1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh thể chế Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Pháp: Nhà nước và Đảng chính trị

174 58 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thi hành Hiến pháp 2013, Quốc hội phải tiến hành sửa đổi và bổ sung khoảng 18 đạo luật về tổ chức, hoạt động, thẩm quyền và nhiệm vụ của các thiết chế trong thể chế chính trị của nước

Trang 1

0 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan Luận án là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Các tư liệu, số liệu sử dụng trong Luận án là trung thực Những kết luận khoa học của Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Trần Điệp Thành

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

4 Bảng 3.4 Những điểm giống và khác nhau về cấu trúc tổ

chức của thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam và CH Pháp

117

5 Bảng 4.1 Những điểm giống và khác nhau về chức năng

hoạt động của thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam và CH

Pháp

144

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan ……… i

Danh mục các chữ viết tắt ……… ii

Danh mục các bảng ………. iii

Danh mục các hình vẽ ……… iv

Mục lục……… 1

MỞ ĐẦU ……… 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU……… 16

1.1 Tình hình nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam ………. 16

1.1.1 Tài liệu trong nước ……… 16

1.1.2 Tài liệu nước ngoài ……… 22

1.2 Tình hình nghiên cứu về thể chế chính trị Cộng hòa Pháp… 23 1.2.1 Tài liệu trong nước ……… 23

1.2.2 Tài liệu nước ngoài ……… 31

1.3 Nhận xét chung và hướng nghiên cứu mới của luận án……… 45

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SO SÁNH THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ ……… 49

2.1 Khái niệm: Chính trị, Thể chế, Thể chế chính trị……… 50

2.1.1 Chính trị ……… 50

2.1.2 Thể chế ……… 53

2.1.3 Thể chế chính trị ……… 55

2.2 Phân loại thể chế chính trị……… 58

2.3 Nghiên cứu so sánh chính trị và quan điểm tiếp cận so sánh thể chế chính trị……… 63

2.3.1 Nghiên cứu so sánh chính trị ……… 63

2.3.2 Quan điểm tiếp cận so sánh thể chế chế chính trị ……… 66

Tiểu kết chương 2 ……… 70

Chương 3 SO SÁNH CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CHXHCN VIỆT NAM VÀ CH PHÁP…… 72

Trang 8

3.1 Khái quát về tư tưởng nhà nước pháp quyền và sự vận dụng

cho cấu trúc tổ chức thể chế chính trị của Việt Nam và Pháp 73

3.1.1 Khái quát về tư tưởng nhà nước pháp quyền ……… 73

3.1.2 Sự vận dụng tư tưởng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam …… 75

3.1.3 Sự vận dụng tư tưởng nhà nước pháp quyền ở Pháp ………… 81

3.2 Thể chế nhà nước……… 86

3.2.1 Cấu trúc hệ thống của thể chế nhà nước ……… 86

3.2.2 Cơ cấu tổ chức của thể chế nhà nước ……… 89

3.2.2.1 Thể chế lập pháp ……… 89

3.2.2.2 Thể chế hành pháp ……… 95

3.2.2.3 Thể chế tư pháp ……… 99

3.3 Đảng chính trị……… 103

3.3.1 Cấu trúc đơn đảng của CHXHCN Việt Nam và đa đảng của CH Pháp ……… 103

3.3.2 Cơ cấu tổ chức của đảng ……… 111

Tiểu kết chương 3 ……… 119

Chương 4 SO SÁNH CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CHXHCN VIỆT NAM VÀ CH PHÁP…… 122

4.1 Chức năng hoạt động của thể chế nhà nước……… 122

4.1.1 Thể chế lập pháp ……… 122

4.1.2 Thể chế hành pháp ……… 132

4.1.3 Thể chế tư pháp ……… 136

4.2 Chức năng hoạt động của đảng chính trị……… 138

Tiểu kết chương 4 ……… 146

KẾT LUẬN……… 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ……… 154

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 155 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Kể từ khi thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, nước ta đạt được nhiều thành tựu trong những lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục Điểm nổi bật của sự thành công về mặt chính trị, thể chế là vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội ngày càng tăng, Đảng được củng cố và tăng cường cả về chính trị, tư tưởng và

tổ chức; Nhà nước Việt Nam được xây dựng và hoàn thiện theo phương hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và

vì nhân dân dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, thể chế chính trị ở nước ta vẫn còn tồn tại một số hạn chế, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa được xây dựng và hoàn thiện theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước Tổ chức bộ máy nhà nước ở nhiều cơ quan từ trung ương đến địa phương còn chưa thực sự hợp lý, chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan chưa được quy định rõ ràng, còn chồng chéo Do vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới nhằm đổi mới đồng bộ

và toàn diện, đổi mới phù hợp về tình hình kinh tế và chính trị của đất nước với mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã xác định một trong những “nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới” là sửa đổi Hiến pháp 1992 nhằm tiếp tục khẳng định “bản chất Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa , do Đảng Cộng sản lãnh đạo, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” [51] Sau một thời gian chuẩn bị, thảo luận và lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân cả nước,

Trang 10

ngày 28/11/2013 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 theo nội dung của kết luận Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI [52]

Bản chất và mô hình tổng thể của thể chế chính trị nước ta được tiếp tục quy định trong Hiến pháp 2013 là thể chế Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam) và nội dung của Hiến pháp 2013 lần đầu tiên đã

quy định và cụ thể hóa “nguyên tắc kiểm soát quyền lực” giữa các cơ quan

trong bộ máy nhà nước Vị trí, vai trò, chức năng của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đã được quy định rõ ràng và hợp lý hơn [70]

Hiến pháp mới được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 và bắt đầu có hiệu lực thi hành ngày 1/1/2014 (Hiến pháp 2013) Để thi hành Hiến pháp 2013, Quốc hội phải tiến hành sửa đổi và bổ sung khoảng 18 đạo luật về tổ chức, hoạt động, thẩm quyền và nhiệm vụ của các thiết chế trong thể chế chính trị của nước ta như Quốc hội đã ban hành mới Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân Như vậy, chỉ liên quan đến việc tổ chức và hoàn thiện thể chế chính trị nhà nước theo nội dung của Hiến pháp mới thì việc thi hành Hiến pháp 2013 đã là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước CHXHCN Việt Nam Chính vì vậy, Quốc hội đã ra Nghị quyết số 64/2013/QH13 ngày 28/11/2013 quy định một số điểm thi hành Hiến pháp [45], Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 03/1/2014 về triển khai thực hiện Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

Trang 11

sinh (NCS) so sánh thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam quy định trong Hiến pháp 2013 với thể chế chính trị của Cộng hòa Pháp, tập trung so sánh thể chế nhà nước và đảng chính trị ở cấp trung ương giữa hai quốc gia để từ

đó rút ra những điểm tương đồng và khác biệt, những thành công và hạn chế của cả hai thể chế, từ đó đề xuất kiến nghị cụ thể cho việc xây dựng và hoàn thiện thể chế theo nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực, thực thi Hiến pháp 2013, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới cũng chính là để phục vụ cho nhiệm vụ cấp thiết trên Do vậy, luận án là một nghiên cứu cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

Ngoài những lý do cơ bản nêu trên, luận án NCS lựa chọn nghiên cứu

so sánh hai thể chế chính trị Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Pháp với những lý do cụ thể như sau:

Thứ nhất, Việt Nam và Pháp tuy thuộc hai châu lục Á – Âu, tuy xa

cách về địa lý, nhiều điểm khác nhau về mô hình thể chế chính trị nhưng hai nước đã có mối quan hệ trong lịch sử gần 1 thế kỷ (từ 1858 đến 1945) với sự

có mặt của người Pháp ở nước ta Sự kết nối, ảnh hưởng giữa Đông – Tây; Á – Âu không chỉ diễn ra trên khía cạnh văn hóa, kinh tế mà còn cả lĩnh vực chính trị, thể chế Một điều không thể phủ nhận là Việt Nam đã chịu sự ảnh hưởng của văn hóa, tư tưởng chính trị pháp quyền dân chủ và tiến bộ của các học giả nổi tiếng người Pháp như Charles Louis Montesquieu (1689-1755) và Jean Jacques Rousseau (1712-1778) Tuy nhiên, Việt Nam vận dụng và tiếp thu linh hoạt với những đặc điểm riêng mà không áp dụng dập khuôn, máy móc Điều này được thể hiện trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, một bản Hiến pháp được đánh giá là “tiêu biểu không kém bất cứ bản hiến pháp nào trên thế giới, kết tinh những giá trị

Trang 12

cao cả của thời đại, thể hiện rõ tư tưởng pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [38]

Ngày 2/4/1973, hai nước Việt Nam và Pháp đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức để xây dựng cơ chế hợp tác trong các lĩnh vực rất đa dạng từ chính trị, quốc phòng, an ninh đến kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ và giáo dục Sang thập niên thứ hai của thiên niên kỷ 21, quan hệ giữa hai quốc gia có mối gắn kết từ lâu trong lịch sử này được nâng lên tầm cao hơn bằng

việc Thủ tướng Chính phủ hai nước đã ký Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác

chiến lược vào ngày 25/9/2013 Trong Tuyên bố chung, hai bên Việt – Pháp

nhất trí cùng thực hiện những hoạt động hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo Đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, thể chế là việc tăng cường hợp tác giữa Bộ ngoại giao, Quốc phòng của chính phủ hai nước, hợp tác giữa các Ủy ban, nhóm Nghị sĩ của nghị viện hai nước nhằm thúc đẩy quản trị hiệu quả, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền [64]

Thứ hai, hợp tác về kinh tế, thương mại trên thực tế giữa hai nước ngày

càng phát triển mạnh mẽ và có nhiều triển vọng trong tương lai Trong quan

hệ với các nước châu Âu thì Cộng hòa Pháp hiện là nhà đầu tư lớn thứ hai và đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam [5] Hợp tác với Cộng hòa Pháp, một cường quốc trong Liên minh Châu Âu (EU) còn tạo điều kiện cho Việt Nam có nhiều cơ hội tham gia sâu rộng hơn vào thị trường kinh tế và thương mại của EU và ngược lại hợp tác với Việt Nam cũng tạo nhiều thuận lợi cho Pháp tiếp cận vào khu vực kinh tế, thương mại của Đông Nam Á (ASEAN) nói riêng và quan hệ EU-ASEAN nói chung

Do vậy, với các mục tiêu toàn diện về chính trị, kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội trong quan hệ hợp tác Việt - Pháp thì việc nghiên cứu so sánh

Trang 13

để tìm hiểu sâu sắc về thể chế chính trị giữa hai quốc gia sẽ có ý nghĩa thực tiễn đóng góp cho hoạt động hợp tác nêu trên

Thứ ba, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt

Nam đã ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09/10/2014 về Công tác lý

luận và Định hướng nghiên cứu đến năm 2030 ở nước ta, trong đó có chỉ đạo

các hướng nghiên cứu chủ yếu, cụ thể là: Tiếp tục đi sâu nghiên cứu về bản chất, đặc điểm của chủ nghĩa tư bản hiện đại, nghiên cứu tình hình thế giới và khu vực, cục diện, quan hệ giữa các nước lớn, tăng cường nghiên cứu dự báo tình hình; Đối với những trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiếp tục

mở rộng và đi sâu nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ; Vấn đề hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam

xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực; Tiếp tục làm rõ nguyên tắc tổ chức và hoạt động, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng [43]

Như vậy, nghiên cứu so sánh thể chế chính trị giữa CHXHCN Việt Nam với CH Pháp - một nước lớn ở trên thế giới và cũng là nước đại diện cho chủ nghĩa tư bản hiện đại với những trường phái, tư tưởng về nhà nước pháp quyền tiên tiến sẽ đóng góp cho những nội dung nghiên cứu lý luận và thực tiễn theo tinh thần và nội dung chỉ đạo của Đảng và Nhà nước

Với những lý do trên, luận án NCS thực hiện nghiên cứu so sánh thể

chế chính trị của hai quốc gia với tiêu đề: “So sánh Thể chế Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Pháp: nhà nước và đảng chính trị”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Trang 14

Thứ nhất: Luận án so sánh thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam và

CH Pháp đương đại nhằm làm rõ những đặc điểm giống và khác nhau cơ bản giữa hai thể chế chính trị, những điểm hợp lý và hạn chế chủ yếu trong cấu trúc tổ chức và chức năng hoạt động của thể chế chính trị hai quốc gia, từ đó nêu ra kiến nghị cụ thể cho việc xây dựng thể chế chính trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Thứ hai: Luận án so sánh để chứng minh thể chế chính trị Việt Nam

cũng giống như các thể chế chính trị pháp quyền, dân chủ ở trên thế giới, là thể chế chính trị pháp quyền xã hội chủ nghĩa, có các thể chế nhà nước được Hiến pháp 2013 quy định thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp theo cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với các mục tiêu trên, luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ chính sau Đầu tiên, luận án phân tích một số vấn đề lý luận, đặc biệt là về thể chế chính trị và quan điểm tiếp cận cấu trúc-chức năng trong phương pháp nghiên cứu chính trị so sánh Tiếp theo, luận án tập trung so sánh cấu trúc tổ chức và chức năng hoạt động của thể chế nhà nước và đảng chính trị giữa hai quốc gia và

mối quan hệ giữa các yếu tố này

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu cấu trúc tổ chức và chức năng của đảng chính trị và thể chế nhà nước bao gồm: Quốc hội (Nghị viện), Chính phủ, Tòa án, những người lãnh đạo cơ quan trong thể chế nhà nước như thủ tướng chính phủ và nguyên thủ quốc gia của CHXHCN Việt Nam và CH Pháp vì đây là những chủ thể quan trọng nhất quyết định đến đời sống chính trị của mỗi quốc gia,

trong việc hoạch định chính sách công

3.2 Phạm vi

Trang 15

Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu so sánh những vấn đề

đương đại về cấu trúc và chức năng cơ bản của thể chế nhà nước và đảng chính trị của CHXHCN Việt Nam và CH Pháp từ năm 2000 cho đến nay Đây

là thời điểm sau khi Sửa đổi Hiến pháp 1992 của Việt Nam năm 2001 ghi nhận chính thức thể chế chính trị của nước ta là pháp quyền xã hội chủ nghĩa

và Sửa đổi Hiến pháp CH Pháp năm 2000 về thay đổi nhiệm kỳ của tổng thống

Trong quá trình so sánh về cấu trúc, mô hình nhà nước, đảng chính trị, luận án có mở rộng phạm vi kể từ khi thể chế chính trị Nền Cộng hòa thứ Năm của Pháp được thành lập từ năm 1958 và thể chế chính trị của Việt Nam thành lập từ năm 1946 nhằm chứng minh sự phát triển liên tục và kế thừa tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền của CH Pháp và CHXHCN Việt Nam

Phạm vi không gian: Luận án giới hạn nghiên cứu so sánh đảng chính

trị và thể chế nhà nước giữa CHXHCN Việt Nam và CH Pháp ở cấp trung ương bởi vì ở cấp này sự phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước được thể hiện cơ bản, tập trung và rõ nét nhất

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận án

4.1 Phương pháp luận

Luận án nghiên cứu so sánh về thể chế chính trị nên tuân thủ phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất của nhà nước tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa, về mối quan hệ giữa đảng chính trị với thể chế nhà nước nói chung và vị trí và vai trò của Đảng Cộng sản trong việc lãnh đạo nhà nước xã hội chủ nghĩa nói riêng

Luận án vận dụng những nội dung hợp lý của lý luận về nhà nước pháp quyền, thuyết tam quyền phân lập về sự cân bằng và kiểm soát quyền lực cho quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của

Trang 16

Việt Nam hiện nay, vận dụng nội dung của những thuyết phổ biến gồm thuyết

thể chế (institutionalism)1, tân thể chế (neo-institutionalism)2, đặc biệt quan

điểm tiếp cận chức năng cấu trúc (structural functionalism)3

để so sánh cơ cấu

tổ chức và chức năng hoạt động của thể chế nhà nước, đảng chính trị

4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Ngoài phương pháp luận, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành chính trị-luật-lịch sử, cụ thể như sau:

- Phương pháp so sánh chính trị: Luận án vận dụng nội dung của thuyết cấu trúc chức năng để tiến hành so sánh cơ cấu, tổ chức và hoạt động của đảng chính trị và thể chế nhà nước của CH Pháp với các bộ phận tương ứng của thể chế chính trị CHXHCH Việt Nam nhằm rút ra kết luận về những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai thể chế Điều này sẽ góp phần làm rõ những kiến thức khoa học chuyên sâu về đặc điểm tiêu biểu trong thể chế chính trị của hai quốc gia dưới góc độ của chính trị học so sánh

- Phương pháp phân tích: phân tích các đặc điểm, nội dung của mỗi yếu

tố trong thể chế chính trị của hai quốc gia Việt Nam và Pháp để từ đó tổng hợp, khái quát thành những đặc điểm chung và riêng Đặc biệt, luận án sử dụng phương pháp phân tích logic quy phạm của chuyên ngành luật bởi vì luận án so sánh thể chế chính trị nhà nước pháp quyền Việt Nam và Pháp nên luận án chủ yếu phân tích các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của nhà nước Cụ thể là Hiến pháp 1958, các Sửa đổi (17 Sửa đổi) của Hiến pháp CH Pháp; Hiến pháp 2013 của CHXHCN Việt Nam và các đạo luật điều

Trang 17

chỉnh về tổ chức và hoạt động của thể chế nhà nước và đảng chính trị, về chức năng hoạt động của thể chế chính trị, mối quan hệ giữa đảng chính trị với thể chế nhà nước trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách của hai quốc gia

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Pháp, tư tưởng dân chủ tiến bộ về nhà nước pháp quyền của Việt Nam và quá trình vận dụng; quá trình thành lập, giải tán và sáp nhập các đảng chính trị cơ bản của Cộng hòa Pháp thứ Năm

5 Những đóng góp mới của luận án

Đóng góp thứ nhất của luận án nghiên cứu so sánh để rút ra những đặc

điểm tương đồng và khác biệt cơ bản nhất về cấu trúc tổ chức và chức năng hoạt động giữa hai thể chế chính trị khác nhau về bản chất và mô hình thể chế Tuy là hai thể chế khác nhau nhưng lại cùng có điểm chung là dựa trên nền tảng của nhà nước pháp quyền dẫn đến việc có thể vận dụng những ưu điểm của nhau để xây dựng và hoàn thiện thể chế Việt Nam có thể áp dụng

cơ chế kiểm soát của CH Pháp để quyền lực nhà nước được phân chia và phối hợp chặt chẽ và trách nhiệm hơn Ngược lại, CH Pháp có thể tiếp tục đổi mới bằng tăng cường quyền hạn của cơ quan lập pháp hoặc tổ chức đảng chính trị như Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm hạn chế xu hướng cá nhân hóa thể chế chính trị của Pháp do bị tổng thống chi phối thể chế nhà nước và đảng chính trị Khái quát những đặc điểm nổi bật của thể chế chính trị CH Pháp như về

hệ thống đa đảng thành lập, hoạt động theo quy định của luật, được ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho bầu cử Thể chế nhà nước của CH Pháp đương đại cũng có những đổi mới trên cơ sở cân bằng quyền lực như tăng cường quyền hạn của Nghị viện, giảm nhiệm kỳ của tổng thống để hạn chế sự ủng hộ khác nhau giữa đảng của tổng thống và thủ tướng

Trang 18

Thứ hai, luận án nêu ra những thành công và hạn chế của cả hai thể chế

chính trị Thể chế chính trị cộng hòa bán tổng thống của Pháp chỉ ổn định

tương đối vì trong khoảng thời gian 20 năm có đến 3 thời gian cùng chung

sống chính trị (cohabitation) Lý do xảy ra tình trạng này là do cấu trúc hành

pháp đôi và đa đảng chính trị có xu hướng lưỡng cực hóa So sánh thể chế chính trị CHXNCN Việt Nam với CH Pháp sẽ định vị thể chế chính trị của Việt Nam đương đại cũng giống như CH Pháp xét theo khía cạnh cấu trúc tổ chức, hoạt động vì cùng là nhà nước pháp quyền, có các thể chế nhà nước thực hiện các chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo chể chế, do Hiến pháp quy định và được ngân sách nhà nước cấp để hoạt động Tuy nhiên, chức năng hoạt động của thể chế chính trị Việt Nam còn chưa hiệu quả do quy trình, thủ tục hoạch định chính sách công, xây dựng văn bản pháp luật rườm rà, hình thức, nặng về thủ tục Nguyên nhân là do các thể chế nhà nước chưa hoàn toàn độc lập trong quá trình hoạch định chính sách công, chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực và chưa có một thể chế chịu trách nhiệm thực hiện công việc này

Thứ ba, luận án đề xuất kiến nghị cụ thể cho việc xây dựng và hoàn

thiện thể chế chính trị pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần khắc phục hạn chế nêu trên Nhiều đạo luật về tổ chức thể chế nhà nước vừa được Quốc hội thông qua gần đây để thi hành Hiến pháp 2013, do vậy khả thi nhất hiện nay là thành lập một thể chế bảo hiến có thể như Hội đồng Hiến pháp của CH Pháp Vận dụng theo đặc điểm mô hình thể chế chính trị nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho nên thành viên của thể chế bảo hiến do Quốc hội phê chuẩn theo sự giới thiệu của Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ với nhiệm kỳ 10 năm

Thứ tư, về phương pháp nghiên cứu, luận án chứng minh một trường

hợp nghiên cứu so sánh giữa hai quốc gia có nhiều điểm khác biệt nhất bằng

Trang 19

việc sử dụng quan điểm tiếp cận cấu trúc chức năng của phương pháp nghiên cứu so sánh trong chính trị học Do vậy, luận án sẽ đóng góp về thực tiễn cho phương pháp nghiên cứu cấu trúc chức năng có thể áp dụng để tiến hành so sánh giữa thể chế chính trị Việt Nam với một thể chế chính trị khác

6 Bố cục: Luận án ngoài phần Mở đầu, Kết luận, gồm 4 chương, 10

tiết với nội dung chính như sau:

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong chương này, luận án liệt kê và phân tích các tài liệu tiêu biểu liên quan đến luận án trong 2 phần: 1) Tài liệu nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam; (2) Tài liệu nghiên cứu về thể chế chính trị CH Pháp để chứng minh hiện nay không có tài liệu trong nước và nước ngoài so sánh trực tiếp hai thể chế, đánh giá về những thành công và hạn chế của các tài liệu trong phần Tổng quan Do vậy, nghiên cứu so sánh, kết luận và những đóng góp của luận án là hoàn toàn mới, giải quyết những hạn chế đã nêu và không trùng lặp với bất kỳ các công trình đã công bố nào khác

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SO SÁNH THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ

Luận án phân tích những vấn đề cơ bản về chính trị, thể chế chính trị, quan điểm tiếp cận chức năng-cấu trúc trong nghiên cứu thể chế chính trị so sánh Nội hàm của thể chế chính trị bao gồm thể chế nhà nước và đảng chính trị Thể chế của Việt Nam là cộng hòa xã hội chủ nghĩa có đặc điểm quyền lực nhà nước tập trung, thống nhất, không phân chia Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội Thể chế của CH Pháp là cộng hòa bán tổng thống với đặc điểm: tổng thống được bầu phổ thông trực tiếp và có thực quyền; thủ tướng và chính phủ chịu trách nhiệm trước cả nghị viện và tổng thống Về phương pháp nghiên cứu so sánh, quan

điểm cấu trúc chức năng được luận án đánh giá là có ưu điểm để phân tích

Trang 20

những điểm tương đồng và khác biệt trong việc hoạch định chính sách và thực thi quyền lực nhà nước

CHƯƠNG 3: CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CHXHCN VIỆT NAM VÀ CH PHÁP

Trong chương này, luận án phân tích lịch sử tư tưởng nhà nước pháp quyền và việc vận dụng tư tưởng nhà nước pháp quyền trong cấu trúc tổ chức thể chế chính trị của Việt Nam và Pháp Những đặc điểm tĩnh về cấu trúc tổ chức giữa thể chế nhà nước Việt Nam (hình tam giác cân) và CH Pháp (hình tam giác đều) được phân tích qua việc so sánh thể chế lập pháp, hành pháp và

tư pháp của hai quốc gia Tiếp theo, luận án so sánh cấu trúc hệ thống đa đảng chính trị của CH Pháp với cấu trúc hệ thống một Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập từ năm 1930 đến nay là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước

và xã hội, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có mối quan hệ gắn kết về tổ chức giữa Đảng với thể chế nhà nước Việt Nam Ngược lại, đảng chính trị của CH Pháp lại không có đặc điểm này, đa số các đảng chính trị của Pháp đều mới thành lập, chia tách hoặc sáp nhập Mối quan hệ tổ chức giữa đảng với thể chế nhà nước CH Pháp không chặt chẽ do xu hướng cá nhân hóa quyền lực của tổng thống đối với đảng chính trị

CHƯƠNG 4: CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CHXHCN VIỆT NAM VÀ CH PHÁP

Chương cuối cùng của luận án so sánh chức năng hoạt động thể chế chính trị của CHXHCN Việt Nam và CH Pháp đã làm rõ thêm những đặc điểm động về sự tương đồng và khác biệt của thể chế nhà nước và đảng chính trị trong quá trình hoạch định chính sách công Việt Nam và Pháp giống nhau khi có các thể chế nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng nội dung và tính chất thực hiện cụ thể trong việc thực hiện các chức năng này là khác nhau Những điểm khác nhau này cũng do sự khác

Trang 21

nhau trong cấu trúc tổ chức giữa các yếu tố trong thể chế chính trị của Việt Nam và Pháp Những đặc điểm tĩnh và động có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, chi phối và phụ thuộc lẫn nhau

Tiếp theo, luận án so sánh về sự khác nhau giữa đảng chính trị của CH Pháp và Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng chính trị của CH Pháp không tham gia vào quá trình hoạch định chính sách vì là nước có cấu trúc hệ thống đa đảng, bầu cử trực tiếp tổng thống nên tổng thống không phụ thuộc vào một đảng hay liên minh đảng chính trị nào Tổng thống quyết định chính sách trong chính phủ và hạn chế đảng chính trị tham gia vào quá trình này Ngược lại, Đảng Cộng sản Việt Nam là thể chế lãnh đạo thông qua các chủ trương, đường lối, chính sách chủ đạo Đảng đề ra Cương lĩnh, Nghị quyết để Chính phủ và Quốc hội triển khai thực hiện Tuy nhiên, mối quan hệ quá chặt chẽ về chức năng hoạt động của Đảng Cộng sản với thể chế nhà nước cũng làm hạn chế đi ít nhiều tính chủ động trong quá trình hoạch định chính sách của thể chế nhà nước

Trang 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Hiện nay có nhiều tài liệu khoa học cả trong và ngoài nước nghiên cứu riêng về thể chế chính trị của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam) và Cộng hòa Pháp (CH Pháp) đương đại Tuy nhiên, tài liệu nước ngoài nghiên cứu so sánh giữa hai thể chế CHXHCN Việt Nam

và CH Pháp hầu như không có Một số tài liệu ở trong nước nghiên cứu thể chế chính trị nước ngoài chỉ có phần nội dung tương ứng tham chiếu, đối chiếu hoặc vận dụng, liên hệ đến thể chế chính trị của Việt Nam mà cũng không có tài liệu so sánh trực tiếp giữa hai thể chế chính trị Việt Nam và Pháp Do vậy, luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu hai thể chế trong 2 phần: 1) Tài liệu nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam

và (2) Tài liệu nghiên cứu về thể chế chính trị CH Pháp

1.1 Tình hình nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam

1.1.1 Tài liệu trong nước

Nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam hiện có khá nhiều tài liệu Trong tổng quan của 2 luận án nghiên cứu sinh gần đây, một là Luận

án Tiến sĩ luật học của Tống Đức Thảo [60] và thứ hai là Luận án Tiến sĩ chính trị học của Lý Vĩnh Long [35], hai tác giả đã thống kê và tóm tắt khá đầy đủ nội dung nhiều công trình và đề tài ở trong nước nghiên cứu về thể chế Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam Có thể kể tên như: Đề tài KX.10-03: Đổi mới quan hệ giữa Đảng và bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam do GS.TS Lê Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm; Đề tài KX.10-09: Thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn đổi mới đất nước từ 1986 đến nay do GS.TS Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm; Đề tài KX.10-07: Xây dựng cơ chế pháp lý

Trang 23

đảm bảo sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước và các thiết chế tổ chức trong hệ thống chính trị do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ nhiệm [60, tr 11-14] Không liệt kê lặp lại ở phần tổng quan của các tác giả đã nêu trên, luận án lựa chọn phân tích khái quát, tập trung đánh giá những thành công và hạn chế trong 3 tài liệu nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam sau đây

Tài liệu thứ nhất: Thể chế chính trị Việt Nam - Lịch sử hình thành và

phát triển là một công trình nghiên cứu về Thể chế chính trị Việt Nam theo

khía cạnh lịch sử của tác giả Lưu Văn An, Nhà Xuất bản Chính trị - Hành chính xuất bản năm 2012 Tài liệu gồm 325 trang, 7 chương, trong đó tác giả

đã trình bày từ quá trình hình thành thể chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những năm đầu thế kỷ 20, đến thể chế chính trị Việt Nam giai đoạn 1945-1954, thể chế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1954-1975, giai đoạn 1975-1992 và thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam từ năm 1992 đến nay Tác giả cũng phân tích thể chế Cách mạng Miền Nam Việt Nam, cả thể chế của Việt Nam Cộng hòa ở Miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 tại chương 3 và chương 4

Trong mỗi thể chế và giai đoạn, tác giả đã phân tích và làm rõ vai trò của Đảng (chương 4 là đảng chính trị), của Nhà nước, của các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng, kiện toàn, đổi mới thể chế Kết thúc mỗi chương, tác giả có phần riêng để đánh giá, kết luận về đặc điểm của thể chế trong mỗi giai đoạn

Khái quát chung về thể chế chính trị Việt Nam, tác giả cho rằng việc thành lập thể chế chính trị Dân chủ Cộng hòa năm 1945 “đã đánh dấu bước ngoặt kỳ diệu trong lịch sử Việt Nam” [1, tr 322] Thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam hiện đại ngày càng được hoàn thiện, phát triển, giải quyết tốt những nhiệm vụ do lịch sử đặt ra Tác giả khẳng định việc tiếp tục

Trang 24

đổi mới, kiện toàn thể chế chính trị cho phù hợp với giai đoạn hiện nay, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “Yêu cầu của đổi mới thể chế chính trị trước hết là xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức hệ thống chính trị và mối quan hệ giữa các tổ chức đó Đảng là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ thể chế; Nhà nước có chức năng thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, quản lý toàn diện xã hội ” [1, tr 325] Đặc biệt, tác giả đã nêu khái niệm thể chế chính trị và khẳng định đây là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở các nước nhưng ít được sử dụng ở Việt Nam:

“Thể chế chính trị bao gồm thể chế nhà nước, thể chế đảng chính trị, thể chế các tổ chức chính trị - xã hội” [1, tr 5]

Tóm lại, mặc dù đây là một trong số ít công trình nghiên cứu chính trị

Việt Nam có tiêu đề trực tiếp đề cập đến Thể chế chính trị nhưng chỉ chủ yếu

phân tích theo góc độ lịch sử hình thành và phát triển của thể chế chính trị Việt Nam từ hiện đại đến đương đại (giai đoạn trước 1945 đến nay)

Thứ hai là Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học: Hệ thống chính

trị ở Việt Nam từ 1986 đến nay, NCS Lý Vĩnh Long (Lee Yung Lung), bảo vệ

tại Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội ngày 9/12/2012 Kết cấu 4 chương với 200 trang, luận án đã nghiên cứu về khái niệm, cấu trúc,

vị trí, vai trò, chức năng của hệ thống chính trị Việt Nam gồm, xu hướng từ năm 1986 đến năm 2011 và xu hướng đến năm 2020 Ngoài việc phân tích nội dung lý luận của Việt Nam về hệ thống chính trị, lý do đổi mới hệ thống chính trị; phân tích vị trí và vai trò của Đảng Cộng sản, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam , luận án đã so sánh phát triển chính trị giữa Đài Loan và Việt Nam

Trong Chương 2 có tiêu đề Lý luận về hệ thống chính trị và tính tất yếu phải đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam, tác giả đã trình bày chi tiết và phân

Trang 25

tích khái niệm, cấu trúc, đặc điểm hệ thống chính trị ở Việt Nam Về khái niệm, tác giả vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và quan điểm

được các nhà nghiên cứu Việt Nam sử dụng để nhận xét: “Hệ thống chính trị

Việt Nam là liên minh của toàn bộ các thiết chế chính trị, chính trị-xã hội được thành lập, hoạt động trong mối liên hệ biện chứng, trong đó vai trò lãnh đạo thuộc về Đảng, nhằm thực hiện triệt để quyền lực nhân dân, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ” Cấu trúc hệ thống chính trị ở Việt Nam gồm:

Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội khác Hệ thống chính trị ở Việt Nam vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù với những đặc điểm

cụ thể như: (1) Hệ thống chính trị Việt Nam lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; (2)

Hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam; (3) Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị theo nguyên tắc tập trung dân chủ; (4) Bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi; (5) Trong hệ thống chính trị, các thành viên có địa vị pháp lý vững chắc; (6) Hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thống mang tính thống nhất và được tổ chức theo mô hình Xô Viết; (7) là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và (8) Hệ thống chính trị có nền hành chính được thành lập mới, không được kế thừa nhưng đã tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa [35, tr 189-191]

Trong luận án của tác giả, Lý Vĩnh Long đã liệt kê hệ thống các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích nội dung, phương pháp thăm dò chiều sâu, phân tích tham gia để phân tích và khái quát về hệ thống chính trị của Việt Nam và đi đến kết luận “về cơ bản được tổ chức gần giống như hệ thống chính trị nhiều nước trên thế giới Mặt khác, hệ thống chính trị ở

Trang 26

Việt Nam được tổ chức và vận hành trong một điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội và môi trường văn hóa chính trị đặc thù” [35, tr 189] Tuy nhiên, trong đặc điểm quan trọng thứ (6) tác giả cho rằng: “hệ thống chính trị ở Việt Nam

là một hệ thống mang tính thống nhất và được tổ chức chặt chẽ theo mô hình

Xô Viết Đặc điểm này cho thấy hệ thống chính trị ở Việt Nam tuy có nhiều mặt mạnh, nhưng cũng có không ít những hạn chế ” [35, tr 191] Điều này chưa hoàn toàn chính xác vì thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam chỉ có thể

coi là dập khuôn theo mô hình Xô Viết trong Hiến pháp 1980, còn từ Hiến

pháp 1992 và đến Hiến pháp 2013 thì đặc điểm của thể chế đã có nhiều thay

đổi và không còn được tổ chức chặt chẽ theo mô hình của nhà nước Xô Viết

như trước đây nữa Cụ thể là không tổ chức các cơ quan tập thể như Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, thể chế tư pháp chỉ thuộc Tòa án nhân dân,

bỏ chức năng kiểm tra và giám sát việc tuân theo hiến pháp và pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân như theo mô hình của Liên Xô từ những năm 1960

Thứ ba, tài liệu: Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm nhiều tác giả, do

tác giả Lê Minh Thông làm chủ biên, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 2001 Tài liệu là sự tổng hợp 30 báo cáo khoa học, từ các góc độ khác nhau phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của thể chế nhà nước CHXHCN Việt Nam như: các vấn đề lý luận chung về tổ chức quyền lực nhà nước; về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, các cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương trong các điều kiện cụ thể ở Việt Nam [57]

Về phương diện lý luận làm cơ sở xây dựng bộ máy nhà nước, tác giả Đào Trí Úc nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo là quyền lực thuộc về nhân dân, nguyên tắc Đảng lãnh đạo nhằm đảm bảo “quyền lực nhà nước là thống nhất

Trang 27

trên cơ sở sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp” [68, tr 20-21]

Nêu những điểm chưa hợp lý trong thể chế chính trị của nước ta ở cấp Trung ương, tác giả Lê Minh Thông cho rằng bộ máy nhà nước được quy định trong Hiến pháp 1992 không giải quyết được các mâu thuẫn cơ bản ở tầm vĩ mô như “mâu thuẫn giữa thẩm quyền hiến định và quyền lực trên thực

tế của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ; mâu thuẫn giữa tính không thường xuyên của hoạt động Quốc hội, tính không chuyên nghiệp của đại biểu Quốc hội với nhu cầu làm luật của Quốc hội và quyền ra Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mâu thuẫn giữa địa vị phụ thuộc của Chính phủ trong mối quan hệ với Quốc hội và nhu cầu xây dựng một nền hành chính hiệu quả và phát triển” [58, tr 32-33]

Một số tác giả gợi ý những kiến nghị sửa đổi và hoàn thiện thể chế nhà nước Ví dụ như: cần phải xây dựng một Quốc hội không toàn quyền, nhưng thực quyền; “Quốc hội hoạt động theo đoàn đại biểu sang một Quốc hội với hoạt động của từng đại biểu Quốc hội, một Quốc hội hướng tới hoạt động thường xuyên với một bộ phận quan trọng các đại biểu chuyên nghiệp” [58,

tr 39]; Hiến pháp sửa đổi có thể không quy định về trường hợp bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ như trong hiến pháp nhiều nước, “nhưng cũng cần có hình thức thể hiện thái độ đánh giá của Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ hoặc của các thành viên Chính phủ” [58, tr 41]

Ngoài những quan điểm đề nghị sửa đổi, bổ sung, có tác giả cho rằng quy định của Hiến pháp 1992 về thể chế chính trị vẫn có điểm hợp lý Tác giả Bùi Xuân Đức phân tích quyền hạn của Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1992, quyền hạn của Chủ tịch nước gắn liền với Quốc hội (nghiêng về phía Quốc hội) Chủ tịch nước cùng Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện các chức năng của nguyên thủ quốc gia “Những quy định của Hiến pháp

Trang 28

1992 về chức năng, nhiệm vụ của Chủ tịch nước là hoàn toàn phù hợp với

vị trí của Chủ tịch nước – người đứng đầu Nhà nước trong cơ chế tập quyền

xã hội chủ nghĩa” [20, tr 58] Đặc biệt, tác giả còn nêu quan điểm không đồng tình với ý kiến muốn tăng cường hơn nữa vị trí của Chủ tịch nước “như giao cho Chủ tịch nước quyền đề nghị Quốc hội xem xét lại luật, quyền tuyên

bố chiến tranh, quyền đại xá” [20, tr 59], vì theo tác giả đây là việc không cần thiết

Tóm lại, tài liệu thứ ba gồm những bài nghiên cứu về thể chế chính trị của nước ta có tính lý luận và thực tiễn cao mặc dù các nghiên cứu này công

bố năm 2001, thời điểm sửa đổi lần thứ nhất Hiến pháp 1992 Tuy có nhiều điều phân tích và kiến nghị không còn phù hợp và hiện nay chúng ta đã có Hiến pháp được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 nhưng tài liệu này vẫn còn nhiều nội dung tham khảo cho những nghiên cứu về thể chế chính trị Việt Nam

1.1.2 Tài liệu nước ngoài

Một số tài liệu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam, bao gồm:

Renovating Politics in Contemporary Vietnam (Đổi mới Chính trị Việt Nam

đương đại) của Zachary Abuza, NXB Lynne Renner (Hoa Kỳ) xuất bản năm

2001 [73]; VIETNAM - The Politics of Bureaucratic Socialism (Việt Nam –

Nền chính trị của Xã hội Chủ nghĩa hành chính), của Gareth Porter, NXB Đại

học Cornell xuất bản năm 1992 [119]; Constitutional Revision in Vietnam:

Renovation but not Revolution (Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam: Sửa đổi mà

không thay đổi), của Joanna Harrington năm 1994, Khoa Luật Đại học

Victoria, Hoa Kỳ [102]; Vietnam joins the World (Việt Nam gia nhập thế

giới), của James W.Morley và Mashshi Nishihara (chủ biên), NXB M.E.Sharpe xuất bản năm 1997 [111] Đa phần những tài liệu nước ngoài đều phân tích thể chế chính trị của nước ta trên cơ sở của những tư liệu chưa

Trang 29

khách quan khoa học và phản ánh, tập hợp thông tin một chiều từ các tài liệu nước ngoài mà chưa nghiên cứu đầy đủ tình hình thực tiễn của Việt Nam Như trong tài liệu thứ nhất, tác giả James W Morley ngay trong phần đầu tiên

đã cho rằng: “thể chế chính trị của Việt Nam giống y nguyên và áp dụng theo

mô hình thể chế của Trung Quốc với một bộ máy nhà nước và đảng chuyên chính quá lớn về cơ cấu tổ chức và chồng chéo về chức năng nhiệm vụ ” [111, tr 15]

Trong một nghiên cứu của tác giả Zachary Abuza cũng phân tích là thể chế chính trị Việt Nam đặc biệt theo “mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa độc quyền dưới sự lãnh đạo của một đảng chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam thay nhà nước, ban hành tất cả các chính sách kinh tế và xã hội Đảng lãnh đạo toàn bộ thể chế nhà nước thông qua việc bổ nhiệm tất cả các vị trí lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương” hay “mặc dù có đổi mới trong Hiến pháp 1992 nhưng Quốc hội vẫn chỉ là một cơ quan chính thức thông qua các quyết định của Đảng Cộng sản” [73, tr 18-19]

Như vậy, một số tài liệu nước ngoài chưa làm rõ được đặc điểm của thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam có những điểm tương đồng và khác biệt với các thể chế chính trị của các nước trên thế giới Kể từ Hiến pháp 1992 đến nay, thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo phương hướng xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, theo quy định tại Điều 2 của Hiến pháp năm 2013 đã quy định mới về kiểm soát quyền lực và phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp Những điều này đều không có trong các tài liệu nước ngoài

1.2 Tình hình nghiên cứu về thể chế chính trị Cộng hòa Pháp

1.2.1 Tài liệu trong nước

Trang 30

Nghiên cứu về thể chế chính trị của Nền Cộng hòa thứ Năm của Pháp những thập kỷ gần đây là mối quan tâm lớn của giới nghiên cứu trong nước Sau đây, luận án sẽ trình bày theo hai nhóm tài liệu: (1) tài liệu nghiên cứu thể chế chính trị CH Pháp trong tương quan so sánh với các thể chế chính trị khác; và (2) tài liệu nghiên cứu riêng thể chế chính trị CH Pháp

Trong nhóm tài liệu thứ nhất, đầu tiên là các nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Đăng Dung Tác giả là người viết và chủ biên nhiều sách và bài báo khoa học tiêu biểu về thể chế chính trị CH Pháp Sau đây luận án sẽ phân tích hai tài liệu mà tác giả nghiên cứu về thể chế chính trị CH Pháp như sau:

Thứ nhất, trong cuốn “Thể chế chính trị” được xuất bản năm 2004, tác

giả đã dựa vào mức độ tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước

để chia thể chế chính trị của quốc gia thành thể chế chính trị tổ chức là những

cơ quan, tổ chức (thường được gọi là những tổ chức chính trị), có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau hợp thành một hệ thống chính trị của mỗi quốc gia Ở tầm vĩ mô, thể chế chính trị bao gồm: đảng phái chính trị, các nhóm lợi ích và các đoàn thể chính trị khác [15, tr 28-29] Đặc biệt, trong chương IV- Các thể chế chính trị về tổ chức (từ trang 125 đến 291), tác giả đã dùng trường

hợp của CH Pháp như một “hình mẫu tiêu biểu” để chứng minh cho đặc điểm của chính thể cộng hòa “lưỡng tính” (là sự kết hợp của chính thể cộng hòa đại

nghị và cộng hòa tổng thống) [15, tr 169]

Thứ hai là sách “Luật Hiến pháp đối chiếu” do NXB Thành phố Hồ

Chí Minh xuất bản năm 2001 đã phân tích thể chế chính trị CH Pháp tại chương XII (từ trang 395 đến 419) bằng việc giải thích hoàn cảnh ra đời và

các quy định của Hiến pháp 1958 để kết luận: Tổng thống CH Pháp là “cột

trụ” của tòa nhà Cộng hòa: ông vừa là biểu tượng vừa là công cụ của uy

quyền hành pháp tăng cường Hiến pháp đệ ngũ Cộng hòa vẫn duy trì sự “vô

trách nhiệm chính trị” của tổng thống, đồng thời ban cho tổng thống những

Trang 31

quyền chuyên quyết như chỉ định thủ tướng, giải tán hạ nghị viện (sau khi

tham khảo ý kiến của thủ tướng chính phủ và chủ tịch lưỡng viện), quyền đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp, tổ chức trưng cầu dân ý Về quyền hạn của Chính phủ (Nội các), tác giả phân tích là Hiến pháp 1958 đã thành lập Nội các mạnh nhằm hạn chế Nội các yếu dưới nền Cộng hòa đệ Tam và Tứ trước đây Chế độ chính trị hay Nội các của Pháp hiện thời không phải là chế độ nghị

viện Anh hay chế độ tổng thống Hoa Kỳ mà là chế độ lưỡng tính, hành pháp

của Pháp là hành pháp hai đầu nhưng “tranh chấp giữa lưỡng đầu hành pháp xin cứ yên chí; chỉ có một cái đầu thôi, ý muốn nói Tổng thống De Gaulle”;

“mọi người đều thỏa thuận rằng trong chế độ Đệ ngũ Cộng hòa Tướng de Gaulle giữ địa vị ưu thế, nhiều người đã lầm tưởng rằng, chế độ chính trị này chỉ dành riêng cho De Gaulle” [16, tr 405-407] Như vậy, bằng cách giải thích Hiến pháp 1958, bối cảnh ra đời Hiến pháp, quan điểm của các chính trị gia về Hiến pháp 1958, GS.TS Nguyễn Đăng Dung đã phân tích cũng như các tác giả trên về thể chế chính trị CH Pháp là “chính thể mà ở đó việc tổ chức nhà nước vừa có đặc điểm của cộng hòa đại nghị, vừa có những đặc

điểm của cộng hòa lưỡng tính” và “hình mẫu của loại hình chính thể cộng hòa

lưỡng tính là nước Pháp, nền Cộng hòa thứ V của Hiến pháp 1958 đang hiện

hành” [16, tr 194]

Tài liệu “Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ

máy nhà nước ở một số nước” của TS Nguyễn Thị Hồi, Phần IV, Chương II

tác giả có phân tích về phân quyền trong thể chế Cộng hòa hỗn hợp Tác giả cho rằng: Cộng hòa hỗn hợp là dạng thể chế có đặc trưng của cả cộng hòa đại nghị lẫn cộng hòa tổng thống Do vậy, trong tổ chức bộ máy của nhà nước này, tư tưởng phân quyền được áp dụng ở mức độ trung gian giữa cứng rắn và mềm dẻo Đặc trưng cơ bản trong mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp là hành pháp độc lập cao hơn như trong thể chế cộng hòa đại nghị do không có

Trang 32

sự kết hợp về nhân viên giữa chúng và vị trí của hành pháp lại thấp hơn so với thể chế cộng hòa tổng thống vì chính phủ và quốc hội của Pháp có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình làm luật [26, tr 198-199] Hay một nhận định khác của tác giả về chế định Tổng thống Pháp: Vị trí của Tổng thống Pháp hiện tại là mô hình kết hợp giữa vị trí của Tổng thống Mỹ và Tổng thống Đức Tổng thống Pháp có nhiều quyền hành trong việc quản lý nhà nước như Tổng thống Mỹ, là đại diện hành pháp duy nhất “Tổng thống Pháp có nhiệm kỳ bảy năm và không bị hạn chế số nhiệm kỳ, không có điều

gì bắt buộc Tổng thống không được ra tranh cử lần sau (mới đây nhiệm kỳ của

Tổng thống Pháp chỉ còn năm năm)” [26, tr 205-206] Như vậy, tác giả đã

nêu khái quát về sự phân quyền giữa cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp để

thấy rõ tính “lưỡng tính” hay “hỗn hợp” giữa hai mức độ áp dụng tư tưởng

phân quyền: cứng rắn và mềm dẻo Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích để làm

rõ thể chế chính trị của CH Pháp là một mô hình thể chế riêng, không chỉ là

sự kết hợp đơn giản đặc điểm của thể chế cộng hòa Tổng thống (như của Hoa Kỳ) và cộng hòa đại nghị (như của Cộng hòa Liên bang Đức)

Tiếp theo, trong sách: Thể chế nhà nước của các quốc gia trên thế giới

của tác giả Nguyễn Chu Dương đã trình bày khái quát về thể chế chính trị CH Pháp từ trang 389 đến 398 Về tổ chức bộ máy nhà nước, tác giả khái quát

nước Pháp có thể chế cộng hòa lưỡng tính Tổng thống trở thành trung tâm

của bộ máy chính quyền Tổng thống được bầu trực tiếp bằng phổ thống đầu

phiếu Nhiệm kỳ của Tổng thống là 7 năm (thay đổi còn 5 năm theo Hiến

pháp năm 2000) Tổng thống Pháp có quyền lực hơn Tổng thống các nước

cộng hòa nghị viện Tuy phải chia sẻ quyền hành pháp với Thủ tướng song Tổng thống Pháp có nhiều quyền lực mà Tổng thống trong thể chế cộng hòa tổng thống Mỹ không có được Tổng thống chỉ chịu trách nhiệm trước cử tri

và không thể bị phế truất bởi Quốc hội Chỉ thông qua các cuộc trưng cầu dân

Trang 33

ý, Tổng thống có thể phải từ chức Như vậy, tác giả đã quá nhấn mạnh đến quyền hạn của Tổng thống chi phối tất cả các nhánh quyền lực khác trong thể chế chính trị của CH Pháp, đôi khi còn cao hơn cả quyền hạn của Tổng thống Hoa Kỳ Điều này sẽ không thật chính xác khi lý giải trường hợp Tổng thống Pháp phải phối hợp với Thủ tướng để cùng điều hành chính phủ, chính phủ Pháp là hành pháp đôi, đặc biệt có thời điểm Tổng thống và Thủ tướng Pháp

“cạnh tranh” quyền lực khi cả hai là đại diện của hai đảng phái chính trị khác

nhau

Tài liệu cuối cùng trong nhóm thứ nhất là Thể chế chính trị thế giới

đương đại của tập thể tác giả do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,

NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2003 Chương VIII của tài liệu này trình bày về Thể chế chính trị CH Pháp Về lịch sử thể chế chính trị, từ năm

1789 đến nay nước Pháp trải qua 5 nền dân chủ cộng hòa, 3 nền quân chủ, 2

đế chế, 1 chế độ phát xít gồm nhiều giai đoạn Cũng kể từ 1789 đến nay, nước Pháp có 11 lần thay đổi hiến pháp, với tuổi thọ trung bình của mỗi bản hiến pháp là 15 năm Về phần Đảng chính trị và nhóm lợi ích, hiện ở Pháp có trên

20 đảng, tập hợp thành hai phe gồm đảng cánh tả (tả, trung tả, cực tả) và đảng cánh hữu (hữu, trung hữu, cực hữu) Sự khác biệt giữa hai cực đối lập và sự liên kết trong đảng ở Pháp rất chặt chẽ, các đảng viên phải tuân thủ chặt chẽ nghị quyết của đảng Ngoài đảng chính trị thì nhóm các lợi ích chính trị có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị của quốc gia này Về thể chế nhà nước, cũng giống như quan điểm của tác giả Nguyễn Chu Dương, quyền lực nhà nước Pháp tập trung vào Tổng thống: “Tổng thống chi phối mọi hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Tổng thống Pháp có quyền lực gần như tuyệt đối (giống như Thủ tướng Anh và thậm chí nhiều quyền hơn Tổng thống Mỹ, vì Tổng thống Mỹ không có quyền giải tán Hạ Viện) [25, tr 326] Tổng thống không phải chịu trách nhiệm chính trị, nghĩa là không bị

Trang 34

phế truất bởi Quốc hội và theo tác giả thì đây là điểm thể hiện tính lưỡng tính

trong thể chế chính trị Pháp [25, tr 298] Giải thích về thời kỳ “cộng sinh” tác giả cho rằng “do nhiệm kỳ của Tổng thống 7 năm, dài hơn nhiệm kỳ Hạ viện

2 năm nên thường xuyên xảy ra trường hợp Tổng thống phải làm việc với Hạ viện của phe đối lập Năm 2002, lần đầu tiên thực hiện nhiệm kỳ Tổng thống

5 năm, phe hữu thắng cử trong cả hai cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội, chấm dứt tình trạng „cộng sinh‟” [25, tr 299] Tuy nhiên, giải thích này là

chưa hoàn toàn chính xác Thời kỳ cộng sinh là tình huống phối hợp chính trị

giữa tổng thống và thủ tướng để điều hành chính phủ chứ không phải giữa tổng thống và hạ nghị viện Hơn nữa, nhiệm kỳ của tổng thống giảm xuống 5

năm không phải là nguyên nhân chính làm chấm dứt tình trạng “cộng sinh”

mà phải là thời điểm bầu cử tổng thống và nghị viện diễn ra gần nhau mới có thể làm giảm khả năng xảy ra tình huống này trên thực tế

Nhóm tài liệu thứ hai mà luận án phân tích gồm 2 tài liệu nghiên cứu riêng về thể chế chính trị CH Pháp Tài liệu thứ nhất là luận án tiến sĩ Luật

học: Tổ chức, hoạt động của Bộ máy nhà nước Cộng hòa Pháp và giá trị

tham khảo trong quá trình hoàn thiện Bộ máy nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Tống Đức Thảo bảo vệ tại Học viện Chính trị -

Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2012 Với 4 chương, 183 trang chính văn, Luận án nghiên cứu khá công phu về thể chế nhà nước của CH Pháp Ở Việt Nam, luận án là một trong số các công trình có một phần tham chiếu thể chế chính trị của CH Pháp với thể chế CHXHCN Việt Nam Tác giả phân tích

cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CH Pháp (Chương II), Tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước CH Pháp hiện nay (Chương III) để dẫn đến kết luận về đặc điểm tiêu biểu của thể chế được nêu

cụ thể trong luận án của tác giả như sau: “Bộ máy nhà nước CH Pháp được tổ chức và vận hành dựa trên nền tảng của hệ thống chính trị đa nguyên Qua rất

Trang 35

nhiều thay đổi, sự hình thành Đệ ngũ Cộng hòa đã dần đi vào ổn định gắn với việc ra đời Hiến pháp của Nền Cộng hòa 1958” [60, tr 179] Thể chế chính trị

Pháp là Cộng hòa nhị nguyên, có sự kết hợp hài hòa và vận dụng cả hai loại

hình thể chế Cộng hòa Tổng thống và chế độ Nghị viện” [60, tr 180] Trong đời sống chính trị Pháp “đã xảy ra tình huống chính trị rất thú vị được các

học giả Pháp gọi đây là thời kỳ cùng chung sống (cohabitation) hay là cùng

tồn tại (coéxistance)” [60, tr 181]

Theo nhận định của tác giả thì CH Pháp 1958 là một mô hình thể chế

“thật sự phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh đất nước Pháp mà người Pháp đã dày công đi tìm” Chính vì những điểm thành công này của thể chế chính trị

CH Pháp mà mục đích nghiên cứu thể chế Pháp của tác giả là để tìm ra những giá trị tiến bộ có thể tham khảo cho hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam Tác giả đã nêu ra những khuyến nghị như: cần hình thành cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; kết hợp cơ chế giám sát mang tính quyền lực nhà nước với cơ chế giám sát của nhân dân, đặc biệt

là giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành pháp và hành chính nhà nước; cần nghiên cứu để nhanh chóng xây dựng cơ chế bảo hiến ở nước ta một cách hiệu quả và phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh đất nước ta, cơ chế bảo hiến

có thể là Ủy ban bảo vệ Hiến pháp (như CH Pháp) nhằm ngăn ngừa hành vi vi

phạm hiến pháp, góp phần minh bạch, công khai hóa hoạt động của bộ máy nhà nước, đây cũng là thước đo cho trình độ tổ chức và vận hành của quyền lực nhà nước ở nước ta trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay [60, tr 182-183]

Nhìn chung, luận án vẫn chưa có điểm mới lý luận về khái niệm và đặc điểm của thể chế chính trị CH Pháp, tác giả vẫn trình bày quan điểm về thể

chế cộng của Cộng hòa thứ Năm của Pháp là lưỡng tính, nhị nguyên hay hỗn

Trang 36

hợp Một số nội dung nêu trong luận án của tác giả chưa chính xác như về số

lượng các lần cùng tồn tại (coéxistance) hay cơ chế bảo hiến của Pháp là Hội đồng Hiến pháp chứ không phải là Ủy ban bảo vệ Hiến pháp

Tài liệu thứ hai, Tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa Pháp theo Hiến

pháp 1958 của TS Nguyễn Xuân Tế và ThS Trần Thị Thùy Dương [65]

Phần thứ nhất, hai tác giả trình bày những nét đặc trưng của bộ máy nhà nước Pháp theo quy định của Hiến pháp 1958 đó là sự kết hợp đặc trưng của chế độ

nghị viện và tổng thống Điều này đã khiến nước Pháp bước vào thời kỳ ổn

định, hiệu quả của thể chế không ngừng được củng cố và vai trò của nó được phát huy cho tới tận ngày nay Hay nhiệm kỳ của Tổng thống 7 năm là quá lâu và việc giảm nhiệm kỳ xuống còn 5 năm đã trở thành hiện thực Ngày 5/5/2002 vừa qua, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã tái cử và thực hiện nhiệm kỳ Tổng thống 5 năm đầu tiên Phần thứ hai tác giả liệt kê vai trò và

quyền hạn của Thủ tướng, Bộ trưởng của Chính phủ Pháp theo Hiến pháp 1958; Quyền hạn của Thượng nghị viện, Hạ nghị viện, Nghị sĩ, quyền kiểm soát Chính phủ và quyền thảo luận, biểu quyết ngân sách của Nghị viện Pháp;

Cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án Pháp với hai hệ thống gồm tòa án hành chính và tòa án tư pháp để tránh quyền tư pháp lấn sang lĩnh vực chính trị-hành chính Tác giả kết luận nghiên cứu những nét đặc trưng về thể chế hiện nay của Nhà nước Pháp theo quy định của Hiến pháp 1958 với mục đích nhằm đánh giá cao sự ủng hộ nhiệt tình và giúp đỡ quý báu của Chính phủ và nhân dân Pháp cho mối quan hệ hữu nghị Pháp-Việt

Như vậy, đây chỉ là nghiên cứu sơ lược về thể chế chính trị CH Pháp, tác giả nêu những nhận xét mà chưa có phân tích đầy đủ về thể chế chính trị

CH Pháp, ví dụ như thể chế này là sự kết hợp đặc điểm giữa thể chế tổng thống và đại nghị, thể chế Pháp hiện nay tạo cho nước Pháp sự ổn định về chính trị hay sửa đổi nhiệm kỳ của tổng thống là do thực hiện của Tổng thống

Trang 37

Chirac từ bầu cử 5/5/2002 (thực tế là thực hiện Sửa đổi Hiến pháp năm 2000 bằng trưng cầu dân ý giảm nhiệm kỳ tổng thống Pháp từ 7 năm xuống 5 năm)

1.2.2 Tài liệu nước ngoài

Khác với tài liệu trong nước với thông tin không cập nhật và đầy đủ về thể chế chính trị nước Pháp, tài liệu nước ngoài do học giả tiêu biểu về chính trị học người Pháp và tác giả ở các nước khác nghiên cứu chuyên sâu về chính trị CH Pháp xuất bản bằng tiếng Anh lại rất đa dạng, phong phú Sau đây, luận án lựa chọn phân tích các công trình tiêu biểu sau đây theo hai nhóm: (1) sách và (2) bài báo trên tạp chí chuyên ngành chính trị học

Tài liệu đầu tiên trong nhóm 1 là cuốn: French Politics – Debates and

Controversies (Chính trị Pháp – Những tranh luận và bất đồng) tác giả là

Robert Elgie và Steven Griggs, Nhà Xuất bản Routledge xuất bản năm 2000 Sách gồm 8 phần 199 trang phân tích về thể chế chính trị nhà nước cấp trung ương, chính quyền địa phương, đảng phái chính trị, văn hóa bầu cử, nhóm lợi ích và mô hình hoạch định chính sách của CH Pháp Về thể chế nhà nước, tác giả phân tích cơ quan hành pháp qua hai yếu tố chính: 1) thẩm quyền hiến định của chính phủ và 2) mối quan hệ giữa tổng thống và thủ tướng Có bốn quan điểm khi giải thích về mô hình của Chính phủ Cộng hòa Pháp: Chính phủ chuyên quyền (monocratic goverment); Chính phủ phối hợp (shared government); Chính phủ phân chia (segmented govermnent) và Chính phủ thuộc bộ (ministerial government) Ở mô hình Chính phủ thứ nhất, có nhiều quan điểm ủng hộ khi cho rằng chính phủ do một cá nhân lãnh đạo là tổng thống hoặc thủ tướng Như Duverger phân tích quyền hạn của Tổng thống

như Ông Vua của nền Cộng hòa, đặc biệt thấy rõ điều này trong thời gian nền

Cộng hòa thứ 5 mới được thành lập và điều hành bởi Tổng thống De Gaulle

Chính phủ ở giai đoạn cùng phối hợp chính trị thì lãnh đạo cơ quan hành

pháp lại chuyển sang Thủ tướng Quan điểm gọi Chính phủ Pháp theo mô

Trang 38

hình thứ hai (Chính phủ phối hợp hay hợp tác) cho rằng Chính phủ Pháp không có một người duy nhất lãnh đạo mà do cả hai, Tổng thống và Thủ tướng cùng điều hành và là đối tác của nhau Tác giả nhận xét: “không có sự phân chia trách nhiệm giữa Tổng thống và Thủ tướng, tuy mỗi người có lĩnh vực riêng của mình nhưng đều thực hiện quyền lực chung” Khác với mô hình thứ 2, Chính phủ phân chia theo quan điểm của mô hình thứ 3 thì cho rằng có

sự phân chia quyền lực giữa tổng thống và thủ tướng, tổng thống sẽ có trách

nhiệm giải quyết công việc chính trị cấp cao, quan trọng (high politics) như

đối ngoại, liên quan đến Liên minh châu Âu (EU), quốc phòng, tình trạng khẩn cấp của quốc gia Ngược lại, thủ tướng có quyền hạn đối với công việc

chính trị cấp độ thấp, ít quan trọng hơn (low politics) như chính sách đối nội,

ngân sách, kinh tế-xã hội của quốc gia [95, tr 41] Quan điểm ủng hộ mô hình thứ 4 (Chính phủ thuộc bộ) phân tích các bộ trưởng trong Chính phủ Pháp lại

có trách nhiệm đề xuất chính sách và những quyết định về nội dung của chính sách Tổng thống và Thủ tướng chỉ tham gia vào trong quá trình hoạch định chính sách và đảm bảo cho các chính sách được thực thi trên thực tế Tác giả

chứng minh 15 năm đầu tiên của Cộng hòa thứ 5 là “thời kỳ vàng” (golden

age) của các Bộ trưởng Pháp [95, tr 44] Ví dụ như dưới thời Tổng thống De

Gaulle và Pompidou, Maurice Couve de Murville4 và các vị Bộ trưởng Ngoại giao khác đã có ảnh hưởng rất nhiều đến chính sách đối ngoại của Tổng thống Khi chuyển sang làm Bộ trưởng Tài chính dưới thời Valery Giscard d‟Estaing, Maurice cũng có ảnh hưởng đến chính sách tài chính của Chính phủ Pháp Tác giả khác cũng nêu ra dẫn chứng là Bộ trưởng tài chính, Pierre Beregovoy trong chính quyền của Tổng thống Mitterrand và Thủ tướng Edith Cresson cũng có những ảnh hưởng tương tự

4

Maurice Couve de Murville là Bộ trưởng Ngoại giao CH Pháp từ năm 1958-1968

Trang 39

Phân tích về đảng phái chính trị của Cộng hòa thứ 5 của Pháp, Robert Elgie và Steven Griggs đã rút ra đặc điểm là cơ chế cạnh tranh đảng phái đã tạo nên các phe nhóm trong đảng do vậy đảng chính trị Pháp bị phân chia nội

bộ Cạnh tranh không chỉ giữa các đảng mà ngay trong chính nội bộ của các đảng chính trị Pháp [95, tr 91-117] Tóm lại, liên quan đến thể chế chính trị, tài liệu của Elgie và Griggs đã phân tích những quan điểm và tranh luận xung quanh bốn mô hình Chính phủ và đặc điểm của đảng phái chính trị của CH Pháp thứ Năm Tóm lại, nghiên cứu đã phân tích nhiều quan điểm như tên gọi

của cuốn sách French Politics – Debates and Controversies, những quan

điểm vẫn đang có nhiều tranh luận trong giới khoa học chính trị và luật hiến pháp

Tài liệu tiếp theo là: Comparative Politics Today, A World View (Chính

trị So sánh ngày nay, một cách tiếp cận thế giới), bản thứ 7, gồm các tác giả Gabriel A Almond, G Bingham Powell, Jr Kaare Strom, Russell J Dalton

do NXB Longman xuất bản năm 2003 đã so sánh với Chính trị của Pháp từ trang 221 đến 271 [74] Các tác giả nhận định đảng chính trị chính của Pháp vẫn tiếp tục chi phối đến tổ chức và hoạt động của Nghị viện Pháp, thông thường có 8 đảng chính trị chủ yếu chiếm đa số ghế trong Hạ Nghị viện chia thành 6 nhóm: 3 nhóm liên minh thuộc cánh tả, 3 nhóm thuộc cánh hữu đối lập Về thể chế nhà nước, mặc dù Hiến pháp của Pháp quy định Chính phủ có

2 người lãnh đạo nhưng qua 4 Tổng thống (từ De Gaulle đến Chirac) cho thấy

cơ quan hành pháp luôn chỉ có một người đứng đầu là Tổng thống Tổng thống Pháp điều hành các phiên họp Hội đồng Bộ trưởng (giống như Nội Các của Anh) vào mỗi tuần Tổng thống thành lập Văn phòng ở Điện Elysée (Văn phòng Tổng thống) nhằm để tăng cường quyền lực của Tổng thống giống như Văn phòng Nhà trắng của Mỹ, tuy quy mô nhỏ hơn nhiều [74, tr 258-259]

Trang 40

Phân tích về Nghị viện CH Pháp, mặc dù cả chính phủ và nghị viện có quyền đề xuất dự luật nhưng phần lớn lập pháp lại do chính phủ đệ trình

Chính phủ “lấn quyền” Nghị viện bằng hình thức bỏ phiếu cả gói (theo Điều

44 của Hiến pháp), có nghĩa là chỉ thông qua toàn văn những dự luật với những sửa đổi do Chính phủ đồng ý

Trong mối quan hệ với nhánh tư pháp, nghiên cứu so sánh Hội đồng Hiến pháp (Constitutional Council) của Pháp với Tòa án Tối cao của Mỹ cho thấy việc xem xét các dự luật do Nghị viện thông qua là yêu cầu bắt buộc ở

Pháp Nếu có quy định nào bị tuyên bố là vi hiến (không đúng với quy định

của Hiến pháp) thì cả dự luật đó sẽ không được công bố Ngoài ra, tham gia vào quá trình thẩm định dự luật còn có Hội đồng Nhà nước (Council of State) Hiện nay, chính phủ thường tham vấn với Hội đồng Nhà nước trước khi gửi

dự luật lên Nghị viện Hội đồng này cũng cho ý kiến liên quan đến giải thích các điều khoản trong Hiến pháp 1958 Khác với Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng Nhà nước có thể đưa ra kết luận cả về những vụ việc của cá nhân bị khởi kiện Do đó, về tư pháp Hội đồng Nhà nước như một Tòa hành chính cao cấp xét xử phúc thẩm và sơ thẩm những vụ án hành chính quan trọng [74, tr

263-264] Như vậy, một phần chính trong cuốn Comparative Politics Today -

A World View đã khái quát thể chế về CH Pháp bằng cách so sánh với các thể

chế tương ứng của Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Tất nhiên, nghiên cứu không so sánh giữa thể chế giữa CH Pháp và CHXHCN Việt Nam, hơn nữa tài liệu chỉ nêu lên sự khác nhau mà không giải thích, phân tích

lý do tại sao lại có những khác nhau như vậy

Một điểm rất quan trọng là tài liệu Comparative Politics Today, A

World View do Gabriel A Almond (chủ biên) Gabriel A Almond là Giáo sư

khoa học chính trị của Đại học Standford, Hoa Kỳ, là người đầu tiên nêu ra quan điểm tiếp cận cấu trúc chức năng và áp dụng cho các nghiên cứu chính

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w