ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- ĐOÀN LÂM THANH TÂM NHẬN DẠNG CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI ỨNG 50/50 GIỮA TỈNH VÀ HU
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐOÀN LÂM THANH TÂM
NHẬN DẠNG CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI ỨNG 50/50 GIỮA TỈNH VÀ HUYỆN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐOÀN LÂM THANH TÂM
NHẬN DẠNG CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI ỨNG 50/50 GIỮA TỈNH VÀ HUYỆN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ 60 34 04 12 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI VĂN QUYỀN
TS BÙI VĂN QUYỀN TS NGUYỄN THỊ VÂN HẠNH GS.TS NGÔ VĂN LỆ
Hà Nội – 2014
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài: 8
2 Lịch sử nghiên cứu: 10
3 Mục tiêu nghiên cứu: 13
4 Phạm vi nghiên cứu: 14
5 Mẫu khảo sát: 14
6 Câu hỏi nghiên cứu: 16
7 Giả thuyết nghiên cứu: 16
8 Phương pháp nghiên cứu: 16
9 Cấu trúc luận văn: 17
PHẦN NỘI DUNG 18
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI 18
1.1 Những khái niệm cơ bản: 18
1.1.1 Chính sách: 18
1.1.2 Chính sách tài chính: 19
1.1.3 Nghiên cứu khoa học: 20
1.1.4 Thiết chế: 22
1.1.5 Thiết chế tài chính: 22
1.1.6 Yếu tố: 23
1.1.7 Yếu tố cản trở: 23
1.2 Cơ sở lý luận của hoạt động nghiên cứu khoa học: 23
1.2.1 Các đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học: 23
1.2.2 Đặc điểm của công tác quản lý KH&CN cấp cơ sở: 26
1.2.3 Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: 29
1.3 Chính sách tài chính cho R&D: 31
1.4 Chính sách tài chính cho KH&CN: 32
Trang 41.5 Đặc điểm chung của hoạt động KH&CN xét từ giác độ tài chính: 33
1.6 Mối quan hệ giữa chính sách tài chính và hoạt động KH&CN: 35
1.7 Kết luận Chương 1: 36
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI ỨNG 50/50 GIỮA TỈNH VÀ HUYỆN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 38
2.1 Chính sách tài chính đối với lĩnh vực khoa học & công nghệ ở Việt Nam thời gian qua: 38
2.2 Tổng quan về hoạt động nghiên cứu khoa học cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2006 đến năm 2014 40
2.2.1 Số lượng đề tài/dự án cấp cơ sở giai đoạn trước 2006 và từ 2006 đến 2014: 41
2.2.2 Phân loại lĩnh vực nghiên cứu các đề tài/dự án cấp cơ sở giai đoạn 2006-2014: 43
2.2.3 Nguồn kinh phí thực hiện: 45
2.2.4 Những kết quả đạt được và hạn chế: 48
2.2.4.1 Những kết quả đạt được: 48
2.2.4.2 Những hạn chế: 54
2.3 Hiện trạng của việc thực thi chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong việc nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 đến 2014 55
2.3.1 Lý do ban hành chính sách: 55
2.3.2 Mục tiêu của chính sách: 56
2.3.3 Nguồn kinh phí thực hiện: 56
2.3.4 Nội dung chi: 59
2.3.5 Định mức chi: 61
2.3.6 Cơ chế quản lý tài chính: 62
2.4 Tác động của chính sách đối với hoạt động NCKH cấp cơ sở: 64
2.5 Kết luận Chương 2: 66
Trang 5CHƯƠNG 3 CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI ỨNG 50/50 GIỮA TỈNH VÀ HUYỆN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 68 3.1 Những bất cập trong nghiên cứu khoa học xét ở góc độ tài chính: 68
3.1.1 Sự không tương quan giữa thiết chế tài chính vĩ mô hoạt động nghiên cứu khoa học: 68
3.1.1.1 Phân bổ tài chính nghiên cứu theo phân cấp quản lý hành chính: 68 3.1.1.2 Cấp phát tài chính nghiên cứu theo “cấp” đề tài: 69 3.1.1.3 Cấp phát tài chính nghiên cứu cho các cơ quan hành chính: 69 3.1.1.4 Chế độ thanh quyết toán không thật sự phù hợp với hoạt động R&D: 70 3.1.1.5 Chính sách tài chính ưu đãi cho hoạt động khoa học chưa thực
sự có hiệu quả: 71 3.1.1.6 Cấp phát tài chính nghiên cứu theo niên độ: 71
3.1.2 Thực hiện thiết chế tài chính vĩ mô trong hoạt động NCKH: 71
3.1.2.1 Lập và tổng hợp dự toán (thiếu căn cứ): 72 3.1.2.2 Giao dự toán (chậm trễ): 73 3.1.2.3 Sử dụng ngân sách (dàn trải): 73 3.1.2.4 Kiểm tra của cơ quan quản lý về thực hiện dự toán (sơ sài, hình thức): 75 3.1.2.5 Chỉ đạo điều hành của cơ quan quản lý (chưa kịp thời): 75 3.1.2.6 Kết quả (không thuyết minh được): 75 3.1.2.7 Quy định tài chính không thu hút được doanh nghiệp và xã hội đầu tư cho nghiên cứu khoa học: 76
3.2 Yếu tố cản trở do thiết chế tài chính vĩ mô đến chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện: 76
3.2.1 Về thủ tục đăng ký và thực hiện các đề tài/dự án cấp cơ sở: 77 3.2.2 Về lập dự toán các đề tài/dự án cấp cơ sở: 79 3.2.3 Về tình hình cấp phát tài chính đối ứng giữa tỉnh và huyện: 80
Trang 63.2.4 Về thủ tục thanh quyết toán các đề tài/dự án cấp cơ sở: 82
3.3 Yếu tố cản trở do đặc tính rủi ro của nghiên cứu đến chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện: 84
3.4 Nguyên nhân của các yếu tố cản trở, tồn tại và yếu kém: 88
3.4.1 Nguyên nhân khách quan: 88
3.4.2 Nguyên nhân chủ quan: 89
3.4.3 Tồn tại và yếu kém: 90
3.5 Kết luận Chương 3: 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
Kết luận: 92
Khuyến nghị: 93
1 Đối với cấp Bộ/cấp Tỉnh: 93
2 Đối với các Sở, Ban ngành có liên quan: 94
3 Đối với UBND các huyện/thị xã/thành phố: 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 99
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy Cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp Thông qua luận văn nghiên cứu này, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến:
- Các Thầy Cô giáo của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Hà Nội, các Thầy Cô giáo đang công tác tại các cơ quan, tổ chức KH&CN đã giúp tôi hoàn thành các môn học
- Ban Giám hiệu và cán bộ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi về cơ sở vật chất xuyên suốt khóa học
- Ban lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai, UBND huyện Xuân Lộc đã tạo điều kiện để tôi theo học khoá học này, cũng như hỗ trợ tôi trong việc điều tra, thu thập tài liệu để hoàn thành luận văn nghiên cứu
- TS Bùi Văn Quyền – Người hướng dẫn trực tiếp về những ý kiến quý báu và lời động viên để tôi hoàn thành luận văn này
- Các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình đã ủng hộ giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Trong quá trình hoàn thành luận văn, vì kiến thức lý luận có phần hạn chế nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý Thầy Cô có ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Trang 8DANH MỤC CÁC
TỪ VIẾT TẮT
NCKH : Nghiên cứu khoa học
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
R&D : Nghiên cứu và triển khai
KT-XH : Kinh tế-xã hội
NTMN : Nông thôn miền núi
NN-NT : Nông nghiệp - Nông thôn
CNTT : Công nghệ thông tin
NSNN : Ngân sách nhà nước
SNKH : Sự nghiệp khoa học
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số lượng đề tài/dự án cấp cơ sở giai đoạn trước năm
2006 42
Bảng 2.2: Số lượng đề tài/dự án cấp cơ sở giai đoạn 2006-2014 42
Bảng 2.3: Số lượng đề tài/dự án cấp cơ sở giai đoạn trước năm
2006 43
Bảng 2.4: Phân loại lĩnh vực đề tài/dự án cấp cơ sở giai đoạn
2006-2014 44
Bảng 2.5: Kinh phí SNKH cấp huyện được giao từ đầu năm… 46
Bảng 2.6: Nguồn kinh phí đầu tư cho NCKH có sự đối ứng 50/50 giữa
tỉnh và huyện giai đoạn 2006-2014 58
Bảng 3.1: Tỷ lệ rủi ro trong nghiên cứu 85
Biểu đồ 1: Số lượng đề tài/dự án cấp cơ sở, ngành và tỉnh giai đoạn
2006-2014 43
Biểu đồ 2: Tỉ lệ % các lĩnh vực nghiên cứu của đề tài/dự án cấp cơ
sở giai đoạn 2006-2014 45
Biểu đồ 3: Nguồn kinh phí đầu tư cho NCKH có sự đối ứng 50/50
giữa tỉnh và huyện giai đoạn 2006-2014 59
Trang 10và bảo vệ tổ quốc
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác định KH&CN thực sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ phù hợp với đều kiện của đất nước hiện nay Cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW trong năm
2013, Quốc Hội đã ban hành Luật KH&CN sửa đổi với những thay đổi lớn trong cơ chế quản lý, đặc biệt về cơ chế tài chính - điều
Nguyễn Quân khiến cho "thời gian các nhà khoa học tìm chứng từ, hóa đơn
để hợp thức hóa còn dài hơn thời gian bỏ công sức nghiên cứu"
Đồng Nai có 11 huyện, thị xã Long Khánh và Tp Biên Hòa, với đặc thù là tỉnh có nền công nghiệp phát triển với cơ cấu kinh tế công nghiệp 57,3%, dịch
vụ 35,2% và nông nghiệp 7,5% Đồng Nai đã và luôn xác định KH&CN phải đóng vai trò then chốt, đáp ứng kịp thời các nhu cầu bức xúc của thực tiễn sản
Trang 11xuất, đời sống và hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ IX đã nói rõ nhiệm vụ phát triển KH&CN phải gắn với tinh thần nâng cao tiềm lực KH&CN và hiệu quả ứng dụng vào thực tiễn, hướng trọng tâm hoạt động KH&CN vào phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Thực tế cho thấy trong những năm qua hoạt động khoa học và công nghệ của Tỉnh đã có bước phát triển mạnh, đổi mới có kết quả công tác quản lý KH&CN, ban hành hàng loạt các chính sách hỗ trợ, góp phần thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
Tuy nhiên hoạt động KH&CN cấp cơ sở vẫn chưa thật sự đạt hiệu quả như mong muốn Bởi vì KH&CN là một ngành bao trùm lên nhiều ngành và địa phương là nơi diễn ra các mô hình, đề tài/dự án ứng dụng KH&CN của tất
cả mọi ngành, mọi tổ chức trong khi đó nguồn nhân lực quản lý hoạt động KH&CN tại địa phương chỉ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước Các đề tài/dự án
về nông nghiệp-nông thôn (NN-NT) vốn đã nhỏ giọt mà còn mang tính chất
“nhiệm vụ”, “đặt hàng” của nhà nước chưa thực sự thiết thực đối với người dân Đặc biệt là trong tình hình nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động KH&CN nói chung và nghiên cứu khoa học (NCKH) cấp cơ sở nói riêng là rất eo hẹp Ngoài ra đặc điểm rủi ro trong nghiên cứu khoa học cũng ảnh hưởng ít nhiều đến số lượng và chất lượng của đề tài/dự án Do đó việc tuyển chọn phê duyệt
đề tài/ dự án nào? nguồn kinh phí thực hiện ra sao? đối với các nhà quản lý tại
cơ sở vô cùng khó khăn
Để giải quyết những khó khăn trên, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành hàng loạt chính sách hỗ trợ trong đó bao gồm cả về đổi mới cơ chế quản lý và chính sách hỗ trợ tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện đối với hoạt động NCKH ở địa phương, 70/30 giữa tỉnh và ngành đối với hoạt động NCKH của ngành (Y tế - Giáo dục, Công an) Đây là một trong những bức phá lớn của hoạt động KH&CN tại Đồng Nai
Chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện đối với hoạt động NCKH cấp cơ sở có ý nghĩa vô cùng thiết thực Nó hỗ trợ cho địa phương có thêm nguồn vốn để hoạt động, huy động được nhiều nguồn vốn cho hoạt động
Trang 12NCKH, khuyến khích địa phương chủ động soát xét tính khả thi của đề tài/dự
án vì kinh phí KH&CN của tỉnh hỗ trợ cho địa phương bao nhiêu là do địa phương quyết định Từ đó, lãnh đạo ở các địa phương sẽ quan tâm chỉ đạo phát triển KH&CN, các đề tài/dự án bám sát với nhu cầu cấp cơ sở được triển khai ngày càng nhiều Từ đó nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả, sức cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường, thực hiện mục tiêu tăng trưởng
và xóa đói giảm nghèo tại các huyện/thị trên địa bàn tỉnh
Tuy nhiên chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong NCKH cấp cơ sở hiện nay chưa được khai thác, sử dụng và phát huy hết khả năng vốn có của nó, còn nhiều yếu kém và gặp nhiều cản trở Một trong những nguyên nhân đó là: nhận thức của các cấp lãnh đạo về đầu tư kinh phí cho KH&CN chưa được quan tâm đúng mức, kinh phí đầu tư cho hoạt động NCKH ở địa bàn các huyện/thị còn thấp, chưa đáp ứng được các nhiệm vụ
đề ra, chưa đa dạng hóa được các hoạt động và nguồn vốn, đặc biệt là chưa
có văn bản quy phạm pháp luật về chính sách này quy định cụ thể về hình thức phối hợp giữa tỉnh và huyện trong NCKH, hình thức cấp phát và sử dụng kinh phí, cơ chế quản lý của các cơ quan thẩm quyền cũng như tính rủi
ro của riêng hoạt động NCKH mới có Do đó khi áp dụng còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nhận dạng các yếu tố cản trở việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh
và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” với mục tiêu
là xác định các yếu tố cản trở việc thực hiện chính sách trên trong nghiên cứu khoa học tại các huyện/thị/thành phố Từ đó tìm ra những nguyên nhân, tồn tại, yếu kém trong việc thực thi chính sách tài chính cho hoạt động NCKH cấp
cơ sở trên địa bàn tỉnh nhà
2 Lịch sử nghiên cứu:
Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu bàn về giải pháp nâng cao hoạt động KH&CN địa phương nói chung như:
Trang 13- Tác giả Đỗ Nguyên Phương và các cộng sự (2003-2007) đã thực hiện
đề tài “Nghiên cứu nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý KH&CN địa phương” Trong đó đề cập đến những vấn đề chung về công tác quản lý KH&CN địa phương Trình bày thực trạng và những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý KH&CN địa phương Đề xuất nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý KH&CN địa phương
- Kỷ yếu “Hội thảo, đánh giá rút kinh nghiệm một số mô hình quản lý hoạt động KH&CN cấp huyện ở nước ta hiện nay” do Bộ KH&CN tổ chức tại Nghệ An vào tháng 11/2009 Mục tiêu của hội thảo là đánh giá tình hình hoạt động KH&CN tại địa phương sau khi có Nghị định số 14/2008/NĐ-CP qui định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn cấp huyện và Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT-BKHCN-BNV ngày 18/6/2008 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
cơ quan chuyên môn về khoa học và công nghệ thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện Hội thảo còn trao đổi kinh nghiệm từ một số mô hình quản lý KH&CN địa phương thành công của một số tỉnh, trên cơ sở đó các cơ quan quản lý tiếp tục đề xuất, bổ sung các cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN địa phương
Riêng bàn về chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN thì cũng có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, được mổ xẻ tại nhiều diễn đàn khoa học như:
- Tác giả Jan Annerstedt đã có 01 công trình nghiên cứu về việc thay đổi vai trò của Nhà nước được xem như là nguồn lực tài chính chủ yếu trong hoạt động R&D và các hoạt động đổi mới có liên quan, được trình bày tại Viện Chiến lược và chính sách KH&CN vào tháng 6/1996 Trong nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến chính sách tài chính cho KH&CN và việc thành lập các quỷ cho hoạt động R&D
- Theo tác giả Browyn H Hall (Tạp chí khoa học của Trường Đại học Oxford 2002): Sự đầu tư tài chính vào R & D cho các sáng tạo nhỏ và mới có chi phí vốn cao mà chỉ được một phần hỗ trợ từ nhà nước và quỹ; chi phí vốn hỗn
Trang 14hợp R & D cho các doanh nghiệp; và hỗ trợ từ các chương trình của chính quyền các cấp qua các phương pháp bán thực nghiệm cho doanh nghiệp cấp dưới đang gặp nhiều khó khăn
- Theo OECD (S&T tháng 6/2012), trong phần tài chính cho R & D và đổi mới đã chỉ ra “tài chính là vô cùng quan trọng cho sự đổi mới và phát triển, đặc biệt là ở giai đoạn đầu của sự phát triển kinh doanh tại các địa phương Tiếp cận để có hỗ trợ tài chính là vấn đề trung tâm của cả doanh nhân sáng tạo và các nhà hoạch định chính sách Tất cả phải đối mặt với khó khăn chủ yếu là do các rủi ro và điểm yếu cố hữu của họ là cơ chế chính sách tài chính”
- Tác giả Vũ Cao Đàm đã có 02 nghiên cứu về chính sách tài chính cho KH&CN đó là: Thứ nhất “Định hướng cải cách thiết chế tài chính cho KH&CN trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường” được trình bày tại Hội nghị kết thúc dự án VISED, tháng 8/1996, trong đó đã đề cập đến các nội dung: Tính cấp bách của cải cách; những vấn đề đặt ra trước yêu cầu cải cách; định hướng nội dung cải cách; và khuyến nghị về chiến lược thực hiện Thứ hai “Đổi mới chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN ” Trong nghiên cứu này đề cập đến những vấn đề như: Đại cương về chính sách tài chính cho KH&CN; Những biến đổi chính sách tài chính cho KH&CN; Chính sách tài chính trong giai đoạn mới
- Gần đây nhất là Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định về đầu tư và cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ do Liên hiệp các hội Khoa học
và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức ngày 5/11/2013, các nhà khoa học cho rằng, vấn đề đầu tư và cơ chế tài chính là “nút thắt” đối với hoạt động khoa học và công nghệ trong thời gian dài Hội thảo tập trung bàn về việc tháo gở “nút thắt” như giảm bớt thủ tục hành chính, “khoán chi đến sản phẩm cuối cùng” tránh lãng phí tiền bạc và chất xám trong NCKH
Tại Đồng Nai, luôn xác định KH&CN phải đóng vai trò then chốt, đáp ứng kịp thời các nhu cầu bức xúc của thực tiễn sản xuất, đời sống và hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh, trong đó phải nâng cao hoạt động KH&CN địa phương để đáp ứng mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Tỉnh nhà Tuy
Trang 15nhiên trong thời gian qua các công trình nghiên cứu về hoạt động KH&CN tại địa phương không có nhiều, chỉ có 02 công trình của:
- Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hương (2009) đã thực hiện đề tài “Một số giải pháp tăng cường quản lý KH&CN trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai” Trong đó có bàn về những bất cập của công tác quản lý KH&CN cấp cơ sở Đề xuất mô hình quản lý mới và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN tại huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai
- Tác giả Trần Tân Phong (2010) đã thực hiện đề tài “Tác động của chính sách tài chính tới hoạt động KH&CN trên địa bàn các huyện thuộc tỉnh Đồng Nai” Trong đó có bàn về những vấn đề thực thi chính sách tài chính đối với hoạt động KH&CN của Tỉnh, Bộ Khoa học và Công nghệ liên quan đến lĩnh vực KH&CN tại địa phương, đồng thời xác định những yếu tố tác động đến hoạt động KH&CN trên địa bàn huyện thuộc tỉnh Đồng Nai xét về giác độ tài chính
Các nghiên cứu trên có tinh thần chung về tài chính cho R&D, tuy nhiên các nghiên cứu và tài liệu trên mới chỉ đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN cấp cơ sở một cách chung chung và chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN ở tầm vĩ mô Riêng tác giả Trần Tân Phong
đã cụ thể hóa hơn tác động của chính sách tài chính đối với hoạt động KH&CN cấp cơ sở nhưng chưa tập trung phân tích rõ chính sách tài chính nào, tác động như thế nào đến hoạt động KH&CN tại địa phương Và cũng chưa có một nghiên cứu khoa học nào của các tổ chức, cá nhân bên ngoài tiến hành nghiên cứu về nhận dạng các yếu tố cản trở việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong NCKH trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
3 Mục tiêu nghiên cứu:
* Mục tiêu: Nhận dạng các yếu tố cản trở việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
* Nhiệm vụ:
Trang 16- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động quản lý khoa học và công nghệ, chính sách tài chính cho hoạt động khoa học
và công nghệ (Hoạt động R&D và Phát triển công nghệ)
- Nghiên cứu hiện trạng của việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2006-2014
- Nhận dạng yếu tố cản trở của thiết chế tài chính vĩ mô và tính tủi ro trong nghiên cứu đến việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Từ đó tìm ra những nguyên nhân, tồn tại, yếu kém trong việc thực thi chính sách tài chính cho hoạt động NCKH cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh nhà
4 Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung:
+ Hệ thống các văn bản hình thành nên chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện, các văn bản do chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện áp dụng
+ Những vấn đề thực thi chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện đối với hoạt động nghiên cứu khoa học tại địa phương
+ Tác động cản trở do thiết chế tài chính vĩ mô và tính rủi ro trong nghiên cứu đến hoạt động nghiên cứu khoa học ở địa bàn các huyện/thị
+ Nguyên nhân của các yếu tố cản trở, tồn tại và yếu kém
- Không gian: tại 11 huyện/thị/thành phố trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
- Thời gian: từ năm 2006 đến năm 2014 (từ khi chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai được áp dụng cho đến nay)
5 Mẫu khảo sát:
Tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Thành phố Biên Hòa, Thị xã Long Khánh, huyện Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất, Trảng Bom, Long Thành, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu
Trang 17Theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ Quyết định số 34/2008/QĐ-UBND ngày 28/4/2008 của UBND tỉnh Đồng Nai thì hoạt động quản lý khoa học và công nghệ được tổ chức thành một bộ phận của Phòng Kinh tế (UBND Thành phố Biên Hòa, Thị xã Long Khánh và huyện Trảng Bom, Long Thành, Nhơn Trạch) và của Phòng Kinh tế và Hạ tầng (UBND huyện Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Vĩnh Cửu), bố trí
01 Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách lĩnh vực KH&CN, 01 lãnh đạo Phòng Kinh tế/Kinh tế và Hạ tầng phụ trách lĩnh vực KH&CN, 01 chuyên viên làm công tác quản lý KH&CN cấp huyện
Sau khi Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT-BKHCN-BNV ngày 18/6/2008 của Bộ KH&CN và Bộ Nội vụ được ban hành, Sở KH&CN Đồng Nai đã vận dụng xây dựng mô hình quản lý mới cùng những giải pháp đồng
bộ cả về cơ chế, chính sách và tổ chức Cụ thể là đã thành lập phòng Quản
lý KH&CN cơ sở theo quyết định số 75/QĐ-SKHCN ngày 09/4/2009, có nhiệm vụ tham mưu Sở KH&CN và hỗ trợ huyện quản lý hoạt động KH&CN cấp huyện Để hỗ trợ cho huyện, Sở KH&CN điều động 01 cán bộ đến làm việc lâu dài tại Phòng Kinh tế/ Phòng Kinh tế và Hạ tầng Việc điều động dựa trên nhu cầu thực tế của huyện và phải đựơc Chủ tịch UBND huyện đề nghị bằng văn bản
Thành phần và số lượng mẫu khảo sát như sau:
* 02 lãnh đạo Sở KH&CN tỉnh Đồng Nai (01 Giám đốc Sở phục trách chung và 01 Phó giám đốc Sở phục trách hoạt động khoa học và công nghệ cấp huyện)
* 11 cán bộ lãnh đạo (Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND cấp huyện) phụ trách lĩnh vực KH&CN cấp huyện
* 11 cán bộ lãnh đạo (Trưởng phòng hoặc phó trưởng phòng Kinh tế/Kinh tế và Hạ tầng cấp huyện) phụ trách lĩnh vực KH&CN
* 11 cán bộ làm chuyên trách lĩnh vực KH&CN tại phòng Kinh tế/Kinh
tế và Hạ tầng cấp huyện
Trang 18* 11 cán bộ kế toán thuộc phòng Kinh tế/Kinh tế - Hạ tầng cấp huyện
và 03 cán bộ kế toán thuộc phòng Tài chính – Kế hoạch – Sở KH&CN
* 08 cán bộ phòng Quản lý KH&CN cơ sở làm việc tại phòng Kinh tế/Kinh tế - Hạ tầng cấp huyện
* 03 nhà khoa học (chủ nhiệm đề tài, dự án)
Tổng số mẫu khảo sát là 60 phiếu
6 Câu hỏi nghiên cứu:
Các yếu tố nào cản trở việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai?
7 Giả thuyết nghiên cứu:
Các yếu tố cản trở việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là do thiết chế tài chính vĩ mô và tính rủi ro trong nghiên cứu
8 Phương pháp nghiên cứu:
a Phương pháp thu thập thông tin :
- Nghiên cứu tài liệu :
+ Thu thập tài liệu tại Sở KH&CN, các huyện/thị/thành phố, các cơ quan và trung tâm có liên quan
+ Phân tích tài liệu
+ Tổng hợp tài liệu
- Phi thực nghiệm :
+ Phương pháp điều tra chọn mẫu: điều tra nhận thức thái độ và sự hiểu biết về thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong việc nghiên cứu khoa học Những yếu tố cản trở của việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
b Phương pháp xử lý thông tin:
- Dữ liệu định lượng : phân loại, xử lý các mẫu phiếu điều tra nghiên cứu thực tế bằng cách dùng chương trình Microsoft Excel
Trang 19- Dữ liệu định tính : sắp xếp, phân loại, tổng hợp và phân tích dữ liệu theo các đề mục đã định trước
9 Cấu trúc luận văn:
Kết cấu của luận văn bao gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận và khuyến nghị
Phần mở đầu
Phần nội dung
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung của đề tài
- Chương 2: Hiện trạng của việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
- Chương 3: Các yếu tố cản trở của việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Phần kết luận và khuyến nghị
Trang 20PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Những khái niệm cơ bản:
1.1.1 Chính sách:
Mọi tổ chức đều phải đề ra chính sách cho riêng mình và sử dụng chúng nhằm tác động vào đối tượng nào đó để đạt được một mục tiêu do tổ chức mình đang hướng tới Khi nói về chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh khác nhau:
“Chính sách là một tập hợp các biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
Chính sách là một tập hợp các biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật như nghị định, thông
tư, chỉ thị của Chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (viện, trung tâm nghiên cứu, trường đại học…) Nói cách khác, vật mang chính sách chính là văn bản quy phạm pháp luật” 1
[9, tr.12-13]
Và tùy theo cách tiếp cận chúng ta cũng có những khái niệm chính sách khác nhau:
“Từ tiếp cận xã hội học, chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thể quản
lý đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới
Từ tiếp cận tâm lý học, chính sách là tập hợp biện pháp đối xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực
Từ tiếp cận thiết chế xã hội, chính sách là một thiết chế xã hội Nó bao gồm những chuẩn mực và những giá trị được cấu trúc thành những khuôn mẫu tác phong, được xã hội thừa nhận dước dạng các điều khoản
1Vũ Cao Đàm (2011), Phân tích và thiết kế chính sách cho phát triển, NXB Dân trí, Hà Nội,
tr11-13, 33-34.
Trang 21pháp luật, và đóng vai trò những công cụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu
cơ bản của xã hội” [9, tr.12, 33-34]
Mỗi cách tiếp cận giúp người chuẩn bị quyết định chính sách một hướng tư duy Từ thực tế chính sách của các ngành, các địa phương và các quốc gia, cũng như qua những cuộc thảo luận trên diễn đàn nghiên cứu chính sách, nhà quản lý có thể chọn ra một số cách tiếp cận quan trọng nhất để phân tích, để cuối củng đưa ra một định nghĩa khả dĩ phù hợp nhất
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra định nghĩa chính sách là một
công cụ để quản lý được thể chế hoá dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật do một chủ thể quản lý đưa ra nhằm tạo sự ưu đãi hoặc kìm hãm đối với các cá nhân hay các nhóm xã hội để biến đổi xã hội phù hợp với mục tiêu của chủ thể quản lý vạch ra
1.1.2 Chính sách tài chính:
“Trong Kinh tế học vĩ mô, Chính sách tài chính (hay còn gọi là Chính sách tài khóa) là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động tới nền kinh tế Chính sách tài chính cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô quan trọng, nhằm ổn định và phát triển kinh tế ” 2
Theo Vũ Cao Đàm, “Chính sách tài chính là tập hợp những biện
pháp tài chính nhằm thúc đẩy thực hiện một hoặc một số mục tiêu kinh tế và/hoặc xã hội” 3
2
http://vi.wikipedia.org/kiwi/Chính_sách_tài_chính, Bách khoa toàn thư, 22.5.2014
3 Vũ Cao Đàm (2011), Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập II: Nghiên cứu chính sách và chiến lược, NXB
Thế giới, tr 202
Trang 22“Xét về mặt nội dung của các biện pháp, chính sách tài chính có thể bao gồm chính sách vốn cho KH&CN; chính sách giá cả đối với sản phẩm KH&CN; chính sách lợi nhuận đối với sản phẩm KH&CN; chính sách thuế đối với sản phẩm KH&CN; chính sách khấu hao thiết bị trong KH&CN; chính sách thu nhập đối với những người hoạt động trong lĩnh vực KH&CN, …
Chẳng hạn, trong chính sách tạo nguồn vốn, Nhà nước (hoặc một chủ thể chính sách bất kỳ) có thể có các biện pháp ưu đãi để kích thích tạo nguồn lực vốn hoặc có các biện pháp hạn chế tạo nguồn vốn Cũng có những biện pháp tương tự đối với các chính sách giá cả, chính sách lợi nhuận, chính sách thuế, chính sách khấu hao và chính sách thu nhập
Tuy nhiên, tùy loại hoạt động mà chính sách tài chính có thể bao gồm một hoặc một số loại chính sách trong danh mục trên đây Trong KH&CN, có
lẽ quan trọng nhất là chính sách vốn và chính sách thuế” [11, tr.202-203]
1.1.3 Nghiên cứu khoa học:
Theo Luật KH&CN năm 2013, “Nghiên cứu khoa học là hoạt động
khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”
[18, điều 3]
Theo Vũ cao Đàm, “Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản
chất các sự vật và sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng 4
4
Vũ Cao Đàm (2011), Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập I: Lý luận và phương
pháp luận khoa học, NXB Thế giới, 2011, tr 80-96
Trang 23Nghiên cứu ứng dụng: là sự vận dụng các quy luật từ trong nghiên cứu
cơ bản để đưa ra những mô tả, giải thích, dự báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp … Kết quả của nghiên cứu ứng dụng có thể là một giải pháp mới về tổ chức, quản lý, xã hội hoặc công nghệ, vật liệu, sản phẩm …
Nghiên cứu triển khai: là sự vận dụng các quy luật (thu được từ trong nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ trong nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật Kết quả của nghiên cứu triển khai là mẫu thiết bị, qui trình công nghệ, các giống cây con mới, sản phẩm mới, các cải tiến kỹ thuật nâng cao phương pháp công nghệ sản xuất đã có”
“Phân loại nghiên cứu khoa học theo quan niệm R&D của UNESCO, UNESCO chia thành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm, viết tắt là R&D [10, tr.127-134]
- Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu (lý thuyết hoặc thực nghiệm) nhằm tạo ra các tri thức mới về căn nguyên của các sự vật và hiện tượng, chưa có một ứng dụng đặc biệt nào
Trong định nghĩa này có 2 điểm đáng lưu ý: 1) Tuy trong định nghĩa ghi
là “chưa có một ứng dụng đặc biệt nào”, nhưng UNESCO cũng chia làm 2 loại nghiên cứu cơ bản: Nghiên cứu cơ bản thuần túy, không xét đến ứng dụng thực
tế và nghiên cứu cơ bản định hướng, đã xét đến phương hướng ứng dụng 2) UNESCO chỉ có định nghĩa về nghiên cứu cơ bản cho các khoa học, không có định nghĩa riêng về nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn
- Nghiên cứu ứng dụng: là những nghiên cứu nhằm tạo ra các tri thức mới, nhưng chủ yếu là nhằm vào một mục đích (chữ “nhưng” ở đây trả lời câu hỏi “nghiên cứu để làm cái gì?) hoặc mục tiêu (“mục tiêu” ở đây là để trả lời câu hỏi “nghiên cứu cái gì?) thực tế đặc biệt
- Triển khai là những nghiên cứu hoặc thực nghiệm nhằm tạo ra các vật liệu mới, sản phẩm mới, các hệ thống và dịch vụ mới nhằm hoàn thiện những sản phẩm vốn tồn tại Trong định nghĩa này, UNESCO cũng đưa ra một hình dung chi tiết về nội dung của triển khai, gồm 3 giai đoạn:
Trang 24+ Chế tác mẫu sơ khởi (Prototypes): làm ra mẫu (của sản phẩm hoặc công nghệ) đầu tiên, như một bước hiện thực hóa tư tưởng khoa học thành sản phẩm hoặc công nghệ để chuẩn bị đưa vào sản xuất
+ Làm Pilot (Installations pilots): Thử nghiệm để tạo ra quy trình sản xuất, tức tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm theo prototype đã làm thử thành công trong labô ở giai đoạn prototype
+ Sản xuất thử nghiệm (Production exprerimental): Sản xuất thử, tức tạo ra công nghệ sản xuất “Loạt 0”, để khẳng định độ tin cậy của công nghệ.”
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm nghiên cứu khoa học của UNESCO để chứng minh vấn đề cần nghiên cứu
1.1.4 Thiết chế:
“Theo J.H.Fitcher thiết chế là một “hình trạng hoặc một sự phối hợp những khuôn mẫu tác phong được một đa số chấp nhận và tập trung vào sự thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của công đồng”
Về yếu tố cấu thành thiết chế, Gidden A xác định rõ: “Thiết chế bao gồm những chuẩn mực và giá trị”
Tóm lại có thể hiểu thiết chế là một phần của văn hóa, bao gồm các chuẩn mực và giá trị, tạo thành một hệ thống các quan hệ ổn định, một khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội thừa nhận nhằm mục đích thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội” [11, tr.462-463]
1.1.5 Thiết chế tài chính:
Hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể nào về Thiết chế tài chính Một số tài liệu khác sử dụng cụm từ Cơ chế tài chính như là Thiết chế tài chính Tuy nhiên cơ chế tài chính là cách gọi theo tiếp cận cơ học trong khi tài chính là
một dạng chính sách mang bản chất xã hội
Do đó, từ định nghĩa Thiết chế ở trên, chúng tôi đưa ra định nghĩa
Thiết chế tài chính là tập hợp những chuẩn mực và giá trị thành những
khuôn mẫu nhất định và được xã hội thừa nhận dưới dạng các điều khoản
pháp luật, trong đó tài chính là công cụ được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cơ bản của xã hội
Trang 251.1.6 Yếu tố:
Theo Hồ Ngọc Đức – Dự án từ điển tiếng Việt, “yếu tố là bộ phận cấu
thành một sự vật, sự việc, hiện tượng Yếu tố còn được xem như đồng nghĩa với từ nhân tố” 5
1.1.7 Yếu tố cản trở:
Hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể nào về yếu tố cản trở Tuy nhiên trong nghiên cứu này, chúng tôi định nghĩa yếu tố cản trở là nguyên nhân (có
thể là khách quan hay chủ quan) gây ra sự kìm hãm một (hoặc một số) sự vật,
sự việc, hiện tượng
1.2 Cơ sở lý luận của hoạt động nghiên cứu khoa học:
1.2.1 Các đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học:
Theo tác giả Vũ Cao Đàm, hoạt động NCKH có các đặc điểm sau đây:
“- Tính mới: NCKH là quá trình tìm tòi những điều chưa biết (!) Tuy nhiên đây cũng chính là điều làm nên những tính chất rất đặc thù của nghiên cứu khoa học Vì vậy, quá trình NCKH luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong NCKH không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà những người đi trước đã làm Vì vậy, tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học Tính mới cần được hiểu là, cho dù đã đạt được một phát hiện mới, nhưng người nghiên cứu vẫn còn tiếp tục tìm kiếm những phát hiện mới hơn Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong tính mới của NCKH không hề có mâu thuẫn giữa cái mới và cái mới hơn, và do vậy, không thể bị hiểu lầm với tính tin cậy của kết quả nghiên cứu
- Tính tin cậy: Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước
5
http://vi.wiktionary.org/wiki/yếu_tố, Hồ Ngọc Đức, Dự án từ điển miễn phí, 16.11.2012.
Trang 26cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng Điều này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận của NCKH, là khi trình bày một kết quả nghiên cứu người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, các tác nhân và phương tiện (nếu có) để tạo ra kết quả đó, đồng thời phải chứng minh rằng khi lặp lại đúng những điều kiện, tác nhân và phương tiện đó, thì kết quả nghiên cứu sẽ được lặp lại chính xác như kết quả đã đạt được ban đầu
- Tính thông tin: Sản phẩm của NCKH được thể hiện dưới nhiều dạng,
có thể đó là một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương thức tổ chức sản xuất mới… Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, hiện tượng, thông tin về quy trình công nghệ và các tham số đi kèm theo quy trình đó
- Tính khách quan: Vừa là đặc điểm của NCKH, vừa là tiêu chuẩn của người NCKH Một nhận định vội vã theo tình cảm, một kết luận thiếu các xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng
- Tính rủi ro: Tính mới của NCKH đồng thời cũng quy định một thuộc tính quan trọng khác của NCKH Đó là tính rủi ro Một nghiên cứu cũng có thể thành công, có thể thất bại Sự thất bại trong NCKH có thể do nhiều nguyên nhân như thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý những vấn đề được đặt
ra trong nghiên cứu, trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm không đủ đáp ứng nhu cầu kiểm chứng giả thuyết, sự hạn chế về năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu, giả thuyết khoa học đặt sai, do tác động tiêu cực của thiên nhiên hoặc những tác nhân bất khả kháng khác…
Tuy nhiên, trong khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả Kết quả ấy cũng mang ý nghĩa về một kết luận của nghiên cứu khoa học, mà nội dung là, các giả thuyết đã đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong sự vật không tồn tại quy luật hoặc giải pháp như đã dự kiến
Trang 27Xét về ý nghỉa khoa học, đây là một kết quả quan trọng Kết quả này cũng phải được tổng kết, được lưu giữ như một tài liệu khoa học nghiêm túc Mục đích của sự tổng kết là để tránh cho các đồng nghiệp đi sau khỏi dẫm chân lên lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu
- Tính kế thừa: Mỗi một nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học rất khác nhau Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu: Một người nghiên cứu chân chính không bao giờ đóng của cố thủ trong những lý luận và phương pháp luận “riêng có”, “của mình” mà bài xích sự thâm nhập về lý luận và phương pháp luận từ các lĩnh vực khoa học dù rất khác nhau Hàng loạt phương hướng nghiên cứu mới và bộ môn khoa học mới xuất hiện chính là kết quả kế thừa lẫn nhau giữa các bộ môn khoa học (VD: kinh tế học chính trị là kết quả kế thừa về lý luận và phương pháp luận của chính trị học vào kinh tế học)
- Tính cá nhân: Đối với những đề tài do một cá nhân thực hiện, thì tính
cá nhân là đương nhiên Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân Tuy nhiên, một công trình NCKH do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Một
đề tài do tập thể thực hiện, thì vai trò của cá nhân người chủ trì đề tài sẽ quyết định tư tưởng khoa học của đề tài đó Trong mỗi phần việc mà các cá nhân thực hiện thì tư tưởng khoa học của mỗi phần sẽ do cá nhân phụ trách phần đó quyết định
- Tính phi kinh tế: lao động NCKH rất khó định mức một cách chính xác như trong sản xuất vật chất, thậm chí có thể nói, lao động khoa học hầu như không thể định mức Những thiết bị chuyên dụng cho NCKH hầu như không thể khấu hao (tần suất sử dụng không ổn định và hầu như rất thấp, tốc
độ hao mòn vô hình luôn vượt trước rất xa so với tốc độ hao mòn hữu hình, hiệu quả kinh tế của NCKH hầu như không thể xác định)” [10, tr.80-84]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi hoàn toàn thống nhất với quan điểm của tác giả về các đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học và đây là
Trang 28luận cứ lý thuyết quan trọng chúng tôi sử dụng để chứng minh vấn đề cần nghiên cứu
1.2.2 Đặc điểm của công tác quản lý KH&CN cấp cơ sở:
“Trong giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đang hình thành Nông thôn nước ta đang trải qua thời kỳ chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cả hình thức tổ chức sản xuất, đặc biệt là trong nông nghiệp (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) Mô hình Hợp tác xã nông nghiệp trước đây đang được tổ chức lại theo Luật Hợp tác xã mới ban hành Theo đó, hoạt động khoa học và công nghệ không chỉ được tiến hành với một “pháp nhân duy nhất” là tổ chức hợp tác xã trước đây, mà là công việc hàng ngày thiết thân của các hộ nông dân, người nông dân, chủ trang trại, thợ thủ công, chủ doanh nghiệp tư nhân Sự chuyển đổi vai trò làm chủ này, trước hết và chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp quyết định đến nội dung và phương thức hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn huyện trong thời kỳ mới
Sự chuyển đổi vai trò làm chủ này, trước hết và chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp quyết định đến đặc điểm của hoạt động KH&CN trên địa bàn huyện, cụ thể:
Đối tượng thụ hưởng các thành tựu khoa học và công nghệ và các pháp nhân trực tiếp triển khai việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất đã được đa dạng hóa – hộ nông dân, người nông dân, chủ trang trại, thợ thủ công, chủ doanh nghiệp tư nhân giữ vai trò trung tâm, chủ động lựa chọn và quyết định cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản phẩm; tự tìm kiếm và ứng dụng các
kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất và đời sống, tiêu thụ sản phẩm, chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp theo định hướng chung của huyện, xã và phương hướng sản xuất của từng cụm, vùng chuyên canh (vùng mía, dứa, dâu tằm, sắn, cây ăn quả, nuôi tôm cá, v.v ) Riêng về mặt sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, mặc
dù đã bắt đầu phát triển các hình thức doanh nghiệp tư nhân, nhưng mô hình các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, xây dựng vẫn được duy trì và phát triển
Trang 29trong những điều kiện mới với việc đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, tạo ra các sản phẩm có chất lượng tiêu thụ trong nội địa, một số đã được xuất khẩu (đồ gỗ, gốm sứ, mây tre đan mỹ nghệ, thêu đan, da giầy, may mặc, một số thực phẩm chế biến…)
Nguồn kinh phí cho hoạt động khoa học và công nghệ cũng được đa dạng hóa, không chỉ từ một nguồn vốn duy nhất – từ ngân sách nhà nước - như trước đây Hiện nay, nguồn vốn đầu tư cho việc đổi mới công nghệ, ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất chủ yếu là của các đối tượng và pháp nhân như đã nêu trên (nông dân, thợ thủ công, chủ trang trại, chủ doanh nghiệp tư nhân)
Nhà nước chỉ có những hỗ trợ nhất định thông qua việc thực hiện các
mô hình ứng dụng KH&CN phục vụ sự phát triển nông thôn, nhưng cũng chỉ tập trung ở một số trọng điểm (hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, giống, quản lý…) với mục đích thí điểm để rút kinh nghiệm nhân rộng
Mối quan hệ trực tiếp giữa người nông dân với các cơ quan nghiên cứu – triển khai, các trung tâm khuyến nông (bao gồm nông, lâm, ngư), trung tâm khuyến công, trung tâm hỗ trợ phát triển nông thôn, v.v…trong việc đưa kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất là một nét mới trong việc tăng cường mối liên kết nghiên cứu – sản xuất chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn với nhiều hình thức phong phú, đa dạng
Vai trò quản lý của các phòng chức năng của huyện (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng…) chỉ thể hiện trong việc chỉ đạo thời vụ, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, chọn lựa các giống cây con có năng suất cao, phòng trừ dịch hại…trong nông nghiệp, hoặc giới thiệu các kỹ thuật tiến bộ cần ứng dụng trong sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, trong xây dựng để các tổ chức sản xuất (HTX nông, lâm, ngư nghiệp; HTX tiểu thủ công nghiệp, các trang trại và người nông dân) tính toán, lựa chọn thực hiện; tổ chức tập huấn hướng dẫn ứng dụng kỹ thuật tiến bộ; tổng kết kinh nghiệm sản xuất tiên tiến
để phổ biến áp dụng
Trang 30Quản lý KH&CN ở cấp huyện không có nghĩa là trực tiếp thực hiện các nghiên cứu hay triển khai, bởi đó là công việc của tổ chức R&D (nhà nước, tư nhân, phi chính phủ), của doanh nghiệp Quản lý KH&CN cũng không có nghĩa
là tiến hành các dịch vụ KH&CN Nhưng quản lý KH&CN có nhiệm vụ quản lý các tổ chức trên thông qua việc thực hiện các chính sách KH&CN đối với họ; theo dõi, nắm thông tin về hoạt động của họ thông qua hệ thống báo cáo thống kê; nắm bắt được những vướng mắc, khó khăn, đề xuất của họ để tư vấn cho lãnh đạo cấp trên trong việc điều chỉnh chính sách và hoạt động quản lý
Quản lý KH&CN cấp huyện hướng vào phục vụ các vấn đề của huyện và phải dựa trên cơ sở tiềm lực KH&CN mà huyện có thể huy động Tiềm lực KH&CN bao gồm một số thành phần chủ yếu là:
- Nhân lực KH&CN;
- Mạng lưới tổ chức các cơ quan KH&CN;
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động KH&CN;
- Tài chính cho KH&CN;
- Thông tin KH&CN;
- Hợp tác quốc tế về KH&CN
Tiềm lực cho hoạt động KH&CN còn bao gồm cả những gì địa phương
có thể thu hút từ bên ngoài Ví dụ, địa phương có thể thu hút các nhà khoa học từ các viện nghiên cứu cấp quốc gia về tham gia các chương trình nghiên cứu của địa phương Tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy, việc thu hút có hiệu quả tiềm lực bên ngoài phụ thuộc nhiều mặt vào chính tiềm lực bên trong Lực lượng khoa học bên trong thường đóng vai trò chủ động đề xuất vấn đề nghiên cứu, là nòng cốt của quá trình nghiên cứu và chịu trách nhiệm triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế ở địa phương; tiềm lực tài chính địa phương cũng là một điều kiện quan trọng để thu hút lực lượng nghiên cứu bên ngoài,…Như vậy, dù nhấn mạnh đến khả năng thu hút tiềm lực bên ngoài, thì vẫn không thể xóa nhòa sự khác biệt về tiềm lực KH&CN giữa địa phương và quốc gia
Trang 31Đối tượng của hoạt động quản lý KH&CN cấp huyện là con người hoạt động riêng lẻ hay hoạt động trong một tổ chức, một nhóm, trực tiếp hay gián tiếp thực hiện các hoạt động KH&CN Ở địa phương, đối tượng quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN bao gồm:
+ Cá nhân hoạt động KH&CN: quyền hoạt động KH&CN là quyền của mọi công dân được Hiến pháp, Luật khoa học và công nghệ và các văn bản luật khác có liên quan quy định, công dân có quyền tiến hành tất
cả các hoạt động KH&CN trừ các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật Cụ thể là:
Thủ trưởng các cơ quan quản lý KH&CN, thủ trưởng các tổ chức KH&CN, thủ trưởng các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có tiến hành các họat động KH&CN ở địa phương
Đội ngũ cán bộ KH&CN, đội ngũ công nhân kỹ thuật đang làm việc trong tất cả các cơ quan quản lý, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, các cơ sở nghiên cứu, giáo dục đào tạo,các đơn vị sự nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh của tất cả các thành phần kinh tế (khu vực nhà nước, tập thể, tư nhân, liên doanh, đầu tư nước ngoài,…);
Mọi công dân Việt Nam ( công nhân, nông dân, thương nhân, thợ thủ công, người làm nghề tự do…) tham gia hoạt động KH&CN
+ Tổ chức khoa học và công nghệ là một thiết chế KH&CN hoạt động theo điều lệ tổ chức và hoạt động riêng, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đó Các tổ chức KH&CN này hoạt động theo đúng pháp luật nói chung và pháp luật KH&CN có liên quan của trung ương, địa phương ban hành và chịu sự quản lý nhà nước đối với mọi hoạt động KH&CN do mình tiến hành trừ các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật” [17, tr.22-26]
1.2.3 Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học cấp cơ sở:
Trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội theo hướng CNH-HĐH đất nước, hoạt động KH&CN trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Vấn đề đưa KH&CN vào
Trang 32thực tiễn đời sống, phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh được xem là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay, theo đó nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cũng ngày càng lớn
Địa bàn cơ sở được xác định là nơi thực hiện các đề tài nghiên cứu cơ bản (đề tài cấp cơ sở), là nơi trực tiếp đưa kết quả nghiên cứu khoa học đến với người dân và là nơi áp dụng và nhân rộng những thành tựu KH&CN vào sản xuất nhất là lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, giúp người nông dân chuyển đổi nhận thức, coi KH&CN là nguồn lực thiết thực giúp họ xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới gắn với cơ chế thị trường
Hoạt động nghiên cứu khoa học cấp cơ sở chủ yếu là nghiên cứu lai tạo các giống cây con, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT), xây dựng các mô hình mới chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy hải sản, thâm canh cây lương thực chất lượng cao, phát triển và chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, rau màu thực phẩm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, bảo vệ môi trường sinh thái, nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý và điều hành, đáp ứng với nhu cầu phát triển của địa phương
Nguồn nhân lực để thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học cấp cơ sở chủ yếu từ hai nguồn:
- Nội tại: đội ngũ cán bộ kỹ thuật, kỹ sư làm việc trong các lĩnh vực như nông, lâm, ngư nghiệp, môi trường tại các cơ quan quản lý và các đơn vị
sự nghiệp; các doanh nghiệp trên địa bàn Việc huy động các nguồn nhân lực nội tại và lồng ghép các chương trình, dự án phát triển KT-XH của địa phương góp phần phát triển đồng bộ cả về chất và lượng trong hoạt động nghiên cứu khoa học cấp huyện
- Hợp tác bên ngoài: dựa trên nhu cầu cấp thiết của địa phương, các cơ quan quản lý có thể phối hợp hoặc đặt hàng các tổ chức R&D (các viện, trường, doanh nghiệp) của nhà nước, tư nhân hay phi chính phủ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học Đây là nguồn nhân lực chủ yếu tham gia vào
Trang 33hoạt động nghiên cứu khoa học cấp huyện bởi lẽ nguồn lực nghiên cứu nội tại hiện nay còn chưa đáp ứng đầy đủ được các nhiệm vụ đề ra
Nguồn kinh phí để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp cơ sở được sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN) có sự đối ứng vốn giữa tỉnh - huyện; hoặc có sự góp vốn của doanh nghiệp, tư nhân … Việc đa dạng hóa nguồn vốn này đã hỗ trợ cho địa phương rất nhiều trong khi nguồn kinh phí chi cho sự nghiệp KH&CN địa phương là rất hạn chế
1.3 Chính sách tài chính cho R&D:
Theo tác giả Vũ Cao Đàm, hoạt động R&D có 2 loại:
“- Một loại có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với việc làm ra của cải vật chất, có liên hệ chặt chẽ với sản xuất kinh doanh;
- Trong khi đó, hàng loạt hoạt động thì thuộc công ích toàn xã hội Chính vì vậy, kinh phí cho R&D không chỉ do Nhà nước cấp qua ngân sách, mà cần được cấp trực tiếp từ sản xuất
Không những thế, hoạt động R&D không chỉ tồn tại trong các tổ chức của Nhà nước, mà của mọi thành phần kinh tế và tổ chức xã hội (không làm kinh doanh)
Chính vì vậy, các nguồn tài trợ dành cho hoạt động R&D không chỉ được cấp bởi Nhà nước, mà còn bởi nhiều tổ chức kinh doanh, nhiều tổ chức tài trợ trong nước hoặc quốc tế, chính phủ hoặc phi chính phủ Đâu đó có quan niệm cho rằng, Nhà nước trung ương chịu trách nhiệm nghiên cứu cơ bản; kinh phí cho nghiên cứu cơ bản do Nhà nước cấp Địa phương và các doanh nghiệp thì nghiên cứu ứng dụng và triển khai; Do vậy, địa phương và các doanh nghiệp thì cấp kinh phí cho nghiên cứu ứng dụng và triển khai là hoàn toàn không có căn cứ
Tại các nước phát triển nghiên cứu công nghệ cho các doanh nghiệp do doanh nghiệp tự trang trải Nhà nước có thể tài trợ cho các dự án nghiên cứu khác nhau trong xã hội, thuộc mọi thành phần kinh tế Một số nghiên cứu công nghệ tiên phong, chưa được các doanh nghiệp quan tâm, thì Nhà nước cấp kinh phí đầy đủ cho các đề tài, dự án, chương trình nghiên cứu
Trang 34Đối với những nghiên cứu khoa học mà kết quả của chúng có thể làm nền tảng cho phát triển công nghệ trong tương lai gần, Nhà nước có thể tài trợ một phần kinh phí, phần còn lại do các cơ sở đóng góp” 6
[11, tr.216-217]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của tác giả Vì xu thế thế giới hiện nay, tài chính cho hoạt động R&D không chỉ được huy động từ nguồn ngân sách nhà nước mà còn được huy động thêm từ các nguồn lực xã hội và chiếm tỷ trọng khá cao so với tổng kinh phí đầu tư của nhà nước cho hoạt động R&D
1.4 Chính sách tài chính cho KH&CN:
Theo tác giả Vũ Cao Đàm, chính sách tài chính cho KH&CN thuộc phạm trù chính sách công và luôn là mối quan tâm của các chính phủ Việc nghiên cứu ban hành và thực hiện chính sách công ở nước ta đã được triển khai từ rất sớm và đang dần hoàn thiện, trong đó có chính sách tài chính Tuy nhiên, chính sách công trong lĩnh vực KH&CN nói chung và trong lĩnh vực R&D nói riêng, thì chưa được đặt ra một cách có hệ thống
“Trước hết, xét trên những đặc điểm của hoạt động R&D, đây là loại hoạt động dựa trên nguyên tắc tài chính “cho không, biếu không” dựa trên
“lòng tốt” của các đấng Mạnh Thường Quân, các đấng Mạnh Thường Quân
có thể là Nhà nước, các tổ chức tài trợ chính phủ hoặc phi chính phủ Đây chính là nơi luôn phải tồn tại cơ chế “Xin – Cho” Các nhà nghiên cứu trên thế giới luôn phải đi “Xin” các đấng Mạnh Thường Quân Các đấng Mạnh Thường Quân sẽ xem xét và bỏ túi tiền của mình để “Cho” các nhà nghiên cứu Các đấng Mạnh Thường Quân xét “Cho” trên cơ sở các đơn “Xin” cụ thể của các nhà nghiên cứu
Trong chính sách tài chính cho loại hoạt động này, chúng ta không xem xét chính sách thuế, chính sách lợi nhuận, nhưng phải có chính sách ưu đãi về tạo nguồn vốn (được hiểu là nguồn kinh phí) cho nghiên cứu, chính sách ưu đãi về “giá cả”, khấu hao và thu nhập Nhà nước có thể hạn chế và không hạn chế thu nhập của những người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và triển khai, tùy thuộc quan điểm của các nhà nước trong mỗi giai đoạn lịch sử
6
Vũ Cao Đàm (2011), Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập II: Nghiên cứu chính
sách và chiến lược, NXB Thế giới, tr 216-217
Trang 35Tại các nước có nền công nghiệp, KH&CN đã phát triển cao, người ta đánh thuế thu nhập lũy tiến những người hoạt động trong trong lĩnh vực này, nhưng tại các nước kém phát triển, rất có thể chưa cần đánh thuế thu nhập trong một giai đoạn nhất định nhằm khuyến khích những người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và triển khai, tạo ra những tiền đề về công nghệ trong bước đầu phát triển đất nước” [11, tr.205-206]
Quan điểm trên của tác giả hoàn toàn đúng với các nước có trình độ KH&CN phát triển Riêng đối với các nước kém phát triển, chính sách tài chính cho KH&CN còn nhiều bó buộc, các nhà khoa học chưa thật sự được
“cởi trói” để nghiên cứu của họ tạo ra những kết quả khoa học có giá trị
1.5 Đặc điểm chung của hoạt động KH&CN xét từ giác độ tài chính:
Theo tác giả Vũ Cao Đàm, hoạt động KH&CN xét từ giác độ tài chính
có các đặc điểm chung sau đây:
“Trong hệ thống thống kê của UNESCO, hoạt động KH&CN (S&T Activities) bao gồm: Hoạt động R&D, Chuyển giao tri thức (bao gồm chuyển giao công nghệ) và Dịch vụ KH&CN
Cũng trong hệ thống thống kê của UNESCO, hoạt động R&D nằm trọn trong khu vực “Nghiên cứu khoa học” Đặc điểm chung, cơ bản nhất của hoạt động R&D xét từ góc độ tài chính là loại hoạt động không đưa lại lợi nhuận tức thời, mang những đặc trưng cơ bản và những đặc điểm về đối xử như sau:
- Mọi hoạt động trong suốt quá trình từ R đến D, chúng ta hoàn toàn không thấy bất cứ hoạt động nào thu được lợi nhuận theo đúng ý nghĩa của khái niệm này trong kinh tế học
- Sản phẩm R&D có thể định được giá thành sau nghiên cứu, nhưng không thể định được giá cả mua bán trên thị trường
- Sản phẩm R&D không thể tính toán được lợi nhuận
- Thiết bị khoa học có tốc độ hao mòn vô hình vượt xa tốc độ hao mòn hữu hình
- Lao động trong lĩnh vực R&D không thể định mức [11, tr.203-205] Trong thực tế hoạt động khoa học còn tồn tại một hoạt động, đích thực
là phát triển công nghệ, mà Luật KH&CN đã bỏ qua Đó là các hoạt động: Phát triển công nghệ theo chiều rộng (mở rộng công nghệ) và phát triển công
Trang 36nghệ theo chiều sâu (nâng cấp công nghệ) Hai hoạt động này là các giai đoạn “sau R&D” và được thực hiện trong sản xuất
Về mặt chính sách tài chính, giữa Triển khai trong khái niệm của UNESCO và “Phát triển công nghệ” trong Luật KH&CN có sự khác nhau căn bản
- Toàn bộ khâu “Triển khai” của UNESCO, từ prototype, qua Pilot đến sản xuất loạt đầu đều thuộc phạm trù nghiên cứu, khâu này được ăn vốn nghiên cứu và không phải chịu bất cứ sắc thuế nào
- Khâu “Phát triển công nghệ” nêu trong Luật KH&CN cũng có đặc điểm tương tự
- Toàn bộ khâu “Phát triển công nghệ”, bao gồm “mở rộng công nghệ“ và “nâng cấp công nghệ” đều không được sử dụng kinh phí nghiên cứu , mà phải sử dụng vốn sản xuất, vốn vay hoặc vốn đầu tư mạo hiểm Nó phải nộp thuế như đối với sản xuất
- Trong Luật KH&CN: “ Phát triển công nghệ” được nêu ở trên đây là hoàn toàn không được đề cập đến” [10, tr.132-134]
Quan điểm trên của tác giả là dựa vào sự phân loại của UNESCO trong hoạt động KH&CN Thực tế ở Việt Nam, các khái niệm cũng như sự phân loại hoạt động KH&CN có sự khác biệt lớn so với UNESCO Nếu như
toàn bộ khâu Phát triển công nghệ được các nước phát triển sử dụng vốn sản
xuất, vốn vay hoặc vốn đầu tư mạo hiểm thì ở Việt Nam lại xếp toàn bộ
khâu này cùng phạm trù với khâu Triển khai và sử dụng vốn nghiên cứu Từ
đó chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam cũng có sự khác biệt so với thế giới
Tác giả Vũ Cao Đàm cũng đã hệ thống lại chính sách tài chính theo từng khâu của UNESCO và Luật KH&CN Theo đó, chúng ta dễ dàng thấy
rằng Luật KH&CN đã nhầm lẫn khái niệm Triển khai thực nghiệm với một khái niệm khác là Phát triển công nghệ Hai khái niệm này khác nhau căn
bản về nội hàm, về chính sách thuế và chính sách đầu tư Do sự nhầm lẫn này mà Luật KH&CN Việt Nam đã bỏ sót một hoạt động không được điều
chỉnh, đó là Phát triển công nghệ với hai nội dung rất đặc trưng là Mở rộng
công nghệ và Nâng cấp công nghệ
Trang 37Chính sách tài chính theo khái niệm R&D của UNESCO và Luật KH&CN [10, tr.132-134]:
Nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu cơ bản Sử dụng kinh phí
NCKH/Miễn thuế Nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu ứng dụng Sử dụng kinh phí
Pilot (Tạo quy trình sản
xuất mới phù hợp với
Prototype)
Sử dụng kinh phí NCKH/Miễn thuế
Sản xuất loạt 0 Sản xuất thử nghiệm Sử dụng kinh phí
NCKH/Miễn thuế Chuyển giao công nghệ Chuyển giao công nghệ Vốn sản xuất
công nghệ
Vốn sản xuất/vốn vay/phải chịu thuế
1.6 Mối quan hệ giữa chính sách tài chính và hoạt động KH&CN:
Trong các chính sách để thúc đẩy sự phát triển KH&CN, chính sách tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng và là một trong những yếu tố then chốt, quyết định sự thành bại đối với chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của mỗi quốc gia
Mọi hoạt động nào, khi triển khai thực hiện đều phải tính đến yếu tố chính sách tài chính Nếu không có chính sách tài chính thì hoạt động đó không thể nào thực hiện được Hoạt động KH&CN nói chung và hoạt động nghiên cứu khoa học nói riêng cũng không ngoại lệ
Chính sách tài chính quyết định các hoạt động KH&CN sẽ được đầu tư bao nhiêu, từ những nguồn nào, được đầu tư như thế nào, khuyến khích ưu đãi ra sao để có thể đem lại hiệu quả cao nhất cho nền kinh tế
Trang 38Cũng như các chính sách khác, nếu chính sách tài chính phù hợp nó sẽ kích thích, tạo điều kiện cho hoạt động KH&CN đạt hiệu quả cao dù chính sách này chỉ có lợi cho số ít Ngược lại nếu chính sách tài chính không phù hợp thì hoạt động KH&CN sẽ gặp khó khăn dẫn đến nền KH&CN của quốc gia hay tổ chức đó sẽ bị trì trệ
1.7 Kết luận Chương 1:
Trong Chương 1, đề tài đã trình bày: Cơ sở lý luận chung về một số khái
niệm cơ bản; Cơ sở lý luận của hoạt động nghiên cứu khoa học trong đó có bàn về đặc điểm của công tác quản lý KH&CN cấp huyện và hoạt động nghiên cứu khoa học cấp huyện; Chính sách tài chính cho R&D; Chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN; Đặc điểm chung của hoạt động KH&CN xét từ giác
độ tài chính; Mối quan hệ của chính sách tài chính và hoạt động KH&CN
Những nội dung này chính là luận cứ lý thuyết quan trọng để chúng tôi tiến hành phân tích đánh giá cũng như tìm ra những yếu tố cản trở của việc thực hiện chính sách tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
- Về đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học theo UNESCO: hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm Nghiên cứu cơ bản, Nghiên cứu ứng dụng
và Nghiên cứu triển khai Hoạt động nghiên cứu khoa học có các đặc điểm
chính đó là tính mới của vấn đề nghiên cứu, tính tin cậy của kết quả nghiên cứu, tính thông tin của sản phẩm, tính khách quan của phương pháp và kết quả nghiên cứu, tính rủi ro trong quá trình nghiên cứu, tính kế thừa các kết quả đã nghiên cứu trước đó, tính cá nhân của người chủ trì, người phụ trách những phần công việc được phân công và tính phi kinh tế trong lao động
nghiên cứu khoa học và khấu hao thiết bị chuyên dụng
- Về đặc điểm của công tác quản lý KH&CN cấp cơ sở: Quản lý KH&CN
ở cấp cơ sở không có nghĩa là trực tiếp thực hiện các nghiên cứu hay triển khai Quản lý KH&CN có nhiệm vụ quản lý các tổ chức hoạt động KH&CN thông qua bằng việc thực hiện các chính sách KH&CN đối với họ Đối tượng của hoạt động quản lý KH&CN cấp huyện là con người hoạt động riêng lẻ hay hoạt động trong một tổ chức, một nhóm, trực tiếp hay gián tiếp thực hiện các hoạt động KH&CN Tiềm lực KH&CN bao gồm: nhân lực KH&CN, mạng lưới tổ chức
Trang 39các cơ quan KH&CN, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động KH&CN, tài chính cho KH&CN, thông tin KH&CN, hợp tác quốc tế về KH&CN
- Về đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: hoạt động nghiên cứu khoa học cấp huyện chủ yếu là nghiên cứu lai tạo các giống cây con, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT), xây dựng các
mô hình mới chủ yếu trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp Nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu có thể từ nội tại hay hợp tác với các tổ chức bên ngoài Nguồn kinh phí thực hiện được đa dạng hóa và có sự đối ứng vốn
từ phía tỉnh – huyện hoặc sự góp vốn của doanh nghiệp, tư nhân
- Về đặc điểm của chính sách tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học: mọi hoạt động trong R&D đều sử dụng vốn nghiên cứu và không mang lại lợi nhuận tức thời; Sản phẩm R&D có thể định được giá thành sau nghiên cứu, nhưng không thể định được giá cả mua bán trên thị trường; Sản phẩm R&D không thể tính toán được lợi nhuận; Thiết bị khoa học có tốc độ hao mòn vô hình vượt xa tốc độ hao mòn hữu hình; Lao động trong lĩnh vực R&D không thể định mức Trong hoạt động này không xét đến chính sách thuế, chính sách lợi nhuận, nhưng phải có chính sách ưu đãi về tạo nguồn vốn (được hiểu là nguồn kinh phí) cho nghiên cứu, chính sách ưu đãi về “giá cả”, khấu hao và thu nhập
- Về đặc điểm của chính sách tài chính trong khâu “Phát triển công nghệ” theo quan niệm của UNESCO và Luật KH&CN: có sự khác nhau cơ bản:
+ Theo UNESCO: Toàn bộ khâu “Phát triển công nghệ”, bao gồm “mở rộng công nghệ“ và “nâng cấp công nghệ” đều không được sử dụng kinh phí nghiên cứu, mà phải sử dụng vốn sản xuất, vốn vay hoặc vốn đầu tư mạo hiểm Nó phải nộp thuế như đối với sản xuất
+ Theo Luật KH&CN: khâu “Phát triển công nghệ”có đặc điểm thương
tự như khâu “Triển khai” của UNESCO, sử dụng vốn nghiên cứu và hoàn toàn miễn thuế Khâu “Phát triển công nghệ” xét theo quan niệm của UNESCO thì trong Luật KH&CN hoàn toàn bị bỏ qua, không được đề cập đến
Trang 40CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI ỨNG 50/50 GIỮA TỈNH VÀ HUYỆN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 Chính sách tài chính đối với lĩnh vực khoa học & công nghệ ở Việt Nam thời gian qua:
“Phát triển khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của hầu hết các quốc gia trên thế giới Đầu tư cho KH&CN có tác dụng lan tỏa tới tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, vì thế rất được coi trọng trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia Đối với Việt Nam, để tăng cường đầu tư phát triển KH&CN, tạo động lực và nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hệ thống chính sách nhằm thúc đẩy đầu tư phát triển KH&CN trong những năm qua đã được hoàn thiện và bổ sung trên nhiều phương diện Đến nay, hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển KH&CN được ban hành và thực thi như Luật Khoa học
và Công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Công nghệ cao
Trong các chính sách để thúc đẩy sự phát triển KH&CN, hệ thống chính sách tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng Trong thời gian qua, cùng với việc hoàn thiện các cơ chế chính sách chung về phát triển KH&CN, các chính sách tài chính để thúc đẩy đầu tư và tăng cường hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính cho KH&CN cũng liên tục được đổi mới Nguồn lực tài chính đầu tư cho KH&CN được tăng cường, đặc biệt là nguồn từ ngân sách nhà nước (NSNN)
Từ nhiều bài học của các nước có hoàn cảnh tương đồng như Việt Nam trước đây như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản…, sau 30 năm đầu tư phát triển KH&CN họ đã trở thành những nước hàng đầu thế giới về sự phát triển Với tầm quan trọng của KH&CN trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng đầu tư cho KH&CN là quốc sách hàng đầu Đầu tư cho lĩnh vực KH&CN là một trong những lĩnh