậc thang cuối cùng bởi nó chỉ được đề cập tới khi những nhu cầu cơ bản ở các bậc thang nền tảng đã được đáp ứng

* Ứng dụng của thuyết nhu cầu vào trong đề tài

Ai trong mỗi chúng ta cũng có những nhu cầu, từ những nhu cầu đơn giản như nhu cầu sinh lý đến những nhu cầu cao hơn là khẳng định bản thân Những người hoạt động mại dâm cũng vậy trong quá trình hoạt động mại dâm và tham gia vào nhóm tự lưc họ cũng có những nhu cầu như nhu cầu an toàn, nhu cầu được mọi người tôn trọng, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe… Chính vì vậy khi làm việc với người bán dâm, nhân viên xã hội, cán bộ các trung tâm cung cấp dịch vụ cần nắm rõ và hiểu nhu cầu của họ để có thể tiếp cận và hỗ trợ

Trang 29

1.2.2 Thuyết trao đổi xã hội:

Thuyết Trao đổi xã hội có nguồn gốc từ sự kết hợp của tâm lý học, kinh

tế học và xã hội học Lý thuyết trao đổi xã hội đã được giới thiệu trong những năm 1960 bởi George Homans Sau khi Homans thành lập lý thuyết này, nhiều nhà nghiên cứu khác như Richard Emerson, John Thibaut và Harold Kelly tiếp tục nghiên cứu về lý thuyết này John Thibaut và Harold tập trung nghiên cứu về các khái niệm tâm lý, nhóm nhị nguyên, nhóm nhỏ Homans tập trung vào nghiên cứu các hành vi của cá nhân khi tương tác với nhau Ông tin rằng các đặc điểm như năng lượng, sự phù hợp, lãnh đạo, tình trạng và công bằng trong hành vi xã hội lài rất quan trọng để giải thích trong lý thuyết

- Lý thuyết trao đổi xã hội đề xuất rằng hành vi xã hội là kết quả của một quá trình trao đổi lợi ích giữa các cá nhân Lợi ích này không chỉ dừng lại

ở các yếu tố vật chất mà trong quan hệ xã hội nó còn có thể là sự cảm thông, chia s , cảm giác được tôn trọng, tình yêu thương mà cá nhân nhận được

- Mục đích mà mọi người hướng đến trong các mối quan hệ là: Tăng lợi ích, giảm chi phí/thiệt hại cho bản thân Thuyết cho rằng tất cả các mối quan

hệ của con người được hình thành bởi sự phân tích giá cả lợi nhuận một cách chủ quan và có sự so sánh giữa các lựa chọn Vì thế, khi những rủi ro lớn hơn những phần thưởng, con người sẽ chấm dứt hoặc từ bỏ mối quan hệ Ví dụ, khi một người nhận thấy giá trị cái mình cho đi lớn hơn cái họ nhận được, thì người đó tức khắc sẽ quyết định từ bỏ mối quan hệ

- Theo đó, chi phí/thiệt hại liên quan đến những điều được xem là ảnh hưởng xấu đến cá nhân như phải bỏ tiền, thời gian và nỗ lực vào một mối quan hệ Những lợi ích là điều mà cá nhân nhận ra trong các mối quan hệ như niềm vui, tình bạn, sự đồng hành và hỗ trợ xã hội

Trang 30

- Lý thuyết trao đổi xã hội cho thấy rằng về cơ bản chúng ta có những lợi ích và trừ đi các chi phí/thiệt hại để xác định có bao nhiêu mối quan hệ có giá trị Mối quan hệ tích cực là khi lợi ích lớn hơn chi phí, trong khi mối quan

hệ tiêu cực xảy ra khi các chi phí lớn hơn lợi ích

- Tuy nhiên, do kỳ vọng của mỗi cá nhân vào các mối quan hệ là khác nhau nên mức độ hài lòng của họ đối với kết quả cũng sẽ khác nhau Ví dụ, trong mối quan hệ tình yêu, có những người hài lòng với việc nhận được sự quan tâm, chăm sóc của đối phương, nhưng có người còn mong chờ ngoài các yếu tố tinh thần sẽ có cả các phần thưởng "vật chất" khác như những món quà

- Khi không hài lòng với các mối quan hệ, người ta sẽ từ bỏ nó và tìm đến "các lựa chọn thay thế" là những mối quan hệ khác hứa hẹn sẽ cho nhiều lợi ích hơn mối quan hệ hiện tại Càng có nhiều mối quan hệ thay thế, cá nhân càng ít phụ thuộc vào mối quan hệ hiện tại Điều này có thể thấy rõ khi so sánh mức độ chủ động của phụ nữ ngày nay với phụ nữ trước đây trong việc đưa ra quyết định ly hôn, các lý do chủ yếu là vì phụ nữ ngày càng độc lập hơn về kinh tế và địa vị xã hội, họ có nhiều mối quan hệ xã hội và dễ dàng hơn trong việc tái hôn so với trước đây

- Trước khi từ bỏ một mối quan hệ, cá nhân cũng cân nhắc các rào cản

Đó có thể là khoảng thời gian đã bỏ ra để xây dựng mối quan hệ, là những lợi ích tài chính chung đang chia s , là cảm xúc, là tránh các cuộc đối đầu, Nghĩa là đôi khi dù không hài lòng với các mối quan hệ, nhưng vì các rào cản, cá nhân sẽ vẫn duy trì chúng để duy trì một số các lợi ích khác Ví dụ: người vợ không ly hôn dù rất "chán" chồng vì chị ta sợ sẽ mất quyền nuôi con

Trang 31

- Mọi trao đổi xã hội đều hướng đến quyền lực, hay nói cách khác các

cá nhân luôn mong muốn gia tăng quyền lực, gia tăng sự kiểm soát của mình trong mối quan hệ xã hội;

- Tóm lại, lý thuyết Trao đổi xã hội nhấn mạnh vào giải thích hành vi của cá nhân theo kết quả của hành vi đó (Anh làm như thế vì muốn đạt được điều gì) thay vì giải thích theo nguyên nhân như các lý thuyết hành vi khác

* Ứng dụng lý thuyết trao đổi xã hội

Nhân viên xã hội khi tiếp cận, làm việc nhóm với nữ bán dâm mong muốn được tìm hiểu về hoàn cảnh, nhu cầu hoặc nắm bắt được tâm lý của họ Đối với người bán dâm thì họ thường đặt ra cho nhân viên xã hội các câu hỏi như: Họ tiếp cận mình để làm gì? Mình sẽ được gì khi trao đổi với họ? Để giải quyết vấn đề đó, nhân viên xã hội cần nắm vững thuyết trao đổi xã hội để

có thể điều hòa được mối quan hệ giữa nhân viên xã hội cũng như mối quan

hệ giữa người bán dâm với người bán dâm trong quá trình sinh hoạt nhóm

1.2.3 Thuyết học tập xã hội:

Đầu những năm 60, Bandura đã nêu giả thuyết về Thuyết hành vi của mình, trong đó ngay từ đầu ông đã xác định là Thuyết hành vi xã hội, sau này gọi là Thuyết học tập xã hội Thuyết nhận thức xã hội có nghĩa là nghiên cứu hành vi ở cấp độ hình thành và thay đổi trong những tình huống xã hội

- Nội dung lý thuyết học tập xã hội

+ Cấu trúc của nhân cách

Những nghiên cứu của Bandura dựa vào sự quan sát hành vi của những nghiệm thể trong quá trình quan sát Hệ thống của Bandura không chỉ mang tính chất hành vi mà còn mang cả tính chất nhận thức Các quá trình nhận thức đóng vai trò quan trọng nhất trong Thuyết nhận thức xã hội, việc xem xét

Trang 32

chúng là sự khác biệt cơ bản về quan điểm của Bandura với hệ thống Skinner Ông đưa ra mô hình hành vi như sau: Kích thích - Nhận thức - Phản ứng - Củng cố Tuy cùng đề cập đến vấn đề hiệu quả của hành vi tạo tác trong việc củng cố hành vi lặp lại, nhưng giữa Skinner và Bandura có sự hiểu khác nhau

về vai trò của nó (của kết quả) Đối với những nhà hành vi tạo tác, kết quả đóng vai trò là kích thích củng cố, làm tăng cường độ và tần số xuất hiện của hành vi lặp lại Còn theo Bandura, kết quả của hành vi có vai trò cung cấp thông tin về những hành động phù hợp hay không, tạo ra kỳ vọng và động cơ

ở chủ thể hướng tới hành động mới Những hoạt động nhận thức không mang tính tự trị - kích thích và củng cố kiểm soát tính chất và sự xuất hiện của chúng Như vậy theo mô hình cấu trúc của Bandura, nhận thức là nhân tố cốt lõi của nhân cách Bandura thừa nhận vai trò của củng cố trong việc điều chỉnh hành vi của con người, nhưng ông cũng tin - thậm chí còn chứng minh bằng thực nghiệm rằng con người tiếp thu hầu như tất cả các dạng hành vi mà không trực tiếp nhận được một sự củng cố nào cả Chúng ta không phải lúc nào cũng đòi hỏi củng cố, chúng ta có thể học qua kinh nghiệm của người khác và hậu quả của những hành vi đó

+ Động cơ hệ

Theo A Bandura, phản ứng hành vi không vận hành một cách tự động bởi các tác nhân kích thích bên ngoài như đã xảy ra trong rô bốt hay máy móc Ngược lại, phản ứng đối với kích thích là những phản ứng tự kích hoạt

* Nhận thức Quá trình nhận thức tác động mạnh, quyết định đến hành

vi của con người Nhận thức có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc điều chỉnh các chức năng tâm lí làm thay đổi (tăng hay giảm) một hành vi nào đó

Trang 33

Theo Bandura, nhận thức có liên quan đến sự đánh giá về việc con người có thể tổ chức tốt như thế nào và quản lý lộ trình hành động đòi hỏi giải quyết các tình huống tương lai chứa đựng nhiều yếu tố căng thẳng khó dự báo

Như vậy quá trình nhận thức đóng vai trò quan trọng nhất, là nhân tố cốt lõi cho việc thúc đẩy hành vi của con người

* Niềm tin: Bandura nhấn mạnh ảnh hưởng của những tâm thế như niềm tin, kỳ vọng đến hành vi của con người Theo Bandura, sự tự tin là nhận thức về năng lực, niềm tin rằng chúng ta sở hữu các kỹ năng cá nhân và khả năng hành động sẽ giúp ta tiếp xúc một cách trực tiếp và thành công trong những tình huống khó khăn định trước Theo ông, các cá nhân sở hữu niềm tin rằng họ có khả năng để thực hành việc đo lường sự kiểm soát các ý nghĩ, xúc cảm và hành động Ông cho rằng, tiến trình của sự sáng tạo và sử dụng các niềm tin vào bản thân là khá đơn giản: Các cá nhân thực hiện hành vi, giải thích những thành tựu về hoạt động của họ, dùng những sự thể hiện để phát triển niềm tin về năng lực, nhằm tiến hành các hành vi tiếp theo trong các lĩnh vực tương tự và hành động hoà hợp với niềm tin đã tạo ra…

* Củng cố gián tiếp: Theo A Bandura củng cố chỉ mang tính chất gián tiếp, nó góp phần thúc đẩy hành vi của con người Bandura nói rằng những sự củng cố này không kích thích chúng ta học nhưng kích thích chúng ta thể hiện những gì chúng ta đã học được Đây là cách ông nhìn vào động cơ của chúng

ta Nguyễn Thơ Sinh (2013), Các học thuyết tâm lý nhân cách,

http://tuhieuminh.blogspot.com

* Ứng dụng của lý thuyết học tập xã hội vào đề tài

Người bán dâm chủ yếu là những người có hoàn cảnh khó khăn Họ mong muốn được xã hội chấp nhận và có thể hòa nhập cộng đồng mà không phải chịu áp lực về sự kỳ thị hay phân biết đối xử từ gia đình, bạn bè, môi

Trang 34

trường xã hội xung quanh Thuyết học tập xã hội sẽ giúp nhân viên xã hội củng cố niềm tin trong mỗi người bán dâm, cung cấp các kiến thức, kỹ năng

tự bảo vệ bản thân và tự tin khẳng định bản thân của người bán dâm Từ đó hỗ trợ họ hòa nhập được với môi trường xung quang

Đồng thời trong khi sinh hoạt nhóm tự lực, cán bộ xã hội cũng có thể khuyến khích các thành viên trong nhóm chia s về hoàn cảnh, cách ứng xử đối với những tai nạn gặp phải khi hoạt động mại dâm… để từ đó các chị em

có thể tham khảo và tích lũy kinh nghiệm cho mình

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu:

1.3.1 Khái quát về thành phố Hải Phòng:

Hải Phòng là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp lớn

nhất phía Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc Bộ Đây là thành phố lớn thứ 3 cả nước Hải Phòng còn là 1 trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Đà Nẵng và Cần Thơ Tính đến tháng 12/2015, dân số Hải Phòng là 2.103.500 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam

Hải Phòng có biệt danh là Đất Cảng, hay Thành phố Cảng Đồng thời, việc hoa phượng đỏ được trồng rộng rãi ở nơi đây cũng khiến Hải Phòng mang tên gọi là Thành phố Hoa Phượng Đỏ Không chỉ nổi tiếng là một thành phố cảng công nghiệp, đây còn là một trong những nơi có tiềm năng du lịch rất lớn Hải Phòng hiện lưu giữ nhiều nét hấp dẫn về kiến trúc, bao gồm kiến trúc truyền thống với các chùa, đình, miếu cổ và kiến trúc tân cổ điển Pháp tọa lạc trên các khu phố cũ Đồng thời, Hải Phòng hiện đang sở hữu một khu

dự trữ sinh quyển thế giới của UNESCO nằm tại Quần đảo Cát Bà, cùng với

Trang 35

các bãi tắm và khu nghỉ dưỡng ở Đồ Sơn Thành phố còn nổi tiếng trong mắt khách du lịch với những nét đặc trưng về văn hóa, đặc biệt là ẩm thực và các

lễ hội truyền thống

Tình hình tệ nạn mại dâm trên địa bàn Quận vẫn diễn ra phức tạp, các phụ nữ bán dâm hoạt động trá hình là nhân viên chủ yếu tại các quán bình dân như: quán karaoke, quán cà phê đèn mờ, gội đầu thư giãn Đa số phụ nữ bán dâm từ tỉnh khác, xuất thân từ nông thôn, không có nghề nghiệp ổn định, trình

độ văn hóa thấp, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, nơi cư trú không ổn định, thường xuyên di chuyển địa bàn Thường các phụ nữ bán dâm từ vùng sâu, vùng xa đến ở và sinh hoạt tại quán, hoạt động tại quán dưới sự quản lý của chủ quán, một số thuê nhà trọ và một số có gia đình về nhà

Trên địa bàn, ước tính khoảng 80% phụ nữ bán dâm bị mắc các bệnh xã hội như giang mai, lậu, các bệnh viêm nhiễm đường tình dục, một số nhiễm HIV/AIDS do thiếu kiến thức phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, làm tăng nguy cơ lây lan trong xã hội

1.3.2 Khái quát về Quận Đồ Sơn

Đồ Sơn là một quận của thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 20 km về hướng đông nam Đồ Sơn có một khu nghỉ mát gồm nhiều bãi biển có phong cảnh đẹp ở miền bắc Việt Nam

Quận Đồ Sơn được thành lập ngày 12 tháng 9 năm 2007 trên cơ sở toàn

bộ diện tích của thị xã Đồ Sơn cũ theo nghị định 145/2007/NĐ-CP của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam

Đồ Sơn là một bán đảo nhỏ do dãy núi Rồng vươn dài ra biển tới 5 km, với hàng chục mỏm đồi cao từ 25 đến 130 m

Trang 36

Về phía tây và tây bắc, quận Đồ Sơn tiếp giáp với huyện Kiến Thụy, các hướng còn lại tiếp giáp với biển Đông Do ở phía bắc và phía nam của quận là hai cửa sông Lạch Tray và Văn Úc thuộc hệ thống sông Thái Bình đổ

ra biển đem theo nhiều phù sa, cộng thêm việc quai đê lấn biển ở Đảo Hòn Dấu để xây dựng khu Resort cao cấp, nên nước biển ở khu vực này (nhất là khu II) đục nhưng vẫn có sức thu hút du khách.Quận Đồ Sơn có 4.237,29 ha diện tích tự nhiên và 51.417 người Quận có 7 phường: Bàng La, Hợp Đức, Minh Đức, Ngọc Hải,Ngọc Xuyên, Vạn Hương, Vạn Sơn

Cơ cấu kinh tế của toàn Quận gồm các ngành, nghề khác nhau như Du lịch, đánh bắt thủy sản…Trong đó ngành Du lịch và dịch vụ chiếm khoảng 70%, đánh bắt thủy sản và nông nghiệp: chiếm 23% và Công nghiệp và xây dựng: 7%

Đồ sơn là địa bàn du lịch phát triển và đây cũng là địa bàn nhạy cảm về tình hình mại dâm, theo ước tính của các tổ chức quốc tế như SCDI, UNFPA…trên địa bàn Quận Đồ Sơn có khoảng gần một nghìn gái mại dâm

Vì vậy nên cần các biện pháp can thiệp giảm tác hại cho người bán dâm, tránh lây truyền các bệnh nhằm đảm bảo sức khỏe cho bản than người bán dâm và cho cộng đồng

1.4 Quan điểm về công tác phòng, chống mại dâm

1.4.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác phòng, chống mại dâm

Quan điểm về phòng, chống mại dâm của Đảng và nhà nước ta nhất quán quan điển coi mại dâm là hoạt động cấm và những đối tượng liên quan đến hoạt động mại dâm là vi phạm pháp luật Quan điểm, chủ trương là vậy nhưng cách thức thực hiện thì có sự chuyển dịch theo hướng tôn trong và bảo

vệ quyền con người

Trang 37

Những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng về tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Tuy nhiên, tệ nạn xã hội cũng có xu hướng phát triển ngày càng tăng, trở thành vấn đề xã hội bức xúc, nhất là tệ nạn mại dâm, nghiện hút ma tuý… Đây là loại TNXH nhức nhối nhất ở nước ta, trái với bản chất của chế độ và định hướng xã hội chủ nghĩa, gây hậu quả nghiêm trọng, làm băng hoại đạo đức, lối sống, gây thiệt hại lớn về mặt kinh tế, làm mất trật tự an toàn xã hội, phát triển giống nòi…

Tệ nạn xã hội là vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế thị trường nên được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp kịp thời nhằm đẩy mạnh và tăng cường công tác phòng, chống tệ nạn xã hội Nghị quyết Đại hội VI (1986-1990) của Đảng đã nhấn mạnh rằng, thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường, mặt tích cực là rất cơ bản, nhưng có mặt tiêu cực là tệ nạn xã hội phát triển Chủ trương của Đảng ta lúc này là phải phát động thành “phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa và đấu tranh với các loại tệ nạn xã hội”

Đến Đại hội VII (1991-1995) trên cơ sở nhận định rằng mặc dù có nhiều cố gắng và ngăn chặn, song tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, Đảng ta

đã xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu 5 năm 1991-1995 là “vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tăng cường ổn định

chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội”, đồng thời nhấn mạnh phải “đẩy

mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng (ma tuý, mại dâm…)

Thời kỳ 1996 - 2000, đất nước tiếp tục đổi mới theo hướng Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng Tuy nhiên, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều

Trang 38

diễn biến phức tạp, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế ở một số nước khu vực châu Á và trên thế giới đã tác động đáng kể đến nước ta Những năm 1997-1998 tăng trưởng kinh tế giảm và đạt mức thấp nhất so với 5 năm trước đó Thời kỳ này tình hình tệ nạn xã hội cũng có xu hướng gia tăng mạnh, nhất là nạn ma tuý và mại dâm lan rộng; số người nhiễm HIV và mắc bệnh AIDS tăng, trở thành vấn đề xã hội nhức nhối Trước tình hình đó, Đảng

ta chủ trương “kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, đẩy lùi tiêu cực, bất công và các tệ nạn xã hội”, nhất là

tệ trộm cướp, cờ bạc, ma tuý, mua bán dâm…

Bước vào thiên niên kỷ mới, đất nước đã trải qua 20 năm đổi mới và kết thúc 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (1991 - 2000), đã đạt được thành tựu to lớn và rất quan trọng Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập Với nỗ lực chung của toàn Đảng, toàn dân đã hạn chế được tốc độ gia tăng tệ nạn xã hội Tuy nhiên, tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn mại dâm, nghiện hút ma tuý vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt là

ở lứa tuổi tr , ở các đô thị, khu du lịch, vùng giáp biên và giáp ranh giữa các tỉnh, huyện… Phòng, chống TNXH là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và bức xúc nhằm góp phần xây dựng con người mới, xã hội mới trong quá trình phát triển và hội nhập ở nước ta Nghị quyết Đại hội IX của Đảng (2001-2005) đã xác định cần phải “ngăn chặn và bài trừ tệ nạn xã hội, nhất là các tệ nạn mại dâm, ma tuý và HIV/AIDS” Đại hội X của Đảng nhấn mạnh phải “xây dựng

và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, chính là hướng quan trọng và cơ bản nhất để đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn xã hội trong đời sống xã hội

Trang 39

Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã đề ra chủ chương, biện pháp quyết liệt và toàn diện, cụ thể nhằm đấu tranh phòng, chống có hiệu quả

tệ nạn xã hội: "Đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, giáo dục cộng đồng,

đề cao vai trò giáo dục của gia đình đối với thanh, thiếu niên về tác hại của ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác Đấu tranh quyết liệt với việc buôn bán,

sử dụng ma tuý Huy động nhiều nguồn vốn, tăng cường đầu tư xây dựng, quản

lý các trung tâm cai nghiện có hiệu quả Đề cao trách nhiệm của gia đình, đoàn thể và chính quyền cơ sở trong quản lý, tạo việc làm, tái hoà nhập cộng đồng cho các đối tượng sau cai nghiện Có giải pháp kiểm soát và hạn chế tệ nạn mại dâm, giảm thiểu tác hại của các tệ nạn xã hội Nhân rộng mô hình xã, phường, thôn, ấp, bản không có tệ nạn xã hội ; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán phụ nữ và bạo lực trong gia đình ; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại

tr em"

Có thể nói rằng, nhận thức của Đảng ta về phòng, chống tệ nạn xã hội ngày càng rõ ràng, nhất quán, không chỉ là vấn đề nhận thức luận mà còn có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, coi đây là một cuộc đấu tranh không kém phần cam go, phức tạp, gắn liền với xây dựng con người mới, xã hội mới trong quá trình phát triển và hội nhập ở nước ta Bởi vậy cần phải tập trung sức mạnh của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; phát động thành phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa và đấu tranh với các loại tệ nạn xã hội, góp phần phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Cùng với quá trình phát triển nhận thức của Đảng ta về phòng, chống tệ nạn xã hội, cũng diễn ra đồng thời quá trình thể chế hoá về mặt Nhà nước các chủ trương, quan điểm của Đảng thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống TNXH

Trang 40

Ngay từ năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã có chỉ thị 14/CT (ngày 16/1/1986) về tập trung cải tạo hoặc lao động bắt buộc gái mại dâm chuyên nghiệp Luật Bảo vệ Sức kho nhân dân (năm 1989) quy định bắt buộc chữa bệnh đối với người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, bệnh ma tuý, bệnh HIV/AIDS Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 cũng quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa bệnh xã hội nguy hiểm

Đến năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 05/CP (ngày 29/1/1993) về “ngăn chặn và chống tệ nạn mãi dâm”; Nghị quyết 20/CP về

“đẩy mạnh công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS” Tiếp đó, ngày 6/7/1995

UB Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, trong đó có đối tượng mại dâm và nghiện ma tuý với các hình thức giáo dục, chữa trị, cai nghiện, tổ chức lao động sản xuất tại cộng đồng hoặc tại các cơ

sở tập trung thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội

Ngày 14/3/2003, Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh phòng, chống mại dâm (số10/2003/PL-UBTVQH11) Pháp lệnh đã quy định rõ trách nhiệm của

cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm Nhà nước thực hiện đồng bộ các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, kinh

tế - xã hội, hành chính, hình sự và các biện pháp khác để phòng, chống mại dâm; kết hợp chặt chẽ các biện pháp phòng, chống mại dâm với phòng, chống

ma tuý và phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS

Ngày 10 tháng 5 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011-2015 Trong Chương trình hành dộng trên đã nêu rõ mục tiêu, biện pháp thực hiện công tác phòng, chống mại dâm trong giai đoạn 2011-2015 Trong đó vẫn bán sát theo Pháp lệnh phòng, chống mại dâm là kiên quyết đẩy lùi tệ nạn mại dâm, khi triệt phá

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w