Tác giả Lê Tuấn Thanh, trong bài viết “Đặc điểm của đầu tư Trung Quốc vào Việt nam từ khi bình thường hoá quan hệ đến nay” 2006 đã trình bày một cách khái quát các mặt của FDI Trung Qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ……….6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu 7
2.1 Tình hình trong nước 7
2.2 Tình hình ngoài nước 9
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 12
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỂ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG QUỐC VÀO VIỆT NAM 15
1.1 Cơ sở lý luận của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): 15
1.1.1 Khái niệm FDI 15
1.1.2 Các hình thức FDI 16
1.1.3 Đặc điểm của FDI 17
1.1.4 Ý nghĩa của FDI 18
1.1.4.1 Đối với nước chủ đầu tư 18
1.1.4.2 Đối với nước nhận đầu tư 18
1.1.5 Kinh nghiệm quốc tế trong thu hút FDI 19
1.2 Những tiền đề để thu hút đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam 21 1.2.1 Chiến lược “Đi ra ngoài” của Trung Quốc 21
1.2.2 Vị trí của Việt Nam trong chiến lược “Đi ra ngoài” 26
1.2.3 Một số hiệp định ký kết tạo điều kiện cho FDI Trung Quốc vào Việt Nam 28 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CỦA TRUNG QUỐC VÀO VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2012 32
2.1 Tình hình đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam 32
2.1.1 Số lượng và quy mô dự án 32
2.1.2 Các lĩnh vực đầu tư 37
Trang 42.1.3 Hình thức đầu tư 43
2.1.4 Địa bàn đầu tư 45
2.2 Nhận xét, đánh giá 50
2.2.1 Quy mô đầu tư nhỏ 50
2.2.2 Vốn FDI chưa tương xứng với tiềm năng 51
2.2.3 Trong quan hệ hợp tác đầu tư giữa Việt Nam – Trung Quốc, hoạt động đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam có lợi nhiều hơn cho phía Trung Quốc 53 CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG TỪ VỐN FDI CỦA TRUNG QUỐC TỚI KINH TẾ VIỆT NAM VÀ TRIỂN VỌNG CỦA NÓ 55
3.1 Những tác động tích cực: 55
3.1.1 Bổ sung nguồn vốn vào ngân sách nhà nước, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 55
3.1.2 Tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường quốc tế 56
3.1.3 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá 56
3.1.4 Cung cấp sản phẩm cho xã hội đồng thời tạo việc làm, tăng năng suất lao động 57
3.2 Những tác động tiêu cực: 58
3.2.1 Làm gia tăng tình trạng nhập siêu của Việt Nam 58
3.2.2 Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ 59
3.2.3 Hiệu ứng lan tỏa của các doanh nghiệp FDI Trung Quốc sang các khu vực khác thấp 59
3.2.4 Lao động FDI vào Việt Nam còn nhiều bất cập 60
3.2.5 Hiện tượng chuyển giá, trốn thuế 61
3.2.6 Hiện tượng thao túng kiểm soát thị trường Việt Nam 61
3.2.7 Tàn phá môi trường, bòn rút tài nguyên 61
3.3 Triển vọng trong việc thu hút vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Na 62 3.3.1 Những thuận lợi 62
Trang 53.3.1.1 Chiến lược đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc sẽ được tăng
cường với tốc độ và mức độ cao trong những năm tới 62
3.3.1.2 Tiềm lực kinh tế của Trung Quốc đã lớn mạnh rất nhiều sau khủng hoảng 63
3.3.1.3 Chính phủ cũng như các doanh nghiệp Trung Quốc ngày càng quan tâm đến thị trường Việt Nam 64
3.3.2 Những thách thức 65
3.3.2.1 Cạnh tranh đầu tư trong khu vực rất lớn 65
3.3.2.2 Môi trường đầu tư của Việt Nam còn chậm đổi mới và kém cạnh tranh hơn trong so sánh với khu vực 65
3.3.2.3 Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc nhiều mặt, dễ bị Trung Quốc chèn ép và đối xử không lành mạnh trong thu hút FDI 66
3.3.3 Triển vọng 67
3.4 Giải pháp gợi mở cho Việt Nam trong thu hút FDI của Trung Quốc 68
3.4.1 Nhóm giải pháp đối với chính phủ 69
3.4.1.1 Đưa ra những chính sách đúng đắn nhằm thu hút nguồn vốn 69 3.4.1.2 Hoàn thiện, cải tiến và nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư 70
3.4.1.3 Nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài 71
3.4.1.4 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 72
3.4.2 Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp Việt Nam 72
3.4.2.1 Tăng cường mức tín nhiệm với các nhà đầu tư 72
3.4.2.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh 73
3.4.2.3 Chống sự lệ thuộc vào Trung Quốc 74
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Asia-Pacific Economic Cooperation
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
CNXH Chủ nghĩa xã hội
FDI Foreign direct investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free-trade agreement
Hiệp định thương mại tự do
GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
RCEP Regional Comprehensive Economic Partnership
Hiệp định kinh tế đối tác toàn diện khu vực
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
USD United States dollar
Đô la Mỹ
WTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân bổ vốn FDI của Trung Quốc theo khu vực đến 2009
Bảng 1.2: Số dự án FDI còn hiệu lực của Trung Quốc ở một số tỉnh tính đến hết năm 2010
Bảng 2.1 Số vốn FDI của Trung Quốc được cấp giấy phép tại Việt Nam từ
2000 – 2012
Bảng 2.2 Việt Nam trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 2003 –
2012
Bảng 2.3 Thu nhập bình quân của công nhân ở một số nước năm 2009
Bảng 2.4 Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam phân theo ngành từ
Bảng 3.1 Thống kê nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc từ 2007 – 2012
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới có nhiều thay đổi đặc biệt xu thế toàn cầu hóa trở nên mạnh mẽ và trở thành xu thế tất yếu đối với các quốc gia trên thế giới, nó đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia, tạo điều kiện cho các nước mở rộng quan hệ của mình với các quốc gia láng giềng, trong khu vực và trên thế giới nhằm hợp tác phát triển nền kinh tế đất nước Đồng thời quá trình phân công lao động và quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới diễn ra ngày càng sâu rộng, giúp các quốc gia phát huy lợi thế so sánh của mình Đây là cơ sở cho sự gia tăng xu hướng đầu
tư cả hai chiều thay cho khuynh hướng một chiều trước đây Điều này diễn ra phổ biến ở các nước đang phát triển, trước đây họ tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp từ các nước lớn, thì giờ đây cũng đang cố gắng vươn lên trở thành các nhà đầu tư quốc tế
Sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2001, tiềm lực kinh tế của Trung Quốc càng tăng nhanh hơn,
và Trung Quốc đã khai thác được nhiều lợi thế để dần từng bước trở thành nhà đầu tư lớn của thế giới Ngoài ra, Trung Quốc cũng đang bắt đầu chịu áp lực của việc thiếu tài nguyên và dư thừa sản xuất nên đầu tư ra nước ngoài đang được coi là quyết sách phát triển mới của chính phủ nước này Trước những yêu cầu mới đặt ra, Đại hội XVI của Trung Quốc đã đưa ra chiến lược
“Đi ra ngoài” nhằm tận dụng thị trường, nguồn lực của nước ngoài để phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Không những thế, chính sách này còn giúp Trung Quốc chuyển hóa được sức sản xuất dư thừa trong nước, giảm bớt áp lực điều chỉnh cơ cấu kinh tế Vì vậy, hoạt động đầu tư ra nước ngoài này càng được đẩy mạnh
Trang 9Khu vực Đông Nam Á được coi là địa bàn mang tính “cửa ngõ chiến lược” đối với các nhà đầu tư Trung Quốc, trong đó có Việt Nam Việt Nam và Trung Quốc vốn có quan hệ láng giềng gần gũi, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp, do vậy việc thu hút vốn đầu tư là cần thiết Bên cạnh đó, thị trường của Việt Nam có nhiều tiềm năng cũng như chi phí nhân công rẻ, vận chuyển nhanh vì vậy đã trở thành một trong những điểm đến của các doanh nghiệp Trung Quốc Kể từ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước được đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực trong đó có đầu tư trực tiếp Từ năm 2000 đến nay, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng nhanh cả về số lượng, quy mô và địa bàn đầu tư Việt Nam có thể tận dụng nguồn vốn này để phát triển kinh tế, đồng thời học hỏi những kinh nghiệm về đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc trong quá trình phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích
mà vốn đầu tư trực tiếp của Trung Quốc mang lại thì cũng có những tác động tiêu cực không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam Việt Nam phải làm gì để ứng phó với tác động tiêu cực đó và có thể tận dụng nguồn vốn này cho có hiệu
quả hơn Đó là lý do tôi quyết định chọn đề tài luận văn “Đầu tư trực tiếp của
Trung Quốc vào Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2012”
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Tình hình trong nước
Trong khi số lượng các nghiên cứu về luồng FDI đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc là tương đối nhiều và hứa hẹn sẽ còn tiếp tục gia tăng cùng với thực tế bùng nổ luồng vốn FDI từ Trung Quốc đổ ra thế giới, thì còn khá
ít các nghiên cứu hệ thống về luồng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kim Bảo “Đại hội 16 với vấn đề kiên
trì thực hiện mục tiêu “thu hút nguồn vào” và “mở rộng nguồn ra” Nâng
Trang 10cao toàn diện mức độ mở cửa đối ngoại” (2003) đã trình bày sự phát triển của
chính sách “Đi ra ngoài” của Trung Quốc từ ý tưởng đến một chính sách hoàn chỉnh Đặc biệt, tác giả đã luận giải những điều kiện để thực hiện chính sách
“Đi ra ngoài”: đó là xây dựng quy hoạch, thay đổi cơ chế chính sách, phải tạo lập được những doanh nghiệp đầu tầu trong nước và có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế
Tác giả Lê Tuấn Thanh, trong bài viết “Đặc điểm của đầu tư Trung
Quốc vào Việt nam từ khi bình thường hoá quan hệ đến nay” (2006) đã trình
bày một cách khái quát các mặt của FDI Trung Quốc tại Việt Nam từ
1991-2007 như: tốc độ tăng vốn, quy mô tăng vốn, số dự án, hình thức đầu tư, địa bàn đầu tư, ngành đầu tư… Trong đó, tác giả có đưa ra những nhận xét về tác động tích cực cũng như những mặt còn tồn tại của FDI Trung Quốc tại Việt Nam Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra triển vọng tốt đẹp của quan hệ đầu tư giữa hai nước trong những năm sắp tới
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thái Quốc, "Thực trạng và chính sách
đầu tư nước ngoài của Trung Quốc và Ấn Độ - Nghiên cứu so sánh", năm
2007, đã trình bày rất rõ chính sách đầu tư nước ngoài của Trung Quốc những năm gần đây cũng như cơ sở của chính sách này
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phương Hoa “Đầu tư trực tiếpnước
ngoài của Trung Quốc tại Việt Nam trong 10 năm qua”, năm 2010, tác giả đã
trình bày những động thái mới Trong đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam giai đoạn mới 2001- 2010, trong đó nêu bật những thay đổi quan trọng về tốc
độ và quy mô vốn, cơ cấu đầu tư theo ngành, vùng… Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích những cơ sở chính trị - pháp lý của quan hệ đầu tư giữa hai nước, đó
là các Hiệp định kinh tế, Hiệp định thương mại, Hiệp định đầu tư được ký kết giữa hai nước từ trước đến nay
Nghiên cứu của hai tác giả Hoàng Xuân Hoà và Trần Thị Thanh Nga
“Đầu tư ra nước ngoài - chính sách phát triển mới của Trung Quốc” (2006)
Trang 11đã phân tích khá sâu sắc về chiến lược “Hướng ra thế giới” của Trung Quốc với sự đi sâu làm rõ những cơ sở khách quan và chủ quan của chiến lược này:
đó là khát vọng mở rộng thị trường của các nhà đầu tư Trung Quốc, ý đồ chiếm lĩnh các nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới nhằm phục vụ nền kinh tế phát triển nóng ở trong nước, mong muốn chuyển dịch một số ngành
và cơ sở sản xuất đã bão hoà ra bên ngoài, trốn thuế và tránh một số rào cản thương mại đầu tư ở trong nước… Đồng thời, các tác giả này cũng nêu bật một số đặc điểm của FDI Trung Quốc ra bên ngoài như: địa bàn đầu tư, hình thức đầu tư, ngành đầu tư…
Tuy nhiên, hầu như các luận án này xoay quanh việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, cách sử dụng sao cho hiệu quả, và học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc Tôi muốn đóng góp thêm những phân tích về tác động tích cực cũng như tiêu cực của nguồn vốn FDI Trung Quốc tới nền kinh tế Việt Nam, đồng thời nêu lên một số giải pháp nhằm giải quyết các tiêu cực đó
2.2 Tình hình ngoài nước
Cho đến nay, mặc dù luồng ra của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Trung Quốc đang tăng lên nhanh chóng và trở thành hiện tượng gây chú ý với giới học giả, nhưng số lượng các nghiên cứu về lĩnh vực này vẫn chưa nhiều Càng
có ít nghiên cứu liên quan trực tiếp đến chủ đề “ Đầu tư trực tiếp của Trung
Quốc vào Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2012
Vấn đề đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc đã dành đươc sự quan tâm đáng kể ở các tổ chức quốc tế như WB, ADB và được thực hiện ở nhiều Viện nghiên cứu lớn của các quốc gia như: Viện nghiên cứu Chiến lược Luân Đôn, Viện nghiên cứu kinh tế thế giới Kiel (CHLB Đức), Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính trị thế giới Trung Quốc Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình của các học giả nổi tiếng nghiên cứu về đầu tư ra nước ngoài của Trung
Trang 12Quốc như Robert Taylor, Antkiewicz, Whalley, Yevgeniya Korniyenko, Toshiaki Sakatsume, Caihua Zhu, Lina Lian, Dylan Sutherland, Jian Chen, Edward M Graham
Lina Lian, năm 2011, trong công trình nghiên cứu của mình Overview
of Outward FDI Flows of China (Tổng quan về dòng FDI ra nước ngoài của
Trung Quốc), đã nghiên cứu khá sâu sắc về các động lực của hoạt động FDI
ra nước ngoài của Trung Quốc Các động lực đó là: sự chiếm lĩnh tài nguyên thiên nhiên và một số tài sản chiến lược khác như công nghệ, thương hiệu, mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hoá quan hệ đầu tư, bành trướng và gây ảnh hưởng về mặt ngoại giao và chính trị…
Robert Taylor (2007), với công trình nghiên cứu Globalization
Strategies of Chinese Companies (Các chiến lược toàn cầu hóa của các công
ty Trung Quốc), đã nghiên cứu về các hình thức mà các công ty Trung Quốc thực hiện đầu tư ra nước ngoài Đó là các hình thức như: công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh và công ty cổ phần hay hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh Tác giả cũng phân tích xu hướng tiến triển của các hình thức này: từ công ty liên doanh là chủ yếu đến công ty 100% vốn nước ngoài
là chủ yếu
Về tác động của hoạt động FDI từ các doanh nghiệp Trung Quốc, nghiên cứu nổi bật nhất là của hai tác giả Yevgeniya Korniyenko và Toshiaki
Sakatsume, trong tác phẩm Chinese investment in the transition countries
(Đầu tư của Trung Quốc vào các nền kinh tế quá độ), công bố năm 2009 Nghiên cứu này nêu bật những tác động tích cực cũng như tiêu cực của FDI Trung Quốc đến các nước chuyển đổi Nghiên cứu này cũng thảo luận ba vấn
đề chính sách nảy sinh từ hoạt động mua lại và sáp nhập (M&A) của các doanh nghiệp này Nó bao gồm (i) hỗ trợ tài chính của chính phủ cho các thương vụ M&A; (ii) tính minh bạch trong hoạt động thu mua lại; và (iii) các
Trang 13lo ngại về chính sách của chính phủ các nước sở tại đối với hoạt động mua lại
và sát nhập
Shujie Yaoa, Dylan Sutherlanda và Jian Chen, trong bài báo China’s
Outward FDI and Resource-Seeking Strategy (FDI ra nước ngoài của Trung
Quốc và chiến lược tìm kiếm nguồn lực), công bố năm 2010, đã đi sâu phân tích cơn khát năng lượng của Trung Quốc và việc đẩy mạnh chính sách săn lùng nguồn tài nguyên thiên nhiên củaTrung Quốc ở bên ngoài trong hiện tại
và cả trong tương lai Tác giả cho rằng cơ sở của chính sách săn lùng nguồn tài nguyên thiên nhiên của Trung Quốc là do sự phát triển kinh tế quá nóng của Trung Quốc trong những năm gần đây, và sự nghèo nàn cũng như thiếu
hụt trầm trọng trong cơ cấu tài nguyên chiến lược của Trung Quốc
Còn nghiên cứu về đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam cũng không nhiều Trong đó có bài viết của Ren Yi – Đại học Melbourne về
“Motivations for Chinese investment in Vietnam”, với nội dung là tình hình
đầu tư của hai công ty lớn của Trung Quốc vào Việt Nam và đưa ra nguyên
nhân của việc đầu tư này Hay bài viết “China’s trade and economic relations
with CLMV” của Hao Hongmei về quan hệ thương mại, kinh tế của Trung
Quốc với các nước Campuchia, Lào, Myama, Việt Nam Trong đó tác giả nêu lên các hợp tác song phương, đầu tư trực tiếp và viện trợ của Trung Quốc với các nước này, đồng thời nêu rõ các chương trình hợp tác kinh tế như khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc ACFTA, hợp tác tiểu vùng sông Mekong GMS
Tuy nhiên các bài viết cũng chưa đưa ra những tác động tích cực và tiêu cực của ngồn vốn đầu tư trực tiếp của Trung Quốc đối với kinh tế của các nước nhận đầu tư
Vì vậy, trong luận văn thạc sỹ của mình tôi đóng góp thêm một phần nghiên cứu về tình hình vốn đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012, đồng thời nêu lên tác động của
Trang 14nguồn vốn đầu tư trực tiếp tới kinh tế Việt Nam và gợi mở cho Việt Nam những giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
- Về phạm vi nghiên cứu, luận văn nghiên cứu lý luận chung về FDI,
các tiền đề để FDI Trung Quốc vào Việt Nam, thực trạng của nguồn vốn , đánh giá tình hình đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam từ 2000 đến 2012, đồng thời dự báo triển vọng đến năm 2020
- Về thời gian nghiên cứu, luận văn nghiên cứu trong giai đoạn từ năm
2000 tới năm 2012
- Về mặt đối tượng nghiên cứu, thông qua tình hình đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam trên các lĩnh vực, đưa ra những tác động đối với Việt Nam, và dự báo triển vọng về đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam tới năm
2020
4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng một số lý luận chung về FDI để phân tích tình hình FDI
Trung Quốc vào Việt Nam
- Luận văn được viết dựa trên phương pháp so sánh, tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu để chỉ ra nhưng tác động mang tính định tính Đây sẽ là tiền
đề cơ bản cho việc đề ra các giải pháp nhằm thu hút FDI từ Trung Quốc có hiệu quả hơn
5 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về thu hút FDI từ Trung Quốc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
- Đánh giá thực trạng FDI của Trung Quốc vào Việt Nam từ 2000 đến
2012
- Nhận diện tác động của chúng vào Việt Nam
Trang 15- Dự báo FDI của Trung Quốc vào Việt Nam trong bối cảnh mới
- Đề xuất các giải pháp cho Việt Nam trong thu hút FDI từ Trung Quốc
Cấu trúc luận văn bao gồm:
Chương 2: Thực trạng đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam từ 2000 đến
2012
Chương hai nêu lên thực trạng của FDI Trung Quốc vào Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2012 về quy mô, số lượng, hình thức đầu tư cũng như trong các lĩnh vực đầu tư Qua đó đánh giá về thực trạng của nguồn vốn này
Chương 3: Tác động từ vốn FDI của Trung Quốc tới kinh tế Việt Nam và triển vọng của nó
Trang 16Chương ba nêu lên các tác động tích cực cũng như tác động tiêu cực của FDI Trung Quốc đến nền kinh tế Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế các tác động tiêu cực cũng như đánh giá triển vọng của nguồn vốn này trong tương lai
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 17CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỂ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG QUỐC VÀO VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.1.1 Khái niệm FDI
Hiện nay, có nhiều định nghĩa về FDI Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản từ một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là tiêu chí để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, các nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, tổ chức đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản ở nước ngoài nói trên được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund - IMF) lại có một định nghĩa khác về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó, người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp trong một quốc gia khác Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI
Còn Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) lại đưa ra khái niệm: Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân Trong đó, nhà đầu tư trực tiếp sở hữu
ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết và điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty
Tại Việt Nam, theo Khoản 3, điều 2, chương 11 Luật Đầu tư năm 2005 đưa ra khái niệm: Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Trang 18Tuy các định nghĩa có khác nhau về câu chữ nhưng tóm lại đều nói về một quan hệ kinh tế có yếu tố nước ngoài, là hình thức đầu tư của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Các cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh đó
Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được phân biệt với đầu tư gián tiếp nước ngoài, hay FPI (Foreign Portfolio Investment) FPI chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp như trong hình thức đầu tư trực tiếp FDI
Trong hai hình thức đầu tư nêu trên thì đầu tư trực tiếp FDI được các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn ưa thích hơn đầu tư gián tiếp FPI Bởi lẽ, FDI bảo đảm sự ổn định hơn về dòng đầu tư, kèm theo đó là các tác động đến chuyển giao công nghệ, tri thức quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh của nước nhận đầu tư
1.1.2 Các hình thức FDI
Tùy theo luật đầu tư nước ngoài của các nước quy định các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài khác nhau, nhưng nhìn chung có 3 hình thức đầu
tư chủ yếu sau đây:
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài : là doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài bỏ 100% vốn tại nước sở tại, và có quyền điều hành toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp theo quy định, pháp luật của nước sở tại
- Doanh nghiệp liên doanh : là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh Các bên tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỉ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn điều lệ Phần góp vốn của bên nước ngoài không được ít hơn 30% vốn pháp định
Trang 19- Hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh : đây là một văn bản được kí kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước để tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ nhà trên cở sở quy định
về trách nhiệm để thực hiện hợp đồng và xác định quyền lợi của mỗi bên, nhưng không hình thành một pháp nhân mới
- Các hình thức khác : ngoài các hình thức kể trên ở các nước và ở Việt Nam cũng có các hình thức khác như : hợp đồng xây dựng –kinh doanh –chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng –chuyển giao –kinh doanh ( BTO), hợp đồng xây dựng –chuyển giao (BT) nhằm khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.3 Đặc điểm của FDI
FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục tiêu hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận, các nước nhận đầu tư nhất là các nước đang phát triển cần phải chú ý tới điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và một chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào mục tiêu phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các nhà đầu tư
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư
Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hay vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia theo tỷ lệ này
Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, chúng mang tính chất thu thập kinh doanh chứ không phải lợi tức
Trang 20Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ
FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu
tư Thông qua hoạt động FDI nước chủ nhà có thể tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý…
1.1.4 Ý nghĩa của FDI
1.1.4.1 Đối với nước chủ đầu tư
Đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở các nước tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng Mặt khác đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị, đồng thời thông qua việc cho vay vốn với số lượng lớn và lãi suất thấp để áp đặt các điều kiện về chính trị và kinh tế buộc các nước tiếp nhận đầu tư phải lệ thuộc vào mình
Đầu tư vốn ra nước ngoài giúp các công ty xuyên quốc gia mở rộng sản xuất ra nhiều nước, nhằm tránh những bất lợi về kinh tế và chính trị trong nước, đồng thời tận dụng thuế của nước khác để phân công lại lao động, chuyển dịch lại cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi nhất cho các công ty trong hệ thống tập đoàn tư bản xuyên quốc gia
1.1.4.2 Đối với nước nhận đầu tư
Nguồn vốn FDI giúp các nước tiếp nhận đầu tư cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng Bên cạnh đó các nước này còn được tiếp cận với khoa học công nghệ mới cũng như mô hình quản lý của các chuyên gia FDI còn góp phần làm
Trang 21tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ các khoản thuế và lợi nhuận thu được Bên cạnh đó FDI còn tạo ra một lượng hàng xuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệ, góp phần thúc đẩy cán cân thanh toán, đẩy nhanh quá trình hội nhập hợp tác giữa các nước tiếp nhận đầu tư với các nước khác trên thế giới Ý nghĩa to lớn hơn cả mà FDI mang lại cho các nước tiếp nhận đầu tư đó là tạo thêm công ăn việc làm và nâng cao trình độ tay nghề cho nguồn lao động
1.1.5 Kinh nghiệm quốc tế trong thu hút FDI
Việc thu hút nguồn vốn FDI đã trở thành một trong những chính sách phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, điển hình là các nước trong khu vực Đông Nam Á Những kinh nghiệm của các nước này sẽ có giá trị tham khảo to lớn cho Việt Nam
Đầu tiên phải kể đến Singapore, họ đã đưa ra nhiều chính sách nhằm tạo ra môi trường hấp dẫn, kích thích các nhà đầu tư nước ngoài Chính phủ
đã công khai khẳng định không quốc hữu hoá các doanh nghiệp nước ngoài Bên cạnh đó, Singapore cũng rất chú trọng xây dựng kết cấu hạ tầng, phục vụ cho hoạt động sản xuất Thủ tục cấp giấy phép đơn giản, thuận tiện, có những
dự án xin cấp giấy phép rồi đi vào sản xuất chỉ trong vòng vài tháng Đặc biệt, Singapore đã xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn thiện, nghiêm minh, công bằng và hiệu quả Tệ nạn tham nhũng được xét xử rất nghiêm, tất cả các doanh nghiệp không kể trong nước, ngoài nước đều được đối xử như nhau, mọi người đều làm việc, tuân thủ theo pháp luật Không những vậy, chính phủ Singapore còn xác định thu hút vốn đầu tư tập trung vào ba lĩnh vực ưu tiên là: sản xuất mới, xây dựng và xuất khẩu để khai thác ưu thế về vị trí địa lý, cũng như khắc phục sự thiếu hụt về tài nguyên thiên nhiên, phù hợp với trình
Trang 22độ phát triển cao của nền kinh tế, thu hút FDI còn hướng vào việc tạo ra một
hệ thống các ngành dịch vụ thúc đẩy đầu tư quốc tế.1
Tiếp theo là Thái Lan và Malaysia, đầu tư theo hướng có chọn lọc FDI luôn được coi là một trong những nhân tố kích thích quan trọng đối với nền kinh tế Thái Lan Chính phủ Thái Lan đã xây dựng một chính sách ưu đãi để cho dòng vốn này phát huy được lợi thế Ngay từ giai đoạn 1959 - 1971, Thái Lan đã thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế thay thế hàng nhập khẩu Quốc gia này đã có chủ trương giảm dần đầu tư từ Chính phủ, khuyến khích đầu tư
tư nhân Theo đó, năm 1959, Thái Lan đã thành lập Bộ Đầu tư và đến năm
1960 đã ban hành Đạo luật Đầu tư Giai đoạn 1972 - 1996, Bộ Đầu tư Thái Lan đã ban hành chính sách thu hút các chuyên gia, lao động chất lượng cao
từ bên ngoài với những ưu đãi về đất, việc làm để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu Từ năm 2005, chính sách thu hút FDI của Thái Lan có sự biến chuyển theo hướng đầu tư chọn lọc với chính sách ưu tiên nhà đầu tư trong nước, hỗ trợ phát triển các loại hình dịch vụ phi sản xuất
và các loại hình dịch vụ tài chính Thống kê cho thấy, FDI vào Thái Lan đầu
tư nhiều nhất là lĩnh vực công nghiệp, sau đó là thương mại, bất động sản, xây dựng…Đối với Malaysia, những năm 50 - 60 của thế kỷ trước, Malaysia khuyến khích thu hút FDI đầu tư vào những ngành xuất khẩu bằng việc giảm thuế thu nhập tới 3 năm cho các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành được lựa chọn Từ những năm 90 đến nay, Malaysia khuyến khích thu hút FDI vào những ngành sử dụng công nghệ cao, ít phát thải bằng việc phân loại rất rõ những ngành ưu đãi đầu tư.2 Đặc biệt là Trung Quốc qua thu hút FDI Trung Quốc ngày càng nắm bắt được công nghệ của thế giới Chẳng hạn như, Trung
1
Ths Nguyễn Ngọc Mai, “Bí quyết thu hút FDI tại Singapore và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Kinh tế và dự báo 11/09/2013 http://kinhtevadubao.com.vn/dau-tu/bi-quyet-thu-hut-fdi-tai-singapore-va-kinh-nghiem-cho- viet-nam-1478.html
2
Tạp chí Tài chính, “Bí quyết thu hút FDI của một sô nước Châu Á và bài học cho Việt Nam”, 17/10/2013, http://tapchitaichinh.vn/Trao-doi-Binh-luan/Bi-quyet-thu-hut-FDI-cua-mot-so-nuoc-chau-A-va-bai-hoc-cho- Viet-Nam/34326.tctc
Trang 23Quốc để Nhật đầu tư vào công nghệ tàu hỏa cao tốc, sau đó họ học được công nghệ Nay họ không những tự làm được mà còn không cần tới Nhật, thậm chí
họ còn xuất khẩu tàu này sang các nước khác kể cả sang Mỹ
Từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực, Việt Nam có thể rút ra những bài học quý giá từ đó áp dụng cho tình hình thu hút FDI cả đất nước
1.2 Những tiền đề để thu hút đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam
1.2.1 Chiến lược “Đi ra ngoài” của Trung Quốc
Sau hội nghị Trung ương 3 khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 12/1978), Trung Quốc quyết định thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài nhằm làm sống động nền kinh tế bên trong Từ đó Trung Quốc chủ trương bằng nhiều con đường áp dụng nhiều biện pháp để mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới Trong đó việc tạo vốn từ bên ngoài qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được Trung Quốc coi trọng 3
Sau Đại hội Đảng lần thứ XIV, Trung Quốc bắt đầu đặt cơ sở cho việc hình thành chiến lược “Đi ra ngoài” của mình Nội dung chiến lược “Đi ra ngoài” của Trung Quốc là làm thế nào để thúc đẩy các xí nghiệp, các công ty xuyên quốc gia có thể tham gia các hoạt động đầu tư trực tiếp ra bên ngoài thông qua các lĩnh vực như mậu dịch đối ngoại, đầu tư xây dựng xí nghiệp sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ, thầu khoán công trình và hợp tác lao động một cách sâu rộng hơn có hiệu quả hơn trong mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu
Chiến lược “Đi ra ngoài” được đặt ra còn nhằm đa dạng hóa việc sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ khổng lồ mà Trung Quốc đã tích lũy được sau nhiều năm tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao Đầu tư ra nước ngoài cũng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của Trung Quốc có điều kiện được tiếp
3
PGS.TS Nguyễn Kim Bảo, “Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Trung Quốc”, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 6 (16) 1997, tr.7 - 16
Trang 24cận với các thị trường mới và các công nghệ hiện đại Việc đẩy mạnh đầu tư
ra bên ngoài của Trung Quốc trước hết nhằm mục đích giành lấy thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm, thu lợi nhuận siêu ngạch ở bên ngoài, trong điều kiện thị trường Trung Quốc ngày càng tỏ ra bão hoà với một số sản phẩm Chiến lược " Đi ra ngoài " của Trung Quốc còn nhằm mục đích khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên ở bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tài nguyên cố hữu từ trước đến nay, cũng như phục vụ nền kinh tế "quá nóng" của Trung Quốc hiện nay Không những vậy chiến lược đẩy mạnh đầu
tư ở nước ngoài cũng nhằm điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế, đẩy những ngành sản xuất mà Trung Quốc đã bão hoà ra nước ngoài, vừa mở rộng thị trường, vừa tranh thủ các nguồn lực giá rẻ Những ngành đã bão hoà ở Trung Quốc là: sắt thép, xi măng, sản xuất xe máy và linh kiện xe máy, đồ điện gia đình, máy móc nông nghiệp Một nguyên nhân nữa khiến cho lãnh đạo Trung Quốc đưa ra chiến lược này đó là giảm mức độ lệ thuộc vào đồng USD và việc mua trái phiếu của chính phủ Mỹ
Từ năm 2005 đến nay, Trung Quốc tiếp tục đưa ra những chính sách khuyến khích các xí nghiệp, công ty trong nước đầu tư trực tiếp ra nước ngoài một cách tích cực và hiệu quả hơn Trong quá trình thực hiện chiến lược đi ra ngoài, nhà nước đi sâu học hỏi những bài học kinh nghiệm hợp tác phát triển giữa công ty xuyên quốc gia và công ty mẹ trong nước, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho xí nghiệp đi ra ngoài đạt được thành công, mặt khác còn
đi sâu vào cải thiện kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp Thời gian qua, Trung Quốc cố gắng đẩy nhanh chiến lược “Đi ra ngoài” thông qua các chính sách và biện pháp như: 4
Thứ nhất là xây dựng hệ thống đảm bảo để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các xí nghiệp đầu tư ở nước ngoài Nhanh chóng xây dựng hệ thống lập
4
Ths Đỗ Ngọc Toàn, “Chiến lược “Đi ra ngoài” của Trung Quốc”, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 2 (60)
2005, tr 10 - 22
Trang 25pháp về các lĩnh vực đầu tư trực tiếp, hợp tác khoán công trình và lao động nhằm khắc phục tình trạng đầu tư kinh doanh không hợp pháp ở ngoài nước; chỉ đạo các xí nghiệp nắm vững nguyên tắc của các hiệp định như hiệp định
ký kết bảo hộ đầu tư, hiệp định giảm thuế hai lần, hiệp định hỗ trợ tư pháp…
để tạo môi trường bên ngoài thuận lợi cho các xí nghiệp đầu tư
Thứ hai là mở rộng chính sách thẩm định phê chuẩn đầu tư ra nước ngoài, đơn giản hóa quá trình tự thẩm định Qua đó chính phủ Trung Quốc thực hiện một số quy định có tính nguyên tắc như phân định và điều chỉnh chức năng của các ngành hữu quan một cách hợp lý và có hiệu quả, đơn giản hóa quá trình tự thu hẹp nội dung thẩm định phê chuẩn, giảm bớt các khâu phức tạp, cải tiến quản lý, chú trọng phục vụ Tiếp theo là căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế thị trường, tham khảo phương thức tự do hóa từng bước trình tự thẩm định phê chuẩn của các nước trên thế giới để góp phần thay đổi căn bản một số vấn đề có tính vi mô trong chế độ thẩm định đầu tư ra ngoài hiện hành của Trung Quốc, làm cho chế độ thẩm định và phê chuẩn phù hợp với quy luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của thế giới
Thứ ba là thực hiện cải cách ngành quản lý ngoại hối, hoàn thiện hệ thống dịch vụ tiền tệ cho đầu tư ra bên ngoài Trung Quốc đã chú trọng đẩy mạnh cải cách chế độ quản lý ngoại hối, cải thiện chính sách cho vay ngoại hối nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp có vốn đầu tư ra ngoài Bên cạnh đó, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp, Trung Quốc tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hệ thống dịch vụ tiền tệ, xây dựng chế độ đảm bảo rủi ro về chính trị cho các xí nghiệp trong khi đầu tư ở bên ngoài theo thông lệ quốc tế, mở rộng dịch vụ cho vay tín dụng thương mại cho xí nghiệp trong nước muốn đầu tư ra ngoài
Thứ tư là hoàn thiện chính sách và chế dộ quản lý đầu tư ở ngoài nước
Để góp phần hoàn thiện hơn nữa chính sách đầu tư ở bên ngoài, Trung Quốc không những xóa bỏ quan niệm coi lĩnh vực đầu tư ra ngoài chỉ là một bộ
Trang 26phận kết hợp hữu cơ trong chính sách mậu dịch đối ngoại mà còn chú trọng nâng cao tính độc lập của lĩnh vực đầu tư ra ngoài nước 5 Đồng thời cùng với việc tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài sẽ xác lập một chính sách đầu tư
ra nước ngoài phù hợp với tình hình đất nước, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài Bên cạnh đó tăng cường chế độ quản
lý thông qua các biện pháp: từng bước chuyển biến phạm vi quản lý và phương thức đãi ngộ; Trung Quốc sẽ xây dựng cơ quan chuyên ngành dịch vụ
tư vấn thông tin cho các doanh nghiệp đầu tư ở nước ngoài; tăng cường bồi dưỡng và đào tạo nhân viên chuyên môn lành nghề để giúp cho các doanh nghiệp và nhân viên quản lý có trình độ cao có thể triển khai hoạt động đầu tư kinh doanh xuyên quốc gia
Cùng với xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, thêm vào đó là yêu cầu của trào lưu nhất thể hóa quốc tế, sự phát triển của khoa học kỹ thuật
và sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi Đảng và nhà nước Trung Quốc phải có những chính sách phù hợp để phát triển nền kinh tế đất nước Chiến lược “Hướng ra thế giới” được đưa ra đã đem lại hiệu quả lớn cho Trung Quốc, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển đồng thời tăng thêm ảnh hưởng cho Trung Quốc ở các nước và khu vực nhận đầu tư
Sau khi chính sách đẩy mạnh vốn đầu tư ra nước ngoài được đưa ra, Trung Quốc từ một nước tiếp nhận đầu tư nước ngoài nhiều nhất đã trở thành nước đầu tư ra nước ngoài với số vốn lớn và trải khắp các nước trên thế giới,
từ Nam Mỹ sang Châu Âu rồi đến Châu Phi và Châu Á vẫn là thị trường lớn nhất Số vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc là khá cao so với các nước đang phát triển và tăng lên nhanh chóng theo từng thời kỳ Theo Bản tin thống kê về FDI của Trung Quốc ra nước ngoài do MOFCOM – Bộ thương mại cộng hòa nhân dân Trung Hoa phát hành năm 2009 thì tổng FDI của
5
Đỗ Ngọc Toàn, “Chiến lược “đi ra ngoài” của Trung Quốc”, Nghiên cứu Trung Quốc số 2(60) 2005
Trang 27Trung Quốc ra nước ngoài năm 2009 là 56,5 tỷ USD, số vốn này được phân
bổ ra nhiều quốc gia ở nhiều vùng lãnh thổ khác nhau
Bảng 1.1: Phân bổ vốn FDI của Trung Quốc theo khu vực năm 2009
Lượng vốn đầu tư của Trung Quốc tăng mạnh từ 0,4 tỷ USD trong thập
kỷ 80 lên khoảng 2,3 tỷ USD trong thập kỷ 90, đến cuối năm 2004 số vốn đầu
tư ra nước ngoài của Trung Quốc đã lên tới 44, 8 tỷ USD với khoảng 7000 dự
án ở 160 nước và vùng lãnh thổ 6 Qua chiến lược “Đi ra ngoài”, Trung Quốc
đã đạt được nhiều lợi ích đáng kể Thị trường tiêu thụ của Trung Quốc ngày càng được mở rộng do nhiều công ty của Trung Quốc đã mở chi nhánh ở nước ngoài hay hình thành nên những trung tâm mậu dịch Điều này tạo điều kiện cho việc xuất khẩu các mặt hàng của Trung Quốc, thêm vào đó là việc đầu tư trái phiếu, các trang thiết bị, kỹ thuật mang lại nhiều lợi ích cho kinh tế Trung Quốc Ngoài ra các công ty ở nước ngoài này có thể tìm kiếm và khai
6
Hoàng Xuân Hòa – Trần Thị Thanh Nga, “Đầu tư ra nước ngoài chính sách phát triển mới của Trung Quốc”, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 3 (67) 2006, tr.20 - 27
Trang 28thác tài nguyên của nước sở tại một cách hiệu quả, ổn định nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nước Không những vậy, các công ty con còn nhanh chóng nắm bắt được xu thế phát triển của thị trường và giá cả, điều này giúp cho hàng hóa của Trung Quốc có sức cạnh tranh hơn so với hàng hóa của các nước khác Một lợi ích không kém phần quan trọng đó chính là sự tiếp xúc, học hỏi
và sử dụng phương pháp quản lý cũng như máy móc, trang thiết bị hiện đại từ các nước phát triển Bên cạnh đó việc đầu tư xây dựng xí nghiệp ở nước ngoài cũng đem lại cho các xí nghiệp Trung Quốc nhiều nhân tố có lợi Các xí nghiệp có thể giảm bớt khâu xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm, giảm bớt giá thành sản xuất và chi phí vận tải, chi phí đào tạo để tiếp thu những kỹ thuật mới và thích hợp đối với ngành nghề của xí nghiệp, và đặc biệt hơn là xí nghiệp đầu
tư ra nước ngoài sẽ được hưởng những quyền lợi ưu đãi trong chính sách thu hút đầu tư của nước sở tại 7
1.2.2 Vị trí của Việt Nam trong chiến lược “Đi ra ngoài”
Việt Nam sau khi tiến hành đổi mới và thực hiện cải cách thì nước ta ngày càng đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh
tế đất nước Để thu hút ngày càng nhiều FDI, Đảng và Chính phủ đã tiến hành sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài ban hành năm 1997 và Luật khuyến khích đầu
tư trong nước ban hành năm 1994 nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi Thêm vào đó là sự tích cực tham gia, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới như WTO, APEC… Điều này đã tác động tích cực đến sự quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế nói chung và Trung Quốc nói riêng
Việt Nam luôn được đánh giá cao bởi những yếu tố ổn định về chính trị
- xã hội, nhân công cần cù và chi phí rẻ, vị trí địa lý thuận lợi Môi trường chính trị - xã hội ổn định, đây là một trong những điều kiện thuận lợi để thu
7
PGS.TS Nguyễn Kim Bảo, “Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Trung Quốc”, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 6 (16) 1997, tr 7 - 16
Trang 29hút FDI vào nước ta Môi trường chính trị - xã hội ổn định sẽ đảm bảo được tài sản và khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư, đồng thời sự ổn định về chính trị cũng đưa tới sự ổn định về kinh tế, khiến cho các nhà đầu tư yên tâm hơn do tình hình ổn định sẽ có ít rủi ro hơn
Việt Nam cũng có lợi thế về vị trí địa lý vì nằm trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đang phát triển năng động, có đường biên giới chung với các tỉnh miền Nam Trung Quốc Việt Nam chính là cửa ngõ để Trung Quốc tiến xuống Đông Nam Á từ đó tạo điều kiện thuận lợi để vươn ra khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Thông qua đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư Trung Quốc có thể xuất khẩu linh kiện, thiết bị kỹ thuật, cơ khí sang thị trường Việt Nam và các nước Đông Nam Á
Đối với Trung Quốc, khi tiến trình cải cách – mở cửa diễn ra mạnh mẽ hơn thì nhu cầu thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác kinh tế với Việt Nam là tất yếu Trước hết Việt Nam là một thị trường không nhỏ với gần 90 triệu dân, có khả năng tiêu thụ các sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp nhẹ do Trung Quốc sản xuất do đó sẽ đem lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp Trung Quốc Bên cạnh đó Việt Nam còn có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, trong khi Trung Quốc đang dần cạn kiệt nguồn tài nguyên này Ngoài ra, Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng về thị trường lao động, đông dân thứ 13 thế giới với cơ cấu dân số trẻ, thêm vào đó chất lượng nguồn lao động không ngừng được tăng lên Lao động Việt Nam có tính cần cù, sáng tạo và ham học hỏi, không những thế chi phí nhân công ở Việt Nam rẻ Các nhân tố này tạo điều kiện cho Trung Quốc thực hiện chuyển dịch những ngành nghề đã bão hòa ở Trung Quốc sang Việt Nam Trong đó, nổi bật là các dự án đầu tư sản xuất đồ điện gia đình, máy móc nông nghiệp, linh kiện xe máy hoặc chế biến sợi thuốc lá, thuốc bắc, sản phẩm nông
Trang 30nghiệp, quần áo…và các mặt hàng này chủ yếu tiêu thụ ngay tại thị trường Việt Nam 8
Những điều kiện thuận lợi ở trên đã tạo điều kiện để Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam, Việt Nam giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược “Hướng ra thế giới” của Trung Quốc
1.2.3 Một số hiệp định ký kết tạo điều kiện cho FDI Trung Quốc vào Việt Nam
Hiệp định quan trọng đầu tiên nhằm tăng cường hợp tác cũng như đảm
bảo quyền lợi hợp pháp cho các nhà đầu tư đó là “Hiệp định về khuyến khích
và bảo hộ đầu tư giữa Chính phủ cộng hòa XHCN Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” được ký chính thức vào ngày 28/12/1992 Mục đích của hiệp định là khuyến khích bảo hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư của hai nước, trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi nhằm phát triển sự hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia
Chẳng hạn như, Điều 2 “1 Mỗi Bên ký kết sẽ khuyến khích các nhà đầu tư
của Bên ký kết kia đầu tư trên lãnh thổ của mình và chấp nhận những đầu tư
đó phù hợp với luật và quy định của mình
2 Mỗi Bên ký kết sẽ giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để làm visa và cấp Giấy phép hoạt động cho công dân của Bên ký kết kia trên lãnh thổ của mình đối với những hoạt động liên quan đến đầu tư đó” Hay Điều 3 khoản 1
“Những đầu tư và các hoạt động liên quan đến đầu tư của các nhà đầu tư của mỗi Bên ký kết sẽ được đối xử công bằng, thoả đáng và được bảo hộ trên lãnh thổ của Bên ký kết kia” 9 Tiếp theo Hiệp định trên, các Bộ, ngành và địa
phương của hai bên cũng đã ký kết nhiều văn bản về hợp tác đầu tư khác
Trang 31Đặc biệt khi Hiệp định khung về hợp tác toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc được ký vào tháng 11/2002 Trong đó điều khoản quy định về
đầu tư là: “Để thúc đẩy đầu tư và thiết lập một cơ chế đầu tư cạnh tranh, tự
do, thuận lợi và minh bạch, các Bên đồng ý:
(a) tiến hành đàm phán nhằm tự do hoá tích cực cơ chế đầu tư;
(b) tăng cường hợp tác về đầu tư, tạo thuận lợi cho đầu tư, và cải thiện tính minh bạch của các qui định và quy chế đầu tư;
Nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng và thúc đẩy gắn kết giữa ASEAN và Trung Quốc, gần đây Trung Quốc đã tuyên bố thành lập Quỹ Hợp tác Đầu tư ASEAN – Trung Quốc chi 10 tỷ USD cho các dự án hợp tác đầu tư lớn của ASEAN và Trung Quốc trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, năng lượng và tài nguyên, công nghệ thông tin và truyền thông một số lĩnh vực khác
Sau khi hiệp định này được ký kết vốn đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam tăng lên đáng kể Vốn bình quân đầu tư đối với mỗi dự án khoảng 4,3 triệu USD, có những dự án trên 1 triệu USD đến 10 triệu USD Các dự án trên 10 triệu USD đến 100 triệu USD chủ yếu xuất hiện từ năm
2007 đến nay Trong đó điển hình như : dự án của công ty TNHH thép Fuco tại Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng đầu tư là 180 triệu USD là dự án lớn nhất mà Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam 11
Ngoài những hiệp định nêu trên, hai bên còn đề xuất các dự án đưa vào khuôn khổ hợp tác “ Hai hành lang, một vành đai kinh tế ” Sáng kiến xây
Trang 32dựng “ Hai hành lang, một vành đai kinh tế ” được Việt Nam đưa ra vào tháng 5/2004 trong chuyến thăm Trung Quốc của nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải, được triển khai vào năm 2005 với hai giai đoạn : giai đoạn 1 từ
2005 đến 2010 và giai đoạn 2 từ 2010 đến 2020 Hợp tác này bao gồm 3 mục tiêu chính là :
Thứ nhất, tập trung xây dựng và phát triển hai hành lang và một vành đai trên trở thành 3 tuyến kinh tế mạnh, chủ lực trong việc phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc
Thứ hai, khai thác triệt để nguồn lực tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương trên hành lang và vành đai
Thứ ba, thông qua triển khai hợp tác khu vực, thúc đẩy hòa bình, hữu nghị của khu vực biên giới hai nước và khu vực vịnh Bắc Bộ; đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực này, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác Trung Quốc và ASEAN
Khi hợp tác “ Hai hành lang, một vành đai kinh tế” được triển khai, các địa phương trên tuyến hành lang kinh tế Việt Nam khá quan tâm và triển khai tốt việc thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài
Bảng 1.2: Số dự án FDI còn hiệu lực của Trung Quốc ở một số tỉnh nằm trong “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” tính đến hết năm 2010 là
Trang 33Hợp tác “ Hai hành lang, một vành đai kinh tế ” được triển khai không chỉ tạo điều kiện cho Việt Nam thu hút FDI của Trung Quốc mà còn góp phần phát triển kinh tế hai nước đặc biệt là các vùng biên giới với nền kinh tế còn khó khăn
Tóm lại những hiệp định trên đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc mở ra những cơ hội hợp tác đầu tư mới cho Việt Nam và Trung Quốc
Trang 34CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CỦA TRUNG QUỐC VÀO VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2012
2.1 Tình hình đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam
2.1.1 Số lượng và quy mô dự án
Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam trong những năm qua đã
có những chuyển biến rõ rệt Từ năm 2000 đến nay, đầu tư của Trung Quốc
đã tăng nhanh chóng cả về số lượng, quy mô đầu tư
Nếu như trong 9 năm kể từ khi bình thường hóa (tháng 11-1991 đến tháng 12-1999), Trung Quốc mới có 76 dự án với tổng số vốn đầu tư theo giấy phép là 120 triệu USD thì 10 năm sau đến tháng 12-2009 đã có 657 dự
án với tổng số vốn đăng ký là 2.673.941.942 USD Như vậy, trong 10 năm, số
dự án của Trung Quốc tại Việt Nam đã tăng gấp hơn 8 lần, số vốn đăng ký tăng 22 lần Tính đến hết tháng 12/2013, Trung Quốc đã có 977 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư đạt 6.991 tỷ USD, đứng thứ 9 trong tổng số
100 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam
Trang 35Bảng 2.1 Số vốn FDI của Trung Quốc được cấp giấy phép tại Việt Nam
từ 2000 – 2013 (Đơn vị : triệu USD)
Nguồn: Bộ kế hoạch – đầu tư và Tổng cục thống kê
Qua bảng thống kê có thể thấy rằng số dự án và vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam tăng qua các năm Đến năm 2003, số vốn đầu tư vào dự án tăng vọt
so với các năm trước, từ 74,8 triệu USD năm 2002 lên 152,2 triệu USD năm
2003 Chỉ trong vòng một năm mà số vốn tăng lên đến 77,4 triệu USD, trong khi từ năm 2000 đến 2002 lượng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam chỉ tăng 56,7 triệu USD
Để lý giải về điều này, chúng ta có thể thấy rằng năm 2003 là năm phát triển kinh tế ngoạn mục của Trung Quốc Từ những năm 1980 xuất khẩu của Trung Quốc ngày càng nghiêng hẳn về hàng công nghiệp, chiếm 48% tổng hàng xuất khẩu, 10 năm sau tăng lên 78% và đến năm 2003 đã lên tới 92% Hàng xuất khẩu công nghiệp của Trung Quốc rất đa dạng, từ những mặt hàng
có hàm lượng lao động giản đơn như may mặc, giày dép, dụng cụ có hàm
Trang 36lượng công nghệ cao như các loại máy móc 12 Đồ điện, điện tử gia dụng, đồng hồ, máy tính cá nhân, xe máy và các loại máy móc khác chiếm tới 43% tổng xuất khẩu năm 2003 Trung Quốc đã nhanh chóng trỗi dậy trở thành một cường quốc kinh tế chiếm vị trí hàng đầu thế giới trong sản xuất và ngoại thương 13 Kim ngạch đầu tư tài sản cố định toàn xã hội năm 2003 của Trung Quốc hơn 5500 tỷ đồng NDT; tổng kim ngạch bán lẻ hàng tiêu dùng toàn xã hội gần 4600 tỷ đồng NDT; kim ngạch ngoại thương hơn 850 tỷ USD, vượt Anh và Pháp, chỉ đứng sau Mỹ, Đức, Nhật và xếp thứ 4 thế giới Tính đến cuối năm 2003, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã vượt 400 tỷ USD, chỉ đứng sau Nhật và xếp thứ nhì thế giới 14 Với nền kinh tế phát triển, bên cạnh việc thu hút FDI từ bên ngoài thì việc khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài cũng là cách để giúp đất nước phát triển hơn, và tạo vị thế đối với các quốc gia khác
Các năm tiếp theo vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam không có biến chuyển nhiều, tuy nhiên cho đến năm 2006 FDI lại tăng vọt lên 77 dự án với tổng vốn đầu tư là 401,3 triệu USD và năm 2007 với 130 dự án có tổng số vốn đầu tư
là 572,5 triệu USD Đây là kết quả của việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày 07/11/2006
Năm 2007 là năm thứ năm liên tiếp Trung Quốc tăng trưởng 2 con số, với tốc độ tăng GDP đạt 11,5% Thặng dư thương mại ngày càng lớn cũng góp phần đưa tổng dự trữ ngoại tệ của đất nước đông dân nhất thế giới lên mức khổng lồ 1.400 tỷ USD Cũng nhờ nguồn dự trữ ngoại tệ lớn, các doanh nghiệp này có cơ hội mở rộng ra nước ngoài và thâu tóm các doanh nghiệp khác nhằm chiếm lĩnh thị trường toàn cầu
Trang 37Bước vào năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc đại suy thoái kinh tế toàn cầu mà lượng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam có sự suy giảm Theo thống kê của Bộ Kế hoạch đầu tư số dự án Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam
là 73 với tổng vốn đầu tư là 373,5 triệu USD giảm 199 triệu USD, mặc dù vậy Trung Quốc vẫn đứng thứ 15 trong tổng số 50 quốc gia đầu tư vào Việt Nam
Đến năm 2010, lượng FDI của Trung Quốc đổ vào Việt Nam tăng vọt với 770 dự án có tổng vốn là 3.680,2 triệu USD tăng 74,3% Sang năm 2011
là 824 dự án với tổng vốn 4.253,9 triệu USD, và năm 2012 là 894 dự án có mức vốn 4.711,3 triệu USD15 Năm 2010 Trung Quốc chính thức vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế thứ 2 của thế giới với mức GDP năm 2010 tăng 10,3% đạt 6,4 nghìn tỉ USD, mạnh nhất trong 3 năm trước đó Năm 2011 GDP tăng 9,2% so với năm 2010 Với sự phát triển vượt bậc về kinh tế, cộng với sự khuyến khích của Nhà nước trong việc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Trung Quốc tăng cường đầu tư ra các nước láng giềng cũng như những thị trường ở châu Âu, Mỹ La Tinh nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển, khai thác tài nguyên, cũng như thực hiện các nội dung của chiến lược
“Đi ra ngoài” do Đảng và chính phủ Trung Quốc đề ra Mặt khác quá trình công nghiệp hóa của Trung Quốc tiến nhanh trên quy mô lớn, do đó từ chỗ thiếu hụt mà hiện nay Trung Quốc có thể đáp ứng được 100% nhu cầu nội địa
về hàng công nghiệp Nhiều ngành công nghiệp chế biến và chế tạo của Trung Quốc như đồ điện gia dụng, xe hơi, máy tính cá nhân và nhiều loại máy móc khác phát triển trên dưới 20% mỗi năm Trong nhiều mặt hàng thuộc những ngành này, Trung Quốc chiếm đến 40% sản lượng của thế giới Hơn nữa, xét
về tổng lượng, Trung Quốc hiện nay đang dẫn đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực sản xuất như than đá, dệt may, xi măng, thép…và đứng thứ 2 thế giới về sản xuất hàng điện tử Vì vậy, Trung Quốc được mệnh danh là công xưởng
15
Tổng cục thống kê năm 2010-2011
Trang 38của thế giới Điều đó cho thấy, sản xuất hàng công nghiệp của Trung Quốc đang trong giai đoạn khủng hoảng thừa với việc 80% các mặt hàng sản xuất ra cung vượt cầu Nguyên nhân là do các tỉnh của Trung Quốc cạnh tranh thu hút FDI và sản xuất hàng công nghiệp, gây ra hiện tượng đầu tư trùng lặp và sản xuất dư thừa kém hiệu quả của nền kinh tế Trước thực trạng một số ngành sản xuất phát triển ở mức bão hòa, các doanh nghiệp của Trung Quốc
đã chuyển hướng đầu tư sang các nước đang phát triển khác, trong đó có Việt Nam để mở rộng thị trường tiêu thụ.16
Bên cạnh đó, việc Việt Nam nhận được nhiều vốn đầu tư của Trung Quốc một phần là do lợi thế chi phí nhân công rẻ So với các thành phố châu
Á khác như Băng Cốc hay Thượng Hải, chi phí tại các thành phố của Việt Nam tương đối thấp, đặc biệt là về thuế và mức lương tối thiểu
Bảng 2.3 Thu nhập bình quân của công nhân ở một số nước năm 2009
Nguồn: Thống kê của Công ty tài chính J Morgan
Chi phí lao động bình quân ở Việt Nam hiện chỉ bằng một nửa so với ở Trung Quốc Trong khi đó, tại Trung Quốc, việc thiếu hụt lao động tại một số vùng đã khiến các doanh nghiệp và chính quyền địa phương phải tăng lương liên tục Tại nhiều nơi ở Trung Quốc, phong trào đình công đòi tăng lương, giảm giờ làm đã khiến các doanh nghiệp Trung Quốc và cả doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại đây khốn đốn
Về quy mô, từ năm 2000 đến năm 2012, quy mô dự án mà Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam tăng dần theo thời gian Vốn bình quân đầu tư đối với
16
Ths Đỗ Huy Thưởng, “Những yếu tố tác động đến FDI Trung Quốc vào Việt Nam”, Những vấn đề kinh tế
và chính trị thế giới số 5 (193) 2012, tr.43 - 53
Trang 39mỗi dự án tăng từ khoảng 2,5 triệu USD lên khoảng 4,3 triệu USD, trong đó
có nhiều dự án trên 1 triệu USD đến 10 triệu USD Từ năm 2007 đến nay, đã
có những dự án trên 10 triệu USD đến 100 triệu USD, trong đó tiêu biểu như
dự án đầu tư xây dựng, quản lý và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật ở Hải Phòng
175 triệu USD của Công ty TNHH liên hiệp đầu tư Thâm Việt; dự án khai thác, kinh doanh khu công nghiệp, kinh doanh bất động sản ở Tiền Giang 100 triệu USD của Công ty TNHH đầu tư quản lý Tiền Giang - Trung Quốc; dự
án sản xuất giày ở Đồng Nai 60 triệu USD của công ty Phương Đông – Trung Quốc 17
2.1.2 Các lĩnh vực đầu tư
Trong những năm 90, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam chủ yếu là vào ngành công nghiệp nhẹ, tập trung chính vào lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, in ấn mác bao bì thực phẩm, sản xuất lắp ráp đồ điện dân dụng, sản xuất
và lắp ráp máy nông nghiệp các loại, chế biến sản phẩm nông nghiệp, gia công chế biến chè xuất khẩu, sản xuất kinh doanh thuốc trừ sâu, sản xuất giấy dầu lợp nhà, sản xuất lắp ráp máy đếm tiền và các thiết bị có liên quan đến ngân hàng, sản xuất đầu lọc thuốc lá, thức ăn gia súc, khai thác sản xuất ván sàn và các sản phẩm từ tre nứa, chế biến thực phẩm, sản xuất nước tinh lọc và nước giải khát từ hoa quả, may mặc quần áo quy mô nhỏ, sản xuất và bán rượu trắng, khai thác quặng Cromit, sản xuất tấm thép thay thế gỗ làm cốt pha trong các công trình xây dựng, sản xuất gạch – men sứ, sản xuất đồ mỹ nghệ - sơn mài xuất khẩu, sản xuất giấy vệ sinh, đầu tư xây dựng cho thương mại, sản xuất đèn nê-ông quảng cáo và đèn ánh sáng tổng hợp, sản xuất tôm – cua – cá giống18…Với các lĩnh vực dịch vụ không yêu cầu nhiều vốn đầu tư như
Trang 40trên, điều hiển nhiên là vốn đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt Nam không nhiều, quy mô sản xuất không lớn, khó có đủ điều kiện để trang
bị những thiết bị công nghệ, máy móc hiện đại Còn lĩnh vực kỹ thuật cao, những ngành công nghiệp có ưu thế của Trung Quốc như cơ khí, thiết bị thủy điện, thiết bị công nghiệp…vẫn chưa xuất hiện tại Việt Nam
Bước sang thế kỷ XXI, lĩnh vực đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc đã có sự chuyển hướng Nhiều dự án đã chuyển sang đầu tư vào lĩnh vực thăm dò, khai thác mỏ, xây dựng nhà máy luyện mangan, nhôm, gang thép, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng
Bảng 2.4 Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam phân theo ngành từ 2000 – 2012
án
Tổng vốn đầu tư (USD)
Vốn điều lệ (USD)